Bộ ba hồi ký và tiểu thuyết “Nước mắt giã biệt” của Hoàng Văn Bổn
Ba tập hồi ký chính là một vòng tròn kỳ lạ của một cuộc hành trình, nói lên sự tự do trên con đường hành động tìm lại chính mình, mà phương tiện của nó chính là tình thương, tình yêu.
Những khung cảnh hoành
tráng…
Tác phẩm của nhà văn
Hoàng Văn Bổn (1930-2006) đã dựng nên những khung cảnh hoành tráng của chiến
tranh bên cạnh nét trữ tình của văn hóa Đông Nam bộ. Những tác phẩm “Trên
mảnh đất này”, “Hàm Rồng”, “Bầu trời mặt đất”, “Sóng Hòn Mê”, “Sóng bạc đầu”… với
nhiều khung cảnh lớn trên trời, dưới đất, biển cả, núi sông trên khắp các miền
đất của tổ quốc. Những trận đánh trên cầu Hàm Rồng của “bố già” Nguyễn Gia Nhuệ
(Hàm Rồng), của Ba Râu đánh quân Đồng Minh (Trên mảnh đất này), hay biên đội Cửu
Long của thuyền trưởng Lê Dư trên biển (Sóng bạc đầu) đã ghi lại dấu ấn những
con người anh hùng và những vùng đất anh hùng.
Song sẽ rất thiếu sót nếu
không nhắc đến bộ ba hồi ký (Tuổi thơ ngọt ngào, Một ánh sao đêm, Ngôi sao
nhớ ai) và tiểu thuyết 4 tập “Nước mắt giã biệt”. Ở
đây có sự hoành tráng tập trung nhất của đất và người Đồng Nai, các tác phẩm đã
biểu lộ thật nhất sự thật của tâm hồn nhà văn trong dòng chảy tràn ngập tinh thần
của quê hương ruột thịt.
Thật vậy, các tác phẩm
này đều được mở đầu bằng hai hình tượng lớn: hình tượng con người Đồng Nai và
khung cảnh quê hương Đồng Nai. Các hình tượng này đều có sự phát triển cùng với
thời gian và diễn biến lịch sử của đất nước. Các nhân vật lớn lên trên cánh đồng
Bình Long, bàu Mật Cật, bờ sông Đồng Nai đã vượt sông sang chiến khu Đ, rồi về
Đồng Tháp Mười, tập kết ra Bắc, đi khắp các miền của tổ quốc, rồi đi đến những
chân trời Đông Âu, Nam Mỹ… Họ đã mang theo hình ảnh con sông quê, cánh đồng
làng đi mãi. Yếu tố thời gian trở thành bình diện thứ hai của sự thật tâm hồn
nhà văn. Chính vì thế, các tác phẩm này đều được viết dài, liền mạch. Những
thăng trầm của đời người, kể cả mất mát hy sinh đều giữ vững giá trị tinh thần
mà những khung cảnh quê hương mang lại từ thời thơ ấu. Thời gian đã lập ra một
mệnh đề, hàm chứa hạnh phúc và khổ đau của đời người thuộc thế hệ nhà văn: Ra
đi để được trở về, được tìm lại chính mình.
Trong bộ ba hồi ký, nhà
văn Hoàng Văn Bổn lấy cuộc đời chính mình làm đối tượng thể hiện. Đó là một cái
Tôi có tầm nhìn khái quát, phóng khoáng về cuộc đời và về chính mình. Ngay từ
khi còn nhỏ, đi học, lăn lộn trên lưng trâu, tụ tập bên miểu Long Chánh nghe
chú Từ Khiêm kể chuyện, nhân vật Tôi – tác giả đã là con người của chính
mình và của thời cuộc. Điều này có thể lạ lùng song sự thật thì lại rất đúng, rất
gần gũi với thời đại ấy. Bên cạnh bọn trẻ chăn trâu có chú Từ Khiêm với tiếng
“Gấy ghên!” muôn thuở, có chú Phúc Nhật (lính Nhật) đi theo cách mạng, có những
người như Cả Điếc, Pâyra Tây lai, Sáu Diêm, tướng Huỳnh Văn Nghệ… Những người
trẻ tuổi đã đến với thời cuộc rất chủ động. Giặc đến, các em tham gia tiêu thổ
kháng chiến, rời vượt sông sang chiến khu Đ. Con đường của các em là một đường
thẳng căng theo lịch sử, mà ngay từ buổi đầu chú bé Huỳnh Văn Bản đã là một chứng
nhân.
Khung cảnh bi tráng nhất
của tập hồi ký đầu tiên – Tuổi thơ ngọt ngào – cũng là
khung cảnh lớn mở đầu cho cuộc đời: Ngày 23 tháng chạp Tết Bính Tuất, giặc Pháp
tấn công chợ Tân Uyên, trước đó đã có lệnh tiêu thổ kháng chiến. Lửa tiêu thổ
chưa tắt, lửa cướp phá lại nổi lên: “Từ đầu làng tới cuối làng, lửa đỏ trời. Xe
Jeep nhả cà xôm đầu đồn ruộng giáp bìa rừng. Dưới sông, chiếc tàu nổ máy xình xịch,
chốc chốc lại bắn vài loạt đạn lên bờ. Chỗ nào cũng có tiếng Tây chửi bới, la
thét, súng nổ đì đẹt… Nước con sông Đồng Nai đỏ ngầu máu. Nhiều người từ những
đám mía cháy chạy ra, khắp người phừng phừng như bó đuốc, làm bia cho chúng thi
nhau bắn…” Dinh cơ nhà Hai Khinh bị triệt hạ, già trẻ trai gái hơn ba trăm người
bị lùa lên xe, đưa về trại giam. Đêm đêm, chúng cắt cổ người, khủng bố tinh thần
nhân dân.
Lúc ấy, nhà văn đã quan
sát…: “Tôi liếc mắt nhìn kỹ bà con lúc đó. Chẳng ai khóc than, xin xỏ như lúc bị
quăng lên xe. Chắc họ cũng cùng tâm trạng lúc ấy như tôi: Cái chết đã hiển hiện
trước mắt rồi phải chọn một cái chết cho ngon. Đó là vào những lúc bà con dân
làng thường nói với nhau gặp lúc nguy hiểm: “Làm tới đi bà con”. Đằng nào
rồi cuối cùng cũng một lần chết. Có ai lột da sống đời bao giờ…”
Ở “Tuổi thơ ngọt
ngào”, Hoàng Văn Bổn chọn cách đặt tên cho từng biến cố đầu đời: Còn
đâu những ngày êm ả, Cú kêu ba tiếng cú kêu…, Giã biệt tuổi thơ, Thế là ra đi,
Người giữ miễu, Xứ tôi… Thời kỳ sống ở chiến khu Đ: Cọp ba móng, Đi săn và bị
săn, Bác sĩ rừng già… Thời kỳ sống ở U Minh, Đồng Tháp: Sóng bạc đầu, Ngôi trường
trên lưng… Đây là những biến cố có ý nghĩa sâu sắc, mở đầu cho cuộc đời cống hiến
của nhà văn. Trong đó, những người thân như chị Sáu Nở, cô Năm Đồng Nai, năm cô
gái họ Thanh, anh Nhị Nguyên, các thầy giáo ở U Minh… được nhắc lại nhiều lần ở
các tác phẩm khác. Đây là mối tương quan kỳ lạ mà ông tự cắt nghĩa “Đời tôi có
hai cuộc đời…”, trong tập Vũ trụ.
Ở hai tập hồi ký sau, nhà
văn dùng cách đánh số các chương đơn giản, tuân thủ nguyên tắc thời gian. “Một
ánh sao đêm” kể lại giai đoạn từ 1954, tập kết ra Bắc cho đến năm 1972
ở Trường Sơn. “Ngôi sao nhớ ai” viết về những ngày viết “Đường Trường
Sơn” cho đến khi trở về quê hương (1975) và tiễn đưa người mẹ kính yêu
(1980). Có những trường đoạn diễn tả trung thực cuộc sống người chiến sĩ cách mạng
ở rất nhiều mặt trận khác nhau: từ chiến khu Đ đến vùng Đồng Tháp Mười, từ biên
giới Tây Nam đến đảo Bạch Long Vĩ, từ cầu Hàm Rồng đến núi rừng Trường Sơn. Để
đạt được chất hoành tráng trong bộ ba hồi ký này, nhà văn đã dùng những “thủ
pháp nghệ thuật” như sau:
Thứ nhất, đó là tính chân
thật, không chút tô vẽ. Những sự kiện qua lăng kính hồi tưởng trở nên trong suốt,
sống động lạ thường. Cái tài quan sát cộng với cái Tâm giàu tình cảm đã giúp
nhà văn dựng lại gần như toàn cảnh thời thơ ấu và những năm tháng tuổi trẻ của
mình, đồng thời kể lại tỉ mỉ, vẽ lại chân dung từng con người, bao quát cả một
vùng đất rộng lớn mình đã gặp, đã đi qua… Những đoạn viết về ông Ba Trợn (ở chiến
khu Đ), về thầy Hoàng Minh Viễn (trên đường ra Bắc tập kết), đoạn quay phim
trong hang núi Ngọc bên cầu Hàm Rồng, đoạn trở về thăm mẹ sau chiến thắng 30 –
4 và những ngày đối phó với sự kỳ thị của người dân đối với những người cộng sản…
là những đoạn viết xúc động, chuyển tải sức sống mãnh liệt của tình yêu, niềm
tin. Sự thật là nhà văn đã từng cảm nhận rằng: “tôi xa quê hương giữa lúc hai
chân tôi còn đứng trên mảnh đất quê hương” trong những ngày thơ ấu, để rồi suy
niệm: “Hầu như càng đi đến cuối đường đời, lại càng day dứt, bồi hồi, thổn thức
nhớ lại, tha thiết những bước chập chững đầu tiên…” (Một ánh sao đêm). Ba
tập hồi ký chính là một vòng tròn kỳ lạ của một cuộc hành trình, nói lên sự tự
do trên con đường hành động tìm lại chính mình, mà phương tiện của nó chính là
tình thương, tình yêu.
Thứ hai, đó là nghệ thuật
cách điệu khá phóng khoáng của nhà văn trong xây dựng nhân vật. Điều này có vẻ
là nghịch lý vì nó xa lạ với sự chân thật kể trên. Song sự thật là nhà văn sẵn
sàng đưa nhân vật vào kết cấu tiểu thuyết mà không sợ phá vỡ cái Tôi của người
kể chuyện. Các em học sinh ở trường tiểu học Tân Uyên, bỗng chốc được đưa lên
làm “nhân vật chính”, gọi người kể chuyện bằng “anh Chín” một cách thương yêu (Tuổi
thơ ngọt ngào), hay các cô gái ở Trường Sơn được “nói thật” về mình và
không hề xuất hiện người kể chuyện (Một ánh sao đêm). Rất trân trọng niềm
hạnh phúc nhỏ bé của người khác, đến nỗi quên mình đi, Hoàng Văn Bổn đã ghi một
dấu ấn lạ trong hồi ký của mình.
Thứ ba, có thể nói ít có
tập hồi ký nào vừa giàu tính xã hội vừa giàu tính cá nhân như hồi ký của Hoàng
Văn Bổn. Trong đó xuất hiện hàng ngàn con người khác nhau, hàng loạt lớp người,
hàng núi chi tiết, sự kiện. Cảm hứng chính trị hòa trộn với tình cảm sâu sắc đối
với gia đình, đồng đội giúp nhà văn diễn tả được cuộc sống ở cục diện tương đối
rộng.
Ba tập hồi ký đã ghi lại
một cách đầy đủ, ở mức trung thực nhất những sự kiện được tiểu thuyết hóa trong
“Bông hường bông cúc”, “Trên mảnh đất này”, “Tướng Lâm Kỳ Đạt”, “Bầu trời mặt
đất”, “Nhớ phố phường”, “Lũ chúng tôi”… Điều này giúp ta nhận thấy hầu
hết tác phẩm của nhà văn Hoàng Văn Bổn đều viết về sự thật mà ông đã trải nghiệm,
đã chứng kiến.
Đối với “Nước mắt
giã biệt”, chất hoành tráng đã được nâng lên thành cảm hứng nghệ thuật.
Bốn tập sách kể lại một quá trình cả cuộc đời của những con người, những số phận
khác nhau. Một điều đáng nói là cảm hứng chính trị vốn thể hiện rất rõ ở các
tác phẩm khác, thì dường như ở “Nước mắt giã biệt” lại nhường
chỗ cho những mối dây tình cảm. Khái niệm “sử thi” cũng có thể được dùng để gọi
“Nước mắt giã biệt” là ở nội dung này. Song tình cảm không đơn thuần,
dung tục mà hết sức trong sáng, như một cứu cánh của đời sống chiến tranh.
Nhân vật trong “Nước
mắt giã biệt” có tấm lòng quảng đại, tiêu biểu cho tính cách mà mình
có. Bằng luôn đứng giữa tình thương và tình yêu, dành tất cả tình cảm cho người
khác và vấp phải sự bất lực trước khổ đau. Hồng Loan sống hết mình cho tình
yêu, hy sinh tất cả. Hương bao dung độ lượng. Bảy Quỳ, Sáu Nở, Năm Hướng, Sáu
Lé luôn sống với bản chất con người mình. Ngay cả nhân vật Út Thiện hay Từ
Khiêm đều vững vàng và mạnh mẽ lúc cần thiết. Đây là những nhân vật chính diện
được xây dựng như một tượng đài lớn cho quê hương Đồng Nai “khoai củ”. Thật
thà, chân chất và bộc trực – những tính cách đã giúp tượng đài nhân vật
trở nên sống động.
Những nhân vật như Ngô Kỳ
An, Trần Hoa Lệ như những ánh sao thấp thoáng trên mảnh đất của những con người
đấu tranh. Song họ đã có những phút giây bừng sáng, khi họ nhận ra được tình đời,
nhận ra chân lý và sự thật họ hằng mong chờ (nhưng không dám tin). Điểm nhấn cần
thiết tạo nên sự bi tráng là ngay vào lúc trái tim bừng sáng thì họ phải chết.
Trần Hoa Lệ nhận ra tình yêu chân thật vời Ngô Kỳ An sau những tháng ngày ngụp
lặn trong dục vọng, cô đã bị đạn Mỹ bắn tan xác trên máy bay. Ngày quân đội của
Bằng vào giải phóng thành đô, Ngô Kỳ An đã tự sát. Hai cái chết khác hẳn cái chết
của Bảy Quỳ (“cứ thế, Quỳ nhào lộn bên trên dòng sông thân thương của Quỳ từ tấm
bé”) phân biệt rõ tính bi kịch và bi hùng trong tác phẩm. Thước đo phẩm chất
các nhân vật trong “Nước mắt giã biệt” chính là tình cảm của họ trong những năm
tháng ấy. Song không thể lẫn lộn chủ nghĩa duy cảm với tình người có tính Đảng,
tính nhân dân ở Hoàng Văn Bổn.
Khung cảnh trong “Nước
mắt giã biệt” là những khung cảnh lớn, đặc biệt là hình tượng con sông
Đồng Nai và chiến khu Đ. Đây là những nơi gửi gấm trọn vẹn tình cảm của những
con người xứ Đồng Nai – kể cả Ngô Kỳ Hồng và Trần Thanh Hoa, là nơi
giữ gìn lý tưởng, biểu tượng của khát vọng sống, và là nơi thể hiện cụ thể hành
động của từng con người. Quyết liệt nhất song cũng yếu đuối nhất là Hồng Loan,
cô ra đi, hy sinh bản thân để cứu Hương, rồi lại tìm về, như một bóng ma. Một bối
cảnh lớn, ghê gớm, dữ dội như thế chuyển biến thành không gian của tình yêu, đối
với Bằng và Hồng Loan, Bằng và Hương – những nhân vật chính của tác phẩm.
Tóm lại, với cái nhìn bao
quát và sự gắn bó của nhà văn đối với cuộc sống mà sự hoành tráng đã được dựng
nên qua rất nhiều tác phẩm. Có thể coi đây là một sở trường riêng của ông.
Sự trào lộng lạc quan
Sức sống của các tác phẩm
Hoàng Văn Bổn ngoài cái Thực còn có thể kể đến cái Trào Lộng. Sự trào lộng
trong bút pháp của ông có một sức quyến rũ ghê hồn. Song có thể nói, những tác
phẩm đầu tiên của ông – “Bông hường bông cúc”, “Mùa mưa” và kể
cả “Trên mảnh đất này” – đều chưa phát huy sức mạnh của
bút pháp này. Và cũng có thể nói ngay rằng, những tác phẩm đầu tay khẳng định
tên tuổi Hoàng Văn Bổn lại thiếu chất bi – hài đặc biệt của ông. Tướng
Lâm Kỳ Đạt”, “Hàm Rồng”, “Sóng Hòn Mê” bộc lộ năng khiếu gây cười – ra
– nước – mắt của nhà văn Hoàng Văn Bổn bằng những hình tượng nhân vật như Lâm Kỳ
Đạt, “bố già” Nguyễn Gia Nhuệ, cố Gạch, cố Ngói… Song phải đến bộ ba hồi ký, tiểu
thuyết “Nước mắt giã biệt”, tập truyện ngắn “Người điên kể
chuyện người điên”, chất trào lộng mới đạt đến “đỉnh cao” của nó, ấn định
tính cách một nhà văn thâm trầm và hài hước – Hoàng Văn Bổn.
Trong các chương trước,
có lẽ ta cũng hiểu phần nào giọng văn tự trào tự tiếu của nhà văn trong “Người
điên kể chuyện người điên”. Đó là những truyện ngắn rất đặc sắc lột tả niềm
vui sướng, nỗi khổ đau chất chứa trong lòng một người con của đất Đồng Nai. Ở
hai tác phẩm được kể sau này, có lẽ nội dung chính cũng tương tự vậy, song có một
cái Tôi duy nhất, xuyên suốt tác phẩm. Cái tôi có lúc thơ ngây, có lúc từng trải,
có lúc vui tươi, có lúc đơn lẻ, cô độc. Tác giả tự nói hết. Một cuộc đời trải
qua nhiều biến cố như thế, chất chứa nhiều nỗi đau (gia đình, thời đại) như thế
không dễ mà viết về những chuyện buồn. Sự thật về nỗi buồn, hay sự thật về một
cái Tôi, hẳn là rất “khó nói” đối với ngay cả một nhà văn.
Hoàng Văn Bổn chọn cách
ngắn nhất, đó là nói thẳng, huỵch toẹt. Song những nỗi đau, những cơn bão lòng
viết theo kiểu “chính kịch” thường rất ngắn. Chẳng hạn lần lạy mẹ “lên xanh”,
đoạn từ biệt vợ con, nuôi con ốm ở bệnh viện, tiễn đưa mẹ… Còn viết theo kiểu
trào lộng thì rất nhiều, hầu như chương nào cũng có. Chính cách viết này đã làm
cho chú Từ Khiêm, chú Bảy Hơn khùng, Theo điên trở nên “bất tử”. Trong chương
“Người giữ miễu” (Tuổi thơ ngọt ngào), Cả Điếc tay sai thường sục sạo,
tra hỏi tìm bặt cộng sản, bắt rượu lậu. Chú Từ Khiêm nấu dầu chai, bị hạch hỏi,
chú đáp:
“ – Để trét ghe.
– Trét ghe để làm
gì lúc này?
– Để chạy lẹ khi bị
chó rượt. Ông Cả có muốn chạy nhanh hơn cộng sản, nhanh hơn ông tướng cướp Chín
Quỳ không?
– Sao lại không muốn?
Mày có cách chi?
– Quay đít lại đây… Vọt
nhanh như chớp.
Không tin, nhưng lại
tham, Cả Điếc quay đít lại. Chẳng ngờ chú Tà Khâm nhúng chổi vào chảo dầu sôi,
quét ngang qua đít cả Điếc (…) Lão kêu rú, hai tay ôm đít quần vọt như tên bắn…
Mấy tên lính làng hoảng tam tinh, rủ nhau lủi thẳng…”
Có hàng trăm chuyện như
thế, hệt như chuyện Trạng, chuyện Bác Ba Phi. Lớn hơn chút nữa, tác giả sống ở
đại ngàn chiến khu Đ, những chuyện cọp ba móng, chuyện lo cái ăn cái mặc, chuyện
dạy học ông Ba Trợn lại đầy ắp ký ức. “Một bếp lửa thôi, ông Ba Trợn ơi. Đôi
khi, cần một tiếng chửi của ông xiết bao, cho cuộc kháng chiến này nó bình thường
một chút”. Tiếng cười như tỏa ra để làm cân bằng cuộc sống quá nhiều nước mắt,
quá nhiều nỗi buồn. Những việc thực, người thực đã dẫn dắt nhà văn đi qua cuộc
kháng chiến trường kỳ bằng những tiếng cười lạc quan ấy.
Chuyện người là vậy, còn
chuyện mình thế nào? Nhà văn đã không úp mở kể lại rằng mình không biết làm gì
với quả lựu đạn đã rút chốt trên tay. Từ khi đi học ở Đồng Tháp mười đến lúc tập
kết ra Bắc, đã có vài lần diễn kịch, toàn những chuyện cười nổ ruột. Ngay cả
lúc tưởng được ăn thịt chó trên hang Mắt Rồng cũng bị đạn pháo Mỹ thổi bay hết.
Lọt vào thùng mìn định hướng mà cứ ngỡ mình “có tướng làm vua” tìm được cái ăn…
Kể cả việc phải làm nhiệm vụ ở những mặt trận lớn: “Tôi đã hàng trăm lần nói dối,
chối quanh trước những câu hỏi rất “đơn giản” như thế. Với nhà tôi, với các con
tôi, tôi vẫn phải hàng trăm lần nói dối như thế: “Mặt trận nơi ấy thuộc loại phụ,
loại xoàng thôi mà, lo gì. Năm nay anh khỏi đi mặt trận, phải làm loại phim tổng
kết tại bàn dựng, xào xáo phim tư liệu thôi…” Đi 33, lại nói đi Việt Bắc. Đi miền
Nam, lại nói đi Lào. Khi kết thúc chiến dịch, chắc chắn mình còn sống, mới vội
vàng viết thư về nhà, xin lỗi đủ thứ. Nào tình huống bất ngờ. Nào quân đội, lệnh
là lệnh (…) Nhịn đói bốn năm ngày liền, vẫn cứ bảo là rất đầy đủ, nhiều món thịt
rừng ngon lắm. Bị sốt rét hành hạ đến ngã quỵ, vẫn cứ là: anh vẫn mạnh khỏe, vẫn
thấy lên cân…” Nhà văn chẳng hề nói cho vui nhưng nghe ra giống như đang cố đùa
với chính mình, để rồi sau đó đưa ra một câu hỏi thật nghiêm túc: “Tôi mới
ngoài bốn mươi, mới có ba cháu, gia đình mới lâm vào cảnh chiến tranh vài năm,
loại chiến tranh phá hoại (…) mà đã bời bời thế sự thế này rồi. Thế mẹ già tôi
trong Nam kia, thì sao? Mười một đứa con, một đàn cháu, chắt, đã phải chịu cảnh
chiến tranh mặt đất, bộ binh nay đã gần ba mươi năm rồi (…) súng nổ phương nào,
bom rơi hướng nào, tim mẹ cũng đau nhói!”
Sống trong cuộc sống khắc
nghiệt như vậy, nhà văn đã tìm thấy niềm vui sống và một tinh thần lạc quan vững
chắc. Ông và những người đồng đội không hề tự huyền hoặc mình mà luôn đương đầu
với thực tế một cách sảng khoái, phóng khoáng. Đó cũng là một điều kiện cần cho
sự tồn tại của con người.
Nhà văn còn dùng ngòi bút
trào lộng để viết về những sự kiện nặng nề, chứa đựng lòng bao dung và sự thông
cảm lớn. Đây là một cách ứng xử đẹp. Chuyện huấn luyện trong đợt cải cách ruộng
đất, chuyện nghệ sĩ U Đa – “xung phong” tự đấu tố hăng hái quá đến nỗi phải
“tuyệt thực”, “mất tích”. Dựng xong đường dây liên lạc từ biên giới Việt Lào đến
sông Bến Hải, trung đoàn 56 xuống Chi Nê, Hạ Bì phạt rừng, trồng cà phê, kéo
lên Ba Vì nuôi bò sữa, ngựa giống. “Chán đời, lính tráng lén dắt ngựa đực đến
chuồng ngựa cái, mở dóng. Đời tụi tao không ra gì rồi. Không nên làm khổ đời tụi
mày làm chi. Muốn làm gì đó, tùy thích. Thế là ngựa đực sổng chuồng, suốt ngày
nhảy chồm lên lưng ngựa cái. Mắt đổ ghèn. Chân khuỵu xuống. Lại bị kỷ luật. Chẳng
nhằm nhè gì. Tụi tao nhận kỷ luật cho đời tụi mày được xổ lồng, là hạnh phúc
cho thân tao lắm rồi”…
Đó là những chuyện rất
con người, xuất phát từ sự chấp nhận một cuộc sống gian khó, khắc khổ. Liệu
pháp gây cười giúp người khác thông hiểu sâu sắc hơn những thời kỳ khó khăn của
cả dân tộc nói chung, và của thế hệ nhà văn nói riêng.
Nếu bộ ba hồi ký dùng yếu
tố trào lộng một cách tự nhiên như trên thì ở “Nước mắt giã biệt” là
một sự đặc tả đầy nghệ thuật, giúp một số nhân vật bình dân trở thành hình tượng
nhân vật độc đáo. Trong bộ sách này có sự tái ngộ của chú Từ Khiêm, ông Hai Thố
chèo đò, có sự xuất hiện của Sáu Lé, Út Thiện, Đờ Mên… Đây là những nhân vật gần
với dân gian hơn cả, tung hứng, buông bắt nhau trong suốt độ dài hơn 1500 trang
của Hoàng Văn Bổn.
Chú Từ Khiêm đã có một
thân phận rõ ràng: là anh nông phu, vợ sắp cưới bị Đờ Mên làm nhục phải tự vẫn,
chú trở thành ông Từ giữ miễu. Để vạch mặt bọn hội tề quan Tây tàn ác, chú làm
“bà đồng” rủa sa sả vào chúng trước đám đông dân chúng: “Mày toan phá hoại đời
con gái của tao – chữ trinh đáng giá nghìn vàng! Mày phải đền tội. Mày là
dê xồm xứ man di mọi rợ…” Chú nhảy múa, cất tiếng hát thê thảm, bất thần nhảy
xuống sông mất tăm. Trong lúc mọi người la ó đòi đền mạng thì chú bò lên bờ bên
kia, ngáy khò khò… Bị bắt đi làm lính, tiếng “Gấy ghên” của chú vẫn vang khắp
xóm làng.
Sáu Lé chủ quán mang tiếng
giang hồ, lại đầy nghĩa khí và uy lực. Gặp hai thằng Tây đang trêu ghẹo muốn
làm nhục Hương: “Cô chủ quán xuất hiện, mặt đỏ nhừ đến xưng đòn gánh, vỗ đùi
bành bạch, cười ngất sát mũi hai thằng Tây già: “ – Tưởng ai, hóa ra hai
con dê xồm. Trời đất, xứ này còn thiếu con dê xồm sao cha nội cả Hồng còn trầu
rượu đi rước hai tía dê xồm Tây này về?”(…) Hai tay cô giựt phăng cúc áo ngực,
dí sát mũi thằng chủ sở cao su: “Há miệng ra, nuốt! Không nuốt nổi là tao nhận
đầu xuống đây – Sáu Lé vỗ bành bạch phía dưới bụng, nghiến răng, nghiến lợi: “-
Nuốt ngay, cưng. Nè, nói cho các tía biết, có rưọn đực rượn cái, có muốn làm
cái chuyện chó tháng bảy ấy thì làm với tôi đây nè, compơrí camalố dê xồm? Đừng
có động đến con gái đồng trinh con nhà tử tế”.
Những lời nói trên có thể
cho thấy tính cách “coi trời bằng vung” của người dân quê Nam
Bộ. Sáu Lé đã từng rơi nước mắt, thẫn thờ vì câu hát: “Con ếch lột da,
ngươì ta còn xáo – Em bậu lỡ thời như áo vá vai”, nhưng khi cần,
cô có thể trở nên hung dữ ghê gớm. Lòng căm thù đã trở nên thường trực trong
lòng, khiến họ có một “bản năng” sinh tồn, một phương cách tố cáo. Riêng yếu tố
tính dục cũng trở thành một phương tiện biểu đạt sức mạnh và bản chất con người.
Ngay như Đờ Mên, con trai Ngô Kỳ Hồng, tay sai quân đội Pháp rồi quân đội Mỹ –
khi thấy cảnh bà Trần Thanh Hoa lõa lồ chết dưới sông, hắn ta cũng phải: “thụt
lùi, lấy mũi súng vít vít đùi ông bố: “ – Làm tình hả tía? Làm tình dưới
nước như cá, như các cha nội cố vấn Mỹ hả? Ngon lành. Ai kia? Sao lại trần truồng
như heo nái thế kia hả? Trời bà hoa khôi Trần Thanh Hoa… Úy, sao cái chỗ đó… Ôi
thôi, tiêm la hột xoài Mỹ rồi, tía ơi. Chết mẹ cả đám. Chết mẹ cá mú, con sông
rồi!” Thế là Đờ Mên “cúi người cho nước từ cổ họng òng ọc trào ra.”
Mên đầy những tính xấu,
song bản chất không xấu mà do ông bố tham quyền lực, do quen làm người Tây trên
mảnh đất quê mùa Đồng Nai. Hắn đã thốt ra những lời ngay thẳng đó trước khi chết,
như để bộc lộ hết tấm lòng hắn đối với nơi chôn nhau cắt rốn của mình.
Trong “Nước mắt
giã biệt” còn có những “scène” có giá trị nghệ thuật cao, có sự pha trộn
thủ pháp điện ảnh. Riêng với cảm hứng bi hài, vừa trào lộng vừa thâm thúy, bộ
tiểu thuyết này đã mang dấu ấn sáng tạo của Hoàng Văn Bổn một cách rõ nét.
Không những khắc họa được tính cách nhân vật, ông còn dùng những “đại cảnh” tạo
không gian rộng lớn. Chẳng hạn cảnh Léon Phước “thắng trận” vì nhờ nhìn trộm
các cô gái đang tắm, thắng trận mà ngẩn ngơ không biết mình phải làm gì, nói gì
trước tướng cướp Bảy Lì. Hoặc cảnh Bảy Lì đuổi bắt bằng được hoa khôi Trần Hoa
Lệ thoắt ẩn thoắt hiện như yêu tinh: “… Trong ánh nhập nhoạng cô ta càng chạy
càng tỏa sáng phía trước, toàn thân cô ta cứ thây lẫy, như xua đuổi, thách thức
Bảy Lì: Em thách anh đấy anh tướng cướp Côlônen người hùng!
Nổi khùng, Bảy Lì băng tắt
cánh đồng định đón đầu cô ta, bỗng loáng cái, xuất hiện sáu, bảy cô gái giống hệt
cô ta, cũng núng nính, cong tớn mời gọi, xua đón, thách thức(…) Từ giữa cánh đồng
nơi cô gái kỳ quặc chạy đến cùng năm, sáu cô khác, bỗng có tiếng quát rất quen:
– Đứng lại, mấy má non!
Chạy đâu mà trần truồng như nhộng vậy hả mấy má non? Trời đất, có chạy thì cũng
quơ bậy mấy lá bông súng che cái chỗ đó… giùm chút chứ? Sao lại để nó trần truồng,
lồ lộ… mà tế như ngựa cái vậy hỡi trời?”
Ngôn ngữ trào lộng trong
“Nước mắt giã biệt” đã phát huy đầy đủ vẻ đẹp, sức sống và tinh thần
lạc quan, tự do của người dân xứ Đồng Nai. Thật vậy, một đứa trẻ cũng biết kêu:
“Bớ cách mạng ơi, ông Chánh Tổng chủ tịch ủy ban nhân dân Ngô Kỳ Hồng đánh tôi
lọt tròng mắt rồi! Bớ ông tướng cướp Bảy Lỳ, bớ bà Sáu Lé trưởng ban quân sự
cách mạng!” Quyết không để thành quả cách mạng rơi vào tay kẻ cơ mưu. Có thể
nói, sự trào lộng luôn đi đôi với tâm hồn khỏe khoắn, bộc trực của người xứ Đồng
Nai, tạo nên một nét đẹp không thay đổi của cuộc sống.
Vì vậy, xét cho cùng, chất trào lộng vẫn gắn với chất hiện thực trong tác phẩm của nhà văn. Nó chuyển tải giá trị nhân văn lớn nhất là giúp con người bộc lộ chính mình và vượt qua tất cả mọi trở ngại.
29/5/2022
Trần Thu Hằng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét