Văn Đắc thơ một cõi tình
Các nhà thơ xứ Thanh thường
gọi Văn Đắc là thi sĩ xứ Thanh. Điều ấy nói lên sự ngưỡng mộ với ông. Để có thơ
một cõi tình, Văn Đắc đã thấm và trải qua một đời bút văn khá giàu cảm xúc. Thơ
ông, qua các giai đoạn lịch sử mà đất nước thăng trầm, vui có, buồn có, thăng
hoa có. Càng trải, thơ càng lên men. Và chất men trong thơ ông cứ tung tẩy đến
lạ lùng. Cao hơn chữ nghĩa ý tứ, ngoài chất lãng mạn có cả tư duy, lặng thầm
triết học và mang tính nhân văn sâu sắc.
Nghĩ lại, trong lúc bão
thơ ngày nay bung tỏa đến dữ dội, khi mà thơ ghép vần ngày càng chen lấn với số
lượng nhiều, lại được truyền thông PR đến inh tai mỏi mắt, mới biết thơ Văn Đắc
theo cái câu ông thường nói hết sức ý nghĩa và hàm ẩn biết bao: “Thơ dạo này
vui lắm, nhưng các cậu hãy nhớ. Văn Đắc chơi thì vẫn chơi nhưng đường đi riêng
của ta thì các bạn chơi với ta ắt hiểu. Người ta thì mặc người ta. Đường họ dẫu
có đường ta vẫn giàu”. Mới biết, khí chất trong con người thơ của ông rất
giàu có. Giàu ở ông là giàu cách chơi chữ nghĩa văn chương, giàu nghĩa bạn bè
thủy chung. Ông đã từng nếm trải khắp nước non. Ra Nam ngoài Bắc, lên rừng xuống
biển. Đâu đâu cũng có dấu chân của ông để lại. Phải chăng đó là nguồn sống nuôi
dưỡng cho thơ ông xanh thì mãi mãi. Hơn nữa, ông thích sống phóng khoáng tự do
theo kiểu nghệ sĩ. Thích thì ông đọc thơ cho mọi người nghe, khi thấy sướng thì
mọi người vỗ tay. Thế mới biết, chàng thi sĩ xứ Thanh này, chất thi sĩ đã ngấm
vào máu nên thơ ông có phong cách rất riêng và lạ.
Cái lạ ở đây là gì? Tôi nghĩ chỉ có nhiều người hiểu thơ ông đến gan ruột mới thấu hiểu chất thơ và giọng điệu thơ Văn Đắc. Chất thơ ấy trước hết gắn với cảm xúc trong cuộc đời mà ông đã từng đi qua, để rồi tạo cho trái tim thi sĩ ngân rung. Nếu xem cảm xúc là nguyên liệu tinh thần thuộc về tư chất của thi sĩ thì điều đó hiện rất rõ trong thơ Văn Đắc. Nó không chỉ là cái gốc của hồn thơ mà còn là nhân tố tạo nên hình tượng thơ, tạo nên duyên thơ độc đáo.
Tôi muốn nói đến cái
duyên trời cho với thơ ông, như là một định mệnh. Là cái nghiệp phu chữ mà suốt
đời, ông đã sách bầu rượu túi thơ đi khắp mọi ngả đường để sinh ra những bài
thơ để đời cho lớp trẻ. Ông có lòng tự trọng cao lắm. Nhiều bài thơ trên báo
văn nghệ trước đây của một số tác giả trẻ mới viết được đăng, họ đọc cho ông
nghe. Ông mỉm cười: Thế bài thơ cậu được gửi báo Văn nghệ đăng mà không thuộc
à? Sao cứ phải cầm khư khư tờ báo để đọc. Ông hiểu thấu sự đời về cái danh của
thời thế. Nên trong thơ ông, tính triết lý nhân sinh luôn được đề cập của lòng
tự trọng rất cao. Với ông, hiện nay vẫn được nhiều nhà thơ trẻ đến tận nhà, chỉ
mong ông viết cho mấy lời giới thiệu là đã thỏa nguyện đem về. Nói như vậy để cắt
nghĩa, thơ Văn Đắc thực sự có tiếng ở vùng đất học xứ Thanh với sức lan tỏa rộng
là những điểm đáng chú ý để hiểu về ông hơn.
Văn Đắc làm thơ bao giờ
cũng không quên duyên nợ với quê. Đấy là cái gốc để thơ ông đượm tình. Có lẽ
cái làng Triều, vùng biển Sầm Sơn – Thanh Hóa quê ông, nuôi ông từ cái thuở
chăn trâu bắt bướm ấy đã sinh ra một Văn Đắc, đặc chất mặn mòi với biển. Biển
không chỉ gắn bó với tuổi thơ ông mà còn tạo nên trạng thái đặc biệt để sản
sinh thơ Văn Đắc. Chả thế mà cái vùng quê ấy, đã tạo cho Văn Đắc cất lên một giọng
điệu thơ da diết đau đáu nhớ về quê:
Một mình ngồi kể chuyện
quê
Ngổn ngang mây trắng bay
về cửa sông
Đọc đến đây tôi lại nhớ đến
câu hát của nhạc sĩ Thanh Tùng khi “một mình nhớ em” đã hiện bao tâm trạng. Còn
Văn Đắc một mình ngồi kể chuyện quê, với nỗi niềm tâm sự ngỗn ngang. Ở đó có
mây trắng của một miền cổ tích hiện về. Vừa gợi, vừa nhớ nhung chuyện đời, chuyện
làng, chuyện bãi. Trong đó có cái làng Triều đã nuôi ông khôn lớn. Và chính cái
cửa sông ấy đã neo hồn thơ ông vào biển rộng, nuôi dưỡng cảm xúc, để ông bước
vào nghiệp thơ như mắc nợ với đời, với con tim mà ông đã thầm yêu, trộm nhớ.
Văn Đắc đã có tới 700 bài
thơ. Mỗi bài mỗi vẻ. Trong tuyển thơ Văn Đắc có rất nhiều bài hay. Tôi muốn nói
nhiều hơn ở phong cách thơ Văn Đắc. Đường thơ của ông có nhiều câu thơ hay và lạ.
Nhiều câu thơ như lên đồng, nhập vào hồn người cứ man mác một chất riêng. Cái vần
thơ mà ông nâng niu như có dáng chiều, có cả cái con nước lên xuống trước cửa
nhà ông mà ông đêm ngày mơ thức. Thế rồi ông đã đem theo ký ức quê ông đi khắp
mọi nẻo đường đất nước. Mỗi bài thơ, mỗi câu thơ có sức thu hút đến lạ kỳ.
Bài thơ Em và con
đường mở ra một không gian vừa hiện thực vừa lãng mạn. Những hình ảnh,
cảm nghĩ cứ bay lượn đi về, rồi niềm xúc động bung lên mãnh liệt: Một
con đường để hát riêng em/ Là viết bài thơ về con đường em mở/ Đất nước mình
trăm năm nghìn năm… qua bao nhiêu thời mà chưa lời nào nói hết…” (Em
và con đường). Năm 1974, thời điểm chiến tranh ác liệt ông trỏ về
thành phố sau những lần ông mãi miết trên những cánh rừng dãy núi thấu hiểu chiến
tranh đi qua. Và những ngày ấy, bài thơ Em ơi thành phố có một
tâm sự riêng hòa vào cái chung nhớ lại cảnh bom giặc phá nát những ngôi nhà làm
cho ông bàng hoàng chìm sâu trong ký ức:
Anh bước lạc giữa
lòng sâu thành phố
Mưa chiều qua còn đọng nước
ổ gà
Chua me đất mọc len vào gạch
vỡ
Những khuy hoa năm cánh nở
mơ màng
Trong những thi ngôn, thi
ảnh thơ ông có cả những kỷ niệm ẩn vào trong. Bom đạn là thế, nhưng bên cạnh
luôn ẩn đằng sau là cả một tâm sự nỗi niềm.
Anh không muốn tìm ra kỷ
niệm riêng mình
Trong dấu vết chiến tranh
hằn sót lại
Vành nón trắng trưa nay
em đội
Niềm vui trên đầu chưa
che đủ gian lao
Thơ Văn Đắc rất mượt, âm
vần hòa chung điệu nhịp, vừa bộc lộ cái khát khao vừa âm trầm tha thiết. Chất
trữ tình thăng hoa trong ngòi bút, như hiểu hết lòng tâm sự với người thân.
“Anh lặng nhìn chiếc áo
em phơi/ Bên cửa vỡ ngôi nhà bom đánh ngã/ Tiếng trẻ học bài vô tư trong trẻo
quá/ Đã yên lành sao em cứ băn khoăn”. Vẫn con đường theo suốt
dọc miền Trung, Văn Đắc đã thả hồn vào cảnh sắc với một giọng thơ trữ tình tươi
mát. Một đèo Hải Vân núi lượn mây bay, một Đèo Ngang bâng khuâng hoài cổ, một
Quảng Trị in hằn dấu vết chiến tranh chưa mờ đi đôi chút. Tất cả đã vào thơ ông
đậm đà ý vị gợi nhiều cảm xúc thiêng liêng:
“Chúng tôi dừng xe
trên đèo Hải Vân
Nơi sóng biển đang thì thầm
ca hát
Nơi cát trắng ùn lên nỗi
nhớ
Đường miền Trung gấp khúc bánh xe lăn
Vết tích con đường đi qua
chiến tranh
Còn hun hút hai bên làng
Quảng Trị
Rừng với suối, núi với đồng
gặp bể
Một dải trời trong mắt quá mênh mông
Một chút chạnh lòng gặp cảnh
Đèo Ngang
Đừng nói đó là nỗi buồn
hoài cổ
Ta không thể để lòng ta
bé nhỏ
Khi con đường rộng mở dưới
chân đi”
(Tâm sự với con đường –
Văn Đắc)
Tôi có cảm giác Văn Đắc
tri âm với hình tượng thơ bắt đầu từ tri giác. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều
bài thơ ông đặt tên đề có hình ảnh con đường. Phải có cái gì đó thao thức ông,
đánh thức ông trong tâm khảm mà ông bắt gặp sau mỗi chuyến đi để xuất hiện
thành thơ. Tôi nghĩ có đi mới biết trải lòng, bao nhiêu khám phá ẩn vào túi
thơ. Hình ảnh “Con đường” trong tập thơ “Một mình với cỏ thi” có tới 6 bài đặt
tên đề bài thơ có hình ảnh con đường. Đó là: Đám cháy con đường; Em và
con đường; Tâm sự với con đường; Dọc đường Nhà Nguyễn; Trái tim dọc đường; Hoa
bên đường. Những thi hứng tạo thành tứ thơ hay, xem ra mới biết Văn Đắc
giàu vốn từ lắm. Hình ảnh thơ có chiều sâu khái quát. Ngôn ngữ thơ trong vắt.
Nhịp điệu tưng tửng mà lạ. Cứ men dần vào cõi người để tìm về những phút giây
tĩnh nhưng bung tỏa nở rộ những ý tưởng triết lý nhân sinh. Bài thơ Dọc
đường Nhà Nguyễn Có những câu thơ ông viết giản dị mà khí chất gợi nhiều
liên tưởng:
Đường dọc miền Trung ngờm
ngợp cát
Lô nhô nhìn dãy núi chọc
trời
Rừng biển trập trùng khói
sóng
Bao đời mở nước xứ Thanh
ơi!
Đến Sài gòn rồi trở về
Phan Rang ngược về Đền Hùng nhớ bạn, ông có thơ ngũ ngôn trong một tứ thơ hay.
Trong cách nhìn rộng dài về đất nước, thơ Văn Đắc bay bổng cảm xúc đa chiều, phủ
vàng ánh nắng, rợp bóng mây bay. Mỗi một nơi ông đến, thơ ông như thốt lên những
tự sự nhớ về lịch sử, đậm chất dân gian. Mà ở đời cái quan trọng là tấm
lòng: Mười tám đời vua không nhớ hết tuổi tên/ Để có một Vua Hùng dựng
nước/Một thời vua ẩn mình trong truyền thuyết/ Chuyện anh hùng hóa
chuyện thần tiên/ (Viết ở Đền Hùng). Văn Đắc đã đưa truyền thuyết vào thơ
có cả cánh cò gọi về câu ca dao một thuở, để rồi hiện nguyên tâm trạng đến se
lòng:
Các Lang Quân và Mỵ Nương
đã khép mắt ngủ rồi
Thôi lặng lẽ chiều Đền
Hùng đóng cửa
Kìa cánh cò, cánh cò vàng
giữa lúa
Gọi ta về làm dân đất
Phong Châu.
(Viết ở Đền Hùng- Văn Đắc)
Trong thơ Văn Đắc chứa chất
một chất men của những câu từ đa thanh, đa cảm. Có nhiều câu lấp lánh hình tượng
nghệ thuật. Có sự giao cảm giữa thế giới bên ngoài và thế giới nội tâm. Không cầu
kỳ nhưng chải chuốt. Thế mới lạ. Nghĩ ra thì đó là cái tạng của ông. Tôi rất
thích những bài ông viết về Huế. Địa chỉ của cái nôi văn hóa, khúc ruột miền
Trung. “Ai kê sông lệch bên trời/ Để câu ca Huế một đời rơi nghiêng”.Hình
như nhiều câu, có cả cái chất ngông thi sĩ. Văn Đắc mỗi khi ông sướng lên, cao
hứng lên bao giờ cũng có những câu thơ ngang tàng mà chí khí. Để lại bóng hình
ngao du như ẩn sĩ. Khi ở Huế, thơ ông khắc bóng hình như một kẽ lãng du đi tìm
chất Huế. Ngồi Thuyền động nước Sông Hương/ Mà chênh chao cả con đường
miền Trung quả là liên tưởng xa xăm lắm để rồi ông tự nhận mình:
Khách tiêu dao là ta
Khách giang hồ là ta
…Ai đó gặp rồi xa khuất
mãi
Để ta dằng dặc Huế bên
lòng
(Huế bên lòng)
Sức nặng của thơ ông có
chí khí phi thường. Hình như có cả khẩu khí của thơ Cao Bá Quát chăng? Ước
chi mang được núi đồi/ Ghé vai cho đất cuối trời lên cao (Mưa Năm
Căn-1997).
Tôi nghĩ gốc của thơ ông
mang bản năng thi sĩ. Mà đã thi sĩ thì chất lãng mạn luôn bay bổng. Dạo chơi khắp
đó đây là một biểu hiện. Có lúc ẩn mình, có lúc khuấy đảo. Nhưng dồn vào nội cảm
không quên thả vào thơ chất trữ tình của sông nước, làng quê, phố xá. Văn Đắc đến
đâu cũng hiểu người hiểu ta. Ở đời hiểu cái bên trong mới khó. Muốn hiểu phải
khám phá. Ông đã “điểm nhãn” vào nhân sinh, vào khúc nhạc của lòng trai sau bao
năm xa thành phố trở về:
Tôi có một thời trai Hà Nội
Một thời trai như ngô bãi
sông Hồng
Lá lúng liếng vào trăng
chừng đã nói
Một câu gì để Hà Nội bâng
khuâng
Người ta nói Văn Đắc có
trái tim thi sĩ quả không sai. Cái thời trai của ông nồng nàn lắm. Một lần đưa
người yêu bạn tìm người yêu trong men say ở Hà Nội, hồn thơ của ông phảng phất
gió sông Hồng, đem lại cảm xúc không thể nào quên được. Người trai chắp
hai bàn tay cảm ơn/ Tay bắt rất chặt/ như là để tình yêu của mình khỏi mất/ suốt
dọc con đường tấm tức/ Hai hàng phố càu nhàu/ Hà Nội lặng phắc.
Em ơi, lạ lùng
Hà Nội giận hờn quá thế
Phân vân mấy nẻo đường về
Mình ta lẽo đẽo đường
khuya/ Nửa mê đã tỉnh, nửa chia lại đầy/
Xòe tay Hà Nội trong tay
Ngả nghiêng mắt phố ướt
say mặt hồ.
(Một lần Hà Nội- Văn Đắc)
Thơ Văn Đắc có đường dẫn
trong cảm hứng sáng tạo. Đặc biệt đến với thi nhân có những câu thơ không dễ viết
nếu như không có sáng tạo độc đáo. “Sóng Mộng Cầm dắt bể Hàn Mặc
Tử/ Đi trong đời như một tiếng chuông tan”. Tôi chắc Văn Đắc mê Hàn nên mới
có được những câu thơ hay như thế. Hình ảnh trăng có điều gì được giải mã căn
nguyên trong thơ ông. Người xưa thường nói “thi sĩ là của vầng trăng/ Trăm năm
theo gió đêm nằm đợi trăng”. Chính cái chất thi sĩ hiện nguyên trong đôi bàn
tay bút hoa của ông thường vẽ đã làm nên đường trăng trong thơ ông như rượu ngọt
hương nồng:
Tôi bắt được một vầng
trăng trong quá
Lúc lá cây rung hết giọt
mưa chiều
Bao bụi đất nằm im
trong đám cỏ
Gió phiêu bồng cùng gió
dưới trăng treo
(Bất chợt một vầng trăng)
Văn Đắc đúng là một thi
sĩ trong cõi tình đắm say và mơ mộng. Nhưng đâu chỉ có thế, mà ông luôn chạm
vào những vô hình để tìm đến hữu hình trong khát vọng: Cát nhập vào
mây, mây nhòa vào cát/ Bất chợt một lần tôi được đóa trăng yêu. (Bất
chợt một lần trăng- Văn Đắc).
Trong cách sử dụng từ ngữ
cho thơ, để làm dậy sóng cho cảm xúc, Văn Đắc có một sáng tạo đến bất ngờ. Nhất
là sử dụng biện pháp tả cảnh ngụ tình. Hoặc phép tu từ đầy biến hóa. Rất tinh tế
kiểu nghệ sĩ điêu luyện sử dụng tiếng Việt, làm tỏa sáng cho thơ. Khi nhớ về
nơi xa ấy, dù cho vùng rừng tới biển hay tại thủ đô, ông viết với một phong
cách rất riêng: Bây giờ Hà Nội xa vời vợi/ Len lén đường trăng xuống
ngoại ô. Cách sử dụng từ láy “Len lén” đặt vào văn cảnh
tỏ ra khá cao tay, đem đến sức gợi lớn.
Với Văn Đắc, thơ ông tuyệt
đối không bịn rịn đến mức tuyệt vọng. Sự chia tay và gặp gỡ trong thơ ông bao
giờ cũng sáng lạn một niềm tin. Trong đường thơ của ông không thể không nói đến
chữ tình trong tình yêu. Đó là tình yêu quê, yêu vợ, yêu cái làng nơi ông sinh
ra và lớn lên. Từ khi là một chàng trai đến khi trở về già. Quê hương nơi ông lớn
lên cùng với cát, với sóng xôn xao sớm chiều ra biển đã thức tỉnh ông trong cả
lúc say sưa nhất. Trong thơ hiện đại, mỗi nhà thơ đều có cách cảm và nghĩ riêng
của mình khi viết về quê hương. Riêng Văn Đắc ông đã dồn hết tâm huyết cho thơ
bằng những bài thơ ông viết về làng. Làng ông ở gần biển. Nơi những con sóng thức
dậy trước bình minh đã thấy xôn xao những khúc nhạc của tình biển dội vào cảm
thức. Ông từng tâm sự:
Biển cách sông trở một
cánh buồm qua/ Chiều ra bể sáng đã về quét ngõ/ Rượu mới nhấp, đầu đã say ngọn
gió/ Một tiếng gà gáy nhớ khơi xa… Trời cửa lạch như một vần thơ cổ/Một câu Kiều
sáng sớm đã sang sông. (Làng biển).
Thơ Văn Đắc luôn giữ thái
độ trầm tư trong suy nghĩ. Những cung bậc cảm xúc mà ông đã gắn bó với nơi ông
sinh ra và lớn lên từ cái làng chài ven biển ấy, cứ thấm dần như dòng sữa
nuôi ông khôn lớn. Ông có những dự cảm những hoài niệm, có vóc dáng một tầm suy
tưởng trí tuệ, xoáy vào cuộc sống mà xã hội thường đề cập: Câu tục ngữ
xưa mà làng đã nay rồi/ Đời lại đẻ ra nhiều câu nói nữa/ Tôi muốn hát một điều
gì nhỏ nhẹ/ Như là câu tục ngữ thế này thôi. (Tìm câu tục ngữ của dòng
sông).
Đặt Văn Đắc vào ghế nào
cùng với các nhà thơ hay của văn học đương đại, theo tôi xứ Thanh thơ ông, vẫn
có một ghế đầu trịnh trọng giành cho ông. Bởi thơ ông ngoài các yếu tố thành
công khác, về mặt thi pháp thơ có giọng điệu, ngôn ngữ riêng. Cái hay là ở chất
lạ, có khẩu khí, không gấp khúc, không chối âm vần. Hơn nữa, thơ ông nổi bật ở
giọng điệu trữ tình. Mà biểu hiện rõ nhất là cái tôi trữ tình đằm thắm, êm dịu,
ngọt ngào, đậm sắc thái biểu cảm.
Em ơi! Mùa xuân
Biển biếc ngàn năm em
cũng không ngờ.
Cứ xanh thế, để sóng làm
con trẻ
Để ngọn gió về em đậu ngủ
Mặt trời lên như quả chín
cây buồm.
(Đón xuân đang về)
Trong thơ Văn Đắc, cái
tôi trữ tình đa dạng, phong phú, nhiều mầu sắc. Có khi cái tôi trữ tình thể hiện
dưới dạng trực tiếp, phản ánh tâm trạng khắc khoải bồi hồi, gắn với tâm
tư của nhà thơ. Trong trường hợp này, cái tôi trữ tình chính là cái tôi của tác
giả. Văn Đắc thể hiện bản tính của một kẽ si tình có hạng. Nhưng không phải vì
thế mà ông sa đà vào chốn tình trường. Thơ ông dung dị nhưng khi đã si mê thì
cái gì cũng sẽ đến. Nó đưa hình tượng nghệ thuật chạm đến điển hình hóa. Có nhiều
câu thể hiện nghệ thuật so sánh, phép liên tưởng rất đặc trưng:
Tay em đã vịn vào cành/
Thì bao nhiêu lá cũng thành lời yêu. (Vụng thầm)
Ngay cả cách thể hiện
trong bài thơ mượn rượu để ngụ tình đã vượt qua bão tố thời gian để khẳng định
thương hiệu thơ Văn Đắc. Lại nhớ đến một câu thơ của một nhà thơ si tình: “Em
là rượu của thế gian. Còn ta say vẫn mong mang em về”. Với Văn Đắc lại
khác: Em rót vào ta/ Rượu rót vào chai…Chả lẽ ôm chai khô khốc trong
tay/ Để chịu khát hết một đời trai trẻ/ Dẫu mang tiếng ta cũng đành đập vỡ/ Xem
mảnh chai nào ngấm rượu của em không. (Rượu – Văn Đắc).
Những điểm đáng chú ý
trong thơ trữ tình Văn Đắc là có nhiều tứ hay và lạ, lạ đến sững sờ. Ông có nhiều
bài thơ tình đặc sắc như bài thơ “Vợ” là một bài thơ điển hình trong thơ ông
mang phong cách Văn Đắc. Mặc dù gợi nhiều sắc dục nhưng nổi hơn, thành công hơn
là nghệ thuật so sánh: Khi anh đang nhấp chén trà như nhấp mật ong/ Thì
mồ hôi em ướt hai đầu vú. Quá lạ! Những câu thơ táo bạo như lao dốc,
đưa thơ về vùng sông đẫm nước, khi mà người nghệ sĩ nóng tràn muốn tìm những giọt
nước chống hong khô. Văn Đắc đã từng có những câu thơ đặt vào khoảng trống làm ấm
áp cả mùa đông: Mùa đông có già đâu/ mà em ghé đầu vào anh cho trẻ lại/
Để suốt đời trong anh em là con gái. (Áo đỏ – tặng vợ).
Tôi cứ trăn trở trong
cách viết thơ có cái gì đó làm cho người ta chú ý nhiều hơn trong phong cách viết
của ông. Mà “phong cách chính là con người” (Câu nói của Bufon). Còn người xưa
thường có câu nói “văn là người”. Với nhà thơ Văn Đắc trong mấy chục năm làm
thơ, do có duyên thơ sâu đậm với ký ức cuộc đời mà thơ ông cứ tái sinh làm cho
ông như trẻ lại. Cảm xúc trong cái tôi trữ tình thường lên ngôi để nảy sinh những
câu thơ hay: “Vầng trăng cuối tháng lẳng lơ/ Ai hái dâu về tắm bến. (Hạt
phù sa). Ông đã có nhiều lần bất chợt. Từ bất chợt một vầng trăng đến bất chợt
nhìn một cái gì đó nuột nà như hoa ngọc: “vườn cây khép nép/ Em cởi mùa mướt
mát hiện sau mưa”. Văn Đắc có tài khi chớp được những khoảnh khắc đẹp để biến
những hình ảnh thành những câu thơ hay. Chỉ một lần cảm nhận mà ông đã kéo theo
nỗi nhớ bằng những thi ảnh liên tưởng độc đáo: Tóc vừa thả ướt bên
sông/ Đã hong khô nắng sau lưng thị thành. Trong những câu thơ hay không phải
chỉ có tả mà còn có hồn thi cảm: Sỏi nhìn trắng tận gót chân/ Ô kìa con
suối tắm trần bến sông/ cây nghiêng đầu/ núi khom lưng/ Trời cao nghiêng cả
bóng rừng xuống em (Suối tắm).
Có
thể nói, thơ Văn Đắc nói về nhiều chuyện trên đời nhưng bao giờ cũng có chất
riêng của người Thanh Hóa. Dù ông có xuất hiện trên khắp nẻo đường đất nước, từ
miền xuôi đến miền ngược, kể cả ra Bắc vào Nam, người ta vẫn nhận ra ông là người
Thanh Hóa. Bởi lẽ Văn Đắc là người yêu quê hương như máu thịt. Dù khổ đau đến tận
cùng vẫn không làm nhạt nhòa chí khí mà ông tự nhận mình chất Thanh trong thơ
ông không lẫn vào đâu được: Cái khuôn đúc sẵn của trời/ Đã xoay đủ cách
vẫn trồi tôi ra/. Vì ông có tư thế nên những câu thơ ông viết mang đặc điểm
phong cách ông rõ nét. Ngồi ăn đặc sản tán toàn chuyện vua cho
đến Rau má là tôi, là anh/ Cứ xanh mắt lá hiền lành là ta.
“Văn Đắc đã từ cát luyện
thành thủy tinh thơ mình” đó là câu nói của một nhà phê bình nhưng chưa đủ. Cái
mà ông có dư, chính là tấm lòng rộng mở. Với ông, thơ là tất cả. Nó mang theo
“cái tạng” của một đời thơ thi sĩ. Một chất thơ mang cốt cách tâm hồn cao đẹp
thanh tao bất diệt. Dẫu thời gian vô tận, còn đời người hữu hạn trong kiếp nhân
sinh nhưng với thi sĩ Văn Đắc còn nặng nợ với thơ với đời nhiều lắm. Hiện tại
ông đang cư trú nơi phồn hoa phố thị, nhưng ông vẫn giành hết cả trí lực cho một
đời thơ. Cho một cõi tình mà ông đã sống chết vì thơ. Xin được chúc mừng tình
thơ Văn Đắc, được người đời nhớ mãi không quên.
30/5/2022
Trịnh Vĩnh Đức
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét