Thi pháp thơ Thiền
Ngôn ngữ thông thường khó
có thể diễn tả, thể hiện được trọn vẹn cái tĩnh mà động, thường mà biến, hư mà
thật của vạn pháp. Ngôn ngữ thơ Thiền được dùng đạt đến đỉnh điểm của tính hàm
súc, cô đúc.
Nói đến thơ Thiền là nói
đến một hiện tượng văn học độc đáo, một bông hoa đẹp đẽ, kỳ diệu và có sức cuốn
hút hấp dẫn kỳ lạ nhất trong vườn thơ ca. Thơ Thiền gắn với tư tưởng Thiền tông
Phật giáo và mỹ học Thiền nên ngoài chất thơ ra nó còn có thêm một chất đặc
trưng khác: chất Thiền. Nhờ chất này mà thơ Thiền mang một nét độc đáo, đặc sắc,
góp phần làm cho thế giới thơ ca trở nên phong phú và hấp dẫn hơn.
Nghiên cứu thơ Thiền dưới
góc độ thi pháp học là xem xét ở cấp độ hình thức nghệ thuật mang nội dung
trong tính chỉnh thể, tính quan niệm. Nhờ thế, mới có thể nhận ra được chiều
sâu của tầm vóc tư duy và cách thức phản ánh hiện thực (vạn pháp) của các thiền
gia – thi nhân. Và cũng chỉ có như vậy, mới nhận thức được những đóng góp của
thơ Thiền cho sự phát triển của văn học.
Văn tâm điêu long của
Lưu Hiệp, pháp hiệu Tuệ Địa là một công trình lý luận văn học lớn nhất châu Á
thời trung đại, được viết dưới ánh sáng của lý luận tư tưởng Thiền học Phật
giáo hơn một nghìn năm trăm năm về trước. công trình mang nội dung tư tưởng vĩ
đại này có thể sánh ngang với nghệ thuật thơ ca của Aristote thời cổ đại phương
Tây, cách đây hai nghìn ba trăm năm. Có thể xem Văn tâm điêu long là
tác phẩm đặt nền móng ban đầu mang tính định hướng để tìm hiểu thi pháp thơ Thiền.
Mặc dù, mới nhìn sẽ thấy
thơ và Thiền rất khác xa nhau. Thiền là phương pháp tu tập, dùng để luyện cho
tâm tập trung chuyên nhất, thuộc Phật giáo; còn thơ dùng để bộc lộ cảm xúc, tâm
trạng của con người đối với cuộc sống, thuộc văn học. Xét về nguồn gốc, thơ đã
ra đời và rất thịnh hành trước khi Thiền đạo trở thành một tông phái của Phật
giáo. Xét về cứu cánh, Thiền tông nhắm đến giác ngộ tự tính; còn thơ dùng để
chia sẻ tâm tình, truyền tải đạo lý. Tuy thơ và Thiền có nhiều chỗ dị biệt như
vậy, nhưng đã có một sự thật hiển nhiên là từ giai đoạn khởi đầu với bài kệ bằng
thể thơ ngũ ngôn tuyệt cú “Thân thị bồ đề thụ…” của Thần Tú đậm tư tưởng Thiền,
rồi bài “Bồ đề bổn vô thụ…” của Huệ Năng cũng bằng thể thơ ngũ ngôn tuyệt cú
thì lại là bài kệ – thơ mở đầu cho sự dung hợp tuyệt diệu giữa Thiền và thơ, chẳng
khác nào như nước với sữa hoà quyện vào nhau. Chính sự dung hợp này đã là một
trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự phát triển rực rỡ của thơ ca Trung Quốc
thời Đường – Tống, thơ ca Việt Nam thời Lý – Trần. Nguyễn Hiếu Vấn đời Nam Tống
đã lý giải sự dung hợp kỳ diệu này bằng một hình tượng sống động đầy chất thơ,
mà sự lý giải ấy đã được hầu hết các thi hào, thi bá đời sau tán thành: Thi vi
thiền khách y hoa cẩm, Thiền thị thi gia thiết ngọc đao. (Thơ là chiếc áo thêu
hoa của Thiền khách, Thiền là con dao gọt ngọc của nhà thơ)(1).
Với Tuệ Trung Thượng Sĩ,
đó là hình tượng con người trí tuệ, bản lĩnh, tự tin ở năng lực và sức mạnh của
mình, không ỷ lại hay nương tựa vào bất kỳ một thế lực nào khác
Thiền như cơn gió nhẹ thổi
vào vườn hoa thơ, làm cho những cánh hoa thơ ánh lên muôn hồng nghìn tía. Ở
đây, các thiền sư – thi sĩ đã hoà chất Thiền với chất thơ vào làm một, để tạo
nên chất bay bổng, phiêu diêu, lãng đãng, dạt dào cảm hứng, thấm đẫm ý vị sâu lắng,
chẳng khác nào như ngàn hoa đang lung linh khoe sắc rực rỡ, toả hương ngào ngạt,
nhờ gió thụ phấn, để tạo hạt, rồi trong tương lai không xa, hạt thành cây và lại
tiếp tục trổ chồi đơm hoa. Ở Trung Hoa, các ông Hàn Câu, Lữ Bổn Trung là những
người đã đem phương pháp tham Thiền để giảng dạy cho người học làm thơ. Họ còn
làm ra bốn bài thơ chỉ rõ mục đích tham Thiền học thơ. Hãy đọc một trong những
bài thơ ấy:
Học thi đương như sơ học
Thiền,
Vị ngộ thả biến tham chư
phương.
Nhất triêu ngộ bãi chánh
pháp nhãn,
Tín thủ niêm xuất giá
thành chương.
(Học thơ phải như mới học
Thiền,
Chưa ngộ phải tham vấn khắp
nơi.
Một sáng ngộ được mắt
chánh pháp,
Những gì tay viết thảy
văn chương)(2)
Tư tưởng Thiền ảnh hưởng
rất lớn đến văn học. Sở dĩ thời Đường – Tống là thời kỳ vàng son nhất của thơ
ca Trung Quốc, được tôn xưng là “Thịnh Đường, long Tống”, đã để lại cho nhân loại
một khối lượng tác phẩm đồ sộ với hàng trăm tác gia nổi tiếng cùng nhiều tuyệt
tác, chính là nhờ cảm thức Thiền trong thơ. Thời đó, rất nhiều tác gia tên tuổi
đã dùng phương pháp tham Thiền để làm thơ hoặc chịu ảnh hưởng Thiền lý trong
thơ như: thi Phật Vương Duy, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Liễu Tông Nguyên, Tô Đông
Pha, Tô Triệt, Kiểu Nhiên, Tư Không Đồ, Nghiêm Thương Lãng,v.v.. rất nhiều
tác phẩm lý luận thi ca dựa trên nền tảng lý luận triết học tư tưởng Thiền như:
Thương lãng thi thoại của Nghiêm Vũ, Thi thức của Thích Kiểu Nhiên, Tùy viên
thi thoại của Viên Mai v.v.. Thiền đã hoá thân thành phương thức sáng tạo và
chiếm lĩnh nghệ thuật đã tạo nên một thời huy hoàng vô tiền khoáng hậu với những
đặc trưng của thi ca thời này.
Ở Việt nam, thơ Thiền Lý
– Trần (thế kỷ X – XIV) là một bộ phận văn học đã cắm cái mốc mở đầu cho nền
văn học viết Việt Nam. Nó có phong vị riêng, rất đặc trưng, dễ dàng khu biệt với
thơ ca các giai đoạn khác. Ở đó, nó đã đề cập nhiều về con người, nhất là con
người bản thể siêu việt, thể hiện quan niệm của các Thiền gia – thi sĩ thời Lý
– Trần.
Con người vừa là đối tượng
vừa là cứu cánh của văn học, là yếu tố trung tâm của thế giới nghệ thuật, góp
phần bộc lộ quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới của tác giả. Đây là một
trong những vấn đề cốt lõi của sáng tạo nghệ thuật. Với thơ Thiền Lý – Trần,
hình tượng con người được thể hiện thông qua cảm quan Thiền.
Đó là vô vị chân nhân tức
con người thật không địa vị. Nói cách khác là con người trong tính bản thể. Con
người này không phải là con người vật lý, con người tứ đại mà cũng không ngoài
con người tứ đại. Biểu hiện của con người thật không địa vị này được các Thiền
gia – thi sĩ biểu đạt với những danh xưng khác nhau. Đó là hình tượng nương
sinh diện (khuôn mặt mẹ), vô vị chân nhân (con người thật không địa vị) của Trần
Thái Tông; là chân diện mục (khuôn mặt thật), là đồng tử (trẻ thơ) của Tuệ
Trung; là đông hoàng diện (mặt chúa xuân) của Trần Nhân Tông; là bản lai nhân
(người gốc xưa) của Trần Minh Tông; là tự tại nhân (người tự do) của Hiện Quang
v.v.. Thơ Thiền gắn với tư tưởng Thiền và mỹ học Thiền, nó thường tập trung bàn
về những vấn đề liên quan đến bản thể luận và giải thoát luận. Vì thế, con người
thật không địa vị vừa là đối tượng phản ánh, chiêm nghiệm, lại vừa là mục đích
cứu cánh của các Thiền gia – thi sĩ.
Với Tuệ Trung Thượng Sĩ,
đó là hình tượng con người trí tuệ, bản lĩnh, tự tin ở năng lực và sức mạnh của
mình, không ỷ lại hay nương tựa vào bất kỳ một thế lực nào khác. Tuệ Trung mở đầu
bài kệ – thơ Thị chúng bằng: Hưu tầm Thiếu Thất dữ Tào Khê (Chớ
tìm Thiếu Thất với Tào Khê). Và kết thúc bằng: Mạc tầm Nam Bắc dữ Đông
Tây (Đừng tìm Nam Bắc với Đông Tây.)(3)
Ở đây, Tuệ Trung đã dùng
chữ “Hưu” là phủ định từ, mang nét nghĩa như lời khuyên bảo; còn “Mạc” lại có ý
phủ định mạnh mẽ. Ý phủ định này được tăng dần lên theo ngữ điệu. Từ “hưu” đến
“mạc”, từ những địa danh cụ thể, có giới hạn: Thiếu Thất, Tào Khê cho đến không
gian bao la rộng lớn: Nam, Bắc, Đông, Tây chính là để biểu đạt cái bản lĩnh, tự
tin vô biên của con người trí tuệ.
Trong khi đó, Trần Minh
Tông thì dùng từ “hưu”, “phất” ở thể trùng điệp để thể hiện sự tự tin vào bản
lĩnh của chính mình trong bài Giới am ngâm:
Hưu hưu ngoại mịch khổ
thi công,
Phất phất tỵ khổng cổ kim
đồng.
(Thôi thôi tìm ở ngoài vô
ích,
Phập phồng cánh mũi xưa
nay chung.)(4)
Thế giới ngôn từ của thơ
Thiền là thế giới ưu tiên cho những dạng câu phủ định, số lượng những bài thơ
có dạng câu phủ định chiếm khoảng 60% trong toàn bộ tác phẩm thơ Thiền. Có lúc,
nó được sử dụng nhiều lần ngay cả trong một bài thơ, như Trần nhân Tông đã viết
trong bài kệ kết thúc bài cư trần lạc đạo phú:
Gia trung hữu bảo hưu tầm
mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn
Thiền.
(Của báu đầy nhà thôi tìm
kiếm,
Gặp cảnh không tâm chớ hỏi
Thiền.)(5)
Sở dĩ có hiện tượng này hẳn
là do chức năng đặc trưng của thơ Thiền, bởi câu phủ định rất có hiệu quả trong
việc truy bức, dồn ép người nghe, người học đạo vào tuyệt lộ của tư duy lý
tính, tư duy lô gíc, để khai thông trí tuệ giác ngộ tiềm ẩn trong mỗi con người.
Con người trí tuệ ở đây
còn thể hiện ở sự thông đời liễu đạo, am hiểu Phật – Đạo – Nho, dung thông Tam
giáo, đem hết sức mình làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, góp phần an bang định
quốc, tự tin vào mình, không nương tựa vào tha lực, cho dù đó là bậc đạo sư của
họ như Quảng Nghiêm trong bài Thị tịch:
Nam nhi tự hữu xung thiên
chí,
Hưu hướng Như Lai hành xứ
hành.
(Nam nhi tự có chí ngút
trời,
Đừng đi theo lối mòn của
Như Lai.)(6)
Hiện lên trong thơ Thiền
còn là con người tự tại với phong thái ung dung trầm tĩnh, tiêu diêu thanh
thoát, hoà mình vào thiên nhiên vạn vật, sống trọn vẹn với thực tại, hết mình với
cuộc sống. Họ không truy cầu quá khứ, không mơ tưởng hão huyền ở tương lai. Giá
trị chân thực của cuộc sống dưới nhãn quan của thi sĩ Thiền không phải là những
gì bí mật xa vời mà là ở ngay trước mắt, ngay trong sát na hiện thực tĩnh giác.
Quan niệm “Nhất thiết duy tâm tạo” từ kinh Hoa Nghiêm đã tạo nên cảm quan và tư
tưởng vô ngại cho các Thiền sư. Hãy hình dung phong thái của Hiện Quang trong
bài Đạo:
Vô vi cư khoáng dã,
Tiêu dao tự tại nhân.
(Vô vi sống đồng rộng,
Người tự tại thung dung.)(7)
Đó còn là con người vô
ngã vị tha thể hiện rất rõ trong thơ Thiền. Vô ngã là không chấp cái “Ta” và
cái “Của ta”; Vị tha là vì chúng sinh, vì mọi người. một phần biểu hiện cụ thể
là những con người vừa có tấm lòng khoan dung độ lượng; vừa yêu thiên nhiên,
yêu quê hương đất nước; đem hết năng lực, trí tuệ của mình để phục vụ nhân dân,
đất nước. Vô ngã nghĩa là không còn chấp ngã, không còn chấp pháp; tức không
còn phân biệt cái này của ta, cái kia thuộc về ta; không còn lo lợi ích cho
riêng mình, khư khư bám víu vào lòng ham muốn của ta.
Vô ngã là giải thoát, là
niết bàn, nó không mang ý nghĩa phủ nhận giá trị con người, xoá bỏ con người;
không mang ý nghĩa phi nhân bản, mà chính là giải thoát con người ra khỏi tù ngục
của sự cố chấp, thành kiến; giải phóng con người ra khỏi mọi thúc phược của mọi
sự tác động từ ảnh hưởng bên ngoài, nhất là sự trói buộc tham dục và thành kiến
của chính mình, hướng tới giá trị đích thực của con người tự do với ý nghĩa tuyệt
đối. con người vô ngã trước hết là con người tự do tuyệt đối, gắn với trạng
thái lãng quên kỳ diệu. có lẽ ở trong trạng thái lãng quên đó, con người dễ
dàng đạt đến cảnh giới “Vô ngã”. Trạng thái đó cũng là trạng thái thứ tám trong
Thập mục ngưu đồ “tương vong” (cùng quên). Kinh nghiệm của trạng huống “vật ngã
câu vong” (ta, vật đều quên) được Huyền Quang ghi lại trong bài cúc hoa, số 3:
Vong thân vương thế dĩ đô
vong,
Toạ cửu tiêu nhiên nhất
tháp hương.
(Quên mình, quên đời,
quên tất cả,
Yên lặng ngồi lâu lạnh cả
giường.)(8)
Lúc đó, con người và vạn
vật hoà quyện vào nhau không còn hiện hữu sự tách bạch. Giây phút ấy, cái “tôi”
phân biệt như đã tan vào trong vũ trụ vạn vật bao la, không còn bóng dáng. con
người ở đây như nhận thức được sự hữu hạn của cuộc đời, sự ngắn ngủi của cuộc sống
với qui luật “Hữu thành tất hữu hoại” (có thành tựu ắt có huỷ hoại). Hãy mở rộng
tâm hồn đến vô biên hoà vào thể tính bao la của vũ trụ, hoá thân vào sum la vạn
tượng, tồn tại mãi với thời gian.
Một trong những đặc trưng
khu biệt thơ Thiền với những dòng thơ khác chính là ở cách sử dụng ngôn ngữ nghệ
thuật của thơ Thiền. Với quan niệm “Ngôn ngữ đạo đoạn”, lời nói ngôn từ hữu hạn
ở đây không thể diễn tả trọn vẹn và đầy đủ cái chân lý vô cùng, thể hiện rõ nét
quan điểm mỹ học phương Đông. Ngôn ngữ thông thường khó có thể diễn tả, thể hiện
được trọn vẹn cái tĩnh mà động, thường mà biến, hư mà thật của vạn pháp. Ngôn
ngữ thơ Thiền được dùng đạt đến đỉnh điểm của tính hàm súc, cô đúc. Mặc dù vậy,
cái hiện ra qua bề mặt ngôn ngữ cũng chỉ là một phần nổi của tảng băng trôi, phần
chính yếu, ngôn ngữ không thể diễn tả hết được chẳng khác nào như chín phần còn
lại chìm dưới của tảng băng, ẩn tàng sau lớp từ ngữ. Cho nên ngôn ngữ thơ Thiền
không có quá kỳ vọng diễn đạt toàn vẹn đối tượng mà cốt chỉ khơi gợi hướng tới
chiếm lĩnh đối tượng. Đó là thứ ngôn ngữ siêu ý tại ngôn ngoại.
Hơn nữa, các Thiền sư –
thi sĩ thường thấy rõ ràng là từ ý tưởng đến diễn đạt thành lời thơ còn có một
khoảng cách vô hình. Đối với những tác gia thiên tài, hay các thi sĩ Thiền, cái
khoảng cách vô hình từ ý tưởng đến ngôn từ chỉ có thể tiệm tiến dần đến số
không chứ hoàn toàn không thể xoá bỏ hẳn. Đó là chưa nói bản thân ngôn ngữ vốn
không thể nào thể hiện được một cách trọn vẹn đối tượng, nếu miễn cưỡng thì có
lẽ sẽ không bao giờ tiếp cận chân lý đích thực. Những tuyệt tác của thi ca
phương Đông thường là những tác phẩm dường như chưa hoàn tất, chưa đầy đủ, chưa
kết thúc. Chính điều này, tạo nên sự lung linh mờ ảo, huyền bí với sức sống vô
hạn, sức cuốn hút vô biên. Những tác phẩm ấy, không những khắc phục được sự
nhàm chán mà còn tạo được sức kích thích lớn lao của sự hấp dẫn trong việc khám
phá được sự kì diệu và bí ẩn của thi ca. Đúng như cách nói của nhà Phật: Mỗi
người uống nước sẽ tự cảm nhận được sự nóng lạnh của nó; ai ăn sẽ tự cảm nhận
được mùi vị của món ăn, dù có diễn tả hay cách mấy cũng không nói hết được.
Ngôn ngữ thơ Thiền, bên cạnh
những nét chung của ngôn ngữ nghệ thuật trung đại phương Đông, nó còn mang
trong mình triết lý Thiền với sự uyên áo, kỳ bí và gợi mở giống như luồng nội lực
đả thông kinh mạch, khai nguồn cho dòng thác trí tuệ vụt lên. Tính bất toàn của
ngôn ngữ Thiền kích thích mãnh liệt sự tò mò và lòng ham hiểu biết chân lý, đó
là cách thức giải phóng, khai thông những tiềm lực to lớn vô biên ẩn tàng trong
sâu thẳm ở mỗi con người. Tính chất “ý tại ngôn ngoại, huyền ngoại chi âm, cam
dư chi vị” ở đây không thể chỉ hiểu theo nghĩa lời ít ý sâu, có nhiều tầng ý
nghĩa để đối tượng tiếp nhận, có thể lĩnh hội theo cơ chế của sự liên tưởng mà
là lắm khi còn vượt ra ngoài khuôn sáo ngữ nghĩa thông thường của ngôn ngữ. Nói
cách khác, thông điệp mà thơ Thiền phát ra không thể nào cảm nhận trọn vẹn bằng
tư duy logic thông thường mà chỉ có thể đạt tới bằng phương pháp Thiền trực hội.
Như có người hỏi: “Ngôn ngữ đạo đoạn là thế nào?” Thiền sư Viên chiếu đáp:
Giốc hưởng tuỳ phong
xuyên trúc đáo,
Sơn nham đái nguyệt quá
tường lai.
(Tiếng sừng theo gió
xuyên rặng trúc,
Vầng trăng vượt núi đến
bên tường.)(9)
Hai câu thơ đầy hình ảnh
sinh động này nếu dùng tư duy lý tính, suy luận theo cầu trường liên tưởng thì
sẽ dễ rơi vào suy diễn tư biện, không hiểu được ý của tác giả muốn thể hiện.
Đặc biệt là ngôn ngữ thơ
Thiền được các thi gia xem như một “Pháp” bình đẳng với những pháp khác, vượt
ra ngoài mọi qui ước về mặt ý nghĩa, tạo nên một thứ siêu ngôn ngữ. Bước đột
phá này bổ túc cho sự bất toàn của ngôn ngữ trong việc phản ánh, biểu hiện, tái
tạo hiện thực và chiều sâu vô tận của tâm hồn con người mà ngôn ngữ thông thường
không thể nào biểu hiện được. Thứ siêu ngôn ngữ này còn mở rộng khả năng biểu
hiện của ngôn ngữ đến mức vô giới hạn. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu phản
ánh và biểu hiện sự muôn màu muôn vẻ của cuộc sống và con người, mà chiều sâu
tâm hồn con người là mảnh đất màu mỡ nhất. Tính gợi mở khai thông của ngôn ngữ
thơ Thiền kích thích mạnh mẽ vào sự hoạt động tâm trí giúp độc giả ngộ ra chân
lý. Điều này kích thích sự sáng tạo tự thân, khắc phục thái độ sáo mòn, theo vết,
dọn sẵn.
Đọc thơ Thiền không phải
chỉ đọc những gì ở ý nghĩa của ngôn ngữ thông thường mà là lĩnh hội trực tiếp
thông điệp bằng cách “lấy tâm hội tâm”, không thông qua tư duy lôgic lý tính.
chỉ có như vậy mới có thể đọc được cách nói nghịch lý khác thường, phi lô gíc,
không thể thấy được trong cuộc sống:
Dục tri đoan đích ý,
Thạch hổ giảo kim ngưu.
(Muốn biết ý nghĩa thật,
Hổ đá cắn dê vàng.)
Tuệ Trung, Thị đồ đệ(10)
Để trả lời câu hỏi: Thế
nào là bản ý? Thiền sư Viên Chiếu đáp bằng hai câu thơ: Xuân chức như hoa cẩm,
Thu lai diệp tự hoàng. (Xuân dệt muôn hoa như gấm thêu, Thu sang ngàn lá tựa
vàng gieo)(11). Những câu thơ giàu hình ảnh tuyệt mỹ này mới nghe tưởng chừng
như chẳng ăn nhập gì với câu hỏi đặt ra. Có biểu đạt với ngôn ngữ phi lôgic như
trên thì mới ngỏ hầu đập tan những cố chấp, vướng mắc của người học, nhằm khai
thông trí tuệ chân thật của họ.
Một đặc trưng nữa của
ngôn ngữ thơ Thiền là vô ngôn. Để biểu lộ, hiển bày chân tâm trong sáng, u huyền,
tịch diệu, không màu không mùi, không hình không dáng, không vuông không tròn,
hoặc diễn tả trạng huống giác ngộ, bừng vỡ chân lý, giây phút thăng hoa trí tuệ
không gì hơn là vô ngôn. cùng với Thiền ngữ (siêu ngôn ngữ), vô ngôn sẽ bổ túc
thêm cho sự bất toàn, bất cập của ngôn ngữ. Ngôn ngữ dù được sử dụng tuyệt vời
đến đâu cũng mang một ý nghĩa giới hạn nhất định, vô ngôn đưa nó đến cõi vô hạn.
Hãy lắng lòng cùng Trần Quang Triều hoà mình vào cảnh chiều hôm nơi ngôi chùa cổ
trong bài Đề Gia Lâm tự:
… Xuân vãn hoa dung bạc,
Lâm u thiền vận trường.
Vũ thu thiên nhất bích,
Trì tĩnh nguyệt phân
lương.
Khách khứ tăng vô ngữ,
Tùng hoa mãn địa hương.
(Xuân chày hoa mỏng mảnh,
Rừng thẳm ve ngân nga.
Mưa lạnh da trời biếc,
Ao trong ánh trăng ngà.
Khách về tăng không nói,
Thông rụng nức mùi hoa.)(12)
Lúc này, thật không một
ngôn ngữ nào diễn tả hết được cái không gian trong sáng của cảnh. Cảnh vật
thanh u, tĩnh lặng, không khí mát mẻ. Một sự thanh khiết vô biên tuyệt diệu của
đất trời khiến cho con người thanh lọc hết mọi ưu tư phiền não, vướng mắc, để đạt
tới sự yên bình thanh thản vô hạn. Trạng thái lặng yên không nói, hoà nhập tâm
mình với vạn vật như trên, còn được Trần Nhân Tông bộc bạch trong bài Xuân Cảnh:
Khách lai bất vấn nhân
gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thuý
vi.
(Khách đến không hỏi chuyện
đời,
Cùng tựa lan can ngắm màu
xanh.)(13)
Bằng nghệ thuật ngôn ngữ
vô ngôn, Thiền gia – thi sĩ đã mở ra một cầu trường cảm nhận vô biên giữa tác
giả và người đọc. Mỹ học của thơ Thiền đã mang đến cho thơ ca giai đoạn này một
luồng sinh khí tràn đầy sức sống với một thế giới cảm xúc mới lạ và rộng mở đến
vô hạn.
Những thủ pháp nghệ thuật
nhân hoá, thậm xưng, nhất là ẩn dụ chiếm khoảng 70% trên tổng số tác phẩm thơ
Thiền thời Lý – Trần. Những thủ pháp nghệ thuật này được hầu hết các thi sĩ Thiền
sử dụng nhiều đến mức trở thành ước lệ. Chữ gia trong câu thơ sau trong bài Đạo
của Thường Chiếu dùng để chỉ cội nguồn, bản thể, tự tính của mỗi người:
Đại thiên sa giới ngoại,
Hà xứ bất vi gia.
(Cả hà sa thế giới,
Đâu chẳng phải là nhà.)(14)
Không gian vũ trụ là đặc
trưng cảm nhận thế giới của con người thời trung đại. Không gian trong thơ Thiền
trước hết là không gian trong tính bản thể của nó. Dưới tuệ nhãn của các Thiền
sư, không gian cũng là một pháp, bản thể của nó không khác gì với bản thể của
vũ trụ, trong đó có con người:
Đạo lữ bất tu thương vĩnh
biệt,
Viện tiền sơn thuỷ thị
chân hình.
(Bạn đạo thôi hãy đừng
thương xót,
Non nước ngoài am ấy dáng
xưa.)
Đoàn Văn Khâm, Vãn Quảng
Trí thiền sư(15)
Không gian trong thơ Thiền
đã được tâm hoá nên nó được tái hiện bởi quan niệm một là tất cả, tất cả là một,
như thiền sư Khánh Hỷ trả lời câu hỏi của Pháp Dung về phàm thánh khác nhau như
thế nào?:
Càn khôn tận thị mao đầu
thượng,
Nhật nguyệt bao hàm giới
tử trung.
(Trời đất ở trên đầu một
sợi lông,
Mặt trăng, mặt trời đựng
trong hạt cải.)
Khánh Hỷ, Đáp Pháp Dung
phàm thánh chi vấn(16)
Không gian ấy không chỉ
là không gian bao la rộng lớn, nó không giới hạn trong thái dương hệ của chúng
ta mà còn mở rộng đến các cõi khác:
Tam giới mang mang tâm liễu
liễu,
Nguyệt hoa tây một nhật
thăng đông.
(Ba cõi mênh mông lòng
sáng rỡ,
Trăng lặn phía tây, mọc đằng
đông.)(17)
Hình tượng không gian bao
la vô cùng vô tận thường được dụ cho Phật tính, là biểu trưng của bản thể vũ trụ.
chỉ có sự bao la vô biên của không gian mới là cái đắc giá cho các thi sĩ chọn
làm biểu tượng ẩn dụ cho chân tâm viên giác tròn đầy.
Nếu như thế giới tồn tại
trong không gian, thời gian thực tại, thì thế giới nghệ thuật chỉ có thể tồn tại
trong thời gian và không gian nghệ thuật. Thời gian nghệ thuật trong thơ không
chỉ là quan niệm của tác giả về thời gian, mà còn là hình tượng thời gian sinh
động, là sự cảm thụ, ý thức về thời gian như là hình thức nghệ thuật phản ánh
hiện thực, lý giải con người. Thời gian luân hồi tuần hoàn theo chu kỳ được Mãn
Giác thể hiện chỉ với bốn câu, hai mươi chữ mà đã khái quát toàn bộ qui luật
sinh trụ dị diệt (sinh ra, tồn tại, biến đổi, hoại diệt) của vạn vật và qui luật
sinh lão bệnh tử (sinh, già, bịnh, chết) của con người, bằng hình tượng sinh động
trong bài kệ giàu chất thi ca :
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
(Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười,
Sự việc qua trước mắt,
Trên đầu già đến rồi.)(18)
Tác giả đã vẽ ra vòng tuần
hoàn liên miên bất tận bằng cách gợi lên hình tượng hoa rụng trước, hoa nở sau
để dẫn ra những vòng đời tiếp theo của hoa. Các cặp ngữ động từ đối nhau: khứ –
đáo; lạc – khai ; nhãn tiền quá – đầu thượng lai; và các từ được dùng trùng điệp:
xuân, hoa như để chỉ ra qui luật này chẳng khác gì bánh xe luân hồi tuần hoàn
mãi không dứt. Chữ bách được dùng lặp lại không chỉ là chỉ số trăm mà hàm ý vũ
trụ vạn vật muôn loài kể cả con người, không loài nào thoát ra ngoài qui luật
đó được. Hình ảnh mái tóc bạc là biểu tượng của dấu ấn thời gian hằng in trong
tâm khảm của mọi người.
Thời gian qua nhanh, cuộc
đời ngắn ngủi như băng dưới nắng, đuốc trước gió như trong mấy câu thơ sau của
Trần Thái Tông:
Nhật xuất hoàn tương một,
Thân phù hựu phục trầm.
(Mặt trời mọc rồi lặn,
Thân nổi chìm luân hồi.)(19)
Thơ Thiền đề cập đến thời
gian ngắn ngủi, chóng vánh nhằm cảnh tỉnh mọi người không nên chìm đắm trong mộng
tưởng điên đảo mà phải nỗ lực chuyên cần tu tập, vượt ra ngoài mọi sự câu thúc
của thời gian hữu hạn, để đạt tới cảnh giới siêu việt thời gian. Tức là hiểu thấu
thời gian trong tính bản thể của nó. Nhìn thời gian trong bản chất của nó,
không dài, không ngắn; không nhanh, không chậm; không đến, không đi; vô thuỷ vô
chung; xem sát na và khoảnh khắc là mãi mãi. Đó chính là thời gian thực tướng
được lọc qua cảm quan Thiền của các Thiền gia – thi sĩ. Lúc này, họ không còn
phân biệt: năm ngoái, năm nay; đêm hôm trước, đêm hôm nay, như Tuệ Trung viết
trong bài Đốn tỉnh:
Tạc dạ nguyệt minh kim dạ
nguyệt,
Tân niên hoa phát cố niên
hoa.
(Đêm qua trăng sáng,
trăng đêm nay,
Năm mới hoa nở, hoa năm
cũ.)(20)
Quan niện về thời gian thực
tướng là nét đặc trưng của nghệ thuật về thời gian trong thơ Thiền, khó có thể
tìm thấy trong các bộ phận thơ ca khác.
Khoảnh khắc chợt tỉnh
cũng tức là thời gian giao điểm giữa mê và ngộ, thời gian chuyển đổi lớn lao từ
cái nhìn nhị nguyên đến cái nhìn triệt ngộ, khoảnh khắc đó tuy ngắn ngủi nhưng
có ý nghĩa vô cùng to lớn:
Thụy khởi châm thanh vô mịch
xứ,
Mộc tê hoa thượng nguyệt
lai sơ.
(Tỉnh giấc tiếng chày đâu
chẳng biết,
Trên cành hoa quế trăng mới
lên).
Trần Nhân Tông, nguyệt(21)
Thời gian trong thơ Thiền
là thời gian hiện tại, không hoài cổ như thường thấy trong thơ Đường. Thời gian
tĩnh giác trong phút giây hiện tại, không hoài niệm quá khứ, không mơ mộng
tương lai. Đặc biệt, mùa thu và ban đêm thường được các thi nhân chọn làm hình
tượng thời gian. Có lẽ cái không gian trong trẻo, tĩnh mịch của ban đêm vào mùa
thu là thời khắc của sự hoà điệu giữa con người và vũ trụ, và là thời điểm
thích hợp nhất để biểu hiện cái chân tâm Phật tính, cũng là lúc thuận lợi nhất
cho sự bừng vỡ giác ngộ. Con người đứng trước không gian trong lặng của đất trời,
muôn vạn phiền não vô minh như được rũ sạch, chẳng khác nào như mây đen nhờ gió
cuốn đi, để hiện rõ mặt trời tự tính trong sáng thuần khiết vô biên.
Như vậy, để nghiên cứu một đối tượng văn học đậm tính ảo diệu, kỳ bí, uẩn súc, uyên áo và có lịch sử lâu đời như thơ Thiền, thì ngoài những phương pháp tiếp cận thông thường, có lẽ thi pháp học là một trong những cách tiếp cận hữu hiệu nhất. Hướng nghiên cứu thi pháp học để giải mã thơ Thiền phải chăng cần được vận dụng nhiều hơn nữa, mà bài viết này mới chỉ là những bước đi đầu tiên mà thôi.
Chú thích:
(1) Đỗ
Tùng Bách, Thơ Thiền Đường – Tống, NXB Đồng Nai,
2000, tr 102.
(2) Đỗ
Tùng Bách, Thơ Thiền Đường – Tống, NXB Đồng Nai, 2000, tr 349.
(3) Viện
Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, NXB KHXH, HN, 1989, tr 231.
(4) Viện
Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, NXB KHXH, HN, 1989, tr 231.
(5) Viện
Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, NXB KHXH, HN, 1989, tr 504.
(6) Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 2, NXB KHXH, HN, tr 646.
(7) Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 2, NXB KHXH, HN, tr 656.
(8) Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 2, NXB KHXH, HN, tr 415.
(9) Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 2, NXB KHXH, HN, tr 595.
(10) Viện
Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, NXB KHXH, HN, 1989, tr
245.
(11) Viện
Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 1, NXB KHXH, HN, 1989, tr 280.
(12) Viện
Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, NXB KHXH, HN, 1989, tr
614.
(13) Viện
Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, NXB KHXH, HN, 1989, tr
460.
(14) Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 2, NXB KHXH, HN, tr 649.
(15) Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 1, NXB KHXH, HN, tr 291.
(16) Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 2, NXB KHXH, HN, tr 691.
(17) Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 1, NXB KHXH, HN, tr 179.
(18) Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 2, NXB KHXH, HN, tr 610.
(19) Tổng
tập văn học Việt Nam, tập 2, NXB KHXH, HN, tr 190.
(20) Viện
Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, NXB KHXH, HN, 1989, tr
269.
(21) Viện
Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, NXB KHXH, HN, 1989, tr
455.
31/1/2022
Hanh Tuệ
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3/2014
Theo https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét