Nguyễn Thị Ánh Huỳnh
lấy nỗi buồn làm căn cước
Miệt vườn
má chôn cuống nhau em
vào tiếng cuốc
chiều miệt vườn gió lạc
trong cây
đêm bị thương bởi tiếng đờn
cò
chú Tư vuốt
ánh trăng thành tiếng nấc
miệt vườn
gan ruột ai xuống xề câu
vọng cổ
khách thương hồ
ly rượu bốc mù sương
tiếng vạc sành xe thổ mộ
nhịp hồn xưa
gõ mõ suốt canh trường...
không ai là người dưng
khác làng cũng lối xóm
quầng mây thành bà con
người khuất mặt khuất mày
tiên tổ
ổ chim trên bàn thờ
ly rượu uống tàn nhang
miệt vườn
cố hương của nỗi niềm vạn
cổ
ai chưa biết thưởng thức
nỗi buồn
có đi tới tận cùng châu
thổ
cũng không tìm thấy miệt
vườn
em là miệt vườn
anh bỏ quên
ngoài cửa sổ.
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh
Góc nhìn về châu thổ
Nếu châu thổ sông Hồng là
nơi trầm tích văn hóa nén chặt qua hàng nghìn năm từ Đông Sơn đến Đinh, Lê, Lý,
Trần để tạo nên chất làng, chất mẹ bền chặt, thì châu thổ Cửu Long lại là vùng
đất mới, được khai phá từ thế kỷ XVII bằng căn tính phóng khoáng của lưu dân mở
cõi. Ở đó, người ta chủ động đoạn tuyệt với lề thói khắt khe của làng xã phong
kiến để dung hợp với sông nước, tạo nên văn minh miệt vườn bộc trực, cởi mở,
bao dung.
Đặt Miệt vườn của Nguyễn
Thị Ánh Huỳnh vào chính không gian ấy, ta thấy bà không viết về miệt vườn như một
phong cảnh, mà như một căn cước. Và căn cước ấy được làm bằng nỗi buồn.
Cơ chế nghệ thuật
Bài thơ bắt đầu từ một
chi tiết lạ, “má chôn cuống nhau em / vào tiếng cuốc”. Không chôn vào đất, mà
chôn vào âm thanh. Tiếng cuốc là tiếng chim cuốc não nề ở bờ mương, bụi rậm, là
tín hiệu đầu tiên để nhận diện đứa trẻ sinh ra trong nỗi buồn của châu thổ mới.
Không chỉ sinh ra, em còn
lớn lên trong nỗi buồn ấy. “Chiều miệt vườn gió lạc trong cây”, chỉ có gió và
cây đuổi bắt nhau trong cái hoang vu chưa kịp văn minh. Không gian ấy mỏng manh
đến mức dễ xước, nên chỉ một tiếng đờn cũng đủ làm “đêm bị thương”, và ánh
trăng sau cái vuốt của chú Tư cũng “thành tiếng nấc”.
Nỗi buồn ấy không phải của
riêng em. Nó là căn tính, Đến mức một câu vọng cổ muốn giảm xuống cung trầm nhất
cũng phải “gan ruột” mới hát nổi. Rồi nỗi buồn lan ra đời sống mưu sinh. Khách
thương hồ, những thương nhân lấy ghe làm nhà, uống ly rượu mà rượu cũng “bốc mù
sương” như đời phiêu bạt. Tiếng vó ngựa gõ xuống đường của chiếc xe thổ mộ chở
vạc sành, cái lu trữ nước ngọt cho vùng đất phèn, lại gợi về “nhịp hồn xưa”, một
nhịp điệu cổ xưa, hoàn toàn vắng bóng hiện đại.
Chính trong tâm thế buồn ấy,
tình người Nam Bộ hiện ra khác hẳn cấu trúc làng ở Bắc Bộ. Nếu làng Bắc khép
kín sau lũy tre, thì ở đây “khác làng cũng lối xóm”. Tính mở ấy không chỉ giữa
người với người, mà lan sang cả tự nhiên: “quầng mây thành bà con”.
Và hơn nữa, là tính mở với
cõi vô hình. Với đời sống sông nước may rủi, người miền Tây coi tất cả “người
khuất mặt khuất mày” đều là “tiên tổ”, đều đáng thờ. Đó là tâm linh đa thần,
phóng khoáng. Nơi ổ chim có thể nằm yên trên bàn thờ mà không bị xua đuổi, nơi
ly rượu cúng để lâu đến mức tàn nhang rơi xuống cũng cứ uống. Cái thiêng không ở
trên cao, mà ở ngay trong bụi bặm đời thường.
Nỗi buồn thường là thứ
người ta muốn tránh. Nhưng Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lại khẳng định một cách khẳng
khái: “ai chưa biết thưởng thức nỗi buồn / có đi tới tận cùng châu thổ / cũng
không tìm thấy miệt vườn”
Người ta thưởng thức âm
nhạc, thi ca, hội họa, chứ ai lại thưởng thức nỗi buồn? Chính sự phi lý ấy lại
là luận đề của bà.
Miệt vườn lâu nay vẫn được
biểu tượng hóa bằng sự sum suê hoa trái, bằng văn minh nông nghiệp trù phú. Bà
lật ngược biểu tượng đó. Nếu không đi qua năng lực thưởng thức nỗi buồn, thì mọi
miệt vườn chỉ là vườn cây, không phải văn hóa. Không thưởng thức được nỗi buồn,
người ta sẽ mất khả năng nhận ra quê hương “cố hương của nỗi niềm vạn cổ”. Đây
là một triết lý thẩm mỹ rất Nam Bộ: nỗi buồn không phải để bi lụy, mà để làm
nên chiều sâu của một vùng đất mới.
Ba câu cuối, bài thơ thu
gọn lại như một lời nhắc cho tình yêu:
“em là miệt vườn / anh bỏ
quên / ngoài cửa sổ.”
Ở đây, ngoài cửa sổ là
em, trong cửa sổ là anh. Anh ở trong hệ quy chiếu của đô thị, của tri thức, của
một vùng đất khác. Nỗi buồn của anh khác nỗi buồn của miệt vườn. Và khi không
thể thấu hiểu nỗi buồn ấy, anh đã bỏ quên một căn cước.
Em là miệt vườn - câu thơ
tưởng như giản dị nhưng là sự đồng nhất hóa thân phận người phụ nữ với thân phận
đất. Người phụ nữ biết chịu đựng, biết bao dung, biết ngồi yên trong nỗi buồn
chính là hiện thân của miệt vườn. Và bi kịch không ồn ào, nó chỉ là bị để
“ngoài cửa sổ”
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì
sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về
nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi
buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương.
Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu
khác không thể áp đặt.
Cực hạn thẩm mỹ
Đọc Miệt vườn, chúng tôi
thấy phảng phất nỗi buồn của Bà Huyện Thanh Quan trong Thăng Long thành hoài cổ.
Nhưng nếu nỗi buồn của người xưa là hoài cổ, lữ thứ, nhìn về một Thăng Long đã
mất, thì nỗi buồn của Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lại là nỗi buồn bản thể, sòng phẳng
và kiêu hãnh. Bà đã đẩy nỗi buồn của một vùng đất mới thành một giá trị nhân
văn, thành điều kiện để nhận ra quê hương. Và giá trị đó, bà nhắc trước hết cho
người mình yêu là “anh” đã bỏ quên, qua đó nhắc cho tất cả chúng ta.
Đừng xem nhẹ nỗi buồn. Nỗi
buồn là thuộc tính chỉ con người mới có được. Hiểu được nỗi buồn, biết thưởng
thức nỗi buồn, con người mới đi xa và sống tốt trong cõi người. Ở cực hạn thẩm
mỹ ấy, Miệt vườn là một trong số ít bài thơ hay về đồng bằng trù phú miền Tây
Nam Bộ không sa vào tả cảnh, mà đi thẳng vào căn tính.
Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh sinh năm 1955 tại Sài Gòn, quê gốc Cần Đước, Long An. Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh và Hội Nhà văn Việt Nam. Bà đã xuất bản 4 tập thơ. Miệt vườn là bài thơ được in trong tập Những vàm sông đêm (Nxb Hội Nhà văn, 2018). Năm 2001, bà được Tặng thưởng thơ tạp chí Tài Hoa Trẻ. Giải thưởng thơ Hội Nhà văn TP.HCM năm 2006 và Giải thưởng thơ của Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 2008.
Tp.HCM, 2/8/2026
Thy Sinh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét