Sử dụng khẩu ngữ trong thơ
Văn chương có thể dùng
toàn những ngôn từ sách vở mỹ miều mà vẫn phản ánh đúng hồn vía của đời sống,
như kịch Sêchxpia, tiểu thuyết Huygô… chẳng hạn. Nhà phê bình văn học Vương Trí
Nhàn từng có một nhận xét rất tinh về ngôn ngữ của các nhân vật trong vở kịch “Hòn
đảo thần Vệ nữ”: “Các nhân vật của vở kịch này tuy xuất thân là nông dân,
là người lao động ít học nhưng vẫn nói một thứ ngôn ngữ hoa mỹ như sách vở, ấy
vậy mà lại rất ăn nhập với không khí trang nghiêm và sang trọng đến mức cổ điển
của vở kịch”.
Dùng khẩu ngữ đúng ngữ cảnh
luôn nâng cao giá trị của tác phẩm. Đại thi hào Nguyễn Du và nhà thơ Hồ Xuân
Hương luôn là đại diện tiêu biểu nhất khi dùng khẩu ngữ trong thơ.
Nói đi thì như vậy, nhưng
nói lại thì sao?
Có một câu chuyện mà tôi
không nhớ là đã đọc hay nghe được ở đâu, kể rằng: Một lần, Napôlêông và thuộc hạ
bị quân địch vây khốn, tình thế hiểm nghèo đến nỗi những tướng lĩnh dày dạn trận
mạc của ông cũng không giữ nổi bình tĩnh, đúng lúc ấy, khi nghe có ai đó hốt hoảng
kêu lên một tin dữ, vị hoàng đế kiêu hùng của nước Pháp liền quát to, độc một
tiếng “Cứt!”.
Chính là tiếng chửi cộc cằn
tột cùng biểu cảm của thứ khẩu ngữ dân dã ấy đã nói lên tất cả tính cách của
con người sắt đá này và trong hoàn cảnh ấy nó còn làm được hơn cả một liều thuốc
an thần cho đám bộ hạ đã mất hết tinh thần. Chắc là sau đó Napôlêông đã chiến
thắng trận ấy vì trong đời ông chỉ thua có vài trận, trong đó có trận cuối cùng
mà thôi!
Như vậy là đã rõ: Một nhà
văn, nhất là nhà văn hiện đại, không thể không biết dùng đến khẩu ngữ. Bởi vì
khẩu ngữ không gì khác hơn là linh hồn và tâm tính của quảng đại quần chúng được
thể hiện ra một cách hồn nhiên nhất, sống động nhất như cuộc đời vốn thế.
Trước hết, trong văn
xuôi: Vai trò của khẩu ngữ quan trọng đến nỗi nó đủ sức giúp ta phân biệt một
nhà văn thực sự và một cậu học trò đang tập “làm văn”. Điều này thể hiện rõ nhất
trong những câu đối thoại, đến mức nhiều khi chỉ cần liếc qua vài câu đối thoại
là tôi đã hầu như biết chắc chắn người viết có tài văn hay không. Bởi vì đơn giản
khi đối thoại con người phải nói ngay, nói không có chuẩn bị nên ngôn ngữ hồn
nhiên và mang tính đời thường nhất. Các bạn có thể lật dở bất cứ trang văn xuôi
nào cũng sẽ thấy điều ấy.
Bây giờ ta thử xem xét việc
dùng khẩu ngữ ở trong thơ.
Đã đành là cũng có những loại thơ có tính truyện, thơ tự sự…, nhưng kiểu gì thì bản chất của thơ vẫn là tiếng nói tâm hồn của một cá nhân trữ tình, nên ngôn ngữ thơ cơ bản là thứ ngôn ngữ đã trau chuốt, chắt lọc trên cái nền của ngôn ngữ đại trà. Tuy nhiên, không hiếm trường hợp ta vẫn bắt gặp cách dùng khẩu ngữ rất tài tình ở những nhà thơ giàu bản lĩnh. Ta biết, Nguyễn Du là một thi sĩ đã tôn vinh vẻ đẹp của Tiếng Việt bằng vô số những vần thơ rực rỡ và sang trọng: “Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng …”. hay “Người lên ngựa, kẻ chia bào/ Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san…”.
Ấy vậy mà khi cần, nhà
thơ xuất thân đại quý tộc này vẫn biết cách đặt vào miệng nhân vật của mình những
từ ngữ hàng tôm hàng cá chính hiệu, chẳng hạn mấy lời chửi bất hủ của mụ Tú Bà
:
“Bảo rằng đi dạo lấy người
Đem về rước khách kiếm lời
mà ăn
Tuồng vô nghĩa, ở bất
nhân
Buồn mình trước đã tần mần
thử chơi
Màu hồ đã mất đi rồi
Thôi thôi vốn liếng đi đời
nhà ma
Con kia đã bán cho ta
Nhập gia thì cứ phép nhà
ta đây
Lão kia có giở bài bây
Chẳng văng vào mặt mà mày
lại nghe
Cớ sao chịu tốt một bề
Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm
sao…”.
Đúng là cả một xêri khẩu
ngữ vỉa hè được ném ra đến tối tăm mặt mũi, và chính nhờ tính khẩu ngữ ấy mà thứ
ngôn từ này mang màu sắc hiện đại kỳ lạ, ngỡ như những tay du côn du kề hôm nay
cũng chưa phát minh ra cách nói gì khác hơn được thế. Sức sống của khẩu ngữ
cũng ghê gớm đấy chứ. Có phải vì thế mà khi bình đoạn thơ này, Xuân Diệu đã kêu
lên: Mụ Tú Bà chửi từ hàng trăm năm trước mà tưởng như nước bọt của mụ còn văng
đến tận bây giờ, tưởng như mụ chửi rách cả trang giấy Truyện Kiều!
Đấy là Nguyễn Du, một cậu
ấm, một viên quan Chánh Sứ. Còn như với một thi sĩ quái kiệt vốn là hồn vía của
thập loại chúng sinh như Hồ Xuân Hương thì khỏi phải bàn. Chắc chắn mấy chú học
trò quen mở mồm là “chi hồ giả dã” không ít phen phải đỏ mặt tía tai bỏ chạy
khi nghe những:
“Ong non ngứa nọc châm
hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa…”.
“Cửa son đỏ loét tùm hum
nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu…”.
“Chành ra ba góc da còn
thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn
thừa…”.
Trong thơ hiện đại, xu thế
dùng khẩu ngữ càng phát triển hơn và đó là điều tất nhiên. Một nhà thơ thoát
thai từ Thơ Mới, đầy duy mỹ như tác giả “Tây Tiến” với những “Sông
Mã gầm lên khúc độc hành” và “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”… mà
có lúc cũng bỗ bã như ai, với “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”…
Nhưng phải đến từ thế hệ
chống Mỹ trở đi thì có lẽ việc đưa lời ăn tiếng nói của đời thường vào thơ mới
ăn sâu vào ý thức người viết. Hình như đó là sự cố tình khinh mạn quay lưng lại
thứ văn phong sách vở, thói cố ý “làm văn” mà con người hôm nay rất dị ứng. Xin
dẫn vài ví dụ, gọi là hú hoạ: Trong “Chồng chị, chồng em“, một bài thơ
thú vị của Đoàn Thị Lam Luyến, nữ sĩ này đã tạo được một giọng điệu không thể lẫn
nhờ vào lối nói thẳng thừng đầy sức sống của đời thường, kiểu như: “Cái
giần vục phải cái sàng/ Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau”. Ở một tập
thơ khác có cái tên đặc khẩu ngữ “Dại yêu”, chị vẫn giữ đúng một giọng
như thế: “Em đầy ngộ nhận như tôi/ Cũng yêu chí chết cái người mình
yêu…”.
Tôi nghĩ, một cách lựa chọn
giọng điệu như thế là phù hợp với tạng của người viết này. Đối với nhà văn, giọng
điệu quan trọng đến mức sống còn bởi nó góp phần quyết định để nhận diện một
cây bút. Nhà thơ Nguyễn Duy có lẽ cũng là một người đi theo con đường này. Tôi
cho rằng cùng với chất trào lộng, mặt mạnh nhất trong thi pháp thơ Nguyễn Duy
là khả năng sử dụng khẩu ngữ của đời thường, như anh đã tuyên ngôn trong lời mở
đầu một tập thơ có cái tên đặt rất đích đáng “Bụi” : “Đừng chê anh khoái bụi
đời/ bụi dân sinh ấy bụi người đấy em/ xin nghe anh nói cực nghiêm/ linh hồn
cát bụi ở miền trong veo…”.
Nguyễn Duy đã gặt hái được khá nhiều khi đem chất bụi ấy vào thơ. Nhưng có lẽ tính mức độ vẫn là điều khó nhất, và tiếc thay, đôi lúc cũng lại là quan trọng nhất trong sáng tạo nghệ thuật. Không ít lần nhà thơ Nguyễn Duy đã quá đà, để cho cả hai thứ đặc sản của anh là chất hài và chất bụi quay lại làm hại anh. Điều đó chắc hẳn chính anh cũng biết.
5/6/2022
Anh Ngọc
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét