Sức hấp dẫn của ngôn ngữ nghệ thuật “Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu”
Hồ Anh Thái thuộc số các nhà văn mà người đọc có thể “ngửi văn” đoán ra ngay tác giả. Bởi anh đã tạo cho mình được một giọng điệu không lẫn vào đâu được (dù nội dung kể ở mỗi cuốn sách là khác nhau). Cũng như vậy, tiểu thuyết mới nhất của Hồ Anh Thái, “Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu”[1], đã lôi cuốn được người đọc bằng giọng điệu đặc trưng của anh, sống động và hài hước, bình dị mà độc đáo.
1. Mời gọi người đọc đồng
sáng tạo
Tiểu thuyết “Hà Nội nhiều
mây có lúc có mưa ngâu” có cấu trúc hình kim cương – các sự kiện,
các mẩu chuyện rẽ nhánh, rẽ tia nhưng vẫn tập trung vào ý chính với kiểu “truyện
lồng truyện” theo hiệu ứng cánh bướm: “Hạt bụi ở chỗ này có liên quan đến con
bướm đập cánh ở chỗ kia” (tr. 9). Thực chất lý thuyết của cấu trúc này là sự lồng
ghép các tam giác (mỗi tam giác là một mẩu chuyện nhỏ) thành một chỉnh thể mà
trong đó điểm giao nhau làm thành tâm điểm. Tâm điểm này chi phối các nút giao
nhau theo các cạnh tam giác. Cấu trúc này làm thành một thái dương hệ các tầng
lớp nghĩa; tạo ra nhiều góc cạnh dễ thu hút, hấp dẫn người đọc liên tưởng để nhận
biết thông tin nghệ thuật của tác phẩm. Các tiếp điểm và tâm điểm tạo nên một mạng
lưới các quan hệ, nương tựa, tỏa sáng cho chủ đề. Chính cấu trúc này đã quy định điểm
nhìn đa bội trong tiểu thuyết “Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu”.
Truyện được kể ở ngôi thứ ba, ngôi kể này tuy rất khách quan nhưng thiếu tính
chủ quan. Để bù lại, tác giả đã liên tục linh hoạt di chuyển điểm nhìn từ người
kể chuyện sang nhân vật, rồi tiếp tục di chuyển từ nhân vật này sang nhân vật
khác hoặc chuyển từ đối thoại sang độc thoại. Đặc biệt là độc thoại và đối thoại
hòa lẫn vào nhau; các đối thoại được viết liền mạch không dùng dấu gạch đầu
dòng. Cứ như thế, một không khí Hà Nội với những người Hà Nội bình
thường và khác thường của những năm 70 trong thế kỷ trước hiện ra rõ nét với đủ
các cung bậc vui buồn, xấu tốt, kể cả những quan niệm, suy nghĩ ấu trĩ một thời.
Truyện được viết theo
khuynh hướng hiện thực huyền ảo, nhưng cái ảo ở đây dễ chấp nhận, cảm
giác rất thực và hợp lý; cái ảo không phải cố tạo ra để làm dáng cho cách viết
được coi là mốt của tiểu thuyết những năm gần đây. Cũng cần nói thêm là yếu tố
kỳ ảo có motif “người đi xuyên không gian” đã được Hồ Anh Thái
áp dụng thành công từ tiểu thuyết “Đức Phật, nàng Savatri và tôi”. Nàng Savatri
có thể đi xuyên màn đêm nơi có cây bồ đề giác ngộ, thậm chí xuyên qua biển
sương mù ở biên giới. Đến tiểu thuyết “Hà Nội nhiều mây có lúc có
mưa ngâu”, motif này lại xuất hiện khi nhân vật Phan có khả năng
nhìn xuyên tường. Đó là dụng ý liên quan đến kỹ thuật kể chuyện của anh. Bởi nếu
chỉ kể từ điểm nhìn bên ngoài của ngôi kể thứ ba thì một số bí mật, góc khuất của
hiện thực Hà Nội sẽ không thể hiển lộ được. Ngoài khả năng nhìn xuyên tường,
nhân vật Phan còn được nhà văn ban cho khả năng thần giao cách cảm. Phải như thế
Phan mới có thể phát hiện và cứu được cô y tá bệnh viện Bạch Mai thoát ra từ đống
đổ nát sau trận bom, mới biết được người anh trai tên Kỷ của mình đang gặp tai
nạn trong khi chiến đấu.
Cuốn sách này có thể được
coi là một dạng tiểu thuyết lịch sử kiểu mới, bởi qua đó, tuổi trẻ
hiện nay có thể hình dung được cuộc sống của những con người Hà Nội “bình thường
và khác thường” trong thời chiến và thời bao cấp thông qua nhiều chi tiết sống
động. Đó là nỗi khổ của việc mất sổ gạo hay chuyện bán bia kèm canh rau cải,
chuyện mậu dịch viên cảm tình cá nhân có thể cho thêm bia; người đọc biết được
thời đó cấm hát nhạc vàng, cấm quần ống tuýp, cấm đầu đít vịt; nạn trấn lột ở
công viên của bọn “quân khu”, biết được tầm vóc của thanh niên Việt Nam thời đó
quả là khiêm tốn (qua nhân vật Nông Dân cao chỉ một mét sáu tư, nặng có bốn ba
cân phải ăn gian cân nặng để được đi lính); hoặc những câu nói gần như cửa miệng
lúc bấy giờ mà ứng với hầu hết hoàn cảnh thời chiến: Chúc bác sớm đoàn tụ
gia đình… Hiện thực trong tác phẩm không tô hồng cũng không bôi đen. Chẳng
hạn, khi máy bay rơi nhiều thì Thu khẳng định chỉ máy bay địch rơi, còn “máy
bay ta không rơi đâu” nhưng chú đánh xe bò đã nói: “Có rơi đấy chị ạ. Phóng hết
cả hai quả tên lửa rồi, không có gì để bắn lại khi cả đàn F4 nó bao vây”, “Tên
lửa bạn cho mấy năm trước thì hết đát”… Tiểu thuyết cũng nhắc lại
những quan niệm ấu trĩ của một thời qua nhân vật chú Định: chú cứ nghĩ là làm
cách mạng giải phóng đất nước được thì làm gì cũng được (47). Còn chiến tranh
đã làm thay đổi số phận con người: Kỷ có công không được ghi nhận, Mùi hành
tung còn nhiều khuất lấp lại được thăng chức, anh chàng nhạc vàng bị đi cải tạo
bảy năm (47).
Truyện của Hồ Anh Thái
thường có biểu tượng mang tính ẩn dụ. Trước đây,
tiểu thuyết “Đức Phật, nữ Chúa và điệp viên” cũng dung chứa ẩn dụ. Ở cuối
tác phẩm, một cô gái được dùng làm phương tiện đi báo thù sẽ chẳng bao giờ chạy
ra được bến sông Hằng, và tất nhiên không thể “đáo bỉ ngạn” sang được đến bờ
bên kia (sông Hằng là biểu tượng của sự giải thoát), là một ẩn dụ mang tư tưởng
Phật về việc oán thù không dẫn đến giải thoát, hận thù lại mở ra hận thù và trần
thế lại sa vào vòng tái sinh luẩn quẩn. Còn trong tiểu thuyết “Hà Nội nhiều mây
có lúc có mưa ngâu” lại có biểu tượng Ngưu Lang – Chức Nữ. Đấy là một biểu tượng
bi kịch của những đôi uyên ương không được sống cùng người mình yêu. Chiến
tranh đã khiến nhiều mối tình đẹp phải chia xa như Thu và Thiện, Kỷ và Thu… và
nhiều mối tình trong truyện có kết thúc “không ai lấy được nhau”. Hồ
Anh Thái đặt nhân vật trong hoàn cảnh thực tế để có cái nhìn thấu hiểu, cảm
thông mà không phê phán, không áp đặt quan điểm cực đoan thời đó vào những nhân
vật cụ thể.
Hồ Anh Thái đã đưa ra hai
cách kết thúc tác phẩm: “Đoạn kết” và “Đoạn kết mở rộng”. Nhà văn muốn có cái
nhìn đa chiều về một vấn đề, đồng thời muốn cho người đọc đồng sáng tạo.
2. Tung hứng với đa giọng
điệu
Ta đều biết rằng cách kể quan trọng hơn truyện kể, cách viết quan trọng hơn cái được viết. Có thể nói “Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu” là cuốn tiểu thuyết đa giọng điệu được đan xen hài hòa: giọng bè cao là giọng hài hước, hoạt kê, giễu nhại; giọng bóc mẽ, lật tẩy, phê phán, giải thiêng; giọng bè trầm là giọng triết lý, giảng giải, giọng trữ tình, nhẹ nhàng, cảm thông và thấu hiểu… thậm chí còn có cả giọng vô âm sắc. Nhưng “chủ âm” vẫn là giọng hài hước nhẹ nhàng. Giọng hài hước giễu nhại được coi là một “tạng văn” của Hồ Anh Thái, mà sự hài hước “là môi sinh của tiểu thuyết; ở nền văn học nào vắng tiếng cười thì ở đó tiểu thuyết hoặc không thể trưởng thành, hoặc thui chột”[2].
Hồ Anh Thái thường đặt
tên nhân vật theo kiểu cải danh rất độc đáo: Sa lem, Chải Chuốt, Nông
Dân… và cái tên nhân vật Mùi của anh có lý do xuất xứ
thật là hài hước.
Tác phẩm có giọng
nhại: nhại nói ngọng L – N (38), nhại bệnh nghề nghiệp của ông kế toán; nhại
lời phát biểu trong hội thi chim của các cụ bô lão là những cái nhại
hài hước; còn nhại bản tin thời sự, nhại 15 ca khúc nổi tiếng mà người Việt
nào thời đó cũng biết là kiểu nhại nghiêm túc (không thêm thắt
bịa lời) mà được dẫn ra đúng lúc, rất hợp cảnh hợp người, nhằm mục đích tái hiện
không khí Hà Nội, tâm trạng người Hà Nội với nhiều cung bậc cảm xúc trong thập
niên 1970…
Giọng bóc mẽ lật tẩy, phê
phán hài hước nhẹ nhàng của Hồ Anh Thái đã quen thuộc
trong các tác phẩm trước lại có dịp phát huy ở tiểu thuyết này. Hà Nội trong
chiến tranh cũng có lúc trà dư tửu hậu. Từ những câu chuyện ở quán bia, người đọc
biết thêm về nhiều chuyện khác. Chẳng hạn một số thói tật “vô duyên” của người
Việt như “tè bậy”, “gãi chim”; hay cách xử sự không đáng mặt đàn ông của anh
chàng nhà thơ trong công viên Thống Nhất… Hoặc thực tế phũ phàng đã giết chết một
tình yêu lãng mạn. Từ việc quy chiếu sai sự vật, tác giả đã cho người đọc thấy
được thói tiểu nông của người Việt ẩn trong giọng văn hài hước giễu nhại nhẹ
nhàng. Chỉ là một câu chuyện nhỏ nhưng mang chứa trong đó rất nhiều thông tin:
sự thần tượng các chàng trai của đất nước Việt Nam anh hùng trong con mắt phụ nữ
Đông Âu, các quy định nghiêm ngặt về yêu đương thời đó, khó khăn về kinh tế ở
nước ta lúc bấy giờ…
Tiểu thuyết còn có giọng
giải thiêng, ví dụ chuyện tình dân gian nổi tiếng Ngưu Lang – Chức Nữ được
tác giả kể lại và giải thích theo ngôn ngữ hiện đại hài hước cùng với câu châm
ngôn quen thuộc của thời ấy: Vui duyên mới không quên nhiệm vụ (tr.
207).
Nhiều trang văn lại
có giọng giải thích: “A, hổ cũng đi sơ tán chống Mỹ. Đi sơ tán chống
Mỹ là một khái niệm tuyên truyền. Người không trực tiếp chiến đấu không phải ở
lại bảo vệ thành phố, thì đi sơ tán bảo toàn tính mạng cũng là một cách chống Mỹ.
Người đi sơ tán chống Mỹ thì hổ cũng đi sơ tán chống Mỹ” (tr. 203).
“Anh chàng này mới ở chiến
trường ra. Nhìn thoáng là biết. Giọng Hà Nội mà nước da đen sạm. Không phải cái
đen của hắc tố da bẩm sinh. Cái đen của nắng gió phương Nam, thêm cái tái của
người thiếu vitamin và đường đạm (tr. 84).
“Mà cái đồng hồ ấy gọi là
Pôliốt nhé. Tao dốt ngoại ngữ nhưng cũng được người ta dạy rằng phải phát âm là
Pôliốt, chứ Pôn giốt là sai” (tr. 60).
Bên cạnh các kiểu giọng
đó, tiểu thuyết còn có giọng triết lý kết hợp với điệp từ ngữ
và điệp cấu trúc câu:
“Dù có ngủ thì cũng là
hổ ngủ. Người đời đã nói như thế (…) Dù có ngủ thì
cũng là hổ ngủ. Thu vẫn nhớ như thế” (tr. 192)
“Thản nhiên là nước.
Trầm tư là nước. Bình tĩnh là nước”.
Ngoài ra, tác phẩm còn có
những đoạn văn mang giọng kể khách quan, giọng vô âm sắc nhưng
lại thực sự ám ảnh độc giả. Chẳng hạn, Hồ Anh Thái viết về tình trạng phần lớn
sinh viên Việt Nam sang du học Nga nhưng trình độ ngoại ngữ kém đã nghĩ ra cách
giả vờ ốm để đỗ tốt nghiệp như sau: “Anh cáo ốm. Anh bị thiên đầu thống. Mắt
mũi bị tối sầm không nhìn ra chữ. Suốt một năm đầu có người làm bài hộ anh chép
bài hộ anh thi hộ anh. Nhiều anh sinh viên nước ngoài đã đỗ cả năm năm đại học
nhờ cách ấy”. (tr.56)
Chúng ta thử thay bằng
cách kể khác: “Anh ta giả vờ ốm nặng. Anh ta cứ luôn mồm rên
rỉ kêu la rằng mình bị thiên đầu thống cực kỳ đau
đớn. Anh ta làm thế cốt để cho mọi người xúm vào làm bài hộ,
chép bài hộ, thậm chí còn thi hộ nữa. Thật xấu hổ khi
có nhiều sinh viên nước ngoài đã đỗ cả năm năm đại học nhờ cách dối trá
bỉ ổi ấy”. Khi ta thêm vào đoạn văn trung tính ấy những tính từ, động
từ và những từ mang màu sắc đánh giá nhận xét thì rõ ràng hiệu quả nghệ thuật
giảm đi rõ rệt. Ở đây hợp chỗ nhắc lại nhận xét của Phơbách (Feuerbach) mà
Lênin đánh giá là xác đáng: “Viết một cách sắc sảo nghĩa là giả định người đọc
cũng sắc sảo, là không nói hết, là để cho người đọc tự nói với mình về những
quan hệ, những điều kiện, những giả thiết, những giới hạn”. Giọng vô âm
sắc còn xuất hiện trong nhiều trường đoạn. Chẳng hạn, cảnh cứu người bị
kẹt giữa những xác chết không thể lôi ra được. Giám đốc bệnh viện đã quyết định
tháo khớp chân tay của người chết: “Bắt đầu là cái tay. Rồi cái tay nữa. Rồi
cái chân. Cứ thế” (tr.185). Nhà văn giấu tình cảm của mình trong những
câu chữ có vẻ khô khan, không cảm thán thay cho nhân vật mà chỉ trần thuật sự
việc theo trật tự tuyến tính nhưng lại gây ám ảnh, xúc động cho người đọc.
3. Chăm chút nhạc tính
cho câu văn
Tuy dung lượng số trang của tiểu thuyết không nhiều nhưng người đọc lại lĩnh hội được rất nhiều thông tin. Bởi vì, đặc điểm câu văn của Hồ Anh Thái là tiết tấu nhanh, ưu tiên câu ngắn gọn, hạn chế các câu dài, mở rộng thành phần. Cấu trúc của các câu đầy đủ thường bị tách một thành phần nào đó để tạo thành những câu tỉnh lược, câu đặc biệt, thậm chí có câu chỉ có một từ. Có thể đưa ra vài dẫn chứng sau:
“Và
bây giờ chúng đang ngồi bình yên trong nhà chúng. Hát.” (tr.8)
“Từ văn phòng trên tầng một
bây giờ xuống tầng hầm. Xuống.” (tr.23)
“Ông nhóc hai mươi tư tuổi
còn chưa có người yêu. Tồ.” (tr.32)
Cảnh trộm sách trong thư
viện của hai chàng trai mê sách được miêu tả:
“Vèo.
Vèo. Sách bay.
Bộp. Bộp. Sách rơi.”
(tr.183)
Trong nhiều trường hợp,
tác giả dùng điệp từ, điệp cấu trúc theo thủ tháp tăng tiến (theo cực dương hoặc
cực âm):
“Lặng phắc. Lặng ghê
người”.,
“Câm. Câm lặng. Câm hoàn
toàn. Câm triệt để tuyệt đối”.
“Vào chính lúc ấy anh quyết
định im lặng. Không kêu lên vì kiến đốt thì cũng im luôn. Không báo
cáo. Không.” (tr.9)
Dòng
ý thức của nhân vật cũng được hiện ra dưới hình thức những câu ngắn, điệp từ ngữ,
điệp cấu trúc:
“Đến thế thì Phan hơi
lúng túng. Bắt đầu thế nào đây. Không thể nói tôi đã nghe anh
hát theo năm tháng hoài mong thư gửi đi mấy lần đợi hồi âm không thấy. Anh
ta sẽ hoảng. Không thể yêu cầu anh ta hát lại bài hát ấy. Anh
ta sẽ sợ. Không thể kể lại rằng tôi đã thấy anh đóng chặt cửa ngồi hát
cùng ba người bạn trong căn nhà này. Anh ta sẽ phẫn nộ chối
bay chối biến”.
“Căn phòng dễ chịu. Có
thể vì nó đơn sơ. Có thể vì nó thanh tao” (tr.17)
Nhiều đoạn văn tạo được ấn
tượng thính giác và thị giác cho người đọc bởi cách kiến trúc câu:
sự ken nhau dày đặc của các kiểu câu đặc biệt, và câu rút gọn, kết hợp với phép
điệp từ, điệp cấu trúc câu; sự trình bày âm vị độc đáo của các từ tượng thanh.
Chẳng hạn, đoạn văn tái hiện cụ thể, chân thực cảnh bom rơi đạn nổ kinh hoàng:
“Nó đang rải thảm cách chỗ Phan nấp vài cây số nhưng mặt đất cứ rùng lên từng đợt. Rùùùùùùùng.
Đợt đầu tiên. Rùùùùùùùng. Đợt thứ hai. Rùùùùùùùng. Đợt
thứ ba. Như cơn sốt rùng mình của một con rồng trong cơn giẫy chết. Rùùùùùùùng.
Rùùùùùùùng. Rùùùùùùùng (…) Thốt nhiên. Ngừng. Mặt đất không chuyển động
rùng rùng nữa mà yên ắng. Lặng phắc” (tr.164). Hoặc ấn tượng thính giác của cảnh
tiểu tiện bậy ngay cạnh Nhà hát Lớn: “Ông bảo cái cây sấu ấy phải chịu được
hàng triệu lượt tiểu tiện rồi. Cánh bia bọt cứ thế bắc vòi mà xèèèèèèè vào
nó. Từ sáng đến tối xèèèèèèè. Quanh năm xèèèèèèè. Đến
mòn cả gốc. Đến lõm vào cả một lỗ bằng quả bưởi…” (tr.62). Đó là thực trạng quá
thiếu nhà vệ sinh công cộng của Hà Nội và sự tùy tiện của con người. Ấn tượng đặc
biệt là: cả hai đoạn trích trên có tất cả 17 câu thì chỉ có ba câu đầy đủ chủ vị,
còn 14 câu đều là dạng câu đặc biệt hoặc câu rút gọn (mà trong đó lại có tới 9
câu đặc biệt tượng thanh) kết hợp với điệp từ và điệp cấu trúc câu.
Những câu văn ngắn gọn,
có nhịp nhanh và mạnh xuất hiện thường xuyên trong rất nhiều trường đoạn, nhiều
cảnh. Chẳng hạn: khi Phan nhận quyết định bất ngờ phải chuyển công tác, sự gấp
gáp được miêu tả như sau: “Nhận quyết định ngay. Bàn giao ngay. Ra đi
ngay. (…) Tất cả vào hết một cái ba lô và a lê hấp lao vụt ra khỏi
nhà. Sổ sách, vào đây. Áo, vào đây. Quần, vào đây. Cái bút Kim Tinh vào
đây” (tr.111). Đám tù binh Mỹ được dự lễ Nhà thờ Lớn trong đêm Noel
đang ngồi lặng lẽ kính cẩn nhìn lên tượng Chúa trước mặt cũng được Hồ Anh Thái
viết rất ngắn (5 câu mà chỉ gói trong 25 chữ): “Kẻ chắp tay. Kẻ làm dấu
thánh. Kẻ lẩm bẩm cầu kinh. Kẻ gửi gắm ước nguyện. Kẻ thực hiện tất cả bằng ấy
thứ” (tr.146). Ngôn ngữ trong nhiều trường đoạn của tiểu thuyết có
tính tạo hình cao nên gần gũi với ngôn ngữ điện ảnh.
Trong một số trường hợp,
nhịp điệu đều đặn có tiết tấu nhanh được ngắt ra trong những câu văn đặc biệt
(đúng như độ ngừng của giọng kể) mà không cần dùng dấu phẩy: Chẳng hạn: “Nhạc
vàng. Thứ nhạc ấy được định nghĩa như vậy. Vàng vọt bệnh hoạn ủy mị rền
rĩ nỉ non”; “Sau này mới biết, học ngoại ngữ đầu tiên mà lại học từ tuổi ba
mươi thì cái khó phải gấp chục lần đứa bé lên năm học ngoại ngữ. Môi cứng
lưỡi cứng họng cứng. Phát âm không nổi” (tr.55); “Hằng ơi Lý ơi Năm ơi
Xuyến ơi. Chỉ có tiếng gọi vào đá” (tr.72)…
Ở tiểu thuyết “Hà Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu”, tác giả tái hiện khung cảnh và con người thủ đô trong thời gian máy bay Mỹ ném bom ác liệt nhằm hủ y diệt ý chí chiến đấu chống ngoại xâm của người Việt Nam, đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá. Đề tài này đã được khai thác nhiều, do vậy nhà văn Hồ Anh Thái đã gia công vào cấu trúc truyện và cách kể, vào ngôn ngữ kể chuyện thông qua giọng điệu và nhịp kể và thực sự tạo được sự hấp dẫn, lôi cuốn được người đọc vào không khí bình thường mà phi thường của Hà Nội hơn năm mươi năm trước.
Chú thích:
[1] Hà
Nội nhiều mây có lúc có mưa ngâu, tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, NXB Trẻ
2023.
[2] Bakhtin
M. 1992, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch),
Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, tr. 17.
8/6/2023
Hoàng Kim Ngọc
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét