Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Luật tiến hóa và dịch lý 00000000

Luật tiến hóa và dịch lý

Thay lời giới thiệu
Quý độc giả thân mến,
Nếu tình cờ chỉ đọc qua tựa đề cuốn sách này, có thể quý vị đã có một ấn tượng đầu tiên cho rằng đây là một cuốn sách nói về khoa học giả tưởng, hay thậm chí có thể là sách Khoa-Học Huyền-Bí, viết về những Tiên-Tri dành cho nhân loại trong tương lai (?). Không phải vậy! Xin khẳng định ngay: Đây là kết quả của nghiên cứu khoa học kéo dài hơn ba mươi năm về thuyết Tiến Hoá và Dịch lý, được kiểm chứng bằng nhiều dữ kiện khoa học đáng tin cậy, trong suốt chiều dài mấy tỷ năm cuả Trái Đất và lịch sử gần mười ngàn năm của nhân loại. 
Trước hết, điều quan trọng xin được nhấn mạnh ở đây là, cuốn sách này không viết cho riêng một nhân vật hay tổ chức nào, mà viết cho mỗi cá nhân con người đang có mặt trên trái đất này. Hãy thử tưởng tượng: Bất cứ ai đang sinh sống trên trái đất này, không phân biệt chủng tộc, địa vị hay tuổi tác, là đầu mối của một sợi dây trong gần bảy (7) tỷ sợi dây khác, chạy song song lui lại quá khứ và lần lượt nhập vào nhau, kéo dài hơn một triệu năm, cho đến khi chỉ còn lại một đầu sợi dây duy nhất. Sợi dây duy nhất đó chính là bà Mẹ “Lucy” thủy tổ của loài người, theo định nghĩa của các nhà khoa học.
   Ý tưởng viết trong sách này thật sự đã bắt đầu thành hình từ thập niên 80, khi chương trình “Cosmos” của đài truyền hình công cộng (Public Broadcasting Services) ở nước Mỹ nói về thuyết Big-Bang hay vụ nổ lớn khai sinh vũ trụ, đã được trình bày một cách đơn giản và thông suốt qua người dẫn chương trình là GS-TS Carl Sagan. Nhờ có hiểu biết về khoa Dịch Lý trước đó, người viết đã không khỏi ngỡ ngàng khi phát hiện ra Dịch Lý hay Kinh Dịch đã gỉải thích hiện tượng khai sinh ra vũ trụ cũng giống tương tự như vậy. Thêm vào, các chương trình kế tiếp sau đó nói về thuyết Tiến-Hóa của Darwin mới thật sự làm cho người viết vô cùng ngạc nhiên, khi khám phá ra đó là những gì mà Dịch lý còn thiếu sót cần có, hay ngược lại cho thuyết tiến hóa. Đúng hơn, đó là một kết hợp tuyệt vời giữa hai nền khoa học Đông-Tây. Hai thuyết Tiến-Hóa và Dịch Lý dù ra đời cách nhau gần ba ngàn năm, không những đã không đối nghịch lại với nhau mà còn đóng vai trò phụ trợ, bổ túc cho những thiếu sót lẫn nhau một cách thật là hoàn hảo!
   Mặc dù vậy, khó khăn ban đầu đã gặp phải là làm sao tìm kiếm ra đầy đủ tất cả các dữ kiện khoa học cần thiết để chứng minh những gì mà trực giác sơ khởi cho thấy là đúng, khi phương tiện khảo cứu vẫn còn nhiều hạn chế vào thời điểm lúc bấy giờ. Phải chờ hơn một thập kỷ sau để nhờ có sự bùng phát về công nghệ thông tin và kỹ thuật điện toán, người viết mới có cơ hội để bắt đầu công việc khảo cứu, với sự trợ giúp quý giá từ các nguồn tài liệu của thư viện ảo trên các trang mạng. Nhưng đột phá sau cùng để đưa đến kết quả mong muốn, chính là nhờ tình cờ tìm ra chìa khoá của “Lâu Đài Văn-Hóa” thế giới, tiêu biểu cho các nền văn minh chính, mở ra được cánh cửa thông suốt với nhau giữa hai lý thuyết khoa học, và phá vỡ bức màn huyền bí vô hình ngăn cách Đông-Tây. Những ý tưởng trình bày trong các chương sách sau đây dựa trên những chứng cứ khoa học và nhận xét khách quan, hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc hay chịu ảnh hưởng của tôn giáo hay bất kỳ ý-thức-hệ nào. Do đó, nếu tình cờ nội dung xuất hiện trong sách này có những thông tin hay sự kiện lịch sử liên hệ trực tiếp đến chủng tộc, tôn giáo hay ý thức hệ, v.v, thì phải được hiểu là những tham khảo thực tế, dùng để làm hậu thuẩn hay hổ trợ thêm dữ kiện khoa học, minh chứng cho các luận đề hay lý thuyết đưa ra.   
   Sau cùng, phải thành thật nhìn nhận là người viết đã không thể dễ dàng hoàn thành tốt đẹp cuốn sách này, nếu không có được sự hy sinh và đóng góp quý giá, gián tiếp hay trực tiếp, dù ít hay nhiều, từ những đất nước và con người thân yêu quý mến, xuyên suốt qua quá trình hàng ngàn năm lịch sử của thế giới. Do đó, chắc sẽ là một thiếu sót đáng tiếc, nếu chỉ kể ra một số tên tuổi của các nhân vật danh tiếng hay một vài tổ chức quen biết nào đó mà thôi. Mong rằng có sự thông cảm và cho phép người viết được nói chung một lời duy nhất, xuất phát từ sự ngưỡng mộ và trân trọng nhất của tâm hồn là:
                                                                                       Chân Thành
                                                            Tri Ân và Kính Dâng Tặng cuốn sách này cho toàn thể Nhân Loại.
Chương 1
Giải Mã Vũ Trụ – Quy Luật Tiến Hóa
Từ khi thuyết tiến hoá của Darwin ra đời (1859) và mặc dù được đa số các nhà khoa học danh tiếng công nhận là hợp lý đúng theo khoa học, được giảng dạy khắp nơi trên thế giới,
nhưng vẫn chưa có một mô hình Toán hay thực nghiệm nào khác đưa ra để minh chứng cụ thể, hoặc để làm sáng tỏ ý nghĩa thêm cho phần lý thuyết. Do đó, đã có một thắc mắc nói chung về khoa học: Nếu trong vũ trụ này có những định luật vật lý về chuyển động (Laws of Motion) được diễn tả theo một công thức tính toán gần như chính xác của luật hấp dẫn trọng trường, lực đẩy (Archimede)
của nước, hay sự truyền dẫn nhiệt năng v.v, thì tại sao chúng ta không thể có một quy luật hay một công thức nào đó để tính toán thời gian, áp dụng cho sự thay đổi và tiến hoá của vũ trụ nói chung, hay cho trái đất và các loài sinh động vật nói riêng, kể cả cho con người? Nên nhớ là không phải tất cả các quy luật khoa học hay công thức tính toán nào cũng đều phải có độ chính xác cao như khoa Vật Lý, nhất là khi áp dụng cho các bộ môn khoa học về nhân văn hay kinh tế tài chánh.
Một suy luận bình thường cho thấy: Nếu tất cả vật thể rơi tự do trong không gian đều phài chịu chi phối bởi lực hấp dẫn trọng trường nói chung, thì sự tiến hoá của các loài Sinh-Động
Vật trên trái đất này, nếu nói theo ngôn ngữ vật lý, đã và đang “rơi tự do” từ lúc vũ trụ mới khai sinh cho đến hiện tại, cũng có thể phải chịu tác động theo một trật tự hay quy luật nhất
định nào đó (?). Suy diễn từ ý tưởng trên đã cho ra một kết luận khá lô-gích là: Phải có một quy luật về thời gian vật lý nào đó để áp dụng cho sự thay đổi và tiến hóa cuả các loài Sinh-Động-Vật trên trái đất này. Nếu không, thì có lẽ sự tiến hóa cuả vạn vật đã trở thành rối loạn, mất trật tự và không cân bằng, biến trái đất thành một hành tinh chết, hay ngay đến cả vũ trụ này cũng chưa chắc tồn tại và vận hành như chúng ta thấy được hiện nay(!?)
Kết quả từ suy luận đó cho ra, như đã giới thiệu sơ lược ở trên, một sự liên kết và so sánh khá ấn tượng giữa luật hấp dẫn trọng trường cuả vật thể rơi tự do, và quy luật tiến hoá cuả các
loài Sinh-Động-Vật nói chung, kể cả con người, dựa vào một số dữ kiện chính sau đây:
Trước khi phát hiện ra lực gia tốc G, Newton đã quan sát các vật thể hay trái táo rơi và có thắc mắc là tại sao tất cả các trái táo đều rơi xuống đất mà không có cái nào rơi ngược trở lại ra ngoài không gian. Kết luận của Newton khá đơn giản là phải nhờ có một lực nào đó kéo trái táo về hướng trái đất. Một cách giống tương tự như vậy nếu chúng ta quan sát lịch sử tiến hoá của các loài Sinh-Động-Vật, tất cả đều cho thấy có sự thay đổi liên tục sau mỗi thế hệ, để cho ra các hậu duệ mới kế tiếp và thường là tốt đẹp và tiến bộ nhiều hơn theo chiều hướng tương lai. Nghĩa là nếu nói theo cách khác, xã hội con người nói chung, càng ngày càng văn minh và tiến bộ với một tốc độ thay đổi nhanh hơn so với tiền nhân cuả mình. Đây phải là tiến trình thay đổi nhất định và không thể làm cho đảo ngược lại được. Cụ thể minh chứng cho thấy lịch sử của 1000 năm trong thiên kỷ thứ 2 đã thay đổi khá nhiều trong hai thế kỷ cuối cùng nếu so với 8 thế kỷ trước đó, nhất là về phương diện khoa học
và kỹ thuật. Ngay cả tuổi thọ trung bình của con người cũng đã gia tăng nhanh chóng đáng kể, nếu so sánh thế kỷ 20 với những thế kỷ trước.
Đồng thời và ngược lại, trong quá khứ mấy ngàn năm lịch sử, tập thể hay xã hội nào chọn con đường quá bảo thủ hay không muốn thay đổi nhiều để theo kịp đà tiến bộ, thì chắn chắn hầu hết đã bị chậm tiến và tụt hậu, rồi cuối cùng cũng đưa đến hậu quả là bị chiếm đoạt hay mất luôn chủ quyền quốc gia vào tay các xã hội văn minh và tiến bộ hơn. Cụ thể như là số phận của các bộ tộc hùng mạnh trước Công Nguyên ở Phi Châu và Trung Đông, đã bị tụt hậu trong thiên niên kỷ đầu tiên, hay các nước Á Châu bị chậm tiến trong hai thế kỷ 19, 20,v.v.
Trở lại chủ đề chính, đa số chúng ta đều biết là muốn xác định được luật hấp dẫn trọng trường hay còn gọi là luật rơi tự do của một vật thể, các nhà khoa học đã làm những thí nghiệm cụ thể và đơn giản để chứng minh như sau: Thả một vật rơi tự do trong một môi trường lý tưởng và xác định vị trí cuả vật thể đó sau một khoảng thời gian bằng nhau nhất định. Vị trí của những vật rơi xác định nói trên tại mỗi thời điểm được ghi nhận và gọi là “Dữ kiện khoa học”. Kế đến, dùng kết quả thí nghiệm đó để nghiên cứu và tìm ra mô hình toán cho những liên hệ vật lý của sự rơi, dựa trên những dữ kiện có được . Cụ thể như hình A sau đây cho thấy:
 
Các nhà khoa học đã thả một vật rơi và chụp hình vị trí cuả vật thể đó sau mỗi 1/20 giây. Kết quả nhận xét cho thấy khoảng cách hay vị trí của vật rơi tự do là một hàm số tỷ lệ thuận với bình phương của thời gian. Tương tự giống như thí nghiệm vật lý về vật rơi tự do nói trên, công việc đi tìm một quy luật cho thuyết tiến hoá gồm có ba công đoạn chính:
1. Nhận diện và xác định các nền văn minh chính của nhân loại, dựa trên những dữ kiện lịch sử đã có và đáng tin cậy trong mấy ngàn năm qua. May mắn là chúng ta đã có ít nhất
hơn hai ngàn năm lịch sử thế giới được ghi chép khá đầy đủ, và ít nhất là thêm vài ngàn năm nữa với các di tích văn hoá đã được phát hiện hay tìm thấy mới đây như lăng mộ, cổ vật, xương cốt và dụng cụ sinh hoạt hàng ngày. Lịch sử thế giới qua mấy ngàn năm cũng cho thấy, một nền văn minh lớn thường là được thừa hưởng hay kế thừa từ các nền văn minh nhỏ hơn trước đó quy tụ lại.
Từ đó, theo định nghĩa thực tế, một nền văn minh chính và lớn nhất, đại diện cho một thời đại, phải là một nền văn minh dẫn đầu thế giới trong cả ba lãnh vực trọng yếu: Kinh tế, Quân sự và Khoa học-Kỹ thuật.
2. Dựa trên các dữ kiện đã có và được kiểm chứng nói trên, chúng ta sẽ thử đi tìm một mô hình toán cơ bản, biểu thị tổng quát cho sự liên kết của các dữ kiện lịch sử lại với nhau một
cách hợp lý, để có thể gọi chung là quy luật Tiến Hoá.
3. Sau cùng, mô hình toán tìm thấy sẽ được áp dụng trong phương pháp tính ngược trở lại cho tới thời điểm khai sinh ra Vũ trụ, Thái dương hệ, và tất cả các nguyên đại kế tiếp theo
sau đó. Mục đích chính là dùng để kiểm chứng lại phần lý thuyết đưa ra của mô hình Toán đã được trình bày.
Chương 1 - 2 -
1.1 Nhận Diện Các Nền Văn Minh Chính
Trong lịch sử được ghi chép lại hơn mấy ngàn năm của thế giới, chúng ta thấy có sự hiện diện của hàng trăm nền văn minh lớn nhỏ khác nhau. Một số ít các nền văn minh này thường tập trung vào trong một vùng miền địa lý riêng biệt nào đó, thường là trong những vùng châu thổ gần các con sông chính, hay trên các bình nguyên rộng lớn xuất hiện sau đó. Nhờ vậy, cũng không khó để nhận diện ra được một số các nền văn minh chính và lớn nhất, dựa vào một yếu tố duy nhất mà hầu hết đa số các sử gia đều công nhận: Đã từng một lần quản lý hay cai trị nhiều lãnh thổ có tổng số diện tích lớn hơn rất nhiều, nếu so với tất cả các nền văn minh khác trong cùng một thời gian đang nói đến. Sở dĩ chỉ cần có yếu tố nói trên là vì nếu muốn chiếm đóng được nhiều đất đai làm thuộc địa và để bảo vệ quyền hành cai trị lâu dài, phải cần có khả năng tài chánh để duy trì một quân đội thật hùng mạnh với vũ khí tối tân hơn đối phương, và dĩ nhiên trên hết là còn phải có một nền tảng khoa học và kỹ thuật tiên tiến. 
Cụ thể như Tây Ban Nha (TBN)
trong hai thế kỷ 16, 17 cũng được coi là một nền văn minh lớn của Âu Châu, trong thời kỳ “Phục Sinh” (Renaissance) vì đã từng tiên phong đi thám hiểm chiếm đóng đất đai và có nhiều thuộc địa ở Châu Mỹ, v.v. Dù vậy, TBN không được coi là một nền văn minh lớn nhất và đại diện của châu Âu, do tổng số diện tích lãnh thổ cai trị không bằng 1/4 nếu so với lãnh thổ của đế quốc Anh trong thời kỳ cực điểm sau đó. Nhưng lý do chính trên hết và quan trọng nhất là vào thời kỳ cực thịnh trong thế kỷ 17, TBN vẫn còn chưa bỏ xa hay vượt qua được Trung Hoa về quân sự cũng như khoa học và kỹ thuật. Có thể ví TBN cũng giống tương tự như Hy-Lạp trước đó, chỉ đóng vai trò của một nền văn minh tiên phong đi khai phá, để sau cùng chuyển giao lại cho các nền văn minh kế thừa lớn mạnh hơn, tiếp nối theo sau ở Âu châu. Tóm lại, không khó để nhận diện ra một vài nền văn minh chính và lớn nhất của nhân loại trong quá khứ, nếu chỉ dựa trên yếu tố đã từng một thời cai trị hay quản lý một diện tích đất đai rộng và lớn nhất trong vùng điạ lý chính trị có ảnh hưởng trên thế giới, theo thứ tự thời gian như sau:
   Văn Minh       Đế Quốc     Diện Tích    Cực Điểm        Văn Hóa
                                                 (Km2)           (Năm)
  *Phi Châu       Ai Cập            ???            2540 BC      Bàn Tay - Xây dựng
  *Trung-Đông   La Mã            6.5 Tr.           117 AD     SinhDục - Thẩm mỹ
  *Á Châu     Nguyên-Mông 33.0 Tr.        1279 AD     Ruột - Bụng - Ẩm thực
  *Âu Châu        Anh              33.7 Tr.        1919 AD     Ngực - Trái tim - Ái tình
Trong các nền văn minh nói tṛên, chỉ có đế quốc Ai-Cập là thiếu tài liệu ghi chép đầy đủ về sự hùng mạnh hay thời kỳ cực thịnh của các vương triều cai quản. Lý do chính vẫn là phương tiện ghi chép còn quá hạn hẹp và thô sơ vào thời đại này. Tuy nhiên, với nhóm Kim-Tự-Tháp vĩ đại để lại cho hậu thế, trở thành kỳ quan số 1 của nhân loại với nhiều ngưỡng mộ và thán phục từ các chuyên gia về kỹ thuật xây dựng hiện nay, thì có thể khẳng định được đó là thời kỳ cực đỉnh nhất của nền văn minh Phi Châu, dưới sự cai trị của đế quốc Ai Cập thời bấy giờ. Do đó, thời gian hoàn tất xong Kim-Tự-Tháp lớn nhất ở Giza vào khoảng năm 2540 BC, có thể coi như thời kỳ cực điểm nhất được chọn. Ngoài ra, ngay cả nếu có sai số vài chục năm hay ngay cả trăm năm đối với chiều dài lịch sử cách đây hơn mấy ngàn năm thì vẫn còn có thể chấp nhận được, chưa nói đến ba dữ kiện lịch sử còn lại khá chính xác và đúng hơn rất nhiều, sẽ ưu tiên được dùng để làm chuẩn mực so sánh.
 
 
 
 Tất cả các dữ kiện nói trên được đưa vào đồ thị biểu diễn theo hai trục chính là thời gian với con số Năm chỉ thời điểm cực đỉnh, số thứ tự của các nền văn minh chính và lớn nhất, như được phác họa ra một cách chi tiết trong hình B sau đây:
 
Từ các con số chỉ khoảng cách (mảu đỏ) cực điểm của hai nền văn minh kế tiếp nhau, bắt đầu từ trên cùng là đế quốc Anh xuống Nguyên-Mông, v.v, cho ra các con số sai biệt sau: 640,1162 và 2657. Nhìn vào kết quả nói trên, chúng ta có thể thấy ngay là đã có một sự liên hệ gần như thẳng đường (tuyến-tính) giữa ba số với nhau theo cấp số nhân trung bình là 2, nếu dùng phương pháp chỉnh đường tuyến-tính (Linear Regression) trong khoa Thống-kê.
Kết quả tạm thời ở trên cho thấy là khoảng cách thời gian để chuyển giao quyền lực giữa hai nền văn minh chính và lớn nhất trên thế giới càng ngày càng rút ngắn lại gần một nữa (1/2). Nói cách khác cho dễ hiểu, các nền văn minh chính và lớn nhất trên thế giới đã và đang chuyền tay nhau với tốc độ nhanh hơn bằng hai lần trước đó. Đồng thời, cũng có thêm minh chứng cụ thể cho lý thuyết tiến hoá là thế giới con người càng ngày càng văn minh tiến bộ nhanh hơn sau mỗi thế hệ.
Kết luận tạm thời có được nói trên, thật ra cũng không phải là mới lạ gì. Đó chỉ thuần là một khái niệm cơ bản về năng suất làm việc của các công ty hay hãng xưởng. Năng suất càng tăng lên cao thì thời gian công việc càng giảm xuống. Thật vậy, nếu coi các loài sinh động vật trên thế giới kể cả con người, đều có đóng góp công sức vào cho những tiến bộ và thay đổi của cả thế giới, thì rõ ràng là thế giới phải thay đổi và tiến bộ ngày càng nhanh hơn, với lý do đơn giản là năng suất và dân số của cả thế giới ngày càng tăng nhiều và nhanh hơn. Cụ thể thí dụ đơn giản là nếu 1 người thợ xây bức tường gạch mất 2 ngày thì 2 người thợ cùng làm sẽ chỉ mất khoảng 1 ngày, v.v. Còn lý do tại sao là con số 2, mà không là 3 hay 4, vv? Câu trả lời đơn giản chỉ vì số 2 là con số Nguyên lớn hơn và gần nhất với con số 1. Nhưng lý do chính yếu là nguyên tắc quân bằng trong triết học Nhị nguyên của Dịch lý: Sự quân bằng của vạn vật tồn tại khi hai thế lực Âm Dương gần bằng nhau. Nếu có một bên Dương hay Âm quá mạnh và nhiều hơn, thì cơ cấu sẽ bị mất quân bằng và đưa đến thay đổi hay sụp đổ toàn diện. Thí dụ cụ thể giống như cơ cấu chính trị trong các xã hội dân chủ tiến bộ như quốc hội của Hoa kỳ. Nếu phe thiểu số hay chống đối trong quốc hội dành được đa số ghế nhiều hơn chỉ một phiếu thôi, thì coi như phe thiểu số đã làm cuộc “cách mạng”, thay thế đảng đang nắm quyền lập pháp.
1.2   Dữ Kiện Lịch Sử-DịchLý
Lấy thí dụ hình ảnh cuả con người sau một giấc ngủ dài thức dậy, thấy mình đang ngồi trên một con tàu chạy giữa đại dương mênh mông, chỉ biết hướng đi và tốc độ của con tàu, nhưng dữ kiện quan trọng nhất cần biết là làm sao định vị được con tàu đang ở đâu (?). Để giải quyết được vấn nạn trên, chúng ta cần phài biết đến lộ trỉnh hay bản đồ di chuyển của con tàu. Nói cách khác, để biết được lịch sử của nhân loại đã và đang di chuyển đến vị trí nào thì chúng ta cần phải dùng đến lý thuyết cơ bản từ một nền khoa học chân chính và cổ xưa nhất của Đông Phương Học, Dịch lý. May mắn đặc biệt xuất hiện ở đây là đã có sự trùng hợp ngẫu nhiên và liên hệ khá tốt đẹp giữa thuyết tiến hoá và bộ môn khoa học đáng tin cậy nhất của phương Đông. Dịch lý cơ bản hay còn gọi là Kinh Dịch (I-Ching, Book of Change, *1-*9 ), giải thích hiện tượng tạo thành vũ trụ qua biểu tượng của quẻ Dịch gồm có tất cả hai (2) quái hay sáu (6) hào, sắp theo thứ tự và thay đổi từ hào 1 dưới chót, dần lên trên cao nhất là hào thứ 6, và dựa vào theo cấp số nhân 2 (Xin chú ý: Vì những giới hạn về hình thức trình bày nội dung của chương 1 này, người viết xin dời phần giải thích chi tiết vể sự tạo thành vũ trụ trong chương theo sau, cùng những minh chứng cụ thể khác cho những biểu tượng về văn hoá của các Hào trong Dịch lý, qua phân đoạn nói về các nền văn minh nhân loại.)
Trước hết, xin nhắc lại sơ qua lý thuyết căn bản của Dịch lý trong việc giải thích sự thành vũ trụ và vạn vật. Theo Dịch lý thì khởi đầu của vũ trụ là một khối đồng nhất hỗn mang mù mịt, không có là gì cả, mà là tất cả và đươc gọi là Thái cực, biều tượng bằng một vạch Dương nằm ngang, còn goi là hào 1 đầu tiên trong 6 hào của một quẻ Dịch (*2, *3, *4). Tiếp theo, Dịch lý cho là do duyên khởi mà sinh ra cái gọi là Dương, thì đồng thời và lập tức cả khối thái cực còn lại tự nhiên cũng trở thành Âm. Dương lớn dần cho đến bằng với Âm là chấm dứt giai đoạn 1 gọi là Lưỡng Nghi (*5). Thời kỳ này hiểu theo Dịch lý cũng là lúc vũ trụ đang được “thai nghén” thành hình, trước khi “khai hoa nở nhuỵ” bằng một hiện tượng mà các khoa học gia ngày nay gọi là “Big Bang” hay vụ nổ lớn khai sinh ra vũ trụ (Hình 11).
Thời kỳ thứ hai tiếp tục, cả hào Dương và Âm cùng lớn dần và thay đổi, cho ra hai (2) hào bao gồm 4 thành phần kết hợp gọi là Tứ Tượng. Biểu tượng cho 4 thành phần trên còn gọi là Kim, Hỏa, Phong(hay Mộc), và Thủy. Thời kỳ này tương đương với việc thành lập giải ngân hà hay các hành tinh khác trong Thái Dương Hệ (Hình 12). Chưa có hành Thổ vì trái đất chỉ mới xuất hiện trong tình trạng phôi thai chưa có gì, giống như một khối cầu còn quá nóng, đang kết tụ lại và nguội dần.
Thời kỳ kế tiếp hào thứ Ba (3) sinh ra Bát Quái gồm 8 đặc tính gọi là: Thiên, Trạch, hỏa, Lôi, Phong, Thủy, Sơn, và Ðịa. Ở đây trong giai đoạn này, tám (8) đặc tính trên gợi ý cho thấy khái niệm về núi, sông, đất, các loài thảo mộc, và sau cùng là những sinh vật hạ đẳng sống trong đại dương đã thành hình như các loài sứa hay giun biển (Hình 13). Cuối thời kỳ này các vi-sinh vật bắt đầu xuất hiện do kết hợp và thay đổi của một hay nhiều tế bào hữu cơ.
Tiếp tục gia tăng theo thứ tự thay đổi và tiến hoá lên 4, 5 rổi 6 hào để thành quái thứ 2, hợp nhau với quái thứ 1 để hoàn tất quẻ Dịch gồm có tổng cộng 2 quái và 6 hào. Hai quái vừa nói cũng còn được gọi là Tiên Thiên và Hậu Thiên (*6). Đến đây, tưởng cũng cần sơ lược qua hai ứng dụng thuộc về không gian theo vị trí sắp đặt của hai quái, ám chỉ hai đặc tính quan trọng của Dịch lý dựa vào khoa Hình-Tượng học như sau:
Thứ nhất, nghĩa rộng của hai quái Tiên và Hậu thiên ám chỉ văn minh trái đất bao gồm hai Kỷ Nguyên; một Kỷ Nguyên ở đại dương hay cao độ âm dưới mặt biển, nếu chọn mặt nước biển là số không(0), và một Kỷ Nguyên trên đất liền hay ở cao độ dương. Thứ hai, dựa vào môn cơ thể học, ám chỉ những thay đổi tiến hóa về thể xác của các loài động vật, kể cả con người, xuyên qua việc thay đổi và làm cho hoàn hảo dần các bộ phận trong cơ thể. Lập thuyết từ Dịch lý (*5, *6, *7) cho rằng vì con người được coi như là giống sinh vật thượng đẳng sau cùng trong chuổi tiến hóa của các loài sinh động vật, nên đồ hình dịch lý gồm có tất cả sáu hào (tính cho tới thời điểm trước khi xuất hiện bộ sách Chu Dịch, cách đây hơn 3000 năm), biểu thị tượng trưng cho các bộ phận chính của cơ thể con người, được hoàn chỉnh và phát triển trong mỗi chu kỳ thời đại. 
Nhớ lại bài học cách trí sơ đẳng là cơ thể người ta chia ra làm ba (3) phần: Đầu, Mình, và Chân Tay như thế nào, thì sáu (6) hào trong hai quái Dịch cũng nằm theo vị trí gần giống y như vậy (Hình C).
 
Ngoài ra, còn có một sự liên tưởng và trùng hợp rất ấn tượng là trong kinh Cựu-Ước của Thiên Chúa Giáo xuất hiện cách đây hơn 7000 năm, cũng có viết là “Thượng Đế” hay Thiên Chuá đã tạo dựng ra vũ trụ và con người trong vòng 6 “Ngày”, và đến “Ngày” thứ 7 thì Chúa nghỉ! Phải chăng cũng có một ý nghĩa tương tự giống như 6 Hào hay 6 Nguyên Đại trong Dịch Lý(?). 
Mặt khác, dưới góc nhìn triết lý hay thần học của tôn giáo, có khi nào đó cũng là một thông điệp từ “Thượng Đế” cho thấy con người văn minh hiện đại phải bắt đầu chịu trách nhiệm tội lỗi trong các việc làm của mình. Giống như những con cái đã trưởng thành và đủ sự thông minh để quyết định cho số phận của chính mình, mà “Đức Cha Trời” không cần phải làm giùm hay áp đặt ý muốn khuyên răng như lúc con cái còn thơ ấu(!?). Bởi chỉ có như vậy thì con người mới phải chịu trách nhiệm những tội lỗi do chính mình gây ra.
Sau cùng, lời giải thích còn lại là một sự trùng hợp ngẫu nhiên về nghiên cứu khoa học thời bấy giờ giữa hai nền văn minh cách xa nhau hàng ngàn dậm, và cũng có thể đã là kết quả của những thông tin truyền giáo chính thức qua con đường tơ lụa (Silk Road)? Nhưng dù bằng cách nào thì sự trùng hợp về sáu (6) giai đoạn nói trên cũng rất là có ý nghĩa theo đúng với thời gian. Tiếp theo như đã trình bày trong lý thuyết về Dịch lý, mọi sự vật trong vũ trụ này đều phải chuyển động và thay đổi không ngừng. Ðiều mà thuyết tiến hóa của Darwin đã khẳng định, được kiểm chứng theo khoa học hiện đại và không còn gì để nghi ngờ nữa. Nhưng chắc sẽ gây ngạc nhiên và thắc mắc cho đa số các nhà nghiên cứu về Dịch lý. Quẻ Dịch chỉ có tất cả là 6 hào, mà hào 6 xuất hiện cuối củng lại là biểu tượng cho thời đại thuộc về người tiền sử, trước khi bộ sách Chu Dịch hay Dịch lý có mặt cách đây đã hơn 3000 năm, thì thời đại tiếp theo sau đó cho tới hiện nay của thế giới con người văn minh trong hơn 30 thế kỷ vừa qua, sẽ nằm ở đâu trong 6 hào nói trên, sau khi bộ sách Chu Dịch đã ra đời? Câu trả lời sẽ là kết quả đương nhiên từ một câu hỏi: Nếu những diễn tiến của vũ trụ này, từ lúc mới khai sinh cho đến khi bắt đầu xuất hiện giống người văn minh, đã được gia tăng từ hào số 1 đến hào số 6 rồi (nghĩa là có tất cả 2**6 = 64 quẻ), thì tại sao lại không thể tiếp tục gia tăng lên đến các hào thứ 7, 2**7 = 128 quẻ (*7, *13, *14), hay xa hơn là 8, có 2**8 = 256 quẻ, và 9, có 2**9 = 512 quẻ, hoặc các giai đoạn kế tiếp theo sau và cao hơn nữa?
Dĩ nhiên, câu trả lời là phải đúng như vậy, vì thế giới và con người hiện nay đang trên đà phát triển và tiến bộ không ngừng, nên không có lý do gì để bị chận đứng hay ngừng hẳn lại, chỉ trừ trường hợp có những thiên tai khủng khiếp hay tận thế. Nhưng xác xuất để những chuyện đó xày ra là quá nhỏ cho thời gian trong vòng năm trăm năm nữa. Từ đó suy ra, thế giới văn minh loài người hiện sống trong nguyên đại thứ Bảy, hay đang trong vòng ảnh hưởng hào 7 của Dịch lý, giai đoạn đang được hình thành nhưng chưa hoàn tất.
Ðây có thể là một trong số rất ít những nghiên cứu và khám phá quan trọng chính yếu về “Biến-Động” của Dịch lý mà các nhà nghiên cứu từ xưa đã mơ hồ cảm thấy được, nhưng có thể vì một lý do lịch sử nào đó, đã không truyền lại được cho các thế hệ đời sau, và coi như bị thất truyền luôn (!? *6, *7). Điều trùng hợp ở đây là 6 hào hay hai quái đầu tiên đã ứng dụng vào 2 kỷ nguyên thuộc Đại Dương và Mặt Đất, còn hai quái sắp tới sẽ xuất hiện trong tương lai gồm có các hào 7, 8, 9, và 10, 11, 12, chắc chắn sẽ thuộc về hai kỷ nguyên của Không Gian (7, 8, 9) và Thời Gian (10, 11, 12). Một sự tương đồng của hệ thống liên kết 4 quái nói trên có thể được so sánh giống như 4 trục chính X, Y, Z, và T trong toán học. Dĩ nhiên là trí tuệ của các bậc “Thánh Nhân” trong tương lai còn có thể đi xa và hiểu hơn nữa.
Chìa khóa chính cuối cùng để mở ra và hiểu luật tiến hóa là đi tìm cột mốc thời gian nối liền các nền văn minh hiện đại với các hào của quẻ Dịch, qua các biểu tượng về văn hoá. Đó là kết quả sau cùng của một thắc mắc hay sự tò mò trí tuệ xuất hiện, khi có ai đó đã tình cờ nhận thấy tại sao đa số người gốc châu Á thường biểu lộ tình cảm trung thực bằng cách dùng những từ ngữ chứa đựng nhiều hình ảnh thuộc về thân thể của phần Bụng như: Lòng, Ruột, Gan,v.v. Cụ thể như: “Xin hiểu cho 'lòng' anh..”; “Trời hởi! 'lòng dạ' con người thật là ...”; “Ai dám cả 'gan'...”, “Buồn thúi 'Ruột'”,v.v. Trong khi đó thì các sắc dân châu Âu lại dùng các biều tượng văn hóa về “Trái Tim” như:“..Từ tận đáy 'tim' anh...”; “... hứa sẽ làm bằng cả 'trái tim' ...”; “'Trái tim' ngọt ngào của em...”, v.v. Ngay cả khi có những cảm xúc cực đoan như tự tử theo truyền thống hy sinh thì các Kiếm-sĩ Trung quốc hay các Samurai Nhật dùng cách mổ bụng moi gan ruột ra ngoài, trong khi các Hiệp sĩ bên châu Âu thì dùng gươm đâm thẳng vào ngực, hay bắn ngay trái tim!
Thêm vào cho những minh chứng cụ thể nói trên bằng các hình ảnh khác, chúng ta còn thấy nền văn minh Hy-Lạp hay Ấn-Độ chịu ảnh hưởng của La-Mã thường chú trọng nhiều về vấn đề Sinh lý, qua các bức tượng điêu khắc bộ phận sinh dục Nam Nữ, hay tượng khỏa thân như thần Vệ-Nữ hay thần Tính-Dục làm biểu tượng văn hoá chính. Chính những biểu tượng tình dục gợi cảm và tốt đẹp đó đã đóng góp rất nhiều vào ý thức vệ sinh cá nhân và khuyến khích cho những khế ước lâu dài về hôn nhân hay công việc làm gia tăng dân số thế giới.
Trước đó xa hơn nữa, nền văn minh Ai-Cập lại chủ động tôn thờ “Bàn Tay” của các vị thần như là phép lạ của thần linh ban cho con người, qua sự khéo léo chế tạo các sản vật, làm thức ăn và đồ dùng mang lại sự giàu sang thịnh vượng cho xã hội. Kim Tự Tháp đã là một kỳ quan được xây dựng hoàn toàn dựa trên những kỹ thuật xây dựng bằng Tay của nền văn minh Ai-Cập. Tục lệ đeo nữ trang vòng vàng trên cổ tay, hay những vũ nữ muá tay khéo léo truyền lại cho đến ngày nay, đều đã bắt đầu xuất hiện từ thời đại này. Ngay cả trong thời kỳ đó, luật lệ hình phạt tội nặng nhất sau cái chết là bị chặt luôn cả hai tay.
Như vậy tính ra trước khi có con người văn minh hiện đại xuất hiện vào nguyên đại 7 (Hào thứ 7 trong hình vẽ), thì đã có tổng cộng 21 nền văn minh hay Kỷ-Nguyên Tiến-Hoá (KNTH) của tất cả 6 nguyên đại đã từng xuất hiện trong vũ trụ và thế giới của các loài sinh-động vật. Do mỗi nguyên đại đều phải có tối thiểu một số KNTH bằng với số thứ tự của nguyên đại đó. Cụ thể: Nguyên đại 6 phải qua hết tất cả 6 KNTH; Nguyên đại 5 có tất cả 5 KNTH, v.v. Tổng cộng các KNTH từ nguyên đại 1 đến 6 là: 1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6 = 21. Từ đó, nếu liên kết và xác định rõ được vị trí của các KNTH qua biểu tượng văn hóa của các bộ phận chính trong cơ thể con người, chúng ta có thể tiếp tục khẳng định được luôn vị trí tiếp theo của các nền văn minh chính và lớn nhất theo thứ tự như sau: 
Văn minh Anh-Quốc là nền văn minh thứ 5 của nguyên đại 7, hay còn là KNTH thứ 26 kể từ khi vũ trụ khai sinh ra đời. Suy từ đó ra văn minh Á Châu là nền văn minh hay KNTH thứ 25, văn minh Trung Đông (Địa Trung Hải-La Mã) là KNTH thứ 24, văn minh Phi châu (Ai-Cập) là KNTH thứ 23, và văn minh xích đạo, khởi đầu cho con người văn minh tiến bộ là KNTH thứ 22.
1.3   Mô Hình Toán
Trở lại với hình ảnh thí dụ của con tàu đang chạy giữa đại dương mênh mông. Ngoài thông tin đã biết về hướng đi cùng với vận tốc con tàu, nếu chúng ta còn biết thêm được vị trí con tàu đang chạy ở đâu, thì chắc chắn với số nhiên liệu đã tiêu thụ và còn lại, chúng ta cũng sẽ tính ra và biết chắc được hai chuyện: Một, con tàu đã bắt đầu cuộc hảnh trình từ lúc nào? Hai là, sẽ đưa chúng ta về đâu trong một khoảng thời gian nhất định nào đó trong tương lai (?) Tóm tắt lại những dữ kiện lịch sử đã có:
Khoảng cách thời gian cực đỉnh của nền văn minh Âu châu-Đế Quốc Anh được lấy làm chuẩn, đi ngược xuống lại các nền văn minh trước đó như Á châu- Đế Quốc Nguyên-Mông; Trung Đông-Đế Quốc La-Mã; và Phi Châu- Đế Quốc Ai-Cập lần lượt theo thứ tự là: 640 (1919-1279), 1802 (1919-117) và 4459 (1919-(2540 BC)=1919+2540)năm.
Lý thuyết được đưa ra đây là: Thời điểm chuyển giao giữa hai nền văn minh kế tiếp và liên tục với nhau, từ lúc khai sinh ra vũ trụ cho đến hiện tại, đều thay đổi và tiến hoá nhanh hơn theo cấp số nhân 2, nghĩa là nhanh hơn trước đó chừng gấp hai lần, hay với thời gian rút ngắn lại chỉ còn khoảng chừng một nữa (1/2). Theo quy ước thứ tự của các kỷ nguyên tiến hoá, nguyên đại hay thời kỳ đã được suy tính ra từ sáu Hào của quẻ Dịch lý, các nền văn minh Phi Châu, Trung-Đông, Á Châu và Âu châu có vị trí theo đúng thứ bậc là 23, 24,25 và 26.
Bây giờ nếu dùng một phép toán đơn giản: Gọi X là “Tổng số thời gian” có được của vũ trụ và các nền văn minh trên trái đất, nghĩa là toàn thể thời gian từ lúc khai sinh ra vũ trụ này cho đến khi nền văn minh nhân loại chấm dứt trên trái đất; Và nếu dùng các dữ kiện đã được tìm thấy ở trên, chúng ta có được ba (3) phương trình và ba lời giải khác, nhưng gần bằng nhau của X như sau:
(1)        X1 (1 /( 2**25) - 1 / (2**26)) = 640 ==> X1 = 640 x (2**26)
(2)        X2 (1 / (2**24) - 1 / (2**26)) = 1802 ==> X2 = 600.67 x (2**26)
(3)        X3 (1 / (2**23) - 1 / (2**26)) = 4459 ==> X3 = 637.0 x (2**26)
Chọn trung bình cộng của ba lời giải X1, X2 và X3 trên cho ra kết quả là X = 625.89 x (2**26) , hay X = 42.002.766.888 năm, và làm tròn con số chẳn là 42.0 tỷ năm.
1.4 Kiểm chứng kết quả
Trong phương thức tìm lời giải cho tuổi thời gian của vũ trụ và con người với ẩn số X nói trên, cỏn có thêm một vấn đề thắc mắc khác như sau : Giả sử là tất cả các dữ kiện nói trên đều phải được diễn giải theo đúng nghĩa đen như Kinh Thánh hay sách cổ Chu Dịch khẳng định là: Thế giới vũ trụ này sẽ kết thúc hay chấm dứt ngay tại hào thứ 6 của nguyên đại 6 mà thôi. Nghĩa là chúng ta đang sống trong hào 6 của nguyên đại 6 cuối cùng, và như vậy thì nền văn minh Anh tính theo thứ bậc chỉ là KNTH thứ 20. Nếu như vậy, thì phương trình trên sẽ là: X = 625.89 x (2**20); Hay X = 656.293.232. Nghĩa là vũ trụ chỉ mới được khai sinh ra cách đây hơn 650 triệu năm! Một kết quả hoàn toàn không hợp lý theo dữ kiện lịch sử thực tế khoa học, và cho thấy giả thuyết nêu trên không thể tồn tại hay đúng được.
Trở lại với kết quả có được trước đây là 42 tỷ năm, và liệu rằng có quá sai lắm không, nếu so sánh với con số được công bố chính thức gần đây nhất là khoảng 13.5 tỷ năm, dựa vào kết quả đo được từ các bức xạ nền mà các nhà khoa học cho là "dư âm" còn sót lại từ vụ nổ lớn hay “Big Bang”(!?) Hãy tạm cho là những kết quả đo được từ những bức xạ nền đáng tin cậy, thì sự khác biệt giữa hai kết quả lý thuyết và thực nghiệm vẫn có thể phù hợp và liên kết với nhau một cách khá ấn tượng, dựa vào một số các hiện tượng được giải thích bằng khoa học thống kê và xác xuất như sau:
Những bức xạ nền đo được có phải là sớm nhất chưa, hay còn có những dư âm thật sự từ “Vụ Nổ Lớn” (VNL) hay “Big Bang” còn sót lại, nhưng vì quá yếu hơn nên chưa phát hiện được, do giới hạn vật lý của các máy dò tìm, cũng như với khả năng có được của khoa học và kỹ thuật hiệntại? Theo mô hình toán của Dịch lý, thì các VNL đã có thể xuất hiện trước đó khá lâu, trong vòng khoảng từ 21.0 - 10.5 tỷ năm cách đây. Liệu những kết quả của bức xạ nền đó có phải hoàn toàn là do VNL hay “Big-Bang” gây ra không, hay có thể là do từ hàng ngàn ức tỷ các vụ “Nổ Siêu Sao” (Supernova) để tạo ra các chòm sao và giãi ngân hà (Galaxy) đầu tiên trong vũ trụ, cách sau VNL chỉ có vài trăm triệu năm? Nên biết là mới đây, các nhà vật lý thiên văn đã vừa phát hiện và khẳng định một cách chắc chắn là trong vũ trụ không gian chứa dầy đặc những “Bụi Nguyên Tử”, và do đó, có thể ảnh hưởng đến sự sai biệt của những hình ảnh từ bức xạ nền của vũ trụ đã chụp ảnh hay phát hiện được!
Kết luận, con số kết quả cho ra 42 tỷ năm là thích đáng và hợp lý, không chỉ phù hợp với thuyết “Big Bang”dựa trên những công bố chính thức (Hình 11) mới đây cuả NASA, mà còn cho thấy đúng hoàn toàn theo lý thuyết về sự tạo dựng vũ trụ của Dịch Lý, nếu tính theo quy ước từ thời điểm mới bắt đầu giản nỡ ra của vũ trụ là 0, trước khi có VNL. Nên nhớ là con số 13.5 tỷ năm, chỉ là một con số phỏng đoán tuổi “ỉt nhất” của vũ trụ, có nghĩa là tuối của vũ trụ có thể lớn hơn rất nhiều!
Cuối chương sách này là các bảng ghi tóm lược về thời gian thay đổi của vũ trụ và các loài Sinh-Động-Vật, theo thuyết tiến hoá cuả khoa học hiện đại, so sánh với thời điểm chính xác theo thứ tự cấp bậc của các Hào trong Dịch lý. Tóm lại kết quả sơ lược tìm thấy về Quy-Luật Tiến-Hoá của thế gíới con người như sau:
Thế giới con người hiện tại đang sống với nền văn minh hay KNTH thứ Sáu (6) của Nguyên-Đại 7, bắt đầu từ đầu thế kỷ 20 (1919) cho tới khoảng năm 2230. Nước Mỹ chắc chắn sẽ không là Cường Quốc số 1 cuối cùng trong KNTH thứ 6 của nền văn minh châu Mỹ này.
Bắt đầu từ khoảng năm 2230 cho tới 2390, sẽ có nhiều Cường Quốc mới xuất hiện trong nền văn minh Úc Châu thuộc KNTH thứ Bảy (7), cuối cùng của Nguyên Đại 7. Các Tân Siêu-Cường này sẽ kiểm soát và điều hành xã hội con người bằng sức mạnh “Mềm”, dựa trên sự tự nguyện và chọn lựa của mỗi công dân. Biên giới ngăn chia vật lý hay rào cản về lãnh thổ, ngôn ngữ và chủng tộc sẽ từ từ biến mất dần và không còn có ý nghĩa thực tế nữa.
Trong hai Nguyên-Đại cuối cùng 8 và 9, kéo dài từ khoảng năm 2390 đến 2549, con người sẽ lần lượt từ bỏ trái đất để vào sống trong không gian.
 
 
 
Chương 2
Vũ Trụ - Thái Dương Hệ 2.1 Nổ Lớn Hay Im Lặng Vô Cùng?
Cho đến bây giờ thì hầu như chúng ta đều được nghe nói, hay đã được truyền dạy trong các lớp học là vũ trụ đã bắt đầu thành hình bằng sự kiện “Vụ Nổ Lớn” (VNL), còn gọi là lý thuyết “Big Bang”. Ngoại trừ thiểu số có niềm tin tôn giáo khá mạnh, còn lại đa số thì vấn đề có tin hay không tin là tùy thuộc quan điểm và kiến thức hiểu biết về khoa học của mỗi cá nhân (*26).
 
Nhưng dù chấp nhận hay không thì thực tế vẫn cho thấy, lý thuyết trên đã được phổ biến rộng rãi và hầu hết đa số chuyên gia khoa học đều cho là hợp lý. Chiều hướng thuận lợi cho thuyết VNL không phải chỉ dựa hoàn toàn theo lý thuyết, mà còn từ nhiều dữ kiện thực tế để minh chứng. Trong vòng hơn nữa thế kỷ qua, nhờ những tiến bộ về phi thuyền không gian và dụng cụ điện tử tối tân được xử dụng, các chuyên gia Vật Lý Thiên Văn (Astro-Physicist) đã ghi nhận được nhiều hình ảnh về những dư âm của “Bức Xạ Nền Vũ Trụ” (Cosmic Microwave Bacground Radiation) từ vụ nổ lớn còn sót lại. Rõ nhất là hình ảnh của các vụ nổ tương tự sau này đã xảy ra khá nhiều như hiện tượng “Nổ Siêu Sao” (Super-Nova).
 
Không còn hoài nghi gì nữa về vụ nổ lớn hay một hiện tượng giống như vậy đã xảy ra khi vũ trụ mới được khai sinh, nhờ có nhiều dữ kiện khoa học đáng tin cậy.
 
 Dù vậy, VNL vẫn chưa giải quyết dứt khoát được thắc mắc chung về nguồn gốc của vũ trụ. Vấn nạn chung trong các cuộc tranh luận gần đây xuất hiện trở lại như một thách thức mới và dường như không bao giờ chấm dứt. Nguyên liệu hay nhiên liệu nào, từ đâu ra để tạo vụ nổ lớn? Nói cách khác, cái gì đã làm “ngòi” hay khởi đầu cho vụ nổ lớn? Cũng chính vì lý do nói trên, trong vòng vài năm nay, NASA, cơ quan hàng không và không gian Mỹ đã thay đổi lập trường, dùng ngôn từ được viết lại theo cách khác, cho thông tin chính thức về thuyết nổ lớn. Cụ thể như NASA không còn dùng từ “Big Bang” một cách khẳng định nữa mà thay thế bằng một nghi vấn mở rộng: “?Dawn of Time” hay “Khởi Điểm của Thời Gian”, trước khi có sự “Giản Nở” hay “Big Bang”. Tuy rằng những gì tiếp tục sau đó, như sự tạo thành Âm điện tử và Dương điên tử vẫn còn giống tương tự như lý thuyết cũ đã đưa ra.
 
Lấy hình ảnh liên tưởng đến thực tế trong đời sống hàng ngày làm thí dụ, xã hội thường chỉ chấp nhận cuộc đời của con người bắt đầu khi vừa cất tiếng khóc thét chào đời (giống tương tự vụ nổ lớn đầu tiên của vũ trụ)
sau khi sinh ra từ trong bụng mẹ. Nhưng thực tế và được công nhận là quan trọng nhất, nếu phải kể luôn tới đời sống của thai nhi từ khi còn là cái trứng nhỏ tí ti vừa được thụ tinh.
 
Tương tự, tuy nội dung sẽ không tạo ra mâu thuẩn lại với VNL hay thuyết BB, nhưng về khái niệm tổng quát chung của sự khởi đầu có một khác biệt chính về thời điểm đã xảy ra, phù hợp với quan điểm chính thức mới đây của NASA.
 
 
                         
 
 
Những gì được trình bày trong chương này, chắc sẽ không giải đáp hoàn toàn cho 
 
thắc mắc cuối cùng là muốn biết rõ nguyên nhân khởi đầu của vũ tru, hay cái gì đó đã chính thức tạo ra nguyên nhân của vụ nổ lớn. Tuy vậy, hy vọng là sẽ giải thích phần nào, những nguyên nhân hay cái gì đã tạo ra vụ nổ lớn.  Thí dụ cụ thể, nếu gọi 0.0 là thời điểm ngay trước khi bắt đầu khai sinh vũ trụ, 1.0 là thời điểm của vụ nổ lớn, thì những gì trình bày trong các tiểu mục sau sẽ giải thích phần nào những gì đã xảy ra trong giới hạn từ thời điểm 0.0..1 cho đến 1.0, ngoại trừ tại điểm 0 và trước đó, nếu có(?).
ó là vũ trụ đã được khởi đầu một cách rất là im lặng, một sự “ Im lặng vô cùng” trước khi có vụ nổ lớn (BB). Trong giản đồ của NASA nói trên, sự im lặng vô cùng chính là thời điểm Sát-Na (Tiny fraction of a second) xảy ra trước khi vũ trụ giản nở ra (inflation). Một trong những lý do có sức thuyết phục và hợp lý là sự im lặng vô cùng lúc khởi đầu đó đã không đòi hỏi hay cần rất ít năng lượng hoặc “nhiên liệu”.
 
Không giống như vụ nổ lớn phải cần có nhiều năng lượng trước. Thực tế minh chứng cho thấy nếu những sinh vật sống trên trái đất là một tiểu vũ trụ, và khởi đầu mọi sự sống đều phải qua giai đoạn ấp nở (incubation) hay thai nghén, thì cái đại vũ trụ rộng lớn bao la nhất của loài người cũng đã phải trải qua một thời kỳ tương tự như vậy. Bằng cách nào và cho ra kết quả ra sao? Câu trả lời sẽ đi sâu vào chi tiết trong các tiểu mục kế tiếp.
 
3.1  Khai Sinh Vũ trụ - Lưỡng Nghi-Tứ Tượng
 
Trong khi các chuyên gia khoa học thế giới còn đang thảo luận về nguồn gốc vũ trụ theo thuyết Big Bang (BB) mới ra đời cách đây gần 60 năm, và những dữ kiện khoa học thu thập từ dự án WMAP ghi nhận được, thì lại có rất ít người biết rằng, khoa Dịch lý (*1) ra đời cách đây hơn 3000 năm, đã từng giải thích hiên tượng khai sinh ra vũ trụ một cách đơn giản và khá chính xác, gần giống với lý thuyết của vụ nổ lớn hiện nay!
 
Đã từ lâu trong giới khoa học nhân văn thế giới vẫn thường có những công trình nghiên cứu về bộ môn khoa học cổ truyền và đặc biệt nhất của phương Đông là Dịch lý. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là hầu như đa số các nhà nghiên cứu có tầm vóc và uy tín (*9) đều quá chủ trọng nhiều về cách lấy 64 quẻ “Bói Dịch” hay ý nghĩa “Tốt, Xấu, Lợi và Hại” của 384 hào (6 x 64 = 384), mà không để ý nhiều đến phần lý thuyết giải thích ý nghĩa của việc thành lập các quẻ Dịch ngay từ khởi thuỷ, nhất là giải thích sự thành hình của vũ trụ và trái đất qua các thời điểm ban đầu.
 
Theo những biểu tượng minh họa cho sự khai sinh vũ trụ, ngay thời điểm Sát-Na và bắt đầu hiện tượng giản nỡ với các Âm-Dương điện tử đang hình thành, chính là thời điểm “Thái-Cực sinh ra Lưỡng-Nghi” trong Dịch Lý. Ý nghĩa so sánh tương đương là từ một sự đồng nhất tuyệt đối vô cùng gọi là “Thái Cực” bổng nhiên tự sinh ra một sự phân chia khác biệt hữu hạn là “Lưỡng-Nghi”, hay còn gọi là Âm-Dương.
 
Trạng thái Lưỡng-Nghi hay Âm-Dương cũng không kéo dài quá lâu. Ngay lập tức sau đó, sự tương tác thiên nhiên đã sinh ra hai kết hợp ngay giữa các đối tượng mới, Dương với Dương và Dương với Âm. Dù mới hoàn tất có một nữa của tiến trình sinh ra Tứ-Tượng, nhưng hệ quả của những sự kết hợp thêm vào này đã tăng thể tích cực kỳ nhanh gần với vân tốc ánh sáng, làm cho “Giãn Nở”
(Inflation) ra vũ trụ vừa mới được khai sinh (Hình 12).
 
Cụ thể minh chứng cho dễ hiểu là trong xã hội của các loài sinh động vật sau này, một khi hai giống Đực và Cái kết hợp tự do với nhau trong môi trường thuận tiện và không có kiểm soát, thì chắc chắn thế nào cũng đưa đến lạm phát (Inflation) hay sự bùng nổ về dân số. Đúng như biểu tượng so sánh trong hình 12, đây chính là thời điểm tạo ra nhiều vô số các hạt Dương tử (Proton), Âm tử (Electron), Trung Hòa Tử (Neutron), v.v.
 
                         
 
 
Tiếp theo quá trình khởi đầu vũ trụ như đã dẫn chứng trong hình vẽ minh hoạ, một sự kiện giản nở (inflation) chậm hơn và kéo dài khoảng 380 ngàn năm, đã tạo ra khối “nhiên liệu nguyên tử” gần như là vô hạn, gồm các nguyên tố đơn giản đầu tiên như Hydrogen (H), Deterium (H2), Tritium(H3) và Helium (H4). Đây chính là thời điểm tương tự để hoàn tất tiến trình của Tứ-Tượng gồm có hai kết hợp cuối cùng là Âm với Dương và Âm với Âm, để cho ra tổng số 4 biểu tượng chính là Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương và Thái Âm. Theo Dịch lý, một khi đã có sự khác biệt về bản chất Âm Dương thì tất nhiên có sự hoà hợp và cũng có sự mâu thuẩn hay có xung đột xảy ra.
 
Từ đó, khi tất cả các yếu tố và điều kiện cần có đã sẳn sàng cả rồi thì chuyện gì phải đến, đã đến, cho vụ nổ lớn bắt đầu xuất hiện. Tại sao lại bắt đầu xuất hiện? Ðể giải thích cho dễ hiểu lý thuyết đưa ra, xin dùng một thí dụ cụ thể như sau: Giả sử chúng ta có một quả cầu lớn vô hạn chứa đầy nhiên liệu tạo nổ, và nếu thử kích nổ ở một điểm tại trung tâm của quả cầu, thì chuyện gì sẽ xảy ra? Câu trả lời rất là đơn giản và ai cũng có thể thấy ngay: Vụ nổ sẽ chuyền lan rộng ra khắp nơi, cực kỳ nhanh như ánh sáng, cho đến khi nào cạn hết nhiên liệu,
 
Tứ tượng cũng còn là đại diện cho bốn thành phần cơ bản trong Dịch lý gồm có Kim, Mộc, Thuỷ và Hoả  (chưa có Thổ, vì Trái Đất thuộc hành Thổ chưa sinh ra đời trong giai đoạn này), so sánh tương đương với bốn thành phần trong khoa vật lý hiện đại là Sóng từ, Lực, khí và Nhiệt.
Dưới tác động hổ tương của bốn thành phần Vật lý cơ bản nói trên sau vụ nổ lớn, các nguyên tố cơ bản chính khác như Carbon (C), Nitrogen(N), Oxygen (O), Sulfur(S), v.v, cũng đã lần lượt kết hợp với nhau (Fusion) để tạo ra các phân tử vô cơ.
 
3.2   Giãi Ngân Hà  – Thái Dương Hệ – Bát Quái.
 
Sau sự kiện nổ lớn hay giản nỡ trong hàng tỷ năm sau đó đã làm cho vũ trụ nguội lạnh dần, các phân tử vô cơ và hữu cơ đã lần lượt được tạo ra. Dưới tác động của lực hấp dẫn (Gravity), thu hút và quy tụ lại để cho ra hằng hà vô số các chòm sao (Galaxy) giống như giãi Ngân Hà (Milkyway)
của chúng ta.
 
                      
 
Đây là bước đầu tương đương trong Dịch Lý tạo ra Bát Quái với hai quái đầu tiên là “Thiên và Trạch” (Hình 13). Trong đó quái Thiên tượng trưng cho các loại sóng từ trường trong vũ trụ, quái Trạch ám chỉ các phân tử “Khí” tạo ra bằng sự kết hợp (Fusion)
của các nguyên tố nhẹ như Helium, v.v.
 
 Bước kế tiếp là Thái Dương Hệ (Solar System) hình thành, tương đương với thời điểm cho ra hai quái “Địa và Sơn” trong Dịch Lý. Các hành tinh ban đầu như trái đất đều được thành hình bằng những vật liệu cơ bản như Đất hay kim loại và các nguyên tố nặng tạo nên dưới áp suất và nhiệt độ cao của núi đồi, hay nằm sâu dưới lòng đất.
 
Hệ quả sau cùng là sự xuất hiện Mặt Trăng và các dạng năng lượng tự nhiên, tương đương với thời kỳ cho ra bốn quái sau cùng trong Dịch Lý là “Hỏa, Lôi, Thuỷ và Phong”, ám chỉ các hiện tượng thiên nhiên xuất hiện thường xuyên trên những hảnh tinh như trái đất, gồm có: Núi Lửa, Động Đất hay Mưa Bão, để chuẩn bị đời sống của các sinh-động-vật (Hình 14).
 
                       
 
 
Tưởng cũng nên nhắc lại là gần đây, nhiều chuyên gia về Vật lý Địa cầu đã ủng hộ một thuyết mới cho rằng Mặt Trăng là kết quả cuả sự va chạm một thiên thạch khá lớn vào trái đất cách đây khoảng hơn 4.5 tỷ năm. Các mãnh vỡ và bụi của sự va chạm đó đã gom lại dưới lực hấp dẫn và tạo thành mặt trăng như hiên nay. Bằng chứng có được là nhờ kết quả phân chất đất đá lấy từ mặt trăng cho thấy các thành phần chứa trong đó đều gần giống với các thành phần có trong đất đá của trái đất.
 
Như đã được trình bày trong Dịch lý, cũng như được chứng minh bởi khoa học hiện đại, toàn bộ cơ cấu vận hành của vũ trụ đều dựa vào hai đặc tính căn bản là Âm và Dương. Hiểu theo nghĩa hẹp của khoa học là vạn vật đều được thành lập bởi các nguyên tố mà hai thành phần chính yếu phải có là Âm và Dương điện tử. Cho dù không trực tiếp dùng hai từ Âm-Dương nói trên, do ý nghĩa quá tổng quát, nếu không nói là mơ hồ và trừu tượng. Nhưng gián tiếp thì khoa học đã và đang xử dụng các từ Âm và Dương một cách chi tiết và chính xác hơn.  Thí dụ như là Thuận với Nghịch, Lực với Phản lực, Nhanh-Chậm, Tăng-Giảm, Nặng-Nhẹ, v.v. Từ đây, bộ môn khoa học nhân văn cũng cho ra đời những khái niệm về trạng thái quân bình và ổn định của vạn vật.
Chương 3
Đại Dương Kỷ Proterozoic - Pre-cambrian (5.5 – 0.5 Bya) Thời Đại Trước Cambrian
Trong chương vừa qua chúng ta đã biết trái đất khởi đầu như một hành tinh chết, nhưng sau khi được “thụ tinh” bằng va chạm mạnh với một sao chổi lớn, trái đất đã thay đổi rất nhiều. Từ một hành tinh khô khan nóng bỏng như sao Hoả, sau vài tỷ năm, đã trở thành hành tinh có khí hậu ôn hoà tràn đầy sinh lực, mang sự sống đến cho vạn vật. Tuy vậy, với ý định minh chứng cho rõ về ngôn từ thường được dùng trong các sách cổ của phương Đông như chuyện “hấp thụ tinh khí” từ trời, người viết xin nhắc đến một hiện tượng thiên nhiên xảy ra giống như vậy cho con người.
 
Nhờ kỹ thuật vi phim quay lại được chi tiết cho thấy trứng của người phụ nữ khi vừa được thụ tinh, xuất hiện ngay một lớp võ bọc bên ngoài, làm cho quả trứng sáng lên như có lớp lân tinh bao lại. Công dụng của lớp vỏ bên ngoải quả trứng thụ tinh còn có thêm nhiệm vụ  bảo vệ, chống lại sự xâm nhập của hàng ngàn con tinh trùng đang tiến dần lên quả trứng. Cũng giống tương tự như vậy cho trái đất, sau vụ va chạm của sao chổi, một lớp khí quyển dày đặc khoảng 100 km xuất hiện trong thời gian vài trăm triệu năm sau, đã bao bọc che chở cho trái đất tránh khỏi sự cố va chạm với hàng triệu khối đá vẫn thạch, sao băng bay vào trái đất trong suốt mấy tỷ năm qua.
 
Lớp khí quyển nói trên đã làm cho đa số đá vẫn thạch khi bay vào trái đất, cọ sát với không khí, bị đốt cháy ở nhiệt độ cao và nổ tung ra thành nhiều mảnh nhỏ trong không gian trước khi rơi xuống mặt đất. Nếu không nhờ có bầu khí quyển bao bọc che chắn đó, thì có lẽ các loài sinh động vật kể cả con người khó tồn tại cho đến ngày nay.
 
Điều mà các nhà khoa học đồng ý là sẽ khó tránh được tai họa cho mọi sinh vật trên trái dất, nếu trong tương lai có một sao chổi hay sao băng nào có đường kính to hơn cả trăm cây số bay vào trái đất, mà bầu khí quyển không đủ sức để cản lại hay dốt cháy hết được. Nhưng xác xuất để cho xảy ra một tai họa tận thế nói như trên rất là hiếm, với xác xuất từ vài trăm ngàn năm đến cả triệu năm mới xảy ra một lần, và chắc chắn là con người sẽ không còn sinh sống trên trái đất này lâu đến như vậy.
 
Sự trùng hợp coi như bằng chứng rõ rệt nhất là các hành tinh của thái dương hệ chỉ có được bầu khí quyển bao bọc xung quanh, nếu có hai đặc tính sau: Tự xoay tròn và có các “Mặt Trăng” bay theo xung quanh.  Một số các đặc điểm khác thường của trái đất so với các hành tinh khác trong thái dương hệ, bao gồm: Bầu khi quyển và nước. Trong khi bầu khí của các hành tinh như Kim Tinh (Venus), Mộc Tinh (Jupiter), Thổ Tinh(Saturn)
chứa đa số khí Monoxide Carbon (CO), thì bầu khí quyển của trái đất lại chứa gần 70% khí Nitro(N2). Nước(H2O) cũng là hợp chất có khá nhiều trên trái đất.
 
Mặt khác, nếu trái đất có được số may mắn duy nhất trong giải ngân hà này, trở thành nơi xuất hiện của con người hay các loài sinh động vật, thì có lẽ tất cả đều tuỳ thuộc vào một yếu tố duy nhất: Nước, hay biến thể qua dạng khác là Mây.
Khác với sự hiểu nhầm hay không biết cuà đa số chúng ta, đại dương rộng lớn bao la hiện nay chỉ mới hoàn thành cách đây chừng hơn 600 triệu năm, vào cuối thời kỳ Pre-Cambrian. Trước đó mấy tỷ năm, trái đất cũng đã có những cơn mưa rất ngắn, có sông nhỏ,  có nước, nhưng không nhiều vì trái đất còn quá nóng, và phần lớn nước đều bốc hơi thành mây rất mau. Tuy nhiên, nhờ vậy mà làm cho trái đất nguội dần, để có được các trận mưa bão lớn kéo dài quanh năm, tích tụ lại được nhiều nước như hiện nay. 
 
Sở dĩ trái đất có được một trữ lượng hơi nước lớn là nhờ trước đó hơn 4 tỉ năm, có một ngôi sao chổi định mệnh bay đâm vào. Theo sau đuôi sao chổi là khối nước đá khổng lồ có niên đại xuất hiện trước cả Thái Dương Hệ (*25) hàng tỷ năm, dài hàng ngàn cây số, bị tan chảy và bốc hơi thành những đám mây dày đặc bao phủ xung quanh trái đất, làm cho trái đất mau chóng nguội dần so với những hành tinh khác. Kết quả cho ra là một chuổi những tác động vật lý của thiên nhiên. Nhiệt độ mặt đất nguội dần làm cho hơi nước tích luỹ nhiều hơn, nên mưa xuống lâu hơn, cho ra những dòng chảy lớn và tạo thành các sông ngòi, ao hồ hay đại dương.
 4.1  Hữu Cơ - Mưa (5.5 - 4.0+ bya)
Ngày nay các nhà khoa học có thể chứng minh khá dể dàng, để bắt đầu đời sống cuả các vi sinh vật hay sự hình thành cuả các tế bào, tất cả đều phải qua một giai doạn đầu tiên là biến đổi các phân tử “Vô Cơ” sang “Hữu Cơ”. Theo lý thuyết cho định nghĩa, kết hợp hữu cơ là những kết nối hóa chất không bền vững nếu so với kết hợp vô cơ, gồm có ít nhất 2 trong 4 nguyên tố chính H (Hydrogen), C (Carbon), N (Nitrogen), và O (Oxygen). Dưới áp suất lớn và nhiệt độ cao, các phân tử vô cơ dễ dàng bị kết nối hay nhập lại (fusion) thành những phân tử hữu cơ.
Ngược lại, đa số các chất hữu cơ khi bị phân hủy hay tan rả thành các chất vô cơ thì lại phát tán ra nhiệt lượng.
 
Cũng từ lý thuyết đã được minh chứng từ lâu bởi các nhà khoa học danh tiếng (Stanley L. Miller, 1953), các phân tử hữu cơ đơn giản như CH4, CO, NH3, v.v, sau một quá trình kết hợp ngẩu nhiên dưới áp suất và nhiệt độ cao, cho ra những kết hợp phức tạp hơn. Tiếp tục kết hợp thêm nữa sẽ cho ra  những phân tử hữu cơ sau cùng được gọi là Amino Acid, một dạng của chất đạm hay các thành tố cơ bản của chủng tử DNA tạo thành tế bào sinh thực vật sau này. Có thể tóm tắt quá trình biến đổi từ những phân tử hữu cơ đơn giản đến các phân tử phức tạp để tạo thành những nguyên liệu sinh ra tế bào như sau (*11):
 
Kết hợp các phân tử hữu cơ đơn giản để cho ra khoảng 20 gốc Amino acid. Nên nhớ con số khoảng 20 gốc Amino acid là kết quả của hàng trăm, ngàn, triệu tỷ những kết hợp ngẫu nhiên và chọn lọc trong hàng tỷ năm.
 
Yếu tố quan trọng cần nhất trong ba giai đoạn nói trên là đại dương hay nước, đã đóng vai trò chất xúc tác chính cho tất cả các hiện tượng biến đổi hay kết hợp từ bốn (4) nguyên tố vô cơ sang hữu cơ, từ chất đạm sang DNA nói trên. Nói rõ hơn, không có nước hay Oxy thì cả ba gian đoạn nói trên đã không thể xảy ra, và chúng ta cũng không thể có mặt trên trái đất như hiện nay. Cụ thể minh chứng là cho đến bây giờ, tất cả các sinh vật kể cả con người vẫn còn cần hấp thu khí Oxy để sống còn.
 
4.2  Dinh Dưỡng – Sinh Tồn (4.0+ – 3.0+ bya)
 
Trong chương trước, người viết có trình bày sơ qua về nhu cầu bảo tồn cơ cấu của các phân tử vô cơ, một hình thức sơ đẳng nhất cuả nhu cầu dinh dưởng. Nói chung, chuyện “ăn” của các phân tử hữu cơ. Dưới dạng kết cấu hữu cơ, nhu cầu bảo tồn cơ cấu tăng lên rất cao vì do sự thất thoát của các nguyên tố tạo thành thường xuyên dễ xảy ra hơn. Để thỏa mản nhu cầu tự nhiên nói trên, sau đây là thí dụ cụ thể cho một vài trường hợp tiêu biểu:
 
Lấy phân tử CH4 (Methane)  làm thí dụ, nếu một nguyên tố H thình lình bị lấy mất một âm điện tử e (electron), thì trong một thời gian ngắn (khoảng 1 phần ngàn giây), cả nguyên  tố H đó sẽ bị tống xuất ra ngoài ngay, vì không còn lực hấp dẫn từ phân tử C nữa. Hậu quả là phân tử CH4 sẽ trở thành CH3, rồi cũng biến mất luôn vì cơ cấu CH3 không bền.
 
Nhưng bây giờ, giả sử là trong một thời gian cực ngắn hơn khoảng 1 phần ngàn giây hay nhanh hơn, phân tử CH4 đang bị mất một e, có cơ hội và may mắn chộp ngay được một e nào khác đang hiện diện ở chung quanh  để thay cho e bị lấy mất. Như vậy coi như là phân tử CH4 bảo tồn được sự hiện hữu hay coi như là còn “sống sót”.
 
Theo đúng định nghĩa thực tế, hành động tự nhiên “chộp” lấy để thỏa mản nhu cầu bão tồn cơ cấu, là một hình thức sơ đẳng về nhu cầu dinh dưỡng hay còn gọi là “ăn” của các phân tử hửu cơ cao cấp sau này dưới dạng tế bào. Do đó, khái niệm sơ đẳng đầu tiên về vấn đề “ăn” chỉ đơn giản là hành động của một chủ thể hay một phân tử, tìm kiếm và lấy lại được những nguyên tử đã bị mất đi. Một hình thức bổ xung năng lượng đã bị mất của các sinh-động vật sau này.
 
Một yếu tố chính khác cho sự tồn tại cuả các phân tử hữu cơ DNA là sức mạnh của tập thể hay sự kết đoàn, mà cho đến hiện tại này, con người và các loài sinh vật trong thiên nhiên vẫn còn áp dụng. Trước hết, theo lý thuyết thì các phân tử cùng loại thường dễ kết hợp lại với nhau, làm tăng thêm lực hấp dẫn của cả khối lượng chung và các nguyên tố ở ngoài cùng sẽ được giữ chặt hơn. Cụ thể trong thí dụ về CH4 nói trên, nếu có hai phân tử kết hợp (CH4)2 sẽ giữ lại nguyên tố H chặt hơn hay mạnh hơn là một CH4. Ngay cả trong trường hợp bị mất đi một nguyên tố, cũng vẫn dễ dàng lấy lại hay chiếm đoạt lại từ các phân tử yếu hơn. Từ đó suy ra, càng nhiều phân tử kết hợp lại với nhau, thì độ sống còn của các phân tử càng tăng cao hơn.   
 
Khả năng tích luỹ và phát triển là một hệ quả tất yếu cuả hai nguyên tắc dinh dưỡng và kết đoàn tự nhiên nói trên. Thật vậy, thoạt đầu chỉ là phản ứng tự nhiên của sự việc “lấy lại cái đã bị mất” của một bộ phận nhỏ ở bên ngoài của tập thể. Nhưng tiếp theo là giai đoạn trở thành thói quen lập lại không bị hạn chế, đưa đến phát triển quá lớn của cả hệ thống để tăng thêm sức mạnh và sinh tồn.
Hệ quả sau cùng là cả hai phản ứng ban đầu nói trên dần dần trở thành một thói quen không thể ngưng lại hay hạn chế được. Kết quả là công việc gom thu vượt quá xa nhu cầu cần có lúc ban đầu, trở thành bản tính tự nhiên của sự phát triển không hạn chế. Một hình thức sơ khai của tham lam hay dục vọng.
4.3   Đơn Bào - Sinh Sản (3.0+– 2.5+ bya)
Trong tiểu mục này và các phân đoạn sau, để tránh lập lại những chi tiết không cần thiết hay quá phức tạp thuộc lãnh vực nghiên cứu hàn lâm đã có sẳn trong các sách giáo khoa, người viết xin chỉ ghi lại vắn tắt, tóm lược những ý chính, làm cơ sở tham khảo cho việc trình bày các ý tưởng mới trong bài được đơn giản và dễ hiễu hơn.    
Nhờ những dụng cụ chụp hình tối tân và tinh vi của ngành vật lý, chúng ta có thể chứng kiến rõ ràng từng bước một, hiện tượng tạo thành tế bào. Từ những kết hợp các phân tử chất đạm qua cơ cấu có hình xoán dây của di truyền tử DNA, rồi cho ra đơn vị khởi đầu căn bản nhất của đời sống là tế bào duy nhất, còn gọi là đơn bào (Hình 14).  
Điều cần biết trong tiểu mục này chính là đinh nghĩa rõ ràng về sự sống cuả một đơn bào. Có vài tiêu chuẩn đã được đưa ra, nhưng ý chính quan trọng nhất về sự sống vẫn là khả năng tái tạo hay sàn xuất ra được các tế bào đơn khác, còn gọi là khả năng sinh sản.
Tóm lại, con đường biến đổi từ những phân tử hữu cơ đến một đơn bào mới không phải là một tiến trình ngắn và đơn giản. Tất cả gồm ba(3) công đoạn trong chuổi thời gian kéo dài hơn một tỷ năm để thành hình, như sau:
Công đoạn 1: Tích lũy và phát triển.
Bản chất tự nhiên của bất cứ phân tử Đạm nào (dưới dạng Hn Cm Ox Ny) là “chộp” lấy những  nguyên tố đã bị mất để bù vào chỗ thiếu hụt. Nhưng vấn đề không dễ dàng chút nào, vì không phài lúc nào cũng có sẳn những nguyên tố bị thiếu ở ngay bên cạnh. Như vậy, chuyện gì sẽ xảy ra nếu tình trạng bị “đói ăn” kéo dài quá lâu và chắc chắn sẽ bị “chết đói” ? Câu trả lời chắc sẽ không làm ngạc nhiên bất cứ ai: Thanh toán hay “ăn thịt” lẫn nhau. Nghĩa là một phân tử đạm này sẽ chộp lấy nguyên tố cần có từ một phân tử đạm khác để giải quyết nhu cầu “đói ăn”. Nhưng không phài lúc nào cũng thành công, nếu đối thủ cũng có cấu trúc phân tử bền chắc như nhau. Trường hợp chẳng bên nào chịu thua, thì hai phân tử sẽ bám dính với nhau luôn và trở thành phân tử kép. Sau quá nhiều lần tích luỹ như vậy thì kết quả sẽ phát triển cho ra những phân tử có khối lượng lớn hơn.
Công đoạn 2: Phân phối và Nhiệm vụ.
Hãy thử xét trường hợp cụ thể minh chứng sau: Trong một phòng họp đầy kín người và không thể di chuyển được, nếu có ai đang ngồi phía trước muốn đưa một vật gì đó cho người đang ngồi xa ở phía sau, thì chỉ còn có cách là đưa chuyền tay nhau cho từng người một ngồi bên cạnh. Có thể gọi đó là “phương pháp dây chuyền”.
Trở lại trường hợp tích luỹ nhiều những phần tử đạm sẽ tạo ra vấn đề “nuôi ăn” cho các phần tử bị kẹt nằm ở giữa hay trong cùng. Không có gì khó khăn để giải quyết vì như đã nói trên, phân tử trong cùng sẽ chộp lấy những nguyên tố cần thiết ở ngay bên cạnh, phân tử bên cạnh sẽ chụp lại phân tử kế, tạo ra một chuổi những phản ứng dây chuyền lan ra tới tận phần tử bên ngoài cùng. Phần tử ngoải cùng nếu không muốn “chết” hay bị phân hủy, thì phải cố gắng “chộp” cho được một phần tử khác lạ ở ngoài. Hai hành động tuy giống nhau hoản toàn  về bản chất nhưng khác nhau theo cách định nghĩa. Xảy ra từ bên trong thì gọi là bồi dưỡng hay nuôi nấng, còn xảy ra ở bên ngoài thì  có nghĩa là “ăn” hay “nuốt con mồi”! 
Công đoạn 3: Sinh Sản
Trong diễn tiến về “ăn” thuộc công đoạn 2 nói trên, sẽ có lúc bị trở ngại, không hạn chế hay kiểm soát được vì tình trạng phát triển quá mức. Thoạt đầu, “Cung” nhiều hơn “Cầu”, do các phân tử ở bên ngoài cùng ăn quá nhiểu để “nuôi” hay cung cấp nguyên tố cần cho các phân tử bên trong, theo đúng phương pháp dây chuyền. Các nguyên tố dư thừa quá nhiều không tiêu thụ hết sẽ được tích luỹ lại, làm cho đơn bào phát triển lớn dần ra thêm.
Đơn bào càng lớn dần quá to, thì quy trình bị đảo ngược lại, “Cung” lại không có đủ cho “Cầu”, nên các phân tử nằm ngay ở giữa bị “chết đói” do tiếp tế không tới được, phải “ăn thịt”
lẫn nhau và bị phân huỷ ra ở ngay phần giữa của tế bào đơn, gián tiếp cho ra hai tế bào, hay cỏn được coi như là tự phân chia ra làm hai hay theo động từ chung là “sinh sản”. Hai đơn bào mới sẽ tiếp tục “ăn”
và sinh sản như cũ. Công việc lập lại này sẽ kéo dài hàng trăm triệu năm cho đến khi biến đổi qua thành Đa bào.
Đúc kết lại ba công đoạn chính của đơn bào nói trên, có thể thấy một “Triết Lý Sống” hình như đã có sẳn  ngay từ lúc khởi thuỷ, khi vạn vật còn là những sinh vật quá nhỏ bé : “ Ăn để sống còn, nhưng cũng là đầu mối dẫn đến cái chết, và chết cũng chỉ là một sự khởi đầu cho những đời sống khác tốt đẹp hơn sau này!”. 
5.1    Ða Bào  (2.5+ – 2.0 bya)
Trong tiểu mục trên đã giải thích và minh chưng cho thấy hiện tượng “ăn” hay kết hợp giữa các phân tử đạm với nhau. Thêm vào, không phải chỉ có con người mới biết hợp đoàn để tạo thêm sức mạnh, mà các loài sinh động vật hay ngay cả các đơn bào sơ khai nguyên thuỷ cũng đã biết làm như vậy. Đúng hơn, tất cả đều chịu ành hưởng của sự lập lại tự nhiên nói trên, đều làm theo mệnh lệnh của bộ nhớ đã được ghi chép hay lập trình sẳn có trước đó. Theo lý thuyết đã được chứng nghiệm về sức hấp dẫn của vật chất, một kết hợp sẽ càng mạnh và bền hơn nếu khối lượng của sự kết hợp càng lớn. Từ đó, kết quả là một chuổi những chu kỳ được lập lại cho sự kết hợp và tích luỹ cuả các đơn bào sơ khai, giống như sự kết hợp của các phân tử đạm trước đây.
Càng tích luỹ hay “ăn” càng nhiều, thì kết hợp của các đơn bào càng lớn, cho ra sức hấp dẫn càng tăng mạnh hơn nhiều, và càng dễ kết hợp thêm các đơn bào khác. Sự kết hợp của các đơn bào thường là tình cờ và ngẩu nhiên, không theo một quy trình sắp đặt nào trước, tuy vẫn tuân theo một số những quy luật của thiên nhiên là “Mạnh được Yếu thua”, v.v...
5.2 Thực Vật Dưới Biển (2.0+ – 1.5 bya)
Các đa bào tiếp tục tích luỹ và kết hợp với nhau không ngừng nghĩ, trong môi trường thuận tiện và ổn định của nước, cuối cùng cho ra các loại rong rêu hay thực vật sơ đẳng sống dưới biển. Các loài thực vật sống dưới biển cũng có nhu cầu ăn rồi tích luỹ và phát triển, nhưng rất thụ động nếu so với bất cứ các sinh vật nào khác.
Cụ thể tiêu biểu nhất là các loài rong biển, chỉ biết chờ thức ăn đưa đến qua sự giúp đở hay trung gian của môi trường nước. Đó cũng là lý do giái thích tại sao từ khởi thuỷ, các loài rong rêu chỉ xuất hiện bên cạnh các đường nứt cuả trái đất nằm sâu dưới đáy biển, do các phân tử hoá chất hay thức ăn có quá nhiều từ các loại nham thạch của vùng núi lửa đang trào ra.
5.3 Vi Sinh Vật -Vi trùng (1.5+ – 1.2 bya)
Ngược lại với tính thụ động trong vấn đề “ăn” của các loài thực vật, các vi sinh hay các loại động vật ra đời sau này đều tích cực và chủ động đi tìm kiếm thức ăn. Đó cũng chính là đặc tính khác biệt duy nhất để phân loại thực vật và động vật. Chủ động và năng nổ nhất vẫn là những vi sinh vật hay các loại đơn bào hay đa bào có kích thước nhỏ và vừa. Nhờ kích thước nhỏ, gọn và nhẹ, các đơn bào hay đa bào này đã được các luồng nước đẩy đi xa hơn, đưa tới những nơi chốn mới có nhiều thức ăn và ít cạnh tranh.
Dù vậy, cũng có một số các loại đơn hay đa bào rất là háu ăn do môi trường cạnh tranh rất nghiệt ngã của các thế hệ trước đã huấn luyện và di truyền, nên có khuynh hướng tham “ăn” một cách quá đáng, sẳn sàng bám vào và chộp lấy bất cứ nguyên tố của các vi sinh nào xuất hiện trước mặt, dù có dùng được hay không. Hậu quả là các loài vi sinh khác chậm chạp hay yếu kém hơn dễ bị tiêu diệt. Thêm vào, các giống vi sinh càng ăn mạnh bạo thì lại càng sinh sản nhanh chóng gấp nhiều lần hơn các loài vi sinh khác, và đó cũng chính là thuỷ tổ của các giống vi trùng hay vi khuẩn độc hại sau này.
6.1  Hải Sinh Vật (1.2 – 1.0 bya)
Trở lại các giống thực vật đang phát triển dưới đáy biển, thoạt đầu nhờ có thức ăn quá dồi dào, các loài thực vật sơ đẳng dưới biển nhanh chóng tích luỹ và phát triển gần như không hạn chế theo cấp số nhân. Nhưng sau một thời gian, dĩ nhiên, đã đưa đến tình trạng một vài khu vực bị lạm phát và thiếu nguồn cung cấp thức ăn. Hậu quả là các loài cây thực vật trong vùng đó đã bị “chết đói” và bị tiêu huỷ dần. Giống như những cây khô chết vì bị thiếu nước sau này trên đất liền, các loài cây thực vật dưới biển cũng bị tan rã và chết dần theo thứ tự từ trên ngọn trước, rồi kéo xuống dần cho tới tận gốc rễ. Dù vậy, bao giờ cũng có một số trường hợp ngoại lệ đặc biệt và may mắn đã xày ra. Phần gốc rễ cuà một vài giống cây thực vật lại bị chết và tan rã trước, giải phóng được phần thân chút xíu còn lại ở trên đang ngắt ngư nhưng chưa chết hẳn, rồi được dòng nước đưa đến nơi có nguồn thức ăn dồi dào, để được hồi sinh, “ăn” và “sinh sản” trở lại.

Kết quả là đã bắt đầu xuất hiện dưới đáy biển, những loài thực vật mới có thể di chuyển được rất chậm, có khả năng ăn nhiểu hơn bằng cả hai đầu, và là tiền thân của những con giun biển to lớn về sau này. Điều đáng ghi nhận ở đây chính là chu kỳ vừa nói ở trên, đã được lập lại vô số lần trong hàng tỷ năm về sau này, không những đã xảy ra cho các loài động vật mà còn luôn cho cả con người văn minh hiện đại.
 
6.2   Giun biển– Chia Phái tính (1.0 – .75 bya)
Cho tới thời điểm xuất hiện các loài giun thực-vật sơ khai này, sự sinh sản của tất cả các loài tế bào sinh thực vật đều xuất phát từ phương cách của các tế bào đơn tính-dục (uni-sex). Theo đúng quy trình sinh sản đó, cơ thể của các loài sinh động vật ở dưới biển cứ dần tích luỹ và phát triển lớn dần cho đến khi tới một giới hạn nào đó thì ngay phần ở chính giữa hay phần lớn nhất sẽ tự động thu hẹp lại, phân huỷ và tự động chia cơ thể ra làm hai phần gần như đối xứng và bằng nhau, hay hai sinh vật mới và giống hệt như nhau .
 
     
                         
 
 
Các loài giun vi sinh hay các loài đa bào nhỏ ban đầu cũng có đời sống và quy trình sinh sản kéo dài hàng trăm triệu năm giống như trên.  Nhưng khi cơ thể các loài giun vi sinh bắt đầu phát trỉển lớn manh dần, các tế bào trở thành nhiều loại phức tạp hơn, cho ra nhiệm vụ khác biệt của các loại tế bào. Do đỏ, ảnh hưởng nhiều đến việc phân chia và thời gian hợp lý cho việc sao chép lại cuà các tế bào chủ chốt. Công việc sinh sản bằng cách tự chia hai không cỏn thực tế và theo thời gian không còn hữu hiệu nữa, nghĩa là tỷ lệ sinh sản thành công cuả các loài giun vi sinh càng nhỏ dần khi kích cỡ cuả các loài giun càng tăng cao lên.    
 
Nhưng sự kiện chính đã xảy ra trong giai đoạn sinh sản khi một số các tế bào cuả loài giun vi sinh đang làm công việc sao chép lại chưa xong, thì có thể bị một chấn động khủng khiếp từ một vụ động đất hay do núi lửa phun trào, lảm cho cơ thể loài giun bị chấn động mạnh và bị chia hai trước khi có đầy đủ các bộ phận như trước.
 
Hiện tượng trên xảy ra sau này còn được gọi bằng một tử khoa học khác là sinh non. Hậu quả là đã cho ra hai loài giun vi sinh khác nhau, trong đó một loài chỉ sở hữu có một phần hay phân nữa bộ phận cần thiết cho sinh sản. Sự phân chia sơ khởi này bắt đầu đánh dấu cho sự phân biệt hai giống “Đực và Cái”. Từ đó về sau này,  sau khi qua một số các quy trình chọn lọc và thay đổi, tới thời điểm cần có nhu cầu sinh sản, các loài giống đực chỉ việc sao chép lại các thông tin hay ký hiệu cần thiết, bỏ chung vào trong một cái bọc nhỏ (còn gọi là tinh trùng) để gởi tới những cái trứng đang lơ lửng chờ đợi xung quanh trong dòng nước.
 
Qua cách sinh sản gián tiếp này, cơ thể cuả các loài giun vi sinh mới đã có thể tích luỹ và phát triển lớn mạnh hơn bình thường vì không phải chia ra hai như trước. Ngược lại, cơ thể các loài giun vi sinh còn sinh sản trực tiếp chia hai vẫn không thể tích luỹ hay phát triển thêm được nữa, nên sau một thời gian, trở lại thành những con mồi ngon cho các loài giun biển lớn mạnh hơn. Đó cũng chính là định luật về sinh tồn hay bài học chung cho tất cả các loài sinh động vật về sau này, kể cả cho loài người. Bất cứ xã hội nào mà không chịu thay đổi cho phù hợp với trào lưu tiến bộ của thế giới loài người, thì sớm muộn gì cũng bị đào thải và trở thành miếng “mồi ngon” cho các xã hội tiến bộ văn minh hơn.
 
Nhờ sự thay đổi cách sinh sản hiệu quả, nhất là có sẳn quá nhiều mồi ngon trực tiếp tử các con giun vi sinh nhỏ hơn, các loài giun biển đã phát triển lớn mạnh và mau chóng lan tràn khắp nơi dưới đáy biển cho đến ngày nay, còn sót lại dưới dạng của những con Hải-sâm.
 
Cũng trong giai đoạn chuyển tiếp lớn mạnh và do nhu cầu muốn di chuyển nhanh hơn dưới đáy biển để tìm thức ăn, các loài giun biển đã phát triển kỹ thuật uốn lượn thân hình trên cát để tạo lực đẩy trườn mình tiến tới. Sự cọ sát giữa hai bên thân mình cuà loài giun và cát dưới đáy biển, lâu ngày sẽ làm chai đi những tế bào ở ngoài cùng và trở thành hai cái vẫy hai bên. Tiếp tục một thời gian vài triệu năm nữa, cơ thể loài giun lớn dần dưới bụng, hai cái vảy dưới sẽ bị đẩy dần lên trên, sau cùng sẽ trở thành hai cái vây dùng để bơi lội hay di chuyển trong nước.
 
6.3    Lươn Biển (Period 0.75 – 0.5+ bya)
 
Chu kỳ tăng trưởng nhanh rồi lại bị lạm phát về số lượng và đưa đến thiếu ăn đã trở lại giống y hệt như thời kỳ lạm phát của các loài rong thực vật trước đây, cũng làm đa số các loài giun biển bị tuyệt chủng. Tuy vậy, cuối cùng thì may mắn cũng trở lại với một thiểu số rất ít các giun biển, dù có sự khác biệt đôi chút. Lần này do vì quá đói ăn, cơ thể của một số loài giun biển bị teo tốp nhỏ trở lại, nên đã bị lực đẩy của nước làm cho nổi trôi lên trên mặt biển đầy ánh sáng mặt trời. Một thiên đàng có quá nhiều thức ăn và cơ hội để giúp một số giun biển từ từ lột xác trong vài chục triệu năm, trở thảnh các loài lươn biển hiếu động và linh hoạt hơn rất nhiều so với các loai giun biển sống dưới nước. Các giống giun biển “may mắn” hơn còn sót lại dưới đáy biển vẫn tiếp tục phát triển cho đến hiện tại để trở thành những con giống như con Vòi Voi, Đồn Đột hay còn gọi là Hải Sâm.        
 
Trong thời kỳ một số các loài giun nổi trên mặt biển và do có tiếp xúc trực tiếp với sức nóng của ánh sáng mặt trời, làm cho các tế bào của lớp da ngoài trên đầu bị bỏng và mất đi, thay thế bằng một lớp tế bào mớí nhô lên. Chu kỳ nói trên lập lại hàng triệu năm và do mặt Trời lên xuống từ hai hướng Đông Tây, nên đã bíến vùng da đầu đó trở nên hai vùng nhay cảm với ánh sáng. Tiếp tục tiến hóa và thay đổi trong vài chục triệu năm nữa thì hai vùng trên đầu sẽ trở thành hai con mắt sơ khai của giun biển, có vị trí nằm sát bên nhau trên mặt bằng phẳng, tương tự gần giống như hai con mắt của loài cá sấu hiện nay. Nhiệm vụ sơ khởi ban đầu cuả hai “con mắt” chỉ là báo động cho giun biển biết khi nào có ánh sáng mặt trời xuất hiện và chiếu xuống chạm vào đầu giun biển.
 
 
                      
 
 
Đồng thời với những cảm ứng về nhiệt xạ hay ánh sáng, thêm vào là những âm thanh như sấm sét hay núi lửa cũng tạo ra những chấn động quá mạnh. Một hệ cảm ứng khác của da về độ rung chấn hay âm thanh cũng đã bắt đầu thành hình sơ khai trên đầu các con giun biển.           
 
6.4Kỷ Băng Giá I – (650 mya –625 mya)    
 
Gần cuối đại kỳ 3 này, cách đây khoảng 650 triệu năm, đã xảy ra một chu kỳ băng giá I (The Ice age I) kéo dài khoảng 25 triệu năm, lần đầu tiên trong tổng số 4 chu kỳ băng giá xuất hiện trên trái đất (*24-Hình E). Thoạt đầu, băng giá xuất hiện bình thường theo mùa đông.
Tuy nhiên, do sự bùng phát về số lượng các giống vi sinh vật hay các loài lươn biển tạo ra, nên trái đất bị thiếu hụt quá nhiều khí Oxy.
Kết quả là đã làm cho khí hậu trái đất lạnh thêm, cho ra thêm nhiều vùng tuyết rộng lớn hơn, phản chiếu ánh sáng nhiều hơn nữa. Hệ quả dây chuyền là càng giảm độ hấp thu ánh sáng hay nhiệt năng cho trái đất, thì càng làm trái đất lạnh thêm và tuyết hay băng giá càng bị tích luỹ nhiều hơn, vv. Chu kỳ trên bị lập lại nhiều lần cho đến khi băng tuyết bao phủ hầu hết mặt đất, dày lên cao cà vài chục thước, trừ ra một số các vùng miền nằm gần sát đường xích đạo.
 
Cuối cùng, chu kỳ băng giá I cũng bị phá vỡ và chấm dứt bằng một hiện tượng thiên nhiên khác, do các núi lửa cực khủng (Super Volcanos). Các núi lửa khủng đã giúp hai công vỉệc chính: Chọc thủng lớp băng tuyết dày đặc và đồng thời các lớp khói bụi khổng lồ nham thạch được phóng lên tầng khí quyển cũng tạo ra hiệu ứng lồng kính, làm cho khí hậu trái đất nóng ấm lên, nên các lớp băng tuyết dày đặc cũng bị tan rả mau lẹ hơn .
 
Sau thời kỳ băng tuyết lần thứ I kéo dài khoảng 25 triệu năm, đa số các sinh vật sống dưới đại dương hầu hết đều bị tuyệt chủng hết vì bị thiếu ăn, chỉ trừ một số ít rất là may mắn được nằm gần sát trong vùng xích đạo hay gần các miệng núi lửa dưới đáy biển.
Chắc chắn trong số rất ít các sinh vật may mắn trên sẽ là thuỷ tổ của các loài bò sát và khủng long sau này.    
Chương 4
Đất Liền
Kỷ Nguyên Paleosoic&Mesozoic (540-65 mya)
Cuối thời đại thuộc Kỷ nguyên Pre-Cambrian cách đây hơn 600 triệu năm, đa số địa hình trên trái đất là núi và nước. Chỉ một số diện tích rất nhỏ là đồng bằng, do phù sa trên các núi cao bị nước cuốn trôi xuống và bồi đấp sau những trận mưa bão. Các lục điạ chính còn nằm rải rác ở khắp nơi, cách  nhau xa cả chục ngàn cây số so với vị trí hiện nay. Hơn phân nữa (1/2) các lục địa vẫn còn chìm sâu dưới mặt nước biển. Trong khi đó, hai đại lục châu Phi và châu Á thì còn ở vùng cực Nam của trái đất .
 
Trên mặt đất còn hạn hẹp lúc bây giờ, chỉ mới xuất hiện một số rất ít các loài rong rêu và cỏ dại, chưa có rừng rậm hay những cây cao to lớn như sau này. Lượng nước mưa lũ trong thời kỳ này rất cao, vì chưa có nhu cầu tiêu thụ nước, nhất là có quá ít cây rừng để hấp thu và giữ lại nước. Khắp nơi trên mặt đất đều bị ngập lụt thường xuyên sau những cơn mưa bão. Hàng hàng lớp lớp các loại phù sa từ các vùng núi cao chảy xuống theo các trận lũ, bồi đấp dần các thung lũng và  nâng cao lên từ từ các lớp đất cát thành những đồng bằng hay bình nguyên sau này. Nhờ vậy nên hàng trăm triệu năm sau, những chỗ thấp trũng được nâng cao lên dần, tạo thành những bình nguyên rộng mênh mông cả ngàn vạn dậm. Đổi lại, những rạng núi thật cao trước kia cũng bị sạt lở hay sói mòn, làm cho đỉnh núi tụt thấp xuống dần. Rất nhiều ngọn núi cao đã bị biến mất luôn do những quá trình đồng-bằng hóa cuả cảc thung lũng hay bờ biển.
 
Ngoài ra, từ những sự kiện nêu trên cũng cho thấy vào thời Pre-Cambrian, các ngọn núi chính cao nhất trên thế giới hiện nay như rặng Hi Mã Lạp Sơn (Himalaya) hay Kilimadjaro đều còn rất thấp, cao chừng vài trăm mét. Nhưng nhờ có chứa nguồn nham thạch núi lửa nên sau mỗi lần phun trào, đã tích luỹ từ từ trên chóp núi và nâng cao lên dần các đỉnh núi như chúng ta thấy hiện nay. Thời tiết và mưa lũ cũng có đóng vai trò bào mòn bớt các đỉnh núi cho đến khi xuất hiện chu kỳ phun lửa kế tiếp.
 
Hiện tượng tạo thành núi và cao nguyên nói trên cũng giải thích luôn tại sao trên mặt Trăng không có các ngọn núi cao như trên mặt Đất.
Lý do như đã giải thích và minh chứng trong chương trước, mặt Trăng có nguồn gốc từ một phần mảnh vỡ nằm phía bên ngoài của trái Đất, nên không có chứa nhiều nham thạch lỏng như trong lòng trái Đất. Bằng chứng trên cũng cho thấy rõ là chưa bao giờ có hiện tượng phun lửa hay có núi lửa hoạt động trên mặt Trăng. Những vủng lồi lõm nếu có trên mặt Trăng là do sự va chạm mạnh của rất nhiều đá thiên thạch bay vào trong mấy tỷ năm qua, do mặt Trăng không có bầu khí quyển bao bọc để che chắn.
 
Đa số các loài cây cỏ chưa xuất hiện trong thời Nguyên Đại này.  Lý do là lớp đất đá trên mặt đất cỏn rất thô sơ với nồng độ nham thạch và muối còn khá cao, chưa có môi trường thuận lợi về dinh dưỡng cho các tế bào thực vật phát triển. Phải mất thêm vài trăm triệu năm nữa để các cơn mưa bão lớn rửa và xoá sạch dần các chất muối mặn, và cho ra thêm nhiều lớp đất cát có chứa phù sa và khoáng chất.
 
Một yếu tố quan trọng khác và hơn tất cả chính là sự đóng góp từ các xác chết động vật đã bị tan rã của hàng triệu con lươn biển lên thám hiểm đất liền. Trong một số câu chuyện thần thoại của phương đông có kể lại những câu chuyện về sự xuất hiện của một giống cây bông hoa mới lạ sau khi có người nằm chết ngay tại chỗ gốc cây, như chuyện trầu cau của Việt Nam, thí dụ. Khoa học ngày nay minh chứng cho thấy đó là những hiện tượng có thật, còn gọi là hiện tượng kết hợp ngoài luồn và đột biến (Mutation) di truyền giữa hai giống tế bào xa lạ khác nhau.
 
Sau cùng, có một sự liên tưởng rất dễ hiểu để so sánh. Nếu loài giun biển (Hải-sâm) có thể tự hào với thành quả vĩ đại khi thám hiểm vào được các hang động xa cách mặt nước chừng một vài mét, thì chắc cũng xứng đáng được ca ngợi, không thua gì những thành công khi con người thám hiểm đặt chân lần đầu lên mặt Trăng! Tuy vậy, không giống như con người khi bắt đầu thám hiểm không gian cách đây hơn một thế kỷ, tất cả loài động vật kể cả con người vào thời cổ đại trước công nguyên, nếu có nhu cầu phải thám hiểm vào những vùng đất mới, chỉ là thuần tuý do bàn năng sinh tồn bắt buộc phài làm, vì bị đói ăn hay do bị săn đuổi, đe doạ đến mạng sống.
 
Động Vật  Hạ Cấp
 
7.1  Bò sát - Nguyên Đại Cambrian (540-270 mya)
 
Cuộc đổ bộ lên đất liền của loài giun biển (Hải Sâm-Sea Cucumber)
đã mất khoảng chừng hơn 300 triệu năm để hoàn tất trong Nguyên Đại Cambrian từ 540-270 mya, với sự hy sinh thân xác của cả hàng ngàn triệu thế hệ, đã hy sinh lót đường cho những hậu duệ tiếp nối theo sau được thành công. Dù sao, điểm chính cần được làm sáng tỏ ở đây chính là lập luận của hầu hết các sách giáo khoa cho là các giống sinh vật trong thời kỳ Cambrian đã từ dưới biển bò lên và sinh sống ngay liền trên mặt đất, như các loài hải cẩu và các giống rùa.
 
Lập thuyết trên tuy không quá sai, nhưng có thể không hoàn toàn đúng! Thật sự là các giống sinh vật đầu tiên lên sống trên đất liền đã có nguồn gốc xuất phát từ các con sông lớn, dựa trên hai yếu tố chính sau đây:
 
Phải có được bộ phận hô hấp để thở trực tiếp bằng không khí, giống như nhiệm vụ của các lá phổi về sau này. Kế đến và quan trọng hơn hết là cơ thể của loài sinh vật sống lâu được trên đất liền đều phải làm quen với môi trường nước ngọt. Bằng chứng thấy rõ là các sinh vật sống trên đất liền hiện nay đều dùng nước ngọt để sinh sống.
 
Trở ngại thứ nhất khó khăn và tốn kém thời gian rất nhiều, qua quá trình hơn cả trăm triệu năm để chuyển hoá dần từ bộ phận thở bằng cách lọc nước biển qua bộ phận hô hấp toàn dùng bằng khí trời như lá phổi hiện nay. Hãy thử tưởng tượng những con giun biển bị mắc cạn, nằm ngay tại các bờ đất sát mặt nước đang bị chết ngạt vì cố thở bằng không khí, và thỉnh thoảng lại được hồi sinh tạm thời bằng những con nước thuỷ triều lên xuống ngập đầu.
 
Hiện tượng trên đã được lập đi lập lại qua hàng chục triệu năm cho hàng triệu thế hệ của các loài giun biển phài sống gần ngay sát biên giới của nước và đất liền, đã sản sinh ra những thế hệ giun biển mới có khả năng thở luôn bằng khí trời, tiền thân của các con “rắn Biển” hiện nay. Chính vì lý do nói trên nên các loài lươn biển cùng thời tuy năng động và to lớn hơn vẫn không thể lên bờ và sống được luôn trên đất liền.
 
Trở ngại thứ hai và cũng là minh chứng cho thấy tại sao cơ thể của các sinh vật sống trên đất liền sau này phải được chuyển hoá và thích ứng với đời sống bằng nước ngọt. Đơn giản là vì không có biển hay nước mặn trong đất liền. Nhưng cũng giống như bộ phận hô hấp, không thể thay đổi ngay liền được mà phải cần thời gian chuyển tiếp.
 
May mắn lại đến với các loài giun  biển sống gần ngay các cửa khẩu của các con sông đang chảy ra biển, nên tạo thành một vùng nước lợ pha trộn. Nhờ vậy, các thế hệ giun biển này đã có cơ hội làm quen và tập cho cơ thể thích ứng dần với nước ngọt. Hậu duệ con sót lại của loài giun biển này phải kể tới các loài cá Hồi với khả năng sống được trong cả hai môi trường biển và sông.
 
Trong nguyên đại này, những loài giun biển sống gần các cửa sông cũng có một thay đổi rất ấn tượng về cơ thể. Do phần Đầu phải thường xuyên chịu áp lực nước quá cao chảy ra cửa sông, nên đã được tích luỹ thêm được nhiều các hợp chất vôi, làm cho cứng hơn bộ xương bảo vệ cái Đầu. Ngược lại thì phần phía sau đuôi, do không cần phải đương đầu với áp lực nước nên trở thành nhẹ nhàn và uyển chuyển hơn, biến thành bộ phận vừa giữ thăng bằng cho cơ thể vừa làm mái chèo tạo lực đẩy tiến tới cho các loài giun biển hay hậu duệ sau này là các loài rắn. Đồng thời, cũng nhờ hấp thu nhiều chất vôi từ các loại đá trầm tích gần cửa sông, nên phần xương cột chính mềm như cái nang của loài mực, mới có thể cứng dần lên và trở thành hệ thống xương cốt chính làm sống lưng, bảo vệ các dây thần kinh chuyên tải tín hiệu hay mệnh lệnh từ não bộ cho các loài động vật sau này.
 
Cuối thời kỳ Cambrian, một số các giống lươn biển men theo các con sông đã tiến dần vào sâu trong đất liền, nhưng vẫn còn sống ngay sát gần bên bờ sông, trở thành các loài lươn nước ngọt, thuỷ tổ của các loài lươn đất hay cá trê (Catfish) hiện nay đang sống bên các bờ đất, cạnh ao hồ hay những chổ đầm lầy có nước.
 
Cũng trong giai đoạn hơn hai trăm triệu năm này, hệ thống hô hấp thở bằng khí trời qua hai bên miệng đã được hoàn tất. Khởi đầu bằng nhóm tế bào chuyên hấp thu khí Oxy từ các bọt nước chứa không khí, rồi dần đến các tập hợp mô lớn hơn, sấp xếp chồng lên nhau như hình mang cá ở hai bên miệng, rồi cuối cùng biến dạng thành ra những phế nang phổi giống như hiện nay của các loài động vật cao cấp.
 
Trở lại câu chuyện của các loài lươn khi mới bắt đầu làm những cuộc thám hiểm vào sâu trong đất liền. Không phải chỉ có trở ngại khó khăn, mà còn coi như là một cuộc phiêu liêu quá nguy hiểm và đầy tuyệt vọng. Giai đoạn này đã kéo dài trong vài chục triêu năm với hàng ngàn tỷ các con lươn đất đã chết trong vòng vài ngày vì bị thiếu nước uống. Nhưng cũng đã có bước đột phá kỳ diệu đánh dấu một trong những khúc quanh quan trọng nhất cuả sự tiến hoá xảy ra.
 
                       
 
 
Trong số hàng triệu con giun đất bị chết khô vì thiếu nước trên đất liền, có một số rất ít may mắn đang có mang những cái trứng đã được thụ tinh. Nhờ vô tình được bảo vệ bởi xác chết của các con lươn mẹ, các lươn con nở ra có thể được sống sót thêm một thời gian ngắn, trước khi may mắn gặp được một cơn mưa lũ lớn kéo trôi xuống các ao hổ gần đó. Chu kỳ này đã có thể tái diễn và lập lại trong hàng chục triệu năm, trước khi bộ phận thở bằng khí trời cuả hậu duệ lươn đất là các loài khủng long được thành hình và hoàn tất sau hơn một trăm triệu năm, với hai lỗ mũi nằm ngay trên miệng.
 
Trước đây khi loài lươn còn sống trong nước biển hay ao hồ, để làm nhiệm vụ sinh sản, các con lươn đực chỉ cần xịt ra tinh trùng trong nước và con cái sẽ được thụ tinh khi bơi lại trong vùng nước đó. Môi trường nước đã đóng vai trò bảo vệ rất tốt trong việc sinh sản của các giống sinh vật thời đó. Nhưng ngay sau khi lên sống trên đất liền trong giai đoạn đầu, các loài lươn đất đã gặp phải khó khăn rất nhiều khi lươn đực phóng tinh lên mặt đất hay trong các vùng ao hồ.
Các con lươn cái sẽ có rất ít cơ hội hay thời gian thụ tinh vì tinh dịch đã bị huỷ hoại hay mất đi mau chóng trên mặt đất. Hệ quả xảy ra là trong một thời gian khá lâu, dân số các loài lươn đất bị giảm xuống, do tỷ lệ hay xác xuất thụ tinh rất ít hay quá thấp.
 
May mắn hay tình cờ ngẩu nhiên lại xuất hiện trong thời gian kéo dài hàng triệu năm nói trên, khi có một vài con lươn trong lúc chạy thoát lũ lụt và tìm chổ trú ẩn tạm đã bị cùng đường, nên bị dồn vào sống chung trong những hốc đá nhỏ hẹp. Do phải sống chui rúc trong một không gian nhỏ hẹp và chung đụng đó, nên lươn đực đã phóng tinh bừa bãi trên mình các con lươn cái. Nhờ vậy, vô tình đã giúp cho công việc thụ tinh dễ dàng và thành công hơn những đồng loại khác.
Tiếp tục lập lại giống y hệt như vậy trong hàng triệu năm sau đó với chu kỳ lũ lụt, chạy trốn vào hốc đá và thụ tinh, đã có thể giúp giống lươn đất may mắn này sinh sản và phát triển thành loài bò sát, duy trì nòi giống cho đến khi gặp được thêm một may mắn hiếm có khác. Sự kiện vừa nói trên cũng là lần đầu tiên minh chứng cho thấy ích lợi của việc sống chung trong các tổ chức xã hội.
 
7.2   Lưỡng cư –Lươn Đất- Hai Chân Trước
 
Như đã giải thích trong các chương trước, đây là thời kỳ bắt đầu cho hào thứ 4 của Dịch lý, biểu tượng của phần trên thân thể thuộc về bộ phận tiêu hoá, hay còn ám chỉ chuyện đi tìm thức ăn hay săn mồi để sinh tồn. Vấn đề tìm kiếm thức ăn trên đất liền luôn là một thử thách khó khăn rất nhiều so với môi trường sống dưới nước, nên cơ thể cuả các loài sinh vật quen sống dưới nước cũng cần phài thay đổi và thích ứng với đời sống trên đất liền.
 
 
Trước đây các giống lươn biển chỉ biết di chuyển theo chiều tiến tởi bằng các động tác dồn nén hay co giản thân mình. Loài lươn mới lên trên đất liền nhờ bộ xương sống cứng hơn nhiều, nên có thể cử động và di chuyển mạnh hơn, bằng các động tác trườn mình qua lại như hình chữ S để tiến tới. Hiện tượng di động trên có được phần nào cũng là do nhiệt năng từ mặt trời tích tụ trên mặt đất, làm cho thân thể lươn đất bị đốt nóng nên phải cựa quậy cho giảm bớt tiếp xúc với mặt đất.
 
Cùng với lý do nói trên, lợi ích nhất trong việc ngóc cao đầu lên của các loài bò sát trên mặt đất là để có được lợi thế quan sát, nhìn xa hơn trong việc săn mồi hay phát hiện ra được sự nguy hiểm sớm hơn.
 
Điểm chính quan trọng trong thời kỳ này là xuất hiện ra hai chân trước. Các loài lươn đất khi trườn mình trên cát, do sự đụng chạm mạnh và cọ xát thường xuyên làm cho lớp tế bào da ngay dưới thân trước bị tổn thương và chai dày ra. Lâu dần lớp da dày ở hai bên hông nói trên trở thành chai cứng và biến thành lớp sụn bên trong, rồi làm thành hai cái vảy lớn ở hai bên. Qua nhiều thay đổi và tiến hoá hàng triệu năm, hai cái vảy ngày càng dài ra và chịu thêm sức nặng cuả thân hình nên trở thành cứng hơn, biến lớp sụn thành bộ xương của chân trước. Cụ thể cho thấy tổ tiên chúng ta đã biết mang giày dép khoản một ngàn năm mà lớp da bàn chân vẫn còn dày lên thấy rõ, trong khi nếu so với cả hàng trăm triệu năm của các loài lươn khi trườn mình trên đất cát.
 
 
                         
 
 
Điều đáng chú ý là trong quá trình thám hiểm và sống luôn trên đất liền kéo dài mấy trăm triệu năm sau thời đại Cambrian, cũng có một số các loài bò sát bỏ cuộc vì nhiều lý do, trở về sống lại với nước hay đai dương. Số động vật hồi cư đó chịu tiến hoá và thay đổi luôn để cuối cùng biến thành các loài động vật lưỡng cư, có thể sống được trong cả hai môi trường đất liền và đại dương. Cụ thể cho thấy ngay sau thời kỳ này, một số lươn đất với hai cái vảy lớn, đã về lại đại dương sinh sống để trở thành thuỷ tổ cuả các giống Hải Cẩu hay Hà Mã sau này.
 
Lý do giải thích trên cũng còn đúng với các giống lưỡng cư về sau này dù đã phát triển cả bốn chân, bao gồm các loài hải cẩu, Ruà và Cá Sấu, v.v.
 
 Trong thời kỳ thuộc nguyên đại IV này, mắt của các giống lươn đất còn rất nhỏ và hẹp, chỉ phát hiện ra được ánh sáng mắt trời hay những hình bóng mờ nhạt trắng đen. Trong khi đó, bộ phận cảm ứng rung động âm thanh của da cũng bắt đầu thành hình. Do phải chịu cảm nhận những rung động thường xuyên kéo dài của lớp da trên đầu, nên các lớp thịt hay tế bào ngay dưới lớp da bị mất dần và thành chỗ trống. Kế là thay đổi bằng nhiều lớp tế bào có đặc tính đàn hồi và chịu đươc độ rung mạnh, trở thành màng da mỏng bén nhạy hơn, gọi là màn nhĩ cho các động vật sau này. Cũng trong quá tiến hóa và thay đổi, hai lớp màn nhĩ đang nằm ngoài gần giữa trán, bị xương sọ cuả các loài khủng long sau này đã phát triển quá lớn xung quanh, đùn đẩy xuống thấp và chìm sâu dần vào phía dưới ở hai bên đầu, trở thành hai lỗ tai. Bộ phận thính giác cũng được phát triển và hoàn thành trong thời đại cuả các giống khủng long sau này.  
Chương 4 -2-
8.1 Tiền Khủng Long –Triassic-jurassic (270-135 Mya)
Rắn Mối – Tứ Chi
                          
 
Đây là thời kỳ bắt đầu xuất hiện các loài rắn mối to lớn, thuỷ tổ của giống khủng long sau này, được các nhà khoa học tìm hiểu chi tiết và phim trường Hollywoods diễn tả lại khá chính xác theo như câu chuyện trong phim “Jurassic Parks”. Nhưng trước hết, trong giai đoạn đầu cuả thời kỳ này kéo dài khoảng chừng vài chục triệu năm, hai chân sau của các loài lươn đất phải bắt đầu xuất hiện. Động lực để phát triển hai chân sau cũng giống tương tự như hai chân trước. Thoạt đầu, do hai chân trước còn yếu nên khi di chuyển, thân hình còn lại phía sau của lươn đất phải tiếp sức đẩy bằng cách trườn mình qua lại như lúc trước. Hệ quả sau cùng là cho ra hai chân sau, giống hệt như quá trình sinh ra hai chân trước.
 
Một thắc mắc nhỏ cho thấy là nếu quá trình sinh ra 2 rồi 4 chân cuả các loài lươn đất giống như vậy, thì tại sao chúng ta không có các loải thú có 6 hay nhiều chân hơn nửa? Câu trả lời có thể là đã xảy ra đúng như vậy, đã có những loài thú có nhiều hơn 4 chân xuất hiện sau đó vài chục triệu năm. Nhưng có thể vì lý do không hiệu quả để di chuyển hay chạy mau khi săn mồi, hay để tránh bị săn mồi, nên cuối cùng đã bị tiêu diệt hay tuyệt chủng, đúng như lý thuyết về sinh tồn đã đưa ra trong thuyết Tiến Hoá. Bằng chứng là trong các câu chuyện thần thoại cổ cuả cả Đông lẫn Tây đều có nói về các con thú hay giống quái vật có rất nhiều tay chân còn sống sót lại sau hàng triệu năm trong các hang động xa xôi hẻo lánh và biệt lập.
 
 
8.2 Não Bộ -Hệ Thần Kinh
 
Một vài chi tiết khác đáng chú ý là trong thời đại này, hệ thần kinh và não bộ của loài rắn mối đã được phát triển khá hơn rất nhiều do nhờ tiếp xúc thường xuyên với nguồn nước ngọt từ các dòng sông hay ao hồ. Từ đó, các loài rắn mối đã có thêm cơ hội để thăm dò và tiếp tục tiến vào sâu trong đất liền, bằng cách di chuyển lần dọc theo các bờ sông hay ao hồ.
 
Trong quá trình gần cả hai trăm triệu năm sau, các loài rắn mối đã thay hình đổi dạng, trở thành to lớn và phát triển mau lẹ về thể xác, nhất là bộ phận ngón và các móng chân, giúp rất nhiều cho việc di chuyển mau hơn trên đất liền, biến dạng thành các loài bò sát to lớn hơn. Những con rắn mối to lớn có hình dạng gần giống con kỳ nhông mà một chi nhánh chính, hậu duệ sau cùng cuả những con rắn mối này chính là loài cá sấu hiện đang sống trong các vùng đầm lầy ngập mặn khắp nơi trên thế giới.
9.1  Khủng Long - Nguyên Đại Cretaceous (146-65 mya)
Bộ Sinh Dục   
Các loài rắn mối mới này cũng gặp phải một trở ngại khác khi phát triển thêm được hai chân sau. Do vì hai chân sau có khuynh hướng nâng bộ phận sinh dục của con cái lên cao, nên thói quen phóng tinh lên mình con cái lại trở thành ít hiệu quả hơn. Do đó, để bảo tồn nòi giống, một trong các loài rắn mối khôn ngoan phải tìm ra được phương cách hữu hiệu hơn để làm cho con cái thụ tinh.  Theo thời gian khi hai chân sau của các loài rắn mối càng phát triển mạnh và dài hơn, nên có thể uyển chuyển thay đổi vị trí cao thấp khác nhau, con cái có thể hạ thấp phía đầu và nâng đuôi cao lên, trong khi con đực thì làm ngược lại là cong đuôi xuống thấp hơn để bắn tinh vào. Nhờ cố gắng muốn làm cho thành công nhiệm vụ giao phối trên, đồng nghĩa với việc phải đưa được bộ phận bắn tinh vào gần hơn, nên có sự co giãn của cơ vòng ngay trên lỗ bắn tinh cuả các con đực.
                       
 
Tất cả các diễn tiến giao cấu thuần thục nói trên của loài rắn mối đã phải qua quá trình thay đổi từ từ theo tính chọn lọc ngẩu nhiên mất hàng triệu năm. Sau cùng, loài rắn mối nào có bộ phận sinh dục được thành hình, có nhiều cơ vòng mạnh khỏe, nhô ra nhiều và dễ cho thụ tinh hơn, sẽ là giống rắn mối tồn tại và lớn mạnh, biến thành các giống khủng long sau đó.
9.2  Trứng 
Nhờ những yếu tố thuận lợi như đã nói trong tiểu mục trước, thêm vào là thay đổi cách giao cấu và nguồn thức ăn dồi dào, các giống rắn mối sắp bị tuyệt chủng lại được phục hồi và phát triển vượt mức để trờ thành các loài khủng long. Tuy nhiên cũng còn có một trở ngại khá lớn nữa đã chận đứng lại sự phát triển lớn mạnh cuả các loài rắn mối mới này trong một thời gian khá lâu.
 
Cho tới thời điểm này, các giống rắn mối sống trên đất liền đẻ trứng ra, còn phài nhờ vào môi trường nước để bảo vệ vì các vỏ bọc trứng quá mềm và dễ bị vỡ khi bị rơi xuống và chạm vào đất đá. Một khi dân số các loài rắn mối phát triển quá nhiều, thì nguồn nước ao hồ trở thành khan hiếm, làm cho hầu hết dân số các loài rắn mối sống trên đất liền gần như bị tuyệt chủng hết, trừ một số ít may mắn được sống gần các vùng có nhiều đá vôi. Các nguổn nước uống có nhiều chất vôi này đã giúp cho lớp vỏ bọc trứng dày và cứng lên, đủ để bảo vệ quá trứng trong một thời gian dài trước khi được nở ra con.
 
Nếu đúng theo các di tích khảo cổ được tìm thấy hiện nay với sự công nhận của các nhà khoa học, khủng long đã là giống động vật có thân xác lớn nhất trên trái đất. Có hai lý do giải thích như sau:
 
                         
 
 
Khủng long là hậu duệ trực tiếp cuả các giống rắn mối đầu tiên sống trên đất liền, nên không có kẻ thù hay mối nguy hiểm trực tiếp nào đe dọa đến sinh mạng, trừ các trở ngại về thiên nhiên. Thứ hai, quan trọng hơn hết là trong thời đại này, nguồn thức ăn từ cây cỏ và các loài rong rêu đều có quá nhiều, không phải giành giật hay đánh nhau để có thức ăn. Nhờ có thức ăn dư thừa và không bị hạn chế, nên thân xác loài khủng long đã phát triển và lớn mạnh gấp nhiều ngàn lần. Theo như ước tính dựa trên những bộ xương hoá thạch tìm thấy, trong vòng tiến hoá và phát triển hơn một trăm triệu năm, các loài khủng long đã tăng trọng từ khoảng vài chục ký lô đến cả hàng chục Tấn như các loài voi ma-mút còn còn sống sót ở Siberia.
 
Cũng nhờ các yếu tố thuận lợi nói trên nên dân số các giống khùng long đã phát triển gần như vượt mức tối đa, đưa đến sự kiện có thể nói là lạm phát hay bùng nổ về dân số cuả cà hàng trăm loài khủng long khác nhau về trong kỷ nguyên này. Hệ quả đưa đến là vào cuối thời đại kỳ này (Jurassic 270-135 Mya), đã cóhiện tượngdi cư lần đầu tiên của các giống khủng long ra khỏi Phi Châu, tản mác ra khắp nơi trên thế giới.
 
Điều cần nhấn mạnh với bằng chứng rõ rệt, chính là sự trùng hợp gần như chính xác giữa các chu kỳ băng giá (Ice Ages) và chu kỳ di cư của các sinh động vật trên trái đất. Cuối thời kỳ băng giá, thời tiết Phi châu hay các vùng miền gần xích đạo nóng dần lên, tạo ra hạn hán hay thiếu nước lâu dài. Hiện tượng khô hạn có thể đã kéo dài khá lâu làm giảm số lượng cây cối thực vật và cũng làm cho khan hiếm luôn nguồn thực phẩm dồi dào có trước đây. Chiến tranh để dành lấy thức ăn tất nhiên đã xảy ra cho các loài khủng long và hậu quả là một số đã phải tháo chạy ra khỏi Phi Châu vì bản năng sinh tồn.
 
Dựa theo hình D ở đầu chương sách này, các đại lục vẫn còn dính liền và nằm gần với nhau cách đây 160 triệu năm, nên theo dữ kiện của hình E trên, minh chứng cho thấy tại sao trên hai châu Mỹ và châu Úc chỉ có di tích của các loài khủng long hay rắn, đã di cư ra khỏi Phi châu trước đó. Riêng các giống Khỉ hay Dã nhân nguyên thuỷ thì không có mặt khi các hai châu lục đã bị tách ra quá xa bởi hai đại dương.
 
Ngược lại, vào thời kỳ bắt đầu băng giá, hầu hết trái đất bị đóng băng nên cuối cùng chỉ còn các vùng đất gần đường xích đạo là có thể tạm sinh sống được.  Do đó đã có hiện tượng các giống sinh vật từ miền bắc chịu lạnh không nỗi, phài di cư xuống trở lại phương Nam. Chu kỳ lên Bắc xuống Nam này sẽ còn tiếp tục tái diễn hay lập lại rất nhiều lần, kéo dài mãi cho đến hiện nay, thuộc giai đoạn cuối của thời kỳ băng giá tan ra làm trái đất nóng dần lên. 
9.3  Bộ Tiêu Hóa  
Thời kỳ trước khi rời khỏi hẳn vùng sông nước, bộ phận tiêu hóa của các loài giun biển chỉ có đơn giản là một ống dẫn thức ăn thẳng từ miệng xuống tới hậu môn. Dọc theo trên thành của nữa ống dẫn đầu tiên, là vô số các tế bào có chứa chất ác-xít để phân huỷ thức ăn cho mau. Sau đó tiếp tục xuống phân nửa dưới là những tế bào sợi li ti chuyên hấp thu lại các hợp chất bổ dưỡng để phân phối đi khắp nơi nuôi cơ thể, cung cấp các nguyên tố cần thiết đã bị mất.
 
Một chi tiết khác là trước khi đổ bộ lên bờ, thức ăn cuả các loài lươn đất đều có độ mềm cao nhờ có tác dụng của nước. Nhưng trên đất liền vì thức ăn khô cứng hơn nhiều, nên bộ phận tiêu hóa đã phải làm việc nhiều hơn nữa. Trước tiên là hệ nước giải thấm nước lảm mềm thức ăn ngay tại miệng. Nên nhớ là trong thời đại này các giống bò sát hay khủng long cũng còn dùng thực vật cây cỏ làm thức ăn chính, chưa biết ăn thịt. Chỉ xảy ra trong kỷ Jurrasic sau khi vụ va chạm mạnh với thiên thạch xảy ra, ảnh hưởng tới biến đổi khí hậu và làm khan hiếm các nguổn thực phẩm, nên các loài khủng long vì quá đói, phải tìm cách ăn thịt lẫn nhau để sống còn. Từ đó, để thích ứng với nhu cầu ăn thịt, những thay đổi tiếp theo sau của hệ thống tiêu hóa trong nguyên đại này kéo dài gần hơn 200 triệu năm đã hình thảnh thêm một số các cơ quan khác như Bao tử, Gan, Mật, v.v, để giúp tiêu hoá các loại da thịt hay mỡ.
 
Cụ thể thí dụ cho việc hình thành bao tử sơ khai của loài rắn mối sống trên đất liền. Do thức ăn khô cứng khó tiêu, bị tích luỹ lâu ngày ở phần giữa cuả ống dẫn, nên bị lên men căng cứng và trương phình ra. Một số lớn rắn mối đã chết vì lý do trên, nhưng trong số rất ít may mắn thì lâu ngày, phần ống dẫn bị trương phình và mất dần tính đàn hồi, nên phần ruột đó bị dãn ra luôn và có hình dạng gần giống như bao tử của đa số động vật hiện nay.
 
Thoạt đầu, chỗ phình ra do thức ăn mắc kẹt lại và bị phân huỹ, đã là một tai nạn nguy hiểm làm cho đa số rắn mối chết do không ăn uống được. Nhưng thời gian dài về sau thì cơ thể của một ít rắn mối làm quen dần và phản ứng lại được bằng cách làm cho thức ăn phân huỷ mau hơn để đẩy xuống tiếp, vào được phân nữa ruột còn lại ở dưới và tống ra ngoài sau khi  hấp thu một số nguyên tố hay thức ăn.
 
Cụ thể minh chứng cho hệ thống tiêu hoá nói trên là cách tiêu thụ con mồi cuả các loài Trăn, hậu duệ còn sống sót lại duy nhất của các con lươn đất.
 
9.4  Máu – Ăn Thịt
 
Như đã nói đến trong tiểu mục trước, đây là giai đoạn 3, nguyên đại thứ Tư thuộc biểu tượng của bộ phận tiêu hoá hay bao tử và cái bụng, nên các loài thú như Khủng long đã phát triển đến tột đỉnh về thể xác.  Một trở ngại khác xuất hiện khi các bộ phận cuả thân xác phát triển lớn dần ra, làm cho thức ăn từ các mao dẫn li ti không chuyển kịp thức ăn đến những nơi cách quá xa đường ruột.
 
Theo luật sinh tồn và để giải quyết trở ngại nói trên, cơ thể của các loài bò sát đã phải hoạt động nhiều để tạo ra một áp suất thật cao, đẩy các thức ăn đi mau hơn. Nhưng có một yếu tố khác quan trọng không kém chính là độ chảy lỏng của dung dịch thức ăn.
Càng có độ lỏng cao thì mức thẩm thấu và di chuyển thức ăn càng mau, và sau một thời gian dài thay đổi trở thành dòng chất lỏng mà ngày nay gọi là Máu.
 
Trong thời đại này, máu cuả các loài bò sát chỉ có màu xanh đậm hay xám đen, còn gọi là động vật có máu lạnh, chưa có màu huyết đỏ như loài có máu nóng sau này của những loài động vật cao cấp, kể cả con người. Nhiệm vụ chính của máu là mang chất dinh dưỡng đi nuôi tất cà các bộ phận khác trong cơ thể, qua dạng sinh hoá kể cả các hợp chất dưới dạng kích thích tố hay chất béo.
 
Dù vậy, có nhiều người vẫn còn thắc mắc là trái tim đã được thành hình như thế nảo(?) Trong quá trình hơn mấy trăm triệu năm, bất cứ bộ phận nào trong cơ thể cuả các loài động vật, kể cả con người hiện nay, cũng đều là do nhu cầu cần thiết cho sự sinh tồn hay đời sống ngay tại thời điểm nó xuất hiện. Lý thuyết minh chứng cũng cho thấy không phải muốn là có ngay liền được. Đa số là phải xuyên qua quá trình thay đổi từ từ và luôn được điều chỉnh cho đến khi hoàn hảo, mất cả hàng triệu năm hay lâu hơn nữa.
 
Trong việc hình hành trái tim, thoạt đầu là nhu cầu cần đẩy nhanh máu hay thức ăn hấp thu từ đường ruột, tới khắp nơi trong cơ thể cuả các loài rắn mối ngày càng lớn mạnh. Tuy là nhờ có hai chân trước và hai chân sau nâng cao hay hạ thấp xuống, dung dịch lỏng cuả máu đã có thể di chuyển bằng trọng lực hấp dẫn của trái  đất. Do các loài rắn mối có chân phải thường xuyên nâng cao hay hạ thấp đầu xuống để làm cho máu được lưu thông và khỏi bị nghẹt, nên đã tạo ra nhịp kéo và đẩy cuả máu.
 
Cũng vì nhờ máu thường bị nghẹt lại gần sát cổ họng, trước khi được đưa lên đầu, nên lâu dần các tế bào máu chết bên ngoài đã tạo thành một lớp màng hữu cơ hay bắp thịt bao bọc xung quanh để bào vệ.
Trải qua thêm khoảng vài chục triệu năm thay đổi, bộ máy gồm những cơ bắp thịt đàn hồi để bơm máu làm thành một bộ phận mới thô sơ có tên là Trái Tim. Thêm một vài lần thay đổi và dưới ảnh hưởng môi trường thiên nhiên trong khoảng vài chục triệu năm nữa, trái tim mới có thể đạt tới cơ cấu đơn giản như của loài chim hôm nay. Điều đáng ghi nhận là quả tim chỉ xuất hiện trong cơ thể của các loài động vật có khả năng di chuyển mau lẹ với vận tốc nhanh. Cụ thể thí dụ như các loài chim đều có trái tim nhưng thô sơ và không phức tạp bằng các loài động vật có vú sinh con xuất hiện sau này trong nguyên đại V.
 
10.1Hậu Khủng-Long - Kỷ Nguyên Tertiary (65-38mya)
Động Vật Sơ Cấp - Hệ Thần Kinh
 
                             
 
 
Hệ thống giác quan trong các kỷ nguyên đại trước 1, 2, và 3 chỉ tập trung vào xúc giác, ví giác và khứu giác theo thứ tự. Phát triển nhiều và mạnh nhất trong kỷ nguyên này là thính giác hay khà năng nghe và nói (tiếng kêu hú). Các loài động vật chính trong kỷ nguyên này là các loài khủng long hay các loài thú đang phát triển và tiến gần tới xử dụng cả bốn chân, nhất là hai chân trước để giử lấy con mồi, như giống chồn nguyên thuỷ sau đó. Nguyên nhân chính của sự tăng trưởng về khả năng nghe cho các loài động vật 4 chân trong thời đại này chính là nhờ sự cố gắng phát ra âm thanh tối đa cuả các hệ cơ vòng trong cổ họng cuả các con thú, bị quá đau đớn vì thương tích khi chiến đấu tranh dành thức ăn.  
 
Cho tới thời đại trước đây (60 mya), các giống khủng long cỏn sống sót sau vụ va chạm thiên thạch chỉ có thể phát ra tiếng gầm gừ hay rống lên để bày tỏ thái độ thích hay không. Trong thời đại sau đó, các hậu duệ khủng long đều có thể phát triển nhiều âm từ khác nhau ra ngoài, nhờ những thay đổi đáng kể cuả các cơ vòm họng chung quanh yết hầu gần thanh quản. Do đó, mỗi tần số âm sắc xuất hiện trong thời đại hậu khủng long này đểu mang theo một tín hiệu nào đó.
 
Gạch Nối Quan Trọng (IDA- 47 mya)
 
Chỉ mới phát hiện trong vài năm nay (2009), một bộ xương hoá thạch của một loài động vật có thân hình gần giống với loài khủng long và chồn, được đặt tên là IDA, có niên đại  vào khoảng chừng 47 triệu năm.    
 
           
                         
 
 
Đây là di tích hoá thạch duy nhất được tìm thấy trong khoảng niên đại này (64 – 32 mya), ngay sau kỷ nguyên khủng long và trước thời nguyên đại cuả động vật cao cấp, có vú và sinh con (Mammal). Điều đáng nói là thân xác của con IDA chỉ nhỏ bằng con mèo, quá nhỏ nếu so với khủng long có thân hình ít nhất là vài trăm ký lô vào thời kỳ trước đó.
 
Một bằng chứng hiển nhiên về vụ va chạm mạnh của một thiên thạch khá lớn vào trái đất cách đây khoảng 65 triệu năm. Đám mây bụi khổng lồ lẫn đất đá bắn ra không gian làm bao phủ hơn nữa vòng trái đất, tạo ra hiệu ứng lồng kính làm cho khí hậu nóng hơn bình thường, đã lkhô cạn nhiều nguồn nước, huỷ diệt đa số các cây cối và thực vật  dùng làm thức ăn cho loài khủng long.
Từ sự khan hiếm thức ăn với số lượng khủng long quá nhiều, đã cho ra một số các hậu quả sau:
 
Các loài khủng long phải chiến đấu tiêu diệt lẫn nhau để dành lấy thức ăn. Đa số các giống khủng long yếu kém hơn đã bị tiêu diệt hay đánh đuổi, bỏ chạy thoát ra khòi lục địa Phi Châu, phân tán ra khắp các châu lục về phương Bắc. Đây là lần đầu tiên một loài động vật sống trên đất liền đã đi ra tản mát khắp nơi trên trái đất. Bằng chứng cho thấy là chỉ có các bộ xương hoá đá cuả nhiều giống khủng long đã được tìm thấy ở châu Mỹ và châu Úc. Chính nhóm khủng long yếu kém nhỏ con   (như loài IDA trong hình 22) đã tiếp tục đi về hướng Bắc, thay hình đổi dạng từ từ trong môi trường sống, để cuối cùng sẽ biến thành các loài động vật cao cấp sau này.  
Chương 5
Động Vật Cao Cấp Kỷ Nguyên Cenozoic Era (38.0 - 1.2 Mya) 11.1 Hậu Duệ Khủng-long
Thời Đại Obligocene Epoch-(38.0-19.0 mya)
Biểu tượng đầu tiên của sự sống cho tất cả mọi sinh vật đều liên quan đến tính năng hoạt động cuả thân xác hay sự chuyển dịch của thể chất tạo thành, từ một vị trí này sang một vị trí khác. Luật tự nhiên và đơn giản nói trên áp dụng không những cho các vi sinh vật mà còn cho cả con người văn minh hiện đại. Chỉ những động vật khỏe mạnh mới có thể di chuyển nhiều, càng xa và càng nhanh thì lại càng chứng tỏ là khỏe mạnh nhất.
Ngược lại, già yếu và tật bệnh thì chỉ muốn nằm nghĩ, không thể chạy hay ngay cả đi đứng bình thường được. Cũng giống tương tự như vậy, một xã hội muốn được coi là giàu sang thịnh vượng thì xã hội đó phải thật sự có tính năng động mạnh, nhất là có các phương tiện hạ tầng giao thông vận tải hay di chuyển nhanh chóng và hữu hiệu.
 Trước khi biết xử dụng các phương tiện trợ giúp cho sự di chuyển thì cao điểm của sự chuyển dịch nói trên cho tất cả các sinh vật là hành động “chạy” hay “đi”, mà nguyên nhân chính lại là do bản năng sinh tồn. Ngoài việc chứng tỏ cho đồng loại hiểu là mình có sức khỏe tốt, hành động chạy thật nhanh còn có hai nguyên nhân chính: Một là cố chạy thật mau để đuổi bắt con mồi làm thức ăn, hai là phải chạy thật mau để tránh nguy hiểm hay trở thành con mồi. Cả hai hành động chạy rượt đuổi hay chạy thoát thân đều là một cuộc thi đua về sức khỏe rất tự nhiên, mạnh được yếu thua, mà phần thưởng là thức ăn từ con mồi hay trả giá bằng sinh mạng của chính mình. Ngoài ra, hầu như rất hiếm khi có sự lựa chọn nào khác.
Theo thời gian và trải qua nhiều thế hệ, tốc độ chạy cuả các động vật thường tăng dần và nhanh hơn trước, cho tới khi đạt tới mức bảo hoà tối đa vì giới hạn vật lý của thân xác. Lý do là vì thể lực của bất cứ sinh vật nào cũng có một giới hạn nào đó, không thể phát triển to lớn lên mãi được. Cụ thể như thân xác cuả các loài khủng long đã phát triển lớn nhất trong các loài động vật đã từng xuất hiện trên trái đẩt, khi nguồn thức ăn có đầy đủ và dư thừa. Nhưng cuối cùng giống khủng long đã bị tuyệt chủng sớm nhất so với các giống thú khác, vì thiếu thức ăn để cung cấp cho một thân xác quá to lớn và kém năng suất.
Cũng chính vì thể xác khủng long to lớn, nên khi di chuyển gặp nhiều khó khăn, nhất là kém hiệu quả trong chuyện săn mồi hay tranh dành lấy thức ăn với các giống thú mới xuất hiện sau. Hiện nay các giống thú có vú (Mammal) hay hậu duệ còn sót lại trong kỷ nguyên V đều sở hữu một yếu tố di truyền tự nhiên là khả năng “chạy” mau để thoát thân, vì nếu không thì có lẽ là đã bị tuyệt chủng từ lâu rồi.
Giống voi đã bắt đầu xuất hiện sau thời kỳ này, và dựa trên hình dạng của thân xác, cũng có thể là hậu duệ duy nhất còn sót lại của các loài khủng long cuối cùng trên trái đất. Nhưng một điều chắc chắn là thuỷ tổ cuả các giống linh trưởng về sau này lại là hậu duệ của loài khủng long yếu kém và nhỏ con hơn nhiều, giống như loài rái cá Ida đã nói trong tiểu mục trước.
Từ một vài loài khủng long thích ăn thịt đồng loại và tiêu diệt lẫn nhau, những con yếu kém và may mắn hơn, đã chạy thoát được lên miền Bắc Phi và phân tán vào hai lục địa Âu-Á mới phân chia và thành hình trong vài chục triệu năm trước đó. Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây chính là nhờ biết ăn thịt lẫn nhau, nên các hậu duệ của khủng long đã có thể tồn tại và chịu đựng được cái khí hậu giá rét cuả miền ôn đới. Hiện tượng cần phải ăn thịt đồng loại để sinh tồn sẽ được lập lại giống như vậy cho các giống linh vật kể cả những giống người tiền sử về sau này.
11.2   Rái Cá – Đi - Chạy 
Nhắc lại thời kỳ khủng long có hai đặc điểm đáng ghi nhớ. Đó là loài động vật to lớn nhất từng sống trên đất liền. Dựa vào các bộ xương hóa đá được bảo tồn, khủng long có thể cao tới 10 mét và nặng chừng vài tấn (như bộ xương của giống voi Mamut ở Siberia nước Nga, cách đây chừng khoảng 5 triệu năm, cao 4 m nặng 20 tấn.) Kế đến, tuy giống khủng long to lớn nhất hành tinh, nhưng vẫn còn sinh ra trứng như các giống bò sát và trái tim nếu có cũng thuộc dạng rất thô sơ giống như của các loài chim.
Một đặc tính khác của khủng long là tuy có bốn chân, nhưng hai chân sau thường to lớn hơn rất nhiều. Vào thời bùng phát dân số của các loài bò sát, tổ tiên của các giống khủng long chỉ có cây cỏ là thực phẩm chính. Do phần đông đa số đều phải chồm lên cao để ăn những đọt lá non còn sót lại trên cây cao, hai chân sau phải chịu nhiều sức nặng nên phát triển to ra và mạnh hơn hai chân trước.
 
Mặt khác, vì phải luôn rướn lên cao để ăn, nên cổ của các loài khủng long cũng dài thêm ra, so với thuỷ tổ là loài rắn mối hay cá sấu. Hậu duệ còn sót lại là những con hưu cao cổ. Cũng do không cân bằng và trọng lượng khác nhau quá nhiều giữa hai chân sau và trước nên giống khủng long và hậu duệ sau đó cũng không thể chạy bằng bốn chân mà chỉ có thể nhảy bằng hai chân sau hay đi chậm hơn với sự giúp đỡ của hai chân trước.
Trong thời kỳ chuyển tiếp này các giống hậu khủng long nhỏ con và yếu kém (như loài IDA), để tránh phải làm mồi cho đồng loại khỏe mạnh hơn, đã phải tiếp tục di chuyển thường xuyên về miền Bắc và ra khỏi lục địa Phi châu. Do phải thường xuyên nằm xuống để lẫn trốn trong những bụi cây và nhu cầu di chuyển nhanh hơn địch thủ, nên các hậu duệ khủng long mất dần khà năng nhảy bằng hai chân sau, cũng như làm quen dần với khả năng di chuyển, đi và chạy bằng bốn chân cho nhanh. Nhờ đó, hai chân trước trở thành lớn mạnh gần bằng với hai chân sau.
Trong khi đó có một nhóm hậu duệ khác cuả khủng long còn sót lại có thể đã đi lạc qua Úc châu, nhưng không gặp phải sự nguy hiểm hay đe doạ đến tính mạng, nên bước tiến hoá chậm lại và bị biến dạng thành những con Kangaroo, vẫn còn duy trì lối nhảy dùng hai chân sau.
Một chi tiết khác đáng chú ý là theo các chuyên gia nhận xét về bộ xương hoá đá có hình thù giống như loài rái cá (Hình 23) đã kết luận là có thể có liên hệ nguồn gốc với các loài hải cẩu hay hà mã. Chính xác hơn, đó là thuỷ tổ của những con rái cá sông (Beaver).
Tuy chưa có gì minh chứng cho lý thuyết nói trên, nhưng theo suy luận thông thường thì các loài hậu khủng long như IDA dù có chạy trốn ở đâu cũng phài cần có nước để uống, và chắc chắn là chỉ có thể di chuyển tới những nơi sinh sống dọc theo các ao hồ hay sông suối. Từ đó khả năng bơi lội hay lặn sâu dưới nước để bắt cá hay săn mồi cũng có thể được phát triển theo bản năng sinh tồn. Các hậu duệ trong nguyên đại V còn sỏt lại là các loài thú 4 chân: Voi, sư tử, cọp, beo, ngựa, trâu, bò, v.v đều có khả năng di truyền về bơi lội ít nhiều.
 
Cũng còn có một lý do chính là trong số các động vật rời khỏi Phi châu ở thời điểm hậu khủng long, chỉ những loài sống gần ao hồ hay sông suối, biết bơi lội và bắt cá làm thức ăn chính là còn có thể sống sót và tồn tại đến bây giờ.
Nhờ có thêm khả năng di chuyển nhanh và mau cùa giống rái cả và các hậu duệ sau đó, nên loài thú bốn (4) chân có thể đã đi xa hơn và có mặt khắp nơi trên trái đất.
Thời đại này đã bắt đầu xuất hiện đa số hậu duệ của khủng long chuyên ăn thịt đồng loại, hậu quả của một thời kỳ kéo dài hơn 10 triệu năm hạn hán và khan hiếm thức ăn. Các loài động vật ăn thịt, theo bản năng sinh tồn và tính di truyền, càng ngày càng trở nên linh động dũng mãnh và nguy hiểm hơn rất nhiều, khi săn đuổi con mồi. Ngược lại, các loài sinh vật bị săn đuổi kể cả các giống hậu duệ khủng long nhỏ bé hơn, cũng do bản năng sinh tồn, thường phát triển khả năng chạy thoát thân mau hơn hay nhảy cao hơn.
12.1  Đứng – Hai chân sau         Thời Đại Miocene-I (19.0 – 9.5 mya)
Kỷ băng giá kéo dài khoảng vài chục triệu năm sau vụ va chạm thiên thạch (Hình E), làm cho tuyệt chủng các giống khủng long đã kết thúc trong giai đoạn này. Trái đất bắt đầu nóng dần lên cũng là yếu tố giúp phần nào cho các loài rái cá đang bị lạm phát dân số, phài di cư về phương Bắc. Câu chuyện về luật thiên nhiên, “Mạnh” thắng được ở lại, “Yếu” thua phải bỏ đi xa, lập lại ở đây sau thời đại khủng long và còn sẽ lập lại nhiều lần nữa sau này cho cả hai giống người cổ đại và cả loài người văn minh.
Dù sao những gì nói trên cũng là chứng cứ rõ rệt cho thấy, hậu duệ của những loài khủng long yếu kém hơn, bị đồng loại săn đuổi liên miên, đã phải chạy lên miền Bắc để sống và làm quen dần với khí hậu lạnh của vùng Ôn đới và Hàn đới. Để có thể sống trong môi trường khá lạnh và luôn bị thiếu thức ăn, một trong số các thay đổi chính đầu tiên cho loài rái cá là biết dùng cả hai chân trước (hay hai tay) để chụp giữ hay nắm bắt con mồi. Trong tư thế phải dùng hai chân trước để nắm bắt con mồi, nên hai chân sau phải phát triển nhiều hơn để tập lảm quen, chịu đựng được sức nặng của cả thân hình. Từ đó, hậu duệ các giống thú ra đời sau loài rái cá như chồn hay gấu đều có khà năng đứng lên được bằng hai chân sau. Không chỉ có vậy, loài rái cá còn biết cách dùng đến cả hai tay để xây dựng hang động hay lót tổ để ở và sinh con.
Do phải thường xuyên chạy mau nên phải thở nhanh, tạo ra nhu cầu cần nhiều Oxy, nên cần khá nhiều máu lưu thông hơn. Kết quả là trái tim phải làm việc nhiều và máu phải lưu thông nhanh hơn nữa so với các giống khủng long trước đây. Từ đó đã sinh ra nhiệt lượng làm cho máu nóng lên, nhờ có sự cọ sát giữa tế bào máu đang di chuyển với thành vách của các mạch máu. Một lý do sinh tồn khác làm cho máu ấm lên là để chống lại cái lạnh, do các loài thú trong nguyên đại này đã bắt đầu di cư và tản mác về phương Bắc.
12.2  Leo - Hai Chân Trước  
Giống rái cá chạy về phương Bắc, thuỷ tổ cuả các giống Chồn và Gấu sau này còn phát triển thêm đặc tính đầu tiên cho các loài thú có bốn chân là khà năng leo cây. Một kết luận chắc chắn cho thấy khả năng leo trèo trên cây của một số động vật trong thời kỳ này như Chồn, Gấu, v.v, là do kết quả của những lần bị rượt đuổi quá cấp bách, bị chận lại ở phía sau và cùng đường phía trước với những hàng cây cao chận lối đi, trong tình huống cực kỳ nguy hiểm. Qua hình ảnh quan sát thực tế từ những con gấu bị chó săn rượt đuổi, hành động phóng mình “chạy” luôn lên thân cây rồi dùng hai chân trước bám vào một nhánh cây để giữ cho khỏi rơi xuống đất, đã  xảy ra và là giải pháp cấp bách cuối cùng khi không còn đường chạy nào khác!
 Dù vậy cũng cần phài mất thêm vài ngàn thế hệ và hàng triệu năm nữa thì khả năng leo trèo với hai chân trước khỏe mạnh, mới có thể thành thạo và quen thuộc, trở thành bản chất tự  nhiên của các giống thú sống luôn trên cây sau này.
Thay đổi quan trọng sau cùng là bộ lông bắt đầu xuất hiện, mọc ra dài hơn trên đầu của những con rái cá. Cả triệu năm sau, khi các loài rái cá yếu kém phải bỏ chạy xa hơn về miền Bắc dọc theo những con sông hay bờ biển, thì bộ lông mới có điều kiện được phát triển dày đặc và mềm mại hơn để chống lạnh. Từ đó, loài rái cá yếu kém và nhỏ con của hàng triệu năm trước đã thay đổi biến dạng từ từ thành những con Chồn Cáo hay loài Gấu tinh khôn ở miền ôn đới và cực Bắc.
Tưởng cũng nên nói thêm một chi tiết quan trọng về việc dùng thức ăn chính của các loài sinh động vật để tìm bằng chứng liên hệ di truyền trực tiếp của các giống thú. Cụ thể như là trong tất cả các loài thú có vú sinh con sống trên cạn hay đất liền, chỉ có hai loài gấu và chồn cáo là có khả năng và thích bắt cá để ăn.  
13.1   Sinh con  
Thời Đại Miocene-II (9.5 – 4.8 mya)      
Cũng trong nguyên đại này, do đặc tính lưu động nhiều, xa và nhanh hơn, nên đã có một thay đổi đột biến khác trong vấn đề sinh sản là sự chuyển tiếp giữa các loài đẻ trứng và sinh con sau này. Do phải thường xuyên chạy để săn đuổi hay thoát thân, các loài động vật sinh trứng trước đây không thể bảo vệ trứng hay làm công việc nuôi con hiệu quả nữa, nên dân số từ từ bị giảm dần cho tới khi gần tuyệt chủng luôn.
Ngẩu nhiên tình cờ trong sự tiến hoá hay may mắn đã xảy ra trong số hàng ngàn con thú mẹ đã phải vừa chạy vừa đẻ rơi trứng khắp nơi khi bị săn đuổi quá khẩn cấp. Tuy nhiên vẫn có những thú mẹ đến kỳ hạn sinh ra trứng nhưng vì quá khiếp sợ và hoảng hốt khi bỏ chạy, đã quên luôn nhu cầu sinh trứng tự nhiên rồi nín đẻ luôn! Hậu quả là đa số các thú mẹ có thể đã bị chết ngay sau đó khi quả trứng bị hư và ung thối trong bụng. Nhưng trong hàng trăm ngàn trường hợp giống như trên thì cũng có may mắn của một vài trường hợp đặc biệt ngoại lệ, khi có quả trứng còn sót lại đã được trực tiếp thụ tinh và ấp nở ngay trong bụng nhờ thân nhiệt trong mình cuả con thú mẹ.
Một thắc mắc khác là bằng cách nào các con thú mẹ có thể bảo vệ được các thú con của mình trong giai đoạn cỏn quá nhỏ để tự vệ ?
Câu trả lời ở đây là sự thích ứng với thiên nhiên để sống còn (Fitness of Survival) trong thuyết tiến hoá.
Một là thú mẹ thuộc các loài mãnh thú chuyên đi săn mồi, để có thể răn đe hay đánh đuổi địch thủ và bảo vệ thú con, như các loài Sư tử, Cọp, Beo, Chó Sói, vv. Hay ngược lại, thú mẹ đã có khả năng lẫn trốn trong bụi rậm, trên cây cao hay hang hóc sâu dưới đất thật giỏi để tránh bị săn mồi, như các loài thỏ, nai hay khỉ vượn sau này.
Điều đáng ghi nhận là các loài thú thuộc nhóm thứ hai nói trên đều thuộc nhóm dùng thực vật như lá cây làm thức ăn chính, do phải lẫn trốn thật lâu trong rừng rậm hay trên những cây cao trong một thời gian khá lâu. 
Trường hợp sau cùng nhưng hiếm khi xảy ra là thú mẹ quá lớn xác không thể lẩn trốn được, nhưng lại không thuộc loại mãnh thú săn mồi, nên giải pháp thích ứng nhất cho sự tồn tại là phải mang theo con trong một cái bọc da trên bụng như loài Kangaroo hay loài sóc Kaola.
Dù vậy, cũng rất khó khăn để bảo vệ thú con khi bị săn đuổi quá khẩn cấp. Bằng chứng cho thấy rõ lý do tại sao các loài thú thuộc giống Kangaroo chỉ có thể còn sống sót và tồn tại ở châu Úc, nơi không có các loài mãnh thú săn mồi hung bạo như Sư tử ở châu Phi, hay Cọp ở châu Á.
 
Thêm một lần nữa, luật thiên nhiên được áp dụng ở đây, loài thú nào dũng mãnh thì được ở lại gần trong vùng nhiệt đới với khí hậu ấm áp quanh năm, còn yếu kém hơn thì phải bỏ chạy lên miền Bắc lạnh lẽo hay đi xa hơn, chính là lý do giải thích việc lên miền Bắc lạnh lẽo hay đi xa hơn, và cũng là lý do giải thích tại sao ở hai châu xa xôi hơn, Mỹ và Úc không có các loài mãnh thú sống trong thiên nhiên như Sư Tử, Cọp, Voi hay Tê giác.
 
13.2  Gấu Tinh Khôn
Đồng thời với các thế hệ rái cá yếu kém bỏ chạy vào sâu trong đất liền, hay tiếp tục sinh sống dọc theo các con sông lớn để biến thành các loài động vật cao cấp có bốn chân sau này, một nhóm thứ hai khác tiếp tục đi thẳng về phương Bắc, thay đổi hình dạng để trở thành loài gấu chó tinh khôn. Sở dĩ gọi là gấu chó vì giống gấu này có cái đầu nhìn gần giống đầu chó. Những thế hệ gấu chó này tuy vẫn cỏn giữ một số bản tính cũ cuả loài rái cá như là thích ăn cá, biết làm hang để ở, nhưng lại khác xa nhiều vì đã được phát triển thêm một số các khả năng đặc biệt khác. Cụ thể như các loài gấu chó đều có thể đứng thẳng người để bắt cá bằng hai tay trong một thời gian khá lâu, biết dùng mũi đánh hơi rất xa như loài chó sau này, nhất là có bản tính hung hăng dũng mãnh hơn rái cá rất nhiều.
Ngoài các đặc tính của các loài thú cao cấp với khả năng leo cây và làm hang dưới đất, giống gấu chó còn phát triển thêm lớp mỡ dày sau bộ lông để chống lạnh. Do nhu cầu cần thiết đó, thể chất cuả những con rái cá chạy xa hơn về miền Bắc đã được phát triển lớn mạnh trở lại nhờ có thức ăn dư thừa và ít cạnh tranh hơn, sau hàng ngàn thế hệ tiếp nối nhau và mất cả vài triệu năm. Có thể không cần phải có thêm bằng chứng về di tích hoá đá để có thể kết luận loài gấu chó chính là thuỷ tổ của đa số các loài động vật cao cấp (Mammal) sau này, kể cả cảc loài Gấu Vượn hay Khỉ Vượn.
 
14.1   Tim – Vú Ngực
 
 Thời Đại Pliocene (4.8 – 2.4 mya)
 
Cũng giống như thời gia tăng dân số của khủng long nhờ dư thừa thức ăn của hàng ngàn giống cây thực vật mới xuất hiện, đây là thời kỳ bùng phát dân số của các giống thú cao cấp nhờ cách  sinh sản và nuôi con khá hiệu quả trong kỷ nguyên  này. Hầu hết đa số các loài động vật có vú sinh con có mặt trên trái đất hiện nay đều xuất hiện trong thời kỳ này.
 
Đây cũng là thời đại của những sinh vật đã đạt tới mức kỷ lục chạy nhanh nhất trên đất liền cho đến bây giờ.
Để thỏa mản nhu cầu cung cấp lượng Oxy đủ cho việc hô hấp trong lúc chạy quá  nhanh, trái tim của các loài thú củng đã bị biến dạng thay đổi khá nhiều, gần giống tới 90% trái tim của con người hiện nay.
 
Một trong những thắc mắc thú vị nhất của các nhà “Tiến Hoá Học”( Darwinist) là câu hỏi: Bằng cách nào, các loài thú sinh trứng và ấp nở ra con, khi chuyển biến qua loài sinh con trực tiếp thì lại tạo ra thêm bộ phận nuôi con là “Nhủ hoa” hay “Vú”  của các loài động vật cao cấp?
 
Trở lại thời kỳ sinh trứng và ấp nở, các thú con mới sinh ra khỏi lớp vỏ trứng đều có bộ xương mạnh để đi đứng và có sẳn sàng hàm răng khá cứng để có thể nhai hay cắn thức ăn ngay được liền. Trong khi đó ngược lại, các loài thú con sinh ra ngay từ trong bụng mẹ, nếu có hàm răng hay bộ xương quá cứng và to, chắc chắn sẽ khó sinh ra và trong nhiều trường hợp đã đưa đến tử vong cho cả hai, và dĩ nhiên là có thể đã bị tuyệt chủng luôn.
 
Tuy nhiên, tình cờ và ngẫu nhiên lại xuất hiện trong hàng ngàn trường hợp bị sinh non do chấn động gây ra vì bị rượt đuổi, nên thú con được sinh ra đời nhờ có bộ xương cốt còn rất mềm, do bị đói ăn và thiếu chất vôi lâu ngày. Thêm vào may mắn là thú mẹ bị yếu sức và đang nằm im trong bụi rậm để lẩn tránh nguy hiểm, nên các thú con do bản năng sinh tồn vì quá đói, đã vô tình có thể cắn cho chảy máu và bú vào lớp da thịt mềm ở dưới bụng của thú mẹ nằm gần sát với âm đạo.
 
Nhờ bú máu của con thú mẹ nên thú con đã có thể sống sót và lớn mạnh để tự tìm kiếm thức ăn. Chỗ vết thương bị chảy máu vì bị bú quá lâu ngày, nên các mô tế bào chết ngoài da bị biến dạng, phổng ra thành một vết sẹo lồi di truyền vĩnh viễn và trở thành núm vú quen thuộc sau hàng ngàn thế hệ di truyền.
 
Sau cùng, một chi tiết quan trọng cần nhấn mạnh là nhờ cách nuôi thú con nói trên có kết quả tốt nên đã trở thành thói quen, giúp cho loài thú đó không bị tuyệt chủng. Qua nhiểu trăm ngàn thế hệ, huyết thanh cuả máu từ vết thương hoà với chất kích thích tố trong miệng thú con đã cho phản ứng sinh hoá để biến dạng thành chất sữa khi thú mẹ sinh con, trong khi vết sẹo di truyền thành núm vú, sau cả triệu năm tiến hoá.
 
Còn lý do tại sao lại có hai hàng núm vú là vì thú mẹ phải thường xuyên thay đổi tư thế nằm nghiêng cả hai bên trái phải cho đỡ mỏi mệt, và số núm vú có được bao nhiêu là do nhu cầu sinh ra nhiều hay ít con. Cụ thể, các giống Heo, Chó hay Mèo có nhiều núm vú vì thường sinh ra nhiều con, nên ngay từ khởi thuỷ theo thuyết nói trên, các thú con khi mới sinh ra đã sắp hàng dài dọc theo bụng mẹ để cắn và bú máu.
 
Đáng ghi nhận thêm là sự di truyền về thể chất đã áp dụng luôn cho cả hai giống Đực hay Cái khi mới sinh ra đời và còn quá nhỏ để sản xuất ra các chất kích thích tố phân chia tính dục. Đó chính là lý do giải thích cho đến bây giờ, phái nam đàn ông vẫn còn lại vết tích di truyền cuả cả hai núm vú trên ngực!

Tóm lại cho thấy, điều may mắn kỳ lạ đã xảy ra cho những loài thú phải ăn thịt và uống máu đồng loại, lại là những giống thú đã sống sót tồn tại và tiếp nối con đường tiến hoá.
 
14.2   Gấu-Vượn
 
Thời kỳ đại băng giá bắt đầu trở lại trong giữa thời kỳ này (Hình E). Các giống gấu chó sau một thời gian dài tiến hóa và lạm phát dân số, đã không còn có đủ thức ăn vì muà đông kéo dài quá lâu, sau mấy tháng ngủ say trong hang. Kết quả là sau một thời gian dài tranh dành và giết hại hay ăn thịt lẫn nhau để sống còn, các nhóm gấu chó yếu kém hơn phải bỏ chạy về phương Nam vì lý do sinh tồn.
 
Dù là yếu kém ở phương Bắc nhưng lại là khá cường mạnh ở phương Nam nếu so sánh vóc dáng của gấu với các loài rái cá hay chồn cáo nhỏ con hơn đang sống dọc theo các ao hồ hay sông suối. Từ đó các giống gấu chó đã có thể tiếp tục xâm chiếm lãnh thổ và sinh sống ở phương Nam, rồi lại bị lạm phát gia tăng dân số để sau cùng lại di cư xuống tận miền nam của các châu lục, trước khi bị thách thức và đe dọa bởi các loài mãnh thú khác như Sư tử hay Cọp beo ở các vùng nhiệt đới.
 
Cuối thời đại này, một biến cố quan trọng xảy ra để khởi đầu cho giai đoạn chuyển tiếp dần dần từ giống gấu sang các loài gấu vượn và khỉ vượn. 
Đó là sự kiện một nhóm gấu chó tinh khôn nhưng thể chất yếu kém, đã bị kẻ thù săn đuổi và phải leo lên những cây cao để lánh nạn, rồi kẹt lại và ở luôn trên cây, do kẻ thù đóng chốt và sinh hoạt bầy đàn ngay ở dưới                         
 
May mắn có được của nhóm gấu tinh khôn là đã leo lên một nhánh cây cổ thụ to lớn trong khu rừng già với hảng ngàn cây khác mọc san sát chằng chịt lẫn nhau tạo ra thành một tấm thảm dày, to lớn và chắc chắn, rất lý tưởng cho cả nhóm gấu sống luôn trên đó. Trở ngại lớn nhất để sống luôn trên cây cao là viêc tìm kiếm thức ăn. Do vì không thể đi xuống dưới sông hay ao hồ để bắt cá làm thức ăn chính, nhưng đói quá thì đành phải ăn bậy bạ. Mới đầu có thể là những bông hoa hay đọt cây còn non, rồi từ từ phải cố ăn luôn đến cả lá cây và cành rễ, v.v.
Một sự kiện may mắn hiếm có khác chính là những đọt cây lá non có những hợp chất hữu cơ có vị ngọt gần như đường. Nhắc lại các thời kỳ trước đây, cơ thể của các sinh động vật còn nhiều chất mặn của muối khá cao, vì có nguồn gốc xuất phát từ đại dương. Chất ngọt thiên nhiên của cây trái vào trong cơ thể của loài gấu chó, đã đóng vai trò như những liều kích thích tố, tạo ra một sự bùng phát dung tích não bộ và dĩ nhiên là làm cho trí tuệ tăng trưởng vượt bực. Đó cũng là một lý do giải thích tại sao hiện tại này, chỉ có Gấu là loài thú sinh con thứ hai biết thưởng thức hay ăn được mật ong như con người. Một dữ kiện khoa học khác cần ghi nhận ở đây là cho tới thời điểm này, dung tích não bộ của các loài động vật cao cấp sinh con như Chồn Cáo, Bò Heo, Chó hay Mèo, v.v, chỉ đạt tới mức trung bình là từ 100-300 cc.
Tóm lại, qua nhiều ngàn thế hệ sống trên cây, có nhiều thay đổi và biến hoá chính đã xảy ra cho loài gấu chó như sau:
Thể xác to lớn trước kia của loài gấu chó đã bị co cụm, nhỏ dần lại và nhẹ hơn rất nhiều vì lý do thức ăn chính gồm toàn cành lá hay hoa quả, nhưng thiếu chất đạm. Hai cánh tay trở thành mạnh khoẻ hơn gấp nhiều lần so với trước, có thể dùng để đánh đu hay di chuyển thành thạo trên những cây cao. Quan trọng nhất là nhờ não bộ của Gấu phát triển mạnh nên phần đầu của loài gấu chó nở phình và to lớn ra, đẩy phần trán lên cao hơn. Kết quả là đã làm cho phần mũi và miệng như bị hạ thấp xuống và đưa vô trong (Hình 26), thay vì chộ ra ngoài như miệng của loài Chó.
Thực tế theo những gì đã mô tả ở phần trên, loài gấu chó đã tiến hoá và biến dạng  thành loài Gấu-Vượn, chỉ thích sống luôn ở trên cây, không muốn hay không thích xuống dất nữa. Một sự kiện khác đáng ghi nhận trong thời đại này, gấu chó là loài thú lớn thứ hai đã di cư quy mô qua châu Mỹ sau thời đại khủng long. Dựa trên điều kiện địa lý đặc biệt của châu Mỹ, chỉ có vùng đất cực kỳ lạnh ở miền bắc Alaska, kế bên vùng vịnh Biển Berring nối liền với Nga sô dài cà ngàn cây số là có thể đi bộ vượt qua được. Do đó, chỉ có loài Gấu Chó tinh khôn đang sống trong miền cực bắc châu Á, là có đủ khả năng thể chất và điều kiện địa lý để di cư đến Mỹ châu trong thời kỳ nói trên. 
15.1   Khỉ Hầu-Dã Nhân 
     Thời Đại Pleistocene (2.4 – 1.2 mya)
Thời kỳ này có thể nói là cực thịnh cuả các loài Gấu-Vượn, trước khi tiến hoá thêm một bước nữa để thay đổi, thành ra các loài Khỉ-Vượn. Nhờ ăn những đọt cây lá non có vị ngọt khác thường nên tất cả hệ thần kinh não bộ điều khiển năm (5) giác quan, Tai, Mắt, Mủi, v.v đều được phát triển đầy đủ và khá tốt cho các loài khỉ vượn sống trên cây.
Một đặc điểm tiến hóa cần chú ý trong thời kỳ này của giống khỉ vượn là vị trí cuả hai con mắt. Do não bộ lớn dần lên từ phía sau gáy cổ, tạo ra ảp suất đẩy hai bên hộp sọ đầu ra phía trước và nở to ra, nên hai tròng mắt ở hai bên được đưa ra luôn phía trước mặt, trong vị trí đối xứng nhau qua sống mũi.
Một thay đổi tiến bộ khác là mắt của các loài khỉ vượn này đã có thể bắt đầu phân biệt được vài loại mầu sắc khác nhau như Vàng Xanh và Đỏ, nhờ dung tích nảo bộ gia tăng và nhãn cầu mắt chứa thêm nhiều tế bào cảm quang làm tăng độ phân giải ánh sáng của con ngươi.
 
 
Cho tới thời  điểm này, các tiến bộ và thay đổi đáng kể về thể chất nói trên có thể đã biến loài khỉ vượn sống trên cây thành ra một loài động vật mới, có tên gọi khác đi là Khỉ-Hầu (Chimpazee). Đây cũng là cao điểm nhất của thời kỳ băng giá, các rừng cây trong các lục địa bị mất đi rất nhiều do băng giá lạnh, nên địa bàn sinh sống kể cả thức ăn cũng bị khan hiếm nghiêm trọng. Các loài thú phải chiến đấu khó khăn hơn để tranh dành thức ăn, loài khỉ hầu yếu kém hơn đành phải di cư xuống gần vùng nhiệt đới Châu Phi để sinh tồn.
Di cư về lại Phi Châu lần này, nhóm khỉ-hầu không còn phải lo sợ bị những loài mảnh thú ở Phi Châu đe dọa hay hãm hại nữa. Lý do, nhóm khỉ hầu sống theo bầy đàn trên những cây cao trong rửng, không nằm trong tầm với của các loài Sư Tử hay Voi. Các loài Beo Gấu thì không có khả năng đương đầu với cả đàn Khỉ cả trăm con vừa nhảy nhót vừa biết la hét để  uy hiếp tinh thần đối phương.     
Nhờ vùng rừng cây cao nhiệt đới Phi châu quá rộng lớn với nhiều cây trái mới lạ và có khí hậu ấm áp quanh năm, các nhóm khỉ hầu di tản xuống đây đã có thể sinh sống khá an toàn và phát triển thêm nhiều khả năng đáng kể. Khả năng phát ra âm thanh với nhiều tần số khác nhau đã xuất hiện khá rõ ràng. Nhờ gia tăng thêm số lượng các dây thần kinh dẫn truyền và điều khiển các cơ vòng trong cuốn họng, nên miệng và thanh quản có thể đóng hay mở, tạo ra những âm thanh có tần số khác nhau. Nhờ vậy, đã có một thứ ngôn ngữ riêng của các loài khỉ hầu khá là tiến bộ, dùng để thông tin với nhau rất hiệu nghiệm. Cụ thể như những tiếng kêu ở tần số cao phát ra giống như tiếng kêu cứu khẩn cấp hay tuyệt vọng cầu cứu.
Chính nhờ tất cả những thay đổi tiến bộ cũng như với kinh nghiêm sống bầy đàn có tổ chức, loài khỉ hầu yếu kém quen sống trên cây trước đây, đã có thể cùng nhau đánh đuổi được những kẻ thù nguy hiểm nhất, trở thành một trong những loài động vật chúa tể rừng xanh, hùng mạnh nhất trong thiên nhiên lúc bấy giờ. Vũ khí lợi hại nhất của các loài khỉ hầu này là dùng số đông đánh đu trên những cành cây cao để la hét và hù dọa, ném xuống bất cứ vật gì có trong tay, làm cho đối thủ hay mãnh thú phải sợ và bỏ chạy.
Một khi có thêm khả năng tự vệ và không còn hay bớt sợ nguy hiểm rồi, thì cũng không còn có lý do gì để phải sống mãi trên cây cao.
Loài khỉ hầu đã từ bỏ dần những cành cây cao, leo xuống đất sinh hoạt bầy đàn, do thám những vùng đất mới để tìm kiếm thêm thức ăn nhiều hơn.
 
Nhiều thuyết đưa ra với những di tích khảo cổ cho rằng các nhóm khỉ hầu vào cuối thời kỳ này đã biết cách làm các dụng cụ bằng đá để xử dụng như vũ khí cầm tay. Tuy nhiên, khách quan nhận xét thì những di tích tìm thấy đó cũng có thể là những vật thể mà nhóm khỉ hầu tình cờ tìm thấy được trong thiên nhiên, không nhất định là phải làm ra bằng tay. Điều chắc chắn biết được là trong thời kỳ này, các nhóm khỉ hầu đã biết dùng những hòn đá lớn để đập bể những trái cây có lớp vỏ cứng như dừa, hay những con sò gai ở dưới biển, giống như loài rái cá vẫn thường làm hàng triệu năm trước đó.
Cuối thời đại này cách đây hơn một triệu năm, các loài khỉ hầu nhờ có thêm số lượng cây trái và thức ăn dư thừa trên mặt đất nên thể xác đã phát triển khá lớn mạnh. Cụ thể như hai cánh tay thu ngắn lại và to ra vì không còn dùng để di chuyển đánh đu trên cây cao nữa. Tương tự như vậy cho cái đuôi bị cụt dần rồi mất hẳn đi vì không còn xử dụng nữa khi sinh sống ở dưới đất, lại có thể gây ra nhiều rắc rối nguy hiểm, nhất là lúc bị những thú dữ rượt đuổi. Thể xác tăng trưởng lớn mạnh thì số lượng của các tế bào nhớ trong não cũng gia tăng theo, nhất là những thay đổi về ngũ quan hay những âm thanh phát ra từ trong cổ họng.
Tận cuối thời đại này, loài khỉ hầu đã thay đổi biến dạng thành dã nhân (Gorilla-Hình 28). Giống Dã Nhân là thuỷ tổ cuả giống người tiền sử, có thể đứng thắng và đi bằng hai chân, danh từ khoa học còn gọi là Homo-Erectus.
Bảng tóm tắt sau đây cho thấy thời điểm tiến hoá của các loài động vật cao cấp:
 
Chương 6
Thủy Tổ Loài Người Thời Đại Pleistocene-epoch (1.2 – 0.02 Mya)
Nguyên Ðại VI này gắn liền với giai đọan chuyển tiếp giữa loài linh trưởng hay dã nhân và người tiền sử. Nhưng trên hết tất cả là sự lập lại của chu kỳ thay đổi tiến hoá những bộ phận cơ bản cuả thể xác gồm có Đầu, Mình và Chân Tay. Chính xác hơn là theo thứ tự từ dưới lên trên, qua các bộ phận chính trong cơ thể của con người gồm 6 thành phần như đã lập lại trong năm (5) nguyên đại trước đây: Chân, Tay, Thân dưới, Thân giữa, Thân trên, Cổ và Đầu.
 
Thời kỳ này có thể được coi như là giai đoạn chuyển tiếp giữa các loài dã nhân qua các giống người Homo-Erectus, xin gọi chung là người Thượng Cổ Đại (TCĐ).
Cũng trong Nguyên Ðại thứ 6 này, lần đầu tiên hoàn tất một chu kỳ tiến hoá toàn bộ gồm sáu (6) bộ phận trong cơ thể cuả các loài động vật cao cấp như đã trình bày. Bắt đầu là giống Người Thượng Cổ Đại I sơ khai và các phát triển về khả năng dùng chân, kể cả các thay đổi tiến bộ về những sinh hoạt ảnh hưởng đến chân, như đi đứng hay chạy.
 
Băng chứng cho những thay đổi về thể xác lẫn trí khôn có thể thấy rõ nếu so sánh dung tích não bộ của loài Dã Nhân chỉ có từ 900-1000 cm3, và của các giống người sau này như Neanderthal và Homo-Sapiens là  từ 1400-1500 cm3. 
 
16.1   Người Thượng Cổ Đại I
 
Homo Erectus I (1.2 mya – 0.6 mya)
Chân - Chạy - Ði - Ðứng 
Bức tranh về sự tiến hóa cuả con người bắt đầu rõ nét dần trong thời kỳ này, nhờ công trình khảo cổ, đào xới và nghiên cứu di tích hoá đá cuả các nhà nhân chủng học. Những phát hiện gần đây nhất về xương hoá đá trong thập niên 1960 trở lại đây cho thấy, thuỷ tổ cuả loài người chắc phải xuất hiện sớm hơn. 
Bằng chứng về di tích đã được tìm thấy cuả “Lucy” (1974), hay mới nhất là bộ xương còn nguyên “Ardi” (2009) cho biết chắc chắn giống Dã nhân và các loài Linh Trưởng (Genus Homo) xuất hiện khoảng từ 1.8 đến 3.0 triệu năm, xuất phát hay có cùng nguồn gốc với nhóm Ardi (Australopithecus Afarensis) đã xuất hiện trước đó từ 3.0 đến 5.0 triệu năm(*101 Microsoft Encarta 98 Encyclopedia).
 
Tuy nhiên, có một chi tiết khác biệt rất đáng chú ý về thể xác cuả Lucy và nhóm Linh Trưởng (Australopithecines) là chỉ có chiều cao chừng 1 mét, và đặc biệt là dung tích não bộ chỉ lớn khoảng 750 cm3, so với con số trung bình cuả nhóm Dã Nhân có niên đại khoảng chừng 1.5 triệu năm hay gần hơn về sau này là 900 cm3.
 
Như vậy có thể minh chứng được những gì đã trình bày trong chương 5 trước:
Thứ nhất, thân hình ngắn và nhỏ con  vì phải thích nghi với đời sống trên cây cao, và chỉ ăn toàn trái cây hay thực vật. Thứ hai, nhờ tình cờ may mắn sống trên cây cao và ăn nhiều các loại lá hay trái cây có chất ngọt, nên não bộ các loài Linh Trưởng tăng trưởng mau chóng, ảnh hưởng đến trí khôn hay sự thông minh cuả các giống dã nhân và các nhóm Người TCĐ (Homo Erectus) về sau.
 
Không còn phải thắc mắc gì nữa khi quan sát sinh hoạt và nếp sống bầy đàn cuả các loài linh trưởng.
Một số loài dã nhân có những sinh hoạt bầy đàn rất gần với con người, nhất là loài khỉ dã nhân (Gorilla). Dễ phân biệt nhất cuả các loài khỉ dã nhân so với các giống linh trưởng khác là khả năng đi đứng thẳng người trong một thời gian khá lâu. Xin nhắc lại trong thời kỳ khởi đầu này các nhóm người TCĐ I khi đi vẫn còn có thể bị khòm lưng, với hai tay vẫn còn có thể chạm đất và thụ động vì chưa quen hoạt động nhiều.
Lý do khiến người TCĐ I vẫn còn đi khom lưng và thòng hai tay xuống đất như là để chống đở thân hình vì não bộ chưa phát triển nhiều, nên các hệ thần kinh vẫn chưa hoàn toàn điều khiển và kiểm soát được sự thăng bằng, nhất là hệ thần kinh cột sống khi đứng thẳng hoặc đi bằng hai chân. Có thể thấy rõ tình trạng phải khom lưng xuống khi đi của người TCĐ I giống tương tự như những người cao tuổi. Do bị thoái hoá cột sống lưng và mật độ cuả tế bào nhớ bị giảm dần, những người lớn tuổi thường gặp khó khăn giữ cho cột sống lưng thẳng và sự cân bằng trong khi đi đứng, nên thường là phải nghiêng người hay cong lưng xuống cho đỡ mệt mỏi và đau nhức trong khi bước đi.
Phải mất thêm khoảng chừng nửa triệu năm để não bộ cuả người TCĐ I phát triển thêm hệ thống thần kinh giác quan và bộ nhớ điều khiển cơ thể, làm quen dần với các động tác thăng bằng khi đi đứng thẳng người! Xin nói thêm ở đây, một phần động lực giúp giống dã nhân có thêm nhu cầu cần đứng thẳng người lên là nhờ bản năng sinh tồn. Thói quen bắt chước dùng tay để thị uy hay đe doạ đối thủ trong các cuộc chiến tranh dành quyền cư trú trên lãnh thổ đang sinh sống. Thêm vào, chạy cũng là một hành động giúp cho xương cốt người TCĐ I họat động cứng rắn hơn để cho khi đứng, thân mình được thẳng lên.
Minh chứng cụ thể cho thấy, nếu so sánh tỷ số giữa trọng lượng não bộ với trọng lượng cuả toàn thân xác, con người hiện nay có tỷ số nói trên cao hơn bất cứ sinh vật nào trên trái đất, dù trọng lượng thân xác nhỏ và nhẹ hơn rất nhiều, ngay cả so với các loài động vật có vú (mammal) nặng cả tấn. Bắt đầu trong khoảng thời kỳ này (cách đây từ 1.0 đến 0.65 mya), nhờ tăng thêm bộ nhớ do não bộ phát triển lớn hơn, thị giác cuả người TCĐ I đã có thể phân biệt được đa số các màu sắc tiêu chuẩn của cầu vòng, khác với các màu cơ bản Xanh Vàng và Đỏ đã thấy trước đó từ các nhóm Dã Nhân. Dĩ nhiên là mắt của người TCĐ I trong thời kỳ nói trên chỉ có khả năng phân biệt được màu sắc giống như các trẻ em 3, hay 4 năm tuổi hiện nay mà thôi.
Kế đến, dựa vào đặc tính cuả một số hậu duệ các loài linh trưởng (như Chimpazee) còn sót lại hiện nay, có thể biết chắc trong thời kỳ này, hầu như các giống dã nhân và người TCĐ I vẫn còn dùng thức ăn chính là thực vật từ những đọt lá, các loại vỏ hay trái cây, chưa biết ăn thịt và như đã nói, có chiều cao khoảng chừng gần một mét, và nặng không quá 50 kilô.
Một minh chứng khác giải thich tại sao các Nguyên Đại chính thường bắt đầu từ những vùng nằm gần đường xích đạo ở Phi Châu. Nhờ thời tiết nóng và ấm quanh năm, nên nhu cầu về ăn để có năng lượng hay thân nhiệt (Calorie) ít hơn nhiều. Các giống sinh động vật có thể chịu đựng nhịn đói và sống sót một thời gian khá lâu hơn, trong những lúc cạn hết lương thực để dành, hay vì lý do thiên tai như bão lụt làm cản trở công việc đi săn thú tìm kiếm thức ăn. Đó cũng là lý do chính giải thích tại sao các giống người Cổ Đại khác sau này như Neanderthal sống tập trung nhiều ở Nam Âu Châu trong các vùng khí hậu ôn đới, đã bị tuyệt chủng do thiếu tại sao các giống người Cổ Đại khác sau này như Neanderthal sống tập trung nhiều ở Nam Âu Châu trong các vùng khí hậu ôn đới, đã bị tuyệt chủng do thiếu nguồn thức ăn trong chu kỳ băng giá cuối cùng cách đây hơn hai chục ngàn năm.
 
Ðây là thời bắt đầu phát triển mạnh về chân tay như đã xác định theo thứ tự thay đổi và tiến hoá cuả cơ thể. Trong thời kỳ đầu tiên của nguyên đại VI này, phát triển mạnh và nhiều nhất vẫn là từ hai chân cuả các giống người TCĐ I.  Do sức nặng thân mình phải chia cho 4 chân trước được chuyển sang 2 chân, nên hai chân sau phải to và khoẻ mạnh hơn trước rất nhiều để chịu được sức nặng của cả toàn thân người.
Không chỉ lớn hơn về khối lượng mà còn mạnh hơn phần cơ bắp hay gân, nhất là các ống xương đùi. Ðồng thời, hai cánh tay cũng bị thu nhỏ lại dần do ít nhu cầu xử dụng để chịu sức nặng.
 
Nói chung, sở trường cuả nhóm người TCĐ I trong thời đại này gồm có một số các động tác như chạy nhanh hay nhảy lên cao được bằng hai chân, vv. Lý do để luyện tập các động tác cũng là nhờ cố gắng hết sức chạy thật nhanh và mau hơn đối thủ để bảo vệ sinh mạng, hay dùng để săn mồi kiếm ăn.
Nhắc lại thời kỳ còn sống trên cây cao, hai bàn tay cuả các loài linh trưởng đã có những thay đổi vì nhu cầu sinh tồn. Do cần phải bám chặt và bám mạnh vào các nhánh cây khi di chuyển, đánh đu hay chuyền tay nhau chụp bắt giữa những cành cây, nên các đốt ngón tay thay đổi về hình dạng và chiều dài. Từ đó, các đốt lóng tay sinh ra to lớn và dài hơn ngón chân, cánh tay cũng nhỏ lại và không phải tuỳ thuộc vào hình dạng hay chiều dài của tay.
Trong thời đại này, tất cả những gì thuộc về chân đều được phát triển mạnh. Hai bàn chân, dưới sức nặng gia tăng sẽ to lớn dần lên để giúp thân xác thêm cân bằng ổn định. Trong khi hai bàn tay (hay 2 chân trước)
không còn chịu sức nặng áp lên nên nhỏ lại dần, nhưng trở thành uyển chuyễn và linh hoạt hơn, nhất là có thể làm thêm được rất nhiều động tác tinh vi và phức tạp khác. Chạy, nhảy hay đi đứng trong thời kỳ này của giống người TCĐ I cũng đã đạt tới mức nhanh kỷ lục, nghĩa là nhanh hơn nếu so với đa số các loài Linh Trưởng còn đang hiện diện trên trái đất.
Trong hơn sáu trăm ngàn năm, nhóm người TCĐ I cũng đã có thêm một số những thay đổi chính về não bộ như là dung tích tăng lên làm cho phần sọ não ở trán cao và nở rộng ra hai bên trán (Hình 30). Hệ quả cho ra là khoảng cách của hai tròng mắt thu hẹp dần nhỏ lại và bộ phận xương hàm miệng bớt chồ ra phía trước như loài Dã Nhân. Thêm vào, nhờ phần trán và mũi nở to ra, nên làm cho khuôn mặt trông có vẽ như cân dối hơn.    
17.1   Người Thượng Cổ Đại II
          Homo Erectus II (0.6 – 0.3mya)
Tay – Xử Dụng Vũ Khí
May mắn lại đến với nhóm Người Thượng Cổ Đại tiến bộ hơn, gọi chung là người Thượng Cổ Đại II.
Do tình cờ và bất ngờ xảy ra cho một thành viên tuy rất nhỏ con so với đối thủ, nhưng trong lúc bị thua lui vào đường cùng, đã vô tình dùng  một nhánh cây làm vũ khí tự vệ thành công. Bằng cách cầm nhánh cây đâm mạnh vào mặt đối tượng làm cho đối thủ bị thương tich và phải bỏ chạy vì quá đau đớn.
Một cuộc cách mạng lớn về nghệ thuật xử dụng vũ khí chiến tranh đầu tiên cuả thuỷ tổ loài người đã xảy đến cho các nhóm TCĐ II. Không bao lâu sau đó, chỉ trừ những đứa trẻ còn quá nhỏ hay các người mẹ đang phải nuôi con, tất cả các nhóm TCĐ II còn lại đều biết mang theo trên tay một nhánh cây để làm vũ khí tự vệ phòng thân, hay còn dùng để tấn công các con mồi khi đi kiếm thức ăn. Trong thời kỳ này, một nhánh cây cứng là vật không thể thiếu trên tay cuả các thânh viên trong nhóm, giống như cây đao hay cây kiếm, vũ khí tự vệ hay còn gọi là vật “bất ly thân” cuả các giang hồ lái buôn hay hiệp sĩ kiếm khách về sau này.
 
Kể từ khi biết xử dụng vũ khí bằng nhánh cây nói trên, nhóm TCĐ II nói trên đã trở thành nhóm có ưu thế mạnh nhất trong các nhóm đồng chủng. Nhưng ưu thế đó cũng không kéo dài được lâu vì các nhóm khác lần lượt bắt chước làm theo. Kết quả có thể là một cuộc thi đua võ trang đã thật sự bắt đầu giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm khác biệt với nhau. Mục tiêu cuối cùng cho các cuộc thi đua võ trang này có lẽ là sự cố gắng tìm kiếm cho được các nhánh cây cứng, gọn nhẹ và có nhiều góc cạnh sắc bén. Ngoài ra, còn một biện pháp tự vệ khác, nếu trong tay không có nhánh cây hay hòn đá aắc nhọn, Các nhóm người TCĐ II cũng không quên xử dụng đến hàm răng hay cả hai bàn tay với những móng vuốt sẵn có, như đã trông thấy và học được từ cách săn mồi của những loài mãnh thú hung dữ.   
17.2    Tay - Xây Dựng - Diễn Tả Ý Tưởng.
Công việc đầu tiên mà nhóm người TCĐ II cần phài làm bằng tay trước tiên là chế tạo những dụng cụ như các miếng đá mỏng to bằng bàn tay, với một đầu bén nhọn để dùng như dao.
Kế đến là dùng các dụng cụ bằng đá để mài dũa hay đẽo gọt các nhánh cây, làm ra vũ khí cầm tay hay tạo ra nguồn cung cấp vật liệu về xây dựng cho những hang động mới.
Bắt đầu từ thời điểm này cho đến gần ba trăm ngàn (300 000.) năm sau, hai bàn tay cuả các giống người TCĐ II đã làm thêm được những chuyện phi thường và kỳ diệu, không những dùng để tự vệ hay trong công việc ăn uống, mà còn tự biến chế làm ra những hang động để trú ẩn. Một số ít khác còn biết làm nhà bằng cách nhánh lá cây để che mưa nắng, xây dựng hay lót ổ trong những lúc cần sinh đẻ v.v.
Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng người TCĐ II đã biết kỹ thuật tự làm ra mồi lửa để sưới ấm. Lập luận nói trên thật ra chưa có cơ sở minh chứng rõ ràng để tin là đúng, nhưng chắc chắn một chuyện đã xảy ra là các nhóm người TCĐ II đã nhìn thấy và kinh qua hay được chứng kiến, hậu quả của các đám cháy rừng và những công dụng của lửa.
Thêm vào, có những tiến bộ khác rõ nhất trong thời kỳ này là xử dụng hai tay trong việc chọn lựa và chuẩn bị thức ăn, nhờ biết cách lột hay cắn bỏ các phần vỏ cứng đã bị hư hỏng, không ăn được. Nhưng quan trọng hơn tất cả trong thời kỳ này và cũng có thể coi như là một cuộc cách mạng về trí tuệ, chính là khả năng diễn tả thái độ. Nhờ đứng thẳng được và với khả năng xử dụng các ngón tay đã nhuần nhuyển, nhóm TCĐ II có thể bắt đầu biết diễn tả chi tiết về thái độ cuả mình cho đối tượng hiểu rỏ hơn.
Ðồng thời chính nhờ vậy, một ý thức về bản ngã hay cái “Tôi” đã bắt đầu thành hình. Cụ thể minh chứng về những biểu lộ cảm tính thường thấy nhiều nhất trong các loài dã nhân còn sống sót hiện nay, là dùng hai tay đấm vào ngực và nhe răng gầm gừ để thị uy đối phương, ngầm ý như muốn nói là “Ta đây, có sợ không? Hãy cút đi!”.
Tất cả những thay đổi tiến bộ trên có thể đã giúp cho các nhóm TCĐ II đang gặp khó khăn về nguồn nước trên lục địa Phi Châu vì hạn hán và sa mạc hóa vùng bình nguyên Sahara, đã hồi sinh trở lại với chu kỳ của sự phát triển và lạm phát dân số. Gần cuối thời kỳ này, sau gần một triệu năm vắng bóng, chu kỳ băng giá trở lại với trái đất ít nhất là ba lần nữa. Mặc dù dưới góc nhìn thực tế thì đó là một thiên tai hay đại họa cho người TCĐ II và các sinh vật hiện diện, làm cho ít nhất một nửa dân số chết đói và làm tuyệt chủng một số các giống thú khác. Nhưng ngược lại, đó chính là động cơ thúc đẩy tiến bộ hữu hiệu nhất cho các nhóm TCĐ II còn lại, một sự bù trừ hay quân bằng của tạo hoá và thiên nhiên, sẽ áp dụng luôn cho cả con người hiện đại sau này. Bài toán giải quyết hữu hiệu nạn đói do thiếu thức ăn và tình trạng lạm phát dân số đã được lập lại ờ đây và từ đó chiến tranh sẽ cho ra kết quả “Mạnh được Yếu thua”.
Trong vòng một trăm ngàn năm đầu tiên của thời kỳ 2 này, một số đông các nhóm người TCĐ II yếu kém hơn đã bị xua đuổi, phải bỏ chạy ra khỏi Phi Châu và tiến dần lên phía Bắc cùa hai lục điạ Âu châu và Á châu vì lý do sinh tồn. Trên con đường di tản ngàn dậm xa xôi đầy nguy hiểm và khó khăn đó, một số các tiến bộ về kỹ thuật cũng đã được phát minh và tiếp thu. Cụ thể như việc xây dựng hang động để làm nhà cư trủ, chế tạo ra vũ khí cầm tay sắc bén hơn, v.v có thể đã được nhóm này nghiên cứu tìm ra với chủ ý chống lại khí hậu khắc nghiệt quá lạnh, cũng như là để chiến đấu với các kẻ thù nguy hiểm.
Nhờ vậy, vào cuối thời kỳ này khi chu kỳ băng giá trở lại, hậu duệ ngàn đời của nhóm người TCĐ II tiến bộ nói trên đã có thể quay ngược trở về lại phương Nam với mục đích trốn lạnh và tìm kiếm thức ăn. Nhưng có thể khi về lại Phi Châu thì gặp phải sự đối kháng của các nhóm cũ còn ở lại, nên họ phải chiến đấu để chinh phục và thống trị luôn nhóm người TCĐ II chậm tiến và yếu kém này, bắt đầu một thời đại mới của người TCĐ III văn minh và tiến bộ hơn tiền nhân của mình.
18.1   Người Thượng Cổ Đại III
          Homo Erectus III (0.3 – 0.15 mya)
Thân dưới–Bộ phận Sinh Dục
Bắt đầu thời kỳ 3, mỗi giai đoạn trong thời kỳ này đã là một cuộc cách mạng thay đổi rất nhiều về thể xác và cảm xúc, vượt mức rất nhiều so với các thời kỳ trước đó, đưa các nhóm người TCĐ tiến tới gần hơn với giống người Homo Sapiens, hay còn gọi là người Cổ Đại (CĐ) thông minh. Tuy nhiên, để được thật sự bắt đầu gọi bằng chữ “Người”, một số thói quen cuối cùng cuả các giống người TCĐ III cần phải được thay đổi phát triển. 
Trong thời kỳ này, thay đổi sớm nhất là biết chọn lựa từ thức ăn cho đến bạn tình. Nhờ được gia tăng thêm tế bào bộ nhớ nên các giác quan phát triển mạnh để phân biệt được nhiều màu sắc. Hai bàn tay cũng làm được việc nhiều hơn, các giống người TCĐ III đã bắt đầu biết lựa chọn, loại bỏ các món đồ vật kém chất lượng như một trái cây bị khô héo, hay các đọt lá cây có quá nhiều sâu bọ, v.v.
Tương tự như vậy cho việc lựa chọn bạn tình! Không còn việc làm tình với bất cứ đối tượng nào có sẳn tại chổ như lúc trước để thoả mản nhu cầu sinh lý tự nhiên nữa. Các nhóm người TCĐ III đã bắt đầu biết kén chọn những đối tượng trông “bắt mắt” hay dễ dàng để theo đuổi tấn công, hay ngược lại, bỏ chạy để tránh xa những đối tượng có quá nhiều yếu tố để thu hút sự nguy hiểm (?)
 
Một yếu tố thay đổi quan trong khác có thể coi là một cuộc cách mạng về tình dục trong thời kỳ 3 này để chuyển hóa dần giống người TCĐ III thành giống người Homo Sapiens thông minh. Ngoài yếu tố kén chọn bạn tình và biết phân biệt, nhờ có trí nhớ phát triển nhiều và tốt hơn, nên các giống TCĐ III có thể đã chủ động đổi tư thế giao hợp từ phía sau như các giống thú trước đây, ra phía trước mặt như người hiện đại. Có hai nguyên nhân chính để giải thích cho cuộc cách mạng thay đổi về tình dục nói trên:
Một là, hầu hết các vụ giao hợp nam nữ trong thời kỳ này đều xuất phát từ người Nam với sự cưỡng hiếp hay ép buộc do nhu cầu tình dục quá mạnh của giống Đực. Đa số là do kết quả của sự chạy đuổi và rượt bắt vì thói quen di truyền đã có từ ngàn đời. Do vậy, khi người Nữ bị chụp bắt được trong tư thế tự vệ nằm xấp sát xuống mặt đất, thì người Nam sẽ gặp khó khăn hay không thể thoả mản được.
Chỉ còn có giải pháp là phải lật người Nữ trong vị trí nằm ngửa, rồi dùng sức mạnh cuả cả hai tay và hai chân để thực hiện được công việc giao cấu.
Hai là để có thể nhận dạng được dễ dàng đối tượng hay bạn tình mà mình thích, nhất là để tránh khỏi bị nhầm lẫn ngoài ý muốn. Một minh chứng cụ thể cho thấy những tiến bộ đáng kể về mặt tình cảm tự nhiên, hay những cảm xúc thô sơ mới được hình thành cho giống người TCĐ III, và sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong tương lai cho các giống người CĐ và hiện đại về sau này.
Thêm vào một chi tiết đặc biệt là một khi đã biết lựa chọn hay biết để ý thích cái này hơn cái khác, thì tự nhiên khái niệm về quyền sở hữu cá nhân và sự ích kỷ cũng bắt đầu hình thành mạnh mẻ hơn ở các giống người TCĐ III này. Thay vì lúc trước là chỉ tranh dành với nhau do nhu cầu về ăn nhiều hơn, trong thời kỳ này còn phải tranh dành với nhau cả những món đồ vật trực tiếp thuộc về quyền sở hửu như hang động, đồ dùng cá nhân hay cả những ý thức về trách nhiệm phải bảo vệ lâu dài bạn tình và những đứa con được sinh ra sau đó nữa. 
18.2   Dục Tính–VịKỷ 
Do phát sinh ra từ tính vị kỷ, nên khái niệm về một đời sống riêng tư cũng đã từ từ xuất hiện dần. Thay vì sống bầy đàn chung chạ nhau như trước, những bạn tình hợp tính với nhau đã bắt đầu biết tách rời ra khỏi bầy đàn, lập nhóm riêng với nhau để có thể an toàn sinh hoạt riêng tư với nhau. Khái niệm về đời sống gia đình đã được gieo mầm móng từ đây. Đồng thời, một khi ý thức về quyền sở hữu càng nhiều thì tính ích kỷ càng gia tăng và sự ham muốn càng mạnh bạo, khiến cho các giống người TCĐ III càng ngày càng phải chịu nhiều cảnh xung đột nội bộ với nhau. Chiến tranh với các nhóm khác là chuyện xảy ra thường ngày. Nhưng chính nhờ vậy mà nguyên tắc “Chọn lọc tự nhiên” lại áp dụng rất khá đúng trong trường hợp này.
Nhờ thường xuyên phải đối diện với chiến tranh nguy hiểm như vậy và để bảo tồn sinh mạng hay bảo vệ bầy đàn, các nhóm người TCĐ III yếu kém cũng bắt đầu trờ lại chu kỳ phân tán ra đi khắp lục địa Phi châu, như trong thời kỳ trước đây cuả nhóm Bò Sát giữa Nguyên Ðại IV hay các nhóm Khủng Long trong Nguyên Ðại V. Còn một lý do quan trọng khác để các nhóm tìm cách rời khỏi lục địa Phi châu trong thời kỳ này là để tránh cái nắng nóng, do khí hậu trái đất ấm dần lên sau khi chấm dứt thời kỳ băng giá hai (400 – 200 tya-thousand years ago).
Do não bộ phải cố gắng làm việc thật nhiều hơn để sinh tồn, hậu quả tích cực là làm cho bộ nhớ cuả giống người TCĐ III càng được phát triển nhiều hơn, so với các nhóm đồng loại khác. Bước đầu để tiến hoá và thay đổi thành các giống người Cổ Đại thông minh hơn, cỏn được gọi chung theo tên khoa học là giống người Homo-Sapiens.
19.1  
Người Cổ Đại I
 
Homo-Sapiens (150.000- 75.000 yrs)
 
Dự trữ thức ăn – Trở lại ăn thịt
 
Trở ngại lớn nhất cuả các nhóm nhỏ hay những cặp người CĐ I tách rời bầy đàn ra sống riêng trong các hang động là phải tự sức tìm kiếm lấy thức ăn, không thể nhờ vào bầy đàn như lúc trước, nhất là những khi gặp phải thời tiết xấu hay vì lý do bệnh hoạn không thể đi tìm kiếm lấy thức ăn. Khái niệm về sản xuất và dự trữ nước uống cũng như thức ăn bắt đầu sớm được thành hình trong thời đại này. 
Do nhu cầu cần thức ăn trong những lúc khẩn cấp, các nhóm người CĐ I đã có sáng kiến biết nghĩ đến chuyện để dành thức ăn. Tuy công việc để dành thức ăn có thể đã bắt đầu khởi động trong thời kỳ này và không phải là điều khó khăn, nhưng vào thời kỳ đó không dễ dàng gì, vì đòi hỏi phải có một số lượng lớn các tế bào bộ nhớ, nhất là khả năng tư duy làm ra kế hoạch để dành thức ăn.
Thoạt đầu có thể là người CĐ I đã dùng những quả hạt còn dư vì ăn không hết, để dành cho ngày hôm sau hay cho những ngày tháng tiếp theo đó.
Nhưng công việc tư duy não bộ hay trí nhớ cuả người CĐ I đã bắt đầu làm việc nhiều hơn, do thắc mắc đã có sau khi đã được lập lại nhiều lần: “Tại sao (chúng ta) không cố gắng đi kiếm thức ăn nhiều thêm một chút khi có cơ hội làm việc thêm, rồi từ đó để dành lại cho những ngày kế tiếp theo sau, nếu vì một nguyên nhân nào đó làm cho không thể đi ra khỏi hang động được v.v”
Nhờ sự khôn ngoan muốn làm việc và kiếm thêm để dành hay tích luỹ nhiều thức ăn của nhiều nhóm CĐ I nên đã xảy ra tình trạng tranh dành và đánh nhau là chuyện thường tình. Hậu quả khác tất nhiên đưa đến vì chiến tranh, và vì tình trạng quá đói nên đã sinh ra thêm nhu cầu cần phải ăn thịt trở lại. Câu chuyện sau đây giải đoán được lý do tại sao các nhóm đã tiếp cận và quen dần trở lại với ăn thịt.
Một ngày tình cờ có nhóm mẹ con người CĐ I vì quá đói khát nên bị kiệt sức và vì quá yếu nên người mẹ đã bị ngã chân té xuống vực đá chết. Những đứa con còn may mắn sống sót, và nhờ bản năng tự nhiên cần phải uống sữa khi đói, đã uống nhầm phải máu cuả mẹ chảy ra từ vết thương trên cơ thể, nên đã khoẻ mạnh trở lại để tiếp tục sống còn. Hậu quả từ kinh nghiệm quý báu đó đã được truyền lại cho các thế hệ về sau biết cách sống còn trong những lúc bị đói khát. Ðó là nếu vì nhu cầu sống còn, thì cần phải uống máu hay ăn thịt của những sinh vật khác, kể cả đồng loại. Sự kiện minh chứng là cho đến thế kỷ 20 vừa qua, một số rất ít các bộ lạc ở Phi châu vẫn còn có tục lệ ăn thịt của người thân vừa mất để bày tỏ sự thương tiếc và tôn kính người chết.
Dĩ nhiên là các giống người CĐ I thông minh lúc ban đầu chỉ ăn thịt hay uống máu các đồng loại vừa chết vì quá đói khát. Nhưng lâu dần lại quen với mùi thịt và nghiện luôn đến mùi máu, nên xảy ra chuyện tham lam bắt luôn cả những con vật còn sống để ăn thịt hay uống máu, thay vì là chờ đợi quá lâu.
Theo thời gian, thịt cuả đồng lọai cũng bị khan hiếm và khó kiếm, không có đủ số lượng để thoả mản nhu cầu đói khát, các giống người CĐ I lại phải ăn luôn tất cả các loài sinh động vật khác, nếu bắt hay có được trong tay.  
Chuyện ăn thịt và uống máu đã xuất hiện trở lại như một giải pháp hữu hiệu làm cho các giống người CĐ I càng ngày càng trở thành thêm dũng mãnh và thông minh hơn hẳn các giống người TCĐ chưa biết ăn thịt và uống máu, nhờ thể xác được hấp thụ trực tiếp các chất sinh tố dinh dưởng hay khoáng chất cần thiết từ ngay thân xác cuả thú vật hay đồng loại. Cũng từ đó, nhờ có khả năng liên lạc qua âm thanh và trở lại thói quen ăn thịt, nên cơ thể các giống người CĐ I đã có thêm khả năng chống rét và có thể tiến dần xa hơn về miền bắc giá lạnh cuả các lục địa Âu châu và Á châu.
Bằng chứng là cho đến nay, chỉ có những di tích hoá thạch trong khoảng niên đại này (162,000-81000 ya)
cuả giống người CĐ I (Homo Sapiens) là có thể được tìm thấy trên các lục điạ khác ngoài Phi Châu như bộ xương cuả người Homo Heidelbergenis tìm thấy ở Ðức, v.v.
 
19.2   Bộ phận Tiêu Hóa- Dục vọng - Tư hữu
Hệ quả tất nhiên khi nhóm người CĐ1 chuyển đổi thức ăn chính từ các loài thực vật sang động vật khiến cho bộ máy tiêu hóa hay các bộ phận trong cơ thể phải thay đổi để thích ứng với nhau, mặc dù cơ thể của giống người CĐ1 vào thời điểm cách đây hơn một trăm ngàn năm đã gần giống như người hiện đại sau này. Tuy vậy, những phần trăm khác biệt chính còn lại là những tuyến kích thích tố quan trọng chỉ có và được phát triển trong các giống người CĐ về sau, kể cả giống người văn minh hiện đại sau này. Cụ thể trong thời kỳ này có thể là những tuyến kích thích tố phát triển trong Gan hay Thận để giúp bao tử tiêu hoá được các loại thịt sống, hay các kích thích tố về tình dục giữa Nam và Nữ.
Khái niệm về tài sản hay cuả cải cũng đã bắt đầu xuất hiện từ khi các nhóm người CĐ I biết tích luỹ hay để dành thức ăn. Thật là đơn giản cho các nhà làm kinh tế về sau này khi muốn giải thích khái niệm về quyền “tư hữu”, nếu nhìn về nguồn cội cuả vấn đề tích luỹ thức ăn làm thành cuả cải trong thời kỳ còn sơ khai này. Sở dĩ những món đồ vật để dành hay thức ăn dư thưà đó biến thành tài sản riêng cuả cá nhân hay chung cho cả nhóm, khi có nhu cầu muốn dùng đến sản vật để dành hay dư thừa cuả nhóm khác.
Tóm lược lại từng sự kiện nói trên: Khởi đầu chỉ là mong muốn để dành thức ăn để dành phòng bị cho những lúc khẩn cấp, bệnh tật hay thời tiết xấu không thể đi kiếm thức ăn. Kế đến là những cá nhân khác trong nhóm, nếu có nhu cầu cần thức ăn nhưng lại không thể, hay tự bản thân không muốn đi ra ngoài tìm kiếm. Từ đó lại phát sinh ra vấn đề tích luỹ công sức lao động, rồi sau cùng biến dạng thành tài sản do “Cung và Cầu” hay ý thức về quyền tư hữu.
Lòng ham muốn có được thức ăn hay tài sản càng nhiều càng tốt, không những phát sinh ra chuyện muốn để dành, tích luỷ cho thật nhiều, mà còn nảy sinh ra tính tham lam muốn chiếm đoạt cuả đối tượng khác, giữa các thành phần “Không Có”
và “Có” hay đi xa hơn giữa thành phần “Có nhiều” và “Có ít”. Vấn đề đụng chạm quyền tư hữu xảy ra, dù ít hay nhiều, cuối cùng rồi cũng sẽ đưa đến chiến tranh xung đột lẫn nhau để giải quyết vấn đề. 
Chiến tranh giữa hai đối tượng hay giữa các nhóm bầy đàn khác nhau là chuyện không thể tránh được, vì trong tất cả các thời kỳ này cho đến về sau, các phần tử trong nhóm CĐ  đều chưa có khả năng xử dụng ngôn ngữ để nói chuyện hay giải quyết các vấn đề sinh tử với nhau.
20.1   Người Cổ Đại II
          Homo Sapiens Sapiens(75.000 – 37.500 yrs)
Tim-Phổi– Phát âm tốt hơn
Ðáng nói hơn tất cả trong thời kỳ này là một bước đột phá trong tiến hoá đã xảy ra. Một cuộc cách mạng về dinh dưỡng cuả giống người Cổ Đại II (CĐ II), và sẽ trở thành thuỷ tổ cuả loài người, thay vì là tiếp tục mãi mãi đời sống cuả người CĐ. Ðó chính là bước đầu chuyển đổi giữa những âm thanh la hét gầm gừ thành tiếng nói rỏ rệt với nhiều âm khác nhau hơn để biểu lộ ý muốn và cảm xúc. Nhắc lại trước thời điểm này, đa số các giống thú sinh con (mammal), đều có “giọng nói” là những tiếng hú, hầm hừ  hay gầm rống lên để bày tỏ thái độ với đối tượng.
Để được như trên, hai bộ phận chính trong cơ thể cần phải thay đổi trước lả Tim và Phổi.  Tim cần làm việc nhiều hơn để cung cấp đủ nhu cầu máu cho não bộ phát triển ra to lớn và có nhiều tế bào nhớ hơn. Phổi cần phài chứa nhiều không khí để có thể cho ra những làn hơi dài, mạnh hơn qua cổ hay thanh quản, rồi từ đó phát ra âm thanh với nhiều tần số khác nhau. Tất cả nhu cầu trên đều thoả mản được dễ dàng trong thời kỳ này là nhờ nhóm người CĐ II tình cờ biết dùng đồ ăn có nhiều chất ngọt như mật ong, nhất là biết ăn thêm chất chua từ các loại trái cây hoa quả có nhiều sinh tố C, giúp cho thanh quản làm việc tốt hơn. Một yếu tố quan trọng ít ai để ý là: Sở dĩ con người nói được, hay các giống chim hót líu lo cả ngày, chính là nhờ có cái “Cổ” dài hơn so với các loài thú vật khác.
Những âm thanh khác nhau phát ra từ giống người CĐ IItrong thời đại này thì chắc cũng không có gì nhiều hơn, ước chừng có thể có tối đa là khoảng trong vòng gần hơn vài chục Âm khác nhau phát ra từ miệng để thông tin và liên hệ. Nhưng cách phát âm thì khác biệt nhau nhiều, vì đó là những tiếng la hét theo nguyên âm A, O, U, I, v.v., rõ ràng và rất dễ phân biệt, cho ra những tín hiệu khác nhau.
Giải thích hiện tượng đột phá về ngôn ngữ nói trên gồm có khá nhiều lý do, nhưng có hai lý do tiêu biểu nhất là:
1)   Hệ thần kinh dọc trên vùng thuỳ não đã phát triển khá nhiều để có thể điều khiển tích cực các cơ bắp tại vòm miệng, làm cho vành môi có thể thay đổi hình dạng nhiều hơn, và cuối cùng là có thể phát ra được nhiều âm khác nhau. Nhận xét này có thể kiểm chứng được do những người bị tai nạn thương tật ở vùng thuỳ não sẽ khó phát âm hay dễ bị nói ngọng, nhất là khi vừa bị thuốc tê mê ở xương hàm mặt để chữa răng.
2)   Bộ phận nhớ cuả thuỳ não gia tăng thêm khả năng ghi nhớ chính xác cũng như lập lại y hệt các động tác cuả cơ bắp tại thanh quản hay yết hầu, với khả năng điều tiết luồng hơi thở dài hay ngắn, làm chuẩn cho các phát âm chính và phụ.
 
20.2   Cảm Tính- Hợp Đoàn- Tình Cảm 
 
Sau một thời gian dài tách ra để phát triển và phân tán ra khắp nơi trên các lục địa, dân số các giống người CĐ II đã bắt đầu sinh ra nhiều theo từng nhóm bộ lạc. Lý do là nhờ khí hậu giá lạnh hơn ở các vùng ôn đới, nên các giống người CĐ II phải sống chung trong những hang động khá an toàn nhiều hơn.
Thêm vào, đứng trước các hiểm nguy do chính đồng loại gây ra, các nhóm nhỏ ít người buộc phải tìm cách gia tăng dân số bằng cách duy nhất trong thời kỳ này là sinh sản.  Vị trí và bổn phận cuả hai giống nam nữ bắt đầu được phân chia rõ rệt do nhu cầu sinh tồn. 
Người nam phải ra ngoài đi săn tìm thức ăn, trong khi người nữ ở lại trong hang động để lo công việc sinh sản và bảo vệ các thức ăn để dành.
Những nhóm người CĐ II nào không có may mắn theo quy luật nói trên tất nhiên là có thể đã bị diệt vong, vì người nữ đã không thể bảo vệ hay sinh sản được con nhỏ nếu phải chạy theo nhóm săn đuổi các con mồi hay tìm thức ăn.  Ngay cả vài chục ngàn năm về sau vào thời kỳ cuả các giống người văn minh hiện đại (modern man), quy luật nói trên vẫn còn được áp dụng. Các sắc dân du mục xưa đã lần lượt bị tuyệt chủng nếu họ không trụ lại được trên một mảnh đất cố định nào trong một thời gian lâu dài đủ để an-cư lạc-nghiệp.
Các nhóm người Cổ Đại II mạnh nhất vào thời kỳ này chính là những nhóm sống trong các hang động thiên nhiên hay tự xây dựng lấy hang động bằng chính sức mạnh tay chân. Khái niệm về cái gọi là “mái nhà” hay mái ấm gia đình đã có từ lúc này.
Công dụng chính thứ nhất cuả cái nhà chính là để che mưa che nắng, che cái sương giá lạnh buốt cuả trời đất và núi rừng, bảo vệ phần nào sức khoẻ cuả các cư dân. Kế đến là dùng nhà để dự trữ lương thực hay chống lại với thú dữ hãm hại. Không có gì là khó hiểu nếu cả chục ngàn năm sau, cái nhà cũng là tài sản lớn và quý nhất cuả con người.  
Một khi có ý thức được tài sản riêng tư thì tất nhiên có sự ích kỷ, lòng ham muốn và sự tham lam.
Ða số đều muốn có tài sản ngay liền cho khỏi cực nhọc, thay vì là phải mất nhiều công sức và thì giờ tạo dựng nên. Từ đó chiến tranh là điều không thể tránh được và cuối cùng cũng đã xảy ra bởi một nguyên nhân duy nhất chung cho tất cả: xung đột quyền lợi.
Tuy chiến tranh mang đến mất mát đau khổ và những hậu quả khó khăn theo sau không thể tránh được, nhưng bù lại là gia tăng cảm xúc hay tình cảm cuả giống người Cổ Đại II (Homo Sapiens Sapiens). Thật ra tình cảm chỉ là một biến dạng cuả trí nhớ. Càng có trí nhớ dài hạn nhiều, càng dễ có nhiều cảm xúc hay tình cảm, do bởi dễ làm cho đối tượng cảm thấy xúc động khi nhớ lại những mùi vị, âm thanh và hình ảnh của những kỷ niệm vui buồn đã đi qua.
Một thành quả khác cuả chiến tranh ít người để ý tới. Sau chiến tranh cả hai bên thắng cũng như bên thua đều có những tiến bộ về nhiều phương diện, nhất là trí tuệ do não bộ đã cố gắng làm việc tối đa trong thời gian chiến tranh, để sống còn hay bảo vệ sinh mạng cho chính mình và những người khác trong nhóm. Một trong hai phát triển thể xác rất ấn tượng đã xảy ra cho gìống người CĐ II liên hệ đến phần thân trên theo đúng quy trình tiến hóa làm cho lá Phổi phát triển và nở lớn ra nhiều hơn, nhờ đã cố gắng la hét thật to trong những lúc chiến đấu với kẻ thù. Hậu quả là một số các gìống người CĐ II đã có thể chế ngự và dùng làn hơi dài để phát ra khá nhiều thanh sắc khác nhau, bước đầu thành hình cho tiếng nói hay hệ thống ngôn ngữ của các giống người về sau này.
Tiến hoá sau cùng của gìống người CĐ II quay về với trái tim, cũng đã nở ra to lớn hơn để có thể cung cấp đầy đủ máu cho não bộ làm việc. Từ đó, đã cho ra những nhịp đập của trái tim thay đổi khác thường tuỳ theo cám xúc có được của đối tượng. Tuy chưa có tất cả những tình cảm buồn vui hay thù hận giống như con người văn minh sau này, nhưng chắc chắn là gìống người CĐ II cũng đã có thể biều lộ một vài cảm xúc sơ đẳng như vui, buồn, thích hay không thích, v.v.
 
21–1  Người Rừng
 
(Neanderthals, 37.500 - 18.750 yrs)
Cổ – Miệng– Ngôn ngữ– Thời kỳ Băng Giá cuối cùng   
Ðây là thời kỳ cuối cùng băng giá lạnh nhất nên các giống người Cổ Đại II khôn ngoan (Neanderthals) đã phải di cư về phương Nam trốn lạnh, trở lại lục địa Phi Châu một lần nữa. Nhắc lại một quy luật thiên nhiên cho các sinh vật sống trên đất liền trong các thời kỳ băng giá là di cư về phương nam để trốn lạnh, cũng như phải di cư hay bỏ chạy về phương Bắc vì bị rượt đuổi, de dọa tính mạng, vào thời điểm giữa các thời kỳ băng giá khi thời tiết nắng nóng trở lại.
Để chống lạnh hiệu quá, một nhóm người CĐ II thông minh đã tìm ra phương cách đốt lửa để sưởi ấm trong các hang động ở các miền cực lạnh phương Bắc. Nhưng không phải lúc nào họ cũng thành công trong công việc quan trọng là giữ mồi lửa không để cho bị tắt, trong khi những ngọn lửa mồi thiên nhiên chỉ xuất hiện rất ít trong những vụ cháy rừng do sấm sét, rất nguy hiểm vì luôn luôn đe doạ dến tính mạng.
 
              
 
Hai thay đổi đáng kể về thể xác cho các nhóm người Cổ Đại II để chống lạnh gồm có: Nhu cầu ăn thịt nhiểu hơn nên tạo ra thêm lớp mỡ dày đóng dưới da, làm cho thể xác tăng trường, cao lớn hơn bình thường. Lông và Tóc cũng được kích động từ chất kích thích tố có trong máu thịt của thú rừng nên mọc ra nhiều hơn, giúp cơ thể giữ lại được thân nhiệt. Từ đó, nhóm người Cổ Đại II đã thay đổi dần hình dáng và có những đặc tính giống như người Rừng (Neanderthal).
Sau cùng, nhờ những ưu thế kỹ thuật vượt trội hơn tất cả các đồng loại khác, nên giống người Rừng-Neanderthal chỉ về lại đến lục địa Âu Châu rồi chiếm đóng và định cư luôn tại đó.  Mãi cho đến hơn mười ngàn năm sau, khi bị nhóm người văn minh hơn từ Phi Châu tràn lên đánh đuổi phải chạy lên các miền rừng núi, sống trong các hang động để rồi pha giống với sắc dân Phi châu hay bị tuyệt chủng luôn. Tình trạng nói trên đã xảy ra tương tự giống như những bộ tộc của các nhóm người sống trên các núi cao (Thượng) hiện nay đang ở trên các vùng cao nguyên Nam Dương, Phi Luật Tân và Việt Nam.
Không còn là điều khó hiểu, hiện nay với những kết quả nghiên cứu khoa học đã được công bố về hệ thần kinh và não bộ, tất cả những tiến bộ của các sinh vật trên trái đất này đều thuộc về một yếu tố duy nhất là sự gia tăng chất xám hay các tế bào bộ nhớ.  Ngôn ngữ hay tiếng nói là một thí dụ cụ thể. Vào cuối thời đại kỳ 6 thuộc nguyên đại VI này, để gìống người Rừng-Neanderthal nói được nhiều hơn so với các giống người CĐ II khác (Homo Sapien Sapiens) thì não bộ cần phải phát triển nhiều hơn. 
 
Một tiến bộ rõ nhất là giây thần kinh điều khiển các cơ vòng ở cuống họng hay yết hầu, nhất là bộ phận lưỡi và cơ vòm miệng đã uyển chuyển được khá nhiều để tạo ra những cách phát âm khác nhau.  Nhờ những tế bào bộ nhớ phát triển khá nhiều, đã đóng vai trò như một cuốn từ điển nhỏ dùng để thông dịch những chuổi phát âm và ý nghĩa của các nhóm âm thanh.
Tuy vậy, phần chất xám quan trọng nhất giúp con người nói được nhiều là nhờ bộ phận thuỳ não nằm ở phiá trước trong trán (Frontal Lobe). Hãy thử quan sát và so sánh hình dạng phần trán phiá trên cuả con người và gìống người TCĐ thì thấy ngay sự khác biệt. Hầu như các  gìống người TCĐ không có hay thiếu hẳn phần trán trước, nên lớp xương sọ ngay trên phần mắt bị bẹp hẳn xuống, không phồng cao lên và to lớn ra như cuả con người văn minh hiện đại. Ngay cả khi so sánh con người với nhau, cũng có thể thấy rõ phần trên trán cuả các nhà nghiên cứu hay học giả danh tiếng, thường là cao to và rộng lớn hơn mức độ trung bình.
 
Yếu tố may mắn khá quan trọng cần nhắc tới trong thời kỳ này cũng chính là giai đoạn kết thúc kỷ nguyên băng giá lần chót cuả trái đất.  Khí hậu trên mặt đất, nhất là ở các vùng nhiệt đới Phi Châu, bắt đầu nóng dần lên trở lại như hiện nay. Băng giá tan dần ra và biến mất từ từ trên hơn ¾ diện tích bề mặt trái đất, cho ra quy trình cuả thời kỳ đóng băng đảo ngược lại.
 
Càng ít băng giá thì năng lượng ánh sáng mặt trời hấp thu bởi mặt đất càng tăng cao, làm trái đất nóng dần lên. Ðồng thời và ngược lại, do khối lượng băng tuyết ở Bắc và Nam cực bị tan chảy ra mau, nên mặt nước đại dương cũng tăng dần và toả rộng ra hơn một nửa bề mặt của trái đất.
Trái đất nóng dần lên nên số năng lượng do thức ăn cung cấp thường xuyên hàng ngày cho giống người rừng khôn ngoan (Homo Sapien Sapiens) không còn có nhu cầu cần xử dụng nhiều cho việc chống lạnh nữa, mà có thể đã tích tụ lại dưới da, làm thành lớp mỡ dự trữ trong người, hay tạo thành các lớp vỏ bọc trong hệ thống tế bào thần kinh thuộc bộ nhớ. Nhờ vậy giống người rừng trở thành lanh lợi, năng nổ và hoạt động nhiều hơn so với các giống người rừng khác, kể cả các nhóm người Neanderdal còn đang sinh sống ở Bắc Phi hay Nam Âu châu.
Nhờ năng lượng dư thừa do khi hậu nóng dần lên, đã giúp các giống người rừng sống trong vùng nhiệt đới Phi-châu phát triển rất nhiều về thể xác, nhất là hệ thống tế bào bộ nhớ. Nhưng đồng thời các nguồn nước dồi dào trước đó bị mất dần, nhiều sông hồ đã bị khô cạn hay trở thành sa mạc, cây trái và các nguồn thực phẩm dổi dào trước đây cũng bị gỉảm xuống rất nhiều. Hậu quả là một cuộc chiến tranh tàn sát lẫn nhau để tranh dành nguồn nước hay thức ăn là chuyện khó tránh được.
Trở lại với sự kiện bắt đầu thời kỳ băng giá, các nhóm người Rừng-Neanderthal mạnh bạo và to lớn hơn nhiều, đã tiến dần về phương Nam, độc chiếm Âu Châu, đánh đuổi các nhóm người CĐ II yếu kém hơn chạy xuống Phi Châu. Nhưng chuyện bất ngờ không biết trước được đó là chu kỳ băng giá lạnh nhất so với các chu kỳ băng giá trước đây (Hình K) đã tiếp tục kéo dài trong khoảng vài ngàn năm nữa. Tất cả lục địa Á, Úc, Âu và Mỹ đều bị đóng băng trừ các vùng nhiệt đới gần xích đạo. Hầu hết các bình nguyên đều biến thành những vùng băng giá suốt cả năm, làm cho đa số các loài sinh động vật bi tuyệt chủng gần hết, kể cả số người Rừng-Neanderthal, vì nạn đói do thiếu thức ăn.
Ngược lại, cách đây khoảng hơn 20.000 năm hay 18.000 BC, chỉ với một số các nhóm nhỏ không quá vài trăm người CĐ II (Homo Sapien Sapiens), vừa chiến đấu với thiên nhiên và nghịch cảnh, vừa liều mạng bỏ trốn chạy về Phi Châu để được sống còn. Nhưng rồi cuối cùng lại cho ra kết quả là có gần 7 tỷ người cùng sống chung trên trái đất như ngày hôm nay, thật là một kỳ công của thiên nhiên hay là quyền năng cuả Thượng Đế ban cho con người?     
Chương 7
Văn Minh Nhân Loại. Người Hiện Đại (16.740 Bc – 2390 Ad).
Bắt đầu chương sách lịch sử đầy thú vị và hứa hẹn của nền văn minh nhân loại này, đều  trách sự hiểu nhầm về thời gian, con số về niên đại hay Năm theo Dương lịch được chuyển đổi ra theo quy ước chung BC hay AD tiếp theo sau con số chính thức, như trong thí dụ trên. Ngoài ra, xin chú ý là hai con số nằm trong ngoặc đơn chỉ có ý nghĩa là năm cực thịnh của hai nền văn minh kế tiếp nhau trong quá khứ và hiện tại đang nói tới, không phải là khoảng cách hay tổng số thời gian kéo dài hay tồn tại của nền văn minh đó.
                                                                         
 
Ðiạ điểm hay cái nôi thật sự cuả các nền văn minh con người hiện đại, đã xuất phát trong vòng vài trăm cây số kể từ đường xích đạo, bên cạnh một con sông nào đó của lục địa Phi Châu. Có nhiều yếu tố với xác xuất đúng rất cao cho thấy có thể đó là con sông Nile dài nhất ở Phi Châu chảy theo hướng Nam-Bắc, trở thành con đường thông thương huyết mạch, khai sinh và nuôi dưỡng nền văn minh Phi Châu hơn mấy chục ngàn năm.
Những dữ kiện lịch sử đã được minh chứng qua các công trình khảo cổ, hay được khai quật từ các di tích hoá đá bên bờ sông Nile và các công trình xây dựng Kim-Tự-Tháp ở Giza. Thêm vào là những bộ xương hóa đá cuả các giống người Thượng cổ đại (Lucy, Arti,v.v), đều được tìm thấy nhiều nhất tại các quốc gia nằm trong lục địa Phi Châu, có lãnh thổ nằm gần ngay trên đường xích đạo như Tanzania, Zaire, Congo, v.v.
Tuy vậy, điều cần thảo luận ở đây chính là tìm hiểu nguyên nhân hay động lực nào đã làm cho các dân tộc sống gần đường xích đạo ở châu Phi, trở thành giống người thông minh nhất lúc bây giờ trong buổi chớm rạng đông của nền văn minh nhân loại. Một ghi nhận thêm là mỗi thời đại kế tiếp của nguyên đại VII này, các sắc dân hay bộ tộc văn minh tiến bộ thường có những phát minh hay sáng chế ra những vật dụng lợi ích. Đa số các nền văn minh chính thường có những sáng kiến mới lạ về văn hóa mà tầm ảnh hưởng lan tỏa ra khắp nơi, bao trùm một vùng lãnh thổ rộng lớn và tạo ra những thay đổi tích cực cho toàn thể xã hội.
Những thay đổi lớn cho xã hội còn được gọi chung là "Cách Mạng", như Cách Mạng Kỹ Nghệ ở Anh trong thế kỷ 19 hay Cách Mạng Tin Học ớ Mỹ trong thế kỷ 20, đã làm thăng tiến đời sống, không những chỉ dành riêng cho tất cả các thành viên thân cận trong cộng đồng xã hội cuả dân tộc đó, mà còn ảnh hưởng nhiều đến cho cả những xã hội hay các quốc gia láng giềng khác ngay sát bên cạnh, hoặc có thể lan tỏa xa hơn nữa cho toàn thế giới. Nói chung, tất cả các thay đổi lớn trong mỗi thời đại này thường có đặc điểm chính về văn hoá và thường bắt đầu bằng một trong các yếu tố sau: Tôn giáo, Khoa học-Kỹ thuật hay xây dựng các công trình quy mô lớn.
22.1   Văn minh Xích đạo
-Người Tiền Sử (7400 BC)
(*Xin Chú Ý:  Con số nằm trong ngoặc đơn là năm cực thịnh hay cao điểm của nền văn minh đang nói tới, với sai số có thể thay đổi trong vòng từ 10-50 năm theo AD, và cho tới 100-500 năm theo BC)
Sau thời kỳ băng giá lần cuối cùng cách đây khoảng 20 ngàn năm, khí hậu trái đất nóng dần lên nên năng lượng cần có cho giống Người Tiền Sử (NTS) giảm xuống nhiều, do không có nhu cầu cần thêm thức ăn hàng ngày xử dụng cho việc chống lạnh nữa. Nhu cầu năng lượng giảm dần thì lượng chất béo dư thừa tích tụ tạo thành các lớp mỡ dự trữ trong người, nguồn cung ứng dồi dào cho nhu cầu cần sản suất thêm các tế bào bộ nhớ.  Ngoài ra, các loại chất béo dư thừa còn tiếp tục bồi dưởng tốt lớp vỏ bọc hệ thống tế bào thần kinh truyền đạt mệnh lệnh hay tín hiệu xuống cho cơ thể hay tay chân. Nhờ vậy, các giống người ở Phi châu đã trở thành thông minh, lanh lợi và hoạt động năng nổ nhiều hơn các giống người tiền sử khác, sau mỗi thế hệ.
Cụ thể như thay đổi quan trong giữa các nhóm người Rừng hay nhóm Neanderthal mấy ngàn năm trước đó khi vừa trở lại Phi châu, so sánh với lớp Người Tiền Sử mới sau này, đều tập trung nhiều nhất vào hai vị trí đặc biệt của cơ thể: Vầng thuỳ não trước Trán cùng hai bên Thái dương (Hình 34) nở rộng thêm ra, và hệ thống thần kinh dẫn truyền xuống hai chân đều có những phát triển đặc biệt đáng kể làm cho sinh hoạt nhanh nhẹn và hiệu quả hơn.
Chân – Di Chuyển
Chu kỳ phát triển về “Chân” trở lại từ đầu trong nguyên đại VII cho nền văn minh hay KNTH đầu tiên, tạm gọi là nền văn minh Xích Đạo của con người hiện đại, với một tầm vóc cao hơn nhiều, dưới tác dụng do trí tuệ cuả con người tạo ra. Nhắc lại thời kỳ của người cổ đại (Homo-Sapiens) với khả năng chạy trung bình mau nhất đạt tới mức khoảng chừng 15-20 km/Giờ. Trong Nguyên Ðại VII này, khả năng chạy bằng hai chân cuả con người văn minh hiện đại cũng không thể mau hơn, vì sự phát triển về thể xác cuả con người cũng có giới hạn. Tuy nhiên, với sự thông minh và tiến bộ nhiều về trí tuệ, con người có đã thể tìm ra những phương tiện sẳn có trong thiên nhiên để trợ giúp thêm cho việc di chuyển, vừa nhanh hơn mà cũng khoẻ hơn rất nhiều.
 
Ðiạ bàn sinh hoạt chính cuả các nhóm bộ tộc văn minh nhất trong thời kỳ này đều tập trung ở lục địa Phi châu, bên cạnh những con sông chính như sông Nile. Nhờ khả năng tư duy tốt và vật chất đủ mạnh, những bộ lạc văn minh nhất thường dễ dàng chiếm đoạt và bảo vệ lảnh thổ đã có được. Nhưng lòng tham không bao giờ chịu ngừng lại và chấp nhận những gì đã có được.  Các nhóm nào mạnh nhất thường đụng chạm quyền lợi với nhau, lần lượt chiếm đoạt đất đai cuả các nhóm yếu hơn và nới rộng dần lảnh thổ. Ðồng thời như trình bày, các nhóm yếu kém hay lạc hậu hơn đã bị đánh đuổi và lần lượt bỏ chạy rời khỏi Phi châu trong thời kỳ này, tạo ra những hạt nhân mới cho các nền văn minh kế tiếp khác tiến bộ hơn.
Một lý do khác được tìm thấy khiến các bộ tộc phải di cư ra khỏi Phi châu: Trái đất nóng dần lên sau thời kỳ băng giá cuối cùng, lượng nước mưa cũng bị giảm dần xuống đáng kể hàng năm, làm cho một vùng đất rộng lớn ở bình nguyên như Sahara hoá thành sa mạc, do hạn hán kéo dài quá lâu trong cả ngàn năm. Các bộ lạc dân tộc vốn không quen sống trong vùng bị sa mạc hoá phải di cư, tản mác ra khỏi lục địa Phi châu lần chót để tìm đất sống và cung cấp thức ăn cho đồng loại.
Theo kết quả nghiên cứu cuả các nhà nhân chủng học mới đây cho biết, đã có ít nhất hai nhóm người từ lục địa Phi châu di tản hay đi dọc theo sông Nile vể tận hướng Bắc, phân tán ra theo hai hướng chính.

Hướng thẳng lên vùng biển Ðiạ Trung Hải rẻ trái về hướng Tây lập nền văn minh Ðiạ Trung Hải, bao gồm văn minh Hy Lạp và La Mã, cái nôi sinh ra văn minh Âu châu. Một chi nhánh của nhóm này bị đánh đuổi phải chạy ngược lại lên hướng Đông Bắc để lập ra nền văn minh Trung-Đông chịu ảnh hưởng Hồi Giáo.
Nhóm thứ hai rẻ qua phải đi băng ngang về hướng Đông, lần theo các vùng dọc bờ biển qua Ấn Độ Dương để cho ra các nền văn minh Ấn Giáo (Hindu) và Phật Giáo, khởi đầu cho nền văn minh Á châu. Một chi nhánh thuộc các nhóm các bộ lạc hải đảo này đã đi thẳng lên vùng đồng bằng sông Hồng, rồi tiếp tục theo hướng Đông Bắc đi tiếp lên nữa, lập ra nền văn minh Bách Việt bên sông Dương Tử, cái nôi sinh ra Văn minh Trung Hoa chính thống thuộc giòng dõi Hán Tộc sau này.
Vài ngàn năm sau nữa, lần lượt môt nhóm dân Trung quốc đó lại bị rượt đuổi nên liều mình mạo hiểm tiến xa hơn về hướng Bắc vượt qua eo biển Bering, dịnh cư ở vùng Alaska trước khi di dân xuống miền Nam Mỹ Châu để lập ra các nền văn minh Incas, Pueblo,v.v. Có một sự liên tưởng khôi hài là: Liệu rằng trong thế kỷ qua cho đến hiện nay, những chuyến bay xa chở các di dân từ vùng Đông Nam Á kể cả Viêt Nam hay Trung Hoa, thường có lộ trình bay vòng lên Bắc cực qua Alaska trước khi vào Mỹ, đã là một sự lập lại của lịch sử, hay là phản ánh của luật Nhân-Quả?
22.2    Những Phát Minh Chính Làm Lửa
– Đi Thuyền - Cỡi Ngựa
Sáng kiến đầu tiên về văn hoá ẩm thực trong đại kỳ này chính là cách “Nướng” hay đốt cháy con mồi tươi sống trong lửa trước khi ăn. Nhắc lại trong các thời đại trước, do các trận cháy rừng tự nhiên đã làm cho một số thú vật bị chết thiêu biến thành những thức ăn nóng và thơm ngon khác thường cho các bộ lạc người Rừng.
Tuy vậy, trở ngại lớn nhất cuả các giống người Rừng thông minh thời bấy giờ là vẫn chưa tìm ra cách để tự làm ra lửa, thay vì là phải chờ lấy lửa thiên nhiên từ những đám cháy rừng, rồi sau đó là phải tìm cách giữ cho được ngọn lửa mồi. Một công việc rất khó khan đòi hỏi sự khôn ngoan và sáng tạo.
Thêm vào, công việc giữ ngọn lửa mồi cũng không phải dễ dàng gì trong các muà mưa bão và lại rất nguy hiểm vì có thể đốt cháy luôn tất cả những gì để dành được trong các hang động kể cả sinh mạng con người hay nơi chốn sinh sống cuả bộ lạc. Cả ngàn năm sau, không hiểu truyền thống cố gỉữ cho ngọn lửa đuốc thiêng thế vận hội không bị tắt đi trong một thời gian lâu dài, có thể nào là một trong những hành động tạo ấn tượng để vinh danh và tưởng nhớ lại thời kỳ khó khăn trong chuyện “giữ được mồi lưả” đó(!? Phim "Quest for Fire" từ sàn diễn Hollywood diễn tả lại gần đúng với những gì đã nói trên)
Phải đợi đến gần hết thời kỳ này con người mới đủ trí tuệ thông minh để bắt chước thiên nhiên và làm giống như vậy. Theo ghi nhận chung của các nhà nhân chủng học, phát minh quan trọng nhất trong thời đại của lịch sử con người hiện đại, chính là tìm cách làm ra lửa, bất cứ lúc nào khi cần đến. Khác biệt duy nhất là thay vì ngồi chờ những trận cháy rừng hay dùng những cây đuốc giữ mồi lửa có thể mang đến những tai hoạ khủng khiếp, thì con người đã tạo ra lửa bằng cách xoáy thật nhanh một đầu cây que khô vào viên đá lửa với mồi lá khô cùng đống củi. Nhiệt lượng cao tạo ra bởi sự ma sát làm ngún cháy đầu cây que với nhúm lá khô làm mồi.
Nhờ những đống lửa được đốt lên giữa các hang động để nướng chín thịt của con mồi săn bắt được, đồng thời cho ánh sáng và sưởi ấm mọi người trong những sinh hoạt bầy đàn, nên đời sống của các bộ tộc biết cách tự làm ra lửa, đã được thay đổi và thăng tiến rất nhiều về mọi mặt. Một lợi ích thực tế khác là nhờ thức ăn được nướng chín trên các bếp lửa cuả các bộ lạc văn minh nói trên, con người đã có thể tránh được rất nhiều bệnh tật. Sức khoẻ cũng gia tăng đáng kể, kéo dài tuổi thọ lên, thay vì chỉ có 10-20 năm như các loài dã nhân và giống người rừng trước đây. Cho đến hiện tại này những món thịt sống nướng trên bếp than trộn với mùi khói thơm từ chất béo cháy lên, đều làm kích thích dây thần kinh hay bộ nhớ di truyền cả ngàn năm cho khẩu vị cuả mọi người trên thế giới này, không phân biệt màu da chủng tộc. Phải chăng điều vừa trình bày, minh chứng cho thấy rõ hai sự kiện: Mùi khói từ lớp mỡ cháy và thịt nướng trên các bếp lửa, một kết hợp hữu cơ giữa chất than và chất béo, không những đã giúp cho não bộ người tiền sử khởi sắc phát triển tối đa, mà còn lưu dấu ấn sâu đậm lại trong bộ nhớ cuả con người mãi mãi đến bây giờ.
Những Người Tiền Sử (NTS) cũng đã tìm thấy trong thiên nhiên có hai loại trợ giúp cơ bản cho phương tiện di chuyển nhanh và đỡ mệt hơn: Cách thứ nhất là trực tiếp dùng một con thú khoẻ mạnh chạy nhanh hơn con người như Ngựa hay Lạc đà để đu bám vào. Cách thứ hai dùng gián tiếp sức mạnh của thiên nhiên như giòng nước chảy cuả các con sông hay suối để bám vào các khúc cây gỗ trôi theo giòng nước.
Ðiều trùng hợp khá chính xác là cho đến khi khoa học phát triển tiến bộ nhiều trong các thế kỷ qua, đa số các phát minh hay sáng tạo cuả con người đều xuất hiện từ những tai nạn rủi ro ngoài ý muốn hay do tình cờ ngẩu nhiên không được biết trước, nhất là các phát minh có tính đột phá giúp rất nhiều cho đời sống hàng ngày. Cụ thể đã xảy ra trường hợp thoát chết khi bị những cơn lũ lụt cuốn đi, các thú vật hay con người đã tình cờ và may mắn ôm chặt và bám vào các cành cây hay khúc gỗ đang trôi sát bên cạnh.
Với kinh nghiệm sống chết đó, nhóm người thông minh thời tiền sử đã có được một kết luận quý giá: “Ða số các khúc cây gỗ đều nổi trên mặt nước và quan trọng nhất là không tuỳ thuộc vào hình dáng to nhỏ hay nặng nhẹ bao nhiêu”. Cuối cùng, trong số những NTS thông minh, có ai đã có sáng kiến tìm ra cách để con người có thể di chuyển trên sông nước nhanh và tiện lợi hơn đi bộ rất nhiều, bằng cách ôm vào một thân cây gỗ rồi thả trôi theo dòng sông đang chảy.
Tuy vậy, khởi đầu có thể là các NTS chỉ chọn một thân cây to đủ rộng cho một hay hai người ôm nằm. Kế tiếp là ai đó đã nghĩ ra cách khác là đục vào thân cây một lỗ trống để ngồi luôn trong đó cho được an toàn hơn, và từ đó con người có thể dùng tay để điều khiển hướng đi. Cuối cùng sau vài ngàn năm, tất cả những sáng kiến nói trên đã giúp thay đổi khúc cây gỗ trở thành con thuyền. Di tích lịch sử còn sót lại đề minh chứng là các loại thuyền “độc mộc” của các giống dân da đỏ trong những vùng sông nước ở các xứ Nam Mỹ còn đang xử dụng.
Câu chuyện thứ hai liên quan đến việc săn thú của các nhóm người tiền sử. Những bộ lạc đông người cần săn những loài thú to lớn để cung cấp thức ăn cho cả chục hay vài trăm nhân khẩu.
Ða số trong nhiều trường hợp, với các loại vũ khí thô sơ như cây lao, cọc nhọn hay các tảng đá sắc bén cũng không thể giết chết liền những con thú to lớn và khoẻ mạnh. Nhưng có thể vì tiếc rẻ con mồi và vì quá đói, nên đã có nhiều trường hợp nguy hiểm làm cho những tay thợ săn phải liều mạng cố đuổi theo, bám chặt vào cái đuôi hay cưỡi lên thân con thú để cố triệt hạ và giữ mồi. Trong nhiều trường hợp chỉ bị thương nhẹ nên con thú đã có thể bỏ chạy và mang theo luôn người săn thú đang đu bám trên lưng. Nhờ kinh nghiệm sinh tử có được, nhất là được di chuyển nhanh hơn trên mình cuả một vài con thú như ngựa hay các loài trâu bò, các tay thợ săn NTS thời đó đã khám phá ra cách dùng sức mạnh thú vật để làm phương tiện di chuyển nhanh và tiện lợi.
Do từ nhu cầu cần phải thuần hoá một số các loài thủ to lớn để làm phương tiện di chuyển, phát minh mới trong KNTH này là tìm cách bắt sống con thú bằng những sợi dây mềm lấy từ những rễ cây rừng.
Kỹ nghệ đánh bẫy hay đi săn bắt đầu thành hình trước khi NTS học cách huấn luyện làm sao cho các giống thú hoang chịu thuần phục. Từ đó, kỷ nghệ chăn nưôi sơ khai cũng được thành hình do số thú hoang đã bị bắt sống mang về khá nhiều. Nghể chăn nủôi để lấy da và thịt cũng có thể được phát sinh từ nhu cầu cần thiết nói trên.
22.3   Đặc Tính Văn Hóa
Du Cư – Thờ Thần Vật   
 Trong thời kỳ này, thành viên cuả các bộ lạc văn minh nhất đều chưa mặc áo quần gì cả và sống trần truồng rất tự nhiên. Hầu hết đều có đời sống du cư và thay đổi chổ ở thường xuyên, do chưa biết cách xây nhà vững chắc để bảo vệ cư dân chống lại thời tiết xấu. Hình ảnh của những người tiền sử mang những nhánh lá cây quanh mình chỉ có sau này trong sự tưởng tượng của phim ảnh mà thôi, không hề xuất hiện vào thời điểm đó. Phải chờ cho đến KNTH kế tiếp để con người có thể dùng hai bàn tay khéo léo chế tạo ra được những bộ quần áo bằng lá cây và kết dính lại với nhau.
Mặt khác, hầu như đa số chưa có khái niệm gì về chuyện đạo đức tình dục hay mặc cảm tội lỗi, dù vẫn biết có sự ganh tỵ hay các tính tham lam và ích kỷ. Luật lệ trong xã hội nếu có lúc bấy giờ là luật cuả kẻ mạnh được xử dụng cùng lúc với bản năng sinh tồn. Cá nhân hay tập thể nào mạnh nhất sẽ được đám đông thần phục và đương nhiên sẽ trở thành tù trưởng hay lãnh chuá, sau khi đã chiến thắng hết những đối thủ còn lại bằng các trận đấu tay đôi với nhau.
Con người văn minh trong KNTH 1 này bắt đầu có ý thức nhiều về cái  “Tôi” kiêu hãnh của mình, nhưng đồng thời cũng có những mặt-cảm tự-ty khác đối với các hiện tượng thiên nhiên khủng khiếp, vượt quá sự hiểu biết của con người thời đó, như sấm sét, bão lụt, vv. Khái niệm về sự hiện hữu của một đấng linh thiêng hay ông “Thần” có quyền uy tối cao, đã tạo ra những tai họa khủng khiếp và sẽ định đoạt số phận con người. Những ý tưởng về Thần Linh tuy đã có trước đó khá lâu và chẳng có gì là mới lạ, nhưng đã thật sự bắt đầu được nhiều người tin tưởng và chấp nhận hơn, do những phát triển khá  mạnh về hệ thần kinh tạo cảm xúc. Trong KNTH này, con người thờ cúng Thần-Vật hay bất cứ đồ vật nào được cho là thiêng liêng như một hòn đá lớn, ngọn núi, cây cổ thụ , v.v.
Đồng thời cũng xuất hiện trong thời đại hay KNTH này, do tham vọng và ích kỷ muốn duy trì quyền lực lâu dài, một số các tù trưởng tài giỏi hay thông minh cuả các bộ tộc đông dân, đã tìm ra phương cách làm lãnh tụ muôn năm. Bằng cách dùng sức mạnh tổng hợp của nhiều cá nhân để lập ra một cơ chế hay bộ máy quyền lực bao gồm nhiều thành viên được  hưởng một số quyền lợi ưu đãi, rồi từ đó dùng nó để áp đảo hay khống chế lại những cá nhân hay các nhóm khác yếu kém hơn, không chịu phục tùng hay không nghe theo mệnh lệnh.
Nhờ vậy, các tù trưởng hay lãnh chúa về sau này không những có thể cai trị suốt đời mà còn có thể truyền ngôi lại hàng trăm năm sau cho con cháu, nếu không bị các thế lực mạnh hay các cá nhân tài giỏi hơn lật đổ để "cướp chính quyền".
Về diện tiến hoá và thay đổi sinh lý, trong thời đại hay KNTH này các sự phát triển về não bộ và hệ thần kinh của con người chắc hẳn đều được dẫn truyền xuống và tập trung gần như đa số vào đôi chân. Minh chứng cụ thể cho nhận xét nói trên là những hậu duệ trực tiếp sau này thường bị té ngã xuống hay đứng không vững, do các thần kinh điều khiển cơ chân bị tê liệt hay yếu hẳn đi, mỗi khi có chuyện buồn hay do xúc động mạnh về tâm lý.
Sự khỏe mạnh, to lớn và dẽo dai của hai chân đã được ngưỡng mộ và tôn sùng như là tài sản quý giá nhất của con người. Nhờ nó mà những thợ săn chính trong mỗi bộ tộc dùng để đi săn bắt thú vật, cũng như mang về nguồn thức ăn cần có cho cả nhóm. Ngay cả khi đi tìm kiếm ban tình, tiêu chuẩn về nét đẹp hay sự lôi cuốn hấp dẫn của cả hai phái đến với nhau cũng đã dựa rất nhiều vào hình dáng và màu sắc của đôi chân trong thời kỳ này. Thực tế nhất cho thấy những người gốc Phi Châu ngày nay, cả hai phái nam hay nữ gì cũng đều được thừa hưởng tính di truyền hay sở hữu một bộ giò khỏe mạnh vững chắc, thường có ưu thế và chiến thắng được nhiều huy chương thế vận về môn chạy bộ điền kinh xa hay gần.
Tóm lại, trong suốt gần hơn 10000 năm của KNTH 1 này, tuy chưa có được đầy đủ dữ kiện lịch sử chính xác, nhưng chắc chắn là đã có ít nhất một nữa dân số hay nhiều hơn nữa, đã phải liều mạng di tản hay bỏ chạy ra khỏi Phi châu để tìm đường sống, do chiến tranh hay vì do yếu kém quyền lực hơn. Nhưng vài ngàn năm sau, hậu duệ của những người đau khổ,  đói kém và đã bỏ chạy khỏi Phi châu đó, sẽ có một ngày trở về để chinh phục lại mãnh đất thiêng liêng này.
23-1    Văn minh Phi Châu
 – Đế Quốc Ai Cập (2540 BC) 
(*Một lần nữa, xin chú ý: Con số nằm trong ngoặc đơn là năm cực thịnh hay cao điểm của nền văn minh đang nói tới, với sai số có thể thay đổi trong vòng từ 10-50 năm theo AD, hay từ 100-500 năm theo BC)    
Bàn Tay - Chế Tạo    
 
Theo thứ tự như đã trình bày, nếu trong thời đại hay KNTH 1 chủ động chính về “Chân” thì trong KNTH 2 này có liên quan đến những phát triển và có nhiều ảnh hưởng mới lạ về hai bàn “Tay”. Người ta vẫn thường nói là làm nên sự nghiệp từ hai bàn tay trắng, không ai nói làm nên sự nghiệp bằng hai chân! Tại sao? Câu trả lời nằm ở vấn đề hai bàn tay có khả năng làm được nhiều chuyện hơn là chân chỉ giúp cho việc đi đứng và chạy là chuyện chính. Dĩ nhiên, con người qua trí tuệ còn biết xử dụng khéo léo hai bàn tay để làm ra những sản vật có ích cho cộng đồng xã hội.
Theo dòng tiến hóa tự nhiên của các loài sinh động vật, tay hay chân là những bộ phận cơ bản đầu tiên của các loài, giúp cho thân xác có được tính cơ động và di chuyển, nên được gọi là động vật. Hai Tay và hai Chân, theo như cách gọi của môn cơ thể học là “Tứ Chi”, nghĩa là bốn thành phần của thân xác có sự liên hệ chặt chẽ với nhau. Cụ thể như khi hai chân chạy thì hai tay cũng phải đong đưa đánh nhịp theo.
 
Do đó, khi não bộ phát triển các hệ thần kinh nối liền với chân quá nhiều, bị giới hạn và bảo hòa, thì tự nhiên phải chuyển hướng phát triển qua tay là đối tượng kế tiếp theo.
Sau này trong các KNTH kế thừa, quy luật về tiến hoá và phát triển nảo bộ cho hệ thần kinh của các bộ phận khác trong cơ thể, theo luật tự nhiên, sẽ được tiếp tục giữ đúng thứ tự từ dưới lên trên như đã được trình bày trong các chương trước đây.
 
Sự cần thiết cũng như đóng góp cả hai tay trong công việc làm của con người cho tới ngày nay vẫn còn cần rất nhiều, dù kỹ thuật về cơ khí và tự động hóa đã làm giùm cho khá nhiều chuyện khác. Trong bất kỳ xã hội hay thời đại nào, mất hai chân thì cũng còn hy vọng có thể làm ăn hay sinh sống được, nhưng nếu mất hai tay thì chắc là gặp khó khăn hơn rất nhiều. Đó là lý do giải thích tại sao vào thời trung cổ phong kiến, hình phạt cho kẻ phạm tội nặng nhất sau cái chết vẫn là bị chặt mất hai Tay.
Ðây cũng là thời kỳ đột phá về xây dựng do hai bàn tay và trí tuệ con người làm nên. Biểu tượng rõ nhất cuả hai bàn tay chính là viết ra hay phác họa những chương trình xây cất lên một dự án nào đó, hay thiết kế xây dựng những công trình chung vĩ đại, để lại dấu ấn lịch sử cho cả mấy ngàn năm sau này, như các đền thờ hay các Kim Tự Tháp hùng vĩ.
23.2   Phát Minh Chính  
Chữ Viết– Chăn Nuôi – Rượu 
Thời kỳ này đánh dấu một cuộc cách mạng lớn về văn hoá, bắt đầu bằng chữ viết và có thể coi như là một phát minh quan trọng nhất trong KNTH 2 này. Câu chuyện dự đoán cho thấy, khời đầu là do những người đi săn mồi trong những khu rừng, muốn ghi lại những dấu hiệu cho dễ nhớ khi tìm đường trở về, hay những lúc đi quá xa để tìm kiếm thức ăn.
Mới đầu, có thể là họ chỉ tạo ra những dấu vết trông rất bình thường và dễ thấy, như một dấu vết của thiên nhiên.  Nhưng một thời gian sau, do nhu cầu cần phải biết thêm nhiều thông tin cần thiết khác, nên họ đã phải sáng tạo và cho xuất hiện thêm một số các dấu vết đặc biệt khác.
Nói chung, các nhóm người văn minh thời kỳ đó đã phát minh ra một số những dấu hiệu khác nhau theo quy ước riêng cho dễ nhận dạng và dễ hiểu bởi mọi người.  Chữ viết có thể đã xuất hiện từ thời đại này như một nhu cầu cần thiết cho việc thông tin liên lạc giữa những con người cùng có chung một văn hoá và ngôn ngữ hiện đại.
Có chữ viết rồi thì cũng cần phải dùng cái gì đó để viết lên. May mắn là trong một trong các nền văn minh như Badarian trước đó đã phát hiện và biết cách xử dụng đất sét mềm, nung lên thật nóng,  để làm ra thành những viên gạch cứng dùng cho xây dựng nhà cửa. Đồng thời trong khi viên gạch còn mềm, sẽ được viết hay khắc lên để ghi lại những sự kiện Lịch Sử đáng nhớ. 
Không có gì ngạc nhiên nếu biết rằng các vua chúa Ai-Cập sau này đã cùng chọn biểu tượng là hai bàn tay để tôn thờ như những vị thần được “Trời” ban cho và sai xuống trần gian để giúp đỡ con người.
(Hình  35)
 
Những phát minh hay sáng kiến đặc biệt khác làm bằng Tay trong thời kỳ này còn có:
Phát minh ra bánh xe hình tròn bằng gỗ, quay xung quanh một cái trục, xuất hiện đầu tiên trong lịch sử của nhân loại. Từ đó về sau, các nhà sáng chế Ai-Cập đã dùng bánh xe để chế tạo ra loại xe ngựa kéo, còn gọi là “Chariot” . Nhờ các loại xe ngựa kéo này, các Hoàng Đế Ai-Cập đã có ưu-thế hơn các đối thủ trong chiến tranh, tóm thâu vào nhiều lãnh thổ để xây dưng lên đế quốc Ai-Cập rộng lớn khắp vùng Bắc Phi.
Dùng da thú vật để che thân thể và chống lạnh.  Một phát ninh đưa đến từ trí thông minh và sáng tạo cuả các người thợ săn. Do vì công việc phải mang những con mồi bị bắt sống hay đã chết về lại bộ lạc khi trời vừa tối với những cơn gió lạnh. Nhưng đồng thời cũng nhờ thân nhiệt cuả con thú chuyền qua bộ lông và giữ lại lâu hơn trên thân thể cuả người đi săn, đã tạo ra một cảm giác ấm áp dễ chịu. Từ đó, ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện với sự suy luận: Tại sao không tìm cách cắt bộ lông da thú ra, phơi khô để dành làm vật bao che thân thể chống lạnh (?). Tuy nhiên, đó không phải là chuyện dễ dàng ngay từ đầu, vì tất cả đều phải qua một số các công đoạn cần thiết như phơi khô, làm sạch các lớp thịt dư hôi hám còn bám vào lớp da bên trong, và cuối cùng là cột lại hay kết dính những miếng da thú với nhau cho vừa sát với thân thể. Tất cả công đoạn làm ra áo da thú có được là nhờ  tài biết xử dụng bàn tay khéo léo và trí thông minh để thoả mản nhu cầu sinh tồn.
Khám phá ra các chất kim loại cơ bản như vàng hay đồng, và đã biết cách dùng lò lửa để  làm công việc luyện kim, đúc vũ khí hay làm những vòng trang sức. Chính nhờ khám phá mới lạ này, về sau được gọi chung danh từ là kỹ thuật, đã giúp nhóm người phát minh đó trở thành đầy quyền lực và giàu có, thu phục được nhiều bộ lạc nhỏ gom lại trên những vùng đất rộng lớn hơn như các tiểu quốc về sau này. Ðiều cần biết và nhắc lại đây là hầu như những phát minh về kỹ thuật trong mấy ngàn năm qua đều là do tình cờ ngẩu nhiên phát hiện và khám phá ra.
Do kết quả từ những vụ cháy rừng làm cho một số các hợp chất quặng kim loại bị nung nóng và chảy ra, tụ lại trong những chổ đất bị trủng xuống và thấp hơn mặt đất. Kết quả sau một vài ngày khi nguội đặc lại, đã cho ra những đồ vật có hình dạng đặc biệt theo như chỗ đất bị trủng xuống. Kết quả ngẩu nhiên ban đầu có thể là hình dạng cuả một cái vòng tròn từ trái cây khô đã bị cháy. Cũng nhờ có sự khéo tay, các bộ tộc văn minh nhất thời bấy giờ đã tìm ra phương pháp vẽ sẳn và tạo mẩu khuôn trên những khối đất sét ướt mềm và đốt nung trên đó các quặng kim loại được tìm thấy tại những mỏ lộ thiên.
Sau cùng là do nhu cầu sản suất ra hàng loạt vũ khí chiến tranh như  cây đao hay kiếm. Các phương pháp sản xuất trên lần lượt được thay đổi và làm cho hoàn hảo hơn.
Một phát minh khác có tầm quan trọng về văn hoá ẩm thực cho loài người cả mấy ngàn năm sau này chính là “Rượu”. Nói về lịch sử phát minh ra rượu thì đa số cũng có thể đoán biết được. Do tình cờ vì muốn để dành trái cây trong các chum đất đóng kín, vài ngày sau lên men và tiết ra một chất lỏng có vị chua và đắng. Nhưng nếu để lâu thêm chút nữa cho rượu lên đúng độ, khi uống vào thì có vị cay nồng và làm cho “say” với cảm giác lâng lâng ngây dại, cuồng nhiệt và làm cho dễ ngủ, tạm thời quên những chuyện buồn hay không vui vừa xảy ra.
23.3   Đặc Tính Văn Hóa 
      Định Cư – Thần Linh  
Trong KNTH 2 này, các tổ chức chính trị hay tôn giáo đã có một vị thế chắc chắn và ổn định rõ rệt trong cộng đồng các quốc gia hay xã hội. Nhờ có phát minh ra chữ viết, nên vấn đề giáo dục hay truyền bá kinh nghiệm lại các thế hệ hậu sinh đã có thể thực hiện ở tầm vóc lớn quy mô và rất hữu hiệu vì được ghi chép lại khá đầy đủ.
Tuy vậy, tất cả những gì có được trong suốt chiều dài hơn mười ngàn năm lịch sử của cả hai nền văn minh Xích Đạo và Phi châu nói riêng, nhân loại nói chung, đã không thể xảy ra được nếu như không có sự xuất hiện hay ra đời của con sông Nile. Phải nói sông Nile là con sông đặc biệt nhất của cả thế giới, không những dài nhất mà còn có một đặc tính là có nhánh sông dài hơn 1000 km, chảy thẳng hướng dọc theo trục Nam-Bắc, từ gần đường xích đạo cho tới biển Địa Trung Hải.
Có thể nói nhánh sông Nile đặc biệt này đã đóng vai trò như một “sinh lộ” hay con đường sống còn cho nhân loại trong buổi sớm rạng đông của lịch sứ thế giới.
Dựa vào những sự kiện minh chứng nói trên cho thấy, các bộ tộc yếu kém hay bại trận trong KNTH 1, bỏ chạy lên hướng Bắc Phi dọc theo sông Nile. Một số đông đã định cư lại và sinh sống trên các bình nguyên mới phát sinh do phù sa của sông Nile tạo nên, để sau vài ngàn năm lập ra đế quốc Ai-Cập.
Sau khi lần lượt thâu tóm các tiểu quốc nhỏ, các “Ramseh” hay Hoàng đế cuả đế quốc Ai-Cập đã khởi binh thanh toán luôn các vương quốc yếu kém thuộc các nền văn minh cổ trước kia như Sumerian, Badarian, v.v, nhờ vào kỹ thuật tiến bộ, chế tạo ra các cổ xe Ngựạ có hai bánh (Chariot) dùng trong chiến trận.
Một sáng kiến quan trọng khác đã giúp phát triển các tổ chức tín ngưỡng hay tục lệ tôn thờ thần linh, với mục đích là để hổ trợ thêm sức mạnh tinh thần cho các thủ lảnh cai trị những bộ lạc đông dân, có lãnh thổ quá rộng lớn. Thật vậy, đã không có cách gì hay hơn cho các thủ lãnh bộ lạc là làm mọi người tin tưởng quyền uy của họ đã được ban phát và hổ trợ bởi những vị thần linh thiêng hay từ các đấng Tối Cao vô hình.
24-1   Văn Minh Trung Đông
- Đế Quốc La-Mã (119 AD)
Một sự giải thích cho nền văn minh chính có tên gọi là Trung-Đông.
Nhiều sử gia thường gọi là nền văn minh Địa-Trung-Hải, dành cho các quốc gia hay chư hầu có lãnh thổ hay điạ bàn hoạt động chung quanh vùng biển Địa-Trung-Hải (Mediteranian). Tuy nhiên, có hai lý do chính đáng người viết muốn gọi là Trung-Đông (thay vì là Địa-Trung-Hải).
Trong khi đế quốc Ai-Cập suy tàn, ngoài hai nền văn minh chính Hy-Lạp và La-Mã, còn có một số các nền văn minh khác mới nổi lên trong vùng Bắc Phi như Libya, Morocco, và về phía Đông thuộc khối các nước Á-Rập sau này như Saudi Arabia, Iraq, Iran, v.v. nhưng không nằm gần hay ngay sát bờ biển Địa Trung Hải.
Đa số các quốc gia vừa kể trên đều nằm trong vùng miền có tên gọi chung, theo quy ước sau này do Tổ chức Liên-Hiệp-Quốc đặt ra là Trung-Đông (Middle-East), cho đồng nhất và dễ phân biệt với các vùng miền khác được gọi theo danh xưng của các lục đia như Á châu, Âu châu, v.v.
Bộ Phận Sinh Lý- Tính Dục 
Liên hệ ngầm hay gián tiếp giữa biểu tượng và thực tế. Cụ thể như hai Kỷ Nguyên Tiến Hóa (KNTH) vừa qua, KNTH 1 tuy dùng biểu tượng là chân, nhưng thực tế lại liên hệ đến với những phương tiện khác dùng cho việc di chuyển. Cũng như khi nói đến biểu tượng Tay có liên hệ nhiều hơn những gì mà bàn tay được đụng chạm tới, v.v. Trong KNTH 3 này thuộc về phần thân dưới với biểu tượng chính là bộ phận sinh lý, tuy còn có nhiều ý nghĩa liên hệ gián tiếp khác, bao gồm luôn cả hai bộ phận cho ra chất thải cứng và nước tiểu.
Sau cùng, ý tưởng đầu tiên liên quan đến trí tuệ trong KNTH 3 này là phải được liên tưởng đến những ứng dụng trong lãnh vực Nghệ-Thuật hay Mỹ-Thuật.
Tại sao những vấn đề thuộc tính dục lại ảnh hưởng trực tiếp đến nghệ thuật hay mỹ thuật?  Câu trả lời đơn giản dễ hiểu là khi tìm kiếm người bạn tình, con người đều có những ước muốn giống nhau, muốn nhìn những góc cạnh hay hình ảnh nào cho mình cảm thấy thích thú và hứng khởi, hay ít ra là dễ chịu! Có thể đó chỉ là những gì cân đối và hài hoà cuả thiên nhiên phản ánh trên thân thể cuả con người, được cho là đẹp dưới cái nhìn của nghệ thuật và thẩm mỹ. Những ý tưởng đó được tích luỹ và làm cho tốt đẹp hơn theo dòng thời gian sau mỗi thế hệ, được lưu giữ lại qua những hình ảnh của nghệ thuật, những bức tượng đá nỗi danh như tượng Thần Vệ-Nử còn được chiêm ngưỡng với vẽ đẹp tự nhiên trải qua hơn hai ngàn năm.
 
Hệ quả cuả sự ham muốn tìm kiếm cảm giác thích thú và dễ chịu đó cũng đã cho con người có thói quen ích kỷ, muốn làm chủ nhân toàn diện, sở hữu luôn được đối tượng mãi mãi, giống như thời kỳ trước đó đúng một Nguyên Đại (Nguyên Đại VI, Kỷ Nguyên Tiến Hóa 3).  Chỉ có sự khác biệt lớn và đầy ấn tượng trong nguyên đại này chính là nhờ trí tuệ, con người đã phát triển và hoàn thành được ước muốn một cách dễ dàng hơn.
Bằng luật pháp và lễ nghi, các nhà thông thái hay vua chúa đã tìm cách đặt ra những luật lệ cùng những quy ước xã hội về hôn nhân, với mục đích để gìn giữ và bảo vệ quyền lợi tối thiểu cho người bạn tình hay bạn đời của mình. Dưới sự hậu thuẩn của các hoàng đế La Mã cũng như tôn giáo, các lễ nghi trịnh trọng cho đám cưới dưới sự chủ tọa và điều hành của các quan chức hành chánh địa phương hay các tu sĩ, đã bắt đầu xuất hiện và trở thành truyền thống tốt đẹp kéo dài mấy ngàn năm sau nầy.
 
Cũng chính vì những khó khăn và ràng buộc tinh thần của hôn nhân, nên gia đình cả hai bên Nam hay Nữ đã phải cân nhắc kỷ lưởng trước khi lấy quyết định. Xin nhắc lại trước đây, trong các thời đại của KNTH 1&2(17500 BC-2540 BC), hầu hết đa số chỉ biết có vấn đề “tình dục” giữa Nam Nữ, do nhu cầu sinh lý tự nhiên để duy trì nòi giống. Liên hệ giữa hai phái tính thường là liên hệ giữa chủ nhân và nô lệ, hay nhiều khi chỉ là kết quả cuả sự cưỡng bức hay mua bán của cha mẹ, do lòng ích kỷ tự nhiên cuả người Nam muốn sở hửu, làm chủ nhân suốt đời cuả người Nữ.
Trong hai KNTH vừa nói, phái nữ được coi như là của cải tài sản của người Nam. Người Nam hay chủ nhân có toàn quyền sinh sát, mua đi bán lại, vv. Do đó, ý nghĩa hôn nhân hay vợ chồng trong hai KNTH 1 và 2 hầu như chưa có hay mới chỉ là một khái niệm mơ hồ, và không được bảo vệ bằng luật lệ của bất kỳ nhà nước nào.
Cụ thể minh chứng là những quan niệm nói trên vẫn còn có thể tồn tại trong một số các nước Á châu hiện nay, như là một phong tục điạ phương.
24-2Những Phát Minh Chính
 
Phát minh quan trọng nhất mà văn minh Trung Đông đã để lại cho con người chính là tìm ra đặc tính  kỹ thuật làm xi măng, vẫn cỏn có nhu cầu xử dụng cho tới hiện nay. Thời đó, các chuyên gia xây dựng Hy-Lạp và La Mã đã biết dùng đá vôi nghiền ra thành bột, trộn vào thêm với đất cát, nước và chất Axít (Lime), để khoảng một vài ngày là đặc cứng lại như xi-măng hiện nay.
Một trùng hợp ngẩu nhiên khác chính là sự liên tưởng giữa bộ phận sinh lý và nhiệm vụ cho ra phần nước thải cuả con người, nếu đem so sánh với công việc xây dựng hệ thống các ống cống chứa chất thải ra cuả con người trong văn hóa La-Mã. Chính nhờ những phát minh tiến bộ trên đã giúp cho công dân sống tại La-Mã và các vùng lân cận sống khoẻ và sống thọ hơn, nhờ giữ được phần nào vệ sinh, tránh được khá nhiều các chứng bệnh truyền nhiễm.
Tương tự như ống cống nước thài, một phát minh khác có tính đột phá đã giúp La Mã trở thảnh đế quốc phát triển hùng mạnh bậc nhất trong thời kỳ này, chính là nhờ sáng kiến kỹ thuật xây dựng hệ thống dẫn nước từ sông về tới thành phố cho dân xài. Hệ thống dẫn nước này gồm có nhiều miếng đá xi măng đúc lõm ở giữa như cái máng xối, nối liền với nhau từ nguồn nước và dẫn đến các khu cư dân.
Cũng trong thời đại này, các chuyên gia La-Mã còn có thêm một số các sáng kiến phát minh ấn tượng khác như sau:
Hai bánh xe ngựa (Chariot) ở hai bên cùng quay đồng bộ giúp xe chạy mau và nhịp nhàng hơn, nhờ được nối liền nhau bằng một trục ngang kim loại, thay vì gắn vào riêng rẽ và quay độc lập với nhau.
Nhà cầu xí và phòng tắm công cộng giúp duy trì vệ sinh cá nhân và tránh được rất nhiều bệnh tật cho công dân La-Mã từ các bệnh truyền nhiễm lây lan qua cơ thể người mắc bệnh.
Dùng quân kỵ mã trong chiến tranh. Nhờ kỹ thuật này quân đội La-Mã đã chiếm được rất nhiều ưu thế trong các trận chiến. Trước đó, quân lính của các nước khác như Ai-Cập, Hy-Lạp, v.v, chỉ biết dùng ngựa kéo xe và bộ binh. Dù vậy, trong thời kỳ này, kỵ binh chỉ biết dùng đao để chặt chém hay dùng cây thương dài đâm vào đối thủ như trong các trận giác đấu La-Mã, chưa có khả năng muá kiếm hay bắn ra cung tên từ trên minh ngựa như kỵ binh Mông Cổ sau này.
Văn minh La Mã là nền văn minh cuối cùng và huy hoàng nhất trong một chuỗi thay thế các nền văn minh thuộc miền Trung Đông hay còn gọi tên khác là văn minh Ðịa-Trung-Hải
24-3Đặc Tính Văn Hóa
  Mỹ thuật – Hôn nhân 
 
Trong thời kỳ văn minh Trung Đông hay sau cùng hết là văn hóa La Mã, một cuộc cách mạng về giới tính và tình dục đã xảy ra. Ngoài những ràng buộc vầ hôn nhân, vai trò và thiên chức làm vợ rồi làm mẹ đã được đề cao và vinh danh qua con đường truyền đạo giáo lý cuả các tín đồ Thiên Chúa Giáo. Nhờ vậy gíá trị hay vị trí cuả người Nữ được nâng cao lên trong xã hội khá nhiều, tuy rằng vẫn chưa có được quyền bình đẳng Nam Nữ nếu so với tiêu chuẩn của hai ngàn năm sau.  Đức Mẹ Maria đã được đưa ra như một biểu tượng của thiêng liêng hay sư tôn kính cho người Nữ trong thời kỳ Thiên Chúa Giáo La Mã. Đồng thời và cũng là ngẫu nhiên trùng hợp xảy ra trong các nền văn minh Á châu, Phật giáo cũng đã đưa ra biểu tượng của Phật Bà Quan Thế Âm cho phái Nữ.
Ðó cũng chính là những điểm son cuả nền văn minh Ðiạ Trung Hải-Trung Đông, bao gồm luôn các nước Bắc Phi Châu. Nổi bật nhất vẫn là hai nền văn minh Hy-lạp (Greek) và La-Mã (Roman). Nhưng taị sao thời đại KNTH 3 này lại ám chỉ nhiều về bộ phận sinh dục? Đơn giản là nếu không có sự khuyến khích về tình dục và “tôn sùng” bộ phận sinh lý của Nam Nữ thì có thể các nền văn minh của nhân loại đã bị chậm lại rất nhiều, nhất là Âu châu. Một chi tiết khác cần để ý tới là tuổi thọ của con người còn khá ngắn trong thời đại này. Khoảng chừng trong vòng trên 30 tuổi, và ai sống tới 40 là đã quá tuổi thọ rồi.
Một yếu tố tâm lý khác, khi công khai phô bày nét đẹp của Nam Nữ đã tạo ra tâm lý coi trọng và chăm sóc nhiều hơn cho bô phận sinh dục và nhất là giữ cho sạch sẽ vệ sinh hơn. Từ đó, sinh hoạt tình dục đã được khuyến khích rất nhiều trong các thành phố chính La Mã, qua các buổi truy hoan tập thể, một yếu tố giúp cho dân số gia tăng gấp bội phần. Các tượng nỗi danh trong nền văn minh Trung Đông như Thần Vệ Nữ (Venus) hay Thần Ái Tình phô bày ra bộ phận sinh dục của Nam Nữ đều được chiêm ngưỡng hay tôn thờ trong các nền văn minh chịu ảnh hưởng kế thừa sau này như Ấn Độ, đã là những biểu tượng minh chứng cụ thể nhất trong KNTH 3 này.
 
Nhân đây cũng nên nói đến những nét đặc thù của văn hóa Ấn Độ.
Có thể thấy ngay là Ấn Độ cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn minh Trung-Đông hay La-Mã, không chỉ về những câu chuyện tình dục qua triết lý “Phồn Thực”, mà còn đến cả kiến trúc và điêu khắc. Cụ thể rõ nhất có thể so sánh là viện bảo tàng tình dục hay đền Lakshmana ở Ấn Độ, một di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận. Ngoài những hình dáng về kiến trúc trụ cột nói chung, các hình tượng điêu khắc gắn liền trên các bức tường cũng có những nét hao hao rất giống với nghệ thuật kiến trúc của La Mã. Nhận xét khách quan cho thấy cường độ về tính dục của các hình tượng được phô bày công khai ở đây đã đạt đến mức độ cao nhất trên thế giới, kể cả những tượng đá hay tranh vẽ nổi tiếng tại Rome.
Lý giải sự việc trên cho thấy, khi nền văn minh La Mã bắt đầu đi xuống dần thì ảnh hưởng văn hoá tính dục cũng đã lan tràn đến Ấn Độ và bùng phát lên mạnh nhất, trước khi đi vào suy tàn. Sẽ không ngạc nhiên và khó hiểu khi lịch sử cho thấy cả ba tôn giáo lớn đều cấm kỵ chuyện tà dâm, lại xuất hiện ngay trên  mãnh đất có nền văn minh chú trọng nhiều về vấn đề tình dục. Có phải đó là một phản ứng tự nhiên của con người hay một cái “Phanh Hãm” Trời cho để giảm bớt những hành vi tình dục quá độ của con người(?)
Ngoài ra, nền văn minh La-Mã cũng đã có sáng kiến tiên phong trong việc hợp pháp hoá hành vi mãi dâm, để vừa giải quyết công việc làm cho phái Nữ cùng vấn nạn trai thiếu gái thừa do hậu quả của chiến tranh, vừa được thu thuế vào cho công quỹ của nhà nước. Dư âm hay ảnh hưởng lợi hại của sáng kiến đó vẫn còn là một vấn đề tranh cãi kéo dài cho tới hiện nay.
 
25-1  Văn Minh Á Châu
 
Đế Quốc Nguyên-Mông (1279 AD)
 
Thân Dưới – Bộ Tiêu Hoá - Bụng
 
Biểu tượng cho Kỷ Nguyên Tiến Hóa (KNTH) 4 này là cái Bụng hay Dạ Dầy và các bộ phận tiêu hoá, mang ý nghĩa thực tế là chuyện ăn uống cuả con người, hay nói chung là vấn đề dinh dưỡng theo ngôn ngữ khoa học. 
Như đã trình bày trong chương mở đầu, phần đông dân Á châu nói chung hay Trung Hoa nói riêng là những chuyên gia nấu ăn đầu tiên trên thế giới. Cụ thể như xuất xứ của các món gia vị chính dùng để nấu ăn, làm tăng thêm sự ngon miệng hay thích thú cho mùi vị khi ăn như tỏi, hành, tiêu, quế cay đều có cùng nguồn gốc xuất xứ từ khu vực châu Á. Kể từ thời đại này, con người không chỉ muốn ăn no mà còn đòi hỏi được ăn ngon nữa. Từ đó lại thêm nhu cầu cần có những chuyên viên nấu ăn hay còn gọi là “Ðầu Bếp”, nghĩa là ngay cả khi ăn uống con người vẫn phải cần xử dụng đến trí tuệ nếu muốn ăn cho ngon.
 
Khi đế quốc La Mã đang thống trị Âu châu và trên đà chinh phục một phần Trung-Nam Á châu kể cả Ấn Độ, thì Trung hoa chỉ là một nước còn non trẻ, mới vừa được lập quốc và thống nhất dưới sự cai quản của các Hoàng đế thuộc giòng dõi Hán-Tộc. Những thành quả về thương mại hay khoa học đạt được ban đầu và đầy hứa hẹn đó của nhà Hán không phải là không có tiền lệ hay ngay cả được lập lại vể sau này. Trước đó mấy trăm năm, các vùng đất lành chim đậu của Trung Hoa thời bấy giở còn gọi là Trung Nguyên, sau thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, đã giang tay rộng mở chiêu mộ anh hùng hào kiệt, thu nạp nhân tài của các vùng rộng lớn thuộc miền Trung, Nam Á châu. Các nhà khoa học gốc Trung Đông qua nghiên cứu hóa chất hay tìm thuốc Trường sinh cho Tần Thuỳ Hoàng, các tu sĩ Phật giáo đi truyền đạo từ các xứ Nam Á hay các thương gia tài giỏi khôn khéo chạy trốn chiến tranh cướp bóc theo con đường tơ luạ, vv, đã giúp đưa dần nước Trung Hoa lên tột đỉnh địa vị của một cường quốc, hơn cả ngàn năm sau đó.
 Trở lại từ đầu câu chuyện, một khi đất nước Trung hoa bắt đầu được sung túc và thịnh vượng rồi thì cái ăn cái mặc phải là câu chuyện mở đầu cho các sự kiện chính.
Các cựu đế quốc Hy Lạp, La Mã có thể tôn thờ các Thần Lửa, Thần Mặt Trời hay Thần Tình Dục, nhưng dân Trung Hoa lại thực tế hơn khi đa số lại chọn ông Táo, ông Điạ hay Thần “Bếp” để thờ.
Triết lý của Trung Hoa trong việc thờ cúng ông Táo cũng khá đơn giản. Thờ ông Táo thì không những có ăn mà còn được cho ăn ngon nữa là có “Phúc”. Ăn ngon thì ăn nhiều nên có sức khỏe mạnh để làm việc, tiền của sẽ vô như nước là có “Lộc”.  Giàu sang, ăn no mặc đủ và có sức khỏe thì hy vọng được sống lâu, kéo dài tuổi “Thọ”. Sau cùng, nếu mỗi người dân đều có được Phúc-Lộc-Thọ  thì tự nhiên sẽ làm cho dân giâu nước mạnh, đất nước phát triển và thịnh vượng. 
Không những vậy, chính các dân tộc châu Á đã phát minh và cải tiến rất nhiều kỹ thuật nông nghiệp trong cả hai lãnh vực chăn nuôi và trồng trọt, làm gia tăng sản lượng ngũ cốc đáng kể. Lịch sử ghi nhận Trung Quốc là nước thoát khỏi nạn đói kém trên thế giới trong thiên niên kỷ I đầu tiên dưới thời kỳ Thịnh Đường. Cụ thể minh chứng chính là nhờ vậy, dân số cuả thế giới đã tăng lên rất nhiều lần trong thiên niên kỷ số I này để duy trì sự hiện diện cuả con người, và cũng để giải thích lý do tại sao Trung hoa ngày nay lại có dân số đông nhất trên quả địa cầu.
25.2   Những Phát Minh Chính 
Chúng ta đã từng nghe nói nhiều về những phát minh có tính cách thay đổi cả thế giới của Trung Hoa, đại diện cho các nền văn minh châu Á thời bấy giờ, như la bàn, bàn tính (Abacus), giấy, tơ lụa, thuốc súng, vv. Nhưng phát minh quan trọng nhất, không những đã đưa Trung Hoa lên địa vị  cường quốc với nền văn minh số 1 thời bấy giờ, mà còn giúp cho nột số dân tộc láng giềng châu Á, và gần cả ngàn năm sau là Âu châu, tránh khỏi nạn đói, chính là nhờ phát minh ra kỹ thuật canh tác mới, sáng chế ra cái cày, cái bừa và dùng sức kéo của trâu bò. Một phát minh mà hơn cả hai ngàn năm sau vẫn còn được xử dụng rất hiệu quả tại nhiều nơi nghèo đói và chậm tiến trên thế giới.
Một trong các phát minh quan trọng khác về ẩm thực đã làm thay đổi cuộc diện thế giới hay có thể coi như lả một cuộc “Cách mạng về thực phẩm” chính là kỹ thuật sấy khô gạo và ướp khô mặn được hầu hết các loại thịt để dành. Nhờ có lương khô để dành, đã giúp cho những người dân nghèo khỏi phải bị chết đói trong các mùa lũ lụt hay bão tuyết kéo dài quá lâu; Các đoàn người lữ hành đi buôn bán xa xôi trên những con đường tơ lụa dài ngày, được thuận lợi hơn để phát triển kinh tế; Các đoàn chiến binh có thể đi chiến đấu xa xôi hơn, v.v và v.v. Chỉ mãi sau này khi Âu châu phát minh ra kỹ thuật đóng đồ hộp mới có khả năng đánh bại ưu thế của lương khô. Nhưng đó cũng là một sự trớ trêu của lịch sử, vì chính Âu châu sau này nhờ kỹ thuật làm lương khô, đã có thể dùng tàu chiến vượt đại dương xa xôi cả chục ngàn dậm, đến để chinh phục và thống trị lại các xứ Á châu chậm tiến lạc hậu.
Nói chung, đa số những phát minh quan trọng và đáng kế thừa từ  nền văn minh Trung Hoa đều tập trung nhiều vào phương diện ẩm thực. Ngoài ra, những phát minh khác cũng đáng được nói đến vào thời kỳ cực điểm của văn minh Nguyên-Mông như là kỹ thuật làm giấy và in ấn. Chính nhờ vào kỹ thuật làm giấy và in ấn các loại sách vở học tập, nền giáo dục của Trung Hoa đã có cơ hội phát triển khá tốt đẹp và ảnh hưởng nhiều đến với các nước láng giềng, giúp duy trì được vị thế của một đế quốc Trung Hoa rộng lớn và giàu mạnh. Kỹ thuật dùng trong chiến tranh như phát minh, chế tạo ra các loại mìn bẫy hay địa lôi, súng hoả pháo và súng thần công.
25.3   Đặc Tính Văn Hóa     
Ẩm Thực – Sức Khoẻ 
Điều khá gây ấn tượng là ngay cả trong lãnh vực văn hoá của Châu Á nói chung, Trung hoa nói riêng, cũng đều chú trọng nhiều vào cái dạ dày và bộ đồ lòng! Đầu tiên phải nói đến tín ngưỡng hay tôn giáo. Theo nhận xét khách quan, đa số các cửa tiệm của người buôn bán gốc Trung Hoa trên thế giới, đều có đặt trong nhà một cái bàn thờ Ông Địa hay Thần Tài, có nụ cưởi thật tươi với cái bụng to tròn được phô bày ra ngoài một cách công khai, ám chỉ sự may mắn cho tiền tài và phúc lộc như giải thích trước đây.
Hầu hết trong tất cà các dịp lễ hội hay cúng tế thần linh, cha mẹ và người quá cố, giàu hay nghèo không cần biết, đều phải có thức ăn và nước uống đặt trên bàn thờ. Minh chứng cho thấy văn hoá châu Á kể luôn Trung Hoa nói chung đều chú trọng nhiều vào cái Bụng hay chuyện ăn uống. Ngạn ngữ của  Trung Hoa có câu nói gần như là một chân lý: “ Dĩ thực vi tiên”.
Lý giải khá thú vị ở đây chính là nhờ dân Trung Hoa đã phát minh ra và biết cách dùng lò bếp đầu tiên trên thế giới, cũng như đã học cách nấu ăn cho ngon miệng. Do đó, qua hàng chục thế hệ di truyền, các thần kinh cảm giác đã được phát triển và tập trung lại rất nhiều ở vùng bụng hay dạ dầy và đường ruột. Hệ quả là trong các ngôn từ cuả dân Á châu hay Trung hoa nói riêng, khi muốn bày tỏ sự xúc động tình cảm đều có khá nhiều từ ngữ ám chỉ về bụng dạ hay đường ruột cho những câu thành ngữ.  Cụ thể trong tiếng Việt, các từ nói về cảm giác thất bại hay đau khổ đều có nghĩa liên hệ với bụng, như: “Bụng làm Dạ chịu”; “Làm đau Lòng ...”, v.v.
Không gì cụ thể minh chứng rõ nhất là chuyện tình cảm của dân Á Châu. Ngay cả những ngôn từ chỉ riêng về tình cảm cũng đã có chứa tên các bộ phận thuộc về bụng như chúng ta thường nói: “Lòng Mẹ bao la như biển ..;“Thương ai đứt Ruột..”, “Buồn thúi ruột”,v.v. Nếu gặp phải những xúc động mạnh về tâm lý, đa số dân Á châu thường bị chấn động nhiều đến hệ thần kinh truyền dẫn mệnh lệnh xuống bao tử hay đường ruột. Kết quả là làm cho nạn nhân chán ăn hay ăn không tiêu vì bao tử không chịu làm việc bình thường. Bởi vậy nên trong văn hóa xưa của người dân Trung quốc khi gặp nhau thường dùng câu chào hỏi nhau “Đã ăn chưa?” thay vì là “Mạnh khoẻ luôn?” như sau này.
Trong các lãnh vực Y học và Võ thuật cũng vậy, các y sĩ cổ truyền châu Á thường có những toa thuốc gia truyền rất hay chuyên trị về Bụng hay đường Ruột. Các võ sĩ luyện nội công hay các thiền sư Yoga, khi thở hay luyện khí công đều tập trung ý tưởng vào một chổ duy nhất nằm ngay dưới rún gọi là “Đan Điền”. Khi chọn con đường giải thoát cuộc đời hay tự vận, các hiệp sĩ Trung Quốc hay Nhật Bản thời còn vua chuá khi xưa thường tự vận chết bằng cách dùng gươm dao đâm thẳng vào bụng hay rạch bụng móc ruột cho lòi ra để chứng tỏ dũng khí!
Điều đáng chú ý và thắc mắc là cho đến hiện tại này, thống kê y khoa vẫn còn cho thấy các giống dân châu Á, bao gồm cả Nhật, Hàn hay Việt thường chết bởi các chứng bệnh trong Bụng hay thuộc về đường Ruột nhiều hơn bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới, nhất là vấn đề ung thư Dạ Dày! 
Nền văn minh Á châu hay Trung Quốc đã kế thừa được một số các tiến bộ về kỹ thuật và khoa học của văn minh Trung Đông qua con đường tơ luạ, trở thành quốc gia giàu mạnh nhất thế giới hơn một ngàn năm, để rồi chuyển giao lại cho các nền văn minh khác ở Âu châu, không qua lại trên con đường Tơ Lụa cũ, mà bằng những con đường khai phá mới theo vó ngựa các đoàn kỵ mã của đế quốc Nguyên-Mông. 
26-1  Văn Minh Âu Châu
 
Đế Quốc Anh (*1919AD)
 
Thân Trên – Bộ Tuần Hoàn - Trái Tim
Kiến thức về y khoa thông thường cho thấy trong cơ thể nội tạng của con người có hai bộ phận làm việc nhiều nhất: Dạ dày và trái Tim. Nếu so sánh một cách chi tiết hơn, dạ dày có thể vì lý do nào đó ngưng làm việc môt vài phút hay cả giờ cũng không sao, nhưng nếu trái tim mà ngưng làm việc chừng vài giây đồng hồ thôi, thì cũng đủ để gây ra nguy hiểm hay đe dọa cho tính mạng. Dưới góc nhìn y khoa thực nghiệm, trái tim đóng vai trò cần thiết và nhạy cảm nhất trong cơ thể, và là biểu tượng chính của văn hoá Âu Châu.
Có một sự liên tưởng và có thể chắc chắn được một điều, văn minh Âu Châu là nền văn minh náo động và cuồng nhiệt nhất trong tất cà các nền văn minh khác trên thế giới, kể cả Mỹ. Biểu tượng văn hoá của thể xác con người cho Kỷ Nguyên Tiến Hóa (KNTH) thứ 5 này là “Trái Tim” hay lồng ngực, với sự năng động như nhịp đập của trái tim, mang ý nghĩa tự nhiên về cảm tính hay nói chung là những vấn đề thuộc về xúc cảm và tính đam mê của con người, theo ngôn ngữ Triết học.
 
Chúng ta vẫn thường nghe người dân Âu Châu nói là sẳn sàng làm việc gì đỏ theo tiếng gọi của trái tim, nghĩa là làm việc gì đó hết sức mình. Bề mặt tốt của vấn đề chính là bất cứ công việc nào cũng có hy vọng đưa tới thành công nhờ có sự cố gắng tối đa.
Nhưng đồng thời ngược lại, cũng dễ dàng đưa ra tình trạng đam mê hay tham vọng cuồng nhiệt, và đó cũng là những nét văn hoá chung của Âu châu. Người dân gốc Âu châu khi muốn bày tỏ sự biết ơn ai thì nói là xin khắc ghi vào tận đáy tim, trong khi dân Á châu lại xin khắc ghi vào tận đáy lòng.
Nói chung, nền văn minh Âu châu đã được nuôi dưỡng và vươn lên nhờ có được hai yếu tố chính: Thứ nhất là những cơ sở công quyền hay tổ chức văn hóa chính trị, coi như là kế thừa văn hoá của đế quốc La Mã còn sót lại trong thiên niên kỷ I . Thứ hai là nhờ hệ thống giáo luật và giáo lý Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo qua sự quản lý chặt chẻ từ Vatican tại Rome. Có thể nói thêm ở đây mà không sợ sai lầm là Thiên Chúa giáo đã đóng vai trò nồng cốt hay nền móng chính để xây dựng lên ngôi nhà văn hóa Âu Châu.
Nền văn minh Âu châu đã thật sự khởi sắc từ văn minh Tây Ban Nha (Spanish), tiến dần lên Nam Âu và vể hướng Bắc Âu, lan qua tận Đông Âu, rồi sau cùng quy tụ về lại Tây Âu. Những thành tích sáng chói về Khoa Học hay Kỹ Thuật của Liên-Xô hay nước Nga sau này, có thể được mô tả là “Dư Âm” hay những âm hưởng vang vọng lại cuả văn minh Âu Châu, giống như trường hợp phát triển thần kỳ của Nhật trong thế kỷ trước của Á Châu.
26.2   Những Phát Minh Chính
 
Qua nghiên cứu lịch sử phát triển khoa học và kỹ thuật của các nền văn minh chính, có một nhận xét khá ấn tượng và rất thú vị cho thấy là đa số các phát minh khoa học đều có sự liên hệ gián tiếp với biểu tượng văn hoá của nền văn minh chính hay các bộ phận nội tạng trong cơ thể con người về diện y học. Từ đó, nếu xét những phát minh có liên hệ của trái tim tới nhiệm vụ nào hay với bộ phận nào trong cơ thể con người, thì các phát minh chính về kỹ thuật hay khoa học của Âu châu đều xảy ra gần giống như vậy. Cụ thể như sau:
Đồng hồ cơ động. Nếu so sánh đồng hồ cơ động với nhịp đập của trái tim thì thấy không khác gì mấy so với vòng xoay hay nhịp đánh của quả lắc đồng hồ. Dù đa số đã thấy đồng hồ quá quen thuộc đến độ nhàm chán, nhưng nếu xét kỷ thì đó chính là một trong những phát minh hữu ích và tiện dụng lâu dài nhất trong lịch sử nhân loại.
Thật sự đồng hồ là một trong những dụng cụ được nhiều người xử dụng nhất, có mặt trong nhiều lãnh vực nhất, và là một trong những sản phẩm có đời sống kéo dàì và lâu đời nhất trên trái đất.
Máy hơi nước; Máy nổ: Cũng tương tự như đồng hồ quả lắc nói trên. Động cơ chính cho sự chuyển động là sức đẩy từ hơi nước hay sự nổ đánh vào cái đầu xi-lanh để giúp cho toàn hệ thống hay guồng máy chạy và làm việc, giống tương tự như nhịp đập của trái tim, đẩy máu đi khắp nơi trong cơ thể.
Hãy liên tưởng đến cuộc cách mạng dân chủ lần đầu tiên của Pháp đã xảy ra rất ồn ào, manh động và náo nhiệt không khác gì tiếng động hay âm thanh phát ra của các động cơ chạy máy. Nhiên liệu có được trong các cuộc cách mạng chính là do nhờ niềm tin hay nhiệt huyết của những người dân nuốn có tự do dân chủ. Thêm vào, những sáng kiến cho các lễ nghi truyền thống như lễ nhậm chức hay lời tuyên thệ, v.v.,dùng  để tạo ra thêm sự gắn bó và niềm tin của cá nhân với tổ chức hay đảng phái, đều có nguồn gốc hay điểm xuất phát từ những trái tim nồng nhiệt và lý tưởng bên Âu châu.
Điện năng: Đây có thể được coi như là một phát minh chính để giúp đưa Âu châu vượt lên đỉnh cao của khoa học, qua mặt Á Châu hay Trung Hoa thời bấy giờ. Một sự ngẫu nhiên hay tình cờ trùng hợp, là chúng ta đều biết trong mỗi quả tim của các loài động vật, đều phài có môt cái “Nguồn Phát Điện”  (Pace Maker)
tự nhiên, dùng để phát ra dòng điện kích thích trái tim đập nhịp hay co thắt và bơm máu chạy ra khắp nơi trong toàn thân thể.
Xe Lửa và hệ thống chuyên chở  công cộng: Nhiêm vụ hay công dụng của các đoàn xe lửa chuyên chở hàng hóa và con người ra khắp mọi phương hướng, cũng giống như là những dòng máu chảy luân lưu từ trái tim, không những mang theo chất bổ dưỡng để nuôi sống các loại tế bào trong cơ thể, mà còn mang theo các đội binh bạch cầu ra tận biên giới để chiến đấu với vi trùng, bảo vệ cho thân thể và sự sống. 
Chính nhờ phương tiện giao thông hữu hiệu và nhanh chóng này mà hàng hoá di chuyển được thuận lợi, kinh tế phát triển vượt mức, nên Âu châu đã trở thành nền văn minh đứng đầu và lãnh đạo thế giới trong hai thế kỷ 18 &19.
Trong thời kỳ thuộc KNTH 5 này, các nhà thám hiểm Âu châu cũng đã thành công, khám phá và phát triển ra thêm hai lục địa cuối cùng là Mỹ châu và Úc châu, hoàn thành xong bản đồ toàn diện cho trái đất.
Tưởng cũng nên nhắc lại đây một chi tiết lịch sử khác quan trọng như sau: Khám phá ra châu Mỹ và châu Úc trước tiên không phải là dân Âu châu, mà là do các thổ dân đến từ các vùng Á châu băng qua vùng vịnh biển Bering gần Alaska đến Mỹ châu, hay từ các bán đảo Nam Dương và Mã-Lai qua Úc châu, cách đây khoảng vài ngàn năm hay gần hơn. Tuy nhiên, công lớn của Âu châu chính là biết cách khai thác và phát triển thành những mãnh đất hứa hẹn, giàu có và cũng là nơi chốn khai sinh ra các nền văn minh kế thừa lớn nhất của lịch sử con người.
26.3   Đặc Tính Văn Hóa
Ái Tình - Tín Điều - Khoa Học 
Bên cạnh những đam mê hay nghiên cứu rất đáng tôn trọng trong nhiều phương diện thuộc về thi ca nghệ thuật hay khoa học kỹ thuật tiến bộ, văn hoá Âu châu cũng còn có những ảnh hưởng nghiêm trọng khác về mặt tình cảm, nhất là chuyện tình ái của Nam Nữ. Nếu như văn hóa Trung Hoa trước đó rất khắc khe và bảo thủ trong chuyện tình cảm trai gái, thì Âu Châu có phần cởi mở và phóng túng hơn khá nhiều, ít nhất là so sánh trên hai lãnh vực văn chương và nghệ thuật. Cụ thể là so sánh cách hành xử  cuả các nhân vật chính trong hai câu chuyện tình sử “Trương Chi- Mỵ Nương” với  “Romeo và Julliet”.
Nhưng ấn tượng rõ nét nhất là ngày lễ Tình Yêu (Valentine), đủ để nói lên sức mạnh khác thường của trái tim yêu thương trong văn hoá Âu Châu.
Tôn giáo: Tuy Á châu đóng vai trò sinh ra những thánh địa của các tôn giáo lớn, nhưng Âu châu mới chính là vùng đất thiêng lý tưởng để phát triển mạnh về tôn giáo, dựa trên sự kiện là đã có khá nhiểu những trái tim hăng say và đam mê với những giáo điều đã tin theo. Cụ thể như đã từng xày ra trong quá khứ, tuy vẫn có những xung đột về tôn giáo xảy ra khắp nơi trên thế giới, nhưng các xung đột đẩm máu nhất hầu hết đều xảy ra tại Âu châu. Dĩ nhiên, hệ quả tích cực là chính nhờ vậy mà Âu châu có thể vận động và khai thác được sức mạnh của toàn thể nhân dân trong cộng đồng xã hội mỗi khi có nhu cầu cần thiết.
Đặc điểm văn hoá của nền văn minh Âu châu còn nhờ vào một yếu tố tich cực khác là tổ chức giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã, mà người Việt quen gọi là Công Giáo. Chính vì  nhờ có hệ thống tổ chức tinh thần mạnh mẽ dưới sự quản trị của toà thánh Vatican trong thiên niên kỷ I, đã giúp cho dân Âu châu chống trả và tránh khòi bị xâm lăng toàn diện bởi cả hai làn sóng văn minh Hổi Giáo và các đạo quân Mông Cổ dũng mãnh. Kế tiếp về sau này trong hai thế kỷ 14 và 15, cũng chính nhờ các đạo quân Thập Tự Chinh mà Châu Âu đã có thể đứng vững và tiến mạnh vào thời kỳ “Khai Phá”, tìm kíếm các vùng đất mới để làm giàu nhờ khai thác tài nguyên và làm chủ các thuộc địa.
Chính Trị:  Những nhà hoạt động chính trị xã hội bên Âu châu đã tiên phong đưa ra khái niệm về dân chù và nhân quyền. Để hậu thuẩn cho các quan niệm hay ý tưởng nói trên, các hình thức về tổ chức dân sự như hội đoàn hay đảng phái chính trị đã được thành lập và sinh ra đời. Đó là những thành quả văn minh rất xứng đáng được ca tụng và vinh danh Âu châu. Hệ quả ắt có là điều kiện và luật lệ hay tín điều đã được khai sinh nhằm kết chặt các thành viên cùng chung một lý tưởng lại với nhau.
Cụ thể thí dụ như hai từ ái quốc đầy tính lãng mạn và trừu tượng chỉ có thể xuất phát từ Âu châu, trong khi Á châu không hề có trước đó. Có một khác biệt lớn khi kêu gọi lòng dân yêu nước thay vì lòng dân trung thành tuyệt đối với Vua Chúa. Điểm tiêu cực ở đây đã xảy ra khi tập hợp của các sức mạnh tổng hợp nhân dân nói trên được giao phó cho sự sai lầm của một vài cá nhân có quá nhiều tham vọng quyết định.
27-1Văn Minh Mỹ Châu
Cường Quốc Mỹ - Mễ – Tây - Á (2230 AD)
Tai - Miệng – Âm Thanh – Nghe - Nói   
Ngay thời điểm này, chúng ta đang sống với nền văn minh Mỹ châu, trong thời kỳ của KNTH 6 thuộc Nguyên-Đại 7, một kỷ nguyên có nhiều sự thay đổi ngoạn mục và thú vị mà đa số chúng ta vừa mới trải nghiệm qua hay sẽ tiếp thu trong tương lai. Tất nhiên, xin được lập lại là người viết chỉ muốn nhấn mạnh đến các phát minh về khoa học và kỹ thuật chính yếu, đã hay đang tạo ra những thay đổi quan trọng đến mô hình tiến hóa chung của loài người, hơn là muốn đi sâu vào các chi tiết lịch sử nhân văn quá phức tạp có tính cách hàn-lâm học-thuật.
Qua kinh nghiệm so sánh với các nền văn minh trước đây cho thấy, luôn luôn có sự tiến bộ hay thay đổi tốt đẹp hơn, giữa một nền văn minh trong quá khứ và hiện tại, nhất là về phương diện khoa học và kỹ thuật. Nền văn minh hiện tại thường đóng vai trò là bậc thầy trong các áp dụng thực tế cho những phát minh khoa học hay kỹ thuật của các nền văn minh tiền nhiệm trong quá khứ trước dó, nhưng đồng thời cũng là người học trò khiêm tốn cần phải nghiên cứu và học hỏi thêm cho các phát minh về khoa học và kỹ thuật trong tương lai.
Cụ thể như Âu châu đã là bậc thầy trong việc xử dụng thuốc súng để làm ra các loại vũ khí chiến tranh, hay trên các bàn tiệc ăn uống với lối chế biến và trình bày thức ăn rất chu đáo, cầu kỳ và nghệ thuật ( Nói một cách ví von để so sánh là người Trung Hoa nấu ăn theo nhu cầu của cái bụng, trong khi người Âu châu nấu ăn theo nhu cầu của trái tim!). Nhưng đồng thời ngược lại, nếu đem so sánh về kỹ thuật âm thanh hay các phim ảnh ca hát của Âu châu với Mỹ châu sau này thì chẳng có gì đáng nói, trừ một số phát minh ban đầu như loa phóng thanh hay các máy hát đĩa nhựa quay tay.
Nhận xét tổng thể nền văn minh Mỹ châu cho thấy, những phát minh khoa học kỹ thuật và tiến bộ phát triển thường liên quan nhiều đến hai bộ phận chính trên cơ thể con người là “Tai” và “Miệng”. Tai nghe, miệng dùng để ăn, nói hay ca hát. Đúng là như vậy rồi, nhưng chắc sẽ còn thiếu sỏt nhiều nếu không nói tới những chương trình nói chuyện với chủ đề hay các buổi diễn xuất vể ca hát trên màn ành truyền hình. Tóm lại, ngoài hai bộ phận chính là Tai hay Miêng đều liên hệ đến âm thanh, mang ý nghĩa tự nhiên về ngôn ngữ tiếng nói hay nói chung là âm nhạc, KNTH 6 của Mỹ châu còn chú trọng phát triển các áp dụng về tự động hóa như Rôbô hay máy tính, nhằm giải thoát dần những công việc làm nặng nhọc và nhàm chán của tay chân. Đặc điểm riêng trong suốt thời gian của KNTH 6 này, sự di chuyển hay những công việc đòi hỏi sức lực của hai chân sẽ được giải thoát và giảm dần cho đến khi không còn có nhu cầu để dùng nhiều nữa.
27.2   Phát Minh Chính   
Không phải là tình cờ hay ngẩu nhiên mà đa số những phát minh khoa học kỹ thuật của nền văn minh Mỹ châu, cho đến thời điểm này, đều thuộc về việc xử dụng gián tiếp hay trực tiếp hai bộ phận chính trong cơ thể con người là Tai và Miệng, gồm có:
Điện Thoại: Có thể được coi như đây là phát súng lệnh mở đầu cho cuộc cách mạng thông tin hay còn có thể coi là biểu tượng tiên phong cho sức sáng tạo phong phú của văn minh Mỹ châu so với các nền văn minh trước đây.
Vô Tuyến Truyền Thanh hay Radio: 
Giống như Âu châu đã tìm được nguồn Điện và phát minh ra sóng từ, khi phát triển và khai thác được kỹ thuật phát sóng truyền âm thanh cho Radio, nền văn minh Mỹ châu đã đi trên những đôi hia 7 dậm, chính thức vượt qua  mặt được Âu châu về mặt khoa học và kỹ thuật. Không chỉ có vậy, nước Mỹ đã khởi đầu đi tiên phong trong lãnh vực thông tin đại chúng khi có những tổng thống Mỹ đã tiên phong khai thác, dùng đến Radio hay Tivi để nói chuyện với toàn thể nhân dân trong nước mỗi khi có những sự kiện hay thông tin quan trọng xảy ra.
Tivi và Phim Ảnh. Một phát minh rất đáng hãnh diện cho nền khoa học và kỹ thuật của nước Mỹ trong thế kỹ 20 vừa qua. Nhưng nền tảng chính của Tivi vẫn phải dựa trên âm thanh hay tiếng nói. Không có âm thanh đi cùng thì màn ảnh Tivi sẽ mất hết công dụng thực tế và ý nghĩa của nó. Không có gì thực tế cho bằng hình thức quảng cáo kinh doanh hay tuyên truyền theo kiểu “Tai nghe, Mắt thấy”.
Đàn Điện &Âm Thanh nhân tạo. Nhiều người nghĩ đó chỉ là những sáng kiến tầm thường, không có gì đáng phải kể ra. Nhưng nếu không có đàn điện thì chắc sẽ không có những buổi trình diễn ngoài trời cho đám đông mấy chục ngàn người, không có những dòng nhạc kích động não bộ của người nghe như Rock&Roll, R&B, không có Elvis, Beatles, Michael Jackson, vv. Đã có nhiều thí nghiệm thực tế cho thấy, những con bò sữa trong các trang trại chăn nuôi, nếu được cho nghe nhạc thường xuyên thì sẽ mau lớn, khoẻ mạnh và cho ra nhiều sữa hơn. Lịch sử cũng cho thấy là các nền văn minh lớn luôn luôn để lại cho nhân loại một lối thưởng thức và chơi âm nhạc độc đáo của riêng nó.
Dụng cụ đo lường và tìm kiếm bằng sóng Âm. Nói chung, có thể hiện nay nước Mỹ đang đóng vai trò bậc thầy trong các nghiên cứu xử dụng hay điều hành và chế ngự sóng âm thanh. Tất cả các phát minh về âm thanh nhân tạo như sóng Sonar được áp dụng rộng rãi trong rất nhiều lãnh vực dưới nước như: Phát hiện đá ngầm, theo dõi tàu, hướng dẫn thuỷ lôi, thám sát đáy biển, tìm kiếm cá cho ngư dân, v.v. 
Máy Vi Tính; Điện Thoại di động. Giống như tivi, tuy không trực tiếp liên hệ với Tai-Miệng, nhưng là một phương tiện quan trọng nhất để mang tới cho con người âm thanh và kiến thức. Nói chung theo luật tiến hóa, có thể cả hai phát minh trên chỉ là một sự khởi đầu của những phát minh thần kỳ khác về các kỹ thuật tiếp thu sóng điện từ và phương pháp hiển thị màn hình, và chắc chắn là sẽ xuất hiện trong tương lai xa hay gần.
27.3   Phát Minh Trong Tương Lai 
Một lần nữa, xin được nhắc lại là chúng ta không nên hiểu nhầm những lời tiên đoán hay những câu sấm truyền của các nhà tiên tri với những lời dự đoán dựa trên cơ sở khoa học. Cả hai đều nói đến những chuyện có thể xảy ra trong tương lai, nhưng khác biệt chính là những lời tiên tri thì dựa vào yếu tố tâm linh hay trực giác và không thể giải thích được, trong khi dự đoán khoa học thì dựa trên những dữ kiện khoa học có thể giải thích được. Tất cả những gì được ghi ra sau đây đều thuộc về những dự đoán khoa học có thể xảy ra trong tương lai. Dù vậy, chỉ là những dự đoán về các phát minh có ảnh hưởng gián tiếp hay trực tiếp đến hai bộ phận chính trên cơ thể là Tai và Miệng của con người, theo quy trình thứ tự của luật tiến hoá đã được nói tới trước đây:
Máy Thông Dịch cá nhân. Trong khoảng chừng vào năm 2050 hay chậm hơn, các máy thông dịch cá nhân nhỏ và gọn sẽ được phổ biến rộng rãi khắp nơi trên thế giới, giống như phong trào nghe nhạc hiện nay.
Khi được bật nút xừ dụng, máy sẽ tự động nhận vào tiếng nói và dịch ngay ra ngôn ngữ mình muốn nghe. Dĩ nhiên là ban đầu chỉ dùng cho một vài ngôn ngữ thông dụng nhất, và dần dần bức tường khó khăn về các ngôn ngữ khác sẽ từ từ được tháo gở dần theo thời gian.
Ngôn Ngữ Quốc Tế. Một ngôn ngữ quốc tế chung cho các dân tộc trên thế giới sẽ ra đời vào cuối thế kỷ này. Phần lớn cơ sở của ngôn ngữ quốc tế này có thể dựa vào tiếng Anh. Đa số các quốc gia sẽ dùng ngôn ngữ quốc tế này như là ngôn ngữ chính thức bên cạnh các ngôn ngữ điạ phương. Một số các phương pháp và dụng cụ nhân tạo sẽ giúp cho bất cứ ai muốn nói thông thạo ngôn ngữ quốc tế này trong một thời gian rất ngắn. Trong thế kỷ 22 chắc chắn sẽ không còn những trở ngại về ngôn ngữ tại bất cứ nơi nào trên thế giới.
Cuối thế kỷ 21 này, có thể các nhả khoa học vật lý sẽ tìm ra được nguồn gốc và nguyên nhân của lực hấp dẫn trái đất hay lực trọng trường nói chung. Một số các máy móc thô sơ và cồng kềnh dùng để chống lại lực trọng trường sẽ ra đời và lần lượt thay thế hay trợ giúp các phương tiện vận tải cơ giới đã có, giúp hành khách di chuyển nhanh chóng và tiện lợi hơn rất nhiều. Dù vậy, phải chờ đến cuối thế kỷ 22 thì các máy chống lại lực trọng trường cá nhân mới xuất hiện và trở thành gọn nhẹ hơn rất nhiều, giúp con người có thể di chuyển khắp nơi như những siêu nhân trong các phim khoa học giả tưởng hiện nay. Từ đó, các nguồn năng lượng chính thông dụng hiện nay thuộc về tài nguyên tự nhiên dưới lòng trái đất như dầu hỏa, than đá, khí đốt, v.v sẽ bị mất dần hết giá trị và được loại bỏ, thay thế bằng các dạng sóng năng lượng có sẳn sàng quá nhiều trong vũ trụ.
Cũng vào khoảng cuối thế kỷ này, hầu hết các công việc trong nhà hay ngoài vườn như nấu ăn, dọn dẹp lau chùi, lái xe, mua sắm v.v. đều có thể tự động hóa bằng các phương tiện máy móc hay người máy Rô Bô. Cụ thể, một người có thể vừa gọi cho xe chạy tự động đến sở làm để chở về nhà, vừa ra lệnh cho Rôbô đầu bếp chuẩn bị một tiệc ăn sang trọng cho nhiều người, với các thức ăn được xe siêu thị tự động mang lại và đưa thẳng luôn vào nhà bếp. Tóm lại, các RôBô hay người máy sẽ làm hết hầu tất cả các công việc trong nhà hay ngoài vườn, kể cả các công việc bảo trì hay sửa chửa các dụng cụ máy móc bị hư hỏng.  
27.4   Đặc Tính Văn Hóa
Trong vòng hơn nữa thế kỳ qua, thức ăn nhanh (Fast Foods) với hình ảnh kiến trúc chính thức của MacDonald đã làm cho nhiểu khách du lịch nước ngoài vẫn còn có ấn tượng rõ nét về một biểu tượng văn hóa của nước Mỹ. Đó là hình ảnh cái bánh Hamburger và mái vòm chữ M màu vàng của những tiệm bán thức ăn nhanh MacDonald. Đó cũng là minh chứng rõ nhất cho thấy sự khác biệt văn hoá giữa hai nền văn minh kế tiếp với nhau. Trong khi Âu châu chú trọng về nghệ thuật ăn uống theo sở thích của trái tim, thì Mỹ châu lại chọn cách ăn uống theo sở thích của cái đầu, ngon cái miệng mà cũng tiện lợi cho cái túi tiền, nghĩa là có tính cách thực dụng. Một cái bánh Hamburger vừa có nhiều chất dinh dưỡng, lại vừa rẻ mà lại nhanh gọn và không mất nhiều thì giờ, thích hợp cho đa số mọi người dân, không phân biệt giầu nghèo sang hèn.
Tuy bây giờ nhiều dư luận chỉ trích về nguyên nhân của bệnh béo phì do thức ăn nhanh gây ra, nhưng không ai có thể phủ nhận rầng chính những cái bánh Hamburger đó đã giúp phần nào con số hàng trăm triệu công dân Mỹ có đầy đủ dinh dưỡng để phát triển trí tuệ suốt hơn nữa thế kỷ qua, trước khi xuất hiện vấn nạn béo phì. Điều đáng chú ý là trong những chương trình mới đây nói về chủ đề “Thay đổi não bộ”(Brain Change) của đài tivi PBS công cộng (32), các chuyên gia về dinh dưỡng cũng đã nhìn nhận và khẳng định rõ, kẻ thù nguy hiểm nhất cho sức khỏe con người là “Đường” hay chất ngọt và các chất phụ gia khác, hơn là “Mỡ” hay các chất béo tốt, nếu biết dùng hạn chế theo mức độ vừa phải cho phép.
Ca Nhạc - Thông Tin - Nhân Quyền 
Một đặc tính văn hóa khác là các “Sô” trình diển nhạc hay văn nghệ với các nhạc điệu như Jazz, Rock&Roll, Soul, R & B, Hip-Hop, etc. Có thể dân Mỹ đã không sáng chế ra tất cả các nhịp điệu nói trên, nhưng nước Mỹ đã và đang là nơi chốn của “Đất lành Chim đậu”, hay mãnh đất mầu mở để phát triển và nuôi dưỡng các thiên tài sáng tạo âm nhạc nói trên. Có một sự so sánh thực tế lịch sử về thân phận của các tài năng âm nhạc như sau: 
Những ca sĩ đàn hay hát giỏi trước đây trong văn hóa Á châu thì bị xem thường là hạng “xướng ca vô loài”, ngay cả trong đời sống kinh tế cũng gặp khó khăn, nghèo túng. Trong khi văn minh Âu châu thì ca sĩ nổi tiếng có danh vọng và được đối xử tốt đẹp hơn, đời sống tuy có thoải mái nhưng cũng chẳng giàu có nhiều. Chỉ có nền văn minh Mỹ châu mới có thể biến họ ra thành những thần tượng ca nhạc được ngưỡng mộ kính trọng và trở thành là những triệu phú giàu sang ngất ngưởng.
Một ấn tượng khác về văn hóa liên quan đến “Miệng Lưỡi” là những sô nói chuyện của các chuyên gia trên Radio, Tivi hay những buổi diễn thuyết với chủ đề chính (Keynotes Speaker). Cách đây chỉ khoảng 50 năm hay nửa thế kỷ, không ai có thể nghĩ đến chuyện giàu to hay trở thành triệu phú khi làm những công việc tổ chức điều khiển các chương trình nói chuyện trên Radio hay Tivi. Không cần phải nói đến những sô diễn hàng ngày với các tài năng ngoại hạng như Johnny, Ophra hay Letterman, v.v, có những nhà diễn thuyết nổi tiếng được trả công cho một lần nói chuyện với những khoảng tiền cát-sê khủng, bằng hay hơn cả năm lương trung bình của một công nhân làm việc ở Mỹ.
Một nhận xét ấn tượng khác cho thấy, mặc dù Âu châu đã tiên phong trong lãnh vực về “Nhân Quyền”, nhưng nước Mỹ mới chỉnh là quốc gia đầu tiên viết ra rõ ràng trên giấy tờ bằng văn bảng của Hiến Pháp, đặc biệt nhất là nhấn mạnh đến quyền tự do “Ngôn Luận”, xuất phát bởi nhu cầu cần nói lên sự thật của cái Miệng.
Cũng chưa hết những ý tưởng thật sự khôi hài về cái Tai, khi nhắc đến câu thành-ngữ  “Rừng mạch vách Tai”. Đúng là bất cứ nơi nào và ở đâu trên thế giới này đều có chuyện nghe lén của các cơ quan thi hành pháp luật, nhưng những vụ sì-căng-đan  “nói bậy bị nghe lén”
hay “nghe lén điện thoại” quá đình đám và động trời giống như vụ Watergate thì dám chắc chỉ có thể xảy ra trên đất nước Mỹ.

Còn có gì cụ thể hơn những gì vừa nói ở trên, để minh chứng cho thấy hiện tại này, chúng ta đang sống trong thời đại phát triển rất nhiều về Tai và Miệng, hay nói gọn hơn là chúng ta đang sống với đủ các loại âm thanh thiên nhiên hay nhân tạo, và đang dần đạt đến cao  điểm của nghệ thuật “Nghe và Nói”.
Dù chưa có những nghiên cứu khoa học xác minh, nhưng dựa vào những dữ kiện thực tế cho thấy, hình như là khả năng thẩm âm của tai và kỹ thuật huấn luyện giọng nói hay tiếng hát của đa số con người hiện tại đã phát triển, tiến bộ vượt bậc và hơn gấp nhiều lần so với con người sống trong các thế kỷ trước đây(?)
27.5   Cường Quốc nào thay thế Mỹ?
Lịch sử được ghi chép mấy ngàn năm cũng như luật tiến hoá cho thấy, không có một dân tộc, đế quốc hay cường quốc nào, duy trì vĩnh viễn được vị trí quyền lực mạnh nhất trên thế giới mãi với thời gian . Rồi sẽ xảy ra tại một thời điểm nào đó, cường quốc Mỹ chắc cũng sẽ phải nhường lại ngôi vị số 1 này cho một cường quốc nào khác, đang hay sắp nổi lên trong tương lai. Do đó, vấn đề chính yếu ở đây không còn là chuyện thắc mắc có xảy ra hay không, mà chính là làm công việc dự đoán kết quả sẽ xảy ra khi nào, như thế nào và ở đâu (?), dựa vào kinh nghiệm quý giá về lịch sử của các nền văn minh trong quá khứ.
Như đã xác định được ngay từ đầu, hiện tại này đang là thời đại của văn minh Mỹ châu thuộc KNTH 6, trong nguyên đại VII. Thắc mắc đưa ra là: Trong thời kỳ văn minh Mỹ châu này cho tới năm cực điểm là 2230 AD, nước Mỹ sẽ giữ được vị trí số 1 trong bao lâu nữa, và cường quốc nào khác sẽ thay thế Mỹ, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử cuối cùng cho nền văn minh Mỹ châu, trong KNTH 6 thuộc Nguyên đại VII này?
Để có cơ sớ chính cho dự đoán nói trên, hãy thử nhìn lại toàn thể 6 nền văn minh chính đã qua, kể cả Mỹ, mà chúng ta có thể phát hiện ra một số các dữ kiện tương đồng và dị biệt nếu so sánh với nhau. Các nền văn minh được đánh số chẳn như 2 (Phi Châu-Ai Cập), 4(Á Châu-Nguyên Mông), và 6 (Mỹ Châu- Mỹ-US?) có khá nhiều điểm tương đồng giống nhau như sau:
Bước đầu lập quốc từ nhửng nhóm nhỏ hay bộ lạc yếu kém bị đánh đuổi, di cư hay bỏ chạy ra khỏi nước. Cụ thể, các bộ lạc yếu kém ở gần đường xích đạo Phi châu đã di cư hay bỏ chạy về hướng Bắc dọc theo sông Nile (33) để lập ra các nền văn minh kế thừa như Badarian, v.v trước khi bị tiêu diệt hay thu nhập lại thành đế chế Ai Cập.
Trung quốc cũng đã được hình thành do tập hợp các sắc dân thiểu số yếu kém từ miền nam bị đánh đuổi, phải bỏ chạy lên miền Bắc và định cư dọc theo hai con sông lớn là sông Dương Tử và sông Hoàng Hà.
Tương tự như vậy, văn minh Mỹ châu cũng được khởi đầu bằng những nhóm dân Âu châu yếu kém, bị kỳ thị vể chủng tộc, tôn giáo hay chính trị, đã vượt đại dương đến lập nghiệp trên đất nước Mỹ.
Một điều tương tự có thể sẽ xảy ra trong tương lai cho Mễ tây cơ (Mexico). Bằng một nguyên nhân nào đó như kỳ thị tôn giáo hay lý do chính trị xã hội, có thể có những nhóm công dân Mỹ “di cư”
hay “bỏ chạy” xuống vùng vịnh Mexico trong thế kỷ này hay thế kỷ tới, mang theo những hạt giống tinh hoa của nền văn minh Bắc Mỹ châu.  
Điểm tương đồng kế tiếp là cho dù lãnh thổ ban đầu có rất nhiều sắc dân hay bộ tộc chiếm đóng và cai quản, nhưng tất cả các chư hầu hay tiểu quốc cuối cùng đểu bị thâu tóm lại thành một quốc gia lớn mạnh, được lãnh đạo và cai quản bởi một hệ thống trung-ương tập-quyền hay tổ chức chính quyền trung ương duy  nhất rất hữu hiệu và vững mạnh như:
Vương Quốc Ai-Cập của các Pharoah; Đế Quốc Đại Hán của các hoàng đế Trung-Hoa, hay tổ chức chính quyền liên bang của Hoa Kỳ.
Do đó, đã có sự khác biệt với các nền văn minh 1(Xích-Đạo), 3(La-Mã) và 5 (Âu châu), không thể tập trung được quyền lực trung ương và phải dùng phương cách phân quyền hành cai trị ra cho các lãnh chúa, hay thành hình các khu vực tự trị và thuộc địa riêng biệt cho nhiều sắc dân.
Do cai trị bởi các chế độ trung ương tập quyền, các sắc dân yếu kém trước kia tại những vùng miền khác nhau trên đất nước, đã lần lượt hùng mạnh và thay phiên nhau nổi dậy, đánh đuổi và thay thế lãnh đạo hay vua chúa bất lực của các triều đại đương nhiệm. Cụ thể là đã xảy ra ở Trung quốc. Chỉ có một vài bộ tộc Mông Cổ sống tận biên giới phía Bắc, luôn bị coi thường là những sắc dân man ri mọi rợ, lại có thể trở thành những lực lượng hùng mạnh về quân đội, chiến thắng và chiếm đóng cai trị, không những cả nước Trung Hoa mà luôn trọn hơn phân nữa đất Á châu và một phần Âu châu. Cũng đã xảy ra tương tự như vậy cho tộc Mãn Thanh sau cùng, đã chiếm đóng và cai trị đất nước Trung hoa gần ba trăm năm.
Trong nền văn minh Phi châu của đế chế Ai-Cập, các sắc dân bị chèn ép làm nô lệ trong các công trường xây cất lớn như Kim Tự Tháp, đã bỏ chạy hay trốn lên phía Bắc vùng Điạ Trung Hải để lập ra các nền văn minh mới như Madocenia, Greece, v.v, tiền nhiệm của văn minh Trung Đông hay đế quốc La Mã sau này.
Điểm dị biệt của văn minh Mỹ châu so với các nền văn minh tiền nhiệm khác là phương hướng chuyển giao nền văn minh đi ngược lại. Thay vì là từ Nam lên Bắc như các nền văn minh Phi châu và Á châu, thì văn minh Mỹ châu lại có khuynh hướng đi ngược lại, từ Bắc xuống Nam, theo dòng chảy của sông Mississispi (34), và từ Đông say Tây theo dòng chảy của sông Colorado. Lý giải sự kiện trên cho thấy đơn giản là vì nền văn minh của Mỹ châu đã khởi đầu ngay tại vùng cực Đông-Bắc của nước Mỹ, nên chỉ  còn có con đường duy nhất để phát triển là về hướng Tây-Nam và Nam.
Cụ thể minh chứng, trung tâm quyền lực kinh tế, đầu tầu khoa học và kỹ thuật của nước Mỹ đã di chuyển dần từ các vùng New York, Boston trong thế kỷ 19, qua miền Trung-Tây Pensylvania, Ohio, Detroit hay Chicago vào đầu thế kỷ 20, rồi lan truyền xuống Tây-Nam ra tới các vủng Texas, Californina với những khu “Silicon Valley” vào cuối thế kỷ 20 như một biểu tượng dẫn đầu tầu về khoa học và kỹ thuật. Chỉ còn chờ có sự xuất hiện của một trung tâm tài chánh lớn ở Houston hay Los Angeles thay thế phố Wall là các tiểu bang đó sẽ chính thức làm xong nhiệm vụ chuyển giao quyền lực.
Không cần phải minh chứng cho thêm phức tạp, chỉ dựa vào lợi thế hay vị trí tiếp cận của địa chính trị, làn sóng văn minh Bắc Mỹ châu chắc chắn sẽ phải di chuyển dần xuống hướng Nam thuộc vùng Mễ Tây Cơ trong thế kỷ 22 tới, qua ngã Texas và California. Thêm vào, còn có một số các hiện tượng tiêu cực xuất hiện trên đất Mễ hiện nay như các vụ tham nhũng quy mô, thanh toán giết người coi thường pháp luật giữa các băng đảng, đã xảy ra và giống tương tự một cách thuyết phục, như đã từng xày ra với các tay Cao-Bồi ở miền viễn tây hoang dã của nước Mỹ vào cuối thế kỷ 19.
Một khi đã nói tới văn minh Mỹ châu, thì không thể bỏ qua các vùng đất rộng lớn ở về phía Nam Mỹ thuộc Nam Bán Cầu. Chắc chắn đa số chúng ta đã có một thắc mắc từ lâu là tại sao cho đến bây giờ, các nền văn minh đã xuất hiện trên thế giới đều xảy ra trên vùng Bắc Bán Cầu. Có hai lý do chính giải như các nền văn minh Phi châu và Á châu, thì văn minh Mỹ châu lại có khuynh hướng đi ngược lại, từ Bắc xuống Nam, theo dòng chảy của sông Mississispi (34), và từ Đông say Tây theo dòng chảy của sông Colorado. Lý giải sự kiện trên cho thấy đơn giản là vì nền văn minh của Mỹ châu đã khởi đầu ngay tại vùng cực Đông-Bắc của nước Mỹ, nên chỉ  còn có con đường duy nhất để phát triển là về hướng Tây-Nam.
Cụ thể minh chứng, trung tâm quyền lực kinh tế, đầu tầu khoa học và kỹ thuật của nước Mỹ đã di chuyển dần từ các vùng New York, Boston trong thế kỷ 19, qua miền Trung-Tây Pensylvania, Ohio, Detroit hay Chicago vào đầu thế kỷ 20, rồi lan truyền xuống Tây-Nam ra tới các vủng Texas, Californina với những khu “Silicon Valley” vào cuối thế kỷ 20 như một biểu tượng dẫn đầu tầu về khoa học và kỹ thuật. Chỉ còn chờ có sự xuất hiện của một trung tâm tài chánh lớn ở Houston hay Los Angeles thay thế phố Wall là các tiểu bang đó sẽ chính thức làm xong nhiệm vụ chuyển giao quyền lực.
Không cần phải minh chứng cho thêm phức tạp, chỉ dựa vào lợi thế hay vị trí tiếp cận của địa chính trị, làn sóng văn minh Bắc Mỹ châu chắc chắn sẽ phải di chuyển dần xuống hướng Nam thuộc vùng Mễ Tây Cơ trong thế kỷ 22 tới, qua ngã Texas và California. Thêm vào, còn có một số các hiện tượng tiêu cực xuất hiện trên đất Mễ hiện nay như các vụ tham nhũng quy mô, thanh toán giết người coi thường pháp luật giữa các băng đảng, đã xảy ra và giống tương tự một cách thuyết phục, như đã từng xảy ra với các tay Cao-Bồi ở miền viễn tây hoang dã của nước Mỹ vào cuối thế kỷ 19.
Một khi đã nói tới văn minh Mỹ châu, thì không thể bỏ qua các vùng đất rộng lớn ở về phía Nam Mỹ thuộc Nam Bán Cầu. Chắc chắn đa số chúng ta đã có một thắc mắc từ lâu là tại sao cho đến bây giờ, các nền văn minh đã xuất hiện trên thế giới đều xảy ra trên vùng Bắc Bán Cầu. Có hai lý do chính giải thích hiện tượng “không công bằng”
nói trên: Thứ nhất, đa số các lục địa trên thế giới đều nằm trong vùng Bắc Bán Cầu. Theo con số thống kê ước tính, gần ba phần tư (3/4)
diện tích bề mặt trái đất nằm về phía trên Bắc Bán Cầu. Nhưng có lẽ quan trọng hơn hết tất cả chính là những con sông lớn trên thế giới đều nằm về phía bắc bán cầu, nhất là con sông Nile dài nhất ở Phi châu có dòng chảy theo hướng Nam-Bắc ra biển Địa Trung Hải, nên trong giai đoạn đầu phát triển, đa số các nền văn minh chính thường quy tụ trong vùng bắc bạn cầu.
Sau cùng, nếu làn sóng văn minh Mỹ châu có thể rời bỏ được nước Mỹ để lan tỏa xuống hướng Nam tới Mễ-Tây-Cơ, thì không có lý do gì để nó không thể tiếp tục vượt qua đường xích đạo xuống luôn tới tận Nam Bán Cầu. Dựa theo thực tế của sự phân chia điạ lý và lãnh thổ của hai miền Bắc Mỹ và Nam Mỹ cho thấy, có thể vào cuối thế kỷ 22 hay sớm hơn, nền văn minh cực điểm của Bắc Mỹ sẽ chính thức vượt qua đường xích đạo, để xuống dưới vùng Nam Bán Cầu.
Ngoài ra cũng vào gần thời điểm đó, một dự đoán văn hóa đặc biệt khác có thể xảy ra một cách ngẫu nhiên trùng hợp, là thế giới bắt đầu chính thức nhìn nhận là có “Nam Nữ Bình Quyền”.
Tóm lại cho những dự đoán trên: Trung tâm văn minh cực đỉnh cuối cùng tại Mỹ châu sẽ di chuyển dần về phương Nam trong cuối thế kỷ 21 này hay đầu thế kỷ 22, và chắc chắn sẽ dừng lại trong lãnh thổ của Mexico hay Cuba trong một thời gian, trước khi di chuyển xuống Nam Bán Cầu của Châu Mỹ La-Tinh. Có thể ví Cuba và Mexico với USA hiện nay giống tương tự như là Mông Cổ và Mãn Thanh với Trung Hoa cách đây hơn một ngàn năm.
Các nước châu Mỹ Latin nằm trong vùng Nam bán cầu còn lại như Chile, Uraquay, Ba-Tây hay Á-Căn-Đình đều có thể là những cường quốc số 1 trong thế kỷ 23 tới. Dù vậy, nếu dựa vào các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên, lịch sử cũng như các yếu tố Điạ-Chính-Trị, thì Ba-Tây và Á-Căn-Đình là hai ứng viên hàng đầu có triển vọng và sáng giá nhất.
Cuối cùng, khi nền văn minh Mỹ châu đạt tới cực điểm vào khoảng năm 2230 AD, tại Sao Paulo hay Buenos Aires, thì bên kia bờ Thái bình dương sẽ có một cường quốc khác chuẩn bị vươn vai đứng dậy, để trở thành là siêu cường đầu tiên trong KNTH thứ 7 của Nguyên Đại VII. Đó chính là lục điạ Úc châu, vừa trẻ nhất và cũng là nhỏ nhất trong tổng số năm châu lục trên thế giới.
Dựa theo kinh nghiệm của các nền văn minh trước đây, để chuyển giao quyền lực kinh tế và trí tuệ số 1 trên thế giới từ một lục địa này, vượt đại dương để tới một lục địa khác, thì cũng cần phải có một nguyên nhân rõ ràng hay lý do chính đáng. Kỳ thị chủng tộc, kỳ thị tôn giáo, khác biệt chính trị hay chiến tranh là những lý do thường hay được nghĩ tới. Tuy nhiên, trong tương lai hơn 300 năm nữa, với trình độ văn minh và tiến bộ cao cấp của con người như đã mô phỏng, thì xác xuất để xảy ra những vấn đề nói trên rất thấp, nếu không nói là khó có thể xảy ra. Như vậy, dư đoán còn lại là vài lý do hay nguyên nhân thuộc về “Thiên Tai” hơn là thuộc về “Nhân Tai”. Cụ thể với xác xuất cao nhất xảy ra là một thời kỳ “Đại Băng Giá” ngắn trên vùng Bắc Bán Cầu và kéo dài khoảng hơn một trăm năm, có thể xuất hiện trở lại trên trái đất. Từ đó, Úc Châu có thể sẽ trở thành là miền đất hứa cho những cư dân miền Bắc di cư về phương Nam để trốn lạnh, như đã lập lại nhiều lần trước đây.
Theo các nghiên cứu mới đây nhất của các nhà Địa Chất, hai vùng có thể xảy ra hiện tượng “siêu núi lửa”, một nằm phía Nam Tháí Bình Dương và một nằm ở phía Bắc Mỹ trong vùng công viên Yellowstone thuộc bang Idaho. Kịch bản xấu nhất khi các siêu núi lửa bùng nổ là sẽ cho ra những đám tro bụi khổng lồ và dầy đặc trên không, che phủ hầu hết ánh sáng mặt trời và hạ thấp nhiệt độ trung bình của trái đất xuống từ 15-25°C, như đã từng xảy ra trong các kỷ băng giá trước đây. Hãy thử tưởng tượng là trong tương lai, nếu xày ra hiện tượng băng giá nói trên, những vùng trên vĩ tuyến Bắc 20° N sẽ gần như bị bao phủ bởi băng tuyết quanh năm, trong khi các thành phố nằm gần đường xích đạo như SàiGòn hay Bangkok thì ít nhất là vài tháng có tuyết!
28-1  Văn Minh Úc Châu
Siêu-Cường Úc - Nam - Mã - Phi(2390 AD)
Ánh Sáng - Mắt - Ngữi - Nhìn  
Đây là thời kỳ thuộc Kỷ-Nguyên-Tiến-Hoá  thứ 7, KNTH cuối cùng của Nguyên-Đại VII, theo thứ bậc thay đổi của các Hào trong Dịch-lý cho giai đoạn tiến hoá nói chung. Dự đoán cho Úc châu sẽ trở thành siêu cường đầu tiên trong KNTH 7 này chắc sẽ không làm ai ngạc nhiên cả, vì thậm chí có rất nhiều người đã từng nghĩ như vậy. Lý do dễ hiểu là trong 6 nền văn minh vừa qua đã có mặt hay xuất hiện trên cả bốn lục địa Phi, Á, Âu và Mỹ rồi, chỉ còn thiếu có mỗi Úc châu là chưa có mặt.
Ngoài lý do đã giải thích trong tiểu mục trước, còn có một số các hiện tượng không thể gíải thích được do thiếu chứng minh khoa học. Cụ thể như:  Lý do tại sao các nhà khai sinh hay giới lãnh đạo dân cử của nước Úc, đã chọn lá cờ quốc gia Úc có hình các ngôi sao, gồm có một sao nhỏ 5 cánh và 4 sao lớn có 7 cánh? Chọn hình ngôi sao 7 cánh có ý nghĩa gì ở đây? Câu hỏi hay thắc mắc vừa nói trên đưa tới một liên tưởng về hình tượng học có tính huyền bí khá thú vị mà không thể giải thích được theo khoa học vật lý, như sau:
Cho đến thời điểm của nền văn minh Trung Đông thuộc KNTH 3, dưới sự cai quản của đế quốc La-Mã, thì Kim Tự Tháp vẩn còn được coi như là một biểu tượng văn hóa cao nhất hay còn coi như là một ngôi sao chỉ có 3 cạnh (trong vòng tròn). Tiếp theo văn minh Á châu thuộc KNTH 4 thì dân Trung Hoa lại chọn biểu tượng văn hoá trong các lá cờ là hình vuông “Trời tròn, Đất Vuông” , coi như là tương đương với một ngôi sao có 4 cạnh. Lần lượt đến văn minh Âu châu thuộc KNTH 5 lại chọn ngôi sao có 5 cạnh, đang xuất hiện trên lá cờ của nhiều nước trên thế giới.
Đến nền văn minh Mỹ châu thuộc KNTH thứ 6 thì lại thấy xuất hiện các ngôi sao có 6 cạnh. Ai cũng biết  ngôi sao 6 cạnh là biểu tượng thiêng liêng của người Do Thái, nhưng đồng thời đa số cũng thấy ngay rằng chính những người Mỹ gốc Do Thái đã đóng góp rất nhiều cho sự thịnh vượng chung của cường quốc số 1 là Mỹ, nên cũng có thể coi như là một chỉ dấu của ngôi sao “Định Mệnh” có 6 cánh. Như vậy thắc mắc còn lại là phải chăng những nhả lãnh đạo bên Úc, đã thấy rõ vấn đề Úc châu sẽ thay thế Mỹ châu trong tương lai?  Ai dám nghĩ đây chì là một câu chuyện huyền bí, không đáng được chú ý?
Dù vậy, nếu đi sâu vào chi tiết giải thích, trong thời đại này chắc sẽ có rất nhiều tiến bộ khoa học và kỹ thuật vượt quá xa tầm hiểu biết của con người hiện tại, nên rất khó để làm công việc dự đoán khoa học cho những gì sẽ xảy ra trong tương lai xa. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa hoàn toàn theo phương pháp tiệm tiến và kinh nghiệm lịch sử từ các nền văn minh trước đây, cũng như áp dụng mô hình tiến hoá của cơ thể con người như đã được minh chứng,  chúng ta cũng có thể hy vọng có được kết quả dự đoán không sai biệt quá nhiều, so với những gì thật sự sẽ xảy ra trong tương lai gần bốn trăm năm.
Cuối cùng rồi cũng giống như văn minh Mỹ châu, nước Úc sẽ không là siêu cường số 1 duy nhất trong suốt thời kỳ cực thịnh của nền văn minh Úc châu kéo dài khoảng 160 năm. Trong khoảng thời gian 60 năm cuối cùng, từ 2330 – 2390 AD, cán cân quyền lực và đỉnh cao khoa học chắc sẽ di chuyển ra khỏi lục địa Úc và tiến lên trở lại phương Bắc, vào trong khu vực của ba quốc gia hải đảo, Nam Dương, Mã Lai và Phi Luật Tân. Tưởng cũng nên nói thêm là thời gian của 60 năm trong thế kỷ 24 không  phải là quá ngắn, so với hơn 600 năm của cả hai triều đại nhà Minh và nhà Thanh từ thế kỷ 14 đến 19.
28.2   Phát Minh Trong Tương Lai 
 
Không Dùng Chân Tay - Thần Giao Cách
 
Những phát minh khoa học chính của nền văn minh Úc Châu chú trọng nhiều về ánh sáng và những ứng dụng thực tế của nó, qua việc xử dụng gián tiếp hay trực tiếp hai bộ phận chính trong cơ thể là Mũi và Mắt, gồm có:
Hoàn hảo và phát triển thêm kỹ thuật quang-tử, hóa giải hay chống lại lực hấp dẫn trọng trường, cho phép con người di chuyển trên mặt đất nhanh chóng, thoải mái và tiện lợi hơn rất nhiều. Trong KNTH này, các công việc làm liên hệ đến tay chân đều lần lượt biến mất hay không còn nữa. Tất cả mọi sinh hoạt hàng ngày trong đời sống con người sẽ được tự động hoá, và điều khiển bằng ý muốn qua các làn sóng não.
Mũi thần. Không những có khả năng đánh hơi rất xa hay rất nhạy cảm, mà còn có thể có khả năng tiến hoá và phát triển, đóng thêm vai trò như cái máy thu phát sóng cho các mục tiêu thăm dò và tìm kiếm các vật thể ở ngoài tầm xa trên cả ngàn cây số.
Mắt thần. Ngoài khả năng nhìn xuyên xuốt qua một số các đồ vật, nhìn xa hay gần trong bóng tối hay ngoài ánh sáng, nhãn lực của con người trong kỷ nguyên nầy có thể nhìn thấy xa cả cây số nhờ bắt được sóng não của những người quen biết và do đó những hình ảnh tại địa phương xa xôi đó sẽ được hiển thị luôn lên màn hình, nhân tạo hay tự nhiên trong não bộ.
Truyền Thông cá nhân: Xem các chương trình truyền hình hay phim ảnh có ngay trong đầu theo phương pháp bắt sóng và hiển thị màn hình đã nói trên. Trong thế kỷ 23 tới, tiến bộ khoa học kỹ thuật khá ấn tượng của các nền văn minh kế tiếp là con người sẽ không cần phải cầm điện thoại trong tay hay đụng đến các vật dụng nói trên nữa. Tất cả sẽ có được tự nhiên và hiển thị ra luôn hình ảnh trong não bộ con người. Cụ thể như con người sẽ nghe, thấy hay nói chuyện trực tiếp với bất cứ ai trên trái đất này, qua sự tiếp thu chọn lọc hay tiếp nhận chỉ một loại sóng đặc biệt YKZ với mã khoá của người muốn liên hệ, và hiển thị hình ảnh lên ngay trên màn hình trong não bộ.
Cộng Đồng Trí Tuệ: Tất cả mọi quyết định quan trọng của bất cứ cá nhân nào  đều có thể được tư vấn hay giúp đở bởi một “Bộ Óc Siêu Việt” của riêng tổ chức hay đoàn thể. Cụ thể thí dụ: Cá nhân A gặp phải trường hợp khó khăn và không biết phải làm gì, liền dùng sóng não nối với “Bộ Óc Siêu Việt” và dùng nó ngay trong đầu, để phân tích và giải quyết nhanh chóng các vấn đề như là của riêng mình.
28.3   Đặc Tính Văn Hoá 
Các nét chính về văn hóa trong KNTH 7 này ảnh hưởng nhiều đến những tiện nghi cá nhân trong đời sống nhiều hơn là xã hội hay gia đình. Có thể xem đó là một cuộc cách mạng vĩ đại về văn hóa nếu dùng phán xét dựa theo tiêu chuẩn hiện nay. Quan trọng nhất và trên hết là yếu tố con người cùng những phát triển vượt mức của thể xác, nhất là não bộ và các hệ thần kinh giác quan. Từ đó, có thể có một số các hiện tượng kỳ lạ, còn gọi là phép lạ theo tiêu chuẩn hiện nay, trong đời sống xuất hiện mà đa số con người văn minh hiện nay vẫn chưa hiểu rõ được. Cụ thể như sau:
Giống tương tự như cái đuôi quá nặng và cồng kềnh của các loài bò sát khi lên sống trên đất liền, trong suốt quá trình thay đổi dần qua văn minh không gian của KNTH 7, chuyện quan trọng đầu tiên là chân tay của con người sẽ không còn cần dùng đến nữa, và sẽ từ từ được loại bỏ. Khi con người cần di chuyển nhanh trong không gian, chân tay sẽ trở thành một gánh nặng và đôi khi còn có thể gây ra nguy hiểm cho chính bản thân nữa. Một số các biện pháp hay phương tiện để gỉảm thiểu, làm cho chân tay nhỏ lại dần hay thậm chí có người còn làm cho biến mất luôn.
Con người chỉ làm việc tối đa là vài chục phút trong một ngày, vì tất cả đều đã được “người máy” làm giùm hết. Nếu người máy này bị hư hỏng hay có vấn đề, thì sẽ có người máy khác sửa chữa hay thay thế ngay. Đa số gần hơn 90 phần trăm các công vìệc làm hiện nay sẽ bị biến mất. Những việc làm còn sót lại cho con người trong KNTH này, là điều khiển các hệ thống người máy và các dịch vụ tư vấn ngắn hạn về tâm linh.
Theo đà tiến bộ từ từ của Nữ quyền hiện nay, điều có thể xảy ra trong KNTH này là phụ nữ sẽ trở thành phái mạnh và đàn ông trở thành phái yếu! Dĩ nhiên hai chữ mạnh-yếu ở đây hiểu theo nghĩa tinh thần hay tâm linh hơn là thể xác. Có ba lý do để tin là chuyện này chắc chắn sẽ xảy ra: Trong KNTH này, sức mạnh về cơ bắp hay chân tay không còn cần đến nữa, mà được thay thế bằng sức mạnh tinh thần hay năng lượng sóng não. Đây chính là sở trường hay năng khiếu riêng của phái nữ.
Thứ hai, quan niệm về sinh sản và duy trì nòi giống theo hiện nay sẽ trở thành vô nghĩa hay biến mất luôn, vì con người sẽ sống lâu hơn cả trăm năm, nhờ kỹ thuật y khoa quá tiến bộ, có thể thay thế được bất cứ bộ phận nào trong cơ thể. Nhưng trên hết tất cả vẫn là kỹ thuật nhân giống người sẽ đạt tới mức hoàn hảo, và có thể dễ dàng cho sinh ra bản sao con người của bất cứ ai đã từng sống trên trái dất, nếu muốn.
Đời sống hôn nhân hay nhu cầu tình dục sẽ mất hết dần ý nghĩa trong thời đại này, do sự khác biệt về giới tính bị đảo lộn và thu hẹp lại cỏn rất ít, gần như là không đáng kể. Ngoài những lý do đã nói ở trên, còn có những yếu tố khác như: Có thể dùng sóng não để tự tạo ra những khoái cảm hay cảm giác hạnh phúc tràn đầy mà không cần phải tiếp xúc hay liên hệ với người khác, cùng hay khác phái tính. Có thể nhìn và nói chuyện hay liên hệ một cách thân mật và thoải mái với bất cứ ai trên thế giới mà mình thích hay đồng cảm.
Cuối cùng có thể đây là bước chuẩn bị cuối cùng trước khi con người tiến vào nguyên đại kế tiếp thứ 8, trở lại thành “Đơn Tính Dục” (Unisex) và không còn có sự phân chia giới tính Nam Nữ.
Văn hóa ẩm thực sẽ không có giới hạn và gần như là không còn hiện diện hay mất luôn. Hầu như tất cả mọi người trong KNTH này đều có thể được ăn hay thưởng thức các món ngon hay lạ miệng nhất trên đời mà không cần phải đi đâu hết. Các máy nấu ăn tại nhà sẽ tự động “bào chế” ra các thực phẩm cần thiết và làm ra giống như thật, trăm phần trăm, với đầy đủ tất cả các thành phần dinh dưỡng cần thiết. Dĩ nhiên, trong KNTH 7 này, sẽ không còn có chuyện phải giết chết bất cứ con thú nào để lấy thịt cho thức ăn nữa.
Sự phân chia giai cấp xã hội hay khác biệt về chủng tộc, danh vọng, địa vị trong xã hội, v.v cũng sẽ không còn thực tế nữa. Con người hầu như đạt gần đến bình đẳng toàn diện. Vô số các nhà máy công cộng sẽ bào chế và cung cấp bất cứ món hàng nào được yêu cầu trong vòng vài phút đồng hồ, miễn phí. Tất cả các quyết định quan trọng hay không đều có thể nhờ ngưởi máy làm giùm và luôn cho ra kết quả tốt đẹp nhất, nên con người thật sự sống trong KNTH này sẽ không thấy có sự khác biệt nhau nhiều trên mọi phương diện vật chất của đời sống.
Trong khi nền văn minh Châu Úc đang lần lượt toả sáng và chinh phục cả thế giới với những tiến bộ khoa học và kỹ thuật vượt mức phi thường trong thế kỷ 24, thì ngay sát bên trên đường xích đạo, các quốc gia thuộc vùng Đông-Nam-Á đã có những thành quả đáng ngạc nhiên hơn rất nhiều về diện tâm linh.
Xuất hiện đầu tiên trên thế giới, một nhóm khoa học gia Đông-Nam-Á đã có thể cô lập và tách rời toàn bộ trí nhớ ra khỏi thể xác của một người trong thời gian ngắn, khởi đầu cho sự chuyển giao tới một nguyên đại mới của nền văn minh siêu nhân.
Chương 8
Văn Minh Siêu Nhân. Người Tương Lai (2390 Ad – 2547 Ad)
Chương nói về nền văn minh siêu nhân này sẽ đưa ra một số các dự đoán khoa học về những chuyện có thể xày ra cho con người trong tương lai hơn 400 năm nữa. Như đã trình bày trong tiểu mục trước đây, trí tuệ con người tại thời điểm đó có thể đã tiến hoá, thông minh hơn con người hiện tại cả ngàn, triệu lần, nên có thể có những vấn đề khoa học hay kỹ thuật vượt quá xa tầm hiểu biết hiện nay cuả chúng ta. Do đó, người viết chỉ có thể đưa ra giới thiệu những kết quả vắn tắt hay sự kiện tóm lược, dựa hoàn toàn trên dự đoán về mô hình tiến hoá của những bộ phận trong cơ thể con người, theo đúng thứ tự của các hào biểu tượng trong Dịch Lý.
Cho đến thời điểm này, chắc chắn có hàng triệu người trên thế giới đã dùng các phương tiện kỹ thuật tân tiến sẳn có để du hảnh vào không gian, đổ bộ lên thăm viếng hay sống trên những hành tinh trong Thái Dương Hệ như các sao Hoả, sao Mộc v.v. Tuy đó là những người văn minh tiến bộ, dũng cảm và khai phóng, nhưng đồng thời cũng có thể là những người hùng đi trước thời đại quá sớm! Nhớ lại lịch sử của các con lươn biển trong kỷ Cambrian, đã mạo hiểm đi trước, trườn mình bò lên quá xa trong đất liền, để rồi bị chết khô trên mặt đất hay chết ngạt trong các ao hồ nước ngọt. Một số may mắn quay lại biển kịp thời và với thời gian, trở thành các loài động vật lưỡng cư, không bao giờ có thể rời xa khỏi đại dương.
Chỉ có những con lươn biển yếu đuối hơn nhưng may mắn, dù có phài chịu chậm trể hơn vài chục triệu năm để được huấn luyện và đương đầu với nghịch cảnh tại các con sông nước ngọt ngay cửa biển, là có thể lên sống luôn được trên đất liền sau này.
Bài học của những con lươn biển trên có thể được lập lại ở đây, nếu con người muốn rời bỏ luôn trái đất, du hành vào không gian để tới nơi chốn thiên đàng hay cõi vĩnh hằng.
Trước hết, con người có thể cần phải kiên nhẫn, chịu đựng và làm quen với từng giai đoạn một. Từ từ cởi bỏ, trả lại dần tất cả các vật liệu nào của trái đất, vì chắc chắn rằng đó sẽ là những trở ngại và vướng bận quá nhiều khi con người muốn du hành vào trong không gian sâu thẳm.
Sau cùng, đây không chỉ phản ánh những sinh hoạt thực tế của con người trong nền văn minh siêu nhân, mà còn hướng tới trạng thái thuộc về lãnh vực siêu linh, vượt quá kiến thức hiểu biết về khoa học của đa số con người bình thường hiện nay.
Điều cần nhấn mạnh cho “Lưu Ý QuanTrọng” ở đây chính là không nên hiểu nhầm từ “Siêu-Nhân” giống như là “Superman” trong một số phim ảnh đã được diễn xuất tại Hollywood.
29.1   Siêu Quốc Đông-Nam-Á (2470 AD)
Thời điểm này bắt đầu một kỷ nguyên mới thuộc nguyên đại thứ 8, hoàn toàn khác lạ, nâng cao trí tuệ con người lên một tầm vóc mới, cao hơn nhiều so với những thế hệ đã qua. Thời điểm đầu thế kỷ 25, nền văn minh tột đỉnh của nhân loại đã được chuyển giao từ văn minh Úc châu qua vùng Đông -Nam-Á, trên vùng lãnh thổ thuộc các quốc gia hiện tại là Việt-Miên-Lào-Thái-Miến.
Giống như đã từng xảy ra cho các quốc gia chậm tiến khác tại Nam Mỹ châu, khối dân số có thể gần hơn hai tỷ người tại năm quốc gia này vào thế kỷ 25, kể cả số dân di cư trốn lạnh từ phương Bắc tràn xuống, đã có não bộ được phát triển trong các thế kỷ trước, theo một hướng đi mới lạ không giống với các dân tộc trong nền văn minh Úc châu trước đó. Khu vực não bộ mới phát triển này có thể sẽ có mật độ tập trung tế bào bộ nhớ cao gấp hàng triệu lần so với con người hiện tại, và có thể đóng vai trò như một khu vực đặc biệt dành riêng để lưu trữ hầu hết các ký ức và kinh nghiệm sống của cả đời.
Không Sinh Lý 
Đặc điểm chính yếu cho KNTH 1 thuộc nguyên đại 8 này là con người sẽ hoàn toàn  không còn lệ thuộc vào chuyện sinh lý Nam Nữ hay nhu cầu tình dục nữa. Có hai lý do chính: Thứ nhất, nhu cầu sinh sản hay truyền giống đã lạc hậu và trở thành quên lãng từ lâu, không còn hiện diện trên trái đất nữa, vì hầu hết con người trong thế kỷ nầy đều là những người thuộc dạng “Đơn Tính Dục” (Unisex). Thứ hai, nhờ những kỹ thuật y khoa tiến bộ siêu đẳng, con người có thể kéo dài đời sống gần như là mãi mãi, nên không cần phải sản suất cho ra thêm nhiều nhân sự để tiếp nối truyền thống hay thừa kế sự nghiệp.
29.2    Phát Minh Chính
Những phát minh chính trong KNTH này đều hướng về hai lãnh vực, tiến hoá cao cấp hơn về nhu cầu gia tăng trí tuệ thuộc dạng siêu nhân, và đào thải đi bớt những bộ phận không cỏn được xử dụng thường xuyên, thuộc hệ thống sinh lý, kể luôn các bộ phận thải ra chất rắn hay chất lỏng của con người.
Trong khoảng gần cuối thế kỷ 25, các khoa học gia vùng Đông-Nam-Á sẽ khám phá và tìm ra vị trí đặc biêt của các khu vực bộ nhớ, có thể cô lập và lưu giữ lại tạm thời toàn bộ ký ức và kinh nghiệm đời sống quá khứ của một cá nhân. Hai từ Linh-Hồn không còn là lý thuyết mơ hồ nữa, mà đã trở thành là một thực tế kiểm chứng được.
Nhờ những khám phá trên, các dụng cụ hay phương pháp tìm kiếm các Linh-Hổn trong quá khứ sẽ trở thành phổ biến và thông dụng. Một số Linh-Hồn của các danh nhân nổi tiếng trong lịch sử được tìm thấy. Có thể ví những sự kiện này giống như các phong trào đi tìm kho tàng trong các khu mộ cổ, hay khai quật những di tích lịch sử hiện nay. Dù vậy, vấn nạn đầu tiên về đạo đức (?) là sẽ duy trì hay cất giữ những linh hồn đã được tìm ra như thế nào. Điều hy vọng chắc chắn là trí tuệ con người trong thế kỷ 25 sẽ giải quyết tốt đẹp tất cả mọi vấn đề.
Một số các phương pháp mới được tìm ra để có thể thu gom, phân giải và tổng hợp tất cả các chất cặn bã dư thừa từ bộ tiêu hoá, biến thành dạng năng lượng dinh dưỡng và cung cấp lại cho cơ thể con người. Quy trình tuần hoàn xử dụng lại các năng lượng dư thừa này sẽ được làm cho hoàn hảo, giải thoát luôn cho con người những khó khăn và mất nhiều thì giờ của nhu cầu vệ sinh cho ra chất thải của mình.
29.3   Đặc Tính Văn Hóa
Đa số con người theo sở thích và có điều kiện trong KNTH này đều sống trên không gian, trong những ngôi nhà lơ lửng trong không gian nhưng rất ổn định. 
Các nhà trong không gian có độ cao tự động thay đổi theo thời tiết, và cách mặt đất chừng vài trăm đến vài chục ngàn thước hay chỉ vài cây số. Một thành phần không nhỏ khác đã định cư từ lâu trên các hành tinh trong thái dương hệ. Các sách về khoa học giả tưởng hay phim ảnh đã dự đoán chuyện nói trên.
Đời sống cá nhân có vẻ cô đơn biệt lập và hầu như hình ảnh gia đình, vợ chồng hay con cháu, không còn nghe nói hay nhắc tới nữa. Nhưng ngược lại đời sống cũng như sinh hoạt cộng đồng của con người rất phong phú và đa dạng trong thời đại này. Cụ thể như đã minh chứng trong các KNTH trước đây, con người có thể dùng sóng não và màn hình trong đầu để họp hành, thảo luận và tư duy với nhiều người cùng một lúc, và tại nhiều nơi khác nhau, v.v.
30.1   Siêu Quốc Nam-Á (2510 AD)
Gồm có Ấn Độ là nước chính và láng giềng nhỏ xung quanh như Sri Lanka, Malawi, v.v.
Không Thực Phẩm  
Một sự trùng hợp không phải là ngẫu nhiên khi lịch sử cho thấy, Ấn Độ là nước có nhiều nạn nhân bị chết đói nhiều nhất sau Phi Châu. Thật ra, mục tiêu đã theo đuổi của các siêu cường trước đó, cũng nhắm vào chuyện dùng các tổng hợp vi sinh hoá nhân tạo, để cung cấp lượng dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, và do đó đã  cho ra những thành quả đáng kể. Tuy nhiên, phát minh có tính đột phá trong cách xử lý, tối ưu hoá các hệ thống họat động cung cấp và tiếp thu dinh dưỡng cho cơ thể, thì phải cần đến những bộ não siêu việt của các nhà khoa học Ấn Độ.
30.2   Phát Minh Chính 
Một “Năng Lực” hoàn hảo cực nhỏ có khả năng phân giải, tổng hợp lại các nguyên tố cơ bản trong thiên nhiên, đưa trực tiếp vào máu các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người.
Kỹ thuật thô sơ trước đó dùng để tìm kiếm, sao chép và lưu giữ ký ức của con người, đã được thay thế bằng các  phương pháp tinh vi hơn rất nhiều. Một phát minh đột phá của các khoa học gia Ấn có thể cho phép mọi người tự làm công việc sao chép và lưu giữ lại toàn bộ ký ức của chính mình trong các ngân hàng thông tin an toàn. 
30.3   Đặc Tính Văn Hóa
Đời sống tâm sinh lý của con người trong thời đại này có thể so sánh giống y hệt như trong những tu viện khắt khe nhất trên thế giới hiện nay. Mỗi con người là một thế giới riêng biệt, độc lập và tự tại. Đa số rất hạnh phúc, thoả mản với những gì cỏ được. Nhưng không phải vì vậy mà nghĩ là họ không làm việc gì cả. Nhìn bề ngoài của đa số con người trong thế kỷ này trông giống như những tu sĩ hay các vị thiền sư, có vẽ như lạnh lùng và vô cảm. Nhưng trong đầu hay não bộ của họ là một cả thế giới làm việc cực kỳ sống động với những liên hệ tiếp xúc, thào luận hay tư duy với hàng chục đối tượng trong nhiều lãnh vực khác nhau.
31.1   Siêu Quốc Trung-Á (2530 AD)
Bao gồm các quốc gia Pakistan, Afghanistan, Iran, v.v.
Không Dùng Tim Phổi  
Nếu không phải là một điều “Tiên Tri” đã được nói trước cả ngàn năm, thì chắc phải là một sự trùng hợp ngẩu nhiên rất đặc biệt. Đại đa số người dân tại các quốc gia này, hơn cả ngàn năm nay nhất là phụ nữ, đều dùng khăn để che kín mũi miệng lại, chỉ chừa hai con mắt. Ấn tượng ban đầu từ khách lạ khi gặp nhau là “Không muốn nói chuyện tâm tình cũng như không muốn thở vào khí độc!” Một điều báo trước (?) là người dân của các nước này, trong tương lai xa vào thế kỷ thứ 26, sẽ phát minh hay tìm ra phương phát mới để con người không cần phải dùng đến tim phổi hay hệ thống tuần hoàn nữa.
Một cuộc cách mạng phi thường trong đời sống con người? Đúng là vậy và không cần phải thắc mắc gì cả. Thật ra cũng không có gì là mới lạ và đáng làm cho ngạc nhiên cả, khi biết rằng cách đây hơn một tỷ năm, các con giun biển (đồn đột), cũng đã sống được mà không cần phải dùng tim phổi, bằng cách hấp thu dưỡng chất từ ngoài đưa vào trong thân thể qua miệng và da.
31.2   Phát Minh Chính  
Đầu thế kỷ 26, một phát minh về “Năng Lực Trí Tuệ” có khả năng điều chế, tương tác toàn diện với tất cả các tế bào não bằng cách thẩm thấu qua màng tế bào, rồi từ đó có thể bổ xung trực tiếp các nguyên tố cơ bản cần thiết như H, C, N, O, S,v.v, cho các tế bào não làm việc. Trong một thời gian ngắn, phương pháp trên được điều chỉnh hoàn hảo và thêm tự động tối-ưu-hóa, giúp giải thoát một gánh nặng về thân xác cho con người trong giấc mơ du hành chinh phục vũ trụ không gian.
Sau khi phương pháp trên được thử nghiệm xử dụng và cho ra kết quả tốt, mọi người đều hiểu ngay rằng, kể từ thời điểm đó, các bộ phận khác trong thân người từ cổ xuống, đều trở thành không còn cần thiết nữa. Con người có thể sống và sinh hoạt bình thường chỉ với cáí đầu trong KNTH này! Thông tin trên đã giúp cho một số đông hàng triệu cư dân trên các hành tinh gần trong thái dương hệ quyết định trở về lại Trái Đất để được giúp đỡ.
Đặc Tính Văn Hóa
Hệ quả phi thường của phát minh nói trên tạo ra một cơn sóng thần khủng khiếp về mặt kinh tế và tài chánh, san bằng hoàn toàn các giá trị tài sản vật chất của nền kinh tế toàn cầu. Tài sản vật chất như vàng bạc, đá quý, kể cả các món đồ quý giá sẽ mất dần hết ý nghĩa và giá trị, trở thành như là những món đồ tầm thường có mặt khắp nơi trên thế giới. Có hai lý do chính: Một, do triết lý nhân sinh của con người trong KNTH này đã thay đổi quá nhiều về giá trị của nhu cầu tâm linh và nhu cầu vật chất. Hai là đa số đều biết chắc là không sớm thì muộn, đa số con người sẽ rời bỏ trái đất để du hành vào vũ trụ, tìm đến thiên đàng hay cõi vĩnh hằng với những thế giới tâm linh mới lạ trong tương lai, nên tất cả những gì thuộc về thế giới vật chất của trái đất này đương nhiên sẽ trở thành vô nghĩa.
Cũng do ảnh hưởng quá sâu rộng và phổ biến của phát minh nói trên, nên hậu quả cho ra trong KNTH này chính là sự im lặng gần như tuyệt đối trong đời sống sinh hoạt tập thể hay cá nhân hàng ngày. Ngược lại, các sinh hoạt tinh thần thuộc về tư duy khoa học lại sống động khác thường. Dù vậy, nó cũng chỉ xuất hiện âm thầm dưới các dạng sóng từ trong não bộ của con người, mà không lộ diện ồn ào ra ngoài, do ánh hưởng văn hóa trong nền văn minh siêu nhân mới này.
32.1   Siêu Quốc Tây-Nam-Á (2540 AD)
 
Bao gồm lãnh thổ của các nước hiện nay như:
Saudi Arabia, UAE, Oman, Yemen, v.v, thuộc tổ chức khối Á Rập cũ, đã bị gíải tán hay tách ra trong các thế kỷ trước.
Không Dùng Tai Miệng 
Cũng có hiện tượng tiên tri giống tương tự như KNTH vừa qua của khối dân Trung Á. Hầu hết người dân tại các quốc gia này cũng dùng khăn để che kín cả tai mũi miệng lại. Nhưng việc làm này lại hàm chứa một ý nghĩa khác là: “Không nên nói chuyện hay thở mạnh khi đi ra đường nếu không muốn hít vào cát bụi sa mạc!” Điều vừa nói hoàn toàn đúng ngay cả cho chuyện du hành trong không gian vô tận. Thật vậy, nói chuyện bằng miệng hay nghe bằng tai là một trở ngại lớn rất nguy hiểm, kém hiệu quả trong khi du hảnh không gian, nhất là khi con người có thể liên lạc trò chuyện bằng sóng não với nhau một cách đơn giải và tiện lợi hơn rất nhiều. Nhưng đó sẽ là giả thuyết không thể chấp nhận được, vì như đã minh chứng, con người không thể mang theo thân xác của mình nếu muốn du hành mãi mãi vào trong không gian sâu thẳm.
Phải chăng đó cũng là một kết quả tất nhiên từ những hiện tượng trực giác về tâm linh của các dân tộc khối Ả Rập (?) 
32.2   Phát Minh Chính  
Các phát minh trong KNTH này chủ động chính là nhắm vào các phát triển mới tốt hơn, hoặc là làm cho hoàn hảo thêm các phát minh vừa có của các thế hệ trước. Hai vấn đề chính được hoàn chỉnh trong KNTH này: Hệ thống phát và nhận tín hiệu sóng não, cũng như màn hình trong não bộ.
Tai nghe âm thanh không cỏn hiệu quả hay có ích lợi gì nữa, vì tất cả âm thanh đều được chuyển qua tín hiệu và được nghe trong não bộ, nên không còn có âm thanh nào được cho phát ra bên ngoài. Do đó, âm thanh hay tiếng nói từ miệng phát ra cũng là một sự phiền phức, mất vệ sinh và khó chịu, một hành vi có thể bị cho là kém tiêu chí văn minh, khi ý tưởng thường được truyền đi nhanh chóng, riêng tư  và hiệu quả hơn qua làn sóng não. 
32.3   Đặc Tính Văn Hóa  
Thời điểm này, đời sống văn hóa vật chất của con người không còn có sự cách biệt nhiều nữa. Hầu hết tất cả xã hội con người trên thế giới không còn có sự phân biệt kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, giới tính hay tuổi tác, v.v. Mọi người trên thế giới đều dùng sóng não để nói chuyện hay liên lạc với nhau, nên tại các thành phố lớn không còn có tiếng động hay âm thanh ồn ào.
Văn hóa ca nhạc sống hay dụng cụ âm thanh kích động trở thành là của quá khứ lịch sử trong các bảo tàng viện, một quá khứ vàng son của nền văn minh Mỹ Châu. Tiêu chuẩn văn hoá trong KNTH này là chỉ chấp nhận cho các loải động vật còn sống trong các sở thú mới kêu gào hay nói chuyện với nhau bằng những loại âm thanh nghe được bằng tai. Đây cỏ thể sẽ là một “Thiên Đàng” thực tế hay giấc mơ lý tưởng cho chủ nghĩa hành thiền của các vị thiền sư hiện nay. Một lần nữa, phải chăng luôn luôn có trường hợp của những con người có sự hiểu biết và hành động đi trước thời đại(?)
33.1   Siêu Quốc Tây-Á (2545 AD)
Xuất hiện trên lãnh thổ của các nước hiện nay bao gồm các vùng Iraq, Syria, Palestine, Israel, v.v.
Không Dùng Mũi Mắt 
Một trong những bước tiến quan trọng cuối cùng của con người cho chương trình rời bỏ luôn trái đất để du hành vào không gian. Cho tới thời điểm này, khả năng phát sóng não của con người vẫn còn yếu. Tuy con người bình thường có thể liên lạc và nhìn thấy hình ảnh xa cả ngàn dậm, nhưng vẫn còn bị hạn chế bỡi thời tiết hay phải nhờ vào hệ thống vệ tinh hổ trợ, giúp phóng đại cường độ tín hiệu và truyền đi xa giùm. Mục tiêu kỹ thuật trong KNTH này là làm sao cho con người có thể tự phát ra  năng lượng sóng não đủ mạnh với tầm xa chừng vài chục ngàn dậm, để có thể tự vệ, tránh được những tai nạn va chạm với các vật thể khác trong không gian.
Chính những tiến bộ kỹ thuật và khả năng có được nói trên sẽ làm cho con người càng ngày càng ít dùng tới Mũi và Mắt, trừ những lúc khấn cấp bị gián đoạn hệ thống phát sóng não, nhưng là trường hợp rất hiếm khi xày ra.
33.2   Phát Minh Chính 
Phát minh quan trọng chính trong KNTH này là kỹ thuật phóng đại và tập trung sóng não để có thể phóng đi xa được. Phát minh thứ hai là nhờ những tiến bộ khoa học trong thời gian qua, con người có thể cô lập, sao chép toàn bộ ký ức vả kinh nghiệm của chính mình qua một môi trường ảo, tạm giữ được bên ngoải não bộ trong một thời gian ngắn. Đây có thể là bước tiến đột phá tích cực đưa con người đến gần ngảy rời bỏ trái đất hơn bao giờ hết. Dù vậy, ngay tại thời điểm này, con người và ký ức hay linh hồn vẫn chưa đạt tới mức “bất tử” toàn diện, vì còn có một số các tai họa khủng khiếp bất ngờ, thiên nhiên hay nhân tạo, có thể huỷ diệt hay ảnh hưởng nghiêm trọng ngay tức thì đến những dạng năng lựợng trí tuệ nói trên. 
33.3   Đặc Tính Văn Hóa  
Có thể ước tính mà không sợ quá sai lầm là khả năng làm việc trí tuệ của một người bình thường trong thế kỷ này bằng tương đương với ít nhất trí tuệ cùng làm việc chung của cả triệu người hiện nay, hay nhiều hơn nữa. Lý do giải thích ở đây chính là nhờ não bộ con người trong thời đại này luôn kết nối với hệ thống cộng đồng trí tuệ tập thể, mà khả năng tính toán và phân tích có thể mạnh hơn cả ngàn ức tỷ lần của máy tính hiện nay.
Một chi tiết rất đáng chú ý ở đây có liên hệ đến cộng đồng của người Do Thái trên khắp thế giới. Dù xảy ra dưới hình thức nào thì cuối cùng, ước mơ hay lời tiên tri của những người Do Thái được trở về lại với miền đất thánh Jerusalem cũng sẽ được hiện thực. Điều đáng nói là vào thời điểm đó thì không phải chỉ có riêng những người Do Thái, mà cỏn có mặt hầu hết các sắc dân trên toàn thế giới. Nhưng chẳng ai còn có sự phân biệt, vì hầu như tất cả mọi người cũng đều gần giống như nhau cả trong thế kỷ cuối cùng đó.       
34.1   Siêu Quốc Nam-Phi (2547 AD)
Một lần nữa và cũng có thể là lần cuối cùng, nền văn minh tột đỉnh của cả thế giới sẽ vượt qua đường xích-đạo để xuống các nước trong lãnh thổ của Nam-Phi hiện nay, trong vùng Nam Bán-Cầu thuộc lục địa Phi Châu.
Không Dùng Não
Có hai lý do để con người của nền văn minh siêu-nhân trong KNTH này không muốn dùng đến trí tuệ của mình một cách thường xuyên nữa. Thứ nhất, nhờ những tiến bộ phi thường về khoa học kỹ thuật nói trên, các hệ thần kinh cũng như các tế bào bộ nhớ, dùng để điều khiển toàn bộ cơ thể hay giác quan, không còn cần phải dùng đến nữa. Theo luật thiên nhiên, nếu hệ thần kinh và tế bào não không được hoạt động trong một thời gian dài quá lâu, sẽ bị co rút nhỏ lại và có thể biến mất luôn. Thứ hai, một thói quen tốt đã trờ thành là bản tính văn hóa chung, khi tư duy của cá nhân con người không còn cần dùng đến nữa, thay vào là trí tuệ tập thề, vì đã được xử dụng và luôn cho những kết quả tốt đẹp nhất.
34.2   Phát Minh Chính
Phát minh quan trọng cuối cùng của nền văn minh siêu nhân là sao chép, lưu giữ và bảo vệ được toàn bộ những ký ức và kinh nghiệm con người một cách dài hạn, vĩnh viễn được ở luôn bên ngoài thân xác hiện hữu, mà không cần phải dùng đến những vật liệu cuả trái đất, nhất là không bị hao mòn hay huỷ diệt bất ngờ bởi những tai hoạ thiên nhiên.
34.3   Đặc Tính Văn Hóa  
  
Kể từ thời điểm này, tất cả bộ máy kinh tế toàn cầu gần như ngừng hẳn lại luôn, chỉ còn lại các dịch vụ khẩn cấp nhỏ có tính cách tình nguyện hay từ thiện theo nhu cầu cá nhân.
Mọi sinh hoạt cộng đồng khắp nơi trên trái đất gần hình như đều đạt đến trạng thái xã hội lý tưởng nhất của một “Thế Giới Đại Đồng”, vì hầu như không ai còn có những nhu cầu riêng tư về vật chất nữa.
Tất cả chỉ trông chờ vào những thông tin mới nhất từ các tổ chức trí tuệ tập thể hay sự “Thông Minh Nhân Tạo” đề chuẩn bị cho chuyến du hành cuối cùng.
Chương 9
Văn Minh Thánh Nhân. (2548 Ad – 2549 Ad)
Nền văn minh thánh nhân này chỉ kéo dài trong vòng 2 năm chắc sẽ làm cho đa số chúng ta thắc mắc khó hiểu. Tuy nhiên, như đã giải thích trong chương 1 về sự liên hệ theo tỷ lệ nghịch giữa năng lực trí tuệ với thời gian vật lý. Cụ thể giống như năng lực lao động chân tay tăng càng nhiều, thì thời gian làm xong công việc sẽ rút ngắn lại. Tương tự, nếu so sánh năng lực trí tuệ con người trong thế kỷ 26, có thể tăng nhiều hơn cả trăm, ngàn lần năng lực trí tuệ của con người hiện nay. Có thể dùng một thí dụ cụ thể so sánh để cho thấy sự cách biệt lớn lao về trí tuệ như thế nào: Trí tuệ của con người hiện nay, nếu so sánh với người sống trong nền văn minh Thánh của thế kỷ 26, thì cũng cách biệt gần giống như  trí tuệ của những Dã nhân cách đây hơn triệu năm, so sánh với con người hiện tại! Vì vậy, mới có thể được coi như là những thánh nhân dưới cái nhìn ngưỡng mộ của trí tuệ con người hiện tại.
35.1   Siêu Thế Giới - 2548 AD 
Bắt đầu từ nền văn minh thánh nhân này, toàn thế giới được coi như là một tập thể xã hội duy nhất, không còn có những vấn đề phân chia chủng tộc, văn hoá, kể cả các tranh dành quyền lợi kinh tế, đất đai hay tài nguyên thiên nhiên gì nữa. Lý do duy nhất là đa số con người hầu như là không còn có bất cứ nhu cầu nào về vật chất, trừ một số ít năng lượng cần cho não bộ làm việc, và năng lượng đó lại có sẳn sàng ở khắp mọi nơi, khá dư thừa.
Tất cả mọi chế độ cầm quyền hay các lực lượng an ninh cảnh sát đều trở thành vô nghĩa và biến mất hết dần. Mọi xã hội con người đều trở thành tự quản tự giác, mọi cá nhân đều có được sự tự do bình đẳng và giải quyết những khác biệt với nhau một cách nhanh chóng, nhờ có sự trợ giúp và tin tưởng vào những phán xét thông minh của cộng đồng trí tuệ.
Trung tâm chính của nền văn minh thánh nhân này, cuối cùng sẽ quy tụ về với không gian chung quanh đường xích đạo trong lục địa Phi Châu. Đây chính là vùng đất thánh địa, cái nôi sinh ra nền văn minh nhân loại, mà cũng là nơi cuối cùng để vĩnh biệt, đưa tiễn con người đi tìm về nơi chốn thiên đàng trong cõi vĩnh hằng.
 
 
Không Chân Tay – Không Tình Dục – Không Ăn Uống
 
Thời hạn cuối cùng cho những người còn chần chờ chưa muốn quyết định dứt khoát, rời bỏ luôn trái đất để đi tìm đến cõi vĩnh hằng, hay ở lại và tiếp tục đời sống ổn định với nền văn minh thánh nhân trên trái đất(?) Dù tất cả tổ chức cộng đồng trí tuệ hay thông minh nhân tạo đều cho ra một câu trả lời duy nhất là nên đi tìm về chốn thiên đàng, nhưng vẫn có nhiều người thích ở lại Trái Đất với đời sống quá quen thuộc.
Sự kiện phân chia ra có hai nhóm chọn lựa, đi luôn hay ở lại, nếu xảy ra thì cũng không có gì mới, vì đã từng xảy ra rất nhiều lần trong các nguyên đại trước đây. Đặc biệt giống tương tự là đã có một số rất ít các loài lươn biển quyết định rời bỏ luôn đại dương để lên sinh sống trên đất liền, ngược lại với đa số con người trong nguyên đại này sẽ quyết định rời bỏ trái đất để du hành vào không gian.
Trong một thời gian ngắn, những người quyết định du hành vào không gian sẽ phải dùng đến những kỹ thuật tân tiến nhất có sẳn, để loại bỏ dần các bộ phận trong cơ thể, từ phần cổ xuống đến chân tay, chỉ còn lại phần não bộ và xương đầu. Từ thế kỷ 25 trước đây, con người đã không còn cần đến nhu cầu tính dục, không cần ăn uống và hít thở khí trời nữa, nên việc loại bỏ dần các phần thân xác dưới não bộ không có ảnh hưởng nhiều đến con người. Tất cả các nhu cầu về dinh dưỡng hay năng lượng cần thiết cho não bộ phát triển và làm việc bình thường, sẽ được thu gom từ sóng năng lượng trong không gian cho trung tâm não hấp thu.
Đó cũng chính là trở ngại cuối cùng mà con người cần phải vượt qua, trước khi có thể du hành vào không gian. Những chất hữu cơ cấu tạo bằng nguyên tử nặng hơn O (Oxygen) như chất vôi (Calcium)
đều không thể tồn tại lâu dài mãi mãi trong không gian, sẽ bị phân huỷ dần hay còn gọi là phóng xạ theo   thời gian, do thiếu lực hấp dẫn trọng trường đủ mạnh để giữ cho cơ cấu nguyên tử được ổn định.
36.1   Siêu Thế Giới - 2549 AD           Không Cảm Xúc – Không Cần Thân Xác 
Cuốí cùng rồi các thiên tài của vùng đất thánh địa cũng giải quyết được những khó khăn và trở ngại chính về kỹ thuật. Một phát minh mới giúp tạo dựng ra một môi trường ảo bên ngoài, dùng để sao chép và lưu giữ lại năng lượng toàn thể ký ức trong não bộ con người. Phát minh này có thể sẽ giải phóng con người thoát ra khỏi những liên hệ với cảm xúc và thân xác, nhưng đồng thời lại đặt ra cho con người một sự lựa chọn khó khăn cuối cùng là có nên rời bỏ luôn trái đất?
Sự Lựa Chọn Khó Khăn  
Dù trí tuệ có đạt tới mức độ lớn mạnh hơn hiện tại cả ngàn lần, có thể được coi như là những bậc thánh nhân, con người vẫn gặp và đối diện với khó khăn khi có sự lựa chọn giữa hai quyết định đi luôn hay ở lại trái đất:
Nếu ở lại trái đất, con người sẽ được tận hưởng một đời sống hạnh phúc thần tiên kéo dài gần như bất tận, nhờ một phần thân xác và não bộ với hệ thần kinh cảm xúc còn được giữ lại nguyên vẹn.
Tất cả ký ức và cảm xúc thuộc về thân xác sẽ được bảo trì tốt và thay thế bằng bản sao chép bất cứ lúc nào cần đến.
Tuy nhiên, sẽ không có gì là  tuyệt đối an toàn nếu có những tai họa bất ngờ khủng khiếp với xác xuất xảy ra khá cao. Trái đất có thể bị nổ tung toàn thể hay từng phần vì va chạm bởi một thiên thạch lớn. Ngay cả một trận siêu động đất hay siêu núi lửa bùng nổ, cũng có khả năng hủy diệt mọi sinh vật, kể cả các phương tiện máy móc có sẵn để thu hồi, tái tạo lại các hệ thần kinh và toàn bộ ký ức của con người.
Điều cụ thể nói trên cũng có nghĩa là con người không thể “Bất tử”
hay sống mãi mãi với thời gian vật lý, nếu muốn ở lại trái đất với toàn thể hay một phần thân xác hữu cơ còn lại của con người.
Nếu du hành vào không gian chỉ với toàn bộ ký ức hay linh hồn thì coi như là được “Bất Tử” với thời gian. Nhưng nếu xảy ra trường hợp cứ đi mãi trong không gian vô tận mà không tới được nơi chốn thiên đàng hay cõi vĩnh hằng (?). Thêm vào, cũng không thể loại trừ luôn được những tai nạn bất ngờ trong không gian, như bị trọng trường quá lớn của một hành tinh lôi cuốn vào trong quỹ đạo không thoát ra được, cũng như bị lọt vào trong những lỗ đen (Black Holes), v.v.
Cuối cùng, điều chắc chắn sẽ xảy ra là không phải ai cũng muốn rời bỏ luôn trái đất để du hành vào không gian vô tận. Mặt khác, nhờ có những đột phá về kỹ thuật sao chép ký ức nói trên, nhiều người có thể tìm kiếm lại toàn bộ ký ức của những người thân quen hay dòng họ tổ tiên đã từng sống trên trái đất hơn mấy ngàn năm trước. Nếu những gì nói trên xảy ra theo diện quy mô và rộng lớn khắp thế giới trong một thời gian ngắn, thì hiện tượng trên có thể được coi như là “Ngày Phán Xét”, đã từng nói đến trong Thánh Kinh của Thiên Chúa Giáo.
Thay Cho Kết Luận
Chúng ta vừa đi lại con đường tiến hóa của nhân loại và các sinh động vật, từ lúc khai sinh ra thái dương hệ cho đến ngày con người có thể chính thức rời bỏ luôn trái đất. Tổng cộng thời gian tính ra là hơn năm tỷ năm của quá khứ lịch sử đã đi qua, và độ chừng hơn năm trăm năm còn lại trong tương lai.
Một lần nữa, dựa trên những minh chứng lịch sử đã được trình bày trong các chương sách vừa qua, nếu luật tiến hoá đã được chứng nghiệm thực tế là đúng bởi nhiều dữ kiện khoa học trong hơn năm tỷ năm qua, thì không có lý do gì để cho thấy là nó sẽ không đúng trong vòng hơn 500 năm còn lại.
Trên hết tất cả, cho dù kết quả của những dự đoán khoa học tương lai nói trên có xảy ra đúng hay sai, nhiều hay ít như thế nào, cũng không phải là điều quan trọng thật sự đáng được chú ý nhất. Điều đáng nói hay quan tâm nhất ở đây, chính là chúng ta đã học được những bài học quý giá nào từ kinh nghiệm lịch sử mấy tỷ năm của các loài sinh động vật, kể cả cho con người trên trái đất. Rồi từ đó, chúng ta có thể khách quan tìm hiểu và học hỏi thêm về con đường có thể phải đi tới trong tương lai của nhân loại.
Chúng ta đã học được những bài học lịch sử nào?
Động Lực Tiến Hóa  
Thắc mắc đầu tiên của đa số khi đọc xong chương1 là: Nếu so sánh định luật vật lý của sự rơi tự do và luật tiến hoá, thì động lực chính nào đã tạo ra sự tiến hoá, so với lực hấp dẫn trọng trường? Câu trả lời thẳng và chính xác nhất cho tất cả mọi sinh động vật là: Cùng chung một lực hấp dẫn cơ bản, thu hút lẫn nhau giữa hai nguyên tử Dương và Âm. Nhớ lại từ đầu, đời sống của các tế bào, những cơ cấu hữu cơ bên ngoài đã phải “chộp” lấy bất cứ những kết cấu hóa chất nào lại gần, để bổ xung cho các nguyên tố đã bị lấy mất, hay thiếu. Nhưng nếu cùng câu hỏi đó và đặc biệt dùng riêng cho con người, thì câu trả lời chính là lòng ham muốn, hay nói theo ngôn ngữ triết học là dục vọng. Không có ham muốn hay dục vọng của con người muốn thoả mản cho sự tò mò của kiến thức, hay muốn làm giàu, thì chắc chắn đã không có nhiều những phát minh kỹ thuật làm cho thăng tiến đời sống và phát triển xã hội.
Một điều nghịch lý khác lại xuất hiện ở đây. Chính những cái ác, cái xấu đôi khi cũng đã có những đóng góp tích cực một cách gián tiếp cho sự tiến hoá, nhiều cũng như là những cái thiện và cái tốt đã từng làm. Cụ thể, nếu không có những tham vọng cuồng của Hitler và những cuộc chiến tranh khốc liệt trong thế kỷ 20 vừa qua, thì dám chắc nhân loại ngày nay vẫn chưa có được những tiện nghi cao cấp đang dùng, như điện thoại di động hay máy tính xách tay, vv.  Bởi vậy, có những ngôi đền trên thế giới đã đặt luôn tượng của cả hai ông thần Thiện và thần Ác.
Văn Minh Di Cư
 
Tất cả các nền văn minh lớn trong lịch sử đều đã được khai sinh ra bởi những nhóm sắc dân yếu kém, bị rượt đuổi hay phải bỏ chạy, đi ra khỏi những vùng đất cư trú ổn định đã sống trước đây. Cụ thể như nền văn minh Ai Cập với các sắc dân Phi châu yếu kém đã bị đuổi chạy về hướng bắc dọc theo con sông Nile cách đây hơn 10.000  năm. Các sắc dân nô lệ bị đày lên Âu châu bởi các triều đại của đế chế La Mã cách đây gần 2000 năm, hay các sắc dân Âu châu yếu kém phải di cư qua châu Mỹ trong thế kỷ 17 của đế quốc Anh, v.v.  Nhìn ngược thời gian về trước nữa, xa hơn cả vài chục triệu năm, điều nhận xét trên cũng áp dụng đúng cho những loài khủng long yếu kém hơn đã bị rượt đuổi ra khỏi Phi châu, để tiến hoá thành các loải thú cao cấp, có vú và sinh con sau này.
Nhưng dữ kiện thuyết phục nhất để hậu thuẩn cho các nhận xét nói trên, thì phải kể đến hai sắc dân có thành tích di cư nhiều nhất trên thế giới, cũng như những thành công tích cực của họ. Đó là dân Do Thái và Trung Hoa. Cả hai sắc dân nói trên đều đã có những nguyên nhân lịch sử đặc biệt để phải di cư, đi ra tản mác khắp nơi trên thế giới. Những thành công đặc biệt của họ được nhắc tới rất nhiều trong các lãnh vực như kinh doanh hay ngay cả trong giới khoa học và kỹ thuật, nhất là dân Do Thái, cũng đủ để tạo ấn tượng cho thấy nhận xét trên có cơ sở hậu thuẩn tốt, để được chấp nhận là hợp lý.
Ngược lại và đồng thời cũng cho thấy, các xã hội hay cộng đồng dân tộc nào trong quá khứ có mức độ di dân thấp nhất hay gần như không có, thì hậu quả đã cho thấy là các tiến bộ của cộng đồng xã hội đó gần như là bị chậm lại, nếu không muốn nói tụt hậu so với láng giềng hay các nước khác. Cụ thể thí dụ như các nước Á Phi cách đây vài thế kỷ, với chính sách cô lập hay bế quan tỏa cảng, đã làm cho đất nước trở thành suy kém, biến thành mồi ngon cho chủ nghĩa thực dân của các đế quốc Âu châu sau này.
Thiên Nhiên Công Bằng  
Nếu ai đó cho rằng đất nước này, hay lãnh thổ kia được thiên nhiên ưu đãi, có những tài nguyên dồi dào phong phú hay địa hình thuận lợi tốt đẹp, thì đó có thể là kết quả từ một tầm nhìn rất ngắn hạn của một vài cá nhân nào đó thôi. Còn đối với các nhà hoạch định sách lược quốc gia với tầm nhìn dài hạn, thì có thể họ hiểu rằng không có mãnh đất hay đất nước nào được thiên nhiên ưu ái hơn đất nước nào khác cả. Theo thứ tự thời gian, lâu hay mau, gần hay xa, bất cứ vùng đất nào cũng có lúc phát lên để trở thảnh là mãnh đất phì nhiêu, phát triển và thịnh vượng.
Lý do duy nhất để giải thích lập luận nói trên là dựa hoàn toàn vào kinh nghiệm lịch sử. Cụ thể đơn giản như các vùng đất sa mạc bên phi châu hay vùng Trung Đông, cách đây hơn thế kỷ, là những vùng đất chết, ngay cả cây cỏ cũng không sống nổi, vì không có đủ  nước sinh hoạt. Nhưng kể từ khi biết và khai thác được dầu hỏa dưới lòng đất, thì cả vùng sa mạc trở nên sầm uất và nhộn nhịp chưa từng thấy. Thậm chí còn họ còn xây dựng lên một chỗ nghĩ mát có khu vực trượt tuyết quanh năm suốt tháng, dù bên ngoài là sa mạc nóng đến cháy da thịt.
Ngạn ngữ trong tiếng Việt có câu: “Sông có khúc, Người có Lúc”, áp dụng rất đúng cho trường hợp này. Lịch sử nhân loại hơn 10000 năm qua đã minh chứng cho thấy, các nền văn minh luôn di động và thay đổi qua từng vùng miền khác nhau rõ rệt theo thời gian. Mỗi lục địa, từng quốc gia hay mỗi dân tộc, đều có một thời đóng vai trò là cường quốc văn minh tiến bộ nhất trên thế giới. Do đó, nếu lịch sử qua mấy ngàn năm đi đúng như đã nói ở trên, thì điều hiển nhiên cho thấy là các quốc gia mới xuất hiện ở vùng Nam bán cầu và các nước chậm tiến lạc hậu trong vùng nhiệt đới Á Phi, sẽ có ngày được tham dự vào vai trò lãnh đạo thế giới, nếu còn tồn tại cho tới thời điểm đó. Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh một lần nữa là vào thời điểm đó, cả thế giới coi như là một thế giới đại đồng, các quyền lực chính trị hay quyền lợi về vật chất không còn có giá trị vật chất thực tế nữa, nên vị trí của các nước lãnh đạo thế giới trong hai thế kỷ sau cùng chỉ có tính cách danh dự và tượng trưng mà thôi.
Luật Nhân Quả  
Có thể thấy rõ nhất qua các chương sách, luật nhân quả đã xảy ra và lập lại không biết bao nhiêu lần trong suốt chiều dài lịch sử mấy trăm triệu năm, không chỉ dành riêng cho con người mà cỏn đúng luôn cho các loài sinh đông vật khác. Ra đi hay bỏ chạy với thân phận nô lệ hay những kẻ hèn kém, để rồi một thời gian mấy trăm, ngàn năm sau, những hậu duệ của họ lại trở về trong tư thế của kẻ mạnh để chiếm đoạt và thống trị lại hậu duệ của những kẻ thù cũ, và chu kỳ hay cái vòng xoay lịch sử đó cứ tái diễn mãi không bao giờ ngưng nghĩ.
Cuối cùng thì những gì đã hay sẽ xảy ra cho con người đều đúng như đã viết ra trong các kinh sách của các tôn giáo lớn. Hầu như tất cả triết lý chính yếu về nhân sinh quan của các tôn giáo đều xảy ra đúng với thực tế được chứng minh.
Phật giáo đưa ra triết lý về tính “Sắc, Không”, đều xảy ra đúng hoàn toàn cho con người vào cuối nền văn minh này. Chính xác nhất là giáo lý Phật khuyên con người cần phải diệt trừ hay bỏ luôn “Tham Sân Si”, được hiểu như là dục vọng hay tất cả các phần tử vật chất từ thân xác của con người, nếu muốn đi vào cõi niết bàn. 
Thiên Chúa Giáo có nhấn mạnh đến hai hiện tượng sẽ xảy ra trong tương lai là “Ngày Tận Thế” và mọi linh hồn của con người sẽ sống lại và chịu sự phán xét cuối cùng, v.v. Dĩ nhiên, ngày tận thế ở đây phải được hiểu như là: “Những ngày tận cùng của thế giới con người trước khi rời bỏ trái đất”, hơn là ý nghĩ về một sự huỷ diệt hoàn toàn của trái đất và con người. Ngoài ra, khi toàn bộ ký ức của một người được phục hồi, lưu giữ hay sao chép lại được, thì không có một tội lỗi nào đã làm trong quá khứ có thể được che dấu, hay tránh sự phê phán của mọi người được nữa.
Tham khảo:
1.  I_Ching, Wikipedia
2. Nguyễn Ðăng Thục, Lịch Sử Triết Học Ðông Phương, Xuân Thu,1990 In lại.
3. Sào Nam Phan Bội Châu, Chu Dịch, Khai Trí, 1969.
4. Ngô Tất Tố, Kinh Dịch Toàn Bộ, Ðại Nam, 1973.
5. Nguyễn Mạnh Bảo, Dịch Kinh Tân Khảo, 1958.
6. Nguyễn Duy Cần, Dịch Học Tinh Hoa, 1969
7. Đoàn Văn Thông, Kinh Dịch Ứng Dụng, 1997
8. Introduction to the book “Understanding the I Ching”:  http://www.mcelhearn.com/.... as a certain nuclear physicist working at the CERN in Switzerland said, "a charming intellectual mistress, that we are ashamed to go out in public with."
9. John Blofeld, I Ching (The Book of Change), Dutton & CO., Inc. 1968.
10. Sternheim and Kane, General Physics, Wiley, 1986.
11. Ralph H. Petrucci, General Chemistry, Macm, 1986.
12. Use of the I Ching in the Analytic Setting, D L. Merritt, Ph.D.  http://www.dennismerrittjungiananalyst.com/ 
“China has given the West has been given a precious gift in the form of the I Ching. The world view and wisdom of the I Ching mirrors essential elements of Jungian theory and practice.  A fruitful exchange between Jungians and Chinese scholars could serve as a synergistic cross-pollination between two cultures, using the I Ching as the bridge for a mutual consideration of some of humankind’s most profound questions”
13. I Ching Hexagrams, Sally Painter http://feng-shui.lovetoknow.com/.
14. I ching | theAbysmal http://theabysmal.wordpress.com/.
15. Boning up on Neanderthal: DNA to offer new clues- The Journals Nature and Sci ence, November, 2006
16. Fossil may be link from sea to land- The Journal Nature- April, 2006
17. The Search for Our Earliest Ancestors in Kenya’s- Leakey G. M., April, 12, 1997
18. Human brain still may be evolving, Bruce Latin. Nature-Journal of Science, Sep tember, 2005
19. Timeline of human evolution   http://en.wikipedia.org/.
20. Ethiopia is top choice for cradle of Homo sapiens,  Michael Hopkins, Nature- Journal of Science, 2005.
21. Human Evolution Timeline Interactive Smithsonian-Museum of Natural History http://humanorigins.si.edu/.
22.  Human Evolution   http://en.wikipedia.org/.
23. Is the human brain still evolving? Molly Edmonds, http://health.howstuffworks.com/about-author.htm#edmonds  
24. Generalized Theory of Global Climate Change, 2002, Barry Saltzman
25. Up to half of Earth's water is older than Sun, AFP http://news.yahoo.com/half-earths-water-older-sun-215812677.html  
26. Stephen Hawking Says 'There Is No God,'- Huffington Posthttp://www.huffingtonpost.com/." In 2007, he told the BBC that he was "not religious in the normal sense," adding, "I believe the universe is governed by the laws of science. The laws may have been decreed by God, but God does not intervene to break the laws."
27.  Neanderthal Museum
28. New-York Museum of Natural History The Virtual Fossil Museum- www.fossilmuseum.net  
29. The Virtual Fossil Museum- www.fossilmuseum.net  
30. The ZoomSchool.com 
31. The World Almanac and Book of Facts. 1996
32. Brain Change/ David Perimutter, MD. PBS, 2014 
33. The Nile – Documentary Films – NATGW, 2014 
34. The Mississippi River– Documentary Films –  NATGW, 2014  
35. Charles Darwin Biography, http://en.wikipedia.org/.
36. List of Rivers in length, http://en.wikipedia.org/.
Tác giả Nguyễn Cường 
Sinh tại: Ninh Hòa, Khánh Hòa
Cựu học sinh: Trường Nam Tiểu Học, Bá Ninh, Võ Tánh - Nha Trang Cựu Sinh Viên: Đại Học Khoa Học, Kỹ Thuật Phú Thọ – SàiGòn University of Michigan, Ann Arbor California State University, Sacramento

Nghề Nghiệp: Kỹ sư Công Chánh - Nghiên cứu Khoa Học - California Đã đóng góp nhiều khảo luận khoa học và bài viết tham luận trên các Tạp Chí, Đặc San, Tuần Báo Việt Ngữ, và các Trang Mạng tại Hải Ngoại cũng như Trong Nước.
31/12/2014
Nguyễn Cường
Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tạp văn Nguyễn Tường Bách 000000

Tạp văn Nguyễn Tường Bách Smartphone Và Tôi Trong thời đại này, xuôi ngược trên mọi nẻo đường Đông-Tây, ta bắt gặp một hình ảnh mới mẻ. Mọ...