Đặc sắc Yến Lan
Yến Lan làm thơ từ chặng
đầu của phong trào Thơ mới, năm 1937. Khi ấy ở Bình Định có nhóm bạn trẻ làm
thơ khá nổi. Họ kết thân với nhau, gọi là Bàn Thành tứ hữu, cái tên toàn chữ
Hán, nghĩ ra danh xưng này chắc là Quách Tấn, người chuyên làm thơ Đường luật.
Quách Tấn cao tuổi nhất trong nhóm, sinh năm 1910. Hàn Mặc Tử sinh năm 1912, Yến
Lan năm 1916, ít tuổi nhất là Chế Lan Viên năm 1920. Đất Bình Định không lớn,
nhưng ảnh hưởng của nhóm thơ này, đặc biệt là Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, vào nền
thơ Việt hiện đại lại không nhỏ.
Với Yến Lan, đóng góp vào giai đoạn thơ trước 1945, thường được nhắc đến ở đơn vị bài, bài Bến My Lăng. Bài thơ được Hoài Thanh tuyển in vào tập Thi nhân Việt Nam xuất bản năm 1942 và có mặt trong tập thơ đầu của ông, tập Những ngọn đèn xuất bản năm 1957.
My Lăng là một bến đò
trong tưởng tượng. Ông lái đò, hẳn là đò ngang, lại có phong thái một ông đạo
sĩ, lúc câu cá, lúc đọc sách, uống rượu, ngắm trăng, thổi tiêu và say ngủ giữa
trời trăng trong tiếng gọi đò của khách quá giang. Người khách gọi đò trong cái
đêm trăng mông lung ấy, cũng đặc biệt: một chàng kị mã, nhúng đầy trăng màu áo
ngọc lưu li. Tiếng gọi đò hối hả, khẩn thiết làm run rẩy cả ngành trăng cũng chỉ
vì chàng sợ trăng vàng rơi khuất lối. Tình huống ấy, nhân vật ấy đúng là một
cơn mơ trong cổ tích. Nó lãng mạn, nó huyền ảo và giàu sức gợi thẩm mĩ vào cõi
mộng của người đọc. Không nên tìm ý nghĩa hiện thực hay tư tưởng tác động xã hội
của bài thơ này. Không tìm, vì nó không có. Không có vì nó không thực, nhưng nó
đủ lí do để tồn tại. Đó là thơ, là chức năng mộng ảo vốn có của đời thực con
người.
Nhiều nhà phê bình nhận
xét: thơ Yến Lan không có câu non lép. Tôi nghĩ đó là một nhận xét đúng. Đúng từ
những bài viết ở chặng đầu, trước Cách mạng tháng Tám, đến suốt cả đời thơ ông.
Bài khi hay, khi xoàng nhưng câu bao giờ cũng kĩ càng, cẩn trọng. Yến Lan đầu
tư công sức vào đơn vị câu. Ông chọn chữ, đổi sắc thái các chất liệu thơ bằng
các động từ, ông tác động chất liệu này lên chất liệu kia một cách khác biệt, tạo
nên bối cảnh thơ kì lạ từ các chi tiết quen. Xin lấy một ví dụ ngẫu nhiên, từ
bài Bình Định 1935:
Cây lặng lẽ gượng làm bầy hải
đảo
Thuyền bồ câu
nghiêng buồm trắng trôi ven
Tăm chiêu mộ nổi trên
dòng nước Đạo
Rượu ân tình – Bình Định
– xứ lên men.
Thơ tả gì? Tả cây, tả
thuyền, tả dòng sông. Ờ mà dòng sông hay dòng rượu? Bình Định có rượu Bầu Đá nổi
tiếng. Sông mà sớm chiều nổi tăm (tăm chiêu mộ) thì là sông rượu rồi. Mà nếu
chưa phải rượu thì ở câu thứ tư nó cũng thành rượu vì cả Bình Định này là xứ
lên men. Cây như đảo, thuyền như chim, sông như rượu. Nhưng ông không dùng chữ
như dễ dãi như tôi vừa dùng. Ông miêu tả bằng cách cho cây gượng làm bầy hải đảo.
Chữ bầy cũng là một dấu vết lao động. Ghép thuyền với bồ câu và cho nghiêng
cánh. Đấy là phép đan cài tung trên hứng dưới khá tỉ mỉ của Yến Lan. Ông làm mới
câu vì ông vốn ham chi tiết. Mỗi câu miêu tả một chi tiết, ngang cấp về ý tưởng,
ngang cấp về tình cảm. Bài thơ thường bị kéo dài và rất dễ bằng phẳng. Bằng phẳng
vì nội lực các câu thơ vốn bằng nhau. Để tránh đơn điệu, ông kì hóa chất liệu,
sáng tạo chữ, đôi khi cao hơn, sáng tạo cảm giác, tạo nên câu thơ lạ mang cái
hay đột xuất giữa mạch thơ đang thường thường bậc trung của toàn bài, trong
bài Bình Định 1935 nói trên, bỗng vụt lên:
Trời Bình Định có thương
em lẻ chiếc
Em nằm thương xanh biếc của trời
buồn
Nhưng sao phải ham chi tiết,
ham kể, ham tả. Trước hết là do tạng cảm xúc của từng nhà thơ. Riêng với Yến
Lan, tạng mê chi tiết ấy ngay trong thơ trước Cách mạng tháng Tám đã có. Sau
này ở chặng thơ viết từ các chuyến đi thực tế sau cuộc đấu tranh tư tưởng Nhân
văn – Giai phẩm, lại càng đậm, tính ghi chép đời sống khá rõ, chắc ông cũng thấy
thế nên có bài ông ghi là bút kí thơ. Bài thơ khi ấy, như một báo cáo thu hoạch
thực tế. Kể nhiều để thấy thu hoạch nhiều, để thấy cuộc sống mới đã tràn vào
tâm hồn nhà thơ đầy chật và phong phú như thế nào. Đây cũng là một kiểu đánh
giá thơ hồi ấy. Yến Lan, thương điểu kinh cung, ông hạn chế bộc lộ riêng tư để
chuyển tải đời sống mới:
Những hồi kẻng vang lừng
thôn hợp tác
Những mái nhà ngói đỏ cả
lùm tre
(…)Bè gỗ thuyền câu kín
giàn mặt nước
(…)Chở nụ cười quê lên
giàn giáo công trường
Là một nhà thơ tài
năng, ông biết sở đoản của lối thơ kể việc nên dựa vào sở trường của mình, ông
nâng cấp nó. Ông đầu tư công sức vào câu để lạ hóa, để kì hóa nó. Đó là một
sáng kiến, một ưu điểm nữa, khi nền thơ chúng ta lúc đó đang khá dễ dãi về câu
(Lục cục lào cào/ Anh cuốc em cuốc/ Đá lở đất nhào/ Nào anh bên trai/ Nào em
bên nữ/ Ta thi nhau thử/ Ai tài hơn ai). Nhưng sa vào câu mà quên mất bài
thì lại là nhược điểm. Yến Lan đây đó cũng vấp nhược điểm ấy. Tôi coi đấy như sự
trả giá để có những thành tựu mà ông đạt được với Mùa xuân lên cao,
Theo gió xuân lên biên giới, Bài ca hợp tác thôn tôi… Ở những bài thơ này,
câu thơ không chỉ tinh xảo trong miêu tả thực tế mà được ảo hóa ngay trong khâu
thu nhận, nghĩa là cảm xúc ông đã nhập chúng vào thế giới thẩm mĩ mơ mộng của
tâm hồn. Chi tiết là hiện thực (chỗ xuất phát) nhưng tác động vào bạn đọc (chỗ
đến) lại do yếu tố phi thực. Trong bài Mùa xuân lên cao, đoạn đầu
ông tạo ấn tượng, rất thực mà cũng rất gợi:
Mới nghe đã sợ
Những tên chẳng hiền
Trái Hút, Mậu A, Ngòi Hóp
Tên như tên của hang beo
hốc cọp
Bóng ma theo gót thày
then
Sâu quảng sùi lên
Biệt kích còn moi sào huyệt
Lưỡi lê chọc tiết
Chặn đường thổ phỉ cướp
xe
Đoạn giữa, một cơn say
trùng điệp:
Ta qua những làng
Máng rủ suối sang
Chàm ngâm tím vại
Trâu kéo gỗ về sông Yên
Bái
Bến Âu Lâu thóc trẩy sáng
đò
Ta đứng trên những nương
ngô
Phấn bay giếng nước
Giàn su quả dày
Vườn cam quả sây
Cam hay chim nở
Cam hay em nhỏ
Trên cành múa lay
Cam hay má đỏ
Tay sờ mát tay
Đoạn cuối, thực ảo biến
hóa tài tình, dào dạt:
Tay ai dắt ngựa ra phiên
tết
Năm cũ người Mèo mai trẩy
hết
Năm mới về theo những điệu
khèn
(…) Ta mang miền ngược về
thành phố
Miền ngược nằm trong những
búp đào.
Bài thơ viết tháng Giêng
năm 1958, ngay sau cuộc đấu tranh tư tưởng mà đối với Yến Lan không phải không
nặng nề. Có được mạch cảm xúc thênh thênh thơ mộng ấy là một bản lĩnh thi sĩ, một
biểu hiện tài năng đáng khâm phục. Bài thơ hay trong ý, trong tình, trong nhịp
điệu. Câu thơ dài ngắn xuống lên như tiếng reo, tiếng hát hòa quyện ngoại cảnh
với hồn người, tung tẩy xa rộng, thênh thang, đầy chủ động.
Bài ca Hợp tác
thôn tôi là một nhập cuộc tiêu biểu của nhà thơ, rộng hơn của người
trí thức, với bà con cày cuốc chân lấm tay bùn. Chúng ta từng khâm phục cụ Tam
nguyên Nguyễn Khuyến đã bấm ngón trên bàn tay tiến sĩ tính liệu với bà con lam
lũ thôn Bùi:
Quanh năm làm ruộng vẫn
chân thua
Chiêm mất đằng chiêm mùa
mất mùa
Phần thuế quan thu, phần
trả nợ
Nửa công đứa ở, nửa thuê
bò
Nay thấy Yến Lan lấn nước
chân chiêm, ngã mềm chân hóa. Ông sử dụng lời ăn tiếng nói nông dân, ông nhìn
làng xóm ruộng đồng bằng cái nhìn của người cùng hai sương một nắng:
Tre khép chuồng bèo –
trâu nhai bóng mát
Ta đi nhổ cói dệt chiếu
ta ngồi
Rót ấm chè tươi mời đón
thêm người
Ta bàn chuyện đan nia, phất
quạt.
Bút pháp mạch thơ này,
tôi có cảm giác nó không dính dáng với Bến My Lăng mộng ảo mà có lẽ nó là bước
phát triển của khuynh hướng hiện thực từ Lại về tỉnh nhỏ. Lại về tỉnh
nhỏ viết năm 1956, nó là một nhịp lạ tài hoa giữa giàn thơ ca khi ấy.
Lạ, trong cách cảm nhận thực tại: cảm vào lõi của hiện thực, nắm bắt được cả phần
hồn hư ảo của hiện thực. Lạ trong thể hiện: một ngôn ngữ sáng rõ, rành mạch, mà
lại giàu sức gợi, đẫn tưởng tượng người đọc đi rất xa. Âm điệu cũng tạo nên nội
dung, cái cuộc sống cũ kỹ, ngưng đọng, chỏng chơ, rơi rụng của tỉnh lẻ thời
Pháp thuộc hiện rõ chỉ trong tám chữ rơi trên bốn bậc thơ này:
Tỉnh nhỏ
Cô em
Nằm xem
kiếm hiệp
Cuộc sống mới sau ngày giải
phóng miền Bắc, ở đoạn sau bài thơ, được tác giả đặc tả với khá nhiều chi tiết,
tuy tỷ trọng ấn tượng của cái mới chưa đậm đặc bằng khi tả cuộc sống cũ. Nhưng
trong toàn thể: cảm xúc bài thơ tươi mới lắm và câu thơ kết bài trí tuệ như một
biểu tượng.
Mặt trời không muốn lặn
Mặt trời len vào mắt con
người
Sau ngày thống nhất đất
nước, Yến Lan về sống với quê nhà Bình Định. Thơ ông có một bước chuyển. Một bước
chuyển có tính tổng kết, ngẫm nghĩ lại đời người. Ông không làm thơ dài. Không
kể và tả chuyện ngoài đời nữa mà nói lòng mình. Thơ như viết cho mình. Nói thật,
nói hết những nông nỗi dâu bể đời người mình đã trải. Ông tìm về cách nói cổ điển,
hàm súc, đôi khi ước lệ trong thi pháp thơ Đường tứ tuyệt. Cảm xúc phóng
khoáng, ung dung, thoáng chút ngậm ngùi năm tháng và nỗi cô đơn của tuổi già:
Tàu ngang quê cũ
Khói quyện đầu ô, nửa xóm
nhòa
Tàu dừng đổ khách, sắp rời
ga
Đồng hương kẻ xuống, người
ra đón
Mình suốt đời đi chửa tới
nhà
Sinh nhật 1989
Năm nay sinh nhật chẳng
ra thơ
Xót bạn, mong con, ốm dật
dờ
Đón khách những toan ra mở
cổng
Giật mình con nhện đã
giăng tơ
Chèo
Vò rối tơ rồi, gỡ rối tơ
Gỡ không ra mối lại đem
vò
Nàng Vân giả dại, nàng
Vân dại
Vân dại nên đời cũng ngẩn
ngơ
Trong thời đất nước cắt chia, nhà thơ Yến Lan xa quê Bình Định, ra sống ở Hà Nội, nhiều năm là cán bộ biên tập thơ của Nhà xuất bản Văn Học, khi ấy là Nhà xuất bản chủ lực trong việc giới thiệu thơ. Lứa chúng tôi đều được ông biên tập cho những tập thơ đầu. Ông sửa chữa góp ý tận tình, tỉ mỉ. Có người nghĩ ông kỹ tính? Tôi nhớ tập thơ đầu tiên của Phạm Tiến Duật được ông biên tập, Duật có nói trước với ông, nếu cần sửa đổi gì ông cứ bàn với tôi. Duật vào chiến trường, ông đưa tôi xem cách sửa của ông với bài “Công việc hôm nay”. Ông thấy câu thơ Duật ở bài này lòng thòng văn xuôi quá, ông thu gọn lại một số câu làm mẫu và bảo tôi sửa tiếp. Tôi nghe, về hì hụi làm. Được nửa chừng thấy bài thơ mang dáng dấp khác. Bớt lòng thòng nhưng hình như mất đi cái vẻ lôi thôi rất văn xuôi của ngày thường đời sống. Tôi thưa lại với ông. Ông bảo để xem. Hôm sau ông đồng ý để nguyên như cũ. Và không chỉ với bài này, mà với cả tập, giúp cho chất thơ mang nguyên cát bụi chiến trường do Duật khởi xướng được nhanh chóng đến với mọi người. Ông ít nói, ngay cả khi chúng tôi hỏi về kỷ niệm hồi Thơ Mới, ông trả lời rất tóm tắt như muốn khép lại những chuyện đã qua. Chúng tôi nhớ ông. Chúng tôi biết ơn ông.
12/6/2022
Vũ Quần Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét