Kho báu của vua Solomon 1
Mở đầu
Có lẽ cũng khá lạ lùng, rằng
sống đến cái tuổi năm mươi lăm, lần này tôi cầm bút là lần đầu. Tôi cũng chẳng
biết tôi sẽ làm được cái gì từ câu chuyện của tôi, và rồi không hyểu tôi có đủ
kiên nhẫn để đưa nó đến cùng hay không.
Bây giờ nhìn lại quãng đời
đã qua, tôi thầm ngạc nhyên rằng tôi đã kịp làm nhyều việc và phải chịu đựng nhyều
thử thách như thế. Cũng có thể tôi cảm thấy đời mình quá dài là do buộc phải sống
tự lập quá sớm. Ở cái tuổi trẻ con còn đi học ở trường, tôi đã phải làm việc để
kiếm sống, bằng cách buôn bán các thứ lặt vặt ở thuộc địa cũ. Tôi đã buộc phải
đi buôn, đi săn, làm việc ở các hầm mỏ, thậm chí cả đi đánh nhau. Và chỉ cách
đây tám tháng, tôi mới trở thành người giàu có. Bây giờ thì tôi là ông chủ của
một tài sản khổng lồ, chính tôi cũng không biết rõ nó lớn đến mức nào, nhưng
tôi không tin rằng để đạt được điều ấy, tôi sẵn sàng chịu sống lại quãng thời
gian mười lăm, hai mươi tháng gần đây của đời tôi, ngay cả khy biết trước rằng
mọi chuyện sẽ kết thúc tốt đẹp và tôi sẽ giàu đến mức này. Tôi là một người khyêm
tốn bình thường, không thích máu và bạo lực, và cũng xin nói thẳng rằng tôi đã
ngấy đến tận tai các chuyện phyêu lưu mạo hyểm. Tôi không hyểu tôi định viết cuốn
sách này để làm gì, vì văn chương là nghề rất xa lạ với tôi. Mà tôi cũng chẳng
dám tự cho mình là người có học, dù tôi rất thích đọc cựu ước (ÙPhần đầu của
Kinh Thánh) và các truyện hoang đường của Ingôndơbi (Tên thật là Barham
(1788-1845) nhà văn Anh nổi tiếng nhờ các truyện thơ Balát). Nhưng dù sao tôi
cũng xin nêu lên những liù do đã khyến tôi viết cuốn sách này.
Thứ nhất là do ngài (Tiếng
Anh là Sir một tiếng đệm chỉ những nhà quý tộc lớn. Trong toàn bộ tác phẩm, trước
Henry đều có chữ Sir (ngài), nhưng để tránh nặng nề và trùng lặp nhyều, chúng
tôi bỏ không dịch, chỉ gọi đơn giản là Henry. -ND) Henry Curơtix và thuyền trưởng
Huđơ đã yêu cầu tôi làm điều ấy.
Thứ hai là hyện giờ tôi
đang ở Durban, hoàn toàn chẳng có việc gì khác để làm, vì vết thương ở chân
trái lại tái phát và bắt tôi phải nằm một chỗ. Tôi bắt đầu khổ sở vì nó kể từ khy
con sư tử khốn kiếp kia vồ tôi. Giờ đây tôi càng cảm thấy đau hơn và đi khập khyễng
hơn bao giờ hết. Chắc trong răng sư tử có một thứ chất độc nào đó, chứ không
thì cớ sao các vết thương đã lành lại tái phát, và xin các bạn nhớ cho lặp đi lặp
lại năm này qua năm khác và cũng vào một thời gian nhất định!
Trong đời, tôi đã bắn chết
sáu mươi lăm con sư tử mà vẫn giữ được mình sống sót và nguyên vẹn, thế thì thử
hỏi làm sao không bực mình khy con thứ sáu mươi sáu nào đó đã ngoạm vào chân
tôi mà nhai như là nhai thuốc lá? Như thế là trái với quy luật tự nhyên của tạo
vật, và tôi, ngoài các yêu cầu khác, tôi rất thích sự quy củ, nên đã hyểu điều
này đã làm tôi khó chịu như thế nào!
Ngoài ra, tôi cũng muốn
Hary, con trai tôi, hyện giờ đang làm việc ở một bệnh viện London để chuẩn bị
trở thành bác sĩ, khy đọc câu chuyện này, có thể tạm thời nghỉ ngơi khỏi các
công việc bận bịu của mình. Công việc ở bệnh viện có lẽ nhyều khy cũng làm người
ta chán vì quá đơn điệu và buồn tẻ. Suy cho cùng, cả đến việc mổ tử thy cũng
không thể hấp dẫn người ta mãi được. Tôi tin là Hary sẽ không chán khy đọc chuyện
này của tôi, và ít nhất thì nó cũng sẽ làm cuộc sống con tôi đỡ buồn tẻ, dù chỉ
một vài ngày, vì câu chuyện tôi sắp kể thuộc vào loại kỳ lạ, hấp dẫn nhất mà
xưa nay hyếm khy xẩy ra. Các bạn sẽ cho là lạ nếu tôi nói rằng trong truyện của
tôi không có một người đàn bà nào, trừ Phulata. À mà không! Cả Gagula nữa, mặc
dù tôi không biết chính xác rằng mụ là phụ nữ hay phù thủy. Nhưng cần phải nói
rằng ít nhất mụ đã một trăm tuổi, vì vậy, với tư cách là phụ nữ, mụ cũng chẳng
là đối tượng hấp dẫn đối với đàn ông, thành ra không nên tính đến mụ. Vì vậy,
tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng trong toàn bộ câu chuyện này của tôi
không hề có một chyếc váy nào cả!
Nhưng đã đến lúc tôi phải
được thắng vào xe chưa nhỉ? Đường ở đây xấu và lầy lội lắm, và tôi cứ có cảm
giác như chyếc xe tôi kéo bị lún tới quá nửa bánh.
Trong những trường hợp thế
này, nếu bò khỏe thì sẽ chẳng thành vấn đề, rồi sẽ kéo lên tất. Còn nếu bò yếu
thì tất nhyên là đành chịu. Nào, tôi xin bắt đầu.
Chương 1
“Tôi, Alan Quotecmen, người
quê Durban, ở Natan(Một tỉnh thuộc Liên minh Nam Phy ngày xưa.) một người tử tế
dòng dõi thượng lưu, tôi xin thề mà nói rằng...” - Tôi đã bắt đầu lời khai của
tôi như thế ở phyên tòa xét về cái chết bi thảm của Hyva và Venfogen. Nhưng mở
đầu cho một cuốn sách bằng cách ấy thì có lẽ không ổn lắm. Mà nói chung, tôi có
quyền hay có quyền tự gọi mình là người tử tế? Thế nào là một người tử tế? Tôi
không rõ lắm. Trong đời mình, tôi đã gặp nhyều mọi đen... Không, tôi xin xóa chữ
ấy, tôi không thích dùng nó! Tôi đã gặp nhyều người bản xứ thực sự là những người
tử tế đáng kính. (Hary, con trai của bố, trước khy đọc cuốn sách này, con phải
đồng ý với bố điều đó đã). Đồng thời tôi cũng biết không ít những người da trắng
đểu cáng, tồi tệ, và họ chẳng bao giờ là người tử tế, dù có rất nhyều tiền. Ít
ra thì sinh ra, tôi vốn là người tử tế, dù trong suốt cả cuộc đời mình tôi chỉ
đơn giản là một anh buôn vặt, một thợ săn nay đây mai đó. Tôi có giữ được cái
chất tử tế của mình không, tôi không biết. Điều ấy dành cho các bạn tự đánh
giá. Nhưng có Chúa làm chứng tôi luôn cố để bao giờ cũng là người tử tế!
Trong đời, tôi đã buộc phải
giết nhyều người, nhưng chưa lúc nào tôi để bàn tay tôi vấy máu người lương thyện.
Tôi chỉ giết để tự vệ.
Theo tôi, đức Chúa toàn
năng khy trao cho ta cuộc sống, ngài nghĩ rằng tự chúng ta sẽ bảo v lấy nó. Ít
ra bao giờ tôi cũng hành động trên cơ sở của niềm tin ấy. Và tôi hy vọng rằng khy
tôi chết, ngài sẽ tha lỗi cho tôi. Than ôi, trên đời này quá nhyều sự tàn bạo
và phy đạo đức! Chính vì thế mà một người bé nhỏ như tôi đã phải tham gia vào nhyều
việc đẫm máu. Tôi không biết tôi nghĩ như thế có đúng không, nhưng quả tôi chưa
bao giờ ăn cắp, trừ một lần tôi đã lừa lấy đàn súc vật của một gã người Caphơ
(Tên cũ gọi chung các dân tộc Đông Nam châu Phy). Và dù chính hắn cũng lừa dối
tôi, cho đến nay tôi vẫn cảm thấy lương tâm bị cắn rứt.
Vâng, kể từ ngày tôi gặp
Henry và thuyền trưởng Huđơ đến nay đã gần mười tám tháng. Chuyện xẩy ra như
sau. Trong lần săn voi ở Banmangoato, ngay từ đầu tôi đã không gặp may, thêm
vào đó, tôi lại bị sốt nặng. Vừa khỏe lại một chút, tôi tìm đến các mỏ kim
cương, bán hết ngà voi cùng cỗ xe và những con bò kéo, thanh toán với bạn phường
săn rồi ngồi lên xe thư đi tới Cap (Tên gọi tắt Keptao). ƠŒ Kêptao, tôi sống một
tuần trong khách sạn, nơi mà nhân thể xin nói thêm, rằng người ta đã tính gian
của tôi một số tiền khá lớn. Rồi tôi lang thang đi xem hết các danh lam thắng cảnh
của thành phố. Tôi tới vườn bách thảo mà theo tôi mang lại rất nhyều ích lợi
cho đất nước, tới xem cả toà nhà nghị viện mà tôi cho là hoàn toàn chẳng được
tích sự gì. Tôi quyết định trở về Natan bằng chyếc tàu thủy “Danken”. Lúc này
nó đang đậu ở cảng chờ tàu “Edinbua Caxla” sắp sửa từ Anh tới. Tôi mua vé, xuống
tàu, và trong cùng ngày ấy, hành khách đi Natan chuyển ngay từ tàu “Edinbua
Caxla” sang tàu “Danken”. Tàu nhổ neo rồi đi ra biển.
Trong số những hành khách
mới xuống tàu Danken có hai người lập tức thu hút sự chú ý của tôi. Một người
thuộc dòng dõi quý phái trạc ba mươi tuổi. Tôi chưa bao giờ gặp người nào to lớn
như ông ta. Ông ta có mái tóc màu rơm khô, bộ râu rậm, khuôn mặt có những đường
nét cân đối và đôi mắt to, sâu, màu xám. Trong đời, tôi cũng chưa thấy ai đẹp
như thế, trông ông ta như một người Đan Mạch thời cổ. Nói thế tất nhyên không
có nghĩa tôi biết nhyều về những người Đan Mạch cổ. Tôi chỉ biết một người Đan
Mạch hyện tại nặng hơn tôi gần năm cân. Tôi nhớ có lần đã nhìn thấy đâu đó một
bức tranh vẽ mấy ông quý tộc mà tôi cho là rất giống những người Dulux. Tay họ
cầm những chyếc cốc bằng sừng, mái tóc dài buông xuống tận lưng. Bây giờ, nhìn
con người này đang đứng cạnh cầu thang lên xuống, tôi cứ nghĩ rằng nếu ông ta để
tóc dài hơn tí nữa, mang áo giáp bằng thép che bộ ngực đồ sộ của mình, đeo giáo
và tay cầm cốc sừng, thì hoàn toàn có thể đứng làm mẫu cho một bức tranh như thế.
Và trong thực tế (quả là một sự trùng hợp lạ lùng), sau này tôi biết được rằng
trong cơ thể của Henry Curơtix - tên của con người cao to quý phái kia là thế,
- đang chảy mạnh dòng máu của người Đan Mạch. Ông ta làm tôi nhớ tới một người
nào đấy, nhưng cụ thể là ai thì tôi không sao nhớ nổi.
Còn người thứ hai đang đứng
và nói chuyện với Henry thì lại thuộc một dạng khác. Ngay lập tức tôi đã nghĩ
ông ta là sĩ quan hải quân. Tôi không biết vì sao, nhưng rõ ràng là sĩ quan hải
quân. Tôi đã có dịp nhyều lần cùng đi săn với họ, và phải nói rằng họ là những
người cực kỳ dũng cảm và đáng yêu, những người như thế thường rất hyếm. Họ chỉ
có một thói xấu duy nhất là hay nói tục.
Lúc nãy tôi có tự hỏi: Thế
nào là một người tử tế, một đấng quân tử? Bây giờ tôi xin trả lời: Đó là các sĩ
quan của Hạm đội Nữ hoàng Anh. Tất nhyên trong số họ cũng có một ít trường hợp
ngoại lệ. Tôi cho rằng biển cả bao la và gió mát mang hơi thở của Chúa đã rửa sạch
trái tim họ, xua đi các ý nghĩ xấu xa khỏi tiềm thức và biến họ thành những con
người chân chính. Nhưng thôi, ta quay lại câu chuyện bỏ dở. Hóa ra cả lần này
tôi cũng đoán đúng. Ông ta quả là một sĩ quan hàng hải thật. Sau khy phục vụ một
cách hết sức tận tình trong hạm đội của Nữ hoàng đúng mười bảy năm, đùng một
cái, bất chấp cả nguyện vọng của ông ta, ông bị thải hồi và được xếp vào ngạch
dự bị với chức vụ thuyền trưởng. Số phận của những người tận tuỵ phục vụ Nữ
hoàng là thế đấy (Ở đây là Nữ hoàng Victoria (1819 - 1901).
Đang khy sức khỏe tràn trề,
có khả năng, thừa kinh nghyệm và hyểu biết thì họ bị quẳng vào cuộc đời giá lạnh
và đầy thù hằn mà không một đồng xu dính túi. Cũng có thể họ sẽ chấp nhận điều
đó, nhưng tôi thì dù sao tôi cũng thích kiếm sống bằng nghề săn bắn hơn. Tôi
cũng sẽ ít tiền như họ, nhưng số phận sẽ không đến nỗi quá trớ trêu như thế.
Tên ông ta tôi dò tìm trong bảng danh sách những người đi tàu là Huđơ, thuyền
trưởng Giôn Huđơ. Đó là một người khỏe mạnh, không cao nhưng vạm vỡ, tóc màu
đen, có vẻ ngoài khá nổi bật. Ông ta ăn mặc vô cùng cẩn thận, râu cạo nhẵn thín
và bao giờ cũng mang chyếc kính một mắt ở mắt phải. Tôi cứ có cảm giác như chyếc
kính mọc và dính ngay vào mắt, vì ông ta mang nó mà không cần dây, gọng, và chỉ
cởi ra những khy cần lau bụi. Tôi nghĩ một cách thơ ngây rằng cả khy ngủ ông ta
cũng mang nó. Nhưng không, tôi nhầm. Sau này tôi biết được rằng khy ngủ, ông ta
cất nó vào túi quần cùng với hai bộ răng giả cực đẹp, đến nỗi nhyều khy làm tôi
phải vi phạm điều răn thứ mười của Chúa(Điều răn thứ mười khuyên không nên ghen
tị với người khác), chả là vì răng của tôi không lấy gì làm tốt cho lắm. Nhưng
tôi lại đi quá xa về phía trước mất rồi!
Chẳng bao lâu sau khy nhổ
neo, đêm ập đến và thời tiết bỗng trở nên xấu hẳn. Gió thổi mạnh từ đất liền tới,
xuất hyện sương dày ẩm ướt, và tất cả các hành khách buộc phải rời boong tàu. Chyếc
tàu đáy bằng của chúng tôi chở chưa đủ nặng nên nghyêng khá mạnh, nhyều khy tưởng
như sắp lật sấp. Nhưng thật may là điều ấy đã không xảy ra. Không thể đứng trên
boong được nữa, tôi xuống đứng bên cạnh buồng máy ấm áp, và vì không có việc gì
để làm, tôi nhìn vào chyếc máy nhỏ đo độ nghyêng của tàu. Chyếc kim chậm chạp hết
quay lên rồi lại xuống, phụ thuộc vào con sóng lớn hay bé.
- Thế mà cũng máy với
móc! chỉ sai bét! Tôi bỗng nghe có ai nói bên cạnh, giọng giận dữ.
Quay lại, tôi thấy đó là
người sĩ quan hăng hái mà trước đấy tôi chú ý quan sát.
- Thật ư? Sao ông lại
nghĩ thế?
- Nghĩ à? Chẳng có gì phải
nghĩ cả! Rồi ông ta nói tiếp khy tàu lấy lại thăng bằng sau một cơn sóng mạnh.
Nếu quả thật tàu nghyêng đến cái độ mà cái máy tuyệt diệu này chỉ, thì từ lâu
ta đã bị lật úp. Nhưng thử hỏi còn có thể chờ gì hơn ở những gã thuyền trưởng
các tàu buôn! Họ là những người cẩu thả đến không thể tin nổi!... Đúng lúc ấy
thì có tiếng cồng báo hyệu giờ ăn trưa, làm tôi rất vui mừng, vì phải nghe một
sĩ quan của hạm đội Anh mắng chửi các thuyền trưởng tàu buôn thì quả là điều
không sao chịu nổi. Xấu hơn điều ấy chỉ có thể là nghe một thuyền trưởng tàu
buôn bộc lộ ý kiến thẳng thắn của mình về các sĩ quan của hạm đội Anh!
Tôi và thuyền trưởng Huđơ
đi xuống phòng ăn, và ở đấy chúng tôi đã thấy Henry Curơtix đang ngồi sẵn sau
bàn. Thuyền trưởng Huđơ ngồi xuống cạnh, còn tôi thì ngồi đối diện. Tôi và thuyền
trưởng Huđơ nói về chuyện săn bắn. Ông ta đặt cho tôi nhyều câu hỏi, còn tôi
thì cố trả lời một cách đầy đủ nhất. Một lúc sau chuyện chuyển sang đề tài săn
voi.
- Thế là các ông gặp may
nhé! Một người nào đấy ngồi gần tôi nói. Nếu có người nào đấy biết kể một cách
chính xác cho các ông nghe về loại voi, thì đó chỉ có thể là người thợ săn
Quotécmên này.
Từ nãy tới giờ lặng lẽ ngồi
nghe chúng tôi nói chuyện, vừa nghe mấy tiếng cuối cùng, Henry khẽ rùng mình.
- Xin lỗi - Ông ta nói bằng
giọng trầm thấp, đúng như cái giọng của một người có bộ ngực khổng lồ như thế
phải có. Thưa ông, có phải ông là Alan Quotecmen không ạ!
Tôi đáp rằng quả đúng như
thế.
Henry không còn quay về
phía tôi nữa, nhưng tôi vẫn nghe ông khẽ nói thầm: “Chà! May quá!”.
Sau bữa ăn trưa, khy
chúng tôi đi ra khỏi phòng ăn. Henry mời tôi vào phòng ông hút thuốc. Tôi nhận
lời, và chúng tôi cùng thuyền trưởng Huđơ vào phòng Henry. Đó là một căn phòng
tuyệt đẹp, rộng, có cửa nhìn thẳng lên boong, một thời đã từng là hai phòng
riêng biệt, nhưng bị người nào đấy trong số các nhân vật quan trọng của ta khy
dùng tàu này đi dạo quanh bờ biển, đã tháo bỏ bức tường ngăn che, nhưng sau lại
quên lắp vào chỗ cũ. Trong phòng có một chyếc đi văng với một chyếc bàn con trước
mặt. Henry nhờ người phục vụ mang tới một chai uýtki, rồi cả ba chúng tôi ngồi
xuống bắt đầu hút thuốc.
- Thưa ông Quotécmên,
Henry nói với tôi khy người phục vụ mang rượu tới và thắp đèn. Năm kia, cũng
vào khoảng thời gian này, hình như ông đang ở một làng nhỏ bé có tên là
Bamangoato, phía bắc Transvaan phải khôn
- Vâng, tôi ở đấy. Tôi
đáp, hơi ngạc nhyên vì sao con người không quen biết này lại biết rõ như thế về
cuộc hành trình lang thang của tôi, mà tôi cho là chẳng có gì đáng để ý đến.
- Ông bán hàng ở đấy à? -
Huđơ hỏi tôi, vẻ chăm chú.
- Vâng.
Henry ngồi đối diện tôi
trong một chyếc ghế đan, tay tì vào bàn. Ông ta nhìn thẳng vào mặt tôi bằng đôi
mắt xám tinh tường của mình, và tôi có cảm giác như cái nhìn của ông để lộ một
thoáng lo lắng khó hyểu nào đó.
- Ơ đấy ông không gặp người
nào tên là Nevin à?
Sao lại không, tất nhyên
là tôi gặp! Ông ta cho đỗ xe cạnh xe tôi và ở đấy hai tuần để đàn bò kéo được
nghỉ ngơi trước khy đi sâu vào nội địa. Cách đây mấy tháng, tôi có nhận được
thư của một ông luật sư nào đó yêu cầu tôi báo tin về Nevin. Tôi lập tức báo
cho ông ta những gì tôi biết.
-Vâng, Henry nói. - Ông
ta đã gửi bức thư của ông cho tôi. Trong thư ông nói rằng có một người tên là
Nevin đã rời Bamangoato từ đầu tháng năm bằng xe bò kéo với một người đánh xe
và một người dẫn đường Caphơ tên là Jim; rằng Nevin có nói là ông ta định và nếu
có thể, sẽ đi tới tận, điểm buôn bán cuối cùng của xứ Motabl. Ơ đấy ông ta bán
xe và đi bộ tiếp. Ông cũng bảo rằng quả thật ông ta đã bán xe, vì sau đó sáu
tháng, ông có thấy ông ta ở nhà một nhà buôn Bồ Đào Nha nào đó. Người này có kể
lại với ông rằng ông ta đã mua cỗ xe của một người da trắng mà ông ta không nhớ
tên, và có lẽ người da trắng ấy cùng với người hầu bản xứ đã đi sâu vào nội địa
để săn bắn.
- Tất cả đều đúng như thế,
- Tôi nói.
Tiếp đến mọi người cùng
im lặng.
- Thưa ông Quotécmên, bỗng
Henry lên tiếng. Tôi nghĩ có thể ông không biết hoặc không đoán biết nguyên
nhân nào đã đưa người... đưa ông Nevin đến quyết định làm một chuyến du hành
lên phía bắc?
- Tôi có nghe đôi điều về
chuyện này. Tôi đáp rồi ngồi im vì không muốn đả động đến đề tài ấy.
Henry và Huđơ đưa mắt
nhìn nhau, rồi Huđơ gật đầu một cách đầy hàm ý.
- Thưa ông Quotécmên. -
Henry nói. - Tôi muốn kể cho ông nghe một câu chuyện và xin ông khuyên bảo, có
thể là giúp đỡ nữa. Luật sư của tôi có đưa bức thư của ông cho tôi, và nói rằng
tôi hoàn toàn có thể tin tưởng ở ông. Theo lời ông ta thì mọi người ở Natan đều
biết và kính trọng ông. Ngoài ra, ông ta còn nói rằng ông là người biết giữ bí
mật.
Tôi cúi xuống uống một ngụm
rượu uýtki pha loãng để che giấu sự lúng túng của mình, vì tôi là người khyêm tốn
hay cả thẹn. Henry nói tiếp:
- Thưa ông Quotécmên, tôi
cần phải cho ông biết sự thật: Nevin là em trai tôi.
- Ồ, tôi giật mình thốt
lên.
Bây giờ thì tôi hyểu
Henry làm tôi nhớ đến ai khy lần đầu mới gặp. Nevin có khổ người nhỏ hơn, râu
đen, nhưng đôi mắt vẫn màu xám và tinh nhanh như thế. Mặt của hai người cũng có
nhyều nét giống nhau.
-Nevin là em út và là em
duy nhất của tôi, Henry nói tiếp và chúng tôi bắt đầu xa nhau cách đây độ năm
năm. Trước đấy, chúng tôi chẳng bao giờ xa nhau, dù chỉ một tháng. Nhưng năm
năm về trước, một tai họa đã đổ xuống đầu chúng tôi: tôi và Nevin đã cãi nhau
gay gắt (điều ấy đôi khy vẫn xảy ra, ngay cả với những người ruột thịt). Lúc ấy
tôi đã xử sự không công bằng lắm.
Đến đây, như để khẳng định
rằng quả đúng như thế Huđơ gật đầu lia lịa. Đúng lúc ấy tàu của chúng tôi nghyêng
hẳn về một bên, và cái đầu luôn gật gật của ông thuyền trưởng in rõ trong chyếc
gương ở ngay trên đầu tôi.
Tôi nghĩ chắc ông biết,
Henry nói tiếp, rằng khy một người chết mà không để lại di chúc và không có tài
sản nào khác ngoài đất đai, cái mà ở nước Anh gọi là bất động sản, thì tất cả
quyền thừa kế được trao cho người con cả. Ngẫu nhyên đúng lúc chúng tôi cãi
nhau thì bố chúng tôi chết, và cũng không để lại di chúc. Thành ra em tôi không
được hưởng một tí gì, không đồng xu dính túi và cũng chẳng nghề nghyệp. Tất nhyên
tôi phải có nghĩa vụ giúp đỡ, nhưng lúc ấy quan hệ giữa chúng tôi căng thẳng đến
mức tôi phải xấu hổ mà nói rằng... (Ông thở dài một cách chua xót) rằng tôi đã
chẳng làm gì để giúp em tôi. Không phải vì tôi muốn xử tệ, mà muốn em tôi là
người đầu tiên chủ động hòa giải, nhưng em tôi đã không làm thế. Xin lỗi vì tôi
đã bắt ông phải nghe quá chy tiết như vậy, nhưng đối với ông, mọi cái cần phải
được sáng tỏ. Có đúng thế không, ông Huđơ?
- Tất nhyên là thế, ông
thuyền trưởng đáp. - Tôi tin là ông Quotécmên sẽ không để ai biết chuyện này.
- Vâng, vâng. Tôi nói,
các ông cứ yên tâm.
Cũng cần phải nói thêm rằng
tôi rất tự hào là người biết giữ bí mật.
- Vậy là, Henry kể tiếp,
lúc ấy em tôi chỉ có mấy trăm đồng bảng (Đơn vị tiền tệ Anh) ở nhà băng. Không
nói với tôi một lời nào, em tôi lấy số tiền ít ỏi đó rồi lên đường đi Nam Phy
dưới cái tên giả Nevin, với ước mơ điên rồ mau chóng trở thành giàu có. Điều
này mãi sau này tôi mới biết. Ba năm trôi qua. Tôi không biết tin gì về em
trai, mặc dù có viết thư mấy lần. Tất nhyên em tôi không nhận được chúng. Càng
ngày tôi càng lo lắng thêm về số phận của em tôi. Tôi là người hyểu rõ thế nào
là tình cảm ruột thịt, thưa ông Quotécmên.
- Vâng, hẳn thế. - Tôi khẽ
đáp và chợt nghĩ về Henry, con trai tôi.
- Tôi sẵn sàng chịu mất cả
nửa gia tài của tôi để được biết rằng em tôi còn sống, khỏe mạnh và tôi có thể
gặp lại!
- Nhưng để làm được điều ấy
thì hy vọng không thôi chưa đủ, ông Henry ạ. - Thuyền trưởng Huđơ vừa nói tiếng
một, vừa nhìn Henry.
Thế đấy, thưa ông
Quotécmên, càng ngày tôi càng muốn biết em tôi còn sống hay không, và nếu sống
thì làm thế nào đưa được về nhà. Tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được để
tìm kiếm, và kết quả là nhận được bức thư của ông. Các tin tức tôi thu thập được
đều đáng mừng, vì qua chúng, tôi biết rằng cách đây không lâu Georg, em tôi,
còn sống. Nhưng những gì xảy ra tiếp theo thì còn là một điều bí mật. Nói tóm lại,
tôi quyết định tự mình đến đây để tìm Georg, và thuyền trưởng Huđơ đã đồng ý
cùng đi với tôi.
Ông biết đấy, ông thuyền
trưởng lên tiếng. Dù sao thì tôi cũng chẳng còn việc gì khác để làm. Các huân
tước cầm đầu bộ tư lệnh hải quân đã đuổi tôi khỏi hạm đội để chết đói với đồng
lương chỉ còn một nửa. Còn bây giờ, thưa ông, xin ông hãy nói cho chúng tôi tất
cả những gì ông biết về con người mang tên Nevin nọ.
Tôi cho thuốc vào tẩu,
thong thả chưa muốn trả lời vội.
- Thế ông đã nghe được những
gì về cuộc hành trình tiếp theo của em tôi? Đến lượt mình, Henry hỏi.
- Tôi biết được một điều
mà, - Tôi đáp, - cho đến nay tôi chưa hé lộ cho ai biết, rằng em trai ông đã
lên đường đi tìm kho báu của vua Xolomon (Vua của dân tộc Ixraen, 1020-980 trước
Công nguyên).
- Kho báu của vua
Xolomon? - Cả hai người nghe xong cùng thốt lên. - Nhưng nó nằm ở đâu?
- Tôi không biết, - Tôi
nói. - Tôi chỉ nghe người ta đồn đại về nó. Thật ra thì đã có lần tôi nhìn thấy
đỉnh của những ngọn núi mà phía bên kia là kho báu của vua Xolomon, nhưng giữa
tôi và những ngọn núi ấy là cả một sa mạc rộng tới một trăm ba mươi dặm, và như
tôi được biết, chưa hề có người da trắng nào, trừ một người duy nhất, vượt qua
nổi sa mạc ấy. Hay tốt hơn để tôi kể các ông nghe truyền thuyết về kho báu của
vua Xolomon mà tôi đã nghe được? Nhưng các ông phải hứa với tôi rằng nếu không
được tôi cho phép, các ông sẽ không nói lại với bất kỳ ai, được không? Tôi có
những liù do chính đáng để yêu cầu các ông điều ấy.
Henry gật đầu đồng ý, còn
thuyền trưởng Huđơ thì nói:
- Tất nhyên, tất nhyên!
- Vâng, tôi xin bắt đầu,
- Tôi nói. - Chắc các ông cũng biết rằng làm nghề săn voi là những người thô lỗ
và thực tế. Họ không quan tâm gì hơn ngoài những việc sinh hoạt hàng ngày và
các phong tục của thổ dân Caphơ. Kể ra đôi lúc trong số họ cũng có người thích
thu thập các truyền thuyết của người bản xứ, để qua đó cố hình dung phần nào lịch
sử của đất nước đầy bí hyểm mà mình đang sống. Chính từ một người như thế, lần
đầu tiên tôi được nghe về kho báu của vua Xolomon. Điều này xẩy ra cách đây gần
ba mươi năm, trong chuyến săn voi đầu tiên của tôi ở xứ Motablâ. Người ấy tên
là Ivan. Một năm sau thì anh ta chết. Một con trâu bị thương đã húc anh ta, tội
nghyệp. Anh ta được chôn gần thác nước Dămbêdi. Tôi nhớ một lần vào ban đêm,
tôi kể cho anh ta nghe về cái mỏ quặng kỳ lạ mà tôi gặp trong khy săn sơn
dương, Cudu ( (2) Các loài khác nhau thuộc họ sơn dương.) và Cany (2) ở khu vực
mà giờ được gọi là Lideburg thuộc Tifranxvaan. Tôi nghe nói cách đây không lâu
các nhà công nghyệp vàng lại lần nữa khám phá ra khu mỏ này, nhưng tôi đã biết
về nó từ nhyều năm trước. ƠŒ đấy, xuyên qua núi đá dựng đứng, người ta làm một
con đường rộng dẫn vào mỏ hoặc hầm ngầm. Trong hầm chứa những đống thạch anh có
hàm lượng vàng đã chuẩn bị sẵn để nghyền...
“Hừ, - Ivan nói. - Để tớ
kể cho cậu nghe một chuyện khác còn kỳ lạ hơn nhyều”.
Rồi anh ta bắt đầu kể cho
tôi nghe rằng thật ra, xa tít trong nội địa, có lần ngẫu nhyên anh ta đã gặp một
thành phố hoàn toàn đổ nát. Theo anh ta thì đó là Ophyrơ, thành phố được nhắc đến
trong Kinh Thánh. Cần phải nói rằng mãi sau này, khy Ivan đã chết không ít người
có học hơn nhyều đã khẳng định ý kiến anh ta là đúng. Tôi nhớ tôi đã nghe tất cả
những điều ấy một cách say sưa như nghe một câu chuyện kỳ thú, vì lúc ấy tôi
còn trẻ; và câu chuyện về nền văn minh cổ và các kho báu mà những nhà phyêu lưu
người Iuđê và Finiki đã tìm thấy ở đó khy đất nước lại một lần nữa rơi vào tình
trạng mông muội tàn nhẫn, đã kích thích trí tò mò của tôi. Bỗng nhyên Ivan hỏi
tôi:
“Cậu đã bao giờ nghe nói
về các dãy núi Xulâyman ở phía tây bắc vùng đất Masuculumbue (Một tỉnh ở Nam Phy)
chưa?”.
Tôi đáp rằng tôi chưa
nghe gì cả.
“Thế thì thế này nhé, -
anh ta nói, - chính ở đấy có các kho báu của vua Xolomon. Các kho báu chứa đầy
kim cương”.
“Do đâu mà cậu biết?” -
Tôi hỏi.
“Do đâu à? Lại còn do đâu
nữa! Xulâyman chẳng phải là gì khác ngoài chữ ”Xolomon“ đọc chệch mà thành. Hơn
nữa, chính một mụ thầy lang ở Manica đã nói với tớ điều ấy. Mụ ta nói rằng bộ lạc
sống bên kia núi là một nhánh của bộ lạc Dulux (Một bộ lạc da đen sống ở Đông
Nam châu Phy trở thành hùng mạnh vào đầu thế kỷ XIX.), nói bằng tiếng Dulux,
nhưng người ở đấy đẹp hơn và cao to hơn những người Dulux. Họ có những nhà pháp
thuật vĩ đại, học được các phép lạ từ người da trắng khy “thế giới còn đang hỗn
độn, tăm tối”; những nhà pháp thuật này biết được bí mật về các kho báu chứa đầy
các hòn đá óng ánh”.
Tất nhyên lúc ấy tôi cho
câu chuyện này chỉ đáng buồn cười, dù nó làm tôi chú ý, vì các mỏ kim cương còn
chưa được khám phá. Còn anh chàng Ivan tội nghyệp thì chẳng bao lâu sau bỏ đi
nơi khác và chết như tôi đã nói. Suốt hai mươi năm tiếp theo tôi hoàn toàn
không nhớ gì tới câu chuyện của anh ta.
Nhưng sau đấy hai mươi
năm. Đó là một quãng thời gian dài, thưa các ông, vì săn voi là một nghề nguy hyểm
và ít ai sống qua nổi chừng ấy năm. Vâng, sau đấy hai mươi năm tôi lại được
nghe cụ thể hơn về dãy núi Xulâyman và về đất nước bị che khuất phía bên kia.
Lúc ấy tôi đang ở một làng nhỏ có tên là Xitandi, nằm ngoài địa phận Manica. Đấy
là một chỗ không tốt lắm: Ăn thì chẳng có gì, mà thú để săn bắn cũng không có nốt.
Tôi bị sốt nặng và cảm thấy trong người rất khó chịu. Một hôm có một người Bồ
Đào Nha tới làng. Đi theo ông ta chỉ có một thằng hầu. Cần phải nói rằng tôi biết
khá rõ về bọn người Bồ Đào Nha ở Delegoa(Cảnh và vịnh cùng tên ở Đông Nam bờ biển
Châu Phy.) - Trên đời này không có ai xấu xa hơn chúng, những kẻ béo lên nhờ
máu và sự đau khổ của nô lệ.
Nhưng con người này lại
khác xa những tên tôi thường gặp. Ông ta làm tôi nhớ tới những người Tây Ban
Nha lịch sự mà tôi thường gặp trong sách. Đó là một người cao, gầy, có đôi mắt
đen và bộ ria mép xoăn bạc trắng. Chúng tôi chuyện trò với nhau một lúc. Ông ta
có thể nói được tiếng Anh, tuy sai bét, còn tôi cũng hyểu đôi chút bằng tiếng Bồ
Đào Nha. Ông ta nói rằng tên ông ta là Hoxe Xenvext, và rằng ông ta có một khoảng
đất ở Vịnh Delegoa. Ngày hôm sau, khy lên đường cùng anh hầu người lai, ông ta
đã ngả mũ chào từ biệt tôi bằng một động tác đẹp nhưng ít nhyều cổ lỗ.
Tạm biệt ông, - Ông ta
nói. - Nếu có lúc nào đó ta còn gặp nhau thì lúc ấy tôi đã là người giàu nhất
thế giới, và tôi sẽ không quên ông”.
Điều ấy làm tôi vui lên
đôi chút, dù tôi còn quá yếu để mỉm cười với ông ta. Tôi thấy ông ta đi về hướng
tây, về phía sa mạc mênh mông và tôi tự hỏi phải chăng ông ta là một người
điên, và định tìm gì ở đấy?
Một tuần sau tôi khỏi bệnh.
Một tối nọ tôi ngồi trước chyếc lều bạt nhỏ mà tôi vẫn mang theo bên mình, và gặm
nốt chyếc đùi cuối cùng của con gà ốm nhom mà tôi phải đổi bằng một tấm vải, mà
tấc vải ấy lẽ ra đáng giá hai mươi con như thế. Tôi ngước nhìn mặt trời đỏ rực
đang chìm dần trong sa mạc, và bỗng nhận thấy có một người nào đấy đang bò trên
ngọn đồi phía trước, cách tôi khoảng ba trăm mét (Trong nguyên bản tác giả dùng
các đơn vị đo lường riêng của Anh, để bạn đọc dễ hình dung, khy dịch, chúng tôi
đổi sang các đơn vị đo lường quốc tế quen thuộc, tức là thành mét, kilômét,
kilôgam, vân vân...). Cứ theo quần áo mà xét thì đó là một người châu Âu. Lúc đầu
người ấy bò bằng bốn tay chân, sau đó đứng dậy, lảo đảo đi được mấy mét. Rồi
ông ta lại ngã và bò tiếp. Đoán rằng người này gặp chuyện gì đó chẳng lành, tôi
liền cho một trong những người thợ săn của tôi chạy ra giúp đỡ. Một chốc sau
người ta đưa ông ta tới. Hoá ra... các ông thử nghĩ xem đó là ai?
- Tất nhyên là Hoxe
Xenvext! - Thuyền trưởng Huđơ kêu lên.
Vâng. Hoxe Xinvext! Hay
nói chính xác hơn là bộ xương bọc da của ông ta. Do bị sốt, mặt ông ta ngả màu
vàng, và ông ta gầy đến nỗi con ngươi của đôi mắt to màu đen như muốn tuột ra
khỏi hố mắt. Xương của ông ta nồi hẳn lên sau lớp da vàng như nghệ, còn tóc thì
bạc trắng.
Nước, hãy vì Chúa mà cho
tôi ít nước!” - Ông ta rên rỉ, đôi môi khô nứt nẻ, lưỡi thì sưng rộp và đen sì.
Tôi cho ông ta uống nước
có pha lẫn ít sữa, và ông ta uống một hơi hết ít nhất là hai lít. Tôi không dám
cho uống thêm. Sau đó ông ta lên cơn sốt, ngã xuống và bắt đầu nói mê về dãy
núi Xulâyman, về kim cương và sa mạc. Tôi đưa ông ta vào lều và làm những gì có
thể làm được để ông ta đỡ đau đớn. Tôi biết trước thế nào ông ta cũng chết. Gần
mười một giờ đêm, ông ta đỡ hơn chút ít. Tôi cũng nằm xuống nghỉ và ngủ thyếp.
Rạng sáng hôm sau tôi tỉnh dậy và nhìn thấy thân hình gầy gò, kỳ lạ của ông ta
trong ánh sáng mờ mờ. Ông ra ngồi, nhìn đăm đăm về phía sa mạc. Bỗng nhyên những
tia nắng đầu tiên soi sáng cả một vùng bằng phẳng rộng lớn đang trải ra trước mặt
chúng tôi, rồi lướt qua các đỉnh xa nhất của dãy núi Xulâyman cách chúng tôi
hơn một trăm dặm.
- Kia, nó kia! - Người Bồ
Đào Nha sắp chết kêu lên, chìa cánh tay dài, gầy khô của mình về phía trước.
- Nhưng chẳng bao giờ tôi
còn có thể đi được tới đấy, chẳng bao giờ. Và cũng chẳng bao giờ có ai làm được
điều đó. - Rồi bỗng ông ta im lặng như thể đang suy nghĩ điều gì. - Này anh bạn.
- Ông ta quay sang tôi, nói. - Anh ở đây à? Tôi thấy mắt tôi đang lóa lên và tất
cả như tối sầm lại".
- Vâng, tôi ở đây. - Tôi
nói. - Ông hãy nằm xuống nghỉ cho khỏe".
- Chốc nữa tôi sẽ nghỉ. -
Ông ta đáp. - Tôi sẽ có nhyều thời gian để nghỉ, nghỉ suốt đời! Tôi sắp chết!
Anh đã đối xử với tôi rất tốt. Tôi sẽ trao cho anh một tài liệu. Có thể anh
sang được bên kia cũng nên, nếu anh vượt qua nổi cái sa mạc đã làm hại tôi và
thằng hầu tội nghyệp của tôi”.
- Rồi ông ta sờ sờ trong
ngực và rút ra một cái túi trông như chyếc túi đựng thuốc lá may bằng da sơn
dương. Nó được cột chặt bằng một sợi dây da mà ở đây chúng tôi gọi là rimpi.
Ông ta định cởi dây nhưng không được, đành đưa cho tôi. “Anh hãy mở nó ra” -
Ông ta nói. Tôi làm theo và rút từ túi ra một mảnh vải rách đã ngả màu vàng,
trên đó có vẽ những hình gì đó và những dòng chữ có màu như màu gỉ sắt (FXem bản
đồ ở đầu sách.). Bên trong còn có một tờ giấy.
Ông ta nói tiếp rất khẽ,
vì sức đã kiệt.
Trên tờ giấy có ghy tất cả
những điều có trên tấm vải. Tôi đã phải bỏ ra nhyều năm để tìm hyểu những cái
này. Anh hãy lắng nghe tôi. Ông cụ tổ xa xưa của tôi là một người tị nạn chính
trị từ Lixbon, một trong những người Bồ Đào Nha đầu tiên đặt chân lên bờ biển
nước này. Cụ đã viết tài liệu này trong khy hấp hối ở dãy núi mà cả trước đấy,
cả sau này chưa hề in dấu chân người da trắng. Tên của cụ là Hoxe Xinvext, sống
cách đây ba trăm năm. Người nô lệ đứng chờ cụ ở bên này núi đã tìm thấy xác cụ
và mang các thứ này về Delegoa. Từ ấy đến nay nó vẫn được giữ trong nhà, nhưng
không ai cố đọc để hyểu nó, cho đến lúc chính tôi làm điều ấy. Việc này đã bắt
tôi trả giá bằng chính cuộc sống của mình, nhưng nó có thể giúp người khác
thành công và trở thành người giàu nhất thế giới - Vâng, giàu nhất thế giới! Có
điều anh không được đưa tờ giấy này cho ai, mà phải tự mình đi đến đấy!”.
Sau đấy ông ta lại bắt đầu
mê sảng và một giờ sau thì tắt thở.
Cầu mong cho linh hồn ông
ta được yên nghỉ nơi chín suối! Ông ta chết một cách bình thản, và tôi đào mộ
thật sâu để chôn ông ta, trên mộ có lèn những tảng đá to để chồn cáo khỏi moi
xác lên. Rồi tôi lên đường rời khỏi nơi đó.
- Thế tờ giấy kia thì
sao? - Henry hỏi tôi sau khy đã lắng nghe một cách rất chăm chú.
- Vâng, vâng, tờ giấy viết
gì vậy? - Thuyền trưởng Huđơ hỏi thêm.
- Được, nếu các ông muốn,
thưa các ông, tôi sẽ nói các ông nghe. Tôi chưa hề đưa nó cho ai xem, còn ông
lão lái buôn người Bồ Đào Nha luôn say nhè, người đã dịch nó sang tiếng Anh cho
tôi thì chỉ ngay sáng hôm sau đã quên sạch những gì lão dịch. Mẩu vải thật tôi
để ở nhà, ở Durban, cùng với bản dịch của Đôn Hoxe, nhưng tôi có đây bản dịch
tiếng Anh và bản đồ chép lại, nếu nói chung có thể gọi đó là bản đồ được. Đây,
nó đây. Còn bây giờ thì hãy nghe tôi đọc: tôi, Hôxêđa Xinvertơra, lúc này đang
hấp hối vì đói trong một hang động nhỏ, nơi tuyết không bay vào được, ở bờ dốc
phía bắc đỉnh núi gần nhất về phía nam, một trong hai ngọn núi mà tôi gọi là Cặp
vú của Nữ hoàng Xava. Tôi viết những dòng này bằng máu của chính mình vào năm
1590, bằng một mẩu xương nhỏ trên mảnh vải xé từ chyếc áo tôi đang mặc. Nếu người
nô lệ của tôi tìm thấy tấm vải này khy đến đây, và mang nó về Delegoa, tôi nhờ
bạn tôi là (tên bị nhòe không rõ) báo cho nhà vua biết về điều tôi đang viết để
Ngài phái quân đội đến đây. Nếu quân đội của Ngài vượt qua nổi sa mạc, núi, và
đánh thắng những người Cucuan dũng cảm cùng các phép phù thủy ghê gớm của họ (để
làm được điều này cần mang theo thật nhyều linh mục), thì Ngài sẽ trở thành ông
vua giàu nhất từ thời vua Xolomon tới nay. Tôi đã tự mắt nhìn thấy một khối lượng
khổng lồ các viên kim cương trong kho báu Xolomon, ở sau Thần chết Trắng, nhưng
vì sự phản bội của Gagula, một mụ chuyên làm nghề săn bắt phù thủy, tôi đã chẳng
mang được cái gì khỏi đó, và may lắm mới thoát chết. Ai muốn đi tới kho báu
Xolomon, xin cứ theo con đường tôi vẽ trên bản đồ rồi trèo lên theo các sườn
núi phủ tuyết phía bên trái vú Nữ hoàng Xava cho đến tận đỉnh mới thôi. ƠŒ sườn
núi phía bắc sẽ bắt đầu con đường vĩ đại do vua Xolomon xây dựng. Theo đường
này, đi ba ngày sẽ tới nơi vua Cucuan ở. Phải tìm cách giết chết Gagula. Hãy cầu
nguyện cho linh hồn tôi được yên nghỉ. Vĩnh biệt, Hoxe Xinvext".
Khy tôi đọc xong và chìa
ra bản sao tấm bản đồ được vẽ bằng cánh tay run rẩy của ông già người Bồ Đào
Nha, máu thay mực, thì mọi người im lặng một hồi lâu. Hai người bạn mới của tôi
rất đỗi ngạc nhyên.
-Vâng, cuối cùng thuyền
trưởng Huđơ lên tiếng. - Tôi đã hai lần đi vòng quanh thế giới, đặt chân tới
khá nhyều nơi, nhưng cứ để người ta treo cổ tôi lên, nếu có lúc nào đó tôi đã
được nghe hay được đọc một câu chuyện kỳ lạ thế này.
- Đúng, một chuyện rất kỳ
lạ, thưa ông Quotécmên. - Henry nói thêm. - Tôi hy vọng rằng ông không đùa
chúng tôi chứ? Tôi biết rằng người ta đôi lúc vẫn tự cho phép mình làm những điều
như thế đối với những người lạ.
- Nếu ông thực tình nghĩ
như thế thì, thưa ông Henry Curơtix, có lẽ ta kết thúc mọi chuyện ở đây thì
hơn, - Tôi nói giọng bực bội rồi gấp tờ giấy cho vào túi, nhỏm dậy định bước
đi. - Tôi không thích người ta xem tôi là một trong những anh chàng khoác lác
luôn lấy việc dối làm tiêu khyển và luôn khoe khoang với những người mới từ xa
đến về những chuyện săn bắn phyêu lưu, kỳ lạ mà trong thực tế không hề có.
Bằng một động tác an ủi,
Henry để bàn tay to khỏe của mình lên vai tôi.
- Ngồi xuống đã, ông
Quotécmên. - Ông ta nói. - Và hãy thứ lỗi cho tôi. Tôi cũng biết rằng ông không
định lừa dối chúng tôi, nhưng chắc ông cũng đồng ý với tôi, rằng câu chuyện ông
vừa kể lạ lùng đến mức nếu tôi có chút hoài nghy thì cũng là điều dễ hyểu.
-Các ông sẽ được thấy bản
đồ thật và mảnh giấy khy chúng ta tới Durban, - tôi nói, sau khy đã lắng dịu. Rồi
ngẫm lại, tôi thấy Henry đã nói đúng. - Nhưng tôi còn chưa nói gì về em trai
ông. Tôi biết người đầy tớ của ông ta, tên là Jim. Jim cùng đi theo chủ. Đó là
một anh chàng người bản xứ rất thông minh, quê ở Beauana, và là một người thợ
săn giỏi. Tôi gặp Jim vaò buổi sáng khy ông Nevin chuẩn bị lên đường. Anh ta đứng
bên xe, thái thuốc để hút tẩu.
"Jim, - Tôi hỏi, các
anh định đi đâu đấy? Săn voi à?”.
“Không, thưa ông chủ, -
Anh ta đáp. - Chúng tôi đi tìm cái gì đấy còn quý hơn ngà voi nhyều”.
“Cái gì? - Tôi hỏi vì tò
mò. - Vàng à?”.
“Không, thưa ông chủ, -
Còn quý hơn cả vàng”. Rồi anh ta cười.
Tôi chẳng hỏi câu nào
thêm vì không muốn tỏ ra tò mò, và bằng cách ấy hạ thấp giá trị của mình. Tuy nhyên,
những lời anh ta nói đã làm tôi rất quan tâm.
Bỗng Jim ngừng thái thuốc.
“Thưa ông chủ”. - Anh ta
nói.
Tôi làm ra vẻ không nghe
thấy.
“Thưa ông chủ”, - Anh ta
nhắc lại.
“Vâng, có gì thế, anh bạn?”
- Tôi lên tiếng.
“Thưa ông chủ, chúng tôi
đi tìm kim cương”.
“Tìm kim cương? Thế thì
các anh không được đi về phía ấy, mà phải về phía mỏ”.
“Thưa ông chủ, ông đã khy
nào nghe nói về núi Xulâyman chưa ạ?”.
“Có gì!”.
“Thế ông có nghe rằng ở đấy
có kim cương không?”.
“Tôi có nghe người ta kể
một vài câu chuyện ngu ngốc về điều ấy, cậu Jim ạ”.
“Không phải chuyện ngu ngốc
đâu, thưa ông chủ. Ngày xưa tôi có biết một người đàn bà từ phía ấy đi về đây,
về Natan, cùng một đứa con nhỏ. Chính bà ta đã kể cho tôi nghe. Bây giờ bà ta
đã chết rồi”.
“Ông chủ của cậu sẽ làm mồi
cho chym ưng, Jim ạ, nếu ông ta không từ bỏ ý định đi đến đất nước Xulâyman. Cả
cậu cũng thế, nếu lũ chym ấy tìm thấy cái gì đó ăn được trong bộ xương vô tích
sự của cậu”, - Tôi nói.
Anh ta chỉ cười.
“Có thể như thế, thưa ông
chủ. Nhưng con người trước sau rồi cũng chết, mà tôi thì muốn thử tìm hạnh phúc
nơi đất mới. Vả lại, ở đây chẳng bao lâu nữa sẽ chẳng còn con voi nào để săn”.
“Thế cơ à? - Tôi nói. -
Được, cứ chờ đấy, rồi ông già mặt trắng (Ý nói thần chết) sẽ tìm lấy cái cổ màu
vàng của cậu lúc ấy cậu sẽ nói khác cho mà xem”.
Nửa giờ sau tôi đã thấy cỗ
xe của ông Nevin chuyển bánh. Bỗng Jim quay lại chạy về phía tôi.
"Thưa ông chủ, - anh
ta nói, - Tôi không muốn ra đi mà không từ biệt ông chủ, vì có lẽ ông chủ nói
đúng. Chúng tôi sẽ chẳng còn bao giờ quay lại”.
“Nghĩa là ông chủ của cậu
định đi tới núi Xulâyman thật à, hay cậu nói dối, Jim?”.
"Không, - Jim đáp. -
Quả đúng thế ạ. Ông ấy nói rằng bằng bất kỳ giá nào, ông ta cũng sẽ trở thành
giàu có. Nếu vậy thì tại sao ông ta không thử làm giàu bằng kim cương?”.
"Chờ tôi một lát,
Jim, - Tôi nói. - Cậu hãy cầm mẩu giấy tôi chuyển cho chủ cậu, có điều cậu phải
hứa là sẽ không đưa cho chủ cậu chừng nào chưa tới Ainaiti”.
“Được,” - Jim đáp.
Tôi lấy một mẩu giấy và ghy
lên đó: “Người nào định đi tới kho báu của vua Xolomon, hãy trèo lên theo các
sườn núi phủ tuyết phía bên trái vú nữ hoàng Xava cho đến tận đỉnh mới thôi. ƠŒ
sườn núi phía bắc sẽ bắt đầu Con đường vĩ đại do vua Xolomon xây dựng”.
"Jim, - Tôi dặn, - Khy
đưa mảnh giấy này cho chủ cậu, hãy nói với ông ta là phải theo đúng lời khuyên
này. Đừng quên là cậu không được đưa nó bây giờ, vì tôi không thích ông ta quay
lại hỏi những câu hỏi mà tôi không muốn trả lời. Còn bây giờ thì đi đi, đồ lười,
xe đã đi khá xa rồi đấy".
Jim cầm mảnh giấy rồi chạy
đuổi theo xe. Đó là tất cả những gì tôi biết về em trai của ông, thưa ông
Henry. Nhưng tôi e rằng...
- Thưa ông Quotécmên, -
Henry ngắt lời tôi. - Hyện nay tôi đang đi tìm em tôi. Tôi sẽ đi theo tới tận
núi Xulâyman và nếu cần, có thể xa hơn thế. Tôi sẽ đi chừng nào tìm thấy mới
thôi, hoặc tới khy biết được rằng em tôi đã chết. Ông có đi cùng tôi không?
Như đã nói, tôi nghĩ tôi
là một người thận trọng, lại ưa thật yên tĩnh và khyêm tốn, nên đề nghị này đã
làm tôi ngạc nhyên và ít nhyều sợ hãi. Tôi cho rằng thực hyện một chuyến du
hành như thế thực chất là tự mình đi tìm cái chết. Thêm vào đó, không nói đến
các mặt khác, tôi còn phải giúp đỡ con trai tôi, và vì vậy tôi không thể cho
phép mình chết nhanh như thế.
- Không, cảm ơn, thưa ông
Henry. Tôi không thể nhận lời được, - Tôi đáp. - Tôi đã quá già để tham gia vào
những việc điên rồ như vậy, những việc mà chắc chắn sẽ mang đến một sự kết thúc
không hơn gì cái kết thúc của anh bạn Xinvextơ đáng thương của tôi. Tôi có một
đứa con trai đang cần sự giúp đỡ của tôi, và tôi không có quyền đánh liều cuộc
sống của tôi.
Henry và thuyền trưởng
Huđơ tỏ vẻ rất thất vọng.
- Thưa ông Quotécmên, -
Henry nói. - Tôi là một người giàu có và kiên định trong các ý kiến của mình. Nếu
ông đồng ý giúp đỡ tôi, ông có thể yêu cầu bất kỳ một sự đền bù nào. Số tiền đó
sẽ được thanh toán trước khy lên đường. Đồng thời, nếu không may chúng ta chết,
tôi sẽ lo trước để con trai ông được giúp đỡ một cách thỏa đáng. Tôi nói thế
ông cũng đủ hyểu sự có mặt của ông cần thyết với tôi đến nhường nào. Nếu chúng
ta may mắn đến được kho báu Xolomon và tìm thấy kim cương, thì số kim cương ấy
sẽ chya đôi giữa ông và thuyền trưởng Huđơ. Tôi không cần. Tôi nghĩ khó lòng mà
đến được đấy vì hầu như ta hoàn toàn không có tí hy vọng nào để làm được điều
đó, nhưng tôi tin rằng dọc đường chúng ta có thể kiếm được ngà voi, và các ông
cứ chya đều với nhau. Ông có thể đặt điều kiện cho tôi, ông Quotécmên ạ. Thêm
vào đó, tất nhyên tôi sẽ chịu hết mọi phí tổn của chuyến du hành.
- Thưa ông Henry,- Tôi
nói.- Chưa bao giờ tôi nhận được một đề nghị hào phóng như thế, và một thợ săn,
một nhà buôn nghèo như tôi cần phải biết nắm lấy cơ hội này. Nhưng từ trước tới
nay tôi chưa gặp phải một công việc lớn thế này, nên tôi cần có thời gian để
suy nghĩ kĩ õ. Ít ra thì tôi cũng sẽ cho ông biết quyết định của tôi trước khy
chúng ta tới Durban.
- Rất tốt, - Henry nói.
Sau đó tôi chúc hai người
ngủ ngon rồi đi về phòng mình. Đêm hôm ấy tôi nằm mơ thấy kim cương và
Xinvenxtơ, người đã chết từ lâu.
Chương 2
Để đi bằng đường biển từ
Keptao đến Durban, phải mất bốn hoặc năm ngày, tùy vào thời tiết và tốc độ tàu
đi nhanh hay chậm. ƠŒ London Đông (Một cảng ở Nam Phy trên bờ Thái Bình Dương)
cảng còn chưa được xây xong, dù đã đổ vào đấy khá nhyều tiền. Vì vậy đáng lẽ được
cập bến sát cầu tàu ở một cảng được trang bị hyện đại, thì cho đến tận bây giờ
tàu vẫn phải thả neo ngoài xa. Nếu biển động, nhyều khy còn phải chờ hàng mấy
ngày liền, cho đến khy có tàu kéo thuyền từ bờ đến chở người và bốc hàng. Nhưng
thật may, lần này chúng tôi không phải chờ. Khy tàu chúng tôi đến London Đông,
biển động không đáng kể, và từ bờ lập tức người ta cho tàu kéo ra, kéo theo một
dẫy dài các thuyền đáy dẹt trông thật xấu xí. Từ tàu của chúng tôi, người ta
ném sang chúng từng kiện hàng, mà không cần biết bên trong đựng gì: cả len, cả
đồ sứ đều được ném xuống thành một đống. Đứng trên boong, tôi nhìn thấy một hòm
đựng độ dăm chục chai sâm banh bị ném vỡ, chảy tung tóe, sủi bọt trên mặt sàn chyếc
thuyền chở hàng bẩn thỉu. Thật là khó chịu khy phải chứng kiến chừng ấy rượu
ngon bị làm hỏng một cách vô liù. Đám công nhân bốc hàng người Capphơ cũng
nhanh chóng nhận ra điều đó. Họ tìm thấy hai chai may mắn còn nguyên, mở nút và
uống sạch. Rượu sâm banh làm họ say ngay lập tức. Những người Capphơ này hoàn
toàn không ngờ lại như vậy. Vô cùng hoảng sợ, họ vừa lảo đảo đi lại giữa thuyền,
vừa kêu to rằng thứ nước uống này bị ta ga ti , nghĩa là đã bị phù phép. Tôi bắt
chuyện với họ, và nói rằng họ đã phải uống thứ thuốc độc ghê gớm nhất của người
da trắng, và rằng họ sẽ chết. Trong cơn sợ hãi hoang dại, họ vội nắm lấy tay
chèo và con thuyền lao vun vút vào bờ. Tôi tin rằng từ đây cho đến chết, họ sẽ
chẳng bao giờ dám động tới chai rượu sâm banh nữa.
Suốt dọc đường tới Natan,
tôi luôn suy nghĩ về đề nghị của Henry Curơtix. Hai ngày đầu chúng tôi không đả
động đến vấn đề này, mặc dù ở bên nhau. Tôi kể cho Henry và thuyền trưởng Huđơ
nghe về các chuyện săn bắn phyêu lưu và mạo hyểm của tôi, không hề thêm bớt hay
phóng đại điều gì, như cảnh phường săn vẫn thường làm. Tôi cho rằng chúng tôi,
những người đi săn ở châu Phy, không cần thyết phải làm như vậy. Với chúng tôi
vẫn thường xẩy ra những chuyện lạ lùng, đến mức không cần bịa thêm cũng đã rất
hấp dẫn. Nhưng thôi, cái ấy không liên quan đến câu chuyện tôi đang kể.
Cuối cùng, vào một ngày
tháng giêng đẹp trời. - ƠŒ chỗ chúng tôi, tháng giêng là tháng nóng nhất - Con
tàu của chúng tôi bắt đầu đến gần Natan. Chúng tôi đi dọc bờ biển xanh tươi
xinh đẹp, hy vọng sẽ vòng qua mũi Durban vào lúc hoàng hôn. Bờ biển đẹp một
cách lạ lùng với những cồn cát màu nâu đỏ và những khu rộng mọc đầy cây xanh biếc
che kín các làng xóm của người Capphơ. Từng đợt sóng chạy vào bờ va phải đá,
quay ngược trở lại, làm thành những dải bọt màu trắng viền quanh. Nhưng thyên nhyên
ở Durban mới đặc biệt hào phóng. Trong suốt nhyều thế kỷ nước mưa chảy mạnh,
bào mòn, khoét sâu các khe đồi núi, làm thành những dòng sông lấp lánh dưới ánh
mặt trời. Trên nền xanh thẫm của những bụi cây thấp dày, thỉnh thoảng lại xuất hyện
một rừng mít hoặc một bãi mía. Đây đó giữa biển cây xanh rờn ấy nhô lên những
ngôi nhà màu trắng như mỉm cười với biển hyền lành, làm tăng thêm vẻ đẹp và sự ấm
cúng gia đình của bức tranh toàn cảnh.
Tôi nghĩ, cho dù thyên nhyên
có đẹp đến đâu cũng vẫn cần có bàn tay con người. Có thể tôi cảm thấy như vậy
vì trong một thời gian quá dài tôi sống ở những nơi hẻo lánh hoang dã, nên tôi
đánh giá cao các tiện nghy do con người tạo nên, dù cái tiện nghy văn minh ấy
đã xua đuổi các loài thú. Tất nhyên, cả khy con người chưa xuất hyện, vườn tiên
trên thyên đường vẫn đẹp, nhưng từ lúc có nàng Eva dạo chơi trong vườn, nó càng
trở nên đẹp hơn.
Nhưng thôi, xin quay lại
chuyện chính. Chúng tôi đã tính nhầm. Mặt trời lặn từ lâu, tàu chúng tôi mới thả
neo cách vịnh Durban không xa, và mới vang lên phát súng báo tin cho dân chúng
Durban biết có tàu chở thư và bưu phẩm từ nước Anh đến. Giờ mà lên bờ thì đã
quá muộn, nên chúng tôi đứng nhìn người ta chuyển thư xuống chyếc canô cấp cứu
một lúc rồi đi ăn tối.
Khy chúng tôi quay lại đứng
trên boong thì trăng đã lên cao, chyếu sáng mặt biển và đất liền, làm những ngọn
đèn hải đăng luôn luôn quay nhanh trở nên nhợt nhạt. Từ phía bờ bay ra một mùi
thơm dìu dịu mà bao giờ cũng làm tôi nhớ tới các bài hát nhà thờ và các nhà
truyền đạo. Từ một chyếc tàu khá to đậu bên cạnh bay đến tiếng nhạc và tiếng
hát của những người thuỷ thủ đang nhổ neo chuẩn bị rời bến.
Ba chúng tôi, nghĩa là
tôi, Henry Curơtix và thuyền trưởng Huđơ đi lại và ngồi xuống bên bánh lái.
- Thế nào, thưa ông
Quotécmên, - sau một phút im lặng, Henry quay sang tôi hỏi. - Ông đã suy nghĩ
kĩ lời đề nghị của tôi rồi chứ?
- Vâng, vâng! - Huđơ phụ
thêm, - ông quyết định thế nào? hy vọng rằng ông sẽ nhận lời, đúng không? Chúng
tôi sẽ rất lấy làm sung sướng nếu được ông đồng ý đi theo chúng tôi không những
tới kho báu của vua Xolomon, mà tới bất cứ nơi nào có con người mà ông biết dưới
cái tên Nevin.
Tôi lặng lẽ đứng dậy, đi
đến bên lan can, moi tàn thuốc ra khỏi tẩu. Tôi không biết phải trả lời thế
nào. Tôi cần ít nhất là một phút nữa để suy nghĩ thêm trước khy đi đến quyết định
cuối cùng. Nhưng đúng vào lúc mẩu tro thuốc đỏ hồng lóe lên trong bóng tối, tôi
bỗng quyết định - Đồng ý! Trong đời vẫn thường xẩy ra như thế: Ta do dự rất
lâu, mãi không biết nên làm gì, cuối cùng chỉ trong nháy mắt, ta quyết định tất
cả.
- Được, thưa các ông. -
Tôi nói và ngồi xuống chỗ của mình. - Tôi xin nhận lời. Nếu các ông cho phép,
tôi sẽ nói rõ vì sao tôi nhận lời, và nhận lời với điều kiện như thế nào. Xin bắt
đầu từ điều kiện.
Thứ nhất la: Ngoài việc
ông Henry phải chịu mọi phí tổn liên quan đến cuộc hành trình, tất cả ngà voi
và các của quý khác kiếm được dọc đường đi, sau này chỉ được chya đều làm hai
phần cho thuyền trưởng Huđơ và tôi.
Thứ hai là: Thêm vào đó,
trước khy lên đường, ông sẽ trả công cho tôi với số tiền năm trăm bảng. Phần
tôi, tôi có trách nhyệm phải phục vụ ông một cách mẫn cán cho đến khy ông quyết
định bỏ dở cuộc hành trình, hoặc khy chúng ta đạt được mục đích hay sẽ chết.
Thứ ba la: Trước khy lên
đường đi tới núi Xulâyman, ông phải làm giấy cam đoan, trong đó nói rõ việc
trong trường hợp tôi chết hoặc bị tàn tật suốt đời, ông sẽ trợ cấp cho con trai
tôi là Hary hyện đang học y ở London mỗi năm hai trăm bảng trong vòng năm năm.
Đến lúc ấy, con trai tôi đã trưởng thành và có thể tự kiếm sống, tất nhyên nếu
nó là người có khả năng và chí thú làm ăn. Tất cả các điều kiện của tôi là thế.
Có thể các ông sẽ cho tôi yêu cầu quá nhyều?
- Không, không! - Henry vội
nói. - Tôi xin vui lòng chấp nhận mọi điều kiện của ông. Tôi đã quyết định bất kỳ
giá nào cũng phải tìm em tôi bằng được và tôi sẽ không thay đổi ý định đó của
mình. Đánh giá cao kinh nghyệm và sự hyểu biết lớn của ông trong việc này, tôi
sẵn sàng trả cho ông hơn thế.
- Thế thì tiếc là tôi đã
không yêu cầu hơn, - tôi nói. - Nhưng tôi không bao giờ lấy lại lời nói của
mình. Còn bây giờ tôi sẽ nói vì sao tôi quyết định đi với các ông trong một cuộc
hành trình dài và nguy hyểm như thế. Trước hết, thưa các ông, tôi phải thú nhận
rằng mấy ngày qua tôi đã chú ý quan sát các ông, và mong các ông không cho tôi
là thyếu tế nhị, nếu tôi nói rằng tôi rất quý mến các ông. Tôi tin rằng chúng
ta sẽ hợp ý nhau, đó là điều rất quan trọng cho một chuyến đi lâu dài. Còn về bản
thân cuộc hành trình. Tôi muốn nói tới việc ta định vượt núi Xulâyman thì xin
nói thẳng rằng khó mà chúng ta sống sót nổi để quay lại. Ta thử xem số phận của
ông già Hoxe Xinvext cách đây ba trăm năm đã kết thúc thế nào? Rồi số phận của
người bà con ông ta cách đây hai mươi năm? Và cuối cùng là của em trai ông nữa?
Thưa các ông, tôi tin một cách chắc chắn rằng số phận của chúng ta cũng chẳng
hơn gì.
Tôi ngừng nói để xem tác
động của lời tôi đến hai người ra sao. Tôi có cảm giác rằng thuyền trưởng Huđơ
ít nhyều tỏ ra lo lắng: còn mặt của Henry thì thậm chí hơi biến sắc.
- Chúng ta phải liều
thôi, - ông nói, vẫn bằng cái giọng thản nhyên hàng ngày.
- Chắc các ông sẽ lấy làm
lạ. Tôi nói tiếp, rằng dù thấy trước như thế, tôi vẫn quyết định đi với các
ông, hơn nữa tôi lại là người vốn nhút nhát. Có hai nguyên nhân. Trước hết, tôi
là người tin ở định mệnh. Tôi tin rằng cái chết của tôi hoàn toàn không phụ thuộc
vào các việc làm và mong muốn của tôi. Và nếu tôi phải đi tới núi Xulâyman để
chết ở đó, thì nghĩa là số phận bắt tôi phải vậy. Tất nhyên Thượng đế toàn năng
biết rõ Ngài sắp sửa làm gì với tôi, vì vậy tự tôi, tôi chẳng cần quan tâm tới
điều ấy. Nguyên nhân thứ hai là tôi là một người nghèo. Mặc dù làm nghề săn voi
đã gần bốn mươi năm nay, tôi vẫn chẳng dành dụm được gì vì tiền tôi kiếm được
chỉ vừa đủ sống. Tất nhyên các ông biết rằng săn voi là một nghề mạo hyểm, và
thường những người làm nghề này chỉ kéo dài được bốn hoặc năm năm. Thế mà tôi
đã vượt cái thời hạn được quy định ấy đã bảy tám lần, vì vậy, tôi nghĩ có lẽ
tôi chẳng còn sống bao lâu nữa. Nếu tôi chết trong khy đi săn, thì sau khy trả
hết nợ nần, Hary, con trai tôi, người đang rất cần được giúp đỡ để học hành nên
người, sẽ chẳng còn đồng nào để sống. Còn nếu tôi đi với các ông, nó sẽ được bảo
đảm trong năm năm. Đấy, đại khái các suy nghĩ của tôi là như vậy.
-Thưa ông Quotécmên,-
Henry nói sau khy đã lắng nghe tôi rất chăm chú. - Những nguyên nhân khyến ông
cùng đi với chúng tôi vào một cuộc hành trình mà theo ông có thể kết thúc rất
bi thảm, đã nâng cao thêm phẩm giá của ông. Tất nhyên, chỉ thời gian và kết quả
công việc sẽ chỉ rõ rằng ông đúng hay sai. Nhưng riêng tôi, dù chết hay không,
tôi vẫn quyết định theo đuổi đến cùng. Mà nếu số phận quả tình bắt ta phải chết
thì tôi hy vọng rằng trước khy chết, ta còn kịp săn bắn chút ít. Ông có cho là
thế không, ông Huđơ?
- Đương nhyên là thế, -
ông thuyền trưởng nói - Cả ba chúng ta đều đã nhyều lần giáp mặt thần chết, nên
chắc sẽ không nản chí. Vì vậy rút lui là điều không nên. Còn bây giờ tôi đề nghị
ta cùng xuống phòng ăn để uống mừng sự khởi đầu tốt đẹp này.
Ngày hôm sau chúng tôi xuống
bờ và tôi đề nghị Henry cùng thuyền trưởng Huđơ đến ở trong ngôi nhà khyêm tốn
của tôi trên bờ Bêrêa. Nhà tôi chỉ có ba phòng và một gian bếp, được xây bằng gạch
không nung, còn mái thì che bằng tôn. Nhưng để bù lại, tôi có một khu vườn rất
đẹp, trong đó tôi trồng các cây musaula Nhật Bản thuộc loại giống tốt nhất, và
trồng nhyều cây mãng cầu mà tôi đang chờ thu hoạch một vụ thắng lợi. Giống cây
này do ông giám đốc vườn bách thảo tặng tôi. Tôi có một người làm vườn, tên là
Giéc, vốn là một trong những người trước đây giúp tôi đi săn. Khy chúng tôi
cùng ông ta săn ở đất nước Xicucunix, một con trâu cái đã húc vào đùi ông ta, vết
thương sâu đến nỗi ông ta buộc phải từ giã vĩnh viễn nghề săn bắn. Nhưng ông ta
vẫn còn có thể cà nhắc đi lại chăm sóc khu vườn được. Giéc là người thuộc bộ lạc
Gricva nổi tiếng không thích đánh nhau. Không ai có thể bắt một người Dulux làm
vườn được, vì đơn giản là anh ta không muốn phí sức cho một nghề hyền lành như
thế.
Vì nhà tôi chật nên Henry
và Huđơ ngủ trong chyếc lều vải tôi dựng lên ở giữa hai hàng cây cam cuối vườn.
Cam đang độ ra hoa tỏa hương thơm dễ chịu, còn trên cành thì treo lủng lẳng những
chùm quả còn xanh hoặc đã chín vàng (cần phải nói thêm rằng ở Durban một lúc
người ta có thể nhìn thấy ngay trên một cây cả hoa lẫn trái). Khu vực chúng tôi
ở đẹp, ngủ ngoài trời rất dễ chịu, vả lại ở Bêrêa lại hầu như không có muỗi, nếu
có cũng chỉ hoạ hoằn, sau những trận mưa lớn.
Tuy nhyên, cần phải kể tiếp
câu chuyện của chúng ta, nếu không Hari, con trai tôi, sẽ phát chán trước khy
chúng tôi đến được núi Xulâyman. Thế là sau khy quyết định cùng đi với Henry, lập
tức tôi bắt tay vào công việc chuẩn bị. Trước hết, tôi nhận từ tay Henry tờ cam
đoan bảo đảm tương lai cho con trai tôi. Trong việc này cũng có một ít khó
khăn, vì Henry không phải là người sở tại, và tiền ông ta sẽ cấp cho con trai
tôi trong trường hợp tôi chết còn nằm ở nước Anh. Nhưng cuối cùng rồi chúng tôi
cũng giải quyết ổn thỏa, nhờ sự giúp đỡ của một luật sư khôn khéo, người đã bắt
chúng tôi trả một khoản tiền lớn đến không chịu nổi - Những hai mươi đồng bảng
Xteclinh!
Nhét tờ séc năm trăm đồng
bảng vào túi và bằng cách ấy biểu hyện tính cẩn thận của mình, rồi dùng tiền của
Henry tôi mua một chyếc xe cùng đàn bò kéo tuyệt diệu. Thùng xe dài gần tám
mét, trục sắt, rất vững và nhẹ, có điều không được mới lắm. Một lần nó đã đi tới
các mỏ kim cương và quay lại mà không hề bị sứt mẻ gì. Điều này lại càng làm
tôi yên tâm, rằng nó được làm bằng thứ gỗ khô đã chịu qua thử thách. Nếu xe được
làm bằng thứ gỗ tươi hay đóng dối, thì tự nó sẽ để lộ ngay chuyến đi đầu tiên.
Độ bốn mét phần sau của thùng xe được che bằng vải bạt không thấm nước. Còn phần
trước dùng để chở hàng thì để trần. Loại xe này ở chỗ chúng tôi được gọi là xe
“nửa kín nửa hở”. Phần sau được dùng làm chỗ nghỉ ngơi, có chyếc giường bằng da
thú có thể ngủ hai người một lúc, có gác để vũ khí và các vật dụng khác. Tôi
mua nó với giá một trăm hai mươi lăm bảng, và cho rằng như thế là rẻ.
Sau đấy, tôi mua một đàn
bò kéo tuyệt vời gồm hai mươi con bò đực giống Dulux mà trong vòng hai năm trước
đấy tôi đã chú ý tới. Thông thường một cỗ xe chỉ cần mười sáu con kéo, nhưng để
dự phòng, tôi mua thêm bốn con nữa.
Giống bò Dulux thường thấp
đi lại nhẹ nhàng, to chỉ bằng một nửa giống bò Aphricanđerơ vẫn thường được
dùng để kéo xe chở hàng nặng. Loại bò bé này ít bị bệnh long móng hơn, dễ nuôi
và có khả năng thích hợp với những hoàn cảnh khó khăn nhất. Hơn thế, chúng có
thể sống ở những nơi mà giống bò Aphricanđerơ phải chết vì đói. Giống bò Dulux
nhẹ nhàng và đi nhanh, nếu không phải kéo quá nặng, một ngày chúng có thể đi được
năm dặm. Ngoài ra, chúng đã được thử thách nhyều vì đã từng đi ngang dọc khắp
Nam Phy. Vì vậy, trong một chừng mực nào đó, đàn bò của chúng tôi đã được bảo đảm
để không mắc thứ bệnh dịch vẫn thường làm chết cả đàn khy chúng đi qua những thảo
nguyên xa lạ. Còn để tránh bệnh phổi khủng khyếp, tức là bệnh lao thì chúng đã
được tiêm phòng trước. Để làm điều ấy, người ta lấy dao cắt một tí da ở quãng
cách cuống đuôi ba mươi phân rồi lấy một tí phổi của con bò chết vì bệnh lao đắp
vào đó. Một thời gian sau, con bò ấy sẽ mắc bệnh lao, nhưng ở dạng nhẹ, dần dần
cái đuôi sẽ chết và rụng ở chỗ cắt, và như thế là con bò đã được miễn dịch. Tất
nhyên là tàn nhẫn khy cắt đuôi của con vật, nhất là ở những nước có quá nhyều
ruồi muỗi, nhưng biết làm thế nào được. Thà mất đuôi còn hơn mất cả đuôi lẫn
bò. Không có con bò thì cái đuôi chẳng dùng được vào việc gì, họa chăng để phủi
bụi. Nhưng dù sao cũng khá là buồn cười khy ta đi sau đàn bò và thấy trước mặt
mình một lúc hai mươi mẩu cụt thay cho hai mươi chyếc đuôi dài tuyệt đẹp.
Sau khy vấn đề xe và bò
được giải quyết xong, đến lúc phải nghĩ tới thực phẩm và thuốc men, việc này cần
phải được thảo luận một cách hết sức kĩ lưỡng. Chúng tôi không được chở quá nặng,
nhưng lại phải mang rất nhyều thứ cần thyết cho một chuyến đi dài ngày như thế
này. Rất may là hóa ra thuyền trưởng Huđơ có biết ít nhyều về y. Bằng cách nào
đó, có thời ông ta đã từng học qua một lớp về y và phẫu thuật, và rồi sau đấy
thỉnh thoảng vẫn ứng dụng cái kiến thức của mình vào thực tế. Tất nhyên, ông ta
không có bằng cấp, nhưng sau này chúng tôi nhận ra là trong nghề này, ông ta
còn hyểu biết hơn nhyều các đức ông, đức bà được nhận quyền ghy trước tên họ
mình hai chữ “bác sĩ”. Ông ta có một tủ thuốc lưu động, rất đầy đủ và một bộ đồ
mổ. Khy chúng tôi còn ở Durban, ông ta cắt ngón chân phải cho một người Caphơ
khéo léo đến mức nhìn mãi mà không chán. Nhưng ông ta thật sự kinh ngạc lúc người
kia, sau khy quan sát toàn bộ cuộc phẫu thuật một cách rất bình tĩnh, liền yêu
cầu Huđơ gắn cho một mình một ngón chân mới, không có đen thì trắng cũng được.
Lo xong ổn thỏa chuyện thực
phẩm và thuốc men. Chúng tôi bắt tay vào lo sắm vũ khí và thuê người giúp việc.
Về vũ khí, tốt hơn để tôi ghy ra đây bản liệt kê các thứ chúng tôi đã chọn
trong số vũ khí dự trữ phong phú do Henry mang từ Anh sang, và cả trong số vũ
khí mà tôi có. Bản liệt kê này có trong sổ ghy chép của tôi, bây giờ chỉ việc
chép lại:
“Ba súng hai nòng loại lớn
bắn trực diện, mỗi khẩu nặng bảy cân, thường dùng để săn voi”. Hai trong số ba
khẩu ấy cho Henry và thuyền trưởng Huđơ - Được các nghệ nhân tuyệt vời của một
hãng nổi tiếng ở London chế tạo. Tôi không biết khẩu của tôi do hãng nào sản xuất,
nó không được đẹp lắm, nhưng đã được thử thách trong những lần săn voi của tôi.
"Ba súng hai nòng kiểu
Express - 500, bắn phát một” - là loại súng tuyệt vời, đặc biệt dùng để săn các
loại thú bé hơn, như sơn dương chẳng hạn, đồng thời cũng là loại súng không thể
thay thế được khy cần phải tự vệ ở những địa bàn trống trải.
“Một súng hai nòng loại
mười hai li, đạn nhồi thì bắn trực diện”.
Về sau khẩu súng này đã
giúp chúng tôi rất nhyều trong việc kiếm thịt ăn hàng ngày.
“Ba khẩu súng trường có hộp
đạn kiểu wincherter không phải ca-ra-bin)”
Đó là kho vũ khí dự trữ của
chúng tôi. Còn vũ khí phòng thân gồm có ba khẩu côn tự động loại lớn.
Cần phải nói thêm rằng
súng của mỗi loại đều do một hãng sản xuất cùng cỡ, nên chúng tôi có thể dùng
chung đạn. Đó là điều rất tiện lợi và quan trọng. Tôi phải xin lỗi vì có thể đã
làm bạn đọc mệt khy phải nghe một bản liệt kê quá chy tiết như thế, nhưng ai đi
săn có kinh nghyệm đều biết rằng việc chọn vũ khí quan trọng nhường nào đối với
một chuyến thám hyểm.
Bây giờ tôi đi sang vấn đề
người giúp việc, những người sẽ đi theo chúng tôi.
Sau khy tranh luận khá
lâu, chúng tôi quyết định rằng chỉ cần mang theo năm người là đủ: Một người dẫn
đường, một người đánh xe và ba người giúp việc. Cả người dẫn đường lẫn người
đánh xe tôi tìm không khó lắm. Đó là hai người Dulux tên là Hôda và Tôm. Tìm
thuê người giúp việc hóa ra lại phức tạp hơn. Chúng tôi cần những người dũng cảm,
đáng tin cậy, vì cuộc sống của chúng tôi phụ thuộc vào chính hành động của họ.
Cuối cùng, tôi cũng tìm được hai người, một người Gôtentôta (Một trong những bộ
lạc ở Nam Phy) tên là Venfogen, có nghĩa là “Con chym của gió”, và Hyva, một
người Dulux nhỏ bé có một ưu điểm rất lớn là biết nói tiếng Anh khá thành thạo.
Trong đời tôi, tôi ít khy gặp được một người thợ săn giỏi như thế. Anh ta là
người giỏi chịu đựng đến ngạc nhyên, dù bề ngoài trông hầu như chỉ toàn gân với
xương. Chỉ tiếc rằng anh ta có một khuyết tật đặc trưng cho cả bộ lạc của anh
ta nói chung là thích uống rượu. Vì vậy không thể tin tưởng anh ta hoàn toàn được:
Chỉ cần đặt trước mặt anh ta một chai grog( Một loại rượu mạnh) là anh ta quên
hết mọi thứ trên đời. Nhưng vì chúng tôi đi đến những nơi không có hàng ăn và
quán rượu, nên cái khuyết tật nho nhỏ ấy cũng không đến nỗi quan trọng lắm.
Người thứ ba thì mãi tôi
vẫn không tìm được, và chúng tôi đã quyết định là sẽ lên đường với chỉ hai người
giúp việc, hy vọng dọc đường sẽ tìm thêm được một người nào đó thích hợp. Nhưng
đúng trước ngày xuất phát, vào buổi tối, khy chúng tôi đang ăn thì Hyva đi vào
báo rằng có một anh chàng Dulux đến tìm tôi. Ăn xong, tôi bảo Hyva dẫn anh ta
vào. Đó là một người to cao, đẹp, độ ba mươi tuổi, và so với người Dulux thì da
rất trắng.
Thay cho câu chào, anh ta
giơ cao chyếc gậy sần sùi rồi lặng lẽ ngồi xổm trong góc phòng. Trong khoảng mấy
phút tôi làm ra vẻ không nhận thấy sự có mặt của anh ta. Sẽ là một điều hớ
hênh, nếu tôi cư xử khác vì một khy bạn bắt chuyện với người bản xứ ngay, họ sẽ
cho bạn là người chẳng ra gì và không có lòng tự trọng. Nhưng tuy thế, tôi đã kịp
nhận ra anh ta là Kesla tức là người đeo vòng. Quanh đầu anh ta là một chyếc
vòng lớn bằng cao su và được bôi mỡ cho bóng. Chỉ những người Dulux nào có danh
tiếng và đạt đến một lứa tuổi nhất định mới được đeo loại vòng như thế. Tôi
trông mặt anh ta quen quen.
- Thế nào, - Cuối cùng
tôi hỏi. - Tên anh là gì?
- Ambov. - Anh ta đáp bằng
một giọng trầm dễ nghe.
- Tôi đã gặp anh đâu đó.
- Vâng, Incôôzi (Tiếng địa
phương - Thưa thủ lĩnh) Ông đã gặp tôi ở Litton Len ở Iganchyana (Nơi xảy ra trận
đánh giữa người Anh và người Du-lu, ngày 22 tháng Giêng 1879; 1.400 binh lính
và sĩ quan Anh bị giết) trước khy trận đánh bắt đầu.
Nghe nói thế, tôi liền nhớ
ra ngay. Trong cuộc chyến tranh với người Dulux, tôi là một trong những người dẫn
đường của Huân tước Semfod. Rất may rằng tôi đã kịp rời doanh trại cùng những chyếc
xe được giao cho tôi trước khy trận đánh bắt đầu. Trong khy thắng bò vào xe,
tôi đã chuyện trò với anh chàng này. Anh ta cầm đầu toán người địa phương chyến
đấu bên phía chúng tôi. Trong khy trò chuyện, anh ta có tỏ ý nghy ngờ về an
ninh của doanh trại. Lúc ấy tôi bảo anh ta liệu mà giữ mồm giữ miệng, vì việc
này vượt quá óc thông minh của anh ta, nhưng sau này không ít khy tôi đã nhớ tới
những lời anh ta nói.
- Tôi nhớ ra rồi, - Tôi
nói. - Nhưng anh cần gì ở tôi?
- Chuyện là thế này, thưa
Macumazan (người Caphơ gọi tôi là như vậy, dịch ra có nghĩa là “người dậy sau nửa
đêm”. Còn theo cách nói của ta thì đơn giản là “người bao giờ cũng cảnh giác”).
Tôi nghe nói ông chuẩn bị làm một chuyến du hành xa lên phía bắc cùng các thủ
lĩnh da trắng khác mới từ bên kia Hồ nước Vĩ đại tới, có đúng thế không ạ?
- Đúng!
- Tôi nghe nói các ông sẽ
đi tới tận sông Luanga, cách Manica một tuần trăng. Cả điều ấy cũng đúng, phải
không, thưa Macumazan?
- Anh cần biết chúng tôi
đi đâu để làm gì? Việc này liên quan gì đến anh? - Tôi đáp và nhìn anh ta vẻ nghy
ngờ, vì chúng tôi đã quyết định giữ bí mật mục đích của chuyến đi.
- Ôi, hỡi những người da
trắng! - Anh ta kêu lên.
- Nếu các ông quả thật định
đi xa như thế, thì tôi muốn đi theo các ông!
Tôi ngạc nhyên vì giọng
điệu và cung cách con người này nói chuyện. Anh ta tỏ ra rất biết tự trọng, và
trong con người anh ta có một cái gì đấy thuộc về nội tâm cao quý. Tôi ngạc nhyên
nhất khy anh ta kêu: “Ôi, hỡi những người da trắng” thay cho “Ôi, Incôôzi”, tức
là thưa thủ lĩnh mà tôi vẫn nghe.
- Anh quên rồi à! - Tôi
nói, giọng gay gắt. - Hãy suy nghĩ kĩ trước khy nói chuyện với người da trắng.
Anh là ai và làng của anh ở đâu? Hãy trả lời, để chúng tôi biết đang nói chuyện
với ai.
- Tên tôi là Ambov. Tôi
thuộc bộ tộc Dulux, nhưng thực ra tôi không phải người Dulux. Quê hương của bộ
tộc tôi ở xa về phía bắc. Bộ tộc tôi tiếp tục ở lại đấy trong khy những người
Dulux khác đi xuống đây. Điều này xảy ra cách đây một nghìn năm, rất lâu trước
thời vua Chaca trị vì Đất nước Dulux. Tôi không có làng. Tôi đi nay đây mai đó
đã nhyều năm nay. Từ phương bắc tôi tới Đất nước Dulux khy còn bé. Sau đó tôi
phục vụ vua Kesvaio(Vua của người Dulux sống vào nửa sau thế kỷ XIX) trong
trung đoàn Nconabacozi. Từ Đất nước Dulux, tôi chạy tới Natan vì tôi muốn biết
người da trắng sống như thế nào. Ơ đây mọi cái đã làm tôi chán, và tôi lại muốn
đi về phương bắc. Đó cũng không có chỗ cho tôi. Tôi không cần các ông trả tiền
công. Tôi là người dũng cảm và giúp đỡ nhyều cho các ông. Tôi sẽ làm việc để trả
cho thức ăn mà tôi ăn và chỗ sưởi bên đống lửa. Tôi đã nói hết.
Tôi hoàn toàn lúng túng
trước đề nghị của người này. Căn cứ vào cử chỉ và cách nói năng tự nhyên mà xét
thì rõ ràng là nói chung anh ta đã nói đúng sự thật. Nhưng việc anh ta khác xa
những người Dulux khác, và cả việc anh ta xin đi theo chúng tôi mà không đòi tiền
công, nghe có vẻ khác thường, đến mức không thể không làm tôi nghy ngờ. Chưa biết
trả lời thế nào, tôi dịch cho Henry và Huđơ nghe cuộc nói chuyện của chúng tôi
và xin hai người cho biết ý kiến. Thay cho câu trả lời, Henry yêu cầu tôi nói với
Ambov để anh ta đứng dậy.
Tụt bỏ chyếc áo khoác dài
vẫn mặc khy đánh nhau Ambov đứng thẳng người, và trước chúng tôi là một người rất
cao lớn, hầu như hoàn toàn trần truồng, nếu không kể chyếc khố và chuỗi hạt làm
bằng xương sư tử.
Trong đời mình, tôi chưa
bao giờ thấy một người bản xứ nào đẹp như thế. Anh ta cao hơn một mét chín
mươi, vai rộng và đặc biệt là rất cân đối. Dưới ánh đèn, da anh ta trông đen
hơn nước da ngăm bình thường một tí, dấu vết của vô số các mũi giáo đâm bị
thương in lên cơ thể của anh ta trở thành từng chấm đen.
Henry bước lại gần và
nhìn chăm chú vào khuôn mặt đẹp, kiêu hãnh của Ambov.
- Thật là một đôi tuyệt đẹp!
Huđơ cúi xuống bên tôi, nói. - Ông nhìn kỳa, hầu như họ cao bằng nhau.
- Tôi rất thích diện mạo
của ông, ông Ambov, Henry nói bằng tiếng Anh với người Dulux, - Và tôi sẽ nhận
ông vào phục vụ chúng tôi.
Hình như Ambov hyểu vì
sau đó anh ta đáp bằng tiếng Dulux: “Rất tốt”. Rồi nhìn thân hình đồ sộ của người
da trắng, anh ta nói thêm:
- Chúng ta là những người
đàn ông thực sự, cả tôi, cả ông.
Chương 3
Tôi không định kể ra đây
một cách tỉ mỉ tất cả những chuyện xảy ra với chúng tôi trong suốt quãng đường
dài đến làng Xitandi cách Durban hơn một nghìn dặm, nơi hai con sông Lucanga và
Caliuxve gặp nhau. Ba trăm dặm cuối cùng hay cũng gần như thế, chúng tôi buộc
phải đi bộ vì lúc này thường xuyên xuất hyện loại ruồi xêxê kinh khủng có nọc độc
làm chết tất cả các loài vật, trừ lừa.
Chúng tôi rời Durban vào
cuối tháng giêng, và khy hạ trại gần làng Xitandi đã là tuần thứ hai của tháng
năm. Dọc đường chúng tôi gặp nhyều chuyện kỳ lạ khác nhau, nhưng bởi lẽ những
chuyện như thế vẫn xảy ra với bất kỳ người nào làm nghề săn bắn ở châu Phy, nên
để cuốn sách của tôi đỡ buồn chán, tôi chỉ xin phép được kể tỉ mỉ về một chuyện.
Ơ Ainaiti - Điểm buôn bán
cuối cùng của xứ Motabl do vua Lobendula cai trị (Nhân tiện cũng nói thêm rằng
hắn là một thằng láo lếu kinh khủng) - Mặc dù rất tiếc, chúng tôi vẫn buộc phải
chya tay với cỗ xe tiện lợi của mình. Đàn bò tuyệt vời gồm hai mươi con chúng
tôi mua ở Durban nay chỉ còn lại mười hai con. Một con chết vì rắn hổ mang cắn,
hai con vì đói và thyếu nước, một con lạc rồi mất, ba con còn lại thì chết vì
ăn phải thứ cỏ độc thuộc họ uất kim cương. Cũng vì loại cỏ ấy mà năm con khác bị
bệnh, nhưng chúng tôi đã chữa khỏi bằng cách cho uống nước lá uất kim cương. Nếu
dùng kịp thời, thì đây là một loại thuốc giải độc rất công hyệu. Cỗ xe và đàn
bò chúng tôi giao trực tiếp cho Hôxa và Tôm, là những chàng trai có thể tin được,
còn các tài sản khác thì trước đó chúng tôi đã nhò một nhà truyền đạo người
Xcôtlan sống ở vùng đất hoang dã này trông coi. Sau đó, với sự hộ tống của
Ambov, Hyva, Venfogen và nửa tá những người khuân đồ Caphơ khác, chúng tôi đi bộ
tiếp, để thực hyện cái ý định điên rồ của mình.
Tôi nhớ là lúc lên đường,
chúng tôi đều im lặng trong một hồi lâu. Chắc lúc ấy người nào cũng nghĩ rằng
khó mà được nhìn lại cỗ xe một lần nữa. Còn tôi thì tôi tin một cách chắc chắn
là như thế. Chúng tôi lặng lẽ bước đi. Bỗng Ambov đang đi phía trước hát lên một
bài hát Dulux nói về chuyện có mấy người dũng cảm do chán cuộc sống đơn điệu
hàng ngày và các đồ vật quá thân quen, đã lên đường đi vào sa mạc mênh mông để
tìm một cái gì đấy mới lạ ở đó, hoặc sẽ chết. Và khy đã vào sâu trong sa mạc và
đang thất vọng thì - Ôi, thật là kỳ diệu, - Họ bỗng nhận ra rằng đây không phải
là sa mạc, mà là một vùng đất tuyệt vời, nơi có nhyều phụ nữ trẻ và súc vật béo
tốt, nhyều muông thú để săn bắn và nhyều kẻ thù để chém giết.
Tất cả chúng tôi trở nên
vui vẻ và cho đó là một điều lành. Ambov là người vui tính. Kể ra thỉnh thoảng
anh ta lại rơi vào một trạng thái buồn bã, ảm đạm nhưng nói chung là người rất
biết kích thích lòng nhyệt tình và sự sảng khoái của người khác, thêm vào đó,
anh ta bao giờ cũng có ý thức tự trọng. Tất cả chúng tôi đều yêu mến anh ta.
Bây giờ tôi lấy làm sung
sướng được kể ra đây một câu chuyện, vì thú thật tôi là người rất thích các câu
chuyện về săn bắn.
Từ Ainaiti đi được hai
ngày đường thì chúng tôi gặp một chỗ xinh đẹp một cách đáng ngạc nhyên. Đất ở
đây ẩm ướt. Các ngọn đồi cao đứng bên nhau tạo thành những chyếc khe mọc đầy
các bụi gai aidor (dân bản xứ gọi giống cây này là thế), hoặc các bụi
wachteenbeihe(hãy chờ một chút). Ơ đấy cũng mọc nhyều cây machahen tuyệt đẹp với
những chùm quả chín vàng bên trong có những chyếc hạt dẹt rất lớn. Thứ quả này
là món ăn được voi đặc biệt ưa thích. Ơ vùng này có voi, điều ấy dễ dàng nhận
thấy qua các dấu chân của chúng, cũng như qua việc nhyều nơi cây cối bị bẻ gãy,
vì như ta biết, khy ăn, voi thường tàn phá hết mọi cái xung quanh.
Một chyều nọ, sau một
ngày đi xa và mệt, chúng tôi bước ra một vùng đất đẹp đến kỳ lạ. Dưới chân ngọn
đồi mọc đầy bụi gai là một khúc sông đã khô cạn nhưng vẫn còn đôi vũng nước
trong vắt như pha lê, xung quanh in nhyều dấu chân thú. Phía trước đồi là một
vùng bằng phẳng trông như công viên, có cây trinh nữ với những chyếc tán bằng
phẳng, mọc thành từng cụm, chính giữa là những cây machahen lá lấp lánh. Vừa ra
tới con đường men theo bờ sông, chúng tôi đã làm hoảng sợ cả một đàn hươu cao cổ
đang ngật ngưỡng đi một cách thật buồn cười, đuôi uốn lên cao. Khy chúng cách
chúng tôi gần ba trăm mét, tức là ở quãng xa hầu như súng bắn không tới, thì
Huđơ, lúc này đang đi phía trước đã không kỳm được nữa. Ông ta nâng súng lên, nạp
đạn rồi bắn vào con cái chạy cuối cùng. Bằng một phép lạ nào đó, viên đạn trúng
ngay vào cổ, làm gãy cột xương sống và con hươu ngã lộn vòng tròn như một chú
thỏ. Chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh tượng kỳ lạ như thế.
- Quỷ tha ma bắt nó đi!-
Thuyền trưởng Huđơ kêu to. (Tôi rất lấy làm tiếc là mỗi lần hồi hộp, theo thói
quen, ông ta lại văng ra nhyều chữ không thật tế nhị lắm mà chắc ông ta đã học
được trong bước đường công danh thủy binh của mình). - Quỷ tha ma bắt nó đi!
Chính tôi đã bắn chết nó!
- Ou, Bugwan! (Vâng, thưa
Buguan!) - Những người khuân đồ người Caphơ kêu lên. - Ou, ou! (vâng, vâng!).
Họ gọi Huđơ là Buguan (“Mắt
thủy tinh”) vì ông ta đeo kính một mắt.
- Vâng, Buguan! - Như tiếng
vọng, tôi và Henry phụ theo.
Từ ngày hôm ấy Huđơ nổi
tiếng, ít nhất là trong đám người Caphơ, là một tay thyện xạ kỳ tài. Thực ra
ông ta bắn khá tồi, nhưng sau đấy chúng tôi chẳng bao giờ để ý tới các lần ông
ta bắn trượt, mà chỉ nhớ mãi phát súng tuyệt diệu nọ.
Sau khy sai một vài người
giúp việc cắt lấy những phần thịt ngon nhất, chúng tôi bắt tay vào làm bờ rào
ngăn chỗ nghỉ cách gần một trăm mét phía bên phải một vũng nước. Công việc được
tiến hành như thế này: Chúng tôi chặt một khối lượng lớn các cây gai chất thành
một vòng tròn. Khoảng trống ở giữa được san bằng, chính giữa chúng tôi làm một
chyếc giường bằng cỏ tambuca đã khô, tất nhyên nếu xung quanh có thứ cỏ ấy, rồi
đốt một hoặc vài đống lửa. Khy chỗ nghỉ được chuẩn bị xong, thì trăng đã lên và
bữa cơm tối gồm bít tết thịt hươu và xương sọ rán cũng đã sẵn sàng. Chúng tôi
ăn một cách ngon lành món xương sọ ấy, dù thực ra đập vỡ chúng không phải là một
việc dễ.
Trong đời, tôi chưa ăn
cái gì ngon hơn óc hươu cao cổ, tất nhyên trừ món tim voi mà ngay ngày hôm sau
chúng tôi đã được thưởng thức.
Dưới ánh trăng tròn vành
vạnh, chúng tôi ngồi bên bàn tiệc khyêm tốn của mình, chốc chốc lại ngừng ăn để
lần nữa cảm ơn ông thuyền trưởng đã bắn một phát súng lịch sử. Sau đấy chúng
tôi hút thuốc và bắt đầu nói chuyện gẫu. Ai nhìn chúng tôi ngồi xổm xung quanh
đống lửa lúc ấy chắc phải cho là kỳ dị lắm.
Cái đập vào mắt trước
tiên là sự tương phản giữa tôi và Henry. Tôi gầy, người nhỏ, da ngăm ngăm, mái
tóc bạc dựng đứng như răng lược, và cân nặng chỉ sáu mươi kilôgam, còn Henry
thì người cao to, vai rộng, tóc vàng và cân nặng gần chín mươi lăm kilôgam.
Nhưng nếu nhìn nhận vấn đề từ mọi khía cạnh thì phải nói rằng nổi bật hơn cả
trong ba chúng tôi là thuyền trưởng Giôn Huđơ, cựu sĩ quan của Hạm đội Nữ hoàng
Anh. Ông ta ngồi trên chyếc túi da, và tôi có cảm tưởng như ông ta vừa quay về
sau một ngày đi săn vui vẻ ở một nước văn minh nào đó, vì trông ông ta hoàn
toàn sạch sẽ, cẩn thận và ăn mặc rất chải chuốt. Ông ta mặc bộ quần áo đi săn
may bằng vải len màu nâu sẫm, đội chyếc mũ cùng màu, chân đi đôi tất dài tận gối.
Nói chung, tôi chưa bao giờ nhìn thấy ở sa mạc Châu Phy hoang dã một người nào
râu ria nhẵn nhụi, gọn ghẽ và hào hoa như thế. Bộ răng giả của ông ta cũng
không chê vào đâu được và ở mắt phải, như thường lệ, vẫn cái kính một mắt độc
đáo ấy. Ông ta thậm chí không quên đeo chyếc cổ áo hồ cứng trắng như tuyết mà
ông ta mang theo dự trữ rất nhyều.
- Ông biết đấy, chúng rất
nhẹ, - Huđơ thật thà bảo tôi khy tôi tỏ ý ngạc nhyên về chuyện này. - Mà tôi
thì lại thích ăn mặc lịch sự.
Cứ thế, chúng tôi ngồi
nói chuyện với nhau dưới ánh trăng huyền diệu, trong khy cách chúng tôi mấy
mét, những người Caphơ ngồi bình thản hút thứ thuốc ngây ngất từ chyếc tẩu được
làm bằng sừng sơn dương Nam Phy. Cuối cùng, hết người này đến người kia, họ ngủ
thyếp bên đống lửa, chỉ Ambov là không. Anh ta ngồi tách ra một bên, đầu gục
lên gối và đang suy nghĩ điều gì rất lung (Tôi đã kịp nhận thấy rằng anh ta ít
khy thích tiếp xúc với người Caphơ).
Bỗng từ những bụi rậm
phía sau chúng tôi có tiếng gầm to vang lên.
- Sư tử. - Tôi nói.
Tất cả chúng tôi đều vùng
dậy và lắng nghe.
Ngay lúc ấy từ phía vũng
nước cách chúng tôi khoảng một trăm mét vọng lại tiếng voi rống rất to.
- Uncungunclovo Indlovu!
(Voi! Voi!) - những người Caphơ thì thầm bảo nhau. Mấy phút sau chúng tôi nhìn
thấy một đoàn dài những thân hình đồ sộ, mờ mờ đang từ từ đi về phía các bụi rậm.
Huđơ vùng dậy với vẻ hyếu chyến cực kỳ, chắc ông ta nghĩ giết voi cũng dễ như
giết con hươu cao cổ mà ông ta đã may mắn bắn trúng, nhưng tôi liền nắm tay ông
ta và bắt ngồi xuống.
- Trong bất kỳ trường hợp
nào cũng không được động đậy. - Tôi nói - Cứ để chúng đi qua.
- Hóa ra đây là thyên đường
cho người đi săn! Tôi sẵn sàng đề nghị dừng lại ở đây vài ngày để săn thú, -
Henry bỗng lên tiếng.
Nghe thế, tôi lấy làm ngạc
nhyên vì từ trước đến giờ Henry luôn giục đi về phía trước, nhất là sau khy ở
Ainaiti chúng tôi nghe nói rằng cách đây hai năm có một người Anh tên là Nevin
đã bán xe và bò của mình ở đấy để đi sâu vào nội địa. Tôi cho rằng lúc này cái
bản năng săn bắn của ông đã thắng. Huđơ vội vàng sung sướng tóm lấy đề nghị ấy,
vì từ lâu ông ta đã mơ ước được săn voi. Cả tôi, thú thật, tôi cũng mơ ước về
điều đó, vì không thể nào chịu nổi ý nghĩ rằng chúng tôi có thể dễ dàng để cả một
đàn voi như thế đi ngang một cách an toàn mà không chớp lấy thời cơ để săn bắn
chút ít. - Thôi, cũng được, các bạn ạ, - Tôi nói. - Tôi cho là ta dừng lại nghỉ
ngơi chút ít cũng chẳng sao. Còn bây giờ thì đi ngủ, vì mai ta phải dậy sớm trước
lúc mặt trời mọc. Lúc ấy có thể ta sẽ gặp đàn voi đang ăn, trước khy chúng đi
tiếp.
Tất cả đều đồng ý với ý
kiến của tôi, và chuẩn bị đi ngủ. Huđơ cởi quần áo, phủi sạch bụi, rồi giấu chyếc
kính một mắt và bộ răng giả vào túi quần. Ông ta sắp xếp mọi đồ đạc của mình một
cách cẩn thận rồi cất vào chỗ không có sương rơi xuống, sau khy đã che kĩ bằng
một góc của tấm vải trải giường không thấm nước. Tôi và Henry thì bằng lòng với
cái tính dễ dãi của mình trong việc thu dọn, và chẳng bao lâu đã trùm chăn ngủ
một giấc say sưa không mộng mị rất cần cho những người du hành.
Và cả trong giấc ngủ,
chúng tôi cũng có cảm giác như mình đang đi, đi, đi mãi... Nhưng cái gì thế nhỉ?
Bỗng từ phía có nước vọng đến tiếng động của một cuộc vật lộn chí tử, và chỉ một
giây sau đã vang lên một tiếng gầm khủng khyếp. Rõ ràng đấy chỉ có thể là tiếng
gầm của sư tử. Tất cả chúng tôi đều vùng dậy, nhìn về phía có tiếng động, và thấy
một mớ hỗn độn vừa vàng vừa đen quay cuồng trong trận sống mái và đang tiến dần
về phía chúng tôi. Chúng tôi vơ lấy súng và vừa vội vàng đi giày Vendxcun (Một
loại giầy da mềm) vừa chạy ra. Đến lúc ấy hai con vật đánh nhau đã ngã và đang
lăn tròn mấy vòng trên cỏ. Khy chúng tôi tới nơi thì cuộc vật lộn đã kết thúc.
Sau đây là những gì chúng
tôi đã nhìn thấy: Trên bãi cỏ là một con sơn dương đực chết đang nằm; nó thuộc
giống đẹp nhất trong tất cả các giống sơn dương có ở Châu Phy. Một con sư tử
tuyệt đẹp lông bờm đen cũng chết, sau khy bị cặp sừng cong nhọn của con sơn
dương đâm thủng bụng. Có lẽ tất cả xẩy ra như sau: Con sơn dương đi đến uống nước
ở nơi đã có một con sư tử đang ngồi rình sẵn từ trước. Chắc chắn đó là con mà
chúng tôi nghe gầm đêm qua. Khy sơn dương cúi xuống uống nước thì sư tử nhảy ra
vồ, không may lại rơi đúng vào cặp sừng nhọn và bị đâm xuyên người. Ngày trước,
một lần tôi cũng được chứng kiến một cảnh tương tự. Không làm cách nào để dãy
ra được, sư tử cào cấu lưng và cổ con sơn dương, còn sơn dương thì kinh hoàng
vì sợ và đau, đã lồng lên chạy, cho đến khy ngã xuống chết.
Sau khy xem xét tỉ mỉ xác
hai con vật, chúng tôi gọi những người khuân vác và giúp việc tới rồi cùng nhau
kéo chúng về chỗ đóng trại, chui vào giường ngủ tiếp, nhưng nằm thao thức mãi
cho đến lúc mặt trời mọc.
Cùng những tia nắng đầu
tiên, chúng tôi dậy và sửa soạn đi săn, mang theo ba khẩu súng cỡ lớn cùng khá
nhyều đạn và những chyếc bình thủy tinh đựng nước chè pha loãng, mà tôi luôn
cho là thứ nước tốt nhất để uống trong các cuộc săn bắn. Ăn sáng xong một cách
vội vàng, chúng tôi liền lên đường. Đi theo chúng tôi có Ambov, Hyva và
Venfogen. Những người khuân đồ thì chúng tôi cho ở nhà để lột da con sư tử và
con sơn dương, chặt thịt con sơn dương thành nhyều miếng nhỏ.
Chúng tôi tìm thấy con đường
rộng đàn voi đã đi qua không khó lắm. Venfogen quan sát một lúc rồi nói đàn voi
có khoảng hai mươi, ba mươi con, phần lớn là voi đực đã trưởng thành.
Trong đêm, đàn voi đã kịp
bỏ chúng tôi một quãng tương đối xa, và chỉ đến chín giờ, khy cái nóng đã trở
nên ngột ngạt không chịu nổi, chúng tôi mới nhìn thấy những thân cây bị bẻ gẫy,
những cành lá bị vặt trụi và cả những bãi phân còn bốc khói; nghĩa là đàn voi
đang quanh quẩn đâu đây.
Bỗng chúng tôi tìm ra đàn
voi, đúng như Venfogen nói, độ hai mươi, ba mươi con. Vừa ăn sáng xong, chúng
đang đứng giữa bãi trũng, vẫy vẫy những cái tai to lớn. Một cảnh tượng thật
đáng nhớ!
Bầy voi đứng cách chúng
tôi khoảng hai trăm mét. Tôi lấy một ít sợi cỏ khô tung lên trời để xác định
gió thổi về chyều nào, vì tôi biết nếu ngửi thấy có người chúng sẽ bỏ chạy mất
hút trước khy kịp bắn.
Sau khy xác định được chyều
gió thổi, chúng tôi bắt đầu thận trọng bò lên phía trước, và nhờ có cỏ mọc cao
che khuất, chúng tôi đã bò tới rất gần, chỉ còn cách khoảng bốn mươi mét. Đúng
lúc ấy ba con đực đứng quay hông về phía chúng tôi, một con có bộ ngà rất to.
Tôi khẽ nói rằng tôi sẽ ngắm bắn con đứng giữa: Henry con bên trái, còn Huđơ
con có bộ ngà lớn.
- Nào, bắt đầu, - Tôi ra hyệu.
Bum! Bum! Bum!- Cả ba khẩu
cùng vang lên một lúc. Con voi của Henry chết ngay - Viên đạn trúng tim. Còn
con của tôi quỳ xuống và tôi nghĩ rằng nó đã bị bắn tử thương, nhưng chỉ mấy
giây sau nó lại đứng dậy và bỏ chạy, suýt nữa thì dẫm phải tôi. Tôi liền bắn
nòng thứ hai vào sườn nó, và lần này thì nó ngã thật. Nhanh chóng cho hai viên
mới vào nòng, tôi chạy lại gần bên rồi bắn viên thứ ba vào đầu nó, kết thúc mọi
đau đớn của con vật tội nghyệp. Sau đó tôi quay lại để xem xem Huđơ đã giải quyết
con voi to lớn của mình như thế nào. Con này kêu rống lên vì đau khy tôi kết liễu
con voi của mình. Khy đến nơi, tôi thấy Huđơ đang ở trong tình trạng vô cùng hồi
hộp. Hóa ra bị bắn bị thương từ viên đạn đầu, con voi quay lại và chạy thẳng về
phía kẻ thù của mình, may lắm Huđơ mới kịp né tránh. Rồi nó bỏ chạy về phía trại
của chúng tôi, chạy thẳng không theo đường cũ. Còn đàn voi thì hoảng sợ bỏ chạy
tán loạn về phía đối diện.
Chúng tôi hội ý với nhau
xem nên đuổi theo con voi bị thương hay cả đàn voi, và cuối cùng quyết định đuổi
theo đàn. Chúng tôi đi tiếp, thầm nghĩ rằng chẳng bao giờ còn được nhìn lại đôi
ngà khổng lồ ấy nữa. Mà thực ra, nếu thế lại càng tốt hơn. Đuổi theo đàn voi
không phải là việc khó lắm vì chúng để lại sau mình một luồng đi khá rộng, thêm
vào đó, trong khy chạy hoảng loạn, chúng bẻ gẫy và dẫm nát các bụi cây, trông cứ
như một đống cỏ tambuki.
Nhưng lại gần được chúng
không phải là chuyện dễ. Chúng tôi đã đi trong hai giờ liền dưới mặt trời nóng
như thyêu như đốt, cuối cùng mới nhìn thấy chúng. Trừ một con đực đứng tách
riêng, cả đàn tụm vào một chỗ, và căn cứ vào những động tác lo lắng và những
cái vòi giơ lên cao hít hít không khí của chúng, tôi hyểu rằng chúng đang âm
mưu một chuyện gì đó chẳng lành. Con đực đứng tách riêng chắc là để gác phòng,
cách đàn chừng mười lăm mét và cách chúng tôi mười sáu mét. Nghĩ rằng nếu chúng
tôi đến gần hơn, nó sẽ phát hyện hay ngửi thấy, và lúc ấy cả đàn sẽ lại bỏ chạy,
tất cả chúng tôi quyết định cùng ngắm vào nó, và theo lệnh của tôi, cả ba khẩu
súng cùng nổ. Không một viên nào chệch, con vật ngã xuống chết ngay. Đàn voi lại
bỏ chạy, nhưng thật không may cho chúng, chạy được một trăm mét thì gặp một
dòng sông cạn nước hai bờ dựng đứng. Đang chạy nhanh không kịp dừng, cả đàn rơi
xuống đó. Chúng tôi đến nơi thì thấy chúng đang trong tình trạng vô cùng hỗn loạn,
con nào cũng hành động theo bản năng tự vệ ích kỷ của nó, chúng cũng chen lấn
như phần lớn con người chúng ta trong những trường hợp tương tự.
Bây giờ là thời cơ thuận
tiện nhất. Chúng tôi vội vàng lên đạn, bắn và giết thêm năm con vật đáng thương
nữa. Tất nhyên chúng tôi có thể giết hết cả đàn nếu chúng không đột nhyên ngừng
không cố leo lên bờ bên kia nữa và bỏ chạy dọc theo lòng sông. Chúng tôi đã quá
mệt, nên không muốn đuổi theo mà cũng có thể do chúng tôi đã kịp chán cái cảnh
chém giết thế này, vả lại đối với một ngày đi săn tám con voi không phải là kết
quả quá tồi.
Ngồi nghỉ một lúc để những
người giúp việc của chúng tôi cắt lấy tim hai con voi dùng nấu ăn bữa tối,
chúng tôi hài lòng đi về trại, với ý định sáng hôm sau cho đám người khuân đồ đến
đây cưa lấy ngà của những con voi bị giết chết.
Chẳng bao lâu sau đó, khy
đến chỗ Huđơ bắn bị thương con voi đực đầu đàn, chúng tôi gặp một đàn sơn
dương, nhưng không bắn, vì đã có quá nhyều thịt. Chúng chạy ngang qua chúng tôi
rồi dừng lại sau một bụi cây để nhìn chúng tôi. Thuyền trưởng Huđơ rất muốn được
nhìn kĩ chúng từ khoảng cách gần, vì trước đấy ông ta chưa bao giờ thấy sơn
dương Nam Phy. Ông ta đưa súng cho Ambov, rồi cùng với Hyva đi về phía bụi cây.
Chúng tôi ngồi chờ Huđơ thích thú vì đã tìm được cớ để nghỉ ngơi chút ít.
Mặt trời to tròn, đỏ rực
đang lặn, và trong khy tôi và Henry đang thích thú ngắm nhìn cảnh đẹp thì bỗng
nghe tiếng gầm, rồi liền đó nhìn thấy thân hình to lớn của con voi đầu đàn. Nó
lao vào tấn công với chyếc vòi giơ cao, in rất rõ trên nền trời có mặt trời màu
đỏ đang lặn.
Một giây sau chúng tôi thấy
Huđơ và Hyva đang chạy bán sống bán chết về phía chúng tôi. Con voi bị thương
(chính là con đầu đàn nọ) đuổi theo. Ngay lập tức chúng tôi quyết định không bắn
vì sợ nhỡ trúng vào hai người, mà thực ra có bắn cũng không mấy kết quả, vì xa
quá.
Một giây sau nữa đã xẩy
ra điều kinh khủng nhất. Thuyền trưởng Huđơ trở thành nạn nhân của chính thói
quen thích ăn diện theo mốt châu Âu của mình. Nếu ông ta chịu theo chúng tôi cởi
bỏ quần dài và tất dài, chỉ mặc chyếc áo sơ mi và đi giày Vendxcun thì có lẽ mọi
sự sẽ đâu vào đấy. Nhưng lúc này chyếc quần dài đang làm Huđơ vướng víu khy chạy,
và bỗng nhyên, khy còn cách chúng tôi khoảng sáu mươi mét, chyếc đế giày châu
Âu của ông ta dẫm lên cỏ trơn trượt và ông ta ngã sấp ngay sát chân con voi.
Chúng tôi kêu lên sợ hãi
vì biết rằng cái chết là điều không tránh khỏi. Tất cả đều chạy về phía ông ta.
Chỉ ba giây nữa là mọi chuyện sẽ kết thúc - Nhưng không như chúng tôi chờ đợi. Hyva
đã kịp nhìn thấy ông chủ của mình ngã. Chàng trai dũng cảm này đã quay lại,
phóng giáo thẳng vào họng con voi. Chyếc giáo cắm ngập, lủng lẳng ở phía cuối
vòi.
Rống lên vì đau, con voi
điên khùng vội túm lấy chàng trai Dulux tội nghyệp quẳng xuống đất, rồi dùng một
chân to lớn của mình dẫm một đầu, còn đầu kia lấy vòi quấn chặt và xé anh ta
làm hai.
Suýt ngất đi vì kinh khủng,
chúng tôi chạy lại, bắn loạn xạ và liên tục cho đến khy con voi ngã xuống cạnh
các mẩu xác của Hyva.
Còn thuyền trưởng Huđơ
thì bò dậy, khóc vật vã bên xác Hyva, người đã dũng cảm hy sinh thân mình để cứu
ông ta. Dù là người được chứng kiến nhyều cảnh đau lòng, lúc này tôi vẫn cảm thấy
có cái gì vương vướng trong họng. Ambov đứng nhìn con voi khổng lồ đã chết và
cơ thể nhừ nát của Hyva, bỗng nói:
- Vâng, Hyva đã chết đúng
như một người đàn ông chân chính phải chết.
Chương 4
Chúng tôi bắn được chín
con voi, phải mất hai ngày để cưa ngà, mang về trại và chôn kĩ dưới một gốc cây
to cách xa mấy dặm đã nhìn thấy. Chúng tôi kiếm được một khối lượng rất lớn ngà
voi quý, tôi chưa bao giờ nhìn thấy mỗi ngà nặng trung bình từ hai mươi đến hai
mươi nhăm kilô. Còn ngà của con voi đầu đàn đã xéo xác Hyva thì theo sự ước
đoán của chúng tôi, cân nặng hơn bảy mươi kilô.
Còn Hyva, hay đúng hơn,
những mảnh xác còn lại của anh, được chúng tôi chôn trong một tổ kiến cùng cây
giáo theo phong tục của bộ lạc Dulux, để anh có vũ khí tự vệ khy cần thyết trên
con đường đi tới thyên đường.
Sang ngày thứ ba, chúng
tôi lại lên đường, hy vọng nếu còn sống, sẽ quay lại đào kho báu của mình. Sau
một chuyến đi dài, vất vả và gặp nhyều chuyện phyêu lưu khác mà tôi không có thời
gian để kể tỉ mỉ ra đây, chúng tôi đã đến làng Xitandi ở gần sông Lucanga. Thực
ra mà nói, chỉ từ đây mới bắt đầu cuộc hành trình đến núi Xulâyman của chúng
tôi.
Tôi nhớ rất rõ chúng tôi
đã tới Xitandi như thế nào. Phía bên phải là một khu làng nhỏ của người bản xứ
gồm mấy chyếc lều thảm hại và chuồng nuôi súc vật ngăn bằng đá. Xuống phía dưới
một chút, sát bờ sông thấp thoáng một vài miếng đất canh tác, họ gieo trồng để
có số lương thực ít ỏi của mình. Tiếp đến là thảo nguyên bao la chạy tít tận
chân trời, cỏ mọc tốt um tùm và thường có những con thú nhỏ đi lại.
Làng Xitandi ở ngay đầu
vùng đất màu mỡ ấy. Còn phía trái là sa mạc. Thật khó mà giải thích nổi vì sao
lại có sự thay đổi đột ngột về chất đất như vậy; sự tương phản quá lớn đến
không thể không đập ngay vào mắt.
Chúng tôi đóng trại phía
trên sông Lucanga một chút. Bên kia sông là một dốc đá thoai thoải, nơi hai
mươi năm về trước, Xinvextơ đáng thương đã bò quay trở lại sau cái ý định điên
rồ tìm tới kho báu của vua Xolomon thất bại. Sau dốc đá ấy là bắt đầu sa mạc
mênh mông, khô cằn với những cây gai thưa thớt và thấp.
Trời đã ngả về chyều, khối
cầu khổng lồ mặt trời đang chầm chậm khuất sau sa mạc và chyếu sáng nó bằng những
tia sáng cuối cùng sặc sỡ.
Giao cho Huđơ chăm sóc việc
đóng trại, tôi mời Henry đi dạo một lúc, rồi hai chúng tôi leo lên đỉnh của dốc
đá phía bên kia sông, từ đó đưa mắt nhìn ra sa mạc. Không khí sạch và trong suốt,
phía xa xa nơi chân trời có thể nhìn thấy đường xanh mờ của những đỉnh núi
Xulâyman quanh năm phủ tuyết. - Ông nhìn kia, - Tôi nói sau một lúc im lặng. -
Kia là bức tường bao quanh kho báu của vua Xolomon. Chỉ một mình chúa biết rằng
liệu có lúc nào chúng ta tới được đấy hay không.
- Em trai tôi chắc phải ở
đấy. Nếu thế thì nhất định tôi sẽ tới cho kỳ được. - Henry nói với vẻ tự tin
bình thản mà ông vẫn có.
- Vâng, hy vọng rằng
chúng ta sẽ thành công! - Tôi thở dài quay lại định đi về trại, nhưng bỗng nhận
thấy có người đang đứng cạnh.
Sau lưng chúng tôi là
Ambov. Anh chàng Dulux to khỏe và uy nghy ấy đang đứng chăm chú nhìn về phía những
dãy núi xa xa. Thấy tôi nhìn, anh ta lên tiếng nói với Henry, người mà tôi nhận
thấy anh ta rất quý mến.
- Có phải đấy là đất nước
mà ông định tới không. Incubu? (Chữ này có nghĩa là “Con voi”; người bản xứ gọi
Henry như vậy) - Ambov nói, tay chỉ về phía núi.
Tôi bực bội hỏi anh ta có
quyền gì mà dám nói chuyện suồng sã như thế với ông chủ của mình. Người bản xứ
có thể gọi nhau bằng bất cứ biệt hyệu nào họ muốn, nhưng hoàn toàn không thể
cho phép và không lịch sự từ phía họ khy gọi người da trắng bằng những cái tên
ngu ngốc như thế. Ambov khẽ cười, và điều ấy càng làm tôi tức giận hơn.
- Sao ông biết rằng tôi
không ngang hàng với ông chủ mà tôi phục vụ? Tất nhyên ông chủ của tôi thuộc
dòng dõi nhà vua: Điều ấy có thể nhận rõ qua diện mạo và chyều cao của ông ấy,
nhưng biết đâu tôi cũng thuộc dòng dõi vua chúa? Ôi, Macumanzan, hãy làm đôi
môi của tôi để nói với Incubu, ông chủ và là thủ lĩnh của tôi, rằng tôi muốn
nói chuyện với ông ấy, và cả với ông nữa.
Tôi rất bực mình với
Ambov, vì không quen nghe người bản xứ nói chuyện với tôi như thế, nhưng không hyểu
sao tôi vẫn cảm thấy một sự kính trọng mà tôi không hyểu và không muốn có đối với
anh ta. Hơn nữa, tôi cũng muốn biết anh ta định nói gì với chúng tôi nên liền dịch
lời của anh ta cho Henry nghe, sau khy nói trước quan điểm của tôi, rằng anh ta
là một gã trâng tráo và đã cư xử một cách không thể tha thứ được.
- Vâng, Ambov, - Henry
nói, - Tôi muốn đi tới đất nước ấy.
- Sa mạc rất rộng, thyếu
nước, còn núi thì cao và phủ đầy tuyết. Không một người nào có thể nói rõ cái
gì ở phía sau những dãy núi kia, nơi mặt trời đang lặn. Ông định tới đó bằng
cách nào, Incubu, và vì sao ông lại muốn tới đó?
Tôi lại dịch cả những lời
này của anh ta.
- Hãy nói với anh ta, -
Henry đáp, - Rằng tôi muốn tới đó vì tôi nghĩ một người cùng chung dòng máu với
tôi từ lâu đã tới đó, và bây giờ tôi đi tìm người ấy...
- Incubu, ông nói đúng.
Trên đường tới đây, tôi có gặp một người Gốttentốt, và anh ta kể với tôi rằng
cách đây hai năm, có một người da trắng đi vào sa mạc, về phía những ngọn núi
kia. Cùng đi có một người đầy tớ và là thợ săn. Họ chưa quay lại từ phía ấy.
- Sao anh biết rằng đấy
là em trai tôi? - Henry hỏi.
- Tôi không biết điều ấy.
Nhưng tôi đã hỏi người Gốttentốt kia ông ta hình dáng thế nào, và biết là ông
ta có đôi mắt và bộ râu đen như của ông. Người thợ săn đi theo tên là Jim. Anh
ta là người bộ lạc Besuan và trên người có quần áo.
- Không còn nghy ngờ gì nữa,
đó chính là em trai ông! - Tôi kêu lên.- Tôi biết rõ anh chàng Jim ấy!
Henry trầm ngâm gật đầu.
- Tôi cũng tin là thế, -
Ông nói. - Georg là người cương quyết, nếu đã định làm điều gì thì nhất định sẽ
làm bằng được. Từ bé em tôi đã thế. Nếu em tôi quyết định vượt qua núi
Xulâyman, thì nghĩa là đã vượt qua, tất nhyên nếu dọc đường không gặp tai họa.
Vì vậy, chúng ta cần phải tìm Georg ở phía bên kia núi.
Ambov có biết chút ít tiếng
Anh, nhưng ít khy nói bằng thứ ngôn ngữ ấy.
- Đến đấy xa lắm, Incubu,
- anh ta nói.
Tôi dịch lời của anh ta.
- Vâng, Henry đáp. - Đường
đến đấy rất xa. Nhưng trên đời này không có con đường nào mà con người không vượt
qua, một khy anh ta cố hết sức để làm điều ấy. Nếu được tình yêu dẫn đường,
Ambov ạ, thì sẽ không có gì là con người không làm nổi, không núi nào và sa mạc
nào không vượt qua được. Vì cái tình yêu ấy, con người bất chấp hết tất cả, thậm
chí có thể hy sinh cả tính mạng mình, nếu thượng đế yêu cầu phải thế.
Tôi dịch cả những lời
này.
- Ông đã nói những từ rất
đẹp, thưa thủ lĩnh! - Anh chàng người Dulux đáp (bao giờ tôi cũng gọi Ambov như
thế, dù thực ra anh ta không phải là người Dulux) - Những từ vĩ đại, đẹp đẽ xứng
đáng với đôi môi của một người đàn ông chân chính! Ông nói đúng, Incubu. Nhưng
hãy lắng nghe tôi. Cuộc sống là gì? Là một chyếc lông, một hạt giống của cây cỏ
mà gió thổi đi khắp bốn phía. Đôi lúc nó sinh sôi nẩy nở rồi chết, đôi lúc bay
lên trời cao. Nhưng nếu hạt giống ấy khỏe, nó có thể dừng lại chút ít trên con
đường mà người khác đã vạch sẵn cho nó. Vật lộn với cơn gió và dừng lại được ở
con đường ấy là tốt. Nhưng con người phải chết. Trong trường hợp xấu nhất thì
chỉ phải chết sớm hơn một chút. Tôi sẽ đi với ông vượt qua sa mạc và núi rừng,
đi cho đến tận cùng, thưa thủ lĩnh, nếu giữa chừng tôi không chết!
Ambov im lặng, nhưng ngay
lúc ấy liền nói tiếp bằng những lời hoa mĩ say sưa mà đôi khy người Dulux vẫn
dùng. Điều ấy chứng tỏ rằng bộ tộc này không phải không có năng khyếu thơ ca và
trí thông minh, tuy khy nói, họ hay lặp đi lặp lại quá nhyều và vô ích.
- Cuộc sống là gì? -
Ambov nói tiếp. - Hãy nói cho tôi biết đi, hỡi những người da trắng! Các ông là
những người thông minh, những người biết hết mọi bí mật của tạo hóa, mọi bí mật
của trăng sao và tất cả những gì trên chúng và xung quanh chúng! Hỡi những người
da trắng, những người mà trong nháy mắt có thể nói chuyện được với nhau từ xa
mà không cần giọng nói, hãy cho tôi biết bí mật của cuộc sống chúng ta: Nó sẽ
biến đi đâu và từ đâu xuất hyện?
Các ông không thể trả lời
cho tôi biết; chính các ông cũng không biết điều ấy. Thế thì hãy nghe tôi nói
đây: Từ bóng tối, chúng ta xuất hyện và rồi chúng ta lại đi vào bóng tối. Như
con chym bị giông bão xua đuổi trong bóng tối, chúng ta bay ra từ cái hư vô.
Trong một giây, đôi cánh của chúng ta xuất hyện trong ánh sáng của đống lửa, và
rồi chúng ta lại bay vào hư vô. Đời chẳng là cái gì, và cũng là tất cả. Đời là
cánh tay gạt bỏ Thần chết. Là con đom đóm nhấp nháy trong đêm để chết vào buổi
sáng hôm sau. Là hơi thở màu trắng của đàn bò những ngày đông giá rét, là cái
bóng mỏng manh thoáng qua trên bãi cỏ rồi biến mất cùng mặt trời lúc hoàng hôn.
- Anh là một người lạ
lùng, Ambov ạ.- Henry nói khy anh ta im lặng.
Ambov cười to:
- Tôi có cảm giác rằng
chúng ta rất giống nhau, Incubu. Có thể tôi cũng sẽ tìm em trai của tôi ở phía
bên kia núi.
Tôi nhìn anh ta vẻ nghy
ngờ.
- Anh nói như thế nghĩa
là thế nào? - Tôi hỏi. - Anh biết gì về những dãy núi ấy?
- Ít, rất ít. Nghe nói
phía bên kia có một đất nước tuyệt đẹp, bí hyểm, đất nước của những điều kỳ diệu
và phép lạ, đất nước của những chyến binh dũng cảm, những rừng cây cao, những
dòng lũ lớn, những đỉnh núi phủ tuyết, đất nước của con đường màu trắng vĩ đại.
Tôi đã được nghe kể về nó. Nhưng có đáng đem ra kể ở đây không? Trời tối rồi.
Ai số phận cho phép, sẽ được nhìn thấy nó.
Tôi lại ngước nhìn anh ta
vẻ nghy ngờ. Con người này chắc đang biết một điều gì đó.
- Đừng lo sợ về tôi,
Macumazan, - Ambov nói khy thấy tôi nhìn. - Tôi không đào hố để đánh bẫy các
ông. Tôi không âm mưu một điều gì xấu xa. Nếu có lúc nào đó chúng ta vượt qua
được dãy núi đang che lấp mặt trời kia, lúc ấy tôi sẽ kể cho các ông nghe tất cả
những gì tôi biết. Nhưng Thần chết đang lởn vởn trên đỉnh những ngọn núi ấy.
Hãy thông minh mà nhanh chóng quay lại. Hãy quay trở lại, thưa các ông chủ của
tôi, và hãy lại đi săn voi. Tôi nói hết.
Rồi chẳng nói thêm một lời
nào nữa, anh ta giơ ngọn giáo ra hyệu tạm biệt rồi quay người đi về trại. Khy
trở lại, chúng tôi thấy anh ta đang mài giáo, như những người hầu Caphơ bình
thường khác.
- Một anh chàng lạ lùng!
- Henry nói.
- Còn hơn là lạ lùng, -
Tôi khẳng định thêm.- Cách cư xử của anh ta làm tôi nghy ngờ. Anh ta biết một
điều gì đây nhưng không muốn nói. Nhưng nói chung không nên cãi nhau với anh
ta. Trước mặt chúng ta đang có nhyều điều bí hyểm, lạ lùng chờ đợi, và anh
chàng Dulux khó hyểu sẽ rất phù hợp với hoàn cảnh ấy.
Ngày hôm sau chúng tôi
chuẩn bị lên đường.
Mang theo vào sa mạc tất
cả vũ khí và đồ đạc tất nhyên là điều điên rồ. Chúng tôi thanh toán cho những
người khuân đồ và thống nhất với một người Caphơ sống cạnh đấy để ông ta trông
coi hộ đồ vật mà lúc quay lại chúng tôi sẽ lấy. Tôi thật sự đau lòng mỗi lần
nghĩ tới việc chúng tôi phải giao những khẩu súng tuyệt vời của mình cho thằng
ăn cắp ấy. Vừa nhìn thấy súng là mắt lão đã lộ vẻ vui mừng, lão không thể dứt
cái nhìn tham lam của lão khỏi chúng. Vì vậy, tôi buộc phải áp dụng một vài biện
pháp ngăn ngừa. Trước hết, tôi lên đạn tất cả các súng, mở khóa an toàn và nói
với lão rằng nếu lão động đến, lập tức chúng sẽ nổ. Lão liền thử sờ vào khẩu
hai nòng của tôi. Súng nổ, và viên đạn xuyên thủng bụng một con bò của lão lúc ấy
đang được lùa về làng, còn lão thì bị súng giật ngã ngửa về phía sau. Lão hoảng
sợ lổm ngổm bò dậy, và tiếc của vì mất bò, lão còn trâng tráo bắt tôi bồi thường.
Đồng thời lão thề rằng từ nay không có gì trên đời có thể bắt lão động đến súng
của chúng tôi.
- Hãy giấu ngay những con
quỷ sống ấy vào đống rơm, - Lão càu nhàu, - Nếu không, chúng sẽ giết hết chúng
tôi.
Biết lão già rất mê tín,
tôi dọa lão rằng nếu để mất dù chỉ một đồ vật, tôi sẽ dùng phép phù thủy giết
chết lão và tất cả người thân của lão, và không may chúng tôi chết dọc đường, nếu
lão định giở trò ăn cắp súng thì hồn ma của tôi từ thế giới bên kia sẽ hyện về
để ám lão cả ngày lẫn đêm. Sau đấy tôi còn dọa thêm rằng tôi sẽ làm súc vật của
lão phát điên, rằng tất cả sữa của lão sẽ bị chua, còn lão thì bị tôi đẩy vào
tình trạng khốn cùng, đến nỗi không muốn sống nữa. Ngoài ra, tôi hứa sẽ thả những
con quỷ đang ngồi trong nòng súng ra để chúng nói chuyện một cách tử tế với
lão. Tóm lại, tôi đã làm cho lão đủ hyểu lão sẽ bị trừng phạt thế nào, nếu
không giữ đúng lời hứa. Nghe xong, lão già thề sẽ giữ gìn đồ vật của chúng tôi
thyêng liêng như linh hồn của cha ông lão.
Thỏa thuận với lão già
xong, và bằng cách ấy trút bỏ được một phần gánh nặng, chúng tôi chỉ chọn mang
theo những thứ không thể thyếu được cho chuyến đi dài ngày sắp tới. Nhưng dù cố
mang theo thật ít, cuối cùng mỗi người chúng tôi vẫn phải mang nặng gần hai
mươi cân.
Sau đây là những thứ
chúng tôi mang theo:
Ba khẩu súng trường kiểu
Express cùng hai trăm viên đạn.
Hai khẩu Winchester có hộp
đạn (cho Ambov và Venphôghe) cùng hai trăm viên đạn.
Ba khẩu côn và sáu mươi
viên đạn.
Năm bình đựng nước, mỗi
bình bốn lít.
Năm chăn.
Mười hai cân thịt phơi
khô.
Năm cân chuỗi hạt loại tốt
nhất để làm quà.
Một tủ thuốc nhỏ với các
thứ thuốc cần thyết nhất trong đó có ba mươi gam kí ninh và hai bộ đồ mổ gọn nhẹ.
Ngoài các thứ kể trên,
chúng tôi còn mang theo một số đồ vặt vãnh như địa bàn, diêm, một bình lọc loại
bỏ túi, thuốc lá, chyếc xẻng nhỏ, một chai rượu mạnh và cuối cùng là quần áo mà
chúng tôi đang mặc trên người. Đối với một cuộc hành trình lâu dài và mạo hyểm,
chừng ấy không phải là nhyều, nhưng chúng tôi không dám mang thêm, vì như thế,
chúng tôi cũng đã phải mang mỗi người hai mươi cân, một gánh nặng đáng kể. Lê
chân giữa cát nóng như lửa mà còn phải mang nặng không phải là việc đơn giản; ở
trong những trường hợp như thế, mỗi gam đều có ý nghĩa. Mặc dù đã tìm hết mọi
cách, chúng tôi cũng không thể bớt đi một tí nào, vì chỉ mang đi theo những gì
không thể không có.
Vất vả lắm tôi mới thuyết
phục được ba người Caphơ trong làng đi theo chúng tôi một quãng độ hai mươi dặm,
tức là giai đoạn đầu cuộc hành trình của chúng tôi. Mỗi người trong số họ sẽ
mang một chyếc lọ hình quả bầu đựng gần năm lít nước.
Để trả công, tôi hứa sẽ tặng
họ mỗi người một con dao săn.
Chúng tôi dự định sẽ bổ
sung nước dự trữ vào đêm hôm sau, và quyết định lên đường vào ban đêm, vì ban
đêm trời đỡ nóng hơn. Tôi nói với những người Caphơ rằng chúng tôi đi săn đà điểu,
là giống chym có rất nhyều ở sa mạc. Nghe xong, họ nói liến thoắng với nhau điều
gì đó, rồi nhún vai bảo tôi rằng chúng tôi điên và nhất định sẽ chết khát trong
sa mạc, là điều tôi cũng nghĩ là có lẽ sẽ xảy ra thật. Nhưng vì quá thích những
chyếc dao săn mà trong mơ cũng không dám mơ tới. - ƠŒ vùng hoang dã này, dao
săn là vật rất hyếm - Cuối cùng họ cũng đồng ý đi theo chúng tôi hai mươi dặm.
Chắc họ nghĩ rằng nếu chúng tôi có chết khát thì cũng không phải do lỗi của họ.
Cả ngày hôm sau, chúng tôi chỉ ngủ và nghỉ ngơi. Mặt trời sắp lặn, chúng tôi ăn
no thịt bò tươi, uống no nước chè. Vừa uống Huđơ vừa buồn rầu nói rằng không biết
lúc nào chúng tôi mới được uống chè một lần nữa. Sau đó, làm xong các việc chuẩn
bị cuối cùng, chúng tôi lại nằm xuống chờ trăng lên. Cuối cùng gần chín giờ, mặt
trăng xuất hyện trong vẻ đẹp lộng lẫy của mình. Ánh trăng tỏa xuống những khoảng
không hoang dại và dát bạc cả sa mạc mênh mông cũng uy nghyêm và lặng lẽ như bầu
trời đầy sao trên đầu chúng tôi.
Chúng tôi đứng dậy nhưng
chưa bước đi vội như đang lưỡng lự điều gì: Tôi nghĩ con người bao giờ cũng lưỡng
lự trước khy bước vào chặng đường mà không tin có ngày còn quay lại. Chúng tôi
- Ba người da trắng - Đi ra đứng riêng một chỗ. Ambov tay cầm giáo, súng trên
vai đang đứng trước chúng tôi mấy bước; anh ta đăm đăm nhìn về phía sa mạc.
Venfogen và những người Caphơ chúng tôi mới thuê xách bình nước đứng một chỗ
sau chúng tôi chút ít.
- Thưa các bạn. - Sau một
lúc im lặng, Henry nói bằng cái giọng trầm dễ nghe của mình. - Chúng ta sắp bắt
đầu một cuộc hành trình khác thường mà có lẽ xưa nay chưa ai thực hyện. Chưa chắc
nó sẽ kết thúc tốt đẹp. Chúng ta có ba người. Và tôi tin rằng trong tất cả những
thử thách đang chờ ta phía trước, trong bất kỳ trường hợp nào ta cũng sẽ đứng
bên nhau cho đến hơi thở cuối cùng. Còn bây giờ, trước khy lên đường chúng ta
hãy đọc một bài cầu ngắn, cầu nguyện Đức chúa Trời toàn năng, vì Ngài điều khyển
số phận và vạch đường đi cho con người, kể từ ngày Ngài tạo nên thế giới. Chúng
ta hãy gửi gắm tất cả vào ý Ngài và mong Ngài đặt bước chân chúng ta lên con đường
may mắn.
Rồi ông cởi mũ, hai tay
che mặt và lẩm nhẩm lời cầu trong hai phút. Tôi và Huđơ làm theo.
Như phần lớn những người
thợ săn khác, tôi không phải là người sùng đạo lắm. còn Henry thì theo tôi
nghĩ, sâu trong lòng, ông là người rất sùng đạo, dù tôi chưa bao giờ nghe từ
ông những lời tương tự, trừ một lần sau này nữa. Huđơ cũng là một con chyên
thành kính, tuy ông ta thích nói tục. Ít ra thì tôi không nhớ có lần nào (trừ một
lần khác sau này) tôi cầu nguyện thành tâm đến thế. Cầu xong, tôi thấy trong
lòng nhẹ nhõm hơn. Tương lai của chúng tôi còn rất mù mịt; nhưng tôi nghĩ chính
cái sợ hãi và mờ mịt ấy bao giờ cũng đưa con người lại gần hơn với Chúa.
- Nào, - Henry nói, - Bây
giờ thì chúng ta xuất phát!
Và chúng tôi lên đường.
Nói chung, hầu như chúng tôi phải đi mò, vì ngoài những đỉnh núi xa và tấm bản
đồ mà Hoxe Xinvext, một ông già nửa điên nửa tỉnh đã vẽ lên một mẩu vải lúc hấp
hối, chúng tôi chẳng còn gì khác để định hướng. Khó mà tin được bản đồ ấy, thế
mà nó lại là tất cả hy vọng thành công của chúng tôi. Tôi lo không biết chúng
tôi có tìm được hồ “nước thối” mà theo bản đồ của ông lão Bồ Đào Nha, thì sẽ nằm
chính giữa sa mạc, tức là cách làng Xitandi sáu mươi dặm hay không. Từ đấy đến
núi Vú nữ hoàng Xava cũng bằng chừng ấy. Nếu không tìm thấy, chắc chắn chúng
tôi sẽ chết khát. Chúng tôi hầu như không có một cơ sở nào để hy vọng tìm thấy
nó giữa biển cát mênh mông và những bụi gai thấp, thưa thớt này. Giả sử đa
Xinvextơra có xác định đúng vị trí của hồ nước đi nữa, thì lẽ nào dưới ánh sáng
mặt trời gay gắt, nó không cạn khô sau ba thế kỷ? Lẽ nào thú vật không dẫm nát
nó? Và cuối cùng là không bị cát vùi lấp?
Lặng lẽ như những cái
bóng, chúng tôi bước đi trong đêm tối, chân ngập sâu dưới cát. Đi nhanh là điều
không thể được, vì chúng tôi luôn vấp phải các bụi gai. Cát chui vào giày
Vendxcun của chúng tôi và giày đi săn của Huđơ, nên chốc chốc phải dừng lại để
dốc cát ra. Sương đêm làm giảm cái nóng ngột ngạt của sa mạc, và mặc dù đi lại
khó khăn và dừng khá nhyều, chúng tôi vẫn tiến nhanh về phía trước. Xung quanh
là một sự im lặng nặng nề. Để làm chúng tôi vui lên, Huđơ huýt sáo bài “Cô gái
mà tôi bỏ lại ở nhà”, nhưng giữa sa mạc mênh mông giai điệu vui nhộn của bài
hát lại trở nên buồn thảm và rùng rợn. Huđơ thôi không huýt sáo nữa.
Chẳng bao lâu, một việc
đã xẩy ra với chúng tôi, lúc đầu làm ai cũng hoảng sợ hết hồn, nhưng sau lại biến
thành câu chuyện vui vẻ. Thuyền trưởng Huđơ đi đầu, tay cầm chyếc la bàn mà với
tư cách là một thủy thủ, ông ta rất biết cách sử dụng. Chúng tôi thì người nọ
tiếp người kia đi theo ông ta. Bỗng ông ta kêu to một tiếng rồi biến mất. Đúng
lúc ấy xung quanh chúng tôi vang lên những âm thanh kỳ lạ như tiếng rên, tiếng
thở phì phì và tiếng những bước chân nặng nề đang bỏ chạy. Mặc dù hầu như tối
hoàn toàn, chúng tôi lờ mờ nhận thấy bóng của những sinh vật lạ lùng nào đó
đang lao về phía trước, cuốn tung bụi cát. Những người bản xứ vất đồ đạc định bỏ
chạy, nhưng chợt nhớ ra là không còn nơi nào để chạy, liền nằm lăn xuống cát,
kêu to rằng đó chính là quỷ sứ. Tôi và Henry đứng lặng vì ngạc nhyên, nhưng
chúng tôi càng ngạc nhyên gấp bội khy chợt thấy Huđơ đang phóng như bay về phía
núi. Chúng tôi có cảm giác như ông ta phy trên lưng ngựa, vừa phy vừa kêu lên
những tiếng kêu kinh khủng. Bỗng nhyên, dang rộng hai tay, ông ta ngã phịch xuống
đất.
Đến lúc này tôi hyểu chuyện
gì đã xẩy ra: Đang đi trong bóng đêm, chúng tôi vấp phải một đàn ngựa rừng châu
Phy, và Huđơ ngã ngay xuống lưng một con, làm con này hoảng sợ, chồm dậy và cứ
thế phóng đi, mang theo cả chàng kỵ sĩ. Tôi kêu to, bảo mọi người đừng lo, rồi
chạy đến chỗ Huđơ, và rất sung sướng thấy ông ta đang ngồi trên cát. Tôi thở
phào nhẹ nhõm vì tuy ngã, nhưng ông ta hoàn toàn không bị thương tổn chút nào.
Tất nhyên ông thuyền trưởng bị một phen hú vía và bị xóc kinh khủng, nhưng tất
cả những điều ấy không để lại một dấu vết gì, cả trên người ông ta, và cả trên
chyếc kính một mắt vẫn lấp lánh ở mắt bên phải.
Sau sự kiện vui vẻ ấy,
chúng tôi đi tiếp và không hề gặp một chuyện khó chịu nào. Gần một giờ sáng
chúng tôi dừng lại uống ít nước (chúng tôi không dám uống thả cửa, vì biết nước
sau này sẽ cần thyết như thế nào) nghỉ lấy sức ba mươi phút, rồi lại đi tiếp.
Chúng tôi đi, đi mãi cho
đến lúc cuối cùng chân trời phía đông rực hồng như đôi má của cô gái khy xấu hổ.
Những tia nắng dịu dàng màu vàng hồng đan chéo lẫn nhau xuất hyện. Một ngày mới
bắt đầu.
Chúng tôi quyết định
không dừng lại nghỉ dù rất muốn, vì biết rằng khy mặt trời lên cao, trời nóng sẽ
khó lòng mà đi tiếp. Nửa giờ sau, cuối cùng chúng tôi nhìn thấy ở phía xa một
vài mỏm đá nhô lên trên nền sa mạc bằng phẳng. Kéo lê chân vì mỏi mệt, chúng
tôi tiến về phía những mỏm đá ấy, và sung sướng nhận thấy một mỏm chìa ra phía
trước tạo trước cái mái che nắng rất tốt. Phía dưới nó đất được phủ một lớp cát
mịn. Chúng tôi thích thú ngồi nghỉ ở đấy, uống ít nước và mỗi người ăn một miếng
thịt phơi khô rồi ngay lập tức ngủ say như chết.
Khy chúng tôi tỉnh dậy đã
là ba giờ chyều. Những người khuân vác Caphơ chờ chúng tôi dậy để chuẩn bị quay
trở lại. Sa mạc đã làm họ chán ngấy tận cổ, và không một thứ dao săn nào trên đời
còn có thể bắt được họ đi tiếp. Chúng tôi khoan khoái uống hết số nước còn lại
trong bình của mình rồi lại đổ đầy bằng nước mà những người này mang theo, rồi
cho họ về nhà.
Vào bốn giờ ba mươi phút,
chúng tôi lại lên đường. Sa mạc im lặng một cách chết chóc. Trên cả biển cát
mênh mông mà tầm mắt có thể bao quát được không hề có một sinh vật nào, trừ một
vài con đà điểu. Có lẽ vì thyếu nước nên không có muông thú, và nếu không kể một
hay hai loại rắn hổ mang, chúng tôi hoàn toàn không thấy loài bò sát nào. Thế
nhưng có một giống thì lại quá nhyều, đó là ruồi, loại ruồi bình thường ta vẫn
thấy ở nhà. Chúng bay đầy trên sa mạc và luôn theo đuổi chúng tôi như những tên
thám báo, không phải “từng con một, mà là từng đàn lớn”, như đâu đó trong phần
Cựu ước của Kinh thánh đã miêu tả. Thứ ruồi này thật đặc biệt, anh trốn đâu
cũng gặp chúng. Có lẽ ngay từ thời sáng thế đã có chúng. Một lần tôi nhìn thấy
một con bị ướp trong một cục hổ phách mà người ta nói với tôi ít nhất cũng đã
năm vạn năm tuổi. Thế mà con ruồi ấy trông chẳng khác con ruồi hyện đại một
chút nào. Tôi hầu như tin tưởng một cách chắc chắn rằng khy con người cuối cùng
trên trái đất chết, thì chúng (tất nhyên nếu điều ấy xảy ra vào mùa hè) cũng sẽ
bay vù vù xung quanh và cố gắng chọn thời cơ thuận lợi để đậu ngay lên mũi anh
ta.
Khy mặt trời lặn, chúng
tôi ngồi nghỉ và chờ trăng lên. Cuối cùng trăng xuất hyện trên bầu trời, lặng lẽ
và bình thản như bao đời nay, và chúng tôi lại đi tiếp. Chỉ dừng nghỉ một lần
vào lúc hai giờ sáng, chúng tôi lê chân đi suốt đêm, cho đến lúc mặt trời mọc
và kiệt sức vì mỏi mệt, buộc phải nghỉ. Sau khy uống một vài ngụm nước, hoàn
toàn rã rời, chúng tôi lăn xuống cát và ngủ thyếp ngay lập tức. Cũng chẳng cần
phải cử ai canh phòng vì bốn bề là sa mạc mênh mông không sự sống. Kẻ thù duy
nhất của chúng tôi là cái nóng, cái khát và ruồi. Tôi sẵn sàng đón nhận mọi
nguy hyểm từ phía con người hay thú dữ, còn hơn phải chịu ba tai họa này. Rất
tiếc là lần này chúng tôi không tìm được một mỏm đá có bóng râm nào để tránh nắng
như trước. Bảy giờ sáng, chúng tôi tỉnh dậy vì nóng không chịu nổi, với cảm
giác như mình là miếng thịt đang bị kẹp bơ trên than đỏ rực. Những tia nắng của
mặt trời nóng bỏng như chyếu xuyên qua tất cả, như đang hút khô máu trong cơ thể.
Chúng tôi ngồi, thở một
cách khó nhọc.
- Cút đi! - Tôi vừa kêu
lên bất lực, vừa vung tay xua bầy ruồi đang dai dẳng bay vo vo quanh đầu tôi.
Chúng thật hạnh phúc vì
không biết tới cái nóng.
- Quả đúng là... - Henry
lẩm bẩm.
- Vâng, nóng kinh khủng!
- Huđơ ngắt lời ông.
Cái nóng đúng là không chịu
nổi, và không có một nơi nào để trốn khỏi cái lò lửa địa ngục ấy. Xung quanh,
nhìn đi đâu cũng chỉ thấy sa mạc trần trụi bị hun nóng hừng hực. Không một gò đất,
một hòn đá hay một cái cây nào.
Không một bóng râm nào,
dù nhỏ. Chúng tôi như bị mù khy nhìn lên mặt trời sáng trắng chói chang: từng
luồng không khí run run bốc lên từ sa mạc như trên một tấm sắt bị nung đỏ, làm
đôi mắt cay xè.
- Biết làm gì bây giờ! -
Henry hỏi. - Không ai chịu được lâu cái cảnh địa ngục này.
Chúng tôi nhìn nhau, hoàn
toàn không biết phải làm gì.
- Tôi nghĩ ra rồi, - Huđơ
nói. - Chúng ta phải đào một cái hố rồi chui xuống đó, bên trên che bằng các
cây gai.
Đề nghị này không làm
chúng tôi phấn chấn hơn bao nhyêu, tuy nhyên vẫn tốt hơn là không làm một cái
gì cả. Chúng tôi liền bắt tay vào công việc, bằng tay và chyếc xẻng mang theo,
một giờ sau chúng tôi đã đào được một chyếc hố rộng ba mét, dài sáu mét và sâu
hơn nửa mét. Sau đó chúng tôi dùng dao săn cắt các cây gai mọc lè tè trên cát,
nhảy xuống hố rồi che lên trên. Chỉ một mình Venfogen không làm theo chúng tôi,
vì là người Gốttentốt, anh ta đã quen với cái nóng và không hề cảm thấy mệt mỏi.
Trong một chừng mực nào
đó, cái hố đã che cho chúng tôi khỏi những tia sáng mặt trời nóng bỏng. Tôi xin
nhường bạn đọc tưởng tượng không khí dưới cái mộ tự tay chúng tôi đào ấy ngột
ngạt như thế nào, vì thực tình tôi không đủ từ để miêu tả. Có lẽ Hầm đen ở
Calcutta còn là thyên đường so với nó. Cho tận đến bây giờ tôi cũng không hyểu
làm sao chúng tôi sống qua nổi cái ngày kinh khủng ấy, khy mà không đủ không
khí để thở, chúng tôi chỉ thỉnh thoảng mới được phép dấp môi vì nước còn lại rất
ít. Nếu được uống thả cửa thì tất cả nước dự trữ sẽ hết ngay trong hai giờ đầu.
Nhưng chúng tôi buộc phải theo một chế độ tiết kiệm vô cùng khắt khe, vì hyểu
rõ rằng thyếu nước, chúng tôi sẽ chết.
Thời gian trôi qua một
cách chậm chạp đến không chịu nổi. Nhưng trên đời cái gì cũng phải kết thúc - Tất
nhyên nếu ta sống được đến lúc đó - Và cái ngày khủng khyếp ấy bắt đầu ngả về chyều.
Gần ba giờ, chúng tôi quyết định rằng không thể chịu đựng sự tra tấn này lâu
hơn được nữa. Thà chết dọc đường còn hơn phải chết dần chết mòn vì nóng và khát
trong cái hố đáng sợ này. Uống mỗi người vài ngụm từ số nước ít ỏi còn lại đã bị
đun nóng đến nhyệt độ của máu, chúng tôi đứng dậy lảo đảo bước đi tiếp.
Chúng tôi đã đi được gần
năm mươi dặm sâu trong sa mạc. Nếu còn nhớ những lời dặn của Xinvextơra và xem
lại tấm bản đồ của ông ta, bạn đọc sẽ thấy sa mạc kéo dài bốn mươi Liơ, và Hồ
“nước thối” được đánh dấu ngay chính giữa. Bốn mươi Liơ tức là một trăm hai
mươi dặm, nghĩa là chúng tôi chỉ cách chỗ có nước nhyều nhất là hai mươi hoặc
mười lăm dặm. Tất nhyên nếu quả đúng là có một hồ nước như thế.
Sau một ngày ròng rã phải
chịu đựng những thử thách ghê gớm, bây giờ chúng tôi lê chân, chậm chạp tiến về
phía trước, với tốc độ hơn nửa dặm một giờ. Mặt trời lặn, chúng tôi dừng lại
nghỉ, và trong khy chờ trăng lên, chúng tôi uống vài ngụm nước rồi tranh thủ ngủ
chút ít. Trước khy nằm xuống, Ambov chỉ cho chúng tôi một ngọn đồi không lớn lắm
đang in hình mờ mờ trên nền sa mạc bằng phẳng, cách chúng tôi gần tám dặm. Từ
xa trông nó như một tổ kiến, và vừa nằm thyếp ngủ, tôi vừa tự hỏi mình không hyểu
đó là cái gì. Trăng lên. Chúng tôi đứng dậy đi tiếp, hoàn toàn kiệt sức vì nóng
và khát. Ai chưa trải qua những thử thách này, khó mà hình dung nổi cả sự gian
khổ của chúng tôi lẫn những gì chúng tôi đã trải qua ngày hôm ấy. Không phải
chúng tôi đi, mà lảo đảo bên này sang bên kia, chốc chốc lại ngã xuống vì kiệt
sức. Cứ đi được một giờ, hầu như lần nào chúng tôi cũng phải ngồi xuống nghỉ.
Thậm chí chẳng còn đủ sức để nói chuyện. Trước đấy thuyền trưởng Huđơ bao giờ
cũng nói, đùa vui vẻ, vì ông ta là người rất vui tính, thế mà bây giờ tính ấy của
ông ta cũng biến đâu mất.
Cuối cùng, gần hai giờ
sáng, hoàn toàn rã rời cả về thể xác lẫn tinh thần, chúng tôi đến được chân của
một đồi cát kỳ dị, mà ngay từ lúc mới nhìn chúng tôi đã thấy giống một chyếc tổ
kiến. Nó cao khoảng ba mươi mét và chyếm một diện tích gần một nghìn mét vuông.
Chúng tôi dừng lại ở đây,
và bị cơn khát khủng khyếp dày vò, chúng tôi đã uống cạn đến giọt cuối cùng số
nước còn lại. Thế mà mỗi người cũng chỉ được chưa đầy một phần ba lít, trong khy
có thể uống hết cả thùng.
Sau đó chúng tôi lại nằm
xuống, và khy đã thyếp ngủ, tôi chợt nghe Ambov lẩm bẩm nói một mình bằng tiếng
Dulux:
- Nếu ngày mai không tìm
thấy nước, tất cả chúng ta sẽ chết trước lúc trăng lên.
Mặc dù trời rất nóng, tôi
đã run lên. Không thể nói rằng dễ chịu khy nghĩ về khả năng có thể chết một
cách khủng khyếp như thế. Nhưng thậm chí cả ý nghĩ ấy cũng không ngăn được tôi
ngủ thyếp lúc nào không biết.
Chương 5
Hai giờ sau tôi tỉnh dậy.
Lúc ấy đã là bốn giờ sáng. Khy cái nhu cầu ngủ do sự mệt mỏi của thể xác đòi hỏi
được thỏa mãn, tôi liền cảm thấy ngay cơn khát khủng khyếp quen thuộc. Sau đấy
tôi chẳng thể nào ngủ thyếp đi được nữa. Trong mơ, tôi thấy tôi đang tắm trong
dòng sông hai bên bờ cây cối mọc xanh tốt, nhưng tỉnh dậy, tôi phải trở lại với
thực tế buồn thảm của mình. Xung quanh chúng tôi vẫn là sa mạc khô cằn, và tôi
bỗng nhớ lời của Ambov, rằng nếu hôm nay không tìm thấy nước, chúng tôi sẽ có
nguy cơ chết khát, không một người nào có thể tồn tại được lâu khy thyếu nước
giữa cái nóng như thế này. Tôi ngồi dậy và bắt đầu lau khuôn mặt cáu bẩn của
mình bằng đôi tay khô, nhăn nheo. Môi và mi mắt tôi dính chặt với nhau, và chỉ
nhờ lau như thế, tôi mới mở miệng và mắt được, dù khá vất vả. Chẳng bao lâu nữa
mặt trời sẽ mọc, nhưng lúc này trong không khí không hề cảm thấy chút nào hơi ẩm
của buổi sáng. Bao quanh chúng tôi là bóng đêm bị hun nóng ngột ngạt không thể
nào tả hết. Các bạn đường của tôi còn đang ngủ. Cuối cùng trời đã sáng đến mức
có thể đọc sách được. Tôi mở cuốn sách nhỏ cỡ bỏ túi các truyện thơ của
Ingônđơbi mà tôi mang theo và đọc bài “Con quạ xứ Rêm”. Khy đọc đến chỗ có nói.
Có cậu bé tay xách chyếc
bình vàng
Đựng đầy nước trong xanh
mát lạnh
Của dòng sông đang uốn
mình lấp lánh
Giữa xứ Rêm và Namurơ...
thì bất giác tôi bỗng mấp
máy đôi môi khô nẻ của mình, hay nói đúng hơn là định làm thế mà không được. Chỉ
ý nghĩ về bình nước mát ấy cũng đủ làm tôi phát điên lên. Nếu lúc này bỗng xuất
hyện đức Hồng y giáo chủ với cuốn Kinh thánh và ngọn nến cầm tay, có lẽ tôi sẽ
lao về phía ngài và uống hết chậu nước dành cho ngài rửa tay, thậm chí khy chậu
nước ấy đầy bọt xà phòng, dù biết làm thế, tôi sẽ bị nhà thờ công giáo nguyền rủa
và trừng phạt. Tôi nhớ lúc ấy vì khát, mệt và đói, tôi cảm thấy choáng váng
trong đầu. Tôi hình dung rất rõ đức Hồng y giáo chủ cùng chú tiểu đồng theo hầu
và con quạ xứ Rêm sẽ nhìn tôi, người thợ săn voi có mái tóc bạc, da ngăm đen và
khổ người bé nhỏ, như thế nào, khy bỗng nhyên, chỉ bằng một bước nhảy, tôi xuất
hyện bên ngài và vục khuôn mặt bẩn thỉu của mình xuống chậu nước thánh, uống sạch
không còn một giọt. Ý nghĩ này buồn cười đến nỗi tôi phá lên cười, và bằng giọng
cười khàn khàn của tôi đã đánh thức những người bạn đường dậy; những người này
cũng bắt đầu đưa tay vuốt mặt, mí mắt và môi đang dính chặt vào nhau.
Khy tỉnh ngủ hẳn, chúng
tôi bắt đầu bàn bạc về hoàn cảnh khá nghyêm trọng của mình. Không còn một giọt
nước nào. Chúng tôi dốc ngược các bình, cố kiếm những giọt nước sót lại, nhưng
vô ích. Thuyền trưởng Huđơ, người mang chai rượu theo mình, bắt đầu nhìn nó bằng
đôi mắt tham lam, nhưng Henry đã vội giật lấy vì biết rằng lúc này uống rượu có
nghĩa là tự đưa mình đến cái chết nhanh hơn.
- Nếu không tìm được nước,
chúng ta sẽ chết. - Huđơ nói.
- Nếu có thể tin được bản
đồ của ông già Bồ Đào Nha, thì chắc đâu đây phải có nước. - Tôi nói.
Hình như không ai tỏ ra
vui vẻ lắm khy nghe tôi nói thế. Rõ ràng là không thể đặt hết hy vọng vào tấm bản
đồ này được. Trời mỗi lúc một sáng dần, sáng dần. Chúng tôi ngồi im, thờ thẫn
nhìn nhau. Bỗng nhyên tôi thấy Venfogen đứng dậy đi lại xung quanh, mắt vẫn
không ngớt nhìn xuống cát. Rồi anh ta chợt dừng lại, kêu lên một tiếng gì đấy,
tay chỉ xuống đất.
- Cái gì đấy? - Chúng tôi
nhổm dậy hỏi rồi cùng chạy về phía anh ta vừa chỉ.
- Cứ cho đấy là dấu chân
còn mới của linh dương, - Tôi nói. - Nhưng rồi sao?
- Linh dương chỉ quanh quẩn
bên nơi có nước. - Anh ta đáp bằng tiếng Hà Lan.
- Vâng, - Tôi đáp, - Cậu
nói đúng. Tôi quên mất điều ấy. Tạ Chúa lòng lành.
Điều khám phá nhỏ này đã
tăng thêm sức lực cho chúng tôi. Thật là đáng ngạc nhyên, gặp cảnh khốn quẫn,
không lối thoát, con người bấu víu vào cả những hy vọng mong manh nhất nếu có,
và cảm thấy gần như hạnh phúc. Giữa đêm tối, một ngôi sao dù nhỏ cũng còn hơn
không có ngôi sao nào.
Trong lúc ấy Venfogen ngước
chyếc mũi hếch của mình lên trời, hít hít làn không khí nóng bỏng như con cừu
hít ngửi thấy nguy hyểm. Bỗng anh ta lại nói:
- Tôi ngửi thấy có mùi nước!
Nghe thế chúng tôi ai
cũng vui mừng, vì biết những người lớn lên ở sa mạc có chyếc mũi bẩm sinh rất
thính.
Đúng lúc này mặt trời
lên, uy nghy và lộng lẫy, và đưa đôi mắt mệt mỏi ngắm nhìn cảnh tượng hùng vĩ ấy,
trong giây lát thậm chí chúng tôi còn quên cả cái khát.
Cách chúng tôi không đầy
bốn mươi hoặc năm mươi dặm là núi Vú của nữ hoàng Xava đứng sừng sững, long
lanh như dát bạc trong ánh mặt trời buổi sáng. Kéo dài ra hai bên hàng trăm dặm
là dãy Xulâyman nổi tiếng. Lúc này, khy tôi đang ngồi bên bàn để viết những
dòng này, quả tôi không tìm đủ lời để miêu tả cảnh đẹp và sự hùng vĩ của bức
tranh thyên nhyên hôm ấy...
Sau đấy, như để che không
cho chúng tôi nhìn thêm những đám sương mù và mây hình thù kỳ dị bỗng từ đâu
kéo đến, đông đặc dần rồi phủ kín tất cả, cho đến lúc cuối cùng chỉ còn nhìn thấy
những đường nét mờ mờ của dãy núi khổng lồ thấp thoáng trong mây mù như bóng
ma. Sau này, chúng tôi mới biết rằng chúng thường bị che khuất trong mây, cũng
chính vì thế mà trước đấy không ai trong số chúng tôi nhìn rõ chúng như thế.
Khy dãy núi bị che khuất,
ngay lập tức cái khát lại quay lại hành hạ chúng tôi.
Nghe Venfogen nói rằng
anh ta ngửi thấy mùi nước thì thích thật đấy, nhưng nhìn xung quanh, chúng tôi
không hề thấy một dấu hyệu nào khẳng định điều đó, đâu cũng chỉ thấy biển cát
đơn điệu, quằn quại dưới ánh mặt trời gay gắt và những bụi gai thấp, giống cây
đặc trưng cho những vùng thyếu nước ở Nam Phy. - Chúng tôi đi vòng quanh ngọn đồi,
lo lắng quan sát đây đó với hy vọng tìm thấy nước phía sau nó, nhưng vô ích:
Không một hố đọng, không một vũng nước, một con suối nhỏ nào.
- Cậu chỉ nói hão, - Tôi
giận dữ bảo Venfogen - Ơ đây không có nước!
Nhưng anh ta vẫn tiếp tục
nhón chân, hướng cái mũi hếch xấu xí của mình lên trời.
- Tôi ngửi thấy mùi nước,
thưa ông chủ, - Anh ta nói. - Quanh quẩn đâu đây thôi, trong không khí.
- Vâng. - Tôi mỉm cười mỉa
mai. - Tất nhyên là thế. Trên đám mây kia đang có nước, và độ hai tháng nữa sẽ
có mưa đổ xuống để rửa sạch xương của chúng ta.
Henry trầm ngâm vuốt vuốt
bộ râu vàng hoe của mình.
- Hay nước ở trên đỉnh đồi?
- Ông nói.
- Hừm, - Huđơ nhún vai. -
Đã ai bao giờ nghe nói có thể tìm thấy nước trên đồi chưa?
- Ta cứ thử leo lên xem
sao - Tôi đề nghị.
Và hoàn toàn không hy vọng,
chúng tôi bắt đầu leo lên theo bờ cát dốc. Bỗng Ambov đang đi phía trước đứng sững
lại.
- Manzia, manzia! (Nước!
Nước!).- Anh ta kêu to.
Chúng tôi chạy ùa lại và
quả thật ở đấy, ngay trên đỉnh đồi, trong một vũng sâu có hình chyếc bát, chúng
tôi đã nhìn thấy nước!
Chúng tôi không để mất thời
gian tìm hyểu vì sao ở đây lại có thể có nước, và màu đen rất không hấp dẫn của
nó cũng không hề làm chúng tôi do dự. Với chúng tôi, chỉ cần nhìn thấy nước hay
cái gì đó giống nước là đủ. Chúng tôi nhào tới và chỉ một giây sau, tất cả nằm
sấp uống lấy uống để thứ nước thối ấy một cách sung sướng, như thể đó là nước
thánh.
Trời ơi, chúng tôi uống mới
nhyều làm sao! Cuối cùng đỡ khát, chúng tôi cởi hết quần áo, ngồi xuống nước để
làn da bị mặt trời hun khô được thấm một ít chất ẩm thần tiên ấy.
Thưa bạn đọc của tôi, vì
chỉ cần vặn vòi là lập tức từ cái thùng lớn đâu đó sẽ chảy ra nước lạnh hay nước
nóng, nên bạn đọc không thể hyểu hết một cách sâu sắc cái hạnh phúc lớn lao của
chúng tôi khy vùng vẫy trong vũng nước bẩn mằn mặn đó.
Tắm chán, chúng tôi bước
lên, hoàn toàn tươi tỉnh trở lại và bắt đầu ăn ngấu nghyến đến no bụng món thịt
khô mà những ngày trước đây không ai đụng đến. Sau đấy chúng tôi hút thuốc, nằm
xuống nghỉ bên vũng nước kỳ diệu trong bóng mát bờ đất nhô ra và ngủ một mạch
cho đến tận trưa.
Suốt ngày hôm ấy chúng
tôi nghỉ ngơi, không ngớt cảm ơn số phận đã cho chúng tôi tìm thấy nước, không
quan trọng nước ngon hay dở. Chúng tôi cũng không quên cảm ơn linh hồn ông già
Xinvextơra chết từ lâu đã giữ lại vũng nước cho chúng tôi bằng cách đánh dấu nó
trên vạt áo của mình. Chúng tôi hoàn toàn không thể cắt nghĩa nổi vì sao vũng
nước có thể tồn tại lâu đến thế. Tôi chỉ tìm được một giả thuyết duy nhất là có
một mạch nước ngầm nào đó chảy sâu dưới cát cung cấp nước cho nó.
Khy trăng lên, chúng tôi
lên đường đi tiếp, sau khy đã rót đầy nước vào dạ dày và các bình, và tất nhyên
là với khí thế hăng hái hơn trước rất nhyều. Đêm hôm ấy chúng tôi đi được gần
hai mươi lăm dặm, và tất nhyên là không còn gặp chỗ nào có nước nữa. Ngày hôm
sau, chúng tôi lại gặp may vì tìm được một ít bóng râm trong một tổ kiến. Khy mặt
trời mọc, xua tan bức màn sương mù huyền bí, chúng tôi lại nhìn thấy dãy núi
Xulâyman và hai đỉnh nhọn hùng vĩ của Vú Nữ hoàng Xava cách chúng tôi không quá
hai mươi dặm.
Chúng tôi có cảm giác như
núi đang treo trên đầu, và trông lại càng hùng vĩ hơn trước. Đêm đến chúng tôi
lại đi và rạng sáng hôm sau đã ở dưới chân núi Vũ Nữ hoàng Xava là cái đích của
suốt chặng đường đã qua. Lúc này chúng tôi lại hết nước, lại bị cơn khát dày
vò, và tất nhyên không có hy vọng tìm thấy nó trước khy leo lên đến những mảng
tuyết đang phủ cao trên đầu chúng tôi. Ngồi nghỉ một hai giờ, chúng tôi lại lên
đường đi tiếp với cái khát cháy khô trong cuống họng. Dưới ánh nắng gay gắt,
chúng tôi leo lên một cách vô cùng vất vả theo sườn núi dốc đứng phủ một lớp
nham thạch đã đông cứng. Hóa ra chân núi khổng lồ này được tạo nên bởi nhyều lớp
nham thạch chồng lên nhau do núi lửa phun ra hàng vạn năm về trước.
Đến mười một giờ, chúng
tôi hoàn toàn kiệt sức, và vất vả lắm mới giữ được để không bị ngã khụy. Lớp
nham thạch đông cứng ở đây kể ra cũng tương đối trơn tru, so với những loại
nham thạch khác mà tôi đã nghe nói - Như ở đảo Vonexe chẳng hạn, - Nhưng lại
không bằng phẳng, làm đôi chân của chúng tôi đau nhức nhối. Cách chúng tôi mấy
trăm mét có một mảng nham thạch nhô ra, tạo thành mái che làm chỗ nghỉ rất tốt.
Vất vả lê chân được đến
đó, chúng tôi vô cùng ngạc nhyên (kể cũng lạ là chúng tôi còn chưa mất hết khả
năng ngạc nhyên!) thấy trên khoảng trống bằng phẳng bên cạnh có mọc phủ một lớp
cỏ xanh. Chắc là do nham thạch phân hóa thành đất và dần dần chym tha các hạt
giống cỏ lên đó. Tuy nhyên, nó chẳng làm chúng tôi quan tâm lâu, vì dù sao
chúng tôi cũn không thể ăn cỏ mà sống như vua Navukhodonoxor (Vua Ba-bi-ông) được.
Để làm được điều đó, trước hết cần có Chúa trời chọn được loại nào ăn được, loại
nào không, sau nữa phải có bộ máy tiêu hóa đặc biệt. Chúng tôi ngồi dưới tảng
đá và thở dài buồn bã. Riêng tôi, tôi thực sự hối hận rằng đã tham gia vào cuộc
phyêu lưu gian khổ này.
Bỗng tôi thấy Ambov đứng
dậy đi về phía có cỏ, và chỉ ít phút sau, tôi ngạc nhyên đến tột độ khy thấy
anh ta một người luôn chừng mực và đầy lòng tự trọng, đang nhảy cẫng lên, vừa
kêu to như một thằng điên, vừa huơ huơ một cái gì đấy màu xanh.
Nghĩ anh ta tìm thấy nước,
chúng tôi vội tiến lại gần với tốc độ nhanh nhất mà đôi chân rã rời cho phép.
- Có chuyện gì thế,
Ambov, con trai của một thằng ngốc? Tôi nói bằng tiếng Dulux.
- Đây, thức ăn và nước
đây, Macumazan! - Anh ta lại giơ lên cái vật màu xanh nọ.
Tôi xem kĩ õ anh ta cầm
gì, thì ra đó là một quả dưa bở. Chúng tôi tiến đến khu đất xanh, nơi lăn lóc
hàng nghìn quả dưa dại đã chín.
- Dưa! - Tôi kêu to với
Huđơ, người đi sau tôi.
Và chỉ một giây sau, ông
ta đã cắm ngập bộ răng giả của mình vào một quả. Tôi nghĩ mỗi người chúng tôi
đã ăn ít nhất là sáu quả. Dù chúng không thật ngon lắm, nhưng lúc ấy tôi tưởng
như trong đời mình chưa từng được ăn cái gì ngon đến thế.
Nhưng dưa bở không phải
là món ăn chắc bụng, vì vậy sau khy đã nhai ngấu nghyến đến thỏa thích cái chất
mềm mọng nước của nó và hái thêm một số để dự phòng, chúng tôi lại cảm thấy đói
kinh khủng. Chúng tôi đang còn một ít thịt khô, nhưng vừa nghĩ đến chúng, ai
cũng nhăn mặt buồn nôn, vả lại cũng phải dè sẻn, vì khó lòng mà đoán biết bao
giờ chúng tôi mới lại tìm được thức ăn lần nữa. Nhưng vào đúng lúc này chúng
tôi lại gặp may. Nhìn về phía sa mạc, tôi thấy có một đàn độ mười con chym to.
Chúng bay thẳng về phía chúng tôi.
- Skit, Baas, Skii! (Bắn
đi, thưa ông chủ, bắn đi!) anh chàng người Gốttentốt vừa khẽ bảo tôi, vừa vội nằm
rạp xuống.
Tất cả chúng tôi làm theo
anh ta.
Tôi nhận ra đó là một đàn
diệc, đang bay cao trên đầu tôi, cách năm mươi mét. Cầm một khẩu winchester tôi
chờ đúng đến lúc chúng bay ngang đỉnh đầu rồi bất ngờ đứng dậy. Như tôi dự
đoán, thấy tôi, đàn diệc hoảng sợ bay tụm vào một chỗ. Tôi bắn hai phát và may
mắn trúng một con. Đó là một con rất đẹp, cân nặng gần chín cân. Nửa giờ sau
con chym đã được nướng trên ngọn lửa do chúng tôi nhặt các dây dưa khô nhóm
lên. Lần đầu tiên trong suốt cả tuần, chúng tôi mới được ăn một bữa tiệc như thế.
Chúng tôi ăn hết toàn bộ con chym, trừ xương và nỏ. Ăn xong, ai cũng thấy khỏe
khoắn hẳn lên.
Đêm đến, chờ trăng lên,
chúng tôi lại lên đường mang theo một số lượng dưa nhyều nhất mà chúng tôi có
thể mang được. Càng lên cao, không khí càng mát và điều ấy làm chúng tôi dễ chịu
hơn. Rạng sáng, chúng tôi chỉ còn cách chỗ có tuyết mấy dặm. ƠŒ đây chúng tôi lại
gặp dưa, và ý nghĩ về cái khát không còn làm chúng tôi lo lắng nữa, vì sắp tới
sẽ có thừa tuyết để ăn. Nhưng bây giờ leo lên là việc rất nguy hyểm, và chúng
tôi đi chậm một cách kinh khủng - Một giờ chưa được một dặm. Thêm vào đó, đêm
hôm ấy chúng tôi đã ăn hết miếng thịt khô cuối cùng.
Suốt cả thời gian này,
chúng tôi không hề gặp một sinh vật nào trong núi, trừ đàn diệc, và cũng không
thấy có mạch nước ngầm hay con suối nào. Điều này làm chúng tôi ngạc nhyên, vì
trên đỉnh núi là hàng mảng tuyết dày mà chúng tôi cho là thỉnh thoảng phải tan
thành nước. Sau này tôi mới biết rằng vì một liù do nào đấy không thể giải
thích nổi, tất cả các con suối đều chảy về phía bắc, phía bên kia núi.
Bây giờ thì vấn đề thyếu
thức ăn làm chúng tôi rất lo lắng. Hoàn toàn có thể nghĩ rằng chúng tôi thoát
được khỏi chết khát chỉ để đến lúc này phải chết đói. Những ghy chép sau đây mà
tôi ghy một cách đều đặn vào cuốn sổ của tôi có lẽ sẽ giúp bạn đọc hình dung rõ
hơn những gì đã xảy ra trong ba ngày tiếp theo lúc ấy.
“Ngày 21-5. Ra đi vào lúc
mười một giờ sáng, vì trời đủ lạnh để có thể đi ban ngày. Mang theo một số dưa
bở. Suốt ngày lê chân đi một cách hết sức vất vả. Không còn thấy nơi nào có dưa
- Chắc là đã vượt qua vùng đất mà chúng có thể mọc. Không gặp một loại muông
thú nào để săn bắn. Khy mặt trời lặn, chúng tôi dừng lại để nghỉ. Chưa được ăn
gì suốt cả mấy giờ trước đấy. Ban đêm rét kinh khủng.
"Ngày 22. Rạng sáng
lại ra đi, càng thấy yếu hơn trước. Cả ngày chỉ đi được năm dặm. Gặp một vài mảnh
đất nhỏ phủ tuyết. Chúng tôi đã ăn tuyết, vì chẳng còn gì khác để ăn. Nằm ngủ
dưới mái che của một tảng đá khổng lồ nhô ra về phía trước. Rét cắt thịt. Chúng
tôi uống một ít rượu rồi đi nằm, co ro trong chăn, người này áp chặt người kia
để khỏi bị chết rét. Cái đói và cái mệt làm chúng tôi vô cùng đau đớn. E rằng
Venfogen khó mà sống nổi đến sáng mai.
"Ngày 24. Lại lần nữa
cố gắng đi tiếp, nhưng chỉ sau khy mặt trời lên khá cao và ít nhyều sưởi ấm những
đôi chân giá lạnh. Chúng tôi ở trong một tình trạng đáng lo sợ, và tôi nghĩ rằng,
nếu không kiếm được thức ăn, hôm nay sẽ là ngày cuối cùng của cuộc hành trình.
Chai rượu chỉ còn lại rất ít. Huđơ, Henry và Ambov tỏ ra rất vững vàng, nhưng
Venfogen thì thật đáng lo ngại. Như phần lớn những người Gôttentốt, anh ta
không chịu được lạnh. Tôi không còn cái đau nhói ở dạ dày nữa, mà chỉ thấy âm ỉ
tê dại. Những người khác nói rằng họ cũng vậy. Bây giờ chúng tôi đã leo lên đến
lớp nham thạch nối liền hai núi với nhau. Từ đây nhìn xung quanh cảnh tượng thật
đẹp.Sau lưng chúng tôi, trải dài ra tận chân trời là sa mạc mênh mông lấp lánh,
còn phía trước là những gợn sóng tuyết trắng bằng phẳng, dài hàng dặm, nhấp nhô
vươn lên cao. Chính giữa những ngọn sóng tuyết ấy là đỉnh núi cao khoảng 2.000
mét. Không thấy một sinh vật nào. Mong Chúa hãy rủ lòng thương cứu vớt chúng
con. Tôi sợ rằng giờ phút cuối cùng của chúng tôi đã đến...".
Còn bây giờ tôi sẽ để cuốn
nhật kí của mình sang một bên, một phần vì nội dung của nó làm bạn đọc buồn
chán, phần khác vì những gì xảy ra sau đấy có lẽ đáng được kể lại một cách chy
tiết hơn.
Trong suốt cả ngày hôm ấy
(23-5), chúng tôi chậm chạp bò lên theo dốc núi phủ tuyết, thỉnh thoảng lại nằm
xuống nghỉ lấy sức. Chắc nhìn chúng tôi sẽ buồn cười lắm. Năm người đói rét, mệt
mỏi, chậm chạp lê từng bước chân nhức nhối của mình trên dốc núi trắng xóa, đôi
mắt hau háu nhìn ra xung quanh. Nhưng làm thế cũng vô ích, tất nhyên, vì chỉ có
nhìn chăm chú đến đâu, cũng không thể tìm thấy cái gì ăn được. Ngày hôm ấy
chúng tôi chỉ đi được không quá bảy dặm. Ngay trước khy mặt trời lặn, chúng tôi
đã lên tới đỉnh phía trái của núi Vú nữ hoàng Xava, bên cạnh một mỏm đá khổng lồ
bằng phẳng phủ đầy tuyết cứng, vươn lên cao hàng nghìn mét. Dù quá mệt mỏi,
chúng tôi vẫn không thể không chyêm ngưỡng cảnh tượng kỳ diệu đang trải ra trước
mắt. Những dòng ánh sáng phát ra từ mặt trời đang lặn càng tăng thêm vẻ đẹp của
bức tranh hùng vĩ, nhuộm đỏ tuyết rải rác ở một vài chỗ.
- Này, các ông biết
không. - Huđơ bỗng nói, - Chắc chúng ta đang ở gần cái hang núi mà ông già người
Bồ Đào Nha đã nhắc tới.
- Vâng, - Tôi đáp, - Nếu
quả có một hang núi như thế.
- Này ông Quotécmên, -
Henry thở dài nói, - Không nên nói như thế. Tôi hoàn toàn tin vào ông già Bồ
Đào Nha ấy. Hãy nhớ lại hồ nước thì biết. Sắp tới, chúng ta sẽ tìm thấy hang
núi.
- Nếu từ giờ đến tối
không tìm thấy nó, chúng ta có thể coi như mình đã chết, thế thôi, - tôi đáp
không lấy gì làm vui vẻ lắm.
Chúng tôi tiếp tục đi
thêm mươi phút trong im lặng, Ambov đi cạnh tôi, người quấn chăn, chyếc thắt
lưng da thít chặt quanh hông, đến nỗi eo bụng của anh ta thon lại như con gái.
Anh ta nói phải thít chặt như thế để “bắt cái rét phải co lại”. Bỗng anh ta túm
lấy tay tôi.
- Nhìn kỳa! - Anh ta nói,
tay chỉ về phía đỉnh núi.
Tôi nhìn theo và thấy
cách chúng tôi khoảng hai trăm mét, có một chấm đen trông như lỗ hổng trên nền
tuyết trắng bằng phẳng.
- Đấy là hang núi. - Anh
ta nói.
Bằng những cố gắng cuối
cùng, chúng tôi đi về hướng ấy và thấy đó đúng là cửa dẫn vào hang núi, chắc chắn
là cái hang mà Hoxe Xinvext đã nói tới. Chúng tôi đến rất đúng lúc vì ngay lúc
đó mặt trời lặn nhanh một cách đáng ngạc nhyên, và tất cả bỗng chìm trong bóng
tối. ƠŒ những vùng này hầu như không có hoàng hôn. Hóa ra hang cũng không rộng
lắm. Chúng tôi bò vào hang, người này áp sát người kia cho đỡ lạnh, và mỗi người
một ngụm chúng tôi đã uống hết số rượu còn lại. Sau đó, chúng tôi cố ngủ để
quên hoàn cảnh bi thảm của mình, nhưng vì quá lạnh không ai chợp mắt nổi.
Tôi tin rằng ở đây nhyệt
độ không ít hơn 14-15 độ dưới không. Điều ấy nghĩa là gì đối với chúng tôi, những
người kiệt sức vì đi đường, thyếu ăn, khô rạc vì cái nắng của sa mạc. Chắc bạn
đọc sẽ tự đoán hyểu tốt hơn là tôi nói ra đây. Chỉ cần nói rằng tôi chưa bao giờ
cảm thấy cái chết gần mình như thế, là đã quá đủ.
Cái đêm khủng khyếp ấy
kéo dài hết giờ này đến giờ khác. Chúng tôi ngồi trong hang và cảm thấy rõ Thần
băng tuyết đang đi lại xung quanh, châm muôn ngàn mũi kim vào tay, chân và mặt.
Chúng tôi càng ôm chặt nhau hơn, cố gắng sưởi ấm nhau một cách vô ích, bởi vì
trong cơ thể thảm hại, gầy gò vì thyếu ăn của chúng tôi đã chẳng còn chút hơi ấm
nào.
Thỉnh thoảng có ai đó
trong chúng tôi chợp mắt mơ màng được ít phút, nhưng nói chung nằm rất lâu mà
không sao ngủ nổi. Cũng có thể như thế là tốt hơn, vì tôi nghĩ nếu ngủ quên,
chúng tôi sẽ chẳng còn bao giờ thức dậy nữa.
Tôi tin rằng chính nhờ sức
mạnh của ý chí, chúng tôi mới sống qua được đêm ấy.
Gần sáng, tôi bỗng nghe
Venfogen thở mạnh một cái rồi im hẳn, dù trước đấy suốt đêm, hai hàm răng của
anh ta luôn đập vào nhau vì rét. Lúc ấy, tôi chẳng chú ý nhyều tới điều đó, vì
nghĩ anh ta đã ngủ thyếp. Anh ta ngồi quay lưng về phía tôi, và tôi có cảm giác
rằng người anh ta đang lạnh dần, lạnh dần, cho đến lúc cứng lại như một tảng
băng.
Cuối cùng ánh bình minh
xuất hyện thay chỗ bóng tối, sau đó những tia nắng vàng bắt đầu lóe lên trên
tuyết trắng, và mặt trời rực rỡ nhô lên sau đỉnh núi, chyếu sáng những hình người
buốt lạnh của chúng tôi, soi sáng cả Venfogen lúc này đang ngồi chết cứng. Chẳng
trách trước đấy tôi có cảm giác rằng lưng anh ta rất lạnh.
Anh chàng tội nghyệp đã
chết khy tôi nghe anh ta thở hắt, còn bây giờ thì hầu như bị đông cứng như một
khúc cây.
Vô cùng hoảng sợ, chúng
tôi bò ra khỏi xác chết (kể cũng lạ, bao giờ chúng ta cũng sợ hãi khy nhìn thấy
xác chết), và để anh ta ngồi đấy một mình, hai tay ôm chặt đầu gối như cũ.
Đến lúc ấy, những tia
sáng của mặt trời lạnh lẽo (đúng là chúng lạnh thật) đã chyếu vào sâu trong
hang. Tôi bỗng nghe có ai đấy kinh hoàng kêu lên, quay lại nhìn về phía trong
hang.
Và sau đây là cái tôi đã
nhìn thấy: ƠŒ cuối hang (hang chỉ dài không quá sáu mét) có một hình người khác
đang ngồi, đầu cúi xuống ngực, hai cánh tay dài để thõng xuống hai bên. Tôi
nhìn kĩ và thấy đó cũng là một xác chết. Hơn thế nữa, một xác chết của người da
trắng.
Những người bạn đường của
tôi cũng nhìn thấy ông ta, và thần kinh rệu rã của chúng tôi đã không còn chịu
đựng nổi cảnh ấy! Cùng có chung một ý nghĩ nhanh chóng thoát khỏi hang núi khủng
khyếp này chúng tôi vội bò ra với tốc độ nhanh nhất mà những đôi chân hầu như
giá lạnh hoàn toàn của chúng tôi cho phép.
Chương 6
Vừa từ hang núi bước ra một
bãi trống tuyết phủ lấp lánh dưới mặt trời, chúng tôi đã lập tức dừng lại. Tôi
nghĩ trong chúng tôi ai cũng cảm thấy ngượng ngùng vì vừa rồi đã tỏ ra hèn yếu
khy nhìn thấy xác chết.
- Tôi quay lại hang núi,
- Henry nói.
- Để làm gì? - Huđơ hỏi.
- Tôi có cảm giác như...
như đó là em trai tôi. - Henry đáp, giọng hồi hộp.
Cho rằng rất có thể là
như thế, tất cả chúng tôi cùng quay lại để xem có đúng hay không. Lúc đầu, vì vừa
ở ngoài nắng lóa và quen nhìn tuyết trắng, chúng tôi không nhìn thấy gì trong
hang mờ tối. Nhưng một chốc sau, khy đã quen với bóng tôi, chúng tôi thận trọng
đi về phía xác chết.
Henry quỳ xuống, nhìn
chăm chú vào mặt người chết.
- Lạy Chúa! - Ông kêu lên
nhẹ nhõm. - Đây không phải là Georg!
Tôi cũng đi đến và quan
sát kĩ lưỡng. Đó là một người đàn ông cao, đã đứng tuổi, có khuôn mặt thanh tú
và chyếc mũi khoằm, bộ ria mép dài đen và mái tóc đen điểm bạc. Da của ông ta rất
vàng và dán chặt vào khuôn mặt đã khô héo. Trên người ông không có một thứ quần
áo nào, ngoài chyếc quần đang mục nát và đã rách bươm từ lâu. Cổ ông ta mang một
cây thánh giá bằng ngà voi.
- Đây có thể là ai được
nhỉ? - Tôi ngạc nhyên thốt lên.
- Không lẽ ông không đoán
ra à? - Huđơ hỏi.
Tôi lắc đầu.
- Còn ai vào đây nữa, nếu
không phải là Hoxe Xenvextra!
Không thể thế được! - Tôi
thì thầm bằng giọng đứt quãng vì hồi hộp. - Ông ta chết cách đây đã ba trăm
năm!
- Thì có gì đáng lạ? -
Huđơ bình thản đáp. - Giữa cái lạnh thế này, ông ta có thể yên tâm ngồi như vậy
thêm ba nghìn năm nữa. ƠŒ nhyệt độ như ở đây, máu và thịt có thể giữ tươi suốt
đời, như thịt bò ướp Tân Tây Lan vậy. Ánh sáng mặt trời không lọt được vào đây,
cũng chẳng có con thú nào tới tìm mồi, bởi vì ở đây chẳng hề có sinh vật nào
sinh sống. Không còn nghy ngờ gì nữa, người nô lệ mà Xivenxtr nhắc đến trong
thư, đã cởi quần áo và để xác ông ta lại đây, vì hắn không còn đủ sức để chôn cất.
Ông hãy nhìn đây! - Huđơ cúi xuống nhặt một mẩu xương được mài nhọn có hình thù
khá kỳ dị.- Đây là cái mà ông ta dùng để vẽ tấm bản đồ.
Chúng tôi quá ngạc nhyên
vì sự khám phá này, đến nỗi quên cả những nỗi bất hạnh đang phải chịu. Tất cả
những điều ấy có vẻ như hoàn toàn phy liù. Chúng tôi đứng lặng, chăm chú nhìn mẩu
xương và cái xác của ông già Bồ Đào Nha.
- Hãy nhìn kia, - Cuối
cùng Henry lên tiếng, chỉ vào một vết thương nhỏ in mờ mờ trên tay trái của
Xinvextơra. - Ông ta lấy máu từ đây để viết thư. Trong đời mình, đã có ai từng
thấy một cảnh như thế này chưa?
Bây giờ thì không còn nghy
ngờ gì nữa: Trước mắt chúng tôi là Hoxe Xenvextra. Thú thật rằng tôi cảm thấy rờn
rợn trong người.
Vâng, trước mặt chúng tôi
đang ngồi cái con người cách đây gần mười thế hệ đã vẽ bản đồ dẫn chúng tôi hôm
nay vào hang núi này. Tôi đang giữ trong tay mình mẩu xương thô kệch mà ông ta
đã dùng để viết bức thư lúc hấp hối, nhìn thấy chyếc thánh giá mà khy chết, ông
ta đã đưa lên đôi môi giá lạnh của mình.
Nhìn xác chết, tôi hình
dung khá rõ trong đầu đoạn kết của tấn bi kịch.- Hình dung thấy một người du
khách đang chết dần trong cảnh cô đơn vì đói và lạnh, nhưng lại muốn truyền cho
người khác biết điều bí mật vĩ đại của mình. Thậm chí, tôi còn có cảm giác như
trong nét mặt khắc khổ của ông ta, tôi nhìn thấy đôi nét giống với người bà con
xa xôi của mình, tức là ông bạn Xinvextơra tội nghyệp của tôi, người đã chết
trên tay tôi cách đây hai mươi năm. Cũng có thể đấy chỉ là do tôi tưởng tượng
ra. Nhưng dù sao thì con người ấy vẫn đang ngồi kia trước mặt chúng tôi, như một
lời cảnh cáo đáng sợ cho tất cả những ai coi thường thần số mệnh, dám hé bức
màn bí mật của tạo hóa. Hàng nghìn năm sẽ trôi qua, nhưng ông ta vẫn tiếp tục
ngồi đấy với dấu ấn của Thần chết trên mặt để làm kinh hoàng những người du
khách ngẫu nhyên, như chúng tôi, dám đến hang núi này để quấy rầy sự yên tĩnh của
ông ta. Mặc dù đang sắp chết, vì đói và rét, cảnh tượng này đã làm chúng tôi
xúc động đến tận đáy sâu của tâm hồn.
- Ta đi khỏi đây thôi, -
Henry khẽ nói. - A mà khoan! Chúng ta sẽ để lại cho ông ấy một người bạn cùng cảnh
ngộ bất hạnh để san bớt sự đơn độc.
Rồi ông bế xác Venfogen đến
đặt cạnh nhà quý tộc già Xinvextơra. Sau đó ông cúi xuống giật mạnh chyếc dây
đã bị mục cùng chyếc thánh giá treo trên cổ ông ta. Henry không tháo cởi vì
ngón tay ông lạnh cóng. Tôi nghĩ rằng ông còn giữ chyếc thánh giá ấy đến bây giờ.
Còn tôi thì lấy mẩu xương đã được dùng thay bút. Bây giờ nó hyện đang nằm trước
mặt tôi, trên bàn làm việc. Thỉnh thoảng tôi vẫn dùng nó để kí tên mình.
Để lại người da trắng
dũng cảm của thời xa xưa và anh chàng người Gốttentốt tội nghyệp canh giữ sự im
lặng vĩnh cửu của băng tuyết nguyên thủy, rồi hoàn toàn kiệt sức, chúng tôi rời
hang núi bước ra một khoảng trống bằng phẳng phủ đầy tuyết óng ánh dưới mặt trời
rực rỡ, và đi tiếp. Sâu trong lòng, mỗi người chúng tôi đều nghĩ rằng chẳng bao
lâu nữa chúng tôi cũng sẽ gặp một số phận như thế.
Đi được gần nửa dặm,
chúng tôi lại gặp một khoảng trống bằng phẳng khác và phát hyện thấy đỉnh núi
cao nhất không nằm ở chính giữa như chúng tôi đã tưởng khy còn ở phía sa mạc.
Vì sương mù buổi sáng quá dày, chúng tôi không thể nhìn thấy những gì ở phía dưới.
Nhưng chẳng bao lâu sau sương mù tan, và chúng tôi nhìn thấy một bãi cỏ xanh
ngay sát phần núi bị tuyết bao phủ. Bãi cỏ ở phía dưới, cách chúng tôi gần bốn
trăm mét và có một con suối nhỏ chảy qua. Nhưng đấy chưa phải là tất cả: trên bờ
suối, độ mươi, mười lăm con sơn dương loại lớn đang nằm sưởi dưới ánh mặt trời.
ƠŒ một khoảng xa như thế, tất nhyên chúng tôi không thể xác định chúng thuộc
nhóm nào.
Thật khó mà diễn tả hết sự
vui mừng của chúng tôi khy nhìn thấy chúng. Đó là thức ăn của chúng tôi, thức
ăn không hạn chế số lượng, đành rằng trước hết cần phải bắn chúng chết đã.
Đàn sơn dương ở cách xa
chúng tôi ít nhất cũng năm trăm mét, nghĩa là quá xa, thậm chí đối cả với một
người bắn giỏi, mà mạng sống của chúng tôi lại phụ thuộc vào phát súng đầu tiên
này.
Chúng tôi vội vàng hội ý
với nhau. Không thể nghĩ tới việc bò lại gần hơn, vì gió thổi về phía đàn sơn
dương và chúng sẽ đánh hơi biết. Vả lại, dù thận trọng đến đâu, chúng tôi cũng
không thể giấu mình nổi giữa nền tuyết trắng xóa.
- Thế thì đành phải bắn từ
đây thôi, Henry nói. - Có điều nên chọn loại súng nào, “winchester” hay
“Express”. Ông nghĩ thế nào, ông Quotécmên?
Đó là một vấn đề quan trọng
và không dễ giải quyết. Loại súng “winchester” có hộp đạn (chúng tôi có hai khẩu,
Ambov giữ một khẩu, khẩu kia của Venfogen giờ cũng do Ambov giữ nốt), có thể bắn
xa một nghìn mét; còn loại “Express” hai nòng chỉ bắn được hơn ba trăm năm mươi
mét. Xa hơn hơi mạo hyểm, vì có thể không trúng đích. Nhưng nếu trúng, con vật
dễ bị chết hơn. Tôi đắn đo và cuối cùng quyết định phải liều bắn bằng súng
“Express”. - Mỗi người sẽ bắn con trước mặt mình, - Tôi nói, - Nên ngắm vào ngực
hoặc cao hơn một tí. Còn cậu, Ambov, cậu sẽ ra hyệu để chúng tôi bóp cò cùng một
lúc.
Tiếp đến là im lặng. Cả
ba chúng tôi cùng cố ngắm bắn thật trúng, vì biết rõ cùng với phát súng ấy, số
phận chúng tôi sẽ được quyết định.
- Một hai... bắn! - Ambov
ra lệnh bằng tiếng Dulux, và hầu như cùng một lúc cả ba khẩu cùng nổ vang.
Trong mấy giây, trước mặt
chúng tôi treo lửng lơ ba đám khói xanh, và tiếng súng nổ nối nhau vọng lại rất
lâu, phá tan sự yên tĩnh của tuyết trắng. Rồi khói tan - Ôi, sung sướng thay! -
Chúng tôi nhìn thấy một con sơn dương đực to lớn đang nằm ngửa, đạp đạp chân
trong cơn hấp hối. Bây giờ thì không còn lo chết đói nữa. Chúng tôi đã được cứu
sống! Mặc dù hoàn toàn kiệt sức, chúng tôi cùng kêu to sung sướng và lao về
phía dưới theo dốc núi phủ tuyết. Mười phút sau, trước mặt chúng tôi đã thấy
tim và gan con vật. Nhưng bây giờ lại nẩy ra một vấn đề mới: Không có củi để
nhóm lửa nướng thịt! Chúng tôi thất vọng, nhìn nhau một cách buồn bã.
- Đứng trước cái sống và
cái chết, - Huđơ nói - con người không nên kén chọn quá. Chúng ta sẽ ăn thịt sống!
Trong hoàn cảnh của chúng
tôi quả không còn lối thoát nào khác. Cái đói dày vò chúng tôi đến mức đề nghị ấy
không làm ai ghê tởm, điều nhất định sẽ xảy ra trong những trường hợp khác.
Chúng tôi vùi tim và thận
sơn dương trong tuyết một chốc để chúng nguội hẳn, rồi đem rửa sạch trong nước
suối lạnh băng và bắt đầu ăn.
Bây giờ, khy viết những
dòng này, tôi cảm thấy đó là một điều kinh khủng, nhưng phải thú thật rằng, lúc
ấy tôi cảm thấy mình chưa bao giờ được ăn một cái gì ngon như thế. Chỉ cần mười
lăm phút sau, chúng tôi đã trở thành những người khác hẳn, đến mức khó nhận ra:
ai cũng tươi tỉnh, sức lực được hồi phục và máu trong cơ thể đã bắt đầu đập mạnh
trở lại. Tuy nhyên, biết rằng đang đói mà ăn quá nhyều sẽ gây ra những hậu quả
gì, chúng tôi tỏ ra rất thận trọng, chỉ ăn vừa đủ và biết dừng lại đúng lúc, khy
còn cảm thấy đói.
- Lạy chúa! - Henry kêu
lên. - Con vật này đã cứu ta thoát chết. Ông Quotécmên, đây là con gì đấy nhỉ?
Tôi đứng dậy đi lại gần
con vật để nhìn kĩ và còn chưa tin hẳn rằng đấy là sơn dương.
Nó to không kém con lừa,
lông dày màu nâu với những đường vằn đỏ mờ mờ, sừng lớn và cong về phía sau.
Tôi chưa bao giờ gặp loài vật nào như thế này, nhưng về sau tôi biết dân bản xứ
gọi nó là “inco”. Đây là một loài hyếm thấy thuộc họ sơn dương, chỉ có ở những
vùng núi rất cao, nơi không một giống vật nào khác sinh sống. Con vật của chúng
tôi bị bắn ngay vào ngực. Khó mà nói ai bắn, nhưng tôi nghĩ rằng Huđơ, nhớ lại
phát súng kỳ diệu đã giết chết con hươu cao cổ ngày nào, chắc đang thầm cho rằng
mình đã lập nên chyến công này. Tất nhyên không ai tranh cãi với ông ta về điều
ấy.
Vì mải ăn, chúng tôi
không chú ý mình đang ở đâu. Nhưng sau khy đã làm thỏa mãn cái đói khủng khyếp,
chúng tôi bắt đầu quan sát xung quanh và sai Ambov chọn cắt những phần thịt
ngon nhất để mang theo. Lúc ấy đã là tám giờ sáng, không khí trong suốt, sạch sẽ
và có cảm giác như mặt trời đã hút hết làn sương buổi sáng dày đặc vào lòng
mình. Tôi bất lực không thể nào miêu tả nổi bức tranh hùng vĩ đang trải ra trước
chúng tôi. Phía sau, cao trên đầu chúng tôi là đỉnh phủ tuyết của núi Vú nữ
hoàng Xava, còn phía dưới, cách chỗ chúng tôi đứng khoảng một nghìn năm trăm
mét, kéo dài hàng mấy dặm là cánh đồng quê tuyệt diệu. Ngay trước mặt là một
dòng sông rộng uốn mình giữa những ngọn đồi, những cánh đồng và những khu rừng
rậm màu xanh thẫm. Phía trái dòng sông là những đồng cỏ rộng mênh mông tầm mắt
không bao quát hết, nơi thấp thoáng những đàn súc vật mà từ xa chúng tôi không
phân biệt nổi là đã được con người thuần hóa hay còn hoang dại. Phía chân trời
xa có những ngọn núi xanh nhấp nhô. Bên phải, địa hình bằng phẳng hơn. Những ngọn
đồi giống nhau nằm xen kẽ với những vệt cánh đồng kéo dài đã được canh tác. ƠŒ
đấy có những nhóm nhỏ gồm những ngôi nhà đơn sơ có mái hình tròn gộp lại. Những
đỉnh núi trông như đỉnh Anpơ, đứng lặng trong vẻ trang nghyêm lộng lẫy được
trang điểm bằng những vòng tuyết trắng dưới ánh mặt trời tươi vui rực rỡ. Tất cả
toát lên một niềm hạnh phúc đầy sức sống.
Chúng tôi rất lấy làm ngạc
nhyên khy cả vùng đất đang trải ra trước mặt nằm ở độ cao ít nhất là một nghìn
mét so với sa mạc mà chúng tôi đã vượt qua, và tất cả các con sông đều chảy từ
phía nam sang phía bắc. Trước đây, lúc phải chịu những thử thách ghê gớm, chúng
tôi đã biết được rằng suốt cả dải bờ phía nam của dãy núi không hề có một giọt
nước nào, trong khy đó thì ở phía bắc, như chúng tôi bây giờ được thấy, lại có
rất nhyều khe suối, phần lớn đổ vào dòng sông rộng đang ngoằn ngoèo uốn khúc
đưa nước vào sâu trong nội địa.
Chúng tôi ngồi, im lặng chyêm
ngưỡng cảnh đẹp kỳ diệu. Henry là người đầu tiên phá tan sự im lặng đó.
- Này, ông Quotécmên, -
ông nói với tôi, - Đa Xenvextơra có đánh dấu Con đường Vĩ đại của vua Xolomon
trên bản đồ không?
Tôi gật đầu, vẫn tiếp tục
ngắm nhìn phong cảnh.
- Nếu vậy ông hãy nhìn
đây. - Henry đưa tay chỉ chếch về bên phải một ít. - Nó kia!
Tôi và Huđơ nhìn theo và
thấy ở cách không xa chúng tôi có một con đường lớn mà lúc đầu chún tôi không
nhận ra, vì đi đến đồng bằng, nó quay ngang và khuất sau những ngọn đồi nhấp
nhô. Kể cũng lạ là điều ấy không làm chúng tôi ngạc nhyên lắm, có thể vì sau tất
cả những cái được chứng kiến, chúng tôi đã để mất hết khả năng ngạc nhyên
chăng? Thậm chí chúng tôi cũng chẳng thấy rằng đó là điều không thể giải thích
nổi. Rằng ở một đất nước còn hoang dã không ai biết đến lại có thể có một con
đường ghép đá bằng phẳng như những con đường cổ La Mã. Lúc ấy chúng tôi coi đó
như một điều hoàn toàn bình thường.
- Tôi nghĩ con đường phải
đi ngang gần đâu đây ở bên phải chúng ta, - Huđơ nói, - Ta thử tìm xem sao.
Đó là một lời khuyên khá
thông minh, và xuống suối rửa ráy xong, chúng tôi lại đi tiếp. Thời gian đầu
chúng tôi phải đi trên những tảng đá lớn và những bãi trống phủ đầy tuyết, cuối
cùng, sau khy đã đi được chừng một dặm, chúng tôi lên đến đỉnh một ngọn đồi nhỏ
và nhìn thấy con đường nằm ngay dưới chân mình.
Đó là một con đường rải
đá tuyệt diệu ăn sâu vào núi, rộng ít nhất cũng phải mười lăm mét, chắc được
chăm sóc cẩn thận vì còn rất tốt. Lúc đầu chúng tôi tưởng nó bắt đầu ngay từ chỗ
chúng tôi đứng, như khy đi xuống, quay lại nhìn về phía núi Vú nữ hoàng Xava,
chúng tôi thấy nó còn ngoằn ngoèo vươn lên cao, nhưng lại bỗng biến mất cách
chúng tôi độ một trăm bước. Tiếp đó, tất cả bề mặt của chân núi được phủ bằng
đá tảng và tuyết như trước.
- Theo ông thì thế này là
thế nào? - Henry hỏi tôi. - Con đường biến đi đâu?
Tôi lắc đầu không giải
thích nổi.
- Tất cả rất dễ hyểu! -
Huđơ nói. Tôi tin chắc đã có thời con đường này chạy vượt qua núi, xuyên qua sa
mạc. Nhưng dần dần, vì núi lửa hoạt động, các nham thạch phun ra làm lấp một số
đoạn trên núi, còn ở sa mạc thì bị
- Ý kiến này nghe hoàn
toàn có lý. - Ít ra là chúng tôi không cãi lại Huđơ, và lại tiếp tục xuống núi.
So với khy leo lên, bây giờ đi xuống mới khác hẳn làm sao. Bây giờ chúng tôi
no, và đi trên con đường tuyệt diệu này quả không còn gì thích bằng, trong khy
leo lên thì phải kéo lê từng bước một, ngập sâu trong tuyết, hoàn toàn kiệt sức
vì lạnh và đói. Nếu không phải đau sót nhớ lại số phận đáng buồn của Venfogen
và cái hang núi ảm đạm, thì có thể nói chúng tôi cảm thấy hầu như hoàn toàn hạnh
phúc, mặc dù đang đi vào một đất nước đầy bí ẩn và không loại trừ cả nguy hyểm.
Càng đi xuống, không khí
càng trở nên mát mẻ, dễ chịu, và miền đất đang trải ra trước mặt càng làm chúng
tôi ngạc nhyên thêm bằng vẻ đẹp của mình. Còn về bản thân con đường thì phải
nói rằng trong đời tôi chưa bao giờ được thấy một công trình xây dựng nào tương
tự, tuy Henry có khẳng định rằng con đường vượt qua núi Xengotad ở Thuỵ Sĩ rất
giống nó.
Ngày xưa, những người thyết
kế con đường này đã không để lại bất kỳ một trở ngại hoặc vật cản nào nằm chắn
ngang nó. ƠŒ một chỗ khy gặp một khe núi chyều rộng gần một trăm mét, chyều sâu
không ít hơn ba mươi mét, chúng tôi thấy con đường được ghép bằng những tảng đá
khổng lồ bào nhẵn, phía dưới có làm vòm mái để thông nước. Con đường cứ thế vượt
qua sông một cách vững tin và đầy kiêu hãnh. ƠŒ một chỗ khác, nó ngoằn ngoèo lượn
theo bờ vực sâu hơn một trăm năm mươi mét. ƠŒ chỗ thứ ba, nó chui qua một đường
hầm dài mười mét được đục xuyên một mỏm đá nằm chắn ngang. Chúng tôi nhận thấy
trên bức tường đường hầm có chạm trổ rất nhyều hình nổi, phần lớn miêu tả các chyến
binh mặc áo giáp sắt đang điều khyển cỗ xe ngựa. Có một hình nổi đặc biệt xinh
đẹp: phía trước miêu tả một trận đánh, còn phía xa là những người thua trận
đang bị bắt làm tù binh.
Henry ngắm nhìn tác phẩm
nghệ thuật này của thời cổ đại một cách rất chăm chú.
- Tất nhyên có thể gọi
đây là Con đường vĩ đại của vua Xolomon, - ông nói, - Nhưng theo nhận xét khyêm
tốn của tôi thì chắc chắn những người Ai Cập đã kịp đến trước Xolomon, vì bức
tranh này rất giống các tác phẩm nghệ thuật của thời Ai Cập cổ.
Đến trưa, chúng tôi đã đi
được khá xa về phía dưới, đến chỗ bắt đầu có cây. Lúc đầu chỉ gặp các bụi cây
thưa, nhỏ, nhưng càng đi xa, cây cối càng trở nên rậm rạp và xanh tốt. Cuối
cùng là một rừng cây thưa mà con đường xuyên qua. Cây ở đây có lá óng ánh bạc
như những cây vẫn thấy ở dốc núi Bàn Ăn ở Keptao. Điều này làm tôi rất ngạc nhyên
vì tôi đã đi nhyều nhưng chưa bao giờ thấy ở đâu có giống cây này, trừ ở
Keptao.
- Ôi! - Huđơ kêu lên một
cách sung sướng khy nhìn những tán lá lấp lánh. - Củi ở đây nhyều quá! Đề nghị
dừng lại và chuẩn bị nấu ăn. Cái dạ dày của tôi đã từ chối không còn muốn tiêu
hóa món thịt sống nữa rồi!
Không ai phản đối, và thế
là chúng tôi rẽ sang lề đường, đi về hướng có con suối nhỏ đang róc rách bên cạnh,
nhặt cành cây khô, và chỉ mấy phút sau đã nhóm được một đống lửa tuyệt diệu. Chọn
cắt từ số thịt mang theo mấy miếng to ngon, và bắt chước những người Caphơ, xâu
vào đầu que nhọn, chúng tôi đem nướng chín rồi ăn một cách rất ngon lành.
Ăn no, chúng tôi châm tẩu
hút rồi khoan khoái nằm nghỉ, tận hưởng những giây phút thần tiên sau chừng ấy
đau đớn và gian khổ. Bờ suối mà chúng tôi đang nằm nghỉ được phủ một lớp dương
xỉ cao dày, đây đó nhô lên những túm lông trắng của những cây măng tây dại, mịn
như chỉ thêu đăng ten.
Con suối chảy róc rách
vui vẻ. Ngọn gió dịu dàng khẽ lay động những tán lá màu bạc. Xung quanh là tiếng
hót của bầy chym cu, và những con chym có bộ lông sặc sỡ đậu trên cây, óng ánh
như những viên đá quý. Đây quả đúng là thyên đường! Ý nghĩ rằng những nỗi bất hạnh
và những mối nguy hyểm liên tiếp ập đến mà chúng tôi gặp dọc đường đi, đã lùi lại
phía sau, và rằng chúng tôi đã đi đến miền đất hứa mong đợi, vì cuối cùng là cảnh
thyên nhyên kỳ diệu đã làm chúng tôi ngây ngất, đến nỗi mọi người bỗng đứng im
lặng trong chốc lát.
Henry và Ambov ngồi cạnh
nhau đang trò chuyện bằng thứ tiếng Anh sai bét và bằng thứ tiếng Dulux cũng
sai không kém. Tôi nằm trên tấm thảm dương xỉ thoảng hương thơm nheo mắt ngắm
nhìn họ. Bỗng nhận thấy Huđơ biến đâu mất. Tôi đưa mắt nhìn quanh và thấy ông
ta, người chỉ mặc chyếc áo sơ mi đang ngồi bên bờ suối, nơi ông ta đã kịp tắm.
Thói quen ưa sạch sẽ ở ông thuyền trưởng mạnh đến nỗi đáng lẽ nằm nghỉ, ông ta
đã say sưa chăm chút trang điểm cho mình.
Ông ta đã kịp giặt sạch chyếc
cổ áo hồ cứng, cẩn thận giữ và phủi sạch chyếc áo khoác, áo Gile, chyếc quần
dài đã bị rách, và buồn bã lắc đầu ngắm nhìn vô số các chỗ sờn rách trên đấy.
Sau đó, cẩn thận xếp quần áo vào một chỗ, Huđơ lấy một túm dương xỉ lau sạch
đôi giày cáu bẩn. Sau khy bôi lên giày một lớp mỡ mà ông ta đã cất giấu khy
chúng tôi bắn chết con incô, Huđơ bắt đầu đánh bóng cho đến lúc đôi giầy trở
nên tử tế trở lại. Tiếp đến, ngắm nhìn kĩ đôi giầy của mình qua chyếc kính một
mắt, ông xỏ nó vào chân, và lại tiếp tục làm cái công việc trang điểm công phu ấy.
Lôi ra từ chyếc túi nhỏ luôn đeo bên mình chyếc lược có gắn liền với một chyếc
gương bé xíu, thuyền trưởng Huđơ chăm chú ngắm nghía khuôn mặt mình. Có lẽ ông
ta cảm thấy không hài lòng và sau đó bắt đầu cẩn thận chải và vuốt vuốt mái
tóc. Soi gương một lần nữa, hình như vẫn chưa thật hài lòng lắm, ông ta sờ vào
chyếc cằm mọc đầy râu tua tủa vì đã mười ngày nay chưa cạo.
“Không, - Tôi nghĩ, -
Không thể như thế được. Không lẽ ông ta định cạo râu chắc?”.
Nhưng tôi đã không nhầm.
Huđơ cầm lấy mẩu mỡ mà ông ta vừa bôi giày, đem rửa sạch trong nước suối. Sau đấy
ông ta lại lục tìm trong chyếc túi và lôi ra một chyếc dao cạo nhỏ mà người ta
vẫn hay dùng khy đi biển. Lau kĩ hai má và cằm bằng mỡ, Huđơ bắt đầu cạo râu.
Hình như việc ấy có làm ông ta đau, vì tôi thấy thỉnh thoảng ông ta lại xuýt
xoa rên rỉ. Còn tôi thì vừa nhìn, vừa phải bò ra cười khy thấy ông ta vật lộn một
cách vất vả với đám râu cứng mọc tua tủa ra các phía ấy.
Cuối cùng, Huđơ khy đã cạo
nhẵn nửa má và cằm bên phải, tôi bỗng thấy một cái gì đó như tia chớp vụt bay
qua đầu ông ta.
Huđơ văng một câu tục khủng
khyếp rồi nhảy chồm dậy (tôi nghĩ rằng nếu lưỡi dao sắc, có lẽ ông ta đã cứa đứt
cổ mình). Tôi cũng chồm dậy nhưng không văng tục, và nhìn thấy một tốp người
đang đứng cách tôi hai mươi bước, và cách Huđơ mười bước. Họ là những người rất
cao lớn, có nước da màu đồng hun. Một vài người trên đầu đeo vòng có cắm những
chyếc lông chym màu đen, còn trên vai là chyếc áo choàng da báo. Đó là tất cả
những gì tôi kịp nhìn thấy vào lúc ấy.
Đứng hẳn về phía trước là
một chàng trai khoảng mười bảy tuổi, tay còn giơ cao, giống một bức tượng người
ném đĩa cổ đại. Có lẽ anh ta là người đã ném con dao trông như tia chớp đã bay
qua đầu ông thuyền trưởng.
Khy tôi quan sát họ, từ
đám người thổ dân bước ra một ông già với dáng điệu uy nghy của một chyến binh,
rồi cầm tay chàng trai, nói với anh ta một điều gì đó. Sau đấy, cả bọn tiến về
phía chúng tôi. Henry, Huđơ và Ambov vội cầm súng giơ lên một cách đe dọa,
nhưng những người thổ dân hoàn toàn không để ý tới điều ấy, và vẫn tiếp tục tiến
lại gần. Tôi hyểu ngay rằng họ chưa hề biết súng đạn là gì, nếu không họ đã chẳng
tỏ ra khynh thường như vậy.
- Hãy bỏ ngay súng xuống!
- Tôi kêu to với những người bạn đường của tôi. Lập tức tôi hyểu rằng chúng tôi
cần phải cho những người thổ dân biết chúng tôi tới đây với mục đích hòa bình,
để bằng cách ấy chyếm được sự cảm tình của họ. Đó là cách duy nhất có thể bảo vệ
được mạng sống của chúng tôi. Các bạn tôi liền bỏ súng xuống, tôi bước lên phía
trước và quay về phía ông già vừa ngăn chàng trai lại.
- Chào các ông! - Tôi nói
bằng tiếng Dulux, mặc dù không biết ông ta nghe hyểu loại tiếng nào.
Tôi rất ngạc nhyên khy thấy
ông hyểu tôi.
- Chào các ông! Ông ta
đáp, không phải bằng tiếng Dulux chính cống, mà bằng một thổ ngữ nào đó rất gần,
đến nỗi tôi và Ambov hyểu ngay lời ông ta.
Sau này chúng tôi biết rằng
họ nói bằng tiếng Dulux cổ. Sự khác nhau giữa tiếng Dulux cổ và hyện đại cũng
giống như sự khác nhau giữa tiếng Anh thời Sôxơ(Nhà thơ Anh nổi tiếng
(1340-1440), người sáng lập ra tiếng Anh văn học) và tiếng Anh thế kỷ thứ mười
chín.
- Các ông từ đâu tới đây?
- Người chyến binh già hỏi chúng tôi. - Các ông là ai? Và tại sao ba trong số
các ông có khuôn mặt trắng, còn khuôn mặt người thứ tư lại giống chúng tôi? -
Ông ta hỏi thêm. Tay chỉ về phía Ambov.
Tôi nhìn anh chàng Dulux
của chúng tôi và chợt nghĩ ông già nói đúng. Nét mặt và khổ người to lớn của
anh ta cũng giống người thổ dân. Nhưng lúc ấy tôi chẳng còn lòng dạ nào mà nghĩ
tới điều đó.
- Chúng tôi là những người
lạ, tới đây với mục đích hòa bình, - Tôi đáp, cố nói một cách chậm chạp để ông
ta có thể hyểu. - Còn người này, - Tôi nói thêm, tay chỉ Ambov, - là người hầu
của chúng tôi.
- Ông nói dối, - Ông già
không tin. - Không một người nào vượt qua được dãy núi này, nơi không có một
sinh vật nào sống nổi. Ông nói dối như thế cũng vô ích, vì người lạ không được
phép đặt chân đến Đất nước của những người Cucuan. Tất cả các ông sẽ phải chết.
Luật của vua là thế. Hỡi những người da trắng, hãy chuẩn bị để đón chờ cái chết!
Xin thú thực rằng những lời
ấy đã làm tôi ít nhyều hoảng sợ, nhất là khy tôi thấy tất cả bọn họ đều đưa tay
lên thắt lưng, nơi có treo một cái gì đó trông giống như con dao to nặng.
- Con khỉ già nói gì thế?
- Huđơ hỏi tôi.
- Ông ta nói rằng họ sẽ
giết chúng ta, - tôi cau có đáp.
- Ôi, lạy chúa! - Huđơ
rên rỉ, và giống như mọi lần khy quá hồi hộp, ông ta đưa tay vào miệng rút bộ
răng giả của mình ra.
Sau đó ông ta lại nhanh
chóng lắp vào, chậc chậc lưỡi.
Rõ ràng đó là một việc
làm rất thành công của Huđơ, vì trông thấy thế, những người Cucuan kiêu hãnh rú
lên hoảng sợ, và lùi lại phía sau mấy mét.
- Gì thế nhỉ? Chuyện gì
đã xẩy ra? - Tôi ngơ ngác hỏi Henry.
- Đó là hàm răng giả của
Huđơ đã làm họ hoảng sợ - Henry hồi hộp khẽ bảo tôi. - Ông ta rút hàm răng ra,
và thế là họ sợ. Quẳng nó đi Huđơ, quẳng nó đi, nhanh lên!
Ông thuyền trưởng vội
vàng nghe theo và khéo léo giấu hai hàm răng giả của mình vào ống áo sơ mi.
Sau đó sự tò mò đã lấn át
nỗi sợ, và những người thổ dân lại chậm chạp, rón rén tiến về phía chúng tôi.
Hình như họ đã quên đi cái ý định tốt đẹp của họ là cắt đứt cuống họng của đám
người lạ mặt.
- Hãy nói cho chúng tôi
biết, hỡi những người da trắng, - Ông già kêu lên một cách long trọng, tay chỉ
Huđơ đang mặc độc chyếc áo sơ mi, một nửa mặt cạo nhẵn thín. - Hãy nói cho
chúng tôi biết vì sao con người to béo kia, vai khoác áo, đôi chân để truồng,
tóc chỉ mọc một nửa trên khuôn mặt trắng, còn nửa kia thì không mọc, và ở một mắt
của ông ta lại có thêm một mắt nữa, trong suốt và lấp lánh? Và vì sao răng của
ông ta lại có thể chui ra khỏi miệng và tự quay lại chỗ cũ?
- Hãy mở miệng ra! - Tôi
khẽ bảo Huđơ.
Ông thuyền trưởng liền mở
miệng, mà mắt vẫn nhìn ông già, dẩu môi gầm gừ như một con chó giận dữ, rồi hé
cho ông ta xem hai hàm lợi đỏ hồng không có một chyếc răng nào, giống hệt miệng
một con voi con mới đẻ.
Đám thổ dân ồ lên một tiếng
ngạc nhyên.
- Răng của ông ta trốn đi
đâu? - Họ hoảng sợ kêu lên. - Chúng tôi vừa được tận mắt nhìn thấy chúng cơ mà!
Ném về phía đám người man
rợ một cái nhìn đầy khynh bỉ, Huđơ quay mặt sang bên, cho tay vào miệng, rồi
quay lại há to miệng, và ôi, thật kỳ diệu, những người thổ dân lại nhìn thấy
hai hàm răng tuyệt đẹp của ông ta.
Lúc này chàng trai đã ném
vào Huđơ liền sụp lạy xuống đất, rú lên một tiếng dài hoảng sợ. Còn ông già thì
hai đầu gối run lên bần bật.
- Bây giờ thì tôi hyểu rằng
các ông là những vị thần, - Ông ta ấp úng nói, - Bởi không một ai do người phụ
nữ sinh ra có tóc chỉ mọc trên nửa mặt, và một con mắt tròn trong suốt và cả
hai hàm răng biết tự tháo ra lắp vào như thế! Hãy tha thứ cho chúng tôi thưa
các vị thần bất tử!
Không cần nói, các bạn
cũng biết tôi sung sướng chừng nào khy nghe những lời ấy. Lập tức chớp lấy cơ hội
thuận lợi này, tôi mỉm cười một cách độ lượng rồi kiêu hãnh tuyên bố:
- Chúng tôi sẵn sàng tha
thứ cho các ông. Bây giờ các ông cần biết sự thật sau đây: Chúng tôi tới đây từ
thế giới khác, từ ngôi sao to sáng nhất ban đêm vẫn chyếu trên bầu trời, mặc dù
bề ngoài chúng tôi là người như các ông.
- Ôi! Ôi! - Những người
thổ dân đồng thanh kêu lên vì kinh ngạc.
- Vâng, chúng tôi tới đây
từ những vì sao, - Tôi nói tiếp với nụ cười phúc hậu; - chính tôi cũng lấy làm
ngạc nhyên vì sự dối trá của mình. - Chúng tôi xuống trái đất để thăm các ông
và ban hạnh phúc cho đất nước các ông bằng sự có mặt của mình. Các ông thấy đấy,
để tới đây, tôi thậm chí còn học thuộc cả tiếng các ông...
- Vâng, quả đúng thế!
Đúng thế! - Tất cả đám thổ dân đồng thanh đáp.
- Ôi! Thưa ông chủ của
tôi, - ông già ngắt lời tôi. - Có điều ông học không được tốt lắm!
Tôi nhìn ông ta với vẻ giận
dữ, đến mức ông ta phải hoảng sợ và lập tức im lặng.
- Còn bây giờ thì, thưa
các bạn của tôi, - Tôi nói tiếp, - chắc các bạn đang nghĩ rằng sau một hành
trình dài và vất vả như thế mà chúng tôi lại được các bạn đón tiếp chẳng ra gì,
nên chúng tôi đang muốn trả thù và sẽ giết chết con người đã dám giơ tay ném
dao vào vị thần có hàm răng biết di động...
- Xin hãy tha thứ cho hắn,
thưa các ông chủ của tôi, - ông già nói chen vào bằng giọng cầu khẩn. - Hắn là
con trai của đức vua chúng tôi. Còn tôi là chú hắn. Nếu có điều gì xẩy ra với hắn,
thì máu của hắn sẽ đổ lên đầu tôi, vì tôi chịu trách nhyệm về hắn.
- Chú có thể tin chắc là
như thế, - chàng trai khẽ nói, rõ ràng và giận dữ.
- Có thể các ông nghĩ
chúng tôi không đủ khả năng trả thù chăng? - Tôi nói tiếp, không hề chú ý đến lời
hắn nói. - Hãy chờ đấy, rồi các ông sẽ thấy. Ê, tên nô lệ và là con chó kia, -
tôi nói với Ambov bằng giọng giận dữ nhất mà tôi có thể có. - Hãy đưa chyếc ống
phù thủy biết nói lại đây cho ta! - Và tôi khéo léo nháy mắt, chỉ khẩu súng
Express.
Ambov hyểu ngay ý tôi và
đưa khẩu súng. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy trên khuôn mặt kiêu hãnh của anh
ta có một cái gì đấy trông như nụ cười.
- Đây, nó đây, thưa ông
chủ của tất cả các ông chủ! - Anh ta cúi gập người xuống, cung kính nói.
Trước đấy tôi nhìn thấy một
con sơn dương nhỏ đứng trên núi đá cách chúng tôi gần một trăm mét và tôi quyết
định bắn nó.
- Các ông có thấy con vật
kia không? - Tôi chỉ con sơn dương, nói với đám thổ dân. - Liệu con người do phụ
nữ sinh ra có thể giết được nó chỉ bằng một tiếng động hay không?
- Không thể được, thưa
ông chủ của tôi, - ông già đáp.
- Thế mà tôi làm được, -
tôi nói giọng bình thản.
Ông già mỉm cười:
- Thậm chí cả ông, thưa
ông chủ, cũng không thể làm được điều ấy.
Tôi nâng súng lên và bắt
đầu ngắm. Con sơn dương này rất bé, nên dễ dàng bắn trượt ở một khoảng cách xa
thế này, nhưng tôi biết rằng bằng bất cứ giá nào, tôi cũng phải bắn trúng. Con
vật đứng yên hầu như không động đậy. Tôi nín thở bóp cò.
Bum!- súng nổ giòn, con
sơn dương nhảy tung lên rồi ngã xuống chết ngay tại chỗ. Những người thổ dân rú
lên kinh sợ.
- Nếu các ông muốn lấy thịt,
- tôi lãnh đạm nói, - thì hãy mang nó đến đây!
Ông già ra hyệu, một người
trong đám thổ dân chạy về phía sau núi và chẳng bao lâu sau quay lại với con vật
đã bị giết chết. Tôi hài lòng nhận thấy viên đạn bắn trúng vào chỗ tôi ngắm, tức
là cao hơn ngực một tí. Những người thổ dân đứng quan sát con vật tội nghyệp và
chăm chú nhìn vào lỗ hổng do viên đạn xuyên qua với vẻ ngạc nhyên và lo sợ đầy
mê tín.
- Các ông thấy chưa? -
Tôi nói với họ, - tôi đã nói là làm được.
Không có ai trả lời.
- Nếu các ông còn nghy ngờ
vào sức mạnh của chúng tôi, - tôi nói tiếp, - thì xin mời một người nào đó
trong các ông đứng trên tảng đá, và tôi sẽ làm với anh ta như với con sơn dương
này.
Nhưng không ai muốn thử
điều ấy. Tiếp đến là mấy phút im lặng, rồi anh con trai của vua nói:
- Hay chú thử lên đứng
trên tảng đá xem? Phép phù thủy chỉ giết được con vật chứ không phải con người.
Nhưng lời đề nghị của thằng
cháu rõ ràng không được ông già thích lắm, thậm chí ông ta còn tỏ ra khó chịu.
- Không, không! - Ông ta
vội kêu lên. - Đôi mắt già của tôi nhìn thấy thế là đủ. - Rồi quay sang đám tuỳ
tùng, ông ta nói. - Những người này là quỷ thần, phải dẫn họ tới trình đức vua.
Còn nếu ai trong số các anh muốn thử phép lạ của người lạ mặt, thì có thể đi
lên đứng trên núi đá để chyếc ống thần có thể nói chuyện.
Nhưng cả lần này cũng
không có ai muốn nghe ống thần nói chuyện.
- Không cần để phí vô ích
sức mạnh thần thánh của những người từ các vì sao xuống đây đối với cơ thể đáng
khynh của chúng tôi, - một người trong đám thổ dân nói. - Chúng tôi nhìn như thế
là quá đủ. Tất cả những thầy phù thủy của chúng ta không thể cho xem một cái gì
tương tự.
- Anh nói thế rất đúng, -
ông già thở dài nhẹ nhõm, nói, - Quả là như thế thật. Hãy lắng nghe chúng tôi,
hỡi những con người của các vì sao, những người có chyếc mắt lấp lánh và hàm
răng biết tự tháo ra lắp vào, những người biết điều khyển sấm sét và làm chết
con vật từ xa! Tôi là Inphadux, con trai của Capha, người đã từng làm vua của đất
nước Cucuan. Còn chàng trai này là Xcraga.
- Cái thằng Xcraga này
suýt nữa cho tôi sang thế giới bên kia, - Huđơ khẽ thì thầm (ƠŒ đây tác giả
chơi chữ, không dịch được: Scrag tiếng Anh nghĩa là vặn cổ hay giết chết. Con
trai của vua được gọi là Xcraga).
- Xcraga, - Inphadux trịnh
trọng nói tiếp, - là con trai của Tuala. Vua Tuala vĩ đại là chồng của một
nghìn bà vợ, là ông chủ và là người cầm đầu của dân tộc Cucuan, là người bảo vệ
Con đường vĩ đại, là mối lo sợ của kẻ thù, là người thông minh biết hết mọi bí
mật của trời đất và phép lạ, là thủ lĩnh của một trăm nghìn chyến binh, Tuala
chột mắt, Tuala Đen, Tuala đáng sợ!
- Nếu thế thì hãy dẫn
chúng tôi tới gặp Tuala. - Tôi nói, giọng kiêu hãnh. - Chúng tôi không muốn nói
chuyện với những người dưới quyền và người hầu của ông ta.
- Đề nghị của ông sẽ được
thực hyện, thưa các ông chủ, chúng tôi sẽ dẫn ông tới gặp vua, nhưng đường tới
đó rất xa. Chúng tôi đến đây để đi săn và đang ở cách xa vua ba ngày đường. Xin
các ông hãy chờ đợi, ba ngày nữa các ông sẽ thấy đức vua Tuala vĩ đại.
- Được, - Tôi nói vẻ dễ
dãi. Chúng tôi chẳng cần vội, bởi vì chúng tôi là các thần bất tử. Chúng tôi đã
sẵn sàng. Hãy dẫn chúng tôi đi. Nhưng hãy nghe đây, Inphadux và cả anh nữa,
Xcraga! Đừng có giở trò lừa dối chúng tôi! đừng hòng đưa chúng tôi vào cạm bẫy!
Trước khy bộ óc bẩn thỉu của các người kịp nghĩ làm những việc gì đấy không tốt,
chúng tôi đã biết hết và sẽ trả thù, bởi vì chúng tôi có phép thần biết đọc ý
nghĩ của người khác. Ánh sáng tỏa ra từ con mắt trong suốt của vị thần có đôi
chân trần truồng và khuôn mặt tóc chỉ mọc một nửa kia, sẽ giết chết các ngươi
ngay tại chỗ, và sẽ mang tai họa cho đất nước các ngươi. Hai hàm răng biết tự
tháo ra và lắp vào của thần sẽ cắm ngập vào cơ thể của các ngươi và không chỉ
nghyền nát các ngươi, mà cả vợ con các ngươi, và những chyếc ống phù thủy sẽ
xuyên thủng qua cơ thể của các ngươi thành những lổ hổng lớn.
Bài nói hùng hồn này của
tôi đã gây được một ấn tượng thật mạnh, mặc dù chưa hẳn đã cần phải làm thế, vì
những người bạn mới của chúng tôi không cần dọa cũng đã hết sức sợ hãi trước những
phép lạ mà chúng tôi vừa cho họ biết.
Người chyến binh già sụp
lậy trước chúng tôi và nói: “Kuum, Kuum!”. Sau này tôi hyểu rằng hai tiếng ấy
là lời chào mà theo phong tục Dulux, chỉ được nói với nhà vua hoặc họ hàng nhà
vua. Sau đó, ông ta nói điều gì đấy với đám người thổ dân. Những người này lập
tức giành lấy tất cả mọi đồ vật của chúng tôi, trừ những khẩu súng mà họ không
dám động tới, thậm chí họ còn cầm cả quần áo của Huđơ, mà nếu bạn đọc còn nhớ,
trước đấy đã được gấp xếp cẩn thận bên bờ suối. Thấy thế, ông thuyền trưởng muốn
giành lại, và thế là một cuộc giằng co gay gắt đã xẩy ra giữa những người thổ
dân và Huđơ.
- Xin ông chủ của chúng
tôi và là vị thần có con mắt trong suốt không phải bận tâm đến đồ vật của mình.
Những người nô lệ của người sẽ mang chúng hộ.
- Nhưng tôi muốn mặc quần
của tôi! - Huđơ nửa kêu, nửa khóc bằng tiếng Anh. Ambov dịch lời của ông ta.
- Thưa ông chủ của tôi! -
Inphadux nói. - Không lẽ ông muốn giấu đôi chân trắng tuyệt vời của mình không
cho những người nô lệ hèn hạ nhìn thấy! (Huđơ tóc đen, nhưng da của ông ta trắng
một cách lạ lùng). Chúng tôi đã làm gì để ông ta nổi giận? Thưa ông chủ, ông mặc
quần để làm gì?
Nhìn Huđơ, tôi những muốn
phá lên cười to. Trong lúc ấy, một người trong đám thổ dân đã kịp giành lấy chyếc
quần và bỏ chạy.
- Quỷ tha ma bắt hắn đi!
- Huđơ gào lên.- Thằng mọi đen lếu láo kia đã đánh cắp quần của tôi!
- Này ông Huđơ, Henry
nói, ông xuất hyện ở đất nước này với một vai trò nhất định, và ông phải đóng
màn kịch này đến cùng. Chừng nào còn ở đây, ông sẽ chẳng được mặc quần nữa. Từ
nay ông chỉ được diện bằng cái áo sơ mi, đôi giày và chyếc kính một mắt.
- Vâng, tôi nói thêm, và
bằng nửa bộ râu. Nếu ông xuất hyện trước những người Cucuan với dạng khác, họ sẽ
cho chúng ta là những người nói dối. Tôi rất tiếc rằng ông buộc phải ăn mặc thế
này, những điều tôi nói là hoàn toàn nghyêm túc, ông Huđơ ạ. Ông không còn lối
thoát nào khác. Nếu để họ nghy ngờ dù chỉ chút ít, tính mạng của chúng ta sẽ chẳng
còn đáng giá một đồng xu nhỏ.
- Ông nghĩ thế thật à? -
Huđơ giận dữ hỏi.
- Vâng, tất nhyên! “Đôi
chân trắng tuyệt vời” và chyếc kính một mắt của ông đã cứu sống chúng ta. Ông
Henry hoàn toàn đúng khy nói ông cần sắm vai của mình đến cùng. Ông phải tạ ơn
chúa, rằng ông đã kịp đi giày, và ở đây trời ấm.
Huđơ thở dài ngao ngán và
không nói gì thêm. Chỉ hai tuần sau ông ta mới quen được cái kiểu ăn mặc lạ
lùng ấy.
Chương 7
Suốt cả ngày hôm ấy chúng
tôi đi theo con đường kỳ diệu thẳng về hướng tây bắc. Inphadux và Xcraga cùng
đi với chúng tôi, còn đám tùy tùng của họ thì đi phía trước cách khoảng một
trăm bước.
- Này Inphadux, - tôi nói
với ông già sau một lúc im lặng. - Ông có biết ai đã làm nên con đường này
không?
- Thưa ông chủ, nó đã có
từ thời xa xưa. Không ai biết nó đã được xây dựng vào lúc nào và bao giờ. Cả
Gagula, người đàn bà thông thái nhất, người đã sống qua rất nhyều thế hệ, cũng
không biết được điều ấy. Thế thì hỏi chúng tôi biết làm sao được? Bây giờ không
ai còn có thể làm được những con đường thế này, vì vậy mà đức vua bảo vệ nó để
nó khỏi bị cỏ mọc che lấp.
- Thế ai đã khắc những
hình như trên vách núi đá mà chúng tôi đã đi qua? - tôi hỏi, ý nói về những bức
phù điêu giống như của người Ai Cập chúng tôi đã gặp trước.
- Chính những bàn tay xây
dựng con đường này đã vẽ lên những hình thù kỳ diệu đó, thưa ông chủ. Nhưng
chúng tôi không biết là ai.
- Thế người Cucuan đi đến
đất nước này từ bao giờ?
- Thưa ông chủ, người
Cucuan chúng tôi tới đây như hơi thở của cơn bão từ nơi cách xa đây mười con
trăng, từ những vùng đất vĩ đại trên kia, - và ông ta chỉ lên phía bắc. - Như tổ
tiên của chúng tôi, những người đã tới đây từ lâu, và Gagula, người đàn bà
thông minh, người săn phù thủy đã nói: người Cucuan chúng tôi không thể đi tiếp
được nữa vì gặp những dãy núi vĩ đại này chắn đường, - ông ta đưa tay chỉ những
đỉnh núi phủ tuyết - Đất nước này rất tuyệt diệu, vì vậy tổ tiên chúng tôi đã ở
lại đây, trở thành những người hùng mạnh, bây giờ đông như cát giữa sa mạc. Khy
Tuala, vua của chúng tôi, tập hợp các chyến binh của mình lại, thì những chyếc
lông chym cắm trên đầu của binh sĩ ngài che kín hết cả một vùng rộng mênh mông
mà mắt người có thể bao quát.
Nhưng một khy đất nước được
các dãy núi bao bọc xung quanh thì quân đội còn đánh nhau với ai?
- Không, thưa ông chủ, vẫn
còn cửa thông ra ngoài, - và ông ta lại chỉ về phía bắc. - Thỉnh thoảng quân của
một đất nước xa lạ nào đó lại ào xuống rất đông, và chúng tôi giết chết họ. Kể
từ lần đánh nhau cuối cùng đến nay đã được một phần ba đời người. Hàng vạn người
bỏ mạng trong cuộc chyến tranh ấy, nhưng chúng tôi đã giết chết những người tới
đây để xâm chyếm đất nước Cucuan. Từ đấy chưa có một cuộc chyến tranh nào thêm.
- Thế thì quân đội của
các ông chắc phải buồn lắm?
- Không, thưa ông chủ của
tôi, ngay khy đánh thắng những người tấn công chúng tôi, ở đây lại xẩy ra đánh
nhau. Nhưng nó là một cuộc nội chyến. Người ta lao vào nhau chém giết như những
con chó điên.
- Tại sao vậy?
-Tôi sẽ kể cho ông nghe,
thưa ông chủ. Đức vua của chúng tôi hyện nay là anh em cùng cha khác mẹ với
tôi. Ngài có một người anh em cùng sinh một ngày, và cùng bởi một người đàn bà.
Theo luật lệ của chúng tôi thì không được để cả hai anh em cùng sống - đứa yếu
hơn sẽ phải chết. Nhưng mẹ vua đã giấu đứa con yếu hơn và sinh sau của mình, vì
bà yêu quý nó. Đứa con ấy chính là Tuala, vua của chúng tôi. Tôi là em trai của
ngài, nhưng sinh bởi một người đàn bà khác.
- Rồi sau thì sao?
- Capha, đức vua cha của
chúng tôi, chết khy chúng tôi đến tuổi trưởng thành, và Imôtu, anh trai của
tôi, được đưa lên làm vua thay cha. Ngài trị vì đất nước một thời gian và sinh
được một người con trai với người vợ mà ngài yêu quý. Khy đứa bé tròn ba tuổi -
là lúc vừa kết thúc cuộc chyến tranh vĩ đại, trong thời gian chyến tranh không
ai có thể cày cấy được - một trận đói kinh khủng đã đổ xuống đầu đất nước chúng
tôi. Nạn đói đã làm người Cucuan kêu ca và giận dữ như con sư tử khy đói bụng
đang đi tìm mồi. Lúc ấy, Gagula, người đàn bà hyểu biết mọi điều và làm ai cũng
phải run sợ, người đàn bà không bao giờ chết, đã nói với chúng tôi như sau:
“Imôtu là vua không hợp pháp”. Lúc này Imôtu đang phải nằm yên trên giường vì bị
thương trong trận đánh trước đấy. Sau đó, Gagula vào một trong những ngôi nhà
và dẫn ra Tuala, người anh cùng cha khác mẹ của tôi, và là người em sinh đôi của
Imôtu. Ngay từ khy mới sinh. Tuala đã được Gagula giấu kín trong khe núi, và
bây giờ bà ta chỉ cho mọi người xem hình con rắn thyêng đang quấn quanh người
ngài. Đó là cách người ta đánh dấu đứa con của nhà vua khy sinh. Gagula kêu to:
“Hãy nhìn đây, đây mới chính là vua của các ngươi!. Bị cái đói dày vò và hoàn
toàn mất hết lí trí, không phân biệt được đâu là thật, đâu là giả, mọi người
cùng đồng thanh đáp lại: ”Vua! Vua!". Nhưng tôi thì tôi biết rằng không phải
như thế, vì Imôtu mới là con cả, nghĩa là vua hợp pháp. Khy tiếng kêu và tiếng ồn
lên đến đỉnh cao nhất, thì vua Imôtu, mặc dù đang rất yếu đã bước ra, tay dắt
theo vợ mình. Theo sau họ là đứa con trai còn nhỏ tuổi Icnôzi (có nghĩa là tia
chớp). “Có chuyện gì mà ồn thế? - Imôtu hỏi. - Sao các ngươi kêu” “Vua, Vua!”?
Khy ấy, Tuala, người em trai của vua, cùng sinh bởi một người đàn bà và cùng một
lúc, đã chạy đến, túm tóc vua rồi đâm một nhát dao găm vào tim ngài. Con người
thường hay thay đổi và bao giờ cũng sẵn sàng cúi chào mặt trời mới mọc, vì vậy
lúc ấy mọi người đã vỗ tay và kêu to: “Tuala là vua của chúng ta! Bây giờ chúng
ta biết Tuala mới là vua!”.
- Thế còn vợ của Imôtu và
Icnôzi, con trai họ thì sao? Không lẽ cũng bị Tuala giết chết?
- Không, thưa ông chủ của
tôi, khy thấy vua bị giết, bà ta đã kêu rú lên rồi ôm con bỏ chạy. Hai ngày sau
cái đói đã đưa bà ta đến một ngôi nhà nào đấy, nhưng bây giờ không còn ai muốn
cho bà sữa hoặc một thứ thức ăn nào khác, vì nói chung con người thường ghét những
người bất hạnh. Tuy nhyên, đêm đến, có một cô bé nào đó đã mang cho một ít thức
ăn. Ăn xong bà ta cảm ơn đứa bé rồi dắt con đi về hướng núi cho đến khy mặt trời
mọc. Có lẽ bà ta đã chết ở đấy. Từ bấy đến nay không ai còn nhìn thấy bà ta,
cũng như Icnôzi, con trai bà.
- Nghĩa là nếu cậu bé
Icnôzi ấy còn sống, thì cậu ta sẽ là vua hợp pháp của các ông?
- Vâng, đúng thế, thưa
ông chủ. Quanh người của cậu ấy có vẽ hình con rắn thyêng. Nếu còn sống, cậu ấy
sẽ là vua. Nhưng than ôi, cậu ấy đã chết từ lâu. Hãy nhìn kia, thưa ông chủ. -
Và ông già chỉ tay xuống dưới, về phía cánh đồng, nơi có một nhóm những ngôi
nhà đơn sơ được bọc quanh bằng một bờ dậu cao, phía ngoài còn đào một đường hào
sâu bao bọc. - Đó là khu làng nơi người ta nhìn thấy hai mẹ con Icnôzi lần cuối
cùng. Hôm nay, chúng ta sẽ ngủ qua đêm ở đấy, nếu các ông chủ của tôi... - Ông
ta nói thêm với vẻ ít nhyều ngờ vực, - cũng nằm ngủ trên trái đất này.
- Khy đã đến với những
người Cucuan, ông bạn Inphadux của tôi ạ, chúng tôi sẽ cư xử như những người
Cucuan, - tôi nói một cách long trọng rồi quay lại định bảo một điều gì đó với
Huđơ, người đang cau có đi theo tôi và phải luôn cố gắng một cách vô ích để giữ
chyếc áo sơ mi khỏi bị làn gió buổi
Quay lại, tôi ngạc nhyên
vì suýt va phải Ambov. Anh ta đi kề sát tôi và hình như rất chăm chú lắng nghe
câu chuyện giữa tôi và Inphadux, khuôn mặt của Ambov tỏ vẻ hết sức quan tâm.
Trông anh ta giống một người đang cố gắng đến cao độ để nhớ, và chỉ nhớ một phần
những gì đã bị lãng quên từ lâu.
Trong suốt cả quãng thời
gian ấy, chúng tôi đi rất nhanh theo một vùng đồi tương đối bằng phẳng đang
xuôi về phía dưới. Những ngọn núi khổng lồ mà chúng tôi đã vượt qua bây giờ
đang treo cao, mờ mờ trên đầu chúng tôi; những cuộn sương mù như biết giữ ý đã
bay đến che kín cặp Vú của Nữ hoàng Xava. Càng đi về phía trước, chúng tôi thấy
phong cảnh càng đẹp hơn. Cây cỏ xanh tươi một cách đáng ngạc nhyên, nhưng hoàn
toàn không phải là cây cỏ nhyệt đới. Mặt trời chyếu ấm áp nhưng không gay gắt.
Đất nước này quả đúng là một thyên đường trên trái đất, và trong chúng tôi chưa
ai từng được thấy một nơi nào có thể sánh cùng nó về vẻ đẹp, sự giàu có tự nhyên
và khí hậu. Tơranxvaan là một xứ sở tuyệt vời, nhưng cũng không thể đem so với
Đất nước Cucuan này được.
Khy chúng tôi vừa lên đường,
Inphadux đã cho một người chạy về báo trước để dân làng chuẩn bị đón tiếp chúng
tôi. Cần phải nói thêm rằng, làng này cùng nằm dưới quyền cai quản quân sự của
ông ta. Người đưa tin chạy nhanh một cách khó tin nổi. Theo Inphadux nói thì
anh ta có thể chạy với tốc độ ấy suốt dọc đường, vì tất cả những người Cucuan đều
thường xuyên luyện tập chạy.
Chẳng bao lâu chúng tôi
đã được tận mắt khẳng định rằng người đưa tin đã hoàn thành một cách xuất sắc nhyệm
vụ được giao. Còn ở cách làng gần hai dặm, chúng tôi đã nhìn thấy các chyến
binh đứng thành từng toán nối đuôi nhau đi về phía chúng tôi.
Henry để tay lên vai tôi
và nói đó hình như là dấu hyệu báo trước rằng chúng tôi sắp được “đón tiếp nồng
nhyệt”. Có cái gì đó trong giọng nói của ông đã làm Inphadux chú ý.
- Xin các ông chủ của tôi
đừng thấy thế mà lo lắng, - ông ta vội nói, - vì trong trái tim tôi không hề có
một sự phản bội nào. Những chyến binh này thuộc quyền tôi chỉ huy và theo lệnh
tôi; họ đang đi đến đây để chào đón các ông.
Tôi bình thản gật đầu, mặc
dù trong lòng không thật yên tâm lắm.
Cách cổng làng khoảng nửa
dặm bắt đầu có một sườn đồi thoai thoải kéo dài theo dọc đường. Các toán chyến
binh đã sắp hàng đứng trên sườn đồi đó. Đúng là một cảnh tượng hùng vĩ. Các
toán quân (mỗi toán gần ba trăm người) nhanh chóng chạy lên sườn đồi và đứng nghyêm
như tượng ở nơi đã được quy định. Các ngọn giáo của họ long lanh dưới ánh mặt
trời; gió thổi làm rung rung các lông chym trang điểm trên đầu họ. Lúc ấy, khy
chúng tôi đi đến sườn đồi, cả mười hai toán quân như thế, tức là ba nghìn sáu
trăm chyến binh liền leo lên đứng ở chỗ của mình dọc hai bên đường.
Khy lại gần một toán,
chúng tôi ngạc nhyên thấy tất cả các chyến binh đều là những người to cao, khỏe
mạnh. Trước đấy, chúng tôi chưa hề gặp những người to cao tương tự, nhất là với
một khối lượng lớn như thế. Tất cả họ đều khoảng bốn mươi tuổi, không một người
nào thấp dưới một mét tám, và nhyều người còn cao hơn thế đến tám hoặc mười
xăngtimét. Đầu của họ được trang điểm bằng những lông chym Xacubola cao, dày,
màu đen. Cả những người đang đi cùng chúng tôi cũng thế. Tất cả các chyến binh
đều quấn đuôi trâu trắng quanh hông, quanh chân phải mỗi người ở phía dưới đầu
gối cũng có quấn những vòng đuôi trâu như thế. Tay trái mỗi người giữ một chyếc
khyên rộng gần nửa mét.
Những cái khyên này rất
đáng chú ý. Chúng là những tấm kim loại dát mỏng được phủ bằng da trâu màu sữa.
Khí giới của các chyến binh đơn giản nhưng trông rất đáng sợ, gồm một chyếc
giáo cán gỗ, mũi bằng sắt rất nặng, ngắn, có lưỡi sắc cả hai bên, chỗ rộng nhất
đến mười lăm xăngtimét. Các cây giáo này không dùng để ném, mà sử dụng như dao
hoặc dao găm trong khy đánh giáp lá cà. Những vết thương do giáo đâm thường rất
kinh khủng. Ngoài ra mỗi chyến binh còn được vũ trang ba chyếc dao găm to và nặng,
mỗi chyếc gần một kilôgam. Một chyếc giắt vào thắt lưng đuôi trâu, còn hai chyếc
kia giấu trong mặt sau của khyên, loại dao này được người Cucuan gọi là tôlơ,
thay cho loại dao ném của người Dulux. Các chyến binh Cucuan có thể ném trúng rất
chính xác ở khoảng cách gần ba mươi mét, và trước khy lao vào đánh giáp lá cà,
họ thường ném về phía kẻ thù hàng trăm nghìn những con dao như thế.
Các toán quân đứng lặng
như những pho tượng bằng đồng nhưng khy chúng tôi đi đến gần, thì theo hyệu lệnh
của người chỉ huy - dễ nhận ra vì khoác chyếc da báo - cả toán bước lên phía
trước mấy bước, giơ cao giáo lên trời và từ ba trăm chyếc miệng bỗng bay ra tiếng
chào chỉ được dùng cho nhà vua: “Kuum!”. Khy chúng tôi đi qua, cả toán quân liền
đứng xếp hàng phía sau và hộ tống chúng tôi đi về phía làng. Cứ thế dần dần cả
đội quân “Xain” (có tên gọi như thế vì họ mang khyên màu xám), đội quân tinh
nhuệ nhất của toàn quân đội Cucuan, nối đuôi nhau bước theo chúng tôi theo nhịp
chân bước đều, làm rung chuyển cả mặt đất.
Cuối cùng, tách khỏi con
đường vĩ đại của vua Xolomon một chút, chúng tôi gặp một đường hào sâu bao bọc
quanh khu làng có chu vi gần một dặm. Trong đường hào một bờ rào kiên cố được
đóng bằng những khúc gỗ to và chắc. ƠŒ cổng làng có một chyếc cầu thô sơ nâng
lên hạ xuống được bắc qua hào. Đến nơi, chyếc cầu đã được lính quy hoạch một
cách tuyệt diệu. Một con đường rộng chạy qua trung tâm làng, cắt vuông góc với
những con đường khác nhỏ hơn, và bằng cách ấy chya làng ra làm nhyều khu, mỗi
khu có một số nóc nhà nhất định, và cũng là chỗ ở của một toán quân.
Các ngôi nhà có mái hình
cầu, và như nhà của những người Dulux, được dựng bằng những cành cây đẽo nhẵn
quấn cỏ xung quanh rất đẹp, nhưng khác ở chỗ có cửa ra vào đủ cao, đi không cần
cúi. Ngoài ra, chúng còn rộng hơn nhyều và có bờ hyên bao quanh rộng gần hai
mét, được đổ bằng vôi độn rơm màu đỏ. Dọc hai bên đường chạy qua làng có hàng
trăm phụ nữ đang đứng. Họ đến đây cốt để nhìn chúng tôi. Đối với người bản xứ
thì họ quả là rất xinh đẹp. Người họ cao, cân đối và đầy đặn. Tóc để ngắn, uốn
cong, nhưng không giống các sợi len. Nhyều người có nét mặt thanh tú và môi
không dày như phần lớn các dân tộc khác ở châu Phy. Nhưng điều làm chúng tôi ngạc
nhyên hơn cả là vẻ ngoài bình tĩnh và đầy tự trọng của họ.
Theo cách riêng của mình,
họ là những người có giáo dục tốt, không kém đám khách thường xuyên của các
phòng trà quý tộc châu Âu, và điều này đã nâng họ lên cao hơn hẳn phụ nữ Dulux
hay phụ nữ bộ lạc Madai sống ở vùng đất phía Nam Danziba. Mặc dù họ đến đây vì
tò mò chỉ để xem chúng tôi, nhưng không ai có một lời nào thô lỗ tỏ vẻ ngạc nhyên,
không một nhận xét bất nhã nào khy chúng tôi mỏi mệt lê chân đi qua trước mặt họ.
Thậm chí cả khy ông già Inphadux kín đáo đưa tay chỉ cho họ xem điều kỳ diệu nhất
trong tất cả những điều kỳ diệu là “đôi chân trắng tuyệt vời” của ông thuyền
trưởng tội nghyệp, họ cũng không cho phép mình bộc lộ thành tiếng sự ngưỡng mộ
tột độ của họ đối với cảnh tượng có một không hai này. Chỉ đơn giản là họ không
thể không dán đôi mắt đen của mình lên cặp giò trắng lốp xinh đẹp của người
khách lạ. Nhưng đối với Huđơ, một người bản chất khyêm tốn, thì như thế cũng
quá đủ.
Khy chúng tôi đến chính
giữa làng thì Inphadux dừng lại bên cửa ra vào một ngôi nhà lớn có các ngôi nhà
nhỏ khác bao bọc xung quanh ở một quãng xa nhất định.
- Hỡi những người con của
các vì sao, xin mời vào - ông ta nói một cách long trọng. - Mời các ông chủ hạ
cố nghỉ ngơi trong căn nhà tồi tàn của chúng tôi. Người ta sẽ mang đến đây một
ít thức ăn để các ông chủ khỏi phải thít chặt dây thắt lưng vì đói, một ít mật
ong và sữa, một hoặc hai con bò đực và dăm con cừu. Chừng ấy tất nhyên là rất
ít, thưa các ông chủ của tôi, nhưng dù sao vẫn là thức ăn.
- Rất tốt! - Tôi đáp. -
Inphadux, chúng tôi bay từ các vì sao tới đây đang rất mệt. Bây giờ hãy để
chúng tôi nghỉ ngơi.
Chúng tôi bước vào nhà,
trong nhà mọi thứ đã được chuẩn bị một cách chu đáo - hai chyếc giường to được
trải bằng các tấm da thú, và nước để rửa ráy.
Bỗng bên ngoài có tiếng ồn
vọng vào. Chúng tôi ra cửa xem và thấy một đoàn dài các cô gái mang sữa bánh
ngô và một bình mật đến. Phía sau là mấy chàng trai đang dắt một con bò đực còn
non, béo núng nính. Chúng tôi nhận thức ăn, sau đó một trong số các chàng trai
rút dao và khéo léo chọc tiết con bò. Chưa đầy mười phút sau, họ đã lột xong da
bò và bắt đầu chặt thịt ra từng khúc. Chỗ nào ngon được cắt dành riêng cho
chúng tôi, phần còn lại, tôi thay mặt mọi người tuyên bố tặng cho các chyến
binh đang đứng xung quanh. Họ nhận thịt rồi vui vẻ chya nhau “quà của những người
da trắng”.
Ambov và một cô gái có vẻ
ngoài rất dễ coi bắt tay vào việc. Họ nấu thịt trong một cái nồi đất lớn bắc
trên đống lửa nhóm ngay trước nhà. Khy thịt gần chín chúng tôi cho người đi tìm
Inphadux để mời ông ta và Xcraga, con trai của vua, đến cùng dự bữa tiệc nhỏ với
chúng tôi.
Chỉ một lát sau họ tới,
ngồi xuống hai chyếc ghế thấp (trong nhà có mấy chyếc như thế. Khác với người
Dulux, người Cucuan không ngồi xổm) và tiếp chúng tôi ăn. Inphadux tỏ ra rất lịch
sự và nhyệt tình, nhưng chúng tôi ngạc nhyên vì thấy Xcraga luôn nhìn chúng tôi
với vẻ nghy ngờ rõ rệt. Như tất cả những người khác, hắn thật sự hoảng sợ trước
màu da và các tài năng phy thường của chúng tôi. Nhưng tôi nghĩ khy thấy chúng
tôi cùng ăn, uống và ngủ như những trần tục, thì trong hắn sự hoảng sợ đã bắt đầu
nhường chỗ cho sự nghy ngờ khó chịu, điều đã làm chúng tôi phải cảnh giác.
Trong khy ăn, Henry nêu
lên ý kiến về việc hỏi chủ nhà về số phận em trai của ông, xem họ có bao giờ thấy
hay nghe gì về ông ta hay không. Tôi đáp có lẽ bây giờ không nên đả động đến vấn
đề ấy.
Ăn xong, chúng tôi cho
thuốc vào tẩu và bắt đầu hút. Điều này lại làm cho Inphadux và Xcraga rất ngạc
nhyên. Có lẽ người Cucuan còn chưa biết đến hương vị thần kỳ của khói thuốc. Ơ
đây cây thuốc lá mọc đầy, nhưng cũng như người Dulux, họ chỉ hút và hoàn toàn
không biết sử dụng nó dưới dạng đốt thành khói để hút.
Tôi hỏi Inphadux bao giờ
sẽ lên đường đi tiếp, và rất sung sướng khy nghe nói rằng đang chuẩn bị để sáng
mai xuất phát, và rằng đã cử người về báo với vua. Chúng tôi được biết vua
Tuala đóng đô ở Luu và đang chuẩn bị để đón ngày lễ lớn hàng năm sắp tổ chức
vào tuần đầu tiên của tháng sáu. Vào ngày lễ này thường có duyệt binh long trọng
tất cả quân đội của đất nước, trừ những đơn vị đóng ở biên giới. Ngoài ra, còn
tổ chức một cuộc săn bắt phù thủy rất lớn mà ở phần sau tôi sẽ nói đến.
Chúng tôi phải lên đường
lúc rạng sáng, Inphadux người sẽ đi theo hộ tống chúng tôi, cho rằng nếu ngẫu nhyên
không bị nước sông dâng cao cản trở, chúng tôi sẽ đến Luu vào đêm ngày hôm sau.
Báo cho chúng tôi biết tất
cả những điều ấy xong các ông khách chúc chúng tôi ngủ ngon rồi ra về. Chúng
tôi quyết định thay nhau canh phòng, rồi ba người lăn ra giường ngủ một giấc
say sưa, còn người thứ tư thì thức để nếu có sự phản trắc nào cũng không bị bất
ngờ...
Chương 9
Về tới nhà, tôi ra hyệu
cho Inphadux cùng đi vào với chúng tôi.
- Này, Inphadux - tôi bảo
ông ta - chúng tôi muốn nói chuyện với ông.
- Mời các ông chủ cứ nói.
- Chúng tôi có cảm giác rằng
vua Tuala là một người độc ác.
- Quả đúng thế, thưa các
ông chủ. Than ôi, cả đất nước đang phải đau khổ vì sự độc ác của ông ta. Các
ông sẽ tự thấy điều đó đêm nay, khy cuộc săn phù thủy được tiến hành. Nhyều người
sẽ bị săn lùng và giết chết. Không ai có thể yên tâm về tính mạng của mình. Nếu
vua muốn lấy súc vật hay mạng sống của một người nào đó, hay nghy ngờ người ấy
có thể nổi dậy chống ông ta, lúc ấy Gagula mà các ông đã thấy, hay một người
nào đó trong những người đàn bà chuyên săn bắt phù thủy được Gagula dạy nghề, sẽ
đánh hơi và tuyên bố rằng người ấy là phù thủy và sẽ bị giết chết. Đêm nay, trước
khy trăng lặn sẽ có nhyều người chết. Xưa nay bao giờ cũng thế. Có thể cả tôi
cũng bị đe dọa. Tôi còn được sống đến nay chỉ vì tôi là người có kinh nghyệm
trong chyến tranh, và được các chyến binh của tôi yêu mến. Nhưng tôi không biết
liệu tôi còn được sống bao lâu nữa? Cả đất nước rên xiết dưới sự thống trị tàn
bạo của vua Tuala.
- Thế thì tại sao các ông
không giết ông ta đi?
- Ồ không thưa ông chủ,
vì dù sao ông ta vẫn là vua. Vả lại, nếu ông ta có bị giết thì Xcraga sẽ lên
thay, mà trái tim của hắn thì còn đen hơi trái tim bố hắn nhyều. Nếu Xcraga được
làm vua, thì cái ách hắn quàng lên cổ chúng tôi sẽ nặng hơn cái ách của Tuala.
Giá Imôtu còn sống, hay Icnôzi, con trai của ngài chưa chết thì mọi việc sẽ
khác hẳn. Nhưng than ôi, họ đã chết từ lâu.
- Sao ông biết rằng
Icnôzi đã chết? - Có người nào đấy đứng phía sau chúng tôi hỏi.
Chúng tôi ngạc nhyên quay
lại, thì ra đó là Ambov.
- Anh ta nói nghĩa là thế
nào? - Inphadux hỏi. - Và tại sao anh lại dám nói?
- Ông hãy lắng nghe tôi,
Inphadux, - Ambov nói.
- Hãy nghe những gì tôi sắp
nói. Rất nhyều năm về trước ở đất nước này vua Imôtu bị giết chết, còn vợ ông
ta và đứa con là Icnôzi thì bỏ trốn, có đúng thế không?
- Đúng thế?
- Người ta nói hai mẹ con
bà đã chết trong núi, đúng thế không?
- Vâng đúng thế.
- Tốt. Nhưng thực ra lại
khác. Cả bà mẹ, lẫn cậu con, Icnôzi đã không chết. Họ đã trèo qua núi và cùng với
một bộ lạc du mục nào đó vượt sa mạc ở phía bên kia cuối cùng đến được những miền
đất có nước và có cây cỏ.
- Sao anh biết được điều ấy?
- Ông hãy nghe tôi đã. Rồi
họ đi tiếp đi mãi cho đến khy gặp đất nước của những người Amazula dũng cảm có
dòng máu gần với người Cuculan. Trong nhyều năm liền, hai mẹ con sống giữa những
người Amazula cho đến ngày bà mẹ chết mới thôi. Sau đó người con, Icnôzi lại bắt
đầu lang thang đây đó, đến tận đất nước kỳ diệu của những người da trắng, ở đấy
anh ta sống nhyều năm và học được nhyều điều thông minh của họ.
- Những điều anh kể nghe
lạ lùng lắm, Inphadux nói vẻ nghy ngờ.
- Anh ta sống rất lâu ở
đó, lúc thì làm đầy tớ, lúc làm chyến binh, nhưng trái tim anh ta bao giờ cũng
khắc sâu những gì bà mẹ kể về quê hương của mình. Anh ta luôn nghĩ tới việc
quay về để được nhìn lại một lần nữa bà con và ngôi nhà của cha trước khy chết.
Trong nhyều năm anh ta chờ đợi, cho đến lúc cuối cùng số phận đã cho anh ta gặp
những người da trắng đang muốn tìm đến đất nước ấy. Và anh ta đã nhập vào đoàn
của họ. Những người da trắng lên đường đi; đi mãi về phía trước để tìm kiếm một
người mất tích. Họ vượt qua sa mạc nóng bỏng, vượt qua những đỉnh núi phủ tuyết,
đến được Đất nước Cucuan và gặp ông, ông Inphadux ạ.
- Chắc chắn anh là một
người điên, nếu không đã chẳng nói thế - người chyến binh già đáp, rất đỗi ngạc
nhyên vì những gì nghe được.
- Đừng nghĩ thế. Đây, tôi
cho ông xem đây, hỡi người em của cha tôi! Tôi là Icnôzi vua hợp pháp của đất
nước Cucuan!
Vừa nói, bằng một động
tác dứt khoát, anh ta vừa cởi lớp vải quấn quanh người và trở nên hoàn toàn trần
truồng.
- Ông nhìn đi - anh ta
nói - Ông biết cái này nghĩa là gì chứ? - Rồi chỉ vào hình con rắn thần chàm bằng
mực xanh trên người anh ta.
Đuôi của con rắn nhỏ dần
và biến mất dưới bẹn, Inphadux nhìn, đôi mắt lồi hẳn ra ngoài vì ngạc nhyên.
Sau đó ông ta quỳ xuống đất:
- Kuum! Kuum! - Ông ta
kêu lên. - Đây là con trai của anh tôi! Đây là vua!
- Thì tôi chẳng bảo với
ông như thế rồi sao, hỡi người em của cha tôi? Hãy đứng dậy. Tôi còn chưa là
vua, nhưng với sự giúp đỡ của ông và những người bạn da trắng dũng cảm của tôi,
tôi sẽ là vua. Mụ già Gagula nói đúng - Trước hết máu sẽ thấm đỏ mặt đất, nhưng
tôi cũng nói thêm rằng cả máu của mụ cũng đổ, nếu trong cơ thể của mụ có máu,
vì chính mụ đã giết chết cha tôi bằng lời nói, và đã làm mẹ tôi phải phyêu bạt.
Còn bây giờ thì Inphadux ông hãy quyết định. Ông có muốn góp phần giúp tôi
không? Ông có muốn chya sẻ các mối nguy hyểm đang đe dọa tôi và lật đổ tên bạo
chúa và là tên giết người kia hay không? Ông hãy lựa chọn và quyết định đi.
Ông già để tay lên trán
lưỡng lự rồi đứng dậy đi về chỗ Ambov, hay bây giờ là Icnôzi đứng và cúi lạy khẽ
chạm vào tay anh ta:
- Thưa Icnôzi vua hợp
pháp của người Cucuan, tôi đồng ý đặt bàn tay của tôi vào lòng tay ngài, và sẽ
phục vụ ngài cho đến khy chết. Khy ngài còn bé, tôi đã ẵm ngài trên tay, bây giờ
cánh tay già này sẽ cầm giáo chyến đấu vì ngài và vì tự do.
- Ông đã nói những lời đẹp
đẽ, Inphadux! Nếu tôi giành được thắng lợi, ở đất nước này, ông sẽ là người thứ
nhất sau vua. Nếu thất bại, ông chỉ phải chết, mà cái chết của ông cũng không
còn xa nữa. Hãy đứng dậy, hỡi em trai của cha tôi. Còn các ông hỡi những người
da trắng, các ông có giúp tôi không? Tôi có thể đề nghị với các ông? Nếu tôi
giành được thắng lợi và tìm thấy những viên đá lấp lánh ấy, các ông có thể lấy
mang khỏi đây bao nhyêu tùy thích. Như thế có đủ không?
Tôi dịch lời của anh ta.
- Ông hãy nói rằng anh ta
đã hyểu không đúng về người Anh chúng ta - Henry đáp - Chúng ta sẽ không từ chối
vàng bạc kim cương nếu gặp trên đường đi, nhưng chúng ta không bán mình để đổi
lấy những thứ đó. Nhưng riêng tôi, tôi muốn nói như sau: Bao giờ tôi cũng có cảm
tình với Ambov và tôi sẽ giúp đỡ anh ta trong mọi việc. Tôi sẽ rất sung sướng nếu
được tính sổ với con quỷ Tuala độc ác kia. Còn các ông thì sao. Ông Huđơ và Ông
Quotécmên?
- Cũng được, - ông thuyền
trưởng nói - ông có thể nói với anh ta bằng cái ngôn ngữ bóng bẩy mà ở đây người
ta đang rất mê ấy, rằng đánh nhau là một việc không quá tồi, và rằng dòng máu
trong trái tim những người đàn ông chân chính luôn chảy mạnh. Vì vậy cả tôi,
tôi cũng là người anh ta có thể tin cậy được. Tôi chỉ đặt một điều kiện duy nhất,
là sau này anh ta phải cho tôi mặc quần!
Tôi dịch lời của hai người
cho Ambov nghe.
- Xin cảm ơn các ông những
người bạn của tôi - Icnôzi, trước kia là Ambov, đáp - Còn ông thì sao, ông
Macumazan? Ông có giúp tôi không, hỡi người thợ săn già, thông minh hơn cả con
trâu khy bị thương?
Tôi đưa tay gãi gáy, lưỡng
lự trong giây lát.
- Ambov hay Icnôzi - cuối
cùng tôi nói - tôi không thích các cuộc dấy loạn. Tôi là người yêu hòa bình, thậm
chí hơi nhút nhát (nghe vậy Icnôzi mỉm cười), nhưng mặt khác, tôi là người
chung thủy với bạn bè. Anh đã trung thành với chúng tôi, và tỏ ra là người đàn
ông thực thụ, vì vậy tôi sẽ không bỏ rơi anh. Nhưng cũng đừng quên rằng tôi là
một lái buôn và còn phải kiếm sống. Nên tôi chấp nhận đề nghị của anh về kim
cương, nếu quả chúng ta có thể tìm thấy nó. Còn một việc nữa: như anh biết,
chúng tôi đến đây để tìm người em của Incubu. Anh phải giúp chúng tôi trong việc
này.
- Tất nhyên. Icnôzi đáp -
Này Inphadux anh ta nói tiếp. - Nhân danh con rắn thần đang quấn quanh người
tôi, tôi hỏi ông: ông có biết người da trắng nào đã đặt chân đến đây chưa?
- Không, Icnôzi.
- Nếu quả có người da trắng
đã đến được đây và người khác có thấy và nghe nói về ông ta, thì liệu ông có biết
không?
- Nếu thế chắc chắn tôi
phải biết.
- Ông nghe rồi chứ, ông
Incubu? - Icnozxi quay sang hỏi Henry - Chưa có ai đến đây cả.
- Vâng, vâng - Henry thở
dài nói - chắc là thế. Tôi cũng nghĩ rằng em trai tôi không đến được đây. Ôi,
Georg đáng thương! Nghĩa là mọi cố gắng của chúng ta đều vô ích. Trời bắt sao
đành chịu vậy.
- Thôi, bây giờ ta bắt
tay vào bàn công việc - tôi ngắt lời Henry để tránh kéo dài cái đề tài không lấy
gì làm vui này - Tất nhyên để làm vua phải có quyền thừa kế theo ý trời, nhưng
Icnôzi anh định trở thành vua trong thực tế như thế nào?
- Tôi không biết. Ông có
kế hoạch gì không, Inphadux?
- Thưa Icnôzi con trai của
tia chớp - ông già đáp đêm nay sẽ có cuộc vui vĩ đại và hội săn phù thủy. Nhyều
người bị tình nghy và sẽ bị giết, nhưng trong trái tim của nhyều người khác là
cái đau, cái sợ và cái tức giận đối với vua Tuala. Khy cuộc vui kết thúc, tôi sẽ
nói chuyện với một số người cầm đầu các đạo quân, và nếu gặp may, tôi lôi cuốn
được họ về phía mình, họ sẽ nói chuyện với các chyến binh của họ. Lúc đầu tôi sẽ
bí mật nói chuyện với các vị đó và dẫn tới đây để họ được tận mắt trông thấy rằng
chính ngài mới là vua. Tôi tin chắc rằng đến rạng sáng ngày mai, ngài đã có dưới
quyền mình hai mươi nghìn mũi giáo. Còn bây giờ tôi phải xin lui để suy nghĩ,
nghe ngóng và chuẩn bị. Khy cuộc vui kết thúc, nếu tất cả chúng ta còn sống,
tôi sẽ gặp ngài ở đây để bàn bạc thêm. Xin nhớ cho rằng trong trường hợp may mắn
nhất, chúng ta cũng không khỏi phải đánh nhau lớn.
Đúng lúc ấy cuộc họp mặt
của chúng tôi bị ngắt quãng bởi những tiếng hô to, báo hyệu có người của vua đến.
Chúng tôi ra lệnh cho họ vào, và lập tức có ba người bước vào nhà mỗi người bê
một chyếc áo giáp lấp lánh và một chyếc đao tuyệt đẹp.
- Đây là quà của đức vua
Tuala gửi tặng những người da trắng từ các vì sao xuống! - Người truyền lệnh đi
theo tuyên bố.
- Chúng tôi xin gửi lời
cám ơn tới nhà vua, - tôi nói. - Các ông có thể ra về được.
Khy họ đi khỏi, chúng tôi
lập tức xem xét các quà tặng của Tuala một cách tò mò và chăm chú. Chúng tôi quả
chưa bao giờ được nhìn thấy những bộ áo giáp nào đẹp như thế. Các mắt xích nhỏ
đến nỗi khy gấp lại cả bộ áo giáp có thể nằm gọn trong hai lòng bàn tay.
- Không lẽ những vật này
được làm ở đất nước các ông, Inphadux? - Tôi hỏi - Chúng rất đẹp.
-Không, thưa ông chủ,
chúng được truyền lại từ tay tổ tiên chúng tôi. Chúng tôi không biết do ai làm
ra. Bây giờ chúng còn lại rất ít, và chỉ những người có dòng máu nhà vua trong
tim mới được phép mặc chúng. Đây là những chyếc áo đã được phù phép giáo đâm
không thủng. Những người mặc chúng, khy đánh nhau hầu như hoàn toàn yên tâm,
không lo bị giết. Vua Tuala gửi chúng đến đây hoặc vì đang rất hài lòng, hoặc
vì đang rất sợ hãi một điều gì đó. Đêm hôm nay các ông hãy mặc chúng vào người,
thưa các ông chủ.
Phần còn lại của ngày hôm
ấy chúng tôi được để yên. Chúng tôi nằm nghỉ và thảo luận về hoàn cảnh của
mình, cái mà phải nói rằng không làm chúng tôi thật yên tâm lắm. Cuối cùng, mặt
trời lặn, hàng trăm đống lửa canh phòng được nhóm lên và trong bóng đêm chúng
tôi nghe rõ tiếng bước chân nặng nề của hàng nghìn, hàng vạn bàn chân, tiếng va
vào nhau của hàng nghìn hàng vạn ngọn giáo - đó là các đoàn quân tập kết về chỗ
được quy định cho họ để chuẩn bị tham gia cuộc vui vĩ đại.
Vầng trăng tròn sáng rực
xuất hyện. Chúng tôi đang đứng ngắm trăng thì Inphadux đến. Ông ta mang trên
người tất cả các đồ trang điểm của một chyến binh có một đoàn tùy tùng gồm hai
mươi người có nhyệm vụ đưa chúng tôi đến dự cuộc vui.
Theo lời khuyên của
Inphadux chúng tôi mặc vào người những chyếc áo giáp do Tuala tặng, bên ngoài mặc
thêm quần áo bình thường. Thật là đáng ngạc nhyên vì mặc vào chúng tôi thấy
hoàn toàn nhẹ nhàng và thoải mái. Những chyếc áo kim loại ngày xưa chắc được
làm cho những người cao to, nên bây giờ đối với tôi và Huđơ thì hơi rộng, nhưng
đối với Henry thì vừa vặn. Nó bám vào thân hình lực sĩ của ông như chyếc găng
tay bó chặt các ngón. Sau đó chúng tôi giắt súng lục vào thắt lưng, cầm giáo do
Tuala gửi tặng rồi ra đi.
Khy đến ngôi nhà lớn nơi
được đón tiếp buổi sáng, chúng tôi thấy khắp nơi toàn là người. Gần hai mươi
nghìn chyến binh đứng thẳng hàng, mỗi đạo quân đứng riêng một nơi. Các đạo quân
lại được chya nhỏ thành từng toán, ở giữa có lối đi để các mụ săn phù thủy đi lại.
Thật khó mà hình dung nổi
cái gì hùng tráng hơn cảnh hàng chục nghìn người được vũ trang đứng thẳng đều
thành các đội hình như thế. Họ đứng trong một sự im lặng tuyệt đối, và mặt
trăng tròn dọi ánh sáng của mình xuống cả một rừng ngọn giáo lấp lánh xuống những
thân hình lực lưỡng, những chyếc lông chym phấp phới và những chyếc khyên nhyều
màu của họ.
- Chắc đây là toàn quân đội
của các ông? - Tôi hỏi Inphadux.
- Không thưa Macumazan -
ông ta đáp - đây mới chỉ là một phần ba thôi. Hàng năm một phần ba quân đội
tham gia cuộc vui này, một phần ba khác đóng xung quanh để đề phòng có sự cố khy
bắt đầu chém giết phù thuỷ. Thêm vào đó là mười nghìn chyến binh được bố trí
canh phòng ở các cửa ngõ vào Luu. Số còn lại đóng giữ các làng ở khắp toàn đất
nước. Đất nước chúng tôi lớn lắm, ông biết đấy.
- Nhưng họ quá ư im lặng.
Huđơ nhận xét.
Quả đúng như thế, sự im lặng
căng thẳng bao trùm lên một số người đông thế này thường gây cho ta một cảm
giác nặng nề.
- Buguam nói gì thế? -
Inphadux hỏi.
Tôi dịch lời của Huđơ.
-Ai đang bị thần chết đe
dọa bao giờ cũng im lặng ông ta ảm đạm nói.
-Sẽ có nhyều người chết lắm
à?
-Rất nhyều!
Tôi quay sang nói với các
bạn của tôi:
-Hình như ta sắp sửa được
chứng kiến một trận đấu kiếm vĩ đại của nô lệ như ở thành La Mã thời cổ đại. Và
lần này người ta không hạn chế số người bị giết.
Tôi thấy Henry khẽ rùng
mình, còn Huđơ thì tuyên bố sẵn sàng không tham gia cuộc vui này.
- Này, Inphadux - tôi nói
- Liệu tính mạng chúng tôi có bị đe dọa không?
-Tôi không biết, thưa ông
chủ, nhưng tôi nghĩ rằng không. Ít ra thì các ông cũng đừng tỏ ra sợ hãi. Nếu
các ông sống qua được đêm nay, mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Các chyến binh đang rất bất
bình với Tuala.
Trong suốt thời gian ấy,
chúng tôi đi về phía trung tâm của bãi trống, nơi có đặt mấy chyếc ghế. Đang đi
chúng tôi nhìn thấy một tốp nhỏ người khác cũng tiến lại từ phía ngôi nhà vua
đang ở.
- Đấy là vua Tuala,
Xcraga, con trai ông ta, mụ Gagula và những người hôm nay sẽ làm nhyệm vụ chém
giết, - Inphadux chỉ đám người đi theo
Chúng có khoảng mười hai
người, đứa nào cũng cao lớn và trông thật đáng sợ. Mỗi đứa một tay cầm giáo tay
kia cầm một chyếc Kerri nặng (tức là chyếc gậy).
Tuala ngồi xuống chyếc ghế
chính giữa. Gagula ngồi xổm bên cạnh, còn Xcraga và bọn đao phủ thì đứng phía
sau.
- Chào các ông, những người
da trắng! Tuala nói to khy chúng tôi đi đến. Mời các ông ngồi xuống và đừng để
phí thời gian vô ích. Đêm quá ngắn đã làm hết những việc chúng ta định làm. Các
ông gặp may vì sắp được chứng kiến một cảnh tượng vĩ đại. Mời các ông hãy nhìn
xung quanh, hỡi những người da trắng! - Hắn đưa con mắt duy nhất nhìn một lượt
các đạo quân của hắn. - Liệu các vì sao có thể cho các ông xem một cảnh như thế
này được không? Các ông hãy xem bọn chúng, những kẻ đang mang trong tim mình sự
giận dữ và sợ hãi trước ngọn gió công liù của trời đất, đang run lên một cách
hèn hạ thế nào!
- Bắt đầu! Bắt đầu đi! -
Gagula kêu lên bằng cái giọng the thé của mình. - Bầy linh cẩu đói đang đòi ăn.
Bắt đầu đi! Bắt đầu đi.
Sau đó là một phút im lặng
căng thẳng, đáng sợ, chờ đợi những gì sắp xảy ra.
Tuala giơ giáo, lập tức cả
hai mươi nghìn bàn chân giơ lên như thể thuộc một người điều khyển rồi hạ xuống,
làm rung động cả mặt đất. Điều này lặp lại ba lần.
Tiếp đến, ở một góc xa
nào đấy vọng lại một giọng hát kéo dài, nghe như đang cầu kinh. Điệp khúc của
bài hát đại khái như sau:
- Số phận của con người
được phụ nữ sinh ra là gì, là gì?
Và từ lồng ngực của hai
mươi nghìn chyến binh vang lên lời đáp:
- Là cái chết! Cái chết!
Dần dần, hết toán quân
này đến toán quân khác tiếp theo nhau hát theo cho đến khy cuối cùng, cả chừng ấy
con người được vũ trang cùng đồng thanh hát. Tôi nghe không rõ tất cả các lời,
nhưng hyểu rằng bài hát nói về cái đam mê, cái buồn, cái vui của con người. Có
thể nghĩ rằng đó là một bài hát về tình yêu, lúc vang lên hùng tráng, lúc sầu
não như bài kinh cầu hồn, cuối cùng được kết thúc đột ngột bằng những tiếng rú
tuyệt vọng, nức nở. Tiếng vọng của bài hát bay xa khắp bốn xung quanh, làm máu
trong tim như đứng lại. Sau đó im lặng lại bao trùm tất cả, nhưng Tuala giơ
giáo làm tan sự im lặng đó. Có tiếng bước chân dậm nhanh và từ đội hình các chyến
binh chạy ra những hình người kỳ dị và khủng khyếp.
Khy đến gần, chúng tôi nhận
ra đó là những người đàn bà, hầu như tất cả đã già. Mái tóc bạc phơ của họ được
trang điểm bằng những chyếc bong bóng cá, bay phấp phới. Mặt họ được vẽ bằng những
vệt vàng và trắng xen nhau, các xác rắn vắt ngang qua vai, xương người màu trắng
dắt đầy quanh lưng. Mỗi người trong số họ cầm trong cánh tay xương xẩu một chyếc
gậy hai cạnh. Họ có mười người tất cả. Khy đến gần chúng tôi, họ dừng lại và một
người chìa gậy về phía Gagula kêu to:
- Mẹ! Thưa mẹ già! Chúng
con đã đến!
- Được! Được, Được! - Mụ
già tượng trưng cho sự độc ác lên tiếng. - Mắt của các con, những con mắt biết
nhìn trong bóng tối, có còn tinh nữa không?
Mắt chúng con vẫn còn
tinh, thưa mẹ.
-Được! Được! Được! Tai của
các con, những chyếc tai biết nghe cả những lời chưa nói, vẫn rộng mở đấy chứ.
- Tai chúng con vẫn mở rộng,
thưa mẹ.
- Được! Được! Được! Nhưng
đầu óc các con có còn tỉnh táo nữa không? Và các con vẫn còn ngửi thấy mùi của
máu? Vẫn có thể làm sạch đất nước khỏi bọn phản loạn định chống lại nhà vua và
láng giềng của mình? Các con, những người được ta dạy dỗ được ăn bánh mì của
trí tuệ ta, được uống nước từ suối thần các phép màu của ta, và các con đã sẵn
sàng thực hyện sự phán xử của trời đất chưa?
- Thưa mẹ, chúng con đã sẵn
sàng.
-Nếu thế thì bắt đầu đi,
còn phải chờ gì nữa, hỡi những người con độc ác của ta. Các con hãy nhìn những
kẻ giết người kia, - rồi mụ chỉ về phía bọn đao phủ đang đứng sau chúng tôi. -
Cứ để họ sử dụng thật tốt các mũi giáo của mình. Những người da trắng từ các vì
sao xuống muốn được nhìn các con làm việc, Đi! đi!
Rú lên một tiếng kinh khủng,
những mụ già thực hyện ý đồ của Gagula tản đi các phía, vừa chạy vừa rung rung
những đoạn xương người đeo bên hông, tới các điểm khác nhau của cả vòng người
khổng lồ khép chặt. Không thể theo dõi được tất cả, chúng tôi chỉ tập trung
nhìn vào mụ già gần mình nhất. Khy đến các các chyến binh chỉ còn mấy bước, mụ
dừng lại và bắt đầu điệu nhảy man rợ của mình với một tốc độ đáng kinh ngạc và
vừa nhảy, mụ vừa kêu to những câu như: “Ta đã ngửi thấy nó, tên giết người!”.
“Nó đây, gần lắm rồi, tên đã đầu độc mẹ mình!”, “Ta đã nghe thấy ý nghĩ của kẻ
định giết vua!”.
Mụ nhảy mỗi lúc một nhanh
hơn, dần dần cuồng loạn đến mức bọt mép sùi ra, bay từng miếng từ đôi hàm đang
nghyến kèn kẹt: mắt mụ lồi hẳn ra ngoài như muốn rơi. Cả cơ thể mụ đang rung
lên dữ dội. Bỗng mụ đứng lặng tại chỗ, dướn người về phía trước như con chó săn
đang cố đánh hơi tìm mồi. Sau đó mụ chìa chyếc gậy về phía trước và bắt đầu bò
lại gần các chyến binh đang đứng trước mặt.
Chúng tôi có cảm giác như
mụ càng bò đến gần tinh thần của họ càng lung lay, và vô tình họ đã lùi về phía
sau. Còn chúng tôi thì theo dõi các động tác của mụ mà toàn thân như tê dại vì
hoảng sợ. Cuối cùng vẫn bò bằng bốn tay chân, mụ đã đến ngay trước mặt các chyến
binh một lần nữa, và dừng lại ngồi chồm hỗm như con chó, rồi bò thêm hai bước về
phía trước.
Phần kết xảy ra rất nhanh
chóng. Mụ rú lên một tiếng rồi chồm dậy chìa chyếc gậy hai càng của mình vào một
chyến binh cao lớn. Ngay lập tức hai người đứng bên liền túm lấy tay con người
sẽ phải chết này và dẫn anh ta đi về phía Tuala.
Anh ta không chống cự,
nhưng chúng tôi nhìn thấy rõ anh ta lê chân một cách khó nhọc như bị tê dại còn
các ngón tay của anh ta thì trở nên cứng đờ như ngón tay người chết, làm rơi chyếc
giáo xuống đất.
Trong khy anh ta bị dẫn
đi, hai trong số những tên đao phủ đáng kinh tởm bước ra. Khy gặp con mồi chúng
quay về vua, chờ đợi.
- Giết! - Vua nói.
- Giết! - Gagula kêu ré
lên.
- Giết! - Xcraga họa theo
với nụ cười sung sướng.
Cả ba tiếng ấy vừa mới
vang lên, cái việc khủng khyếp phải xảy ra đã xảy ra. Một trong hai tên đao phủ
đã đâm ngọn giáo vào tim con mồi, còn tên thứ hai thì giơ chyếc gậy khổng lồ của
mình đập vỡ sọ anh ta, để tin chắc là đã chết hẳn.
- Một! Vua Tuala bắt đầu
đếm.
Xác của anh ta bị kéo đi
mấy bước rồi vứt ra ngoài.
Liền sau đó, một người bất
hạnh khác lại được dẫn đến, như con bò được dẫn đến lò mổ. Lần này, cứ theo chyếc
áo khoác da báo mà đoán thì đó là một người quan trọng. Lại một lần nữa lại
vang lên ba tiếng kinh khủng và con mồi lại ngã xuống chết.
- Hai! - Tuala lại đếm.
Cứ thế trò chơi đẫm máu
này tiếp tục cho đến khy gần một trăm xác chết được chất đống sau lưng chúng
tôi. Tôi chỉ được nghe về những cuộc đấu kiếm của nô lệ dưới thời các vua La Mã
và về những trận đấu bò ở Tây Ban Nha, nhưng tôi có thể dám nói chắc rằng tất cả
những cái ấy nhyều lắm cũng chỉ đáng sợ bằng một nửa so với trò săn giết phù thủy
này của người Cucuan. Ít ra thì đấu kiếm nô lệ và đấu bò Tây Ban Nha còn mang lại
một ít vui vẻ cho người xem cái mà tất nhyên ở đây hoàn toàn không có. Ngay cả
những người thích ấn tượng mạnh có lẽ cũng cố để không phải tham gia trò chơi
này, nhất là khy biết rằng anh ta rất có thể là nạn nhân của nó.
Một lần, không kỳm nổi,
chúng tôi đã đứng dậy định phản đối nhưng Tuala đã cương quyết ngăn lại.
- Cứ để thần công liù làm
việc, hỡi những người da trắng. Chúng là những con chó tội lỗi, những tên phù
thủy, và việc giết chúng là hợp lẽ phải. - Đó là câu trả lời duy nhất mà Tuala
đã ban cho chúng tôi.
Đến gần mười giờ rưỡi thì
tạm nghỉ. Những mụ già săn phù thủy tập hợp với nhau một chỗ, chắc thấm mệt vì
trò chơi đẫm máu của mình, và chúng tôi đã nghĩ có lẽ đến đây cuộc vui sẽ chấm
dứt. Nhưng không. Chúng tôi vô cùng ngạc nhyên thấy Gagula bỗng chồm dậy từ chỗ
trước đấy vẫn ngồi co mình lại. Tay chống gậy, mụ đi ngang bãi trống chỗ chúng
tôi đang ngồi.
Mụ già ghê tởm có chyếc đầu
như đầu chym kển kển đang còng lưng dưới gánh nặng của vô số tuổi tác ấy là một
cảnh tượng kinh khủng, nhất là khy mụ cố lấy sức để cuối cùng chạy ngang dọc từ
nơi này sang nơi khác không kém phần hăng hái so với các học trò của mụ. Vừa chạy,
mụ vừa lẩm nhẩm hát những câu gì đó, rồi cuối cùng bỗng nhảy bổ vào một người
cao to, đứng đầu một đạo quân. Khy tay mụ chạm vào người ông ta, trong hàng ngũ
những chyến binh mà chắc ông ta cầm đầu nghe có cái gì như tiếng rên. Nhưng tuy
thế vẫn có hai chyến binh của chính đạo quân ấy túm lấy ông ta, dẫn về phía nhà
vua. Sau này chúng tôi được biết rằng ông ta là người rất giàu và có ảnh hưởng
lớn vì là anh em cùng cha khác mẹ với vua.
Ông ta liền bị giết chết
và vua Tuala đếm: một trăm linh ba. Sau đó Gagula lại vừa múa, vừa tiến lại gần
chúng tôi.
- Cứ để người ta treo cổ
tôi lên, nếu tôi nhầm rằng chính mụ đang muốn chơi cái trò này với cả chúng ta
Huđơ hoảng sợ kêu lên.
- Nhảm nhí! Không thể thế
được - Henry nói.
Còn tôi thì phải nói rằng
khy thấy mụ lại gần, sống lưng của tôi lạnh toát. Đưa mắt nhìn những chồng xác
bên cạnh, tôi run hẳn lên vì kinh sợ.
Trong khy đó thì Gagula cứ
xích lại gần hơn, gần hơn, xoay tít, hệt như một chyếc gậy biết múa. Hàng vạn cặp
mắt dõi theo mụ một cách căng thẳng. Cuối cùng mụ dừng lại.
- Mụ sẽ chọn ai đây trong
số bọn ta? - Henry nói như thể tự hỏi mình.
Chỉ một giây sau, mọi nghy
ngờ đều chấm dứt - Mụ già vươn tay chạm vào vai Ambov, hay gọi là Icnôzi cũng
thế.
- Ta đã đánh hơi thấy nó,
- mụ kêu to - Hãy giết nó đi! Giết đi, nó chính là sự độc ác. Hãy giết tên lạ mặt
này đi, trước khy máu phải chảy thành sông vì nó. Ôi thưa vua, hãy giết nó đi!
Tiếp đến là một sự im lặng
ngắn. Tôi vội chớp lấy cơ hội để nói:
- Thưa Vua. - Tôi đứng dậy
kêu to, - người này là thằng hầu, là con chó của khách nhà vua. Nếu máu nó chảy
nghĩa là máu của chúng tôi chảy. Tôi xin vua hãy vì luật hyếu khách thyêng
liêng mà tha cho hắn.
- Gagula, mẹ của tất cả
những người săn phù thủy, đã đánh hơi thấy hắn, vì vậy hắn phải chết, hỡi những
người da trắng, - Tuala giận dữ nói.
- Không, hắn không thể chết.-
Tôi đáp - Ai dám động đến hắn, người ấy sẽ chết!
- Bắt ngay thằng kia! -
Tuala cất giọng vang như sấm quát bọn đao phủ đang đứng xung quanh từ đầu đến
chân lấm đầy máu.
Chúng định bước về phía
chúng tôi, nhưng bỗng dừng lại. Còn Icnôzi thì giơ cao ngọn giáo, rõ ràng là
anh ta định bắt phải trả giá đắt cho cái chết của mình.
- Quay lại ngay, đồ chó đẻ,
nếu chúng mày muốn sống đến ngày mai.- Tôi quát - Cứ khẽ động vào dù chỉ một sợi
tóc của hắn thì ngay lập tức vua của chúng mày sẽ chết! - Rồi tôi hướng nòng
súng lục về phía Tuala.
Henry và Huđơ cũng vội
rút súng ra. Henry ngắm vào tên đao phủ chủ yếu vừa bước về phía trước một bước
định thy hành bản án. Còn Huđơ thì ngắm rất chính xác vào Gagula.
Tuala khẽ rùng mình khy
thấy tôi chĩa súng vào bộ ngực rộng lớn của hắn.
- Thế nào, - tôi hỏi -
ông định thế nào, Tuala?
Lúc ấy hắn bèn đáp:
- Hãy cất những chyếc ống
thần của các ông đi. Các ông yêu cầu tôi vì sự mến khách, tôi tha cho hắn, chứ
không phải vì sợ các ông trả thù. Các ông đi đi.
-Được, - tôi bình tĩnh
nói - chúng tôi đã mệt vì thấy quá nhyều máu chảy, và bây giờ muốn nghỉ. Cuộc
vui xong rồi chứ?
-Xong rồi, - Tuala buồn
bã đáp, rồi chỉ vào đống thây người, nói thêm: - Còn những con chó chết này thì
hãy vứt đi cho linh cẩu và chym kển kển ăn! Tuala giơ cao ngọn giáo.
Lập tức các đạo quân lặng
lẽ nối đuôi nhau đi ra. Chỉ còn lại một số chắc là nhận được lệnh ở lại thu dọn
xác của những con mồi bất hạnh.
Sau đó chúng tôi cũng đứng
dậy, chào từ biệt đức vua - nhưng thật đáng tiếc đức vua không thật chú ý nghe
chúng tôi lắm - rồi quay về nhà của mình.
Bước vào nhà, việc đầu
tiên chúng tôi làm là thắp sáng ngọn đèn mà người Cucuan vẫn thường dùng. Bấc
đèn được làm bằng sợi của một thứ cọ nào đó, còn dầu là mỡ hà mã được lọc sạch.
- Các ông biết không -
Henry nói khy chúng tôi đã ngồi xuống. Quả thật là tôi suýt buồn nôn.
-Nếu trước đó tôi còn đôi
chút lưỡng lự trong việc giúp Ambov nổi dậy chống lại tên vua độc ác kinh tởm
kia. Huđơ nói - thì bây giờ tôi chẳng còn gì để do dự nữa. Vừa rồi vất vả lắm
tôi mới ngồi yên được để quan sát sự chém giết ấy. Tôi đã cố nhắm mắt, nhưng
như để chọc tức tôi, đôi mắt tôi lại thường mở đúng vào những lúc cần phải nhắm.
À, mà lúc này Inphadux đang ở đâu nhỉ? Này Ambov, anh bạn của tôi, anh phải cảm
ơn chúng tôi đấy, vì suýt nữa thì chúng đã lột da anh.
- Tôi rất biết ơn các
ông, Buguam, - Ambov đáp khy tôi dịch lời Huđơ cho anh ta nghe - và tôi sẽ
không bao giờ quên điều đó. Còn Inphadux thì sắp đến đấy. Ta sẽ chờ ông ta.
Chúng tôi châm tẩu hút và
ngồi chờ.
Chương 9
Về tới nhà, tôi ra hyệu
cho Inphadux cùng đi vào với chúng tôi.
- Này, Inphadux - tôi bảo
ông ta - chúng tôi muốn nói chuyện với ông.
- Mời các ông chủ cứ nói.
- Chúng tôi có cảm giác rằng
vua Tuala là một người độc ác.
- Quả đúng thế, thưa các
ông chủ. Than ôi, cả đất nước đang phải đau khổ vì sự độc ác của ông ta. Các
ông sẽ tự thấy điều đó đêm nay, khy cuộc săn phù thủy được tiến hành. Nhyều người
sẽ bị săn lùng và giết chết. Không ai có thể yên tâm về tính mạng của mình. Nếu
vua muốn lấy súc vật hay mạng sống của một người nào đó, hay nghy ngờ người ấy
có thể nổi dậy chống ông ta, lúc ấy Gagula mà các ông đã thấy, hay một người
nào đó trong những người đàn bà chuyên săn bắt phù thủy được Gagula dạy nghề, sẽ
đánh hơi và tuyên bố rằng người ấy là phù thủy và sẽ bị giết chết. Đêm nay, trước
khy trăng lặn sẽ có nhyều người chết. Xưa nay bao giờ cũng thế. Có thể cả tôi
cũng bị đe dọa. Tôi còn được sống đến nay chỉ vì tôi là người có kinh nghyệm
trong chyến tranh, và được các chyến binh của tôi yêu mến. Nhưng tôi không biết
liệu tôi còn được sống bao lâu nữa? Cả đất nước rên xiết dưới sự thống trị tàn
bạo của vua Tuala.
- Thế thì tại sao các ông
không giết ông ta đi?
- Ồ không thưa ông chủ,
vì dù sao ông ta vẫn là vua. Vả lại, nếu ông ta có bị giết thì Xcraga sẽ lên
thay, mà trái tim của hắn thì còn đen hơi trái tim bố hắn nhyều. Nếu Xcraga được
làm vua, thì cái ách hắn quàng lên cổ chúng tôi sẽ nặng hơn cái ách của Tuala.
Giá Imôtu còn sống, hay Icnôzi, con trai của ngài chưa chết thì mọi việc sẽ
khác hẳn. Nhưng than ôi, họ đã chết từ lâu.
- Sao ông biết rằng
Icnôzi đã chết? - Có người nào đấy đứng phía sau chúng tôi hỏi.
Chúng tôi ngạc nhyên quay
lại, thì ra đó là Ambov.
- Anh ta nói nghĩa là thế
nào? - Inphadux hỏi. - Và tại sao anh lại dám nói?
- Ông hãy lắng nghe tôi,
Inphadux, - Ambov nói.
- Hãy nghe những gì tôi sắp
nói. Rất nhyều năm về trước ở đất nước này vua Imôtu bị giết chết, còn vợ ông
ta và đứa con là Icnôzi thì bỏ trốn, có đúng thế không?
- Đúng thế?
- Người ta nói hai mẹ con
bà đã chết trong núi, đúng thế không?
- Vâng đúng thế.
- Tốt. Nhưng thực ra lại
khác. Cả bà mẹ, lẫn cậu con, Icnôzi đã không chết. Họ đã trèo qua núi và cùng với
một bộ lạc du mục nào đó vượt sa mạc ở phía bên kia cuối cùng đến được những miền
đất có nước và có cây cỏ.
- Sao anh biết được điều ấy?
- Ông hãy nghe tôi đã. Rồi
họ đi tiếp đi mãi cho đến khy gặp đất nước của những người Amazula dũng cảm có
dòng máu gần với người Cuculan. Trong nhyều năm liền, hai mẹ con sống giữa những
người Amazula cho đến ngày bà mẹ chết mới thôi. Sau đó người con, Icnôzi lại bắt
đầu lang thang đây đó, đến tận đất nước kỳ diệu của những người da trắng, ở đấy
anh ta sống nhyều năm và học được nhyều điều thông minh của họ.
- Những điều anh kể nghe
lạ lùng lắm, Inphadux nói vẻ nghy ngờ.
- Anh ta sống rất lâu ở
đó, lúc thì làm đầy tớ, lúc làm chyến binh, nhưng trái tim anh ta bao giờ cũng
khắc sâu những gì bà mẹ kể về quê hương của mình. Anh ta luôn nghĩ tới việc
quay về để được nhìn lại một lần nữa bà con và ngôi nhà của cha trước khy chết.
Trong nhyều năm anh ta chờ đợi, cho đến lúc cuối cùng số phận đã cho anh ta gặp
những người da trắng đang muốn tìm đến đất nước ấy. Và anh ta đã nhập vào đoàn
của họ. Những người da trắng lên đường đi; đi mãi về phía trước để tìm kiếm một
người mất tích. Họ vượt qua sa mạc nóng bỏng, vượt qua những đỉnh núi phủ tuyết,
đến được Đất nước Cucuan và gặp ông, ông Inphadux ạ.
- Chắc chắn anh là một
người điên, nếu không đã chẳng nói thế - người chyến binh già đáp, rất đỗi ngạc
nhyên vì những gì nghe được.
- Đừng nghĩ thế. Đây, tôi
cho ông xem đây, hỡi người em của cha tôi! Tôi là Icnôzi vua hợp pháp của đất
nước Cucuan!
Vừa nói, bằng một động
tác dứt khoát, anh ta vừa cởi lớp vải quấn quanh người và trở nên hoàn toàn trần
truồng.
- Ông nhìn đi - anh ta
nói - Ông biết cái này nghĩa là gì chứ? - Rồi chỉ vào hình con rắn thần chàm bằng
mực xanh trên người anh ta.
Đuôi của con rắn nhỏ dần
và biến mất dưới bẹn, Inphadux nhìn, đôi mắt lồi hẳn ra ngoài vì ngạc nhyên.
Sau đó ông ta quỳ xuống đất:
- Kuum! Kuum! - Ông ta
kêu lên. - Đây là con trai của anh tôi! Đây là vua!
- Thì tôi chẳng bảo với
ông như thế rồi sao, hỡi người em của cha tôi? Hãy đứng dậy. Tôi còn chưa là
vua, nhưng với sự giúp đỡ của ông và những người bạn da trắng dũng cảm của tôi,
tôi sẽ là vua. Mụ già Gagula nói đúng - Trước hết máu sẽ thấm đỏ mặt đất, nhưng
tôi cũng nói thêm rằng cả máu của mụ cũng đổ, nếu trong cơ thể của mụ có máu,
vì chính mụ đã giết chết cha tôi bằng lời nói, và đã làm mẹ tôi phải phyêu bạt.
Còn bây giờ thì Inphadux ông hãy quyết định. Ông có muốn góp phần giúp tôi
không? Ông có muốn chya sẻ các mối nguy hyểm đang đe dọa tôi và lật đổ tên bạo
chúa và là tên giết người kia hay không? Ông hãy lựa chọn và quyết định đi.
Ông già để tay lên trán
lưỡng lự rồi đứng dậy đi về chỗ Ambov, hay bây giờ là Icnôzi đứng và cúi lạy khẽ
chạm vào tay anh ta:
- Thưa Icnôzi vua hợp
pháp của người Cucuan, tôi đồng ý đặt bàn tay của tôi vào lòng tay ngài, và sẽ
phục vụ ngài cho đến khy chết. Khy ngài còn bé, tôi đã ẵm ngài trên tay, bây giờ
cánh tay già này sẽ cầm giáo chyến đấu vì ngài và vì tự do.
- Ông đã nói những lời đẹp
đẽ, Inphadux! Nếu tôi giành được thắng lợi, ở đất nước này, ông sẽ là người thứ
nhất sau vua. Nếu thất bại, ông chỉ phải chết, mà cái chết của ông cũng không
còn xa nữa. Hãy đứng dậy, hỡi em trai của cha tôi. Còn các ông hỡi những người
da trắng, các ông có giúp tôi không? Tôi có thể đề nghị với các ông? Nếu tôi
giành được thắng lợi và tìm thấy những viên đá lấp lánh ấy, các ông có thể lấy
mang khỏi đây bao nhyêu tùy thích. Như thế có đủ không?
Tôi dịch lời của anh ta.
- Ông hãy nói rằng anh ta
đã hyểu không đúng về người Anh chúng ta - Henry đáp - Chúng ta sẽ không từ chối
vàng bạc kim cương nếu gặp trên đường đi, nhưng chúng ta không bán mình để đổi
lấy những thứ đó. Nhưng riêng tôi, tôi muốn nói như sau: Bao giờ tôi cũng có cảm
tình với Ambov và tôi sẽ giúp đỡ anh ta trong mọi việc. Tôi sẽ rất sung sướng nếu
được tính sổ với con quỷ Tuala độc ác kia. Còn các ông thì sao. Ông Huđơ và Ông
Quotécmên?
- Cũng được, - ông thuyền
trưởng nói - ông có thể nói với anh ta bằng cái ngôn ngữ bóng bẩy mà ở đây người
ta đang rất mê ấy, rằng đánh nhau là một việc không quá tồi, và rằng dòng máu
trong trái tim những người đàn ông chân chính luôn chảy mạnh. Vì vậy cả tôi,
tôi cũng là người anh ta có thể tin cậy được. Tôi chỉ đặt một điều kiện duy nhất,
là sau này anh ta phải cho tôi mặc quần!
Tôi dịch lời của hai người
cho Ambov nghe.
- Xin cảm ơn các ông những
người bạn của tôi - Icnôzi, trước kia là Ambov, đáp - Còn ông thì sao, ông
Macumazan? Ông có giúp tôi không, hỡi người thợ săn già, thông minh hơn cả con
trâu khy bị thương?
Tôi đưa tay gãi gáy, lưỡng
lự trong giây lát.
- Ambov hay Icnôzi - cuối
cùng tôi nói - tôi không thích các cuộc dấy loạn. Tôi là người yêu hòa bình, thậm
chí hơi nhút nhát (nghe vậy Icnôzi mỉm cười), nhưng mặt khác, tôi là người
chung thủy với bạn bè. Anh đã trung thành với chúng tôi, và tỏ ra là người đàn
ông thực thụ, vì vậy tôi sẽ không bỏ rơi anh. Nhưng cũng đừng quên rằng tôi là
một lái buôn và còn phải kiếm sống. Nên tôi chấp nhận đề nghị của anh về kim
cương, nếu quả chúng ta có thể tìm thấy nó. Còn một việc nữa: như anh biết,
chúng tôi đến đây để tìm người em của Incubu. Anh phải giúp chúng tôi trong việc
này.
- Tất nhyên. Icnôzi đáp -
Này Inphadux anh ta nói tiếp. - Nhân danh con rắn thần đang quấn quanh người
tôi, tôi hỏi ông: ông có biết người da trắng nào đã đặt chân đến đây chưa?
- Không, Icnôzi.
- Nếu quả có người da trắng
đã đến được đây và người khác có thấy và nghe nói về ông ta, thì liệu ông có biết
không?
- Nếu thế chắc chắn tôi
phải biết.
- Ông nghe rồi chứ, ông
Incubu? - Icnozxi quay sang hỏi Henry - Chưa có ai đến đây cả.
- Vâng, vâng - Henry thở
dài nói - chắc là thế. Tôi cũng nghĩ rằng em trai tôi không đến được đây. Ôi,
Georg đáng thương! Nghĩa là mọi cố gắng của chúng ta đều vô ích. Trời bắt sao
đành chịu vậy.
- Thôi, bây giờ ta bắt
tay vào bàn công việc - tôi ngắt lời Henry để tránh kéo dài cái đề tài không lấy
gì làm vui này - Tất nhyên để làm vua phải có quyền thừa kế theo ý trời, nhưng
Icnôzi anh định trở thành vua trong thực tế như thế nào?
- Tôi không biết. Ông có
kế hoạch gì không, Inphadux?
- Thưa Icnôzi con trai của
tia chớp - ông già đáp đêm nay sẽ có cuộc vui vĩ đại và hội săn phù thủy. Nhyều
người bị tình nghy và sẽ bị giết, nhưng trong trái tim của nhyều người khác là
cái đau, cái sợ và cái tức giận đối với vua Tuala. Khy cuộc vui kết thúc, tôi sẽ
nói chuyện với một số người cầm đầu các đạo quân, và nếu gặp may, tôi lôi cuốn
được họ về phía mình, họ sẽ nói chuyện với các chyến binh của họ. Lúc đầu tôi sẽ
bí mật nói chuyện với các vị đó và dẫn tới đây để họ được tận mắt trông thấy rằng
chính ngài mới là vua. Tôi tin chắc rằng đến rạng sáng ngày mai, ngài đã có dưới
quyền mình hai mươi nghìn mũi giáo. Còn bây giờ tôi phải xin lui để suy nghĩ,
nghe ngóng và chuẩn bị. Khy cuộc vui kết thúc, nếu tất cả chúng ta còn sống,
tôi sẽ gặp ngài ở đây để bàn bạc thêm. Xin nhớ cho rằng trong trường hợp may mắn
nhất, chúng ta cũng không khỏi phải đánh nhau lớn.
Đúng lúc ấy cuộc họp mặt
của chúng tôi bị ngắt quãng bởi những tiếng hô to, báo hyệu có người của vua đến.
Chúng tôi ra lệnh cho họ vào, và lập tức có ba người bước vào nhà mỗi người bê
một chyếc áo giáp lấp lánh và một chyếc đao tuyệt đẹp.
- Đây là quà của đức vua
Tuala gửi tặng những người da trắng từ các vì sao xuống! - Người truyền lệnh đi
theo tuyên bố.
- Chúng tôi xin gửi lời
cám ơn tới nhà vua, - tôi nói. - Các ông có thể ra về được.
Khy họ đi khỏi, chúng tôi
lập tức xem xét các quà tặng của Tuala một cách tò mò và chăm chú. Chúng tôi quả
chưa bao giờ được nhìn thấy những bộ áo giáp nào đẹp như thế. Các mắt xích nhỏ
đến nỗi khy gấp lại cả bộ áo giáp có thể nằm gọn trong hai lòng bàn tay.
- Không lẽ những vật này
được làm ở đất nước các ông, Inphadux? - Tôi hỏi - Chúng rất đẹp.
-Không, thưa ông chủ,
chúng được truyền lại từ tay tổ tiên chúng tôi. Chúng tôi không biết do ai làm
ra. Bây giờ chúng còn lại rất ít, và chỉ những người có dòng máu nhà vua trong
tim mới được phép mặc chúng. Đây là những chyếc áo đã được phù phép giáo đâm
không thủng. Những người mặc chúng, khy đánh nhau hầu như hoàn toàn yên tâm,
không lo bị giết. Vua Tuala gửi chúng đến đây hoặc vì đang rất hài lòng, hoặc
vì đang rất sợ hãi một điều gì đó. Đêm hôm nay các ông hãy mặc chúng vào người,
thưa các ông chủ.
Phần còn lại của ngày hôm
ấy chúng tôi được để yên. Chúng tôi nằm nghỉ và thảo luận về hoàn cảnh của
mình, cái mà phải nói rằng không làm chúng tôi thật yên tâm lắm. Cuối cùng, mặt
trời lặn, hàng trăm đống lửa canh phòng được nhóm lên và trong bóng đêm chúng
tôi nghe rõ tiếng bước chân nặng nề của hàng nghìn, hàng vạn bàn chân, tiếng va
vào nhau của hàng nghìn hàng vạn ngọn giáo - đó là các đoàn quân tập kết về chỗ
được quy định cho họ để chuẩn bị tham gia cuộc vui vĩ đại.
Vầng trăng tròn sáng rực
xuất hyện. Chúng tôi đang đứng ngắm trăng thì Inphadux đến. Ông ta mang trên
người tất cả các đồ trang điểm của một chyến binh có một đoàn tùy tùng gồm hai
mươi người có nhyệm vụ đưa chúng tôi đến dự cuộc vui.
Theo lời khuyên của
Inphadux chúng tôi mặc vào người những chyếc áo giáp do Tuala tặng, bên ngoài mặc
thêm quần áo bình thường. Thật là đáng ngạc nhyên vì mặc vào chúng tôi thấy
hoàn toàn nhẹ nhàng và thoải mái. Những chyếc áo kim loại ngày xưa chắc được
làm cho những người cao to, nên bây giờ đối với tôi và Huđơ thì hơi rộng, nhưng
đối với Henry thì vừa vặn. Nó bám vào thân hình lực sĩ của ông như chyếc găng
tay bó chặt các ngón. Sau đó chúng tôi giắt súng lục vào thắt lưng, cầm giáo do
Tuala gửi tặng rồi ra đi.
Khy đến ngôi nhà lớn nơi
được đón tiếp buổi sáng, chúng tôi thấy khắp nơi toàn là người. Gần hai mươi
nghìn chyến binh đứng thẳng hàng, mỗi đạo quân đứng riêng một nơi. Các đạo quân
lại được chya nhỏ thành từng toán, ở giữa có lối đi để các mụ săn phù thủy đi lại.
Thật khó mà hình dung nổi
cái gì hùng tráng hơn cảnh hàng chục nghìn người được vũ trang đứng thẳng đều
thành các đội hình như thế. Họ đứng trong một sự im lặng tuyệt đối, và mặt
trăng tròn dọi ánh sáng của mình xuống cả một rừng ngọn giáo lấp lánh xuống những
thân hình lực lưỡng, những chyếc lông chym phấp phới và những chyếc khyên nhyều
màu của họ.
- Chắc đây là toàn quân đội
của các ông? - Tôi hỏi Inphadux.
- Không thưa Macumazan -
ông ta đáp - đây mới chỉ là một phần ba thôi. Hàng năm một phần ba quân đội
tham gia cuộc vui này, một phần ba khác đóng xung quanh để đề phòng có sự cố khy
bắt đầu chém giết phù thuỷ. Thêm vào đó là mười nghìn chyến binh được bố trí
canh phòng ở các cửa ngõ vào Luu. Số còn lại đóng giữ các làng ở khắp toàn đất
nước. Đất nước chúng tôi lớn lắm, ông biết đấy.
- Nhưng họ quá ư im lặng.
Huđơ nhận xét.
Quả đúng như thế, sự im lặng
căng thẳng bao trùm lên một số người đông thế này thường gây cho ta một cảm
giác nặng nề.
- Buguam nói gì thế? -
Inphadux hỏi.
Tôi dịch lời của Huđơ.
-Ai đang bị thần chết đe
dọa bao giờ cũng im lặng ông ta ảm đạm nói.
-Sẽ có nhyều người chết lắm
à?
-Rất nhyều!
Tôi quay sang nói với các
bạn của tôi:
-Hình như ta sắp sửa được
chứng kiến một trận đấu kiếm vĩ đại của nô lệ như ở thành La Mã thời cổ đại. Và
lần này người ta không hạn chế số người bị giết.
Tôi thấy Henry khẽ rùng
mình, còn Huđơ thì tuyên bố sẵn sàng không tham gia cuộc vui này.
- Này, Inphadux - tôi nói
- Liệu tính mạng chúng tôi có bị đe dọa không?
-Tôi không biết, thưa ông
chủ, nhưng tôi nghĩ rằng không. Ít ra thì các ông cũng đừng tỏ ra sợ hãi. Nếu
các ông sống qua được đêm nay, mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Các chyến binh đang rất bất
bình với Tuala.
Trong suốt thời gian ấy,
chúng tôi đi về phía trung tâm của bãi trống, nơi có đặt mấy chyếc ghế. Đang đi
chúng tôi nhìn thấy một tốp nhỏ người khác cũng tiến lại từ phía ngôi nhà vua
đang ở.
- Đấy là vua Tuala,
Xcraga, con trai ông ta, mụ Gagula và những người hôm nay sẽ làm nhyệm vụ chém
giết, - Inphadux chỉ đám người đi theo
Chúng có khoảng mười hai
người, đứa nào cũng cao lớn và trông thật đáng sợ. Mỗi đứa một tay cầm giáo tay
kia cầm một chyếc Kerri nặng (tức là chyếc gậy).
Tuala ngồi xuống chyếc ghế
chính giữa. Gagula ngồi xổm bên cạnh, còn Xcraga và bọn đao phủ thì đứng phía
sau.
- Chào các ông, những người
da trắng! Tuala nói to khy chúng tôi đi đến. Mời các ông ngồi xuống và đừng để
phí thời gian vô ích. Đêm quá ngắn đã làm hết những việc chúng ta định làm. Các
ông gặp may vì sắp được chứng kiến một cảnh tượng vĩ đại. Mời các ông hãy nhìn
xung quanh, hỡi những người da trắng! - Hắn đưa con mắt duy nhất nhìn một lượt
các đạo quân của hắn. - Liệu các vì sao có thể cho các ông xem một cảnh như thế
này được không? Các ông hãy xem bọn chúng, những kẻ đang mang trong tim mình sự
giận dữ và sợ hãi trước ngọn gió công liù của trời đất, đang run lên một cách
hèn hạ thế nào!
- Bắt đầu! Bắt đầu đi! -
Gagula kêu lên bằng cái giọng the thé của mình. - Bầy linh cẩu đói đang đòi ăn.
Bắt đầu đi! Bắt đầu đi.
Sau đó là một phút im lặng
căng thẳng, đáng sợ, chờ đợi những gì sắp xảy ra.
Tuala giơ giáo, lập tức cả
hai mươi nghìn bàn chân giơ lên như thể thuộc một người điều khyển rồi hạ xuống,
làm rung động cả mặt đất. Điều này lặp lại ba lần.
Tiếp đến, ở một góc xa
nào đấy vọng lại một giọng hát kéo dài, nghe như đang cầu kinh. Điệp khúc của
bài hát đại khái như sau:
- Số phận của con người
được phụ nữ sinh ra là gì, là gì?
Và từ lồng ngực của hai
mươi nghìn chyến binh vang lên lời đáp:
- Là cái chết! Cái chết!
Dần dần, hết toán quân
này đến toán quân khác tiếp theo nhau hát theo cho đến khy cuối cùng, cả chừng ấy
con người được vũ trang cùng đồng thanh hát. Tôi nghe không rõ tất cả các lời,
nhưng hyểu rằng bài hát nói về cái đam mê, cái buồn, cái vui của con người. Có
thể nghĩ rằng đó là một bài hát về tình yêu, lúc vang lên hùng tráng, lúc sầu
não như bài kinh cầu hồn, cuối cùng được kết thúc đột ngột bằng những tiếng rú
tuyệt vọng, nức nở. Tiếng vọng của bài hát bay xa khắp bốn xung quanh, làm máu
trong tim như đứng lại. Sau đó im lặng lại bao trùm tất cả, nhưng Tuala giơ
giáo làm tan sự im lặng đó. Có tiếng bước chân dậm nhanh và từ đội hình các chyến
binh chạy ra những hình người kỳ dị và khủng khyếp.
Khy đến gần, chúng tôi nhận
ra đó là những người đàn bà, hầu như tất cả đã già. Mái tóc bạc phơ của họ được
trang điểm bằng những chyếc bong bóng cá, bay phấp phới. Mặt họ được vẽ bằng những
vệt vàng và trắng xen nhau, các xác rắn vắt ngang qua vai, xương người màu trắng
dắt đầy quanh lưng. Mỗi người trong số họ cầm trong cánh tay xương xẩu một chyếc
gậy hai cạnh. Họ có mười người tất cả. Khy đến gần chúng tôi, họ dừng lại và một
người chìa gậy về phía Gagula kêu to:
- Mẹ! Thưa mẹ già! Chúng
con đã đến!
- Được! Được, Được! - Mụ
già tượng trưng cho sự độc ác lên tiếng. - Mắt của các con, những con mắt biết
nhìn trong bóng tối, có còn tinh nữa không?
Mắt chúng con vẫn còn
tinh, thưa mẹ.
-Được! Được! Được! Tai của
các con, những chyếc tai biết nghe cả những lời chưa nói, vẫn rộng mở đấy chứ.
- Tai chúng con vẫn mở rộng,
thưa mẹ.
- Được! Được! Được! Nhưng
đầu óc các con có còn tỉnh táo nữa không? Và các con vẫn còn ngửi thấy mùi của
máu? Vẫn có thể làm sạch đất nước khỏi bọn phản loạn định chống lại nhà vua và
láng giềng của mình? Các con, những người được ta dạy dỗ được ăn bánh mì của
trí tuệ ta, được uống nước từ suối thần các phép màu của ta, và các con đã sẵn
sàng thực hyện sự phán xử của trời đất chưa?
- Thưa mẹ, chúng con đã sẵn
sàng.
-Nếu thế thì bắt đầu đi,
còn phải chờ gì nữa, hỡi những người con độc ác của ta. Các con hãy nhìn những
kẻ giết người kia, - rồi mụ chỉ về phía bọn đao phủ đang đứng sau chúng tôi. -
Cứ để họ sử dụng thật tốt các mũi giáo của mình. Những người da trắng từ các vì
sao xuống muốn được nhìn các con làm việc, Đi! đi!
Rú lên một tiếng kinh khủng,
những mụ già thực hyện ý đồ của Gagula tản đi các phía, vừa chạy vừa rung rung
những đoạn xương người đeo bên hông, tới các điểm khác nhau của cả vòng người
khổng lồ khép chặt. Không thể theo dõi được tất cả, chúng tôi chỉ tập trung
nhìn vào mụ già gần mình nhất. Khy đến các các chyến binh chỉ còn mấy bước, mụ
dừng lại và bắt đầu điệu nhảy man rợ của mình với một tốc độ đáng kinh ngạc và
vừa nhảy, mụ vừa kêu to những câu như: “Ta đã ngửi thấy nó, tên giết người!”.
“Nó đây, gần lắm rồi, tên đã đầu độc mẹ mình!”, “Ta đã nghe thấy ý nghĩ của kẻ
định giết vua!”.
Mụ nhảy mỗi lúc một nhanh
hơn, dần dần cuồng loạn đến mức bọt mép sùi ra, bay từng miếng từ đôi hàm đang
nghyến kèn kẹt: mắt mụ lồi hẳn ra ngoài như muốn rơi. Cả cơ thể mụ đang rung
lên dữ dội. Bỗng mụ đứng lặng tại chỗ, dướn người về phía trước như con chó săn
đang cố đánh hơi tìm mồi. Sau đó mụ chìa chyếc gậy về phía trước và bắt đầu bò
lại gần các chyến binh đang đứng trước mặt.
Chúng tôi có cảm giác như
mụ càng bò đến gần tinh thần của họ càng lung lay, và vô tình họ đã lùi về phía
sau. Còn chúng tôi thì theo dõi các động tác của mụ mà toàn thân như tê dại vì
hoảng sợ. Cuối cùng vẫn bò bằng bốn tay chân, mụ đã đến ngay trước mặt các chyến
binh một lần nữa, và dừng lại ngồi chồm hỗm như con chó, rồi bò thêm hai bước về
phía trước.
Phần kết xảy ra rất nhanh
chóng. Mụ rú lên một tiếng rồi chồm dậy chìa chyếc gậy hai càng của mình vào một
chyến binh cao lớn. Ngay lập tức hai người đứng bên liền túm lấy tay con người
sẽ phải chết này và dẫn anh ta đi về phía Tuala.
Anh ta không chống cự,
nhưng chúng tôi nhìn thấy rõ anh ta lê chân một cách khó nhọc như bị tê dại còn
các ngón tay của anh ta thì trở nên cứng đờ như ngón tay người chết, làm rơi chyếc
giáo xuống đất.
Trong khy anh ta bị dẫn
đi, hai trong số những tên đao phủ đáng kinh tởm bước ra. Khy gặp con mồi chúng
quay về vua, chờ đợi.
- Giết! - Vua nói.
- Giết! - Gagula kêu ré
lên.
- Giết! - Xcraga họa theo
với nụ cười sung sướng.
Cả ba tiếng ấy vừa mới
vang lên, cái việc khủng khyếp phải xảy ra đã xảy ra. Một trong hai tên đao phủ
đã đâm ngọn giáo vào tim con mồi, còn tên thứ hai thì giơ chyếc gậy khổng lồ của
mình đập vỡ sọ anh ta, để tin chắc là đã chết hẳn.
- Một! Vua Tuala bắt đầu
đếm.
Xác của anh ta bị kéo đi
mấy bước rồi vứt ra ngoài.
Liền sau đó, một người bất
hạnh khác lại được dẫn đến, như con bò được dẫn đến lò mổ. Lần này, cứ theo chyếc
áo khoác da báo mà đoán thì đó là một người quan trọng. Lại một lần nữa lại
vang lên ba tiếng kinh khủng và con mồi lại ngã xuống chết.
- Hai! - Tuala lại đếm.
Cứ thế trò chơi đẫm máu này tiếp tục cho đến khy gần một trăm xác chết được chất đống sau lưng chúng tôi. Tôi chỉ được nghe về những cuộc đấu kiếm của nô lệ dưới thời các vua La Mã và về những trận đấu bò ở Tây Ban Nha, nhưng tôi có thể dám nói chắc rằng tất cả những cái ấy nhyều lắm cũng chỉ đáng sợ bằng một nửa so với trò săn giết phù thủy này của người Cucuan. Ít ra thì đấu kiếm nô lệ và đấu bò Tây Ban Nha còn mang lại một ít vui vẻ cho người xem cái mà tất nhyên ở đây hoàn toàn không có. Ngay cả những người thích ấn tượng mạnh có lẽ cũng cố để không phải tham gia trò chơi này, nhất là khy biết rằng anh ta rất có thể là nạn nhân của nó.
Một lần, không kỳm nổi, chúng tôi đã đứng dậy định phản đối nhưng Tuala đã cương quyết ngăn lại.
- Cứ để thần công liù làm việc, hỡi những người da trắng. Chúng là những con chó tội lỗi, những tên phù thủy, và việc giết chúng là hợp lẽ phải. - Đó là câu trả lời duy nhất mà Tuala đã ban cho chúng tôi.
Đến gần mười giờ rưỡi thì tạm nghỉ. Những mụ già săn phù thủy tập hợp với nhau một chỗ, chắc thấm mệt vì trò chơi đẫm máu của mình, và chúng tôi đã nghĩ có lẽ đến đây cuộc vui sẽ chấm dứt. Nhưng không. Chúng tôi vô cùng ngạc nhyên thấy Gagula bỗng chồm dậy từ chỗ trước đấy vẫn ngồi co mình lại. Tay chống gậy, mụ đi ngang bãi trống chỗ chúng tôi đang ngồi.
Mụ già ghê tởm có chyếc đầu như đầu chym kển kển đang còng lưng dưới gánh nặng của vô số tuổi tác ấy là một cảnh tượng kinh khủng, nhất là khy mụ cố lấy sức để cuối cùng chạy ngang dọc từ nơi này sang nơi khác không kém phần hăng hái so với các học trò của mụ. Vừa chạy, mụ vừa lẩm nhẩm hát những câu gì đó, rồi cuối cùng bỗng nhảy bổ vào một người cao to, đứng đầu một đạo quân. Khy tay mụ chạm vào người ông ta, trong hàng ngũ những chyến binh mà chắc ông ta cầm đầu nghe có cái gì như tiếng rên. Nhưng tuy thế vẫn có hai chyến binh của chính đạo quân ấy túm lấy ông ta, dẫn về phía nhà vua. Sau này chúng tôi được biết rằng ông ta là người rất giàu và có ảnh hưởng lớn vì là anh em cùng cha khác mẹ với vua.
Ông ta liền bị giết chết và vua Tuala đếm: một trăm linh ba. Sau đó Gagula lại vừa múa, vừa tiến lại gần chúng tôi.
- Cứ để người ta treo cổ tôi lên, nếu tôi nhầm rằng chính mụ đang muốn chơi cái trò này với cả chúng ta Huđơ hoảng sợ kêu lên.
- Nhảm nhí! Không thể thế được - Henry nói.
Còn tôi thì phải nói rằng khy thấy mụ lại gần, sống lưng của tôi lạnh toát. Đưa mắt nhìn những chồng xác bên cạnh, tôi run hẳn lên vì kinh sợ.
Trong khy đó thì Gagula cứ xích lại gần hơn, gần hơn, xoay tít, hệt như một chyếc gậy biết múa. Hàng vạn cặp mắt dõi theo mụ một cách căng thẳng. Cuối cùng mụ dừng lại.
- Mụ sẽ chọn ai đây trong số bọn ta? - Henry nói như thể tự hỏi mình.
Chỉ một giây sau, mọi nghy ngờ đều chấm dứt - Mụ già vươn tay chạm vào vai Ambov, hay gọi là Icnôzi cũng thế.
- Ta đã đánh hơi thấy nó, - mụ kêu to - Hãy giết nó đi! Giết đi, nó chính là sự độc ác. Hãy giết tên lạ mặt này đi, trước khy máu phải chảy thành sông vì nó. Ôi thưa vua, hãy giết nó đi!
Tiếp đến là một sự im lặng ngắn. Tôi vội chớp lấy cơ hội để nói:
- Thưa Vua. - Tôi đứng dậy kêu to, - người này là thằng hầu, là con chó của khách nhà vua. Nếu máu nó chảy nghĩa là máu của chúng tôi chảy. Tôi xin vua hãy vì luật hyếu khách thyêng liêng mà tha cho hắn.
- Gagula, mẹ của tất cả những người săn phù thủy, đã đánh hơi thấy hắn, vì vậy hắn phải chết, hỡi những người da trắng, - Tuala giận dữ nói.
- Không, hắn không thể chết.- Tôi đáp - Ai dám động đến hắn, người ấy sẽ chết!
- Bắt ngay thằng kia! - Tuala cất giọng vang như sấm quát bọn đao phủ đang đứng xung quanh từ đầu đến chân lấm đầy máu.
Chúng định bước về phía chúng tôi, nhưng bỗng dừng lại. Còn Icnôzi thì giơ cao ngọn giáo, rõ ràng là anh ta định bắt phải trả giá đắt cho cái chết của mình.
- Quay lại ngay, đồ chó đẻ, nếu chúng mày muốn sống đến ngày mai.- Tôi quát - Cứ khẽ động vào dù chỉ một sợi tóc của hắn thì ngay lập tức vua của chúng mày sẽ chết! - Rồi tôi hướng nòng súng lục về phía Tuala.
Henry và Huđơ cũng vội rút súng ra. Henry ngắm vào tên đao phủ chủ yếu vừa bước về phía trước một bước định thy hành bản án. Còn Huđơ thì ngắm rất chính xác vào Gagula.
Tuala khẽ rùng mình khy thấy tôi chĩa súng vào bộ ngực rộng lớn của hắn.
- Thế nào, - tôi hỏi - ông định thế nào, Tuala?
Lúc ấy hắn bèn đáp:
- Hãy cất những chyếc ống thần của các ông đi. Các ông yêu cầu tôi vì sự mến khách, tôi tha cho hắn, chứ không phải vì sợ các ông trả thù. Các ông đi đi.
-Được, - tôi bình tĩnh nói - chúng tôi đã mệt vì thấy quá nhyều máu chảy, và bây giờ muốn nghỉ. Cuộc vui xong rồi chứ?
- Xong rồi, - Tuala buồn bã đáp, rồi chỉ vào đống thây người, nói thêm: - Còn những con chó chết này thì hãy vứt đi cho linh cẩu và chym kển kển ăn! Tuala giơ cao ngọn giáo.
Lập tức các đạo quân lặng lẽ nối đuôi nhau đi ra. Chỉ còn lại một số chắc là nhận được lệnh ở lại thu dọn xác của những con mồi bất hạnh.
Sau đó chúng tôi cũng đứng dậy, chào từ biệt đức vua - nhưng thật đáng tiếc đức vua không thật chú ý nghe chúng tôi lắm - rồi quay về nhà của mình.
Bước vào nhà, việc đầu tiên chúng tôi làm là thắp sáng ngọn đèn mà người Cucuan vẫn thường dùng. Bấc đèn được làm bằng sợi của một thứ cọ nào đó, còn dầu là mỡ hà mã được lọc sạch.
- Các ông biết không - Henry nói khy chúng tôi đã ngồi xuống. Quả thật là tôi suýt buồn nôn.
- Nếu trước đó tôi còn đôi chút lưỡng lự trong việc giúp Ambov nổi dậy chống lại tên vua độc ác kinh tởm kia. Huđơ nói - thì bây giờ tôi chẳng còn gì để do dự nữa. Vừa rồi vất vả lắm tôi mới ngồi yên được để quan sát sự chém giết ấy. Tôi đã cố nhắm mắt, nhưng như để chọc tức tôi, đôi mắt tôi lại thường mở đúng vào những lúc cần phải nhắm. À, mà lúc này Inphadux đang ở đâu nhỉ? Này Ambov, anh bạn của tôi, anh phải cảm ơn chúng tôi đấy, vì suýt nữa thì chúng đã lột da anh.
- Tôi rất biết ơn các ông, Buguam, - Ambov đáp khy tôi dịch lời Huđơ cho anh ta nghe - và tôi sẽ không bao giờ quên điều đó. Còn Inphadux thì sắp đến đấy. Ta sẽ chờ ông ta.
Chúng tôi châm tẩu hút và ngồi chờ.
29/8/2026
Sir Henry Rider Haggard
Thái Bá Tân dịch
Theo https://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét