Borges và cuộc hành trình vào những mê lộ
Được xem là một trong những
nhà văn hiện thực kì ảo đầu tiên của Mỹ Latinh, Truyện hư cấu (Ficciones)
ra đời vào năm 1944 đã đưa tên tuổi J.L.Borges tỏa sáng toàn cầu. Qua tác phẩm
này, một “thế giới quan Borges” đã được xác lập, với các thử nghiệm, cải tiến
cũng như tái định hình thời gian – không gian… làm nên những chủ thể văn chương
độc đáo.
Bao gồm các truyện được viết riêng lẻ và được đăng tải trên nhiều tạp chí, Truyện hư cấu gồm 2 phần nhỏ, là Khu vườn những lối đi rẽ đôi (1941) và Tác tạo (1944). Với một cá tính độc đáo mà như dịch giả Nguyễn Trung Đức từng nhận định “Borges đã để lại một công trình văn học căn bản trong đó ông chỉ chơi hai khái niệm then chốt: thời gian và không gian”, ta có thể đọc tập truyện ngắn này theo nhiều phương cách: một thử nghiệm về mặt hình thức, một tưởng tượng về thế giới khác, và cũng có thể là những tuyên ngôn hướng về văn chương mang tính bán tự truyện.
Một thế giới mới
Là người chủ trương tạo
ra các hình thức mới, Borges trong văn nghiệp của mình đã tạo ra những kết hợp
độc đáo và đầy ấn tượng. Yếu tố không gian cũng như thời gian trong tập truyện
này không được quan sát từ một tọa độ vốn dĩ quen thuộc. Theo đó, Borges đã khảo
sát lại tính chất chảy dài của thời gian cũng như sự giới hạn không gian, để tự
tạo ra thế giới thứ 3 mà xét về bản chất, là rất bất định nếu so với những quan
niệm ta vẫn thường quen.
Mở đầu tập truyện bằng Tlön,
Uqbar, Orbis Tertius; Borges đã bắn phát pháo đầu tiên cho việc truy tìm về
một hành tinh mà ta chưa từng biết đến, một “brave new world” chỉ xuất hiện
trong 40 bản sách và liên tục trồi sụt trong thế giới này. Theo đó Orbis
Tertius trong tiếng Latin nghĩa là “thế giới thứ 3”, và nó cũng mang một
ý đồ riêng, khi Borges muốn dựng lên một hành tinh song song, với mọi kết cấu từ
ngôn ngữ, tôn giáo, hệ động – thực vật… cũng như hết mọi quy tắc và điểm tham
chiếu sẽ lật ngược lại so với những gì Trái đất hiện có.
Rằng ở Uqbar tôn giáo
không hề tồn tại, nên thông qua các câu chuyện về Al-Mu’tasim, Xổ số
thành Babylon, Phép màu bí mật hay Ba phiên bản Judas… Borges dường như
đang muốn chối từ thủ lĩnh tối cao về mặt tâm linh của con người Trái Đất.
Trong tác phẩm phúng dụ dựa theo bài thơ của một thi sĩ Ba Tư, Borges đã cho thấy
rằng việc biến các nhân vật trở thành quy ước, một hệ tư tưởng, một đấng tối
cao… có thể giảm đi hiệu suất của một tác phẩm đến mức độ nào. Cũng tương tự thế
với phiên bản về Judas, Borges đã lật ngược lại rất nhiều nhan đề đã có từ trước,
như một cái cây với các cành nhánh, để xem xét lại Judas là ai, và việc bán đứng
Jesus tối cao có phải là một bệ phóng cũng như công việc đã được định sẵn? Và y
rốt cuộc là đáng lên án hay nên được xem là một yếu nhân quan trọng?
Borges cũng khảo sát lại
ý tưởng của William Hazlitt, về một thế giới đồng nhất, nơi một người cũng là mọi
người, và cùng sỡ hữu một “mặt trời chung” bao gồm mọi thứ: vật chất, tri thức,
hiểu biết, quan hệ… Ở nơi xứ ấy, mọi người theo thuyết duy tâm, nên những khả
thể sẽ được tiếp nối cũng như di truyền về mặt vật chất. Điều đó thể hiện rõ nhất
trong Pierre Menard, tác giả Don Quijote; nơi
Borges cho một tác giả viết lại kiệt tác Don Quijote mà không
phải là sao chép, hoặc là giả trang.
Như nhân vật Menard nói,
ông muốn làm một công việc như Alphonse Daudet, đưa vào chàng Tartarin hết mọi
tính cách của người anh hùng thế kỉ 17. Và bởi trong xứ Uqbar có một suối nguồn
kiến thức được chia sẻ chung, nên kiệt tác của Menard cũng chính là tấm
palimpsest đa lớp song song, nơi ta thấy những trang văn đã từng được viết 300
năm trước về một gaucho sẽ lại hiện về y hệt như với tác giả da trắng thế kỉ
XX, nhưng mọi cách nhìn giờ đã thay đổi. Từ đó việc đọc là một kĩ thuật lạc thời,
và cũng thật sai khi gán cho nó bất cứ một cái tên nào.
Do đó những chuỗi Khu
vườn những lối đi rẽ đôi và Tác tạo chính là rẽ nhánh
chi tiết của thế giới ấy, nơi qua mỗi kết cấu truyện ngắn, Borges tiến hành khảo
sát lại những định đề xét về thời gian cũng như không gian tưởng như chân lí.
Cũng như nghịch lí về mũi tên bay đã rất nổi tiếng của Zeno, rằng nếu ta coi thời
gian là những “khoảnh khắc” có thể “cắt” ra và rồi “nối” lại, thì việc mũi tên
bay được về đích sẽ là bất khả. Vậy thì thời gian ở xứ Uqbar thực chất ra sao?
Những con đường rẽ nhánh
Trong tập truyện này, Borges nhìn thấy thời gian như là cơ hội của những gặp gỡ, nơi những số phận hoặc là giao nhau, hoặc là gặp nhau, và mỗi trường hợp thì sẽ tạo ra một định mệnh khác. Điều đó thể hiện rõ ở 4 truyện ngắn gần như có chung cốt truyện, là Hình của kiếm, Cái chết và la bàn, Phương Nam cũng như Đoạn kết. Ở đó các nhân vật chính đều tự tưởng tượng con đường định mệnh rất khác, nơi họ sẽ không tuân theo cái duy ý chí nhà văn áp đặt, mà còn là déjà vu, một số kiếp khác… họ tự mình đứng lên, giành lại chiến thắng.
Cũng vì sở thích đa bội
cũng như nhân lên khi nhìn thấy mình trong những tấm gương, mà các truyện ngắn
như Đường đến với Al-Mu’tasim, Phế tích vòng tròn, Chủ
đề kẻ phản bội và vị anh hùng… đều có chứa đựng yếu tố luân hồi (Ibbûr
– như từ mà Borges dùng) cũng như trở đi trở lại mang tính kế thừa. Đó là sự
tương đồng giữa tác phẩm của Mir Bahadur Ali và bài thơ phúng dụ Ba Tư, là số
phận của Kilpatrick hòa vào Julian Caesar, cũng như của một người mơ này lại là
tạo tác của người mơ khác… Borges cho thấy những nút giao điểm của số phận, nơi
cùng bắt nguồn từ một điểm chung, từ đó mọi thứ rẽ nhánh và rồi trở lại đặc điểm
của mình.
Trong một bài luận,
Borges đã thừa nhận rằng chính bản thân mình không tin vào sự luân hồi, nhưng với
tính thích châm biếm cũng như giễu nhại (mà ông ít nhiều cũng đã thể hiện trong
một chi tiết về Valéry, khi Mernad coi y như vừa lắm tài hoa cũng lại bất tài);
ta có thể thấy Borges cũng đang nhân hai để tạo ra được lí do hợp lí cho việc
nhân đôi vật thể, và là nguyên mẫu chính cho ý tưởng về sự phân nhánh. Trong
truyện về xứ Uqbar, ông gọi đó là hrönir – những vật đã được nhân hai, và thường
là những phản đề của thứ còn lại, như chính đề và phản đề, chứng minh và phản
chứng, sách và phản sách, hi vọng và lòng tham…
Tính rẽ nhánh đó thể hiện
rõ nhất ở Lược khảo tác phẩm Herbert Quain, nơi thời gian là những
lát cắt được xếp ngược lại, cũng như định mệnh chính là tổ hợp của những lựa chọn.
Đi theo kiểu này ta sẽ gặp nhau, nhưng trong một vũ trụ khác, trong một mê lộ,
thì ta lại là kẻ thù. Borges sắp xếp tác phẩm như kính vạn hoa, mà một tổ hợp,
chỉnh hợp có thể thay đổi cả một định mệnh, cũng như số phận của cả một người.
Điều đó cũng sẽ xuất hiện
ở nhân vật Fenus ngã ngựa, người sẽ không tin vào sự phổ quát, mà đời sống này
không có gì hơn là những chi tiết cũng như trực tiếp. Khi đó con chó đối với
anh ta không chỉ ám chỉ về một đàn chó, mà con chó vào lúc 3 giờ cũng như 4 giờ
sẽ được tri nhận một cách khác nhau, và là thực thể hoàn toàn riêng biệt. Do đó
cuốn sách đời người là có thể được biết trước, nhưng nó vô tận, bất khả vãn hồi,
và mỗi cành nhánh sẽ ngày càng chia nhau ra, lan đến vô tận…
Không những thời gian mà
không gian cũng là một chủ đề chính được Borges tiến hành khảo sát trong tác phẩm
này. Thư viện Babel dựa trên cốt truyện ở trong Kinh Thánh, kết
hợp cùng với ý tưởng phân nhánh, đã tạo ra một không gian gần như 4 chiều (như
trong Interstellar của Christopher Nolan) bởi các tổ hợp cũng
như chỉnh hợp, tạo thành từ 22 kí tự và 3 dấu câu, từ đó tạo ra ý nghĩa của nhiều
thứ tiếng. Thư viện Babel cũng là một ý đồ khác về sự phân
nhánh đi theo chiều dọc, khi các kết cấu vươn đến tận trời, cũng như mang theo
tính chất vòng tròn của “rắn cắn đuôi” – nơi mọi thứ sẽ tiếp diễn và rồi về lại
nơi nó bắt đầu.
Và cũng như những nhà văn
sử dụng yếu tố tự truyện trong các tác phẩm, ta thấy Borges gài cắm rất nhiều dấu
hiệu thuộc về riêng mình. Từ nỗi sợ bị nhân đôi, niềm đam mê với các tuyển tập
từ điển (thể hiện trong truyện đầu tiên), kí ức về chú hổ lớn trong vườn bách
thú… cho đến chủ nghĩa anh hùng (Khu vườn những lối đi rẽ
đôi), việc tiên đoán rằng bản thân mình sẽ bị mù lòa (Funes toàn kí)…
Điều này cũng có thể coi là một thử nghiệm mang tính hài hước của riêng Borges,
khi không còn là Menard viết lại Cervantes, mà là một Borges trẻ tiên đoán cho
Borges già, từ đó ý thức về những lát cắt thời gian lại càng sáng rõ, hiện lên
rõ ràng.
Như vậy, Truyện hư cấu có thể nói là một tác phẩm vô cùng thách thức về mặt đổi mới cấu trúc cũng như chứa đựng rất nhiều quan niệm của riêng Borges, về thời gian, không gian cũng như số phận. Trong truyện về xứ Tlön, ta có thể thấy thế giới tưởng tượng đang dần từng bước hòa vào đời thực. Ý tưởng của nó có thể không phản ánh đúng niềm tin của Borges (mà tên tuyển tập phần nào khẳng định điều đó), nhưng qua tác phẩm này, Borges đã tạo ra một trò chơi vô tiền khoáng hậu, đưa các độc giả vào một hành trình song song và cũng lý thú chính như cuộc đời mà họ thực sống. Một cuốn sách đa thanh và rất lý thú để khám phá lại.
20/6/2023
Đoàn Anh Tuấn dịch
Nguồn:
Theo
https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét