Lê Đạt tư duy về thơ
Người thơ ấy đã thiên di
về một miền xa xôi và vĩnh cửu, sau mọi nỗ lực cách tân thơ và chủ trương tự do
cho văn học. Thành bại đến đâu và vì sao- chỉ có lịch sử mới thấu hiểu và trả lời
một cách công minh nhất. Tôi- kẻ hậu sinh trộm biết Lê Đạt chẳng thể nào thoát
được kiếp văn nhân. Ngay từ thuở ông “biết nghĩ”, biết viết thơ, thân hữu của
ông đã thấy ở ông lộ ra những dấu hiệu của bi kịch.
Lê Đạt từng ví thi phận
mình giống với đời cô Kiều bị “ma đưa lối quỷ dẫn đường” nên bỗng đâu “lại
tìm những lối đoạn trường mà đi”. Chẳng phải ngẫu nhiên, ông sắm vai “kẻ cu
li” nhọc lòng khai thông mạch chữ. Và có lẽ bây giờ ông đang “cõng chữ lên
non”. Mong rằng trên non cao ấy, vào giây phút hạnh ngộ với chúa trời, sẽ có một
làn gió ập đến thổi bay đi “mặc cảm tội lỗi” ở ông. Tôi tin được vậy, thì ông
thanh thản lắm. Thanh thản để can đảm sống tiếp kiếp phù sinh khác.
Chiều Âu Lâu
bóng chữ động chân cầu
Bản thân Lê Đạt được nuôi dưỡng bằng bầu không khí hào hứng tái sinh văn nghệ. Cho nên, thơ Lê Đạt đến giờ, lại có dịp may thức giấc, khe khẽ thì thào, sau một đêm dài ngỡ chỉ còn xác chữ. Tự Lê Đạt mua oán chuốc sầu, thì trách làm chi cái công vớt lấp muộn mằn của người năm đó.
Bâng khuâng lạc vào “bóng
chữ” của ông[1].
Lê Đạt từng nói: trong
các môn nghệ thuật, có lẽ “thơ chịu nhiều hiểu lầm hơn cả”. Mối nghi ngờ số phận
hẩm hiu của thơ ở Lê Đạt, có nguyên nhân sâu xa từ nỗi ám ảnh nhân sinh. Tôi
đoán ông thừa biết cách viết tế nhị để diễn tả cho hay bi kịch của con chữ.
Song ông không làm thế, vì e mình tước mất đời sống bí mật, phong phú của phát
ngôn thơ. Lê Đạt thường sử dụng thủ pháp lạ hoá từ, lạ hoá tiếng nói quen thuộc.
Nhiều đoạn thơ, nhiều bài thơ nhạc tính khá ấn tượng.
– Cô gái trộm hái
sen
về ủ tuổi
Lỏng khuy cài
gió cởi
một
dòng hương
– Ngực dự hương đêm thơm
mùi tuổi chín
Mắt lá tre đằng ngâm mộng
ba giăng
Mảnh đất thơ của Lê Đạt
không thật rộng[2], nhưng ở đó ẩn giấu cả một quặng nghĩa. Lê Đạt không vơ vào
thơ tất cả xương cốt của chữ, tức xác chữ. Ông lấy cái hồn của chữ, cái bóng
sáng của chữ để làm nên giá trị cho câu thơ, bài thơ. Những bước gập ghềnh của
câu chữ trong thơ Lê Đạt có gì đó gần với thăng trầm của đời ông. Lê Đạt bảo:
Thơ trẻ còn nhiều lời mà nghĩa lại lộ thiên.
Lê Đạt từng phê phán những
nhà thơ biến sáng tác của mình thành một hoạt động thần bí. Nhưng ông lại rất
tinh khi nhìn thấy sau cái phẩy bút thành thơ của thi nhân đời Đường một sự lao
động cực nhọc. Mọi nhà thơ trước lúc trở thành cây đại thụ trên thi đàn, họ đều
làm phu chữ. Lê Đạt tạo ra chữ, cốt sao cho nó sống được. Chữ sống thì nó sẽ sản
sinh ra ý nghĩa, tư tưởng.
Thơ Lê Đạt nặng nợ đời.
Tâm tính ông không phù hợp với loại người chỉ đợi chờ ông trời ban cho cảm hứng.
Ông nhấn mạnh: viết theo hứng thì thường đổ chữ ào ạt lên khuôn giấy. Chưa bao
giờ Lê Đạt ưa hạng độc giả mà ngoài ca tụng khả năng ngoại cảm của người sáng tạo
thì không còn hay biết gì nữa. Theo sở kiến của Lê Đạt cuộc phiêu lưu của nhiều
nhà lý luận về miền thơ, cũng rơi vào tình trạng tuyệt mù ấy. Ông khăng khăng bảo
cả nhà lý luận và nhà thơ tầm tầng bậc trung đều đã từng mắc tội đối với thơ
ca.
Trong bài viết “Nghiệp
thơ”, Lê Đạt bày tỏ thẳng thắn suy nghĩ của mình: “Theo tôi thơ là một
nghề. Đã là một nghề thì phải có kỷ luật lao động. Không nên thụ động thắp
hương chờ mà phải chủ động gọi hứng đến. Công việc này đòi hỏi một kỷ luật nghiệt
ngã và gian khổ”. Vậy ra, Lê Đạt đề cao sự viết, sự năng động của chủ thể
trong sáng tạo ngôn từ. Ông xem, mỗi nhà thơ phải đề ra cho mình một mô hình
sáng tạo, một nguyên tắc tổ chức tác phẩm. Hơn nữa, phải kiên trì theo đuổi lối
viết ấy mới hòng tạo dựng được phong cách cá nhân. Mọi người viết, nếu không khắt
khe với chính mình, không trọng con chữ thì chẳng những dễ thất nghiệp mà còn yểu
mệnh.
Lê Đạt chọn điểm rơi cho
từ ngữ một cách tài hoa. Ông chơi chữ, nghịch chữ và tạo cho thơ mình một điệu
nhạc riêng, một “thiên lí chữ” không dễ lặp lại. Nếu chẳng phải người kiên trì
ngậm ngải tìm chữ, Lê Đạt chẳng thể nào tạo ra được những hình ảnh thơ độc đáo
nhường này:
– Cây gạo già
lơi tình
lên hiệu đỏ
La lả cành
cởi thắm
để hoa bay
– Bước đệm
đưa tình
xanh khúc
phố
Nốt chân xuân
đàn cò lạ
phím lùa
Với Lê Đạt, lao động thơ
rất khổ ải. Chỉ ngay cái việc ngày ngày nhà thơ tìm tòi chữ nghĩa, viết ra rồi
xoá bỏ biết bao nhiêu lần cũng đủ thấy nhà thơ cực nhọc lắm mới có câu hay, từ
đắt. Cái thú trong quan niệm của Lê Đạt ở chỗ: ông xem những từ ngữ do nhà thơ
ngậm đắng nuốt cay, bạc đầu khổ luyện mới có được đều ẩn giấu một nền tảng văn
hoá nhất định. Thước đo tài năng nằm ở khả năng tìm được các câu chữ lấp lánh
văn hoá tư tưởng, chứ không phải ở sự viết nhanh, viết nhiều: “Tôi không thích
những thần đồng. Tôi yêu những người lao động có tri thức, một nắng hai sương
trên cánh đồng chữ”. Đây “bông chữ” mà nhà thơ Lê Đạt đem từ cánh đồng về:
– Nhớ liễu hồ
tới nhờ em xõa tóc
Em vắng nhà
bồ kết chửa đi xa
Cầu nước chảy
bóng chiều xuân tha thướt
Xanh Thanh minh em thổi
liễu vô hình
– Lúa con gái
làm rùng rình nỗi gió
Lá hát tình
nắng tỏ
bạch đàn chanh
Nợ cũ khối xương rồng hoa
trả đỏ
Hương thắp gọi ba lần
không đáp lửa
Hồn có nhà
hay bát mộ đi xanh
Có thể gọi Lê Đạt- người
phu chữ, lại có thể ví ông với Thái Công vọng [3]. Thái Công vọng còn gọi Khương
Tử Nha - sống ở giai đoạn lịch sử cuối nhà Thương, đầu nhà Chu ở Trung Quốc. Tử
Nha sinh ra chỉ đề phò Cơ Xương chống lại Trụ vương. Còn Lê Đạt không phò cá
nhân nào hết. Ông chỉ biết tới câu chữ. Ông bị giời đày xuống trần vào đúng thời
kì thơ tiền chiến lùi lại nhường chiếu thơ cho “thế hệ sau”[4]. Ông hăng hái
lãnh vác sứ mạng phò câu phò chữ khi chúng đang bơ vơ. Lê Đạt ngồi câu trên
dòng sông chữ ngần ấy trời năm bằng cây bút thẳng đứng của mình. Người ta thấy
Lê Đạt và một số khác khi xuất hiện thì chẳng khác gì một điềm quái trong văn học.
Theo Lê Đạt có hai phẩm
chất đáng quí, hai kinh nghiệm hay: đọc sách và tích lũy chất liệu thơ hàng
ngày. Nhà thơ phải luôn luôn có ý thức về nghề nghiệp. Chừng nào người viết thơ
thấu sự khó khăn của nghề chữ, biết luyện chữ, dùng chữ một cách tinh thông thì
chừng đó mới được câu chữ bầu cử làm nhà thơ đích thực. Mọi nhà thơ tồn tại
cùng đời sống con chữ của họ.
Trường hợp nào tự phong
hoặc được sắc phong, bổ nhiệm làm nhà thơ đều vô nghĩa và chóng về hưu nhất.
Có lẽ, vì sớm thức nhận
và thấm thía sự đày ải của nghề chữ, nên Lê Đạt mới thông cảm được “với hoàn cảnh
khó khăn của các nhà thơ trẻ” và “niềm nở ân cần đối với họ”. Ông viết “Phải
thương yêu, giúp đỡ họ (tôi rất ghét từ nâng đỡ) chỉ rõ những ưu điểm, khuyết
điểm cụ thể với một thái độ khoan dung… thế hệ sau… phải tìm ra được tiếng nói
riêng… sống động và khác lạ…”. Muốn vậy “phải lao động hết sức gian nan…
và đòi hỏi có một đam mê mãnh liệt đến mức dũng cảm”.
“Người sáng tác tìm được
cái độc đáo rất khó”. Chừng nào người sáng tác nói được tiếng nói của mình thì
chừng đó anh ta mới trưởng thành, và được “ra ở riêng”. Lê Đạt rút ra kinh nghiệm:
Nhà thơ muốn sắm được chiếc áo mới mẻ, hiện đại để sang nước ngoài ngó nghiêng
một lát thôi, thì cũng phải tự làm ra chữ nghĩa, không nên cứ “ăn nhờ ở đậu” bố
mẹ mình[5].
Tôi - kẻ hậu sinh chợt thấy
trong nhiều cuộc trò chuyện[6] Lê Đạt rất khoái nói về sự can đảm- can đảm biến
khát vọng trở thành hiện thực, can đảm phá bỏ định kiến đứng trên vai thần tượng,
can đảm phê phán, can đảm định giá truyền thống bằng đôi mắt của chính mình và
can đảm vượt mình để không phải “ăn mày dĩ vãng”…. Người ta nói: Lê Đạt có cái
nhìn trẻ một cách lạ lùng. Thử đọc lại bài thơ sau:
Bầy em én
tin xuân
tròn mẩy áo
Hội kênh đầy
chân trắng ngấn
sông quê
nắng mười tám
nắng bờ đê con gái
cây ải cây ai
gió sải
tóc buông thề
Một lần trả lời phỏng vấn
báo Sinh viên Việt Nam (2004), nhà thơ Lê Đạt cho biết: “Cái đẹp trong câu
thơ kêu gọi sự cao thượng”, thơ ca thể hiện “cảm xúc mĩ học”. Do quan niệm
cái đẹp có khả năng thanh lọc tâm hồn con người, làm cho con người sống đẹp đẽ
hơn nên Lê Đạt hăng hái đi tìm cái đẹp ấy. Xét trên phương diện này, có thể nói
thơ Lê Đạt giàu tính nhân văn.
Đọc Lê Đạt, nghe Lê Đạt
nói thoạt tiên ta thấy ông khá bi quan. Nhưng xét kĩ thì không phải vậy. Chẳng
hạn, khi nhà thơ Nguyễn Đức Tùng[7] hỏi thông điệp của ông “Gửi nhà thơ trẻ”,
Lê Đạt nói: “Mỗi thế hệ đều có bi kịch riêng của mình. Vấn đề là anh có nhận ra
cái bi kịch ấy không và có sống với nó hay không”. Lê Đạt bàn nhiều về năng lực
và bản lĩnh của nhà thơ. Ông vừa khắt khe vừa cởi mở đối với nhà thơ
trẻ. Khắt khe, vì ông trọng nghề và đam “mê chữ”. Cởi mở, bởi ông hiểu bất kì nền
văn học lành mạnh, khoẻ khoắn nào cũng có nhu cầu cách tân, cũng cố gắng thoát
khỏi sự khô khan cứng nhắc của tình trạng chính trị hoá văn học. Lê Đạt và
những người bạn cùng chí hướng với ông đều nhìn nhận tiến bộ xã hội có trước sẽ tạo
ra một nền tảng tư tưởng thuận lợi cần thiết cho tiến bộ văn chương.
Ông cũng đề cao sự đoàn kết,
sẻ chia giữa các văn nghệ sĩ với nhau: “văn nghệ sĩ ở chế độ nào cũng bị bạc
đãi, thế thì chúng ta phải thương nhau. Từ kinh nghiệm cá nhân của tôi mà ra,
tôi thấy văn nghệ sĩ mà không biết thương nhau chỉ chờ chính trị thương mình là
một ảo tưởng quá lớn”. Trăn trở với chuyện đối xử tệ bạc ở lĩnh vực văn chương,
Lê Đạt đề nghị thi nhân văn sĩ người Việt ở mọi nơi phải hoà thuận với
nhau, ai cũng phải tự giác ngộ và biết cách xoá bỏ khái niệm ranh giới trong
tâm thức mình.
Wolfgang Kubin, một Giáo
sư Hán học người Đức từng tổng kết: “nhà văn Trung Quốc trước năm 49 đều giỏi
ngoại ngữ. Trương Ái Linh, Lâm Ngữ Đường, Hồ Thích… đều có thể viết văn bằng
ngoại ngữ. Một số nhà văn giỏi nhiều ngoại ngữ, ví như Lỗ Tấn. Sau 1949, về cơ
bản, bạn không thể tìm được một nhà văn Trung Quốc nào biết ngoại ngữ cả. Bởi vậy
anh ta không thể nhìn lại tác phẩm của mình từ một hệ thống ngôn ngữ khác.
Ngoài ra anh ta cũng không thể đọc được các tác phẩm ngoại văn. Anh ta chỉ có
thể tiếp cận với những tác phẩm nước ngoài đã được dịch sang tiếng Trung. Bởi vậy,
sự tìm hiểu và hiểu biết của nhà văn Trung Quốc về văn học nước ngoài cực kỳ
kém, kém vô cùng. Trước năm 1949, không ít nhà văn cho rằng, học ngoại ngữ để
làm phong phú ngòi bút của mình. Nhưng nếu bạn hỏi một nhà văn Trung Quốc (hiện
nay) vì sao không học ngoại ngữ, anh ta sẽ nói, ngoại ngữ chỉ có thể phá hoại
tiếng mẹ đẻ của tôi. Tại sao sau năm 1949, Trung Quốc lại không có một nhà văn
vĩ đại nào, tại sao những nhà văn này chắc chắn không thể sánh được với các nhà
văn trước năm 1949?
Lê Đạt cũng sớm chủ
trương nhà thơ “nên học thêm một, hai ngoại ngữ để có thể đọc được nguyên bản…”.
Ông khoe: “Thế hệ của tôi thường biết tiếng Pháp. Cũng có nhiều người đọc được
cả tiếng Nga hay tiếng Anh, có người cũng đọc được chữ Hán. Ảnh hưởng từ văn học
nước ngoài rất lớn, vì mình biết được người ta đã làm gì và đang làm gì. Học
nhiều thứ. Học ở các bậc thầy cả về kĩ thuật làm thơ”. Vấn đề quan trọng của việc
học ngoại ngữ, hiểu theo cách của Lê Đạt là: cái nhìn của nhà thơ sẽ không bị
phong bế, con chữ của nhà văn sẽ có thêm một sức mạnh để không phải bị cầm tù
hay bị quật ngã.
Vậy đấy, vấn đề giao lưu tiếp biến văn hoá, học hỏi kĩ thuật sáng tác từ bên ngoài để hội nhập văn chương từ lâu các nhà văn làm rồi, đâu phải đợi đến ngày nay.
Chú thích:
[1] Bài viết này chỉ điểm
lại một số quan điểm thơ ca của nhà thơ Lê Đạt.
[2] Có bài chỉ có hai câu
theo kiểu thơ Haikâu: Mimôza, Vũ ẻn, Xôlô, Bống bống, Tương tư, Áo trắng,
Tuổi chín, Vải Thanh Hà, Tóc phố, Mộng cũ, Trêu ngươi, Mắt bão….
[3] Dĩ nhiên không phải từ
bài thơ này.
[4] Lê Đạt, Trần Dần từng
bảo nhau…
[5] Xem: Nhà thơ Lê Đạt: giải thường này chỉ là một cử chỉ đẹp, http://vietnamnet.vn/.
[6] Đọc một số bài phóng
viên phỏng vấn Lê Đạt.
[7] Xem: http://nguyenductung.vnweblogs.com/.
28/5/2022
Trần Thiện Khanh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét