Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026

Thế giới tôi đang sống

Thế giới tôi đang sống

PHÀM LỆ:

1. Những cước chú và những chữ in nghiêng trong bản dịch này đều là của người dịch.
2. Chúng tôi có chua thêm một số từ tiếng Anh để bạn đọc dễ bề tham khảo.
3. Tuy đã cố gắng nhiều nhưng chắc chắn không thể nào tránh khỏi sai sót. Xin bạn đọc góp ý để bản dịch được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cám ơn.

CHƯƠNG I:       BÀN TAY NHÌN THẤY

CHƯƠNG II:     BÀN TAY CỦA KẺ KHÁC

CHƯƠNG III:    BÀN TAY CỦA CHỦNG LOẠI NGƯỜI

CHƯƠNG IV:    SỨC MẠNH CỦA XÚC GIÁC

CHƯƠNG V:     NHỮNG RUNG ĐỘNG TINH TẾ HƠN

CHƯƠNG VI:    KHỨU GIÁC, VỊ THIÊN THẦN BỊ ĐỌA

CHƯƠNG VII:   GIÁ TRỊ TƯƠNG ĐỐI CỦA NHỮNG GIÁC QUAN

CHƯƠNG VIII:  THẾ GIỚI 5 GIÁC QUAN

CHƯƠNG IX:     NHỮNG TÂM ẢNH

CHƯƠNG X:      NHỮNG LOẠI SUY TRONG TRI GIÁC GIÁC QUAN

CHƯƠNG XI:    TRƯỚC KHI LINH HỒN TỈNH DẬY

CHƯƠNG XII:   MẮT MÙ NHƯNG TÂM KHÔNG MÙ

CHƯƠNG XIII:  THẾ GIỚI CỦA GIẤC MƠ

CHƯƠNG XIV:  NHỮNG GIẤC MƠ VÀ THỰC TẠI

CHƯƠNG XV:   GIẤC MƠ TRONG KHI TỈNH

BÀI TỤNG CA BÓNG TỐI

CHƯƠNG I

BÀN TAY NHÌN THẤY [1]

Tôi vừa sờ vào con chó của tôi. Nó đang lăn trên cỏ, với sự thích thú trong mọi bắp thịt và tứ chi. Tôi muốn lưu giữ một hình ảnh về nó trong những ngón tay tôi, và tôi sờ vào nó nhẹ nhàng như sờ vào những màng nhện; nhưng, trông kìa, cơ thể nó xoay tròn, cứng lại thành một vị trí thẳng đứng, và lưỡi nó liếm bàn tay tôi một cái ! Nó ép sát vào tôi, như thể nó sẵn sàng đổ xô vào bàn tay tôi. Nó yêu bàn tay tôi với cái đuôi, với cái móng, với cái lưỡi của nó. Nếu nó nói được, tôi tin rằng, nó sẽ nói với tôi rằng, thiên đường được đạt tới bằng xúc giác; bởi vì xúc giác chứa đựng toàn bộ tình yêu và sự thông minh.[2]

  Sự việc nhỏ bé này đã gây cảm hứng cho tôi, để khởi sự một cuộc tán gẫu về những bàn tay, và nếu sự tán gẫu của tôi may mắn, tôi phải cám ơn con chó của mình. Dù sao đi nữa, thật thú vị khi có một cái gì đó để nói về, mà không ai khác có độc quyền; nó giống như tạo ra một con đường mới trong những khu rừng không lối, nơi mà không có bàn chân nào đã giẫm lên trước đó. Tôi vui mừng nắm tay bạn và dẫn bạn dọc theo một lối đi chưa ai từng đặt chân, vào trong một thế giới mà ở đó, bàn tay có địa vị tối cao. Nhưng ngay ở sự khởi đầu, chúng ta gặp phải một khó khăn. Bạn quá quen với ánh sáng, và tôi e rằng, bạn sẽ vấp té khi tôi cố hướng dẫn bạn xuyên qua vùng đất của bóng tối và sự im lặng. Không ai nghĩ rằng, người mù là kẻ hướng đạo tốt nhất. Tuy vậy, mặc dù tôi không thể bảo đảm là không lạc mất bạn, tôi hứa rằng, bạn sẽ không bị dẫn vào trong lửa hay nước, hay té vào một vực sâu. Nếu bạn đi theo tôi một cách kiên nhẫn, bạn sẽ thấy rằng, “có một âm thanh quá đẹp, không có gì sống [live] giữa nó và sự im lặng” và rằng, có nhiều ý nghĩa trong sự vật, so với những gì mà con mắt gặp gỡ.

Bàn tay tôi, đối với tôi, là thính giác và thị giác của bạn gộp lại. Nhìn chung, chúng ta du hành trên cùng những xa lộ, đọc cùng những cuốn sách, nói cùng một ngôn ngữ, thế nhưng, những kinh nghiệm của chúng ta thì khác biệt. Tất cả mọi cái đến và đi của tôi [3]  đều xoay trên bàn tay như trên một cái trục. Chính bàn tay là cái ràng buộc tôi vào thế giới của đàn ông và đàn bà. Bàn tay là cái radar của tôi, với nó tôi vươn ra, xuyên qua sự cô lập và bóng tối và chụp bắt mọi lạc thú, mọi sinh hoạt mà những ngón tay tôi chạm vào. Khi bàn tay một người khác thả vào bàn tay tôi một từ [word] nhỏ bé, một sự rung động nhẹ của những ngón tay [4], cũng là lúc mà sự thông minh, niềm vui, sự tròn đầy của đời tôi bắt đầu.

Giống như Job [5], tôi cảm thấy như thể một bàn tay đã sáng tạo ra tôi một cách vòng vèo và nặn ra chính linh hồn tôi.

Trong tất cả những kinh nghiệm và ý tưởng của tôi, tôi đều ý thức về một bàn tay. Bất cứ cái gì làm tôi xúc động, bất cứ cái gì làm tôi phấn khích, đều giống như một bàn tay chạm vào tôi trong bóng tối, và cái xúc chạm đó là thực tại của tôi. Bạn cũng có thể nói rằng, một quang cảnh làm cho bạn vui mừng, hay một cú đánh khiến bạn chảy nước mắt, thì cũng phi thực [6] như nói rằng, những ấn tượng mà tôi đã tích lũy bằng xúc giác là phi thực. Cái run rẩy tinh tế của đôi cánh bướm, những cánh hoa mềm của hoa violet cuộn mình trong những nếp gấp của những chiếc lá của chúng, hay nhẹ nhàng nhấc mình lên từ cánh đồng cỏ, cái đường nét rõ ràng, xác định của khuôn mặt và tứ chi, cái vòm mịn màng nơi cổ của một con ngựa, và cái xúc chạm êm như nhung, và một ngàn sự kết hợp vốn hình thành trong tâm trí tôi, cấu thành thế giới của tôi.

Những ý tưởng tạo ra cái thế giới mà trong đó chúng ta sống, và những ấn tượng cung cấp những ý tưởng. Thế giới của tôi được xây dựng bởi xúc giác, bị tước bỏ màu sắc và âm thanh vật lý; nhưng không màu sắc, nó vẫn thở và phập phồng với sự sống. Mọi vật thể đều được gắn kết trong tâm trí tôi với những phẩm chất có thể sờ mó được, mà, được kết hợp trong vô số cách, chúng cho tôi một cảm thức về quyền lực, cái đẹp, hay về sự lạc điệu : bởi vì với bàn tay mình, tôi có thể cảm nhận cái buồn cười cũng như cái đẹp trong cái vẻ bề ngoài của sự vật.

Hãy nhớ rằng, bị lệ thuộc vào thị giác của mình, bạn không biết có bao nhiêu sự vật là sờ thấy được [7]. Mọi vật sờ mó được thì di động hay cứng đơ, ở thể rắn hay thể lỏng, lớn hay nhỏ, ấm hay lạnh, và những tính chất này biến đổi một cách đa dạng. Cái mát mẻ của một cây hoa súng đang nở hoa, thì khác với cái mát mẻ của một cơn gió chiều vào mùa hè, và cũng khác với sự mát mẻ của cơn mưa [mà] thấm vào lòng của những vật đang tăng trưởng và cho chúng sự sống và cơ thể. Cái chất nhung của hoa hồng không phải là chất nhung của trái đào chín hay cái lúm đồng tiền của một đứa trẻ. Độ cứng của đá tảng, so với độ cứng của gỗ, là sự khác biệt giữa giọng trầm sâu [8] của người đàn ông so với giọng trầm của phụ nữ. Cái mà tôi gọi là cái đẹp, tôi tìm thấy trong những tổ hợp nào đó của tất cả những tính chất này, và phần lớn phái sinh từ sự luân lưu của những đường cong và đường thẳng, vốn có mặt nơi mọi vật.

“Những đường thẳng có ý nghĩa gì với bạn?” bạn sẽ hỏi.

Nó có nhiều ý nghĩa. Nó tượng trưng cho bổn phận. Dường như nó có sự không-thể-lay-chuyển mà bổn phận có. Khi tôi có một cái gì đó phải làm, mà không được phép để sang một bên, thì tôi cảm thấy như thể tôi đang đi về phía trước trên một đường thẳng, buộc phải đến một nơi nào đó, hoặc là tiếp tục đi mãi mà không chệch sang phải hay sang trái. Nó có ý nghĩa như vậy. Để thoát khỏi phạm vi đạo đức, bạn sẽ hỏi: “Đường thẳng cho cảm giác như thế nào?” Đối với tôi, dường như nó cho cảm giác thẳng – một ý tưởng buồn tẻ bị kéo ra vô tận. Đối với xúc giác, thì sự hùng biện không cư ngụ trong những đường thẳng, mà trong những đường không thẳng, hoặc trong nhiều đường cong và đường thẳng xen kẽ nhau. Chúng xuất hiện và biến mất, có lúc sâu, lúc cạn, có khi bị cắt đứt hay bị kéo dài ra hay phồng to lên. Chúng nổi lên và chìm xuống dưới những ngón tay tôi, chúng đầy những những cú giật nẩy đột xuất và những lần tạm ngừng, và sự đa dạng của chúng là vô tận và tuyệt vời. Do vậy, bạn thấy đó, tôi không bị “cấm cửa” đối với vùng đất của cái đẹp, mặc dù bàn tay tôi không thể tri giác những màu sắc rực rỡ trong buổi hoàng hôn hay trên núi, hay vươn tới những chiều sâu màu thiên thanh, sâu thẳm của bầu trời.

Môn vật lý bảo tôi rằng, tôi vẫn “thuận lợi” trong một thế giới mà ở đó, tôi không biết gì về màu sắc hay âm thanh – một thế giới có kích cỡ, hình thể, và những tính chất vốn có [9]; bởi vì ít nhất mọi vật hiện ra với những ngón tay tôi, đứng thẳng lên một cách vững chắc, và không phải là một hình ảnh bị lộn ngược trên võng mô, mà tôi hiểu, bộ não của bạn phải rất khó nhọc, tuy bất thức, để đưa nó về đúng vị trí của nó. Một vật sờ mó được, đi một cách hoàn chỉnh vào trong bộ não tôi với hơi ấm của sự sống trên nó, và chiếm cùng một trương độ mà nó chiếm trong không gian; bởi vì, nếu không có lòng vị kỷ, thì tâm trí rộng lớn như vũ trụ [10]. Khi tôi nghĩ đến những ngọn đồi, thì tôi nghĩ đến cái sức mạnh hướng về phía trên. Khi nước [biển] là đối tượng của ý nghĩ tôi, tôi cảm nhận sự chấn động mát mẻ của cú phóng và sự nhượng bộ nhanh chóng của những con sóng vốn cuộn tròn và nhấp nhô xung quanh cơ thể tôi. Những thay đổi thú vị của cái thô ráp và cái mịn màng, cái mềm dẻo và cái cứng ngắc, cái cong và cái thẳng trong vỏ cây và những cành cây mang sự thật đến cho bàn tay tôi. Tảng đá không thể di chuyển với những chỗ nhô ra và bề mặt bị vênh của nó, uốn cong dưới những ngón tay tôi thành những cái rãnh và những chỗ trũng. Chỗ phình ra của một trái dưa hấu và sự mập tròn của những cây bí vốn đâm chồi, nở nụ và chín trong khu vườn kỳ lạ được trồng ở một nơi nào đó đằng sau những đầu ngón tay tôi, thì buồn cười trong ký ức và trí tưởng tượng có tính xúc giác của tôi. Những ngón tay tôi tìm thấy niềm vui thích trong cái trầm bổng nhẹ nhàng trong tiếng cười của một hài nhi, và trong tiếng gáy cường tráng của con gà trống của sân kho trang trại. Một lần, tôi có một con gà trống [làm cảnh], nó thường đậu trên đầu gối tôi và gáy. Một con chim trong bàn tay tôi thì có giá trị bằng hai con chim trong sân kho trang trại.

Dĩ nhiên, những ngón tay tôi không thể có những ấn tượng về cái toàn bộ rộng lớn ở “một cái liếc nhìn” nhưng tôi cảm nhận những bộ phận, và tâm trí tôi ráp chúng lại với nhau. Tôi di chuyển xung quanh nhà, sờ vật này sau vật nọ theo thứ tự, trước khi tôi có thể hình thành một ý kiến về toàn bộ ngôi nhà.

Trong những ngôi nhà của người khác, tôi chỉ sờ được những gì mà chủ nhân cho phép – những vật chính yếu đáng chú ý, những hình chạm trên tường, hoặc một đường nét kiến trúc kỳ lạ, được trưng bày giống như cuốn album gia đình. Do vậy, một ngôi nhà mà tôi không quen thuộc, thoạt đầu, không gây ấn tượng tổng quát hay sự hài hòa về chi tiết. Nó không là một khái niệm hoàn chỉnh, nhưng là một bộ sưu tập của những ấn tượng về sự vật mà, như nó đến với tôi, rời rạc và cô lập. Nhưng tâm trí tôi đầy những liên tưởng, cảm giác, lý thuyết, và với chúng, nó xây dựng cái nhà. Cái quá trình này nhắc tôi nhớ đến việc xây dựng ngôi đền của Solomon, nơi mà không có tiếng cưa, búa hay bất cứ dụng cụ nào trong khi những viên đá đang được đặt chồng lên nhau. Người làm việc im lặng là trí tưởng tượng, mà đã tạo ra thực tại từ sự hỗn độn.

Nếu không có trí tưởng tượng [11], thì thế giới của tôi sẽ tồi tệ biết bao ! Khu vườn của tôi sẽ là một miếng đất im lặng nhan nhản những cái que có đủ những hình thể và mùi. Nhưng khi con mắt của tâm trí tôi [tâm nhãn] được mở ra trước cái đẹp của thế giới, thì mặt đất bừng sáng lên dưới hai bàn chân tôi, và hàng giậu bung thành lá, và những cây hoa hồng tỏa hương ra khắp mọi nơi. Tôi biết những cái cây đang nở nụ trông ra sao, và tôi chia sẻ niềm vui tình ái với những con chim đang giao phối, và đây là cái phép mầu của trí tưởng tượng.

Phép mầu trở thành gấp đôi, khi, xuyên qua những ngón tay tôi, trí tưởng tượng của tôi vươn ra và gặp trí tưởng tượng của một nhà nghệ sĩ mà đã thể nhập vào trong một tác phẩm điêu khắc của ông. Mặc dù, so với khuôn mặt của một người bạn, linh hoạt và có hơi ấm của sự sống, thì cẩm thạch lạnh lẽo và lãnh đạm, thiếu sinh khí, thế nhưng nó đẹp đối với bàn tay tôi. Những đường cong duyên dáng của nó cho tôi một lạc thú đích thực; chỉ có hơi thở là thiếu; nhưng dưới cái “bùa mê” của trí tưởng tượng, cẩm thạch mang đến niềm phấn khích và trở thành một thực tại thiêng liêng. Trí tưởng tượng đặt một tình cảm vào trong mọi đường thẳng và đường cong, và bức tượng trong cái xúc chạm của tôi quả thực là chính vị nữ thần, thở và di động và làm tôi say mê.

Tôi tìm thấy trong một bức tượng đẹp sự hoàn thiện về mặt hình thức của cơ thể, những phẩm chất của sự cân bằng và sự hoàn chỉnh. Bức tượng Minerva [12], lửng lơ với một mạng lưới ám chỉ có chất thơ, cho tôi một cảm thức về sự hân hoan mà hầu như có tính thể lý; và giống như mái tóc quăn, rậm rạp của Bacchus và Apollo, và vòng hoa trường xuân, gợi nhớ về những ngày lễ dị giáo.

Như vậy, trí tưởng tượng đội mũ triều thiên cho kinh nghiệm của hai bàn tay tôi. Và chúng học sự khôn khéo từ bàn tay khôn ngoan của một người khác, mà, chính nó, được hướng dẫn bởi trí tưởng tượng, dẫn tôi một cách an toàn trên những lối đi mà tôi không biết, làm cho bóng tối trở thành ánh sáng trước mắt tôi, và làm cho cái cong thành cái thẳng.
 

_______

 

 [1] Bạn đọc lưu ý: Helen Keller là một phụ nữ mù, câm, điếc. Xem tự truyện Chuyện đời tôi, bản dịch cũng của Đỗ Tư Nghĩa, trên art2all.net.

[2] Intelligence. Cần chú ý: đối với một người mù và điếc như Helen, thì xúc giác đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nó thay thế cho cả thị giác và thính giác gộp lại.

[3] All my comings and goings.

[4] Ý nói, khi một ai đó “đánh vần” vào bàn tay của tác giả.

[5] Job: Một nhân vật trong Cựu Ước. Đức Chúa Trời nhiều lần thử thách ông, bắt ông phải chịu rất nhiều tai họa, nhưng ông vẫn luôn tin tưởng Đức Chúa Trời.

[6] Unreal.

[7] Tangible.

[8] The deep bass.

[9] Inherent qualities.

[10] Lòng vị kỷ phát xuất từ “bản ngã,” “cái tôi.” Đây là một chân lý mà không phải ai cũng có thể phát hiện ra, kể cả những người có đầy đủ mọi giác quan như chúng ta.

[11] Chúng ta đều biết, trí tưởng tượng là yếu tố rất quan trọng của văn học-nghệ thuật, và của cả những phát minh khoa học. Riêng đối với một người mù-điếc như Helen, thì nó lại càng quan trọng.

[12] Minerva: [thần thoại La Mã] Vị nữ thần của minh triết và nghệ thuật

CHƯƠNG II

BÀN TAY CỦA KẺ KHÁC

 
          Hơi ấm và sự che chở của bàn tay là cái thấm thía đối với tôi, kẻ luôn hướng về nó để tìm kiếm sự trợ giúp và niềm vui. Tôi hoàn toàn hiểu, như thế nào mà tác giả của Thánh Vịnh có thể cất tiếng với sức mạnh và sự vui mừng, hát rằng: “Tôi đặt sự tin cậy của tôi vào Đức Chúa Trời trong mọi lúc, và bàn tay Ngài sẽ bảo vệ tôi, và tôi sẽ cư ngụ trong sự an ninh.” Trong sức mạnh của bàn tay con người, cũng có một cái gì đó thiêng liêng. Tôi được cho biết rằng, cái liếc nhìn của đôi mắt thân yêu gây cho người ta sự xúc động từ một khoảng cách; nhưng không có khoảng cách nào trong cái xúc chạm của một bàn tay yêu dấu. Ngay cả những lá thư tôi nhận, thì “những lá thư nhân ái biểu lộ cái lịch sử sâu xa của trái tim / mà trong đó, chúng ta cảm nhận sự có mặt của một bàn tay.”

Thật thú vị khi quan sát những khác biệt trong những bàn tay của những con người. Chúng cho thấy mọi loại sức sống, năng lượng, sự tĩnh lặng, và sự thân tình. Tôi không bao giờ nhận thức được rằng, bàn tay thì sống động ra sao, cho đến khi tôi “thấy” những bức tượng bằng bột thạch cao lạnh giá trong bộ sưu tập của ông Hutton. Bàn tay mà tôi biết trong đời, có sự tràn đầy của máu trong huyết quản, và linh động, có linh hồn. Bàn tay của ông Hutton thì khác biết bao, so với với những bức tượng buồn tẻ, vô tri giác của bộ sưu tập đó! Đối với tôi, cái bộ sưu tập đó thiếu chính cái hình dáng của bàn tay.Trong số nhiều “hình ảnh” trong bộ sưu tập của ông, tôi không nhận ra một hình ảnh nào, thậm chí, của chính tôi. Nhưng có một bàn tay đầy yêu thương mà tôi không bao giờ quên. Tôi nhớ, trong những ngón tay tôi, hai bàn tay to bè của Giám mục Brooks, tràn đầy lòng âu yếm và niềm vui của một con người mạnh mẽ. Nếu bạn bị điếc và mù, và có thể nắm bàn tay ông Jefferson, bạn đã có thể thấy trong nó một khuôn mặt và nghe một giọng nói nhân ái không giống như bất cứ giọng nói nào mà bạn đã biết. Bàn tay của Mark Twain [13] thì đầy sự kỳ dị và sự hài hước buồn cười nhất, và trong khi bạn nắm lấy nó, sự buồn cười biến thành sự đồng cảm và sự che chở.

The Medallion
The bas-relief on the wall is a portrait of the Queen Dowager of Spain, which Her Majesty had made for Miss Keller

 

Người ta bảo tôi rằng, những dòng chữ mà tôi vừa mới viết, không “mô tả” những bàn tay của các bạn tôi, nhưng chỉ gán cho chúng những phẩm chất nhân ái của con người mà tôi rằng biết họ sở hữu, và ngôn ngữ diễn đạt chúng bằng những từ trừu tượng.

Lời chỉ trích đó hàm ý rằng, tôi không đang đưa ra cái sự thật “nguyên thủy” về những gì mà tôi cảm thấy; nhưng những mô tả trong những cuốn sách mà tôi đọc – được viết bởi những người sáng mắt – chúng diễn tả như thế nào cái dáng vẻ hữu hình của một khuôn mặt? Tôi đọc thấy rằng, một khuôn mặt thì mạnh mẽ, dịu dàng; rằng nó đầy trí tuệ, đầy lòng kiên nhẫn; rằng nó dễ thương, cao thượng, đẹp đẽ. Phải chăng tôi không có quyền sử dụng những từ này để mô tả những gì mà tôi cảm thấy, bởi vì tôi không sáng mắt như bạn? Chúng thực sự diễn đạt những gì mà tôi cảm thấy trong bàn tay. Tôi ít khi nhận biết về những tính chất vật lý, và tôi không nhớ là những ngón tay của một bàn tay là ngắn hay dài, hoặc làn da ướt hay khô. Bạn cũng không – nếu không có nỗ lực của ý thức – nhớ lại những chi tiết của một khuôn mặt, ngay cả khi bạn đã nhìn thấy nó nhiều lần. Nếu bạn thực sự nhớ lại những sắc thái đó, và nói rằng, một con mắt màu xanh da trời, một cái cằm nhọn, một cái mũi ngắn, hoặc một gò má hốc hác, thì tôi cho rằng, bạn không thành công trong việc đưa ra những ấn tượng về người đó. Cho dẫu bạn mô tả những chi tiết của khuôn mặt đó, thì sự mô tả đó cũng không cho thấy những phẩm chất tinh thần cốt yếu của nó – cái hài hước, sự nghiêm nghị của nó, nỗi buồn, tính tâm linh [14] của nó. Nếu tôi sẽ nói với bạn bằng những từ ngữ có tính vật lý, một bàn tay cho cảm giác ra sao, thì sự tường thuật của tôi cũng không khiến cho bạn thấy rõ hơn, so với khi bạn mô tả cho một người mù, một cách chi tiết, một khuôn mặt nào đó.

Hãy nhớ rằng, khi một người mù phục hồi thị giác của mình, thì người ấy không nhận ra cái điều bình thường nhất vốn đã từng quen thuộc đối với xúc giác của anh ta – cái khuôn mặt thân yêu nhất, thâm tình với những ngón tay anh ta, và, cho dẫu những sự vật và những con người được mô tả cho bạn một cách lặp đi lặp lại, thì nó cũng không trợ giúp được gì. Do vậy, bạn, kẻ không được rèn luyện về về xúc giác, không nhận ra bàn tay bằng một cái xiết chặt; và bất cứ sự mô tả nào mà tôi có thể đưa ra, sẽ không làm cho bạn quen với một bàn tay thân thiện mà thường đan lấy bàn tay tôi, và được ghi vào trong ký ức của tôi.

Tôi không thể mô tả, phân loại những bàn tay thành bất cứ giai cấp hay loại người nào; nhưng không có sự giống nhau giữa những bàn tay. Một vài bàn tay nói cho tôi biết rằng, chúng làm mọi sự với sự xô bồ và ồn ào tối đa. Những bàn tay khác thì bồn chồn và khinh suất, với những ngón tay lo lắng, rối rít, cho thấy một bản tính nhạy cảm trước những tổn thương nhỏ bé của đời sống thường nhật. Đôi khi, với linh tính, tôi nhận ra bàn tay nhân ái nhưng ngu xuẩn của một kẻ ba hoa, thông báo những tin tức quá ư vặt vãnh. Tôi đã gặp một giám mục với một bàn tay có chất hài hước; một kẻ hài hước với một bàn tay nghiêm nghị; một người đàn ông tự cho mình là dũng cảm với một bàn tay rụt rè, và một người đàn ông ít nói, hay nói lời xin lỗi, với một nắm đấm bằng sắt. Khi tôi còn rất bé, tôi được đưa tới gặp một người phụ nữ mù và bại liệt. Tôi sẽ không bao giờ quên cái cách mà bà chìa bàn tay nhỏ bé, run rẩy của bà ra và ép nó vào bàn tay tôi với niềm đồng cảm. Đôi mắt tôi mờ lệ khi tôi nghĩ đến bà. Sự mệt mỏi, sự đau đớn, bóng tối và lòng kiên nhẫn dịu dàng, là những gì mà tôi cảm nhận được trong bàn tay gầy, hao mòn, mò mẫm và đầy yêu thương của bà.

Tôi nghĩ, một số người mà không biết tôi, sẽ không hiểu tôi nắm bắt bao nhiêu về tâm trạng của một người bạn đang tham gia đàm thoại [bằng miệng] với một ai khác. Bàn tay tôi dõi theo những chuyển động của anh ta; tôi sờ vào bàn tay, cánh tay, khuôn mặt anh ta. Tôi có thể nói khi nào anh ta thích chí về một câu nói đùa dí dỏm mà đã không được lặp lại cho tôi, hoặc khi nào anh ta đang kể một câu chuyện hào hứng. Một trong những người bạn của tôi thì hơi gây hấn, và bàn tay anh ta luôn luôn báo tin sắp xảy ra một cuộc cãi vã. Bằng cái giật mạnh nóng nảy của anh ta, tôi biết anh ta sắp tranh cãi với một ai đó. Tôi đã cảm thấy anh ta giật nẩy người lên khi một hồi ức đột xuất hay một ý kiến mới bắn qua tâm trí anh ta. Tôi đã cảm nhận nỗi sầu muộn trong bàn tay anh ta. Tôi đã cảm nhận linh hồn anh ta tự gói mình trong bóng tối một cách bệ vệ như trong một bộ y phục. Một người bạn khác có hai bàn tay quả quyết, chứng tỏ sự cương quyết lớn trong quan niệm. Cô ta là người duy nhất mà tôi biết, thường nhấn mạnh những lời cô nói ra bằng miệng, khi tôi đọc môi cô; khi đánh vần vào bàn tay tôi, cô cũng nhấn mạnh như vậy. Tôi thích sự nhấn mạnh đa dạng này hơn là tiếng đập đều đều buồn tẻ của những người đánh vần vào bàn tay tôi như nện búa.

Một vài bàn tay, khi chúng xiết chặt bàn tay bạn, bừng sáng và sôi lên với sự vui mừng. Chúng phập phồng và giãn ra với sức sống. Một vài người lạ đã xiết chặt bàn tay tôi như thể đó là bàn tay của một đứa em thất lạc đã lâu. Những người khác, đã bắt tay với tôi như thể họ sợ rằng, tôi có thể gây tổn thương cho họ. Những người như thế chìa những đầu ngón tay mà họ cho phép bạn sờ vào, và trong khoảnh khắc xúc chạm, họ rút lui, và trong thâm tâm, bạn hy vọng rằng, bạn sẽ không bao giờ được yêu cầu phải một lần nữa nắm lấy bàn tay đó. Nó là dấu hiệu của một tâm hồn ưa kiểu cách, kiêu ngạo lố bịch, và không hiếm khi, đa nghi. Nó đối nghịch với bàn tay của những người có bản chất phóng khoáng, đáng yêu.

Cái bắt tay của vài người khiến bạn nghĩ đến tai nạn và cái chết bất đắc kỳ tử. Hãy đối chiếu bàn tay báo điềm dữ này với bàn tay lặng lẽ, nhanh nhẹn, khéo léo của một cô nữ điều dưỡng mà tôi nhớ đến với lòng cảm mến, bởi vì cô tận tụy chăm sóc cô giáo của tôi. Tôi đã xiết chặt những bàn tay của vài người giàu, không phải lao nhọc, và thế nhưng, không đẹp. Bên dưới cái tròn trịa mềm mại, mịn màng của chúng, ẩn chứa biết bao sự hỗn độn của một tính cách chưa phát triển!

Tôi chắc rằng, không có bàn tay nào có thể so sánh với bàn tay của vị y sĩ, trong kỹ năng kiên nhẫn, sự dịu dàng nhân từ và sự đích xác tuyệt vời. Thảo nào mà Ruskin tìm thấy trong những nhát dao chính xác của nhà phẫu thuật, sự hoàn hảo của sự kiểm soát và sự chính xác tinh tế cho nhà nghệ sĩ tranh đua. Nếu nhà y sĩ là một người có tâm hồn vĩ đại, thì trong cái xúc chạm của ông, có sự chữa trị cho linh hồn. Cái xúc chạm thần kỳ này, đến từ bàn tay của một người bạn thân mến của tôi, ông là vị bác sĩ của chúng tôi trong lúc bệnh hoạn hay mạnh khỏe. Cái tinh thần thân ái, hạnh phúc của ông tác động tốt đến những bệnh nhân của mình, bất luận họ có cần thuốc men hay không.

Khuôn mặt có nhiều vẻ đẹp; bàn tay cũng vậy. Xúc giác có những cơn xuất thần của nó. Những người có cá tính mạnh mẽ và nhạy cảm, thì linh hoạt một cách kỳ diệu. Trong một thoáng của những đầu ngón tay họ, chúng diễn tả nhiều cung bực của ý tưởng. Thỉnh thoảng, tôi sờ vào một bàn tay đẹp, nhã nhặn, cổ tay mềm dẻo – nó đánh vần [vào bàn tay tôi] với vẻ đẹp và sự độc đáo mà bạn thường thấy trong thủ bút của vài người có văn hóa. Tôi mong ước rằng, bạn có thể thấy những đứa trẻ nhỏ đánh vần vào bàn tay tôi một cách đáng yêu ra sao. Chúng là những bông hoa dại của nhân loại, và những chuyển động ngón tay của chúng là những bông hoa dại của ngôn ngữ.

Những điều nói ở trên là nghệ thuật “xem bàn tay” của riêng tôi, và khi tôi “coi bói” cho bạn, thì nó không phải là trực giác huyền bí hay pháp thuật của những người gipsy, mà bởi sự nhận ra tự nhiên, giải thích được, về cái tính cách được khắc lên bàn tay bạn.

Bàn tay không chỉ dễ nhận ra như khuôn mặt, mà nó còn phát lộ những bí mật của nó một cách công khai và vô ý thức hơn. Người ta kiểm soát khuôn mặt họ, nhưng bàn tay thì không bị kềm chế như thế. Nó thư giãn và trở nên thờ ơ khi tinh thần bị xuống thấp và thất vọng; những bắp thịt căng thẳng khi tâm trí bị kích động hay khi trái tim vui mừng; và những tính chất thường hằng được viết trên nó trong mọi lúc.


_____

[13] Mark Twain [1835 – 1910) : Nhà văn hoạt kê nổi tiếng của Mỹ.

[14] Spirituality.

CHƯƠNG III

BÀN TAY CỦA CHỦNG LOẠI NGƯỜI

 
[Chương III, tác giả nói về chữ “hand”(bàn tay) trong tiếng Anh. Thiển nghĩ, những thông tin đó không cần thiết lắm đối với đa số bạn đọc người Việt; do vậy, chúng tôi chỉ dịch đoạn mở đầu và đoạn kết luận của chương này].

Đoạn mở đầu:

* Hãy tra từ điển Century Dictionary, hay, nếu bạn bị mù, hãy nhờ giáo viên của bạn tra giúp, và bạn sẽ thấy có bao nhiêu thành ngữ được tạo ra trên ý tưởng về bàn tay, và có bao nhiêu từ được thành lập từ căn ngữ Latin “manus”– những từ đủ để định danh tất cả những vụ việc thiết yếu của cuộc sống. “Hand,” [bàn tay] với những lời trích dẫn và những từ ghép, chiếm 24 cột, 8 trang của cuốn từ điển này. Bàn tay được định nghĩa như là “cơ quan để bắt giữ một cái gì đó.” Định nghĩa này ăn khớp với trường hợp của tôi biết bao, trong cả 2 nghĩa của từ “apprehend” [15] ! Với bàn tay mình, tôi chụp bắt và nắm giữ tất cả những gì mà tôi tìm thấy trong 3 thế giới – vật lý, tri thức, và tâm linh.

 

Đoạn kết luận:

* Dù chúng ta nhìn về đâu, thì chúng ta đều tìm thấy bàn tay trong thời gian và lịch sử: làm việc, xây dựng, phát minh, đưa sự văn minh ra khỏi sự dã man. Bàn tay tượng trưng cho quyền lực và sự xuất chúng của công việc. Bàn tay của người thợ, bàn tay đẽo, cưa, cắt, xây dựng, v.v..., thì hữu ích trong thế giới, bình đẳng với với bàn tay tinh tế [của nhà họa sĩ] vẽ một bông hoa dại, hay [của nhà điêu khắc] nặn một cái bình sứ Hy Lạp, hay bàn tay của một chính khách nào đó, viết ra một sắc luật. Con mắt không thể nói với bàn tay: “Tôi không cần đến anh.” Chúc phúc cho bàn tay! Chúc phúc ba lần, cho bàn tay nào làm việc!


_____

[15] To apprehend: có 2 nghĩa chính: a. Bắt giữ. b. Hiểu.

 

CHƯƠNG IV

SỨC MẠNH CỦA XÚC GIÁC

 
          Vài tháng trước đây, trong một nhật báo – loan tin việc xuất bản Tạp chí Matilda Ziegler cho người mù – xuất hiện đoạn văn này: “Nhiều bài thơ và truyện ngắn hẳn sẽ bị loại bỏ, bởi vì chúng đề cập đến thị giác. Sự ám chỉ về ánh trăng, cầu vồng, ánh sao, những đám mây và phong cảnh đẹp không thể được đăng tải, bởi vì chúng sẽ gia tăng cảm thức về sự bất hạnh và khuyết tật của người mù.”

Có nghĩa là, tôi không được phép nói về những dinh thự và những khu vườn đẹp, bởi vì tôi nghèo. Tôi không được phép đọc về Paris, bởi vì tôi không thể viếng thăm nó. Tôi không thể mơ về thiên đàng, bởi vì có thể là tôi sẽ không bao giờ lên tới đó.

Thế nhưng, một tinh thần mạo hiểm thúc bách tôi sử dụng những từ chỉ hình ảnh và âm thanh, mà ý nghĩa của chúng, tôi chỉ có thể phỏng đoán từ phương pháp loại suy và trí tưởng tượng. Đối với tôi, thì trò chơi “nguy hiểm” này là một nửa sự thích thú, sự vui đùa, của đời sống hằng ngày. Khuôn mặt tôi bừng sáng lên khi tôi đọc về cái huy hoàng mà chỉ có con mắt mới có thể khảo sát. Sự ám chỉ về ánh trăng và những đám mây không làm gia tăng cảm thức về sự bất hạnh của tôi: chúng mang linh hồn tôi vượt lên cái thực tiễn chật hẹp của sự bất hạnh.

Những nhà phê bình thích thú bảo cho chúng tôi [những người mù] biết những gì mà chúng tôi không thể làm. Họ cho rằng, sự mù và điếc cắt đứt chúng tôi hoàn toàn khỏi những điều mà những người bình thường tận hưởng, và do vậy, họ khẳng định rằng, chúng tôi không có quyền nói về cái đẹp, bầu trời, núi non, bài ca của chim, và những màu sắc. Họ tuyên bố rằng, chính những cảm giác mà chúng tôi có từ xúc giác, thì “có tính gián tiếp,” như thể là những người bạn của chúng tôi cảm nhận mặt trời giúp chúng tôi! Họ phủ nhận một cách tiên thiên những gì mà họ đã không thấy và tôi cảm thấy. Một vài nhà hoài nghi táo bạo đã đi quá xa, thậm chí, họ còn phủ nhận cả sự hiện hữu của tôi. Do vậy, để có thể biết rằng mình hiện hữu, tôi phải dùng đến phương pháp của Descartes “Tôi tư duy, vậy tôi hiện hữu.”

Như thế, tôi được xác lập trên bình diện siêu hình học, và tôi ném lên những kẻ ngờ vực cái gánh nặng của việc chứng minh sự phi hiện hữu của tôi. Những điều được phát hiện về tâm trí thì rất ít ỏi; do vậy, cũng khó mà xác định là người ta có thể biết hay không thể biết cái gì ! Tôi thừa nhận rằng, có vô vàn những điều kỳ diệu trong vũ trụ hữu hình mà tôi không thể đoán biết được. Cũng tương tự, hỡi nhà phê bình tự tin, có vô vàn cảm giác tôi “cảm nhận” được, mà các vị không ngờ tới.

Tạo Hóa ban cho con mắt một sức mạnh quý giá của thị giác, và trong cách tương tự, nó ban cho toàn bộ cơ thể cái sức mạnh quý giá của sự “cảm nhận.” Đôi khi, dường như chính cái bản thể của xác thịt tôi có nhiều con mắt đang nhìn một cách tùy ý lên một thế giới được tạo ra mọi ngày. Sự im lặng và bóng tối mà được cho là đang giam nhốt tôi, mở cánh cửa của tôi một cách hiếu khách nhất trước vô số cảm giác – những cảm giác có tính thông báo, cảnh cáo và tiêu khiển. Với 3 vị hướng đạo đáng tin cậy: xúc giác, khứu giác và vị giác, tôi làm nhiều cuộc du ngoạn vào trong cái biên giới của kinh nghiệm, vốn hiện ra trong thành phố Ánh Sáng. Thiên nhiên tự thích nghi với sự cần thiết của mọi người. Nếu con mắt bị tàn phế, đến nỗi nó không thấy khuôn mặt phong phú của ngày, thì xúc giác trở nên sắc bén hơn và có tính biện biệt hơn. Thiên nhiên tiến hành xuyên qua sự thực tập, để tăng cường những giác quan còn lại. Vì lý do này, người mù thường nghe dễ dàng và rõ ràng hơn những người khác. Khứu giác trở thành hầu như một quan năng mới, để xuyên thấu cái rối ren và sự mơ hồ của sự vật. Như thế, theo một định luật bất biến, những giác quan hỗ trợ và tăng cường lẫn nhau.

Tôi không thể nói, chúng ta thấy tốt nhất với bàn tay hay con mắt [16]. Tôi chỉ biết rằng, cái thế giới mà tôi “thấy” với những ngón tay tôi thì sinh động, hồng hào, và thỏa đáng. Xúc giác mang đến cho người mù nhiều sự chắc chắn mà những đồng loại may mắn của họ bị thiếu, bởi vì xúc giác của những người đó không được trau dồi.

Khi họ [người sáng mắt] nhìn những sự vật, thì họ thọc tay vào trong túi. Chắc chắn, đây là một lý do tại sao kiến thức của họ thường hay quá mơ hồ, thiếu chính xác, và vô ích. Cũng rất có thể, rằng kiến thức của chúng ta về những hiện tượng ở ngoài tầm với của bàn tay, thì đều bất toàn ngang nhau. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta thấy chúng xuyên qua một làn sương vàng óng của trí tưởng tượng.

Tuy nhiên, không có gì mơ hồ hay không chắc chắn về những cái mà chúng ta có thể sờ vào. Thông qua xúc giác, tôi biết những khuôn mặt của bạn bè, sự đa dạng vô giới hạn của những đường thẳng và đường cong, mọi bề mặt, cái phong phú của đất, những hình thể tinh tế của những bông hoa, những hình dáng tráng lệ của những cái cây, và trường hoạt động của những cơn gió lớn. Bên cạnh những vật thể, những bề mặt, và sự thay đổi của bầu không khí, tôi tri giác vô số những rung động. Tôi thu thập nhiều kiến thức về mọi sự việc hằng ngày từ những chấn động và rung chuyển mà tôi cảm nhận được, khắp nơi trong nhà.

Tôi phát hiện ra rằng, những bước chân thay đổi một cách sờ mó được tùy theo tuổi tác, giới tính, và cách đi đứng của đương sự. Không thể nhầm tiếng lộp bộp nơi bước chân của một đứa trẻ với bước chân của một người trưởng thành. Bước chân của một người trẻ, mạnh mẽ và tự do, khác với bước chân nặng nề, khoan thai của một người trung niên, và bước chân của một người già, mà hai bàn chân kéo lê dọc theo sàn nhà, hay đập lên sàn một cách chậm rãi, ngập ngừng. Trên một sàn nhà trống không, một cô gái bước đi với một tiết nhịp nhanh, uyển chuyển, thì hoàn toàn khác biệt với bước chân nghiêm nghị hơn của một phụ nữ đứng tuổi. Tôi đã cười lớn khi nghe tiếng cót két của đôi giày mới và tiếng rổn rảng của một cô hầu gái mập mạp đang trình diễn một màn khiêu vũ vui nhộn trong nhà bếp. Một hôm, trong phòng ăn của một khách sạn, một sự bất hòa điệu chụp bắt sự chú ý của tôi. Tôi ngồi im và “lắng nghe” với hai bàn chân tôi. Tôi “thấy” rằng hai người hầu bàn đang đi lui đi tới, nhưng không cùng một dáng điệu. Một ban nhạc đang chơi, và tôi có thể cảm nhận những làn sóng âm thanh dọc theo sàn nhà. Một người hầu bàn bước đi ăn nhịp với tiếng nhạc, duyên dáng và nhẹ nhàng, trong khi người kia phớt lờ âm nhạc và lao vụt từ bàn này sang bàn nọ theo tiếng đập của sự bất hòa điệu nào đó trong chính tâm trí mình. Những bước chân của họ gợi tôi nhớ đến một con ngựa chiến đầy khí thế được thắng yên cương chung với một con ngựa kéo xe bình thường.

Thường khi, những bước chân bộc lộ, ở mức độ nào đó, tính cách và tâm trạng của đương sự. Tôi cảm nhận trong chúng sự quả quyết và sự lưỡng lự, sự vội vã và sự cân nhắc, sự linh hoạt và sự lười biếng, sự mệt mỏi, sự hờ hững, sự rụt rè, sự giận dữ, và nỗi sầu muộn. Tôi ý thức nhiều nhất về những tâm trạng và những nét tính cách này trong những người mà tôi quen biết.

Những bước chân thường xuyên bị đứt quãng bởi những rung chuyển và những cú giật mạnh nào đó, đến nỗi tôi biết khi nào người ta quỳ gối, đá, lắc một cái gì đó, ngồi xuống, hay đứng lên.

Như thế, tôi theo dõi, tới mức độ nào đó, những hành động của những người xung quanh tôi và những thay đổi trong những tư thế của họ. Ngay bây giờ, tiếng lộp bộp nhẹ và dày của những bàn chân trần, có tấm đệm, và một rung chuyển nhẹ bảo tôi rằng, con chó của tôi đã nhảy lên ghế để nhìn ra cửa sổ. Tuy nhiên, tôi không cho phép nó muốn đi đâu thì đi, mà không có sự giám sát; bởi vì, thỉnh thoảng tôi cảm nhận cùng sự chuyển động đó, và “thấy” nó, không phải trên ghế, mà lại ngồi tót trên sofa.

Khi những người thợ mộc làm việc trong nhà hay trong nhà để xe tải kế bên, tôi biết – qua sự rung động nghiêng, lên và xuống, có khía răng cưa, và sự chấn động rung rung của cú đánh này trên cú đánh kia – rằng ông ta đang cưa hay đập búa. Nếu tôi không đủ gần, thì một rung động nào đó, chạy lui chạy tới dọc theo một bề mặt bằng gỗ, mang đến cho tôi cái thông tin rằng, ông ta đang sử dụng một cái bào.

Một tiếng vỗ nhẹ trên tấm thảm nói cho tôi biết rằng, một cơn gió nhẹ đã thổi những giấy tờ của tôi bay khỏi cái bàn. Một tiếng “bịch” tròn, là một tín hiệu rằng, một cây bút chì đã lăn xuống sàn. Nếu một cuốn sách rơi xuống, nó gây ra một tiếng “sạt” nhẹ. Một tiếng “cốp” trên bao lơn chân cầu thang, báo tin rằng, bữa ăn tối đã sẵn sàng. Nhiều trong số những rung động này bị xóa đi khi ở ngoài trời. Trên một bồn cỏ hay con đường, tôi chỉ có thể cảm nhận tiếng chạy, giẫm chân, và tiếng ầm ầm của những cái bánh xe.

Bằng cách đặt bàn tay mình lên đôi môi hay cổ họng một ai đó, tôi thu nhận nhiều rung động đặc biệt, và thuyết minh chúng : tiếng cười khúc khích của một bé trai, tiếng “ối chà” ngạc nhiên của một người đàn ông, tiếng “hừm” của sự bực bội hay bối rối, tiếng rên của sự đau đớn, một tiếng thét, một tiếng thì thầm, một tiếng sột soạt, một tiếng nức nở, một sự nghẹn ngào, và một tiếng thở dốc. Những âm thanh của những con vật, dù không lời, cũng nói nhiều điều với tôi – tiếng rừ rừ của con mèo, tiếng meo meo của nó, tiếng gầm gừ giận dữ, giật giật, đầy phiền trách của nó; tiếng gâu gâu của con chó, biểu lộ sự cảnh báo hay sự đón chào vui sướng, tiếng kêu ăng ẳng của tuyệt vọng, và tiếng ngáy thoả mãn của nó; tiếng rống của con bò cái; tiếng chí chóe của một con khỉ; tiếng khịt mũi của một con ngựa; tiếng gầm của con sư tử, và tiếng rống khủng khiếp của con cọp. Có lẽ tôi phải nói thêm, với những nhà phê bình và những kẻ ngờ vực – những người mà có thể suy ngẫm về bài tiểu luận này – rằng, với chính hai bàn tay, tôi đã cảm thấy mọi âm thanh này.

Từ thuở ấu thơ cho đến hiện nay, tôi đã tranh thủ mọi cơ hội để viếng thăm vườn bách thú, những sở thú nhỏ, và gánh xiếc; và mọi con vật, trừ con cọp, đã “nói” vào bàn tay tôi. Tôi đã chỉ sờ con cọp trong một viện bảo tàng, nơi mà nó là một chú cừu non vô hại. Tuy nhiên, tôi đã “nghe” nó nói bằng cách đặt tay tôi trên những song sắt cái chuồng của nó. Tôi đã sờ vài con sư tử bằng xương bằng thịt, và cảm nhận chúng rống “một cách vương giả,” giống như một thác nước chảy qua những tảng đá.

Tôi biết cái tiếng “tõm” của chất lỏng trong một cái bình. Do vậy, nếu tôi làm đổ sữa của tôi, thì tôi không thể viện cớ là không biết. Tôi cũng quen thuộc với tiếng “bốp” của một cái nút chai, tiếng “lụp bụp” của một ngọn lửa, tiếng tích tắc của cái đồng hồ treo tường, tiếng lắc lư của một cối xay gió, sự lên xuống của cái bơm, sự tăng tốc của cái vòi phun nước, tiếng vỗ nhẹ của cơn gió nhẹ lên cửa lớn và cửa sổ, và nhiều cái rung động khác, không kể hết.

Có những rung động thuộc về xúc giác mà không thuộc về sự xúc chạm của làn da. Chúng xuyên thấu da, những dây thần kinh, xương, giống như sự đau đớn, hơi nóng, và cái lạnh.

Tiếng đập của một cái trống đập mạnh vào tôi, xuyên suốt từ ngực tới bả vai. Tiếng ầm ầm của xe lửa, cây cầu, và tiếng nghiến của máy móc vẫn lưu lại ấn tượng trên tôi rất lâu, sau khi cái nguyên nhân của nó đã bị bỏ lại đằng sau. Nếu sự rung động và chuyển động kết hợp trong xúc giác của tôi trong một thời gian, thì mặt đất dường như chạy ra xa trong khi tôi đứng im. 

Khi tôi bước xuống xe lửa, cái sân ga xoay vòng xung quanh, và tôi thấy khó bước đi một cách vững chãi. Mọi nguyên tử của cơ thể tôi là một máy chấn nghiệm [17]. Nhưng những cảm giác của tôi không phải là không thể sai lầm. Có lần, những ngón tay tôi vươn ra, và gặp một cái gì đó giống như da thú, nhảy lui tới, tự gom mình lại với nhau như thể nhảy lên, và hành động giống như một con thú. Tôi ngừng một khoảnh khắc để đề phòng. Tôi sờ nó lại, kỹ hơn, và thấy nó là một cái áo khoác bằng da thú đang phất phơ và đập phành phạch trong gió. Đối với tôi, cũng như với bạn, trái đất có vẻ bất động, và mặt trời có vẻ di chuyển; bởi vì những tia nắng của buổi chiều rút lui dần khi chúng chạm vào mặt tôi, cho đến khi không khí trở nên mát mẻ.

Từ điều này, tôi hiểu, như thế nào mà cái bờ có vẻ như rút lui khi bạn đi thuyền ra xa khỏi nó. Do vậy, tôi không cảm thấy chút nghi ngờ nào khi bạn nói rằng, những đường thẳng song song có vẻ như đồng quy, mặt đất và bầu trời gặp nhau. Những giác quan ít ỏi của tôi, từ lâu, đã phát lộ cho tôi những bất toàn và sự lừa dối của chúng.

Những giác quan không chỉ lừa dối, mà vô số cách dùng trong ngôn ngữ của chúng ta chỉ định rằng, những người có đủ 5 giác quan thấy khó mà giữ cho những chức năng của chúng tách biệt rạch ròi. Tôi hiểu rằng chúng ta “nghe” những quan điểm, “thấy” những giọng điệu, “nếm” âm nhạc. Tôi được nói cho biết rằng, những giọng nói có màu sắc. Xúc giác, mà tôi cho là một vấn đề của tri giác tinh tế, hóa ra là vấn đề về “nếm.” [18] Xét theo nghĩa rộng của nó, thì từ “taste” [nếm] dường như là cái quan trọng nhất trong mọi giác quan. “Nếm” [thị hiếu] chi phối những quy ước lớn và nhỏ của cuộc sống. Chắc chắn, ngôn ngữ của những giác quan thì đầy những mâu thuẫn, và các đồng loại của tôi – những người có đủ 5 giác quan – thì chắc chắn không “thoải mái” trong chúng hơn tôi. Vậy thì, há chẳng phải, là tôi có thể được tha thứ, nếu bản tường trình này về những cảm giác của tôi thiếu sự chính xác ?

_____

[16] Các nhà khoa học cần lưu ý điểm này, bởi vì, người ta thường mặc nhiên cho rằng, thị giác có tầm quan trọng lớn hơn xúc giác

[17] Vibroscope.

[18] Taste: (động từ): Nếm. Taste: (danh từ): vị giác; thị hiếu.

 

CHƯƠNG V

NHỮNG RUNG ĐỘNG TINH TẾ HƠN

 
          Tôi đã nói đến vô số những chấn động và rung chuyển mà hằng ngày trợ giúp cho những quan năng của tôi. Những rung động cao vời và uy nghi hơn, vốn tác động tới những cảm xúc của tôi, là đa dạng và phong phú. Tôi “lắng nghe” với cảm giác kính sợ tiếng rền của sấm và chuỗi âm thanh bị nghẹt khi biển tự ném mình lên bờ. Và tôi yêu cái “nhạc cụ” mà bởi nó, mọi hòa âm của đại dương được chụp bắt và phóng thích trong những cơn lũ dâng trào – cây đàn organ đa thanh. Nếu âm nhạc có thể được thấy bằng mắt, thì tôi có thể chỉ trỏ nơi mà những nốt nhạc của đàn organ đi, khi chúng lên và xuống, leo lên, lắc lư và đong đưa, lúc to và sâu, lúc cao và bão táp, lúc nhẹ nhàng và trang nghiêm, với những rung động nhẹ hơn xen kẽ ở giữa, và chạy băng qua chúng. Tôi xin nói rằng, âm nhạc của đàn organ mang lại một cảm nhận xuất thần.

Có niềm thích thú sờ mó được trong những nhạc cụ khác, nữa. Cái vĩ cầm có vẻ như sống động một cách đẹp đẽ khi nó đáp ứng cái mong muốn nhỏ nhất của người chạm vào nó. Sự phân biệt giữa những nốt của nó, thì tinh tế hơn giữa những nốt của cây đàn piano.

Tôi cảm nhận vẻ đẹp của âm nhạc piano nhiều nhất, khi tôi sờ vào cây đàn. Nếu tôi giữ hai bàn tay mình trên thùng đàn, thì tôi phát hiện những tiếng ngân nhỏ bé, những lặp lại của giai điệu, và cái im lặng theo sau. Cái này giải thích cho tôi, âm thanh có thể tắt dần như thế nào, đối với cái tai đang nghe.

Tôi có thể theo dõi át âm [19] của những giai điệu. Tôi chụp bắt cái vũ điệu vui sướng khi nó nhún nhảy trên những phím đàn: bài ca buồn, chậm, sự mơ mộng... Tuyệt vời biết bao, cái nhạc cụ mà trên nó một nhạc sĩ lớn hát với hai bàn tay mình ! Tôi chưa bao giờ thành công trong việc phân biệt một nhạc phẩm này với một nhạc phẩm khác. Tôi nghĩ, đó là điều bất khả; nhưng sự tập trung chú ý của tôi, thường là quá lớn, đến nỗi, tôi tự hỏi, không biết cái lạc thú có được, có tương xứng với cái nỗ lực hay không.

Tôi cũng không thể phân biệt một cách dễ dàng một làn điệu được hát lên. Nhưng bằng cách đặt bàn tay tôi lên cổ họng và má của một người khác, tôi thưởng thức những thay đổi của giọng nói. Tôi biết khi nào nó thấp hay cao, trong trẻo hay bị tắc nghẽn, buồn hay vui. Cái cảm giác nhẹ, run run trong giọng nói của người già, đối với xúc giác của tôi, thì khác với cảm giác về một giọng nói của một người trẻ. Một cái giọng lè nhè của người miền Nam thì hoàn toàn không giống với cái giọng mũi của một Yankee [20]. Đôi khi, cái “trào lên và rút xuống” của một giọng nói thì quá quyến rũ, đến nỗi, những ngón tay tôi run rẩy với sự thích thú tuyệt vời, mặc dù tôi không hiểu một lời nào được nói ra.

Mặt khác, tôi cực kỳ nhạy cảm với sự chói tai của những tiếng ồn giống như tiếng cọ xát, tiếng cạo vét, và tiếng cót két của những ổ khóa hoen gỉ.

Những hồi “còi báo sương mù” là những cơn ác mộng của tôi. Có lần tôi đứng gần một cây cầu đang thi công, và tôi cảm nhận cái ầm ĩ có thể cảm nhận bằng xúc giác, tiếng lộp độp của những khối đá nặng, cái sự rung chuyển đều đều của đất bị xới lên, tiếng ầm ầm của những động cơ, tiếng xe đổ đất xuống, những cú nện liên tiếp của những chiếc búa tạ. Tôi cũng có thể ngửi thấy hỏa lò, hắc ín và xi-măng. Do vậy, tôi có một ý tưởng sống động về những lao động nặng nhọc trong thép và đá, và tôi tin rằng, tôi quen với tất cả những tiếng ồn tệ hại mà có thể được tạo ra bởi con người hay máy móc. Tiếng nện mạnh của những thân người nặng nề ngã xuống, mảnh vụn run rẩy của những khúc củi bị bửa, sự vỡ nát của gạo được giã, tiếng sạt của một cái cây bị hất xuống đất bởi một trận cuồng phong, tiếng ồn dai dẳng, “điên rồ” [21] được tạo ra bởi sự “bẻ ghi” [22] của những chiếc xe lửa chở hàng hóa, sự nổ của khí đốt, việc dùng chất nổ để khai thác đá, và tiếng nghiến khủng khiếp của tảng đá này trên tảng đá kia, vốn đi trước sự đổ xuống – tất cả những cái này đã là kinh nghiêm xúc giác của tôi, và góp phần vào ý tưởng của tôi về một trận chiến, một vòi xả nước, một trận động đất, và những tích lũy to lớn khác về âm thanh.

Xúc giác giúp tôi tiếp xúc với xe cộ và cái sinh hoạt đa dạng của thành phố. Bên cạnh cái xô bồ và chen chúc của những con người và tiếng ken két khôn tả và tiếng gầm rú của những chiếc xe điện, tôi nhận biết những cái mùi xông lên từ nhiều loại cửa tiệm khác nhau; từ những chiếc ô tô, những chiếc xe ngựa bốn bánh [để chở hàng], những con ngựa, những quày bán trái cây, và nhiều loại khói.

Thành phố cũng thú vị; nhưng cái im lặng sờ mó được của vùng quê thì luôn luôn được đón chào nhất, sau khi trải qua tiếng đinh tai nhức óc của thành phố và tiếng ầm ầm khó chịu của xe lửa. Sự phá hủy, sự sửa chữa, và những biến đổi của thiên nhiên, thật lặng lẽ và yên bình biết bao ! Không có âm thanh của cái búa, cái cưa, hay đá bị cắt lìa khỏi đá, mà là âm nhạc của những tiếng xào xạc và tiếng đập mạnh trên cỏ, đến từ những những chiếc lá bay phất phới và những trái cây chín mà gió làm rơi rụng suốt ngày từ những cành cây. Một cách lặng lẽ, tất cả rủ xuống, mọi thứ bị “rót” trở lại vào trong đất, để nó có thể sáng tạo; mọi thứ yên ngủ trong khi những “kiến trúc sư” bận rộn của ngày chăm chú vào công việc lặng lẽ của chúng ở nơi nào khác. Sự thanh bình tương tự ngự trị, khi bỗng nhiên đất sản sinh ra một sự sáng tạo mới. Một cách nhẹ nhàng, một biển cỏ, rêu, và hoa nhấp nhô đợt này trên đợt kia băng qua trái đất. Những tấm màn của khóm lá che phủ những cành trơ trụi.

 

 

Những cây lớn chuẩn bị sẵn sàng trong những trái tim cường tráng của chúng để lại đón nhận những con chim vốn chiếm những “căn phòng” [chamber] rộng lớn của chúng tại phương Nam và phương Tây. Không, không có nơi chốn nào quá thấp hèn, đến nỗi nó không xứng là chỗ trọ cho một sinh vật hạnh phúc nào đó. Con suối đồng cỏ tháo những xiềng xích băng giá của nó với những nốt nhạc róc rách, và chảy tự do. Và mọi thứ này thì được tạo ra trong chưa đầy hai tháng, hòa điệu với cái âm nhạc của ban hợp xướng của thiên nhiên, giữa một rừng hương của đất trời.

Hàng ngàn những giọng nói nhỏ nhẹ của trái đất đã thực sự tìm thấy lối đi của chúng đến với tôi – những tiếng xào xạc trong những búi cỏ, cái vẻ mượt mà sang trọng của những chiếc lá, tiếng vo vo của côn trùng, tiếng o o của những con ong trong những bông hoa mà tôi đã hái, tiếng đập cánh của một con chim sau khi nó tắm, và sự rung động nhấp nhô của nước chảy qua những hòn sỏi. Một khi đã được cảm nhận, thì những giọng nói thân yêu này sẽ xào xạc, vo vo, phất phới và róc rách trong ý nghĩ của tôi mãi mãi, và là một phần bất tử của những kỷ niệm hạnh phúc.

Giữa những kinh nghiệm của tôi và của những người khác, không có vực thẳm nào của không gian câm nín mà tôi không thể bắc cầu. Bởi vì tôi có những tiếp xúc đa dạng, vô tận và bổ ích với toàn thế giới, với sự sống, với cái bầu khí mà cái hoạt động rực rỡ của nó ôm choàng tất cả chúng ta. Cái năng lượng gây phấn khích của làn không khí bao bọc xung quanh, thì ấm áp và ngây ngất. Những làn sóng nhiệt lượng và những làn sóng âm thanh chơi đùa trên mặt tôi trong sự đa dạng và sự kết hợp vô hạn, cho đến khi tôi có thể phỏng đoán những âm thanh đa dạng này phải là cái gì, mà đôi tai vô dụng của tôi đã không thể nghe.

Không khí thay đổi trong những vùng khác nhau, ở những mùa khác nhau của năm, và thậm chí, vào những giờ khác nhau của ngày. Những làn gió nhẹ tươi mát, thơm tho từ biển, thì khác biệt với những làn gió nhẹ, thổi từng cơn dọc theo những bờ sông, ẩm ướt và đầy những cái mùi của lục địa. Làn không khí nhẹ, khô, bỗ dưỡng của vùng núi không bao giờ có thể nhầm lẫn với làn không khí mằn mặn, cay nồng của đại dương.

Làn không khí của mùa đông thì đậm đặc và nén chặt. Vào mùa xuân, nó có sức sống mới. Nó nhẹ, linh hoạt, và đầy ắp một nghìn mùi phập phồng từ mặt đất, cỏ, và những chiếc lá đang nhú ra. Làn không khí giữa mùa hạ thì đặc, bão hòa, hay khô và nóng bỏng, như thể bốc lên từ một lò lửa. Khi một cơn gió nhẹ mát mẻ xua đi sự yên tĩnh oi bức, nó mang đến ít mùi hơn trong tháng Năm, và, thường xuyên, cái mùi của một cơn bão đang tới.

Khối mát mẻ mà quét xuyên qua bầu không khí của mùa xuân, thì ít giống với cái lạnh cắt da của mùa đông.

Cơn mưa của mùa đông thì “sống sít,” [23] không mùi, và ảm đạm. Cơn mưa của mùa xuân thì mát mẻ, thơm tho, đầy hơi ấm của sự sống. Tôi đón chào nó một cách vui sướng khi nó viếng thăm mặt đất, làm giàu những con suối, tưới mát những ngọn đồi một cách dồi dào, làm cho những luống cày mềm lại với những cơn mưa rào cho hạt giống nẩy mầm, làm tỏa ra một mùi hương mà tôi không thể hít vào đủ sâu. Mưa xuân thì đẹp, đáng yêu, không thiên vị. Với những giọt long lanh như ngọc, nó rửa mọi chiếc lá trên cây và những bụi cây, chăm sóc đồng đều những thảo mộc bổ dưỡng và độc hại, lùng sục mọi sinh vật mà cần đến lòng hảo tâm của nó.

Những giác quan hỗ trợ và tăng cường lẫn nhau, tới một mức độ mà tôi không biết chắc là xúc giác hay khứu giác nói cho tôi nhiều nhất về thế giới.

Mọi nơi, dòng sông của xúc giác được kết nối với những con suối của khứu giác. Mỗi mùa có những mùi khác biệt của nó. Mùa xuân thì có mùi đất và đầy nhựa. Tháng Bảy thì phong phú với mùi của hạt đang chín và cỏ khô. Khi mùa diễn tiến, một cái mùi khô, chín, giòn thống trị, cây cúc vàng và những cây cúc trường sinh đánh dấu bước đi của năm. Vào mùa thu, những mùi hương nhẹ nhàng, quyến rũ tỏa ngát trong không khí, bay từ những bụi cây, cỏ, hoa, cây, và chúng nói cho tôi biết về thời gian và sự biến dịch, về sự chết và sự tái sinh, dục vọng và sự thỏa mãn dục vọng. [24]

_____

[19] The dominant : Âm bậc V của thang âm.

[20] Người Mỹ ở miền Bắc.

[21] Irrational.

[22] Switching: bẻ ghi; cho xe lửa sang đường khác.

[23] Raw

[24] Tác giả, qua kinh nghiệm gần gũi của mình với thiên nhiên, đã tiến gần tới sự minh triết !

 

CHƯƠNG VI

KHỨU GIÁC, VỊ THIÊN THẦN BỊ ĐỌA

 
          Vì lý do không thể giải thích nào đó, khứu giác không có địa vị cao mà nó đáng được hưởng trong số những chị em của nó. Nó có vẻ là một thiên thần bị đọa. Khi nó khuyến dụ chúng ta với những mùi hương rừng và mê hoặc chúng ta với hương thơm của những khu vườn đáng yêu, thì nó được chúng ta thẳng thắn thừa nhận. Nhưng khi nó cảnh báo chúng ta về một cái gì đó độc hại trong vùng lân cận của chúng ta, thì nó bị đối xử như thể quỷ sứ đã thắng thế đối với thiên thần, và bị trừng phạt về sự phục vụ trung thành của nó. Thật rất khó mà giữ ý nghĩa thực của những từ, khi người ta thảo luận những thành kiến của loài người, và tôi thấy khó mà đưa ra một bản tường trình về những cảm giác của khứu giác mà sẽ vừa “có phẩm cách,” vừa chân thực.

Trong kinh nghiệm của tôi, khứu giác là rất quan trọng, và tôi thấy rằng, có chứng cứ đáng tin cậy về sự đáng kính của cái giác quan mà chúng ta đã bỏ quên và phỉ báng này. Sử sách ghi rằng, Đức Chúa Trời ra lệnh rằng, hương trầm, với một mùi thơm dễ chịu, phải được đốt trước mặt Ngài. Tôi không rõ, liệu có cảm giác nào khởi lên từ thị giác, thú vị hơn những cái mùi được lọc xuyên qua những cành cây ấm nắng mặt trời, bị gió thổi tung bay, hay cơn thủy triều của những hương thơm phồng lên, rút xuống, lại nổi lên, làn sóng này sau làn sóng kia, đổ đầy thế giới rộng lớn với mùi thơm vô hình. Một mùi hương thoáng qua của vũ trụ khiến chúng ta mơ về những thế giới mà chúng ta chưa bao giờ thấy, gợi lại trong chớp mắt toàn bộ những giai đoạn của kinh nghiệm thân yêu nhất của mình. Tôi không bao giờ ngửi thấy mùi hoa cúc mà không sống lại những buổi sáng ngây ngất mà cô giáo tôi và tôi đã trải qua, lang thang trên những cánh đồng, trong khi tôi học những từ mới và tên của những sự vật. Khứu giác là một vị phù thủy hùng mạnh, vận chuyển chúng ta băng qua một nghìn dặm và mọi tháng năm mà chúng ta đã sống. Mùi của những trái cây đưa ký ức tôi đến ngôi nhà miền Nam của tôi, với những trò nô đùa trẻ con trong vườn đào. Những mùi khác, chớp nhoáng và chóng qua, khiến trái tim tôi giãn ra một cách vui sướng hay se thắt với nỗi sầu muộn quá khứ, khi hồi tưởng lại. Khi tôi nghĩ về những mùi, cái mũi của tôi đầy hương thơm, làm sống lại những kỷ niệm êm đềm của những mùa hè đã ra đi và những cánh đồng lúa đang chín xa xa.

Mùi hương nhẹ nhất từ một đồng cỏ, nơi mà cỏ khô mới cắt nằm dưới mặt trời nóng bức, có thể hoán chuyển cái ở đây và bây giờ. Nó đưa tôi trở lại cái kho chứa cỏ khô xưa, màu đỏ. Những người bạn bé nhỏ của tôi và tôi đang chơi đùa trong vựa chất cỏ khô. Một cái vựa khổng lồ, đầy cỏ khô giòn, thơm tho, từ cái chóp của nó, đứa trẻ bé nhất có thể với tới những cái đòn tay. Trong những cái chuồng phía dưới, là những con vật của nông trại. Đây là Jerry, khó bảo, xấu xí, đang nhai răng rắc những hạt lúa mạch của nó giống như một kẻ yếm thế đích thực, quyết định rằng thức ăn của nó không ngon – ít nhất, không ngon như ý nó. Một lần nữa, tôi sờ vào Brownie, bé nhỏ, háo hức, biết ơn, sẵn sàng rời bỏ món cỏ khô ngon lành nhất để đổi lấy một cái vỗ nhẹ, rướn cái cổ mảnh mai, xinh đẹp của nó, để nhận lấy một cái vuốt ve. Đứng gần đó là Quý bà Belle [25], với cái mõm dễ thương ươn ướt, đang lười biếng chiết xuất chất bổ dưỡng từ cỏ đuôi mèo và cây móng bò, và mơ về những đồng cỏ rậm tháng Sáu và những dòng suối thì thầm.

Khứu giác đã nói cho tôi biết một cơn bão đang đến, nhiều giờ trước khi có bất cứ dấu hiệu nào của nó hiện ra. Tôi nhận thấy trước hết, một sự phập phồng của sự chờ đợi, một cái run rẩy nhẹ, một sự tập trung trong mũi tôi. Khi cơn bão đến gần hơn, thì mũi tôi giãn ra tốt hơn để tiếp nhận cơn lụt của những mùi từ mặt đất, mà có vẻ như gia bội và lan rộng ra, cho đến khi tôi cảm nhận những hạt mưa chạm vào má tôi. Khi cơn bão qua đi, rút lui mỗi lúc một xa hơn, thì những cái mùi phai dần đi, trở thành nhẹ hơn, và mất hẳn ở phía bên kia chấn song của không gian.

Qua mùi, tôi biết cái nhà mà tôi bước vào thuộc loại nào. Tôi đã nhận ra một ngôi nhà vùng quê, kiểu cổ, bởi vì nó có nhiều tầng mùi, để lại bởi nhiều gia đình nối tiếp nhau – mùi của thảo mộc, và của chăn màn, quần áo…

Vào buổi chiều tối yên tĩnh, có ít rung động hơn so với ban ngày, và lúc bấy giờ, tôi nương dựa phần lớn vào mùi. Mùi lưu huỳnh của một cây diêm, cho tôi biết những cây đèn đang được thắp. Sau đó, tôi ghi nhận cái dấu vết chập chờn của cái mùi bay thoáng qua và biến mất. Đó là tín hiệu giới nghiêm; điện bị cúp vào ban đêm.

Ở ngoài trời, tôi ý thức được sự vật nhờ có mùi và sự xúc chạm với mặt đất mà chúng ta giẫm lên và những nơi mà chúng ta đi qua. Đôi khi, khi không có gió, thì những cái mùi tạo thành nhóm, đến nỗi tôi biết cái tính chất của vùng quê, và có thể nhận ra một cánh đồng cỏ, một cửa tiệm vùng quê, một khu vườn, một vựa lúa, một rừng thông, một nông trang với những cửa sổ mở.

Hôm kia, tôi đi bộ về phía một khu rừng quen thuộc. Bỗng nhiên, một mùi khó chịu khiến cho tôi dừng lại, hoảng sợ. Theo sau là một rung chuyển đặc biệt, đều đặn, rồi có tiếng sấm rền nặng nề. Tôi hiểu cái mùi và cái rung chuyển này quá rõ. Những cái cây đang bị đốn xuống. Chúng tôi trèo lên bức tường đá, sang phía trái. Nó tiếp giáp với khu rừng mà tôi đã yêu mến quá lâu, đến nỗi nó dường như là vật sở hữu của riêng tôi. Nhưng hôm nay, một luồng không khí xa lạ và và một cơn bộc phát bất thường của mặt trời nói cho tôi biết rằng, những người “bạn cây” của tôi đã ra đi. Nơi đó trống rỗng, giống như một căn nhà bị bỏ hoang. Tôi dang tay ra. Nơi mà trước đây là những cây thông vững chãi, to lớn, xinh đẹp, thơm tho, thì bàn tay tôi chạm vào những gốc cây ươn ướt, xù xì. Nằm xung quanh, là những cành gãy, giống như bộ gạc của con nai bị thương. Mạt cưa thơm, chất đống, xoay vòng và rơi rụng xung quanh tôi. Một sự oán hận tự phát, xẹt qua tôi trước sự hủy diệt tàn nhẫn cái đẹp mà tôi yêu quý. Nhưng thiên nhiên không có sự giận dữ, sự oán hận. Không khí vẫn tràn đầy những cái mùi của sự sống và của sự hủy diệt, bởi vì sự chết song hành với với sự tăng trưởng, mãi mãi chăm lo cho sự sống, vốn thống trị tất cả.[26] Mặt trời vẫn chiếu sáng như bao giờ, và những cơn gió hoành hành qua những khoảng không gian vừa mới mở ra. Tôi biết rằng, một khu rừng mới sẽ lại mọc lên tại địa điểm của khu rừng cũ, cũng xinh đẹp và từ ái như vậy.

Xúc giác thì lâu bền và xác định. Nhưng mùi thì rẽ hướng và phù du, thay đổi về sắc độ, mức độ, và địa điểm. Có một cái gì đó khác trong mùi mà cho tôi một cảm thức về khoảng cách. Tôi sẽ gọi nó là chân trời – cái đường thẳng nơi mà mùi và trí tưởng tượng gặp nhau tại mức giới hạn xa nhất của khứu giác.

Khứu giác cho tôi nhiều ý tưởng hơn xúc giác hay vị giác, về cái thể cách mà trong đó thị giác hay thính giác thường thực hiện những chức năng của chúng. Xúc giác có vẻ như “cư ngụ” trong vật thể được sờ vào, bởi vì có một sự tiếp xúc với những bề mặt. Trong khứu giác, không có khái niệm về sự chạm nổi [27], và mùi có vẻ như không “cư ngụ” trong sự vật được ngửi thấy, nhưng ở nơi giác quan. Bởi vì tôi ngửi thấy một cái cây ở đằng xa, nên tôi có thể hiểu được rằng, người ta thấy nó mà không chạm vào nó. Tôi không thấy khó hiểu về sự kiện rằng, người ta tiếp nhận nó như một hình ảnh trên võng mô của mình mà không có “hình nổi.”Tự thân chúng, những cái mùi không gợi lên cái gì cả. Tôi phải học bằng liên tưởng để phán đoán chúng về khoảng cách, nơi chốn, và về những hành động hay cái môi trường quen thường đối với chúng, như người ta bảo tôi rằng, người ta phán đoán từ màu sắc, ánh sáng, và âm thanh.

Từ những cái mùi xông lên, tôi học hỏi nhiều về những con người. Tôi thường biết công việc mà họ đang làm. Những mùi của gỗ, sắt, chất sơn, và thuốc men bám vào y phục của những người làm việc với chúng. Như thế, tôi có thể phân biệt người thợ mộc với người thợ đồ sắt, người họa sĩ với người thợ nề, hay nhà hóa học.

Khi một người di chuyển nhanh từ nơi này sang một nơi khác, tôi có một ấn tượng mùi về cái nơi mà anh ta đã ở – nhà bếp, khu vườn, hay phòng của bệnh nhân. Tôi có những ý tưởng thú vị về sự tươi mát và sự dễ chịu từ mùi của xà phòng, y phục sạch, những chất liệu len hay lụa, và bao tay.

Quả thực, tôi không có cái khứu giác đánh hơi được mọi sự của con chó săn hay con dã thú. Không ai ngoài người què và người mù cần phải sợ kỹ năng theo đuổi của tôi; bởi vì ngoài nước, những dấu vết quá thời, những lối đi giao nhau, còn có nhiều vật khác khiến cho tôi phán đoán sai lầm. Tuy nhiên, những cái mùi của con người thì đa dạng và có thể nhận ra, như những bàn tay và những khuôn mặt. Cái mùi thân thương của những người tôi yêu mến thì quá xác định, không thể nhầm lẫn, đến nỗi không gì có thể hoàn toàn xóa bỏ chúng. Tôi nghĩ rằng, nếu gặp lại một người bạn thân thiết sau nhiều năm xa cách, cho dẫu tại châu Phi, thì tôi sẽ nhận ra cái mùi của người ấy ngay lập tức – cũng nhanh chóng như con chó của tôi có thể.

Một lần, cách đây đã lâu, trong một nhà ga xe lửa đông đúc, một quý bà hôn tôi khi bà đi vội vàng ngang qua. Tôi đã không sờ vào, thậm chí cái váy của bà. Nhưng bà để lại một mùi hương với nụ hôn của bà, nó cho tôi một “thoáng nhìn” về bà. Nhiều năm đã trôi qua kể từ khi bà hôn tôi. Nhưng cái mùi của bà vẫn còn tươi mới trong trí nhớ tôi.

Thật khó mà diễn tả thành lời cái mùi cá nhân, khó nắm bắt. Dường như không có vốn từ thỏa đáng về những cái mùi, và tôi phải dùng ẩn dụ và từ ngữ phỏng chừng.

Một số người có một cái mùi mơ hồ, hư hư thực thực, mà thoảng bay, giễu cợt mọi nỗ lực để nhận diện nó. Nó là con “ma trơi” của kinh nghiệm về khứu giác của tôi. Đôi khi, tôi gặp một người thiếu một cái mùi cá nhân rõ rệt, và tôi hiếm khi thấy một người như thế mà lại sống động hay thú vị. Mặt khác, một người có một cái mùi cay nồng thường sở hữu sức sống, năng lượng lớn và khí lực [lớn] của tâm trí.

Thường thường, những cái mùi của nam giới, thì mạnh mẽ hơn, sống động hơn, và đa dạng hơn của phụ nữ. Trong cái mùi của những người trẻ, có một cái gì “sơ nguyên” như của lửa, cơn bão, và biển mặn. Nó phập phồng với sự lạc quan và mơ ước. Nó gợi lên mọi vật mạnh mẽ, đẹp và vui sướng, và cho tôi một cảm thức về sự hạnh phúc thể lý. Tôi tự hỏi, liệu những người khác có quan sát thấy rằng, mọi hài nhi có cùng một mùi – tinh khiết, giản dị, không thể giải mã, bởi vì nhân cách của chúng chưa phát triển. Mãi cho đến khi chúng lên 6 hay 7 tuổi, thì chúng mới bắt đầu có những cái mùi cá nhân tri giác được. Những cái này phát triển và chín muồi cùng với những năng lực tâm thần và thể xác của chúng.

Những gì mà tôi đã viết về mùi, nhất là mùi của con người, có lẽ sẽ bị xem như là cái tình cảm “bất thường” của một kẻ không có ý tưởng nào về “thế giới của thực tại và cái đẹp mà con mắt tri giác.”

Có những người mù màu, những người điếc về âm thanh. Phần lớn người ta đều “mù và điếc” về mùi. Chúng ta không thể kết án một tác phẩm âm nhạc dựa trên bằng chứng của một cái tai vốn không thể phân biệt một hợp âm này với một hợp âm khác, hay đánh giá một bức họa bằng cái phán quyết của một nhà phê bình bị mù màu. Những cảm giác về mùi vốn thông báo, làm hưng phấn và nới rộng đời tôi, chúng không bớt thú vị, chỉ vì lời phát biểu của một nhà phê bình nào đó, ông ta đã đi trên lối đi rộng rãi, rực rỡ của thị giác, nhưng không trau dồi khứu giác. Nếu không có những cảm giác “e lệ,”[shy] thoáng qua, – thường khi không quan sát được, và sự chắc chắn mà vị giác, khứu giác và xúc giác đã cho tôi – thì tôi buộc phải “thủ đắc” quan niệm của tôi về vũ trụ hoàn toàn từ những người khác. Tôi sẽ thiếu đi cái “thuật giả kim” [28] mà nhờ nó, tôi đưa vào thế giới của tôi ánh sáng, màu sắc, và tia lửa của Prometheus. Cái thực tại được tri giác bằng giác quan, vốn đan kết và nâng đỡ mọi sự quờ quạng của trí tưởng tượng của tôi, sẽ bị vỡ nát. Mặt đất vững chắc sẽ chảy tan từ dưới hai bàn chân tôi và tự tản mác trong không gian.Những vật thể thân yêu với hai bàn tay tôi, sẽ trở nên những vật chết, không hình thù, và tôi sẽ bước đi giữa chúng như giữa những con ma vô hình.
 

____

[25] Lady Belle. Đây là con chó của gia đình Helen Keller.

[26] Tuy bị mù và điếc, nhưng nhờ có xúc giác, mà tác giả đã có được một “cái nhìn” khái quát và sâu sắc biết bao !

[27] Relievo.

[28] Alchemy: Thuật giả kim; Sự biến đổi bí ẩn
 

 

CHƯƠNG VII

GIÁ TRỊ TƯƠNG ĐỐI CỦA NHỮNG GIÁC QUAN


          Một lần, tôi bị mất cảm thức về mùi và vị trong vài hôm. Có vẻ như là khó tin, cái sự cách ly hoàn toàn khỏi mùi : hít vào không khí, và không quan sát thấy một cái mùi nào cả. Rất có thể, cái cảm nhận đó thì tương tự, tuy nhỏ hơn đề cấp độ, với cảm nhận của một người lần đầu tiên bị mất thị giác và không thể mong đợi thấy lại ánh sáng bất cứ ngày nào, giây phút nào. Tôi biết, một lúc nào đó, tôi sẽ lại có thể ngửi. Tuy nhiên, sau khi bị mất cảm giác [về mùi và vị], thì một nỗi cô đơn bò qua tôi, bao la như cái bầu không khí mà vô số những cái mùi của nó, tôi đã không ngửi thấy. Những cảm giác thú vị đa dạng mà khứu giác đã cho tôi, trở thành, trong một thời gian, những hồi ức đầy nuối tiếc. Khi tôi phục hồi hai giác quan bị mất, trái tim tôi nhảy nhót với nỗi vui mừng. Nó là một cái xúc chạm đẹp đẽ, kịch tính mà Hans Andersen đem lại cho câu chuyện về Kay và Gerda trong đoạn nói về những bông hoa. Kay, người mà cái gương thần của mụ phù thủ độc ác đã làm cho đui mù trước tình yêu con người, vụt chạy khỏi nhà một cách dữ tợn, khi anh ta phát hiện rằng, những bông hồng đã mất đi cái hương thơm của chúng.

Việc bị mất khứu giác trong vài ngày, cho tôi một ý tưởng rõ ràng hơn, về việc bị mù đột ngột, một cách vô phương cứu chữa. Với một chút nhỏ bé của trí tưởng tượng, tôi biết rồi sẽ ra sao, khi bức màn lớn bỗng nhiên che khuất ánh sáng của ngày, những ngôi sao, và chính bầu trời. Tôi thấy đôi mắt của người mù nhướng lên tìm ánh sáng, khi anh ta sợ hãi cố sức bước đi vòng quanh, cho đến khi cái trống không bất biến trải ra khắp nơi phía trước anh ta, đóng lên ý thức anh ta con dấu của bóng tối.

Việc tạm thời bị mất khứu giác cũng đã chứng minh cho tôi rằng, sự vắng mặt của khứu giác không làm cùn nhụt những quan năng tâm thần và không bóp méo cái nhìn của người ta về thế giới, và do vậy, tôi lý luận rằng, sự mù và điếc không làm hư hỏng cái trật tự nội tại của trí năng. Tôi biết rằng, nếu không có mùi nào cho tôi, thì tôi vẫn sẽ sở hữu một phần đáng kể của thế giới. Những cái mới mẻ, những cái ngạc nhiên sẽ dồi dào, và những cuộc phiêu lưu sẽ gia tăng trong bóng tối.

Trong sự phân loại của tôi về những giác quan, thì khứu giác hơi thấp hơn thính giác một chút, và xúc giác, thì cao hơn thị giác rất nhiều. [30] Tôi phát hiện rằng, những họa sĩ và những triết gia đồng ý với tôi về điều này. Diderot nói:

“Tôi thấy rằng, trong số những giác quan, thì con mắt là hời hợt nhất, cái tai là kiêu ngạo nhất, khứu giác là ưa khoái lạc nhất, vị giác là “mê tín” và bốc đồng nhất, xúc giác là sâu xa và có tính triết học nhất.”

Một người bạn mà tôi chưa bao giờ gặp, gửi cho tôi một đoạn trích dẫn từ tác phẩm Renaissance in Italy của Symonds:

Lorenzo Ghiberti, sau khi mô tả một tác phẩm điêu khắc cổ đại mà ông thấy tại Rome, nói thêm: “Diễn tả sự hoàn hảo của sự học vấn, sự điêu luyện và nghệ thuật được phô bày trong nó, là vượt quá sức mạnh của ngôn ngữ. Những cái đẹp tuyệt vời hơn của nó, không thể khám phá bởi thị giác, nhưng chỉ bởi sự xúc chạm của bàn tay lướt qua nó.” Về một bức tượng cẩm thạch cổ điển khác tại Padua, ông nói: “Nó có rất nhiều cái đẹp đáng yêu, mà một mình đôi mắt không thể hiểu thấu, dù bởi ánh sáng mạnh hay yếu; chỉ có bàn tay, xúc chạm chúng, mới có thể phát hiện ra chúng.”

Hãy chìa tay ra để cảm nhận cái sự lộng lẫy của những tia mặt trời. Hãy ép những bông hoa mềm mại lên má bạn, và cảm nhận sự duyên dáng trong hình thể của chúng, sự uyển chuyển tinh tế của hình dáng, sự mềm mại và sự tươi mát của chúng. Hãy để cho khuôn mặt bạn phô ra trước những cơn lụt của làn không khí quét qua bầu trời, “hãy hít vào những ngụm của không gian,” hãy kinh ngạc, kinh ngạc trước cái hoạt động không mệt mỏi của gió. Hãy chất nốt nhạc này trên nốt nhạc kia, cái âm nhạc vô hạn vốn tuôn chảy không ngừng nghỉ tới linh hồn bạn từ những vang dội có thể xúc chạm của một ngàn cành cây và của những khối nước đang đổ xuống. Làm thế nào mà thế giới có thể bị héo úa khi xúc giác, cái giác quan sâu xa nhất này về mặt cảm xúc, vẫn trung thành với sự phục vụ của nó? Tôi chắc rằng, nếu một bà tiên ra lệnh cho tôi chọn giữa thị giác và xúc giác, thì tôi sẽ không lìa bỏ sự tiếp xúc ấm áp, yêu dấu của những bàn tay con người, hay cái giàu có của hình thể, cái cao thượng và phong phú vốn ép vào lòng bàn tay tôi.


____

[29] Đối với một người mù và điếc, thì đây là một phát hiện rất quan trọng.

[30] Có đúng như vậy không? Đây là vấn đề lý thú cho các nhà khoa học.

CHƯƠNG VIII

THẾ GIỚI 5 GIÁC QUAN


          Những nhà thơ đã dạy chúng ta, đêm thì đầy những kỳ diệu như thế nào; và cái đêm của sự mù lòa, cũng có những cái tuyệt vời của nó. Cái bóng tối duy nhất không ánh sáng, là đêm của sự ngu dốt và sự vô cảm [31]. Chúng ta, người mù và người sáng, khác nhau, không phải trong giác quan của chúng ta, mà trong việc chúng ta sử dụng chúng – trong cái trí tưởng tượng và lòng can đảm, mà với chúng, chúng ta tìm kiếm sự khôn ngoan vượt quá những giác quan của mình.

Dạy kẻ ngu dốt suy nghĩ, thì khó hơn dạy một người mù thông minh thấy cái uy nghi của thác Niagara. Tôi đã bước đi với những người sáng mắt, nhưng họ không thấy gì trong rừng, trên biển, hay trên bầu trời; không thấy gì trên những đường phố, không thấy gì trong những cuốn sách. Thật là một sự thấy giả tạo, vô hồn! Thật là, sẽ tốt hơn rất nhiều, nếu mãi mãi đi thuyền trong đêm của sự mù lòa, với lương tri, sự cảm nhận và tâm trí, hơn là bằng lòng với sự thấy theo cách đó. Họ có hoàng hôn, bầu trời buổi sáng, màu tím sẫm của những ngọn đồi xa, thế nhưng, linh hồn họ du hành xuyên qua cái thế giới kỳ diệu này với một cái nhìn cằn cỗi.

Tai họa của người mù thì bao la, không cứu chữa được. Nhưng nó không lấy đi của họ những cái quan trọng – sự ân cần, tình bạn, sự hài hước, trí tưởng tượng, sự minh triết. Chính cái ý chí nội tại bí mật, mới là cái kiểm soát số phận của mỗi người. Chúng ta [những người mù] có năng lực để muốn trở thành người tốt, để yêu thương và để được yêu thương, để suy nghĩ cho đến cuối, rằng chúng ta có thể khôn ngoan hơn. Chúng ta sở hữu những sức mạnh phát sinh từ linh hồn, ngang hàng với tất cả những đứa con của Thượng Đế. Cũng do vậy, chúng ta thấy những tia chớp và nghe những tiếng sấm của Sinai. Chúng ta cũng đi qua hoang địa và nơi cô quạnh mà sẽ trở thành những nơi chốn vui tươi đối với chúng ta, và khi chúng ta đi qua, Thượng Đế làm cho sa mạc nở hoa giống như bông hồng. Chúng ta nữa, đi vào vùng Đất Hứa để sở hữu những kho báu của linh hồn, sự trường tồn vô hình của sự sống và thiên nhiên.

Kẻ mù lòa trong linh hồn đối mặt với cái bất tri [32] và đương đầu với nó, và thế giới của người sáng làm cái gì khác? Anh ta có trí tưởng tượng, sự đồng cảm, nhân tính, và những hiện hữu không thể nhổ rễ này thúc bách anh ta chia sẻ, bởi một loại “ủy quyền,” một giác quan mà anh ta không có. Khi anh ta gặp những thuật ngữ về màu sắc, ánh sáng, diện mạo, anh ta phỏng đoán, tìm ra ý nghĩa của chúng bằng phương pháp loại suy, từ những giác quan mà anh ta có. Tôi tự nhiên có khuynh hướng suy nghĩ, lý luận, rút ra những suy diễn như thể tôi có 5 giác quan thay vì chỉ có 3. Khuynh hướng này thì vượt quá sự kiểm soát của tôi; nó phi ý chí, quen thường, có tính bản năng.

Tôi không thể ép buộc tâm trí tôi phải nói “tôi cảm thấy,” thay vì “tôi thấy” hoặc “tôi nghe.” Khi tôi tìm kiếm những từ chính xác để mô tả những sự vật bên ngoài vốn tác động tới những giác quan thể lý của tôi, thì cái từ “cảm thấy,” xét cho cùng, cũng có tính quy ước như từ “thấy” và “nghe.” Khi một người mất đi một cái cẳng chân, thì bộ não vẫn tiếp tục thúc bách anh ta sử dụng cái mà anh ta không có nhưng vẫn cảm thấy nó ở đó. Phải chăng, có thể là, bộ não được cấu tạo theo một thể cách nào đó, khiến cho nó sẽ tiếp tục cái hoạt động vốn kích hoạt thị giác và thính giác, sau khi con mắt và cái tai đã bị hủy diệt?

Có vẻ như, 5 giác quan sẽ làm việc một cách thông minh cùng nhau, chỉ khi nào chúng cư ngụ trong cùng một cơ thể. Thế nhưng, khi 2 hay 3 giác quan bị mất đi, thì chúng vươn ra tìm trong một cơ thể khác những cái bổ sung cho chúng, và phát hiện rằng, chúng liên kết một cách dễ dàng với cái nhóm [giác quan] được vay mượn. Khi bàn tay tôi đau nhức vì sờ quá nhiều, tôi tìm thấy sự nhẹ nhõm trong thị giác của một người khác. Khi tâm trí tôi tụt lại phía sau, mệt mỏi với sự rán sức để có những ý tưởng về cái thế giới tối tăm, không âm nhạc, không màu sắc, thì nó phục hồi sự đàn hồi của nó ngay khi tôi quay sang sức mạnh của một tâm trí khác vốn tri giác được ánh sáng, sự hài hòa, màu sắc. Do vậy, nếu 5 giác qua không tách rời khỏi nhau, thì cuộc đời của người điếc-mù cũng không thể bị cắt lìa khỏi cuộc đời của người sáng mắt và người “sáng tai.”

Người mù-điếc có thể bị nhấn chìm và lại bị nhấn chìm giống như người thợ lặn của Schiller vào trong những đại dương của cái bất tri. Nhưng, không giống như vị anh hùng xấu số, anh ta trở lại, đắc thắng, nắm bắt cái chân lý vô giá rằng, tâm trí anh ta không bị tàn phế, không bị giới hạn bởi sự khiếm khuyết của những giác quan. Thế giới của con mắt và cái tai, đối với anh ta, trở thành một đề tài có tầm quan trọng lớn. Anh ta chộp lấy mọi từ chỉ thị giác và thính giác, bởi vì những cảm giác của anh ta ép buộc điều ấy. Tuy anh ta không có chứng cứ xúc giác về ánh sáng và màu sắc, anh ta nghiên cứu chúng không sợ hãi, tin rằng, toàn bộ chân lý khả tri đối với con người, thì mở ra với anh ta. Anh ta ở trong một vị thế tương tự như vị thế của một nhà thiên văn học kiên trì, kiên nhẫn, ngắm một vì sao đêm này sang đêm nọ, trong nhiều năm, và cảm thấy được đền đáp, nếu anh ta khám phá một sự kiện duy nhất về nó. Người câm-mù với những sự vật ngoại tại bình thường, và người điếc-mù với cái vũ trụ vô lượng, cả hai đều bị giới hạn bởi thời gian và không gian; nhưng họ đã làm một thỏa ước : tận dụng những giới hạn của họ.

Khối lượng kiến thức về thế giới là một sự xây dựng của trí tưởng tượng. Lịch sử chỉ là một phương cách của trí tưởng tượng, nó tái hiện lại những nền văn minh đã không còn xuất hiện trên trái đất. Vài trong số những khám phá có ý nghĩa nhất trong khoa học hiện đại, đã dựa trên cái trí tưởng tượng của những người vốn không có kiến thức chính xác, cũng như [không có] những dụng cụ chính xác để chứng minh cho những niềm tin của họ.

Nếu thiên văn học đã không luôn đi trước kính thiên văn, thì không ai sẽ từng nghĩ rằng đáng làm một cái kính thiên văn. Có phát minh vĩ đại nào mà không hiện hữu rất lâu trong tâm trí của nhà phát minh, trước khi ông ta cho nó một hình dáng có thể sờ mó được?

Một thí dụ tuyệt vời hơn về kiến thức tưởng tượng [33], là tính “thống nhất,” [34] mà với nó, nhà triết học khởi đầu sự nghiên cứu của họ về thế giới. Họ không bao giờ có thể tri giác thế giới trong cái thực tại toàn bộ của nó. Thế nhưng, trí tưởng tượng của họ – nó tự cho phép mình sai lầm, và xem sự thiếu chắc chắn như là không đáng kể – đã chỉ đường cho kiến thức thực nghiệm.

Trong những khoảnh khắc sáng tạo cao vời nhất của mình, nhà thơ lớn, nhạc sĩ lớn ngừng sử dụng những dụng cụ thô sơ của thị giác và thính giác. Họ bứt mình ra khỏi những cái neo giác quan, bay lên trên những đôi cánh mạnh mẽ của linh hồn [35], trên những ngọn đồi sương mù và những thung lũng tối tăm của chúng ta, vào trong cõi miền của ánh sáng, âm nhạc, và trí năng.

Con mắt nào đã thấy những vinh quang của Jerusalem Mới ?[36] Cái tai nào đã nghe âm nhạc của những tầng trời, những bước đi của thời gian, những cú đánh của sự ngẫu nhiên và của sự chết? Con người không nghe với cái giác quan thể lý của họ, cái xôn xao của những giọng nói ngọt ngào trên những ngọn đồi của Judea, cũng không thấy cái linh ảnh về thiên đường; nhưng hàng triệu người đã lắng nghe cái thông điệp tâm linh đó qua nhiều thời đại.

Sự mù của chúng ta không làm thay đổi chút nào cái diễn tiến của những thực tại nội tại. Điều đó đúng với chúng ta, bởi vì cái thế giới đẹp nhất luôn luôn bước vào [chúng ta] qua trí tưởng tượng. Nếu bạn mong trở thành một cái gì đó mà bạn không là – một cái gì đó đẹp đẽ, cao thượng, tốt lành, – thì bạn hãy nhắm đôi mắt lại, và trong một khoảnh khắc mơ màng, bạn là cái mà bạn mong ước trở thành.


____

[31]  Rất sâu sắc và rất đúng ! 

[32]  The unknown: Cái bất tri; cái vị tri. 

[33]  Imaginative knowledge.

[34]  Unity.

[35]  Spirit. Tác giả nhắc lại sự ưu việt của linh hồn so với sự hạn hẹp của những giác quan.

[36]  The New Jerusalem.

CHƯƠNG IX

NHỮNG TÂM ẢNH [37]


          Theo mọi nghệ thuật, mọi ý tưởng mạch lạc của con người, chúng ta biết rằng, trật tự, sự cân đối, hình dáng, là những yếu tố cốt tủy của cái đẹp. Ta cũng biết, trật tự, sự cân xứng, và hình dáng, thì sờ mó được. Nhưng cái đẹp và tiết nhịp thì sâu xa hơn giác quan. Chúng giống như tình yêu và đức tin. Chúng khởi phát từ một quá trình tâm linh, ít bị lệ thuộc vào những cảm giác.

Trật tự, sự cân xứng, và hình dáng không thể làm phát sinh trong tâm trí cái ý tưởng trừu tượng về cái đẹp, trừ phi đã sẵn có một linh hồn thông minh để thổi sự sống vào trong những nguyên tố [38]. Nhiều người, có đôi mắt hoàn hảo, nhưng bị mù trong những tri giác của họ. Nhiều người, có đôi tai hoàn hảo, nhưng bị điếc về mặt cảm xúc. Thế nhưng, đây chính là những người dám đặt giới hạn cho “tầm nhìn” của những người, mà tuy thiếu một hay hai giác quan, họ có ý chí, linh hồn, đam mê, trí tưởng tượng. Đức tin là một sự giễu cợt nếu nó không dạy chúng ta rằng, chúng ta có thể xây dựng một thế giới hoàn chỉnh hơn và đẹp hơn thế giới vật chất. Và tôi, nữa, có thể xây dựng cái thế giới tốt hơn của mình, bởi vì tôi là một đứa con của Thượng Đế, một kẻ thừa kế một mảnh của cái Linh Hồn vốn sáng tạo ra mọi thế giới.

Có một sự hòa điệu của mọi sự vật, một sự pha trộn của tất cả những gì mà chúng ta biết về thế giới vật chất và thế giới tâm linh. Nó bao gồm, với tôi, tất cả mọi ấn tượng, rung động, nhiệt lượng, cái lạnh, mùi, vị, và những cảm giác mà những cái này truyền đạt tới tâm trí, được tổng hợp một cách vô hạn, hòa quyện với những ý tưởng và kiến thức đã thủ đắc. Không có kẻ nào thận trọng trong suy nghĩ sẽ tin rằng, cái mà tôi đã nói về ý nghĩa của những bước chân, là đúng một cách chính xác về những rung chuyển và những chấn động đơn thuần. Nó là một dữ kiện về cái “tâm linh” trong những nguyên tố tự nhiên, những tiếng đập sờ mó được nào đó, và một kiến thức được thủ đắc về những thói quen thể lý và những nét đạo đức của những con người có mức tiến hóa cao. Những cái mùi sẽ có ý nghĩa gì, nếu chúng không được liên kết với thời gian của năm, cái nơi mà tôi sống, và những người mà tôi biết?

Kết quả của một pha trộn như thế, đôi khi tạo ra một chuỗi những âm thanh chói tai, chứ không phải là một là một sự hòa điệu. Đối với những ai còn nghi hoặc, thì tôi sẽ nói rằng, tôi đã cảm nhận một nhạc sĩ lên dây cây đàn vĩ cầm của anh ta, rằng tôi đã đọc về một bản giao hưởng, và do vậy, tôi có ý thức, cân nhắc khi dùng cái ẩn dụ của mình. Nhưng với sự rèn luyện và kinh nghiệm, thì những quan năng thu góp những nốt nhạc “lạc đường” và kết hợp chúng thành một toàn bộ đầy đủ, hài hòa. Nếu kẻ nào thành tựu công việc này, thì đó là kẻ có năng khiếu bẩm sinh đặc biệt, và tôi gọi anh ta là một nhà thơ. Những người mù và điếc không phải là những nhà thơ lớn, đúng vậy. Thế nhưng, thỉnh thoảng bạn tìm thấy một người điếc và mù mà họ đạt tới vương quốc cái đẹp của mình.

Tôi có một tập thơ nhỏ của một người điếc-mù, Bertha Galeron. Thơ của bà có cái linh hoạt của tư tưởng. Khi thì dịu dàng và êm ái, khi thì đầy nỗi đam mê bi đát và cái hà khắc của số phận. Victor Hugo gọi bà là La Grande Voyante [40]. Bà đã viết dăm bảy vở kịch, hai trong số đó, đã được diễn tại Paris. Hàn Lâm Viện Pháp đã vinh danh tác phẩm của bà.

Những kỳ quan vô hạn của vũ trụ được phát lộ cho chúng ta, chính xác theo cái mức độ mà chúng ta có thể tiếp nhận chúng. Sự sắc bén của “cái nhìn” [41] của chúng ta không tùy thuộc vào số lượng bao nhiêu cái mà chúng ta có thể thấy, nhưng tùy thuộc vào cái mức độ mà ta cảm nhận [42]. Chỉ kiến thức không thôi, cũng không tạo ra cái đẹp. Thiên nhiên hát những bài ca tuyệt vời nhất của “bà” cho những ai yêu mến “bà.” Bà không phơi mở những bí mật của mình cho những ai chỉ đến để thỏa mãn cái ước muốn phân tích của họ, để thu thập những sự kiện, mà cho những ai thấy trong những hiện tượng đa dạng của “bà” những gợi ý về những tình cảm cao vời, tinh tế.

Phải chăng tôi không được dùng những tính từ như “tươi mát,” “lấp lánh,” “tối tăm,” và “ảm đạm”? Tôi đã đi dạo trên những cánh đồng vào buổi sáng sớm. Tôi đã cảm nhận một bụi hoa hồng nặng trĩu sương và hương thơm. Tôi đã cảm nhận những đường cong và sự duyên dáng của con mèo của tôi, khi nó đang nô đùa. Tôi đã biết cái điệu bộ dễ thương, e lệ của những đứa trẻ nhỏ. Tôi đã biết cái đối lập buồn bã của những cái này, một bức tranh rùng rợn, “thấy” được bằng xúc giác. Hãy nhớ rằng, đôi khi tôi đã đi bộ trên một con đường bụi bặm, xa như hai bàn chân tôi có thể đi. Bỗng nhiên, tại một chỗ rẽ đột xuất, tôi đã giẫm lên những cây cỏ dại cằn cỗi, và dang tay ra, tôi đã chạm vào một cái cây đẹp, bị một loài tầm gửi “hút máu” như một con ma cà rồng. Tôi đã sờ vào một con chim xinh đẹp mà đôi cánh mềm của nó cứng đơ, trái tim nhỏ bé của nó không còn đập nữa. Tôi đã khóc trước cái sự yếu ớt và sự dị dạng của một đứa trẻ – bị què, mù bẩm sinh, hoặc, tệ hơn nữa, bị bại não. Nếu tôi có thiên tài của Thomson, thì tôi cũng có thể mô tả “Thành phố của Đêm Hãi hùng” từ chỉ những cảm giác của xúc giác. Từ những tương phản không thể hòa giải, phải chăng, chúng ta không thể hình thành một ý tưởng về cái đẹp và biết chắc chắn khi nào chúng ta gặp sự đáng yêu?

Đây là một bài sonnet, cho thấy một cách hùng biện khả năng “nhìn thấy” của một người mù:

NÚI NÓI VỚI CÂY THÔNG

Nhà ngươi, vị quốc vương uy nghi của khu rừng,
Đứng ở nơi mà không cây leo dại nào dám bò lên,
Người ta gọi ngươi là lão trượng, và nói rằng ngươi đã đứng
một thế kỷ trên sườn dốc hiểm trở của ta;
Nhưng với ta, đời ngươi chỉ là một ngày,
Khi ta nhớ lại những sự vật mà ta đã thấy –
Những quốc vương của rừng mà đã qua đi
trên cái địa điểm, nơi mà lần đầu tiên ta thấy màu xanh của ngươi;
Bởi vì ta già hơn tuổi của con người,
hoặc mọi sinh vật trườn hay bò trên đất,
hoặc những con chim của không trung, hoặc những sinh vật của đại dương;
Ta là bản đề cương mờ nhạt đầu tiên của kế hoạch của Thượng đế:
Chỉ có biển cả không ngừng nghỉ
Và những ngôi sao vô hạn trên bầu trời, là già đối với ta
.
 

 

Tôi vui vì bạn tôi, ông Stedman biết bài thơ đó trong khi ông đang làm cuốn Tuyển Tập của ông; bởi vì, khi đã biết nó, thì một nhà thơ và nhà phê bình văn học xuất sắc không thể không cho nó một chỗ trong kho tàng của thi ca Mỹ. Nhà thơ, ông Clarence Hawkes, đã bị mù từ thời thơ ấu; thế nhưng, ông tìm thấy trong thiên nhiên những gợi ý về những kết hợp cho những bức tâm ảnh của mình. Từ kiến thức và những ấn tượng đến với ông, ông xây dựng một kiệt tác vốn “treo” trên những bức tường của tư tưởng ông. Và mọi linh hồn đích thực của thế giới bước vào ngôi nhà của nhà thơ.

Thật hiếm có một nhà thơ mà nghĩ về núi như là “bản đề cương mờ nhạt đầu tiên của kế hoạch của Thượng Đế.” Đó là cái tuyệt vời đích thực của bài thơ, và không phải là cái mà một người mù sẽ nói một cách quá tự tin về bầu trời và biển. Những ý tưởng của chúng tôi về bầu trời là một sự tích lũy của những thoáng nhìn của xúc giác, những ám chỉ văn học, và những quan sát của những người khác, với một sự pha trộn về cảm xúc của tất cả. Khuôn mặt tôi chỉ cảm nhận một phần nhỏ của bầu không khí; nhưng tôi đi xuyên qua không gian liên tục và cảm nhận làn không khí ở mọi điểm, mọi khoảnh khắc. Người ta cho tôi biết cái khoảng cách từ trái đất tới mặt trời, tới những hành tinh khác, và tới những định tinh. Tôi nhân lên một ngàn lần cái chiều cao và chiều rộng tối đa mà mà xúc giác của tôi cảm nhận được, và như thế, tôi có một cảm thức sâu xa về cái bao la của bầu trời [43].

Nếu bạn di chuyển tôi, một cách thường trực, qua nước, nước, không gì ngoài nước, thì bạn sẽ cho tôi cảm giác về sự cô độc, cái bao la của đại dương, vốn đổ đầy con mắt. Tôi đã từng ở trên một chiếc thuyền buồm nhỏ bé trên biển, khi con sóng thủy triều quét nó về phía bờ. Phải chăng tôi không hiểu cái văn ảnh của nhà thơ : “Màu xanh của mùa xuân chảy trào ra mặt đất giống như một cơn thủy triều” ? Tôi đã cảm nhận ngọn lửa của một cây nến chập chờn trong một làn gió nhẹ. Vậy thì, phải chăng tôi không thể nói: “Vô số những con đom đóm bay đó đây trong cỏ ướt sương, giống như những cây nến chập chờn”?

Nếu bạn kết hợp cái không gian vô tận của bầu không khí, hơi ấm của mặt trời, những đám mây được mô tả cho tôi, sự bứt mình thường xuyên qua đất của một con suối hay khoảng rộng của mặt hồ gợn sóng, sự nhấp nhô sờ mó được của những ngọn đồi – mà tôi nhớ lại khi tôi rời xa chúng, những cái cây cao ngất nghểu khi tôi dạo bước ngang qua chúng, cái phương hướng mà tôi cố giữ trong khi những người khác bảo cho tôi biết hướng của những phong cảnh khác nhau – thì bạn sẽ bắt đầu cảm thấy chắc chắn hơn về cái phong cảnh trong trí tưởng tượng của tôi. Cái giới hạn xa nhất mà ý tưởng của tôi sẽ đi tới với sự rõ ràng, là cái chân trời của tâm trí tôi. Từ cái chân trời này, tôi tưởng tượng ra cái chân trời mà con mắt đánh dấu để định vị.

Xúc giác không thể bắc cầu khoảng cách – nó chỉ thích hợp cho sự tiếp xúc với những bề mặt – nhưng ý tưởng nhảy qua cái vực sâu đó. Vì lý do này, tôi có thể sử dụng những từ mô tả những vật xa khỏi những giác quan của tôi. Tôi đã cảm thấy sự tròn trịa trong hình dáng mỏng manh của một hài nhi. Tôi có thể áp dụng cái tri giác này vào phong cảnh và những ngọn đồi xa xa.
 


____

[37]  Inward visions.

[38]  Elements.

[39]  Vision.

[40]  Nhà Thấu Thị Vĩ Đại.

[41]  Our vision.

[42]  Đây là một nhận xét rất sâu sắc. Do vậy, cần phân biệt số lượng và mức độ cảm thụ của những kinh nghiệm sống của mình.

CHƯƠNG X

NHỮNG LOẠI SUY TRONG TRI GIÁC GIÁC QUAN


          Tôi chưa sờ vào cái đường viền của một ngôi sao, hay cái vẻ huy hoàng của mặt trăng, nhưng tôi tin rằng, Thượng Đế đã đặt hai nguồn sáng đó trong tâm trí, cái lớn hơn để trị vì ban ngày, và cái nhỏ hơn, ban đêm, và nhờ chúng, tôi biết rằng, tôi có thể lái con thuyền của đời tôi, chắc chắn sẽ tới bến đỗ, như kẻ lái thuyền theo Sao Bắc Đẩu. Có lẽ mặt trời của tôi không chiếu sáng như mặt trời của bạn. Những màu sắc vốn làm huy hoàng thế giới của tôi – màu thiên thanh của bầu trời, màu xanh của những cánh đồng – có thể không tương ứng một cách chính xác với những màu sắc mà bạn hân hoan tận hưởng; tuy vậy, chúng vẫn là màu sắc đối với tôi. Mặt trời không chiếu sáng cho đôi mắt thể lý của tôi, tia chớp cũng không, những cái cây trở nên xanh vào mùa xuân cũng không; nhưng không vì thế mà chúng ngừng hiện hữu, cũng như cái phong cảnh không bị hủy diệt khi bạn quay lưng khỏi nó.

Tôi hiểu, như thế nào mà màu đỏ tươi có thể khác với màu đỏ thẫm, bởi vì tôi biết rằng, cái mùi của một trái cam không phải là mùi của một trái bưởi. Tôi cũng có thể biết rằng những màu có những sắc độ, và đoán đó là những sắc độ gì. Trong mùi và vị, có những biến thể không đáng kể; do vậy, tôi gọi chúng là những sắc độ. Có khoảng 6 bông hồng gần tôi. Tất cả chúng đều có mùi hương không thể nhầm lẫn của bông hồng; thế nhưng, cái mũi của tôi bảo tôi rằng, chúng không giống hệt nhau. Hoa hồng gốc Mỹ, thì khác với hoa hồng gốc Pháp. Những mùi của những loại cỏ nào đó, thực sự phai đi đối với khứu giác của tôi, như màu sắc nào đó phai đi với thị giác của bạn dưới mặt trời. Cái tươi mát của một bông hoa trong bàn tay tôi, thì tương tự như cái sự tươi mát mà tôi nếm trong một trái táo mới hái. Tôi sử dụng những cách loại suy như trên, để nới rộng những khái niệm của tôi về những màu. Vài loại suy mà tôi rút ra giữa những tính chất trong bề mặt và sự rung động, vị, và mùi, thì được rút ra bởi những người khác giữa thị giác, thính giác và xúc giác. Sự kiện này động viên tôi kiên trì, cố bắc cầu cái khoảng cách giữa con mắt và bàn tay.

Chắc chắn, sự loại suy này đưa tôi đi khá xa, đủ để đồng cảm với sự hân hoan mà đồng loại của tôi cảm thấy trong cái đẹp mà họ thấy, và cái sự hài hòa mà họ nghe. Mối quan hệ giữa nhân loại và tôi thì đáng gìn giữ, cho dẫu cái ý tưởng mà trên đó tôi đặt nền tảng, chứng tỏ là sai lầm.

Những rung động đẹp đẽ, êm ái hiện hữu cho xúc giác của tôi, dẫu rằng, chúng du hành xuyên qua những chất liệu khác hơn là không khí để đến tôi. Do vậy, tôi tưởng tượng ra những âm thanh êm ái, thú vị, và sự sắp xếp có tính nghệ thuật của chúng, được gọi là âm nhạc, và tôi nhớ rằng, chúng du hành xuyên qua không khí tới cái tai, chuyển tải những ấn tượng phần nào giống những ấn tượng của tôi. Tôi cũng biết, chúng là những giọng điệu gì, bởi vì, trong một giọng nói, chúng có thể được tri giác bằng xúc giác. Có sự khác biệt rất lớn về sức nóng giữa mặt trời, lửa, những bàn tay, và lông của thú vật; quả thực, đối với tôi, có một vật gọi là một “mặt trời lạnh.” Do vậy, tôi nghĩ về những biến thể của ánh sáng mà chạm vào con mắt, lạnh hay ấm, rõ ràng hay mờ nhạt, dịu nhẹ hay chói chang, nhưng luôn luôn là ánh sáng, và tôi tưởng tượng sự di chuyển của chúng xuyên qua không khí, tới một giác quan rộng lớn, thay vì tới một giác quan chật hẹp giống như xúc giác.

Từ kinh nghiệm mà tôi có với những giọng nói, tôi đoán, như thế nào mà con mắt phân biệt những sắc độ giữa ánh sáng. Trong khi tôi đọc môi của một phụ nữ có giọng soprano, tôi nhận thấy một âm thanh thấp hay vui mừng giữa một giọng nói cao, tuôn chảy. Khi tôi cảm thấy hai má nóng, tôi biết rằng tôi đỏ mặt. Tôi đã nói quá nhiều và đọc quá nhiều về những màu, đến nỗi, một cách tự phát, tôi gán những ý nghĩa cho chúng, hệt như mọi người gán những ý nghĩa nào đó cho những từ trừu tượng như hy vọng, chủ nghĩa duy tâm, độc thần luận, trí năng, mà không thể được biểu thị một cách thực sự bởi những vật hữu hình, nhưng được hiểu từ những loại suy giữa những khái niệm phi vật thể và những ý tưởng mà chúng đánh thức về những sự vật ngoại tại. Sức mạnh của liên tưởng thúc đẩy tôi nói rằng, màu trắng thì cao quý và tinh khiết, màu xanh thì dồi dào, sum suê, màu đỏ gợi lên tình yêu hay sự hổ thẹn hay sức mạnh. Không có màu sắc, hay cái tương đương của nó, thì cuộc sống đối với tôi sẽ tối tăm, cằn cỗi, một bóng tối bao la. [44]

Như thế, thông qua một quy luật nội tại của sự hoàn chỉnh, những ý tưởng của tôi không được phép không có màu sắc. Nó thúc đẩy tâm trí tôi tách rời màu sắc và âm thanh ra khỏi những sự vật. Từ khi được giáo dục, tôi luôn nhờ ai đó mô tả cho tôi những sự vật với những màu sắc và âm thanh của chúng – một người có những giác quan sắc bén và một cảm nhận về những cái quan trọng. Do vậy, tôi có thói quen nghĩ về những sự vật như là có màu sắc và âm vang . Thói quen giải thích một phần. Cái “giác quan linh hồn” [45] giải thích một phần khác. Bộ não với cấu trúc 5 giác quan của nó, khẳng định quyền của nó và giải thích phần còn lại. Dung nhiếp tất cả, sự nhất thể của thế giới đòi hỏi rằng, màu sắc phải được giữ lại trong nó, bất luận tôi có ý thức về nó hay không.

Thay vì bị “cấm cửa,” tôi tham gia vào nó bằng cách thảo luận nó, tưởng tượng nó, hạnh phúc trong sự hạnh phúc của những ai gần tôi [mà] nhìn thấy những màu sắc đáng yêu của hoàng hôn hay cầu vồng. Bàn tay tôi có phần chia của nó trong cái kiến thức phức hợp này, nhưng, đừng bao giờ quên rằng, với những ngón tay, tôi chỉ thấy một mảng rất nhỏ của một bề mặt, và rằng, tôi phải liên tục di chuyển bàn tay tôi qua nó, trước khi cái xúc chạm của tôi nắm bắt cái toàn bộ; tuy nhiên, hãy nhớ rằng, trí tưởng tượng của tôi không bị cột vào những điểm, những vị trí, và khoảng cách nhất định nào đó. Nó ráp mọi phần lại với nhau một cách đồng thời, như thể nó thấy hay biết thay vì cảm thấy chúng. Mặc dù mỗi lần tôi chỉ cảm thấy một phần nhỏ về con ngựa của tôi – nó bực bội và không chịu để cho bàn tay tôi khám phá – thế nhưng, bởi vì tôi đã nhiều lần sờ vào bắp chân sau, mõm, vó và bờm của nó, tôi có thể thấy những con ngựa của thần Apollo phi nước đại qua bầu trời.

Với một sức mạnh năng động như thế, thì ý tưởng của tôi không thể mơ hồ. Nó phải vững vàng, xác định. Đây thực sự là một hệ quả tất yếu của chân lý triết học rằng, thế giới thực chỉ hiện hữu cho tâm trí.

Có nghĩa là, tôi không bao giờ có thể sờ vào thế giới trong cái toàn bộ của nó; quả thực, tôi sờ vào nó ít hơn, so với cái phần mà những người khác thấy hay nghe. Nhưng mọi sinh vật, mọi vật thể đi vào trong bộ não tôi một cách hoàn chỉnh, và ở đó, chúng chiếm cùng một trương độ mà chúng chiếm trong không gian vật chất. […] Hãy đơn cử một bông hồng ở quá xa, tôi không ngửi thấy nó. Ngay lập tức, một mùi hương len lén đi vào mũi tôi, một hình thể ép vào lòng bàn tay tôi trong vẻ mềm mại của nó, với những cánh hoa tròn trịa, những mép lá hơi quăn, thân lá cong, những chiếc lá rủ xuống. Khi tôi muốn nhìn thế giới như một toàn thể, thì nó vụt hiện lên – con người, dã thú, chim, loài bò sát, ruồi, bầu trời, đại dương, núi non, đồng bằng, đá tảng, sỏi. Hơi ấm của sự sống, cái thực tại của sự sáng tạo ở khắp nơi – sự phập phồng của bàn tay con người, vẻ bóng láng của lông thú, những khúc uốn lượn uyển chuyển của những cơ thể dài, cái tiếng vo vo buồn buồn của côn trùng, cái lởm chởm của những dốc cao khi tôi leo lên chúng, sự di chuyển và tiếng ầm ầm của những con sóng lên những tảng đá.

Thật kỳ lạ, dù tôi cố mấy đi chăng nữa, thì tôi cũng không thể buộc xúc giác của tôi tiếp xúc với cái vũ trụ này trong mọi hướng. Cái khoảnh khắc mà tôi cố sức, cái toàn bộ biến đi, chỉ còn lại những vật thể nhỏ bé, hay những mảng hẹp của một bề mặt, chỉ là những dấu hiệu xúc giác, một sự hỗn độn của những sự vật tản mác một cách ngẫu nhiên. Không có sự phấn chấn, không niềm hoan lạc nào được gợi lên. Hãy phục hồi cái cảm thức nội tại, bao quát, có tính nghệ thuật, cái lãnh địa “hợp pháp” của nó, và bạn sẽ cho tôi niềm vui vốn chứng minh [sự hiện hữu của] thực tại một cách tốt nhất.


____

[44]  Tuy không thấy mầu sắc, nhưng tác giả đã dùng trí tưởng tượng và phương pháp loại suy, để tạo ra mầu sắc cho mình.

[45]  Soul sense: “Giác quan linh hồn”. Ý muốn nói, linh hồn cũng là một loại “giác quan” đặc biệt, khác với 5 giác quan của thể xác.
 

CHƯƠNG XI

TRƯỚC KHI LINH HỒN TỈNH DẬY

 

          Trước khi cô giáo tôi đến với tôi, tôi không biết rằng tôi hiện hữu. Tôi sống trong một thế giới phi thế giới.[46] Tôi không thể hy vọng mô tả một cách đầy đủ cái quãng đời hư vô đó – bất thức, nhưng không hoàn toàn bất thức. Tôi sống như cỏ cây, không biết rằng tôi sống, hành động hay mơ ước. Tôi không có ý chí hay trí năng. Tôi bị lôi cuốn tới những vật thể và những hành vi bởi một xung lực tự nhiên, mù quáng. Tôi có một tâm trí mà khiến cho tôi cảm thấy giận dữ, thỏa mãn, mơ ước. Hai sự kiện này khiến cho những người xung quanh tôi cho rằng, tôi có ý muốn và có suy nghĩ. Tôi có thể nhớ mọi cái này, không phải bởi vì tôi biết rằng nó là như vậy, mà bởi vì, tôi có ký ức về xúc giác. Nó cho phép tôi có thể nhớ rằng, tôi không bao giờ nhăn trán trong tác động suy nghĩ. Tôi không bao giờ “dự kiến” bất cứ cái gì hay chọn nó. Tôi cũng nhớ bằng xúc giác sự kiện rằng, không bao giờ – trong một cái giật mình của cơ thể hay trong một tiếng đập trái tim – tôi cảm thấy rằng tôi yêu mến hay quan tâm đến bất cứ cái gì. Đời sống nội tâm của tôi, lúc ấy, là một sự trống rỗng không có quá khứ, hiện tại, hay tương lai, không hy vọng hay sự chờ đợi, không có sự ngạc nhiên, niềm vui hay đức tin.

Nó không phải là đêm – nó không phải là ngày. Nhưng là khoảng không gian rỗng không, và sự cố định, không một nơi chốn. Không có ngôi sao nào, không trái đất, không thời gian. Không biến dịch, không thiện, không ác. Cái tồn tại đang ngủ của tôi không có khái niệm nào về Thượng đế, tính bất tử, hay nỗi sợ về cái chết.

Tôi nhớ, cũng qua xúc giác, mà tôi có một sức mạnh của sự liên tưởng. Nhờ xúc giác, tôi cảm được những chấn động giống như cái giậm chân, sự mở hay đóng cửa sổ, tiếng đánh sầm của một cái cửa lớn. Sau khi ngửi thấy mưa, một cách lặp đi lặp lại, và cái khó chịu của sự ẩm ướt, tôi hành động giống như những người xung quanh mình : Tôi chạy lại đóng cửa sổ. Nhưng đó không phải là “ý tưởng” trong bất cứ nghĩa nào. Nó thuộc về loại liên tưởng mà khiến cho thú vật tìm nơi trú ẩn khi có mưa. Từ cùng cái bản năng bắt chước những người khác, tôi gấp quần áo đưa về từ tiệm giặt ủi, và cất áo quần của tôi, cho những con gà Tây ăn, may những con mắt bằng hạt cườm lên mặt con búp bê của mình, và làm nhiều điều khác, mà về chúng tôi có ký ức xúc giác. Tôi thích kem – nó để lại một cái vị ngon lành trên lưỡi tôi [mà bây giờ tôi không bao giờ có] – và với bàn tay, tôi đã cảm nhận sự vận hành của cái freezer. Khi tôi muốn bất cứ cái gì mà tôi thích, thì tôi làm dấu hiệu, và mẹ tôi biết là tôi cần kem. Tôi “suy nghĩ” và mơ ước bằng những ngón tay tôi. Nếu tôi đã tạo ra một con người, chắc chắn, tôi đã đặt bộ não và linh hồn trong những đầu ngón tay của anh ta. Từ những hồi ức như trên, tôi kết luận rằng, chính sự khai trương của hai quan năng – tự do của ý chí, [hay sự chọn lựa], và lý tính, [hay sức mạnh của tư duy], từ cái này sang cái kia – là cái đã cho ra đời, trước hết, một đứa trẻ, và sau này, một con người.

Bởi vì tôi không có sức mạnh của tư tưởng, tôi không so sánh một trạng thái tinh thần này với một trạng thái tinh thần khác. Do vậy, tôi không nhận biết bất cứ sự thay đổi hay quá trình nào đang diễn ra trong bộ não mình khi cô giáo tôi bắt đầu giáo huấn tôi. Tôi chỉ cảm thấy niềm vui thích sắc bén trong việc có được cái mà tôi muốn một cách dễ dàng hơn, bằng cách di chuyển những ngón tay, mà cô đã dạy tôi. Tôi chỉ nghĩ về những vật thể, chỉ những vật thể mà tôi muốn. Nó là sự vận hành của cái freezer trên một phạm vi rộng lớn hơn. Khi tôi học cái nghĩa của từ “tôi,” và thấy rằng, tôi là một cái gì đó, thì tôi bắt đầu suy nghĩ. Rồi “ý thức” [47] lần đầu tiên hiện hữu đối với tôi. Như thế, không phải xúc giác mang lại kiến thức cho tôi. Đó là sự tỉnh dậy của linh hồn tôi, [48] mà lần đầu tiên trả lại cho những giác quan tôi cái giá trị của chúng, sự nhận biết của chúng về những vật thể, những cái tên, những tính chất, và những thuộc tính. Tư tưởng khiến cho tôi ý thức về tình yêu, niềm vui, và tất cả mọi cảm xúc. Tôi háo hức muốn biết, rồi hiểu, rồi, về sau, suy tưởng trên những gì mà tôi biết và hiểu, và cái xung lực mù quáng – mà trước kia đã đẩy tôi đi chỗ này chỗ kia, theo mệnh lệnh của những giác quan tôi – biến đi mãi mãi.

Tôi không thể trình bày rõ hơn bất cứ ai khác, những thay đổi dần dần và tinh tế, từ những ấn tượng đầu tiên sang những ý tưởng trừu tượng. Nhưng tôi biết rằng, những ý tưởng vật lý, nghĩa là, những ý tưởng phát sinh từ những vật thể vật chất, xuất hiện với tôi, trước tiên như là một ý tưởng tương tự như những “ý tưởng” của xúc giác. Ngay lập tức, chúng chuyển sang những ý nghĩa có tính trí thức. Về sau, cái ý nghĩa tìm thấy dự diễn đạt trong cái được gọi là “tiếng nói nội tại.” [49] Khi còn là cô bé, thì cái “ngôn ngữ nội tại” của tôi là “sự đánh vần nội tại.” [50] Mặc dù, ngay cả bây giờ, tôi thường xuyên bắt gặp chính mình đánh vần thầm với mình trên những ngón tay, thế nhưng, tôi cũng nói với chính mình bằng đôi môi tôi, và đúng là, khi lần đầu tiên tôi bắt đầu học nói, thì tâm trí tôi vứt bỏ những biểu tượng ngón tay và bắt đầu phát âm thành tiếng. Tuy nhiên, khi tôi cố nhớ lại những cái mà người ta đã nói với tôi, thì tôi nhận biết một bàn tay đánh vần vào bàn tay tôi.

Tôi thường được hỏi, đâu là những ấn tượng sớm sủa nhất của tôi về cái thế giới mà trong đó tôi thấy mình đang sống. Nhưng, kẻ nào nghĩ về những ấn tượng đầu tiên của mình, biết rằng đây là một câu đố hóc búa. Những ấn tượng của chúng ta phát triển và thay đổi một cách không ai hay biết; do vậy, cái mà chúng ta cho rằng chúng ta đã nghĩ khi còn bé, có thể hoàn toàn khác với cái mà chúng ta thực sự trải nghiệm trong thời thơ ấu của mình. Tôi chỉ biết rằng, sau khi việc giáo dục của tôi bắt đầu, cái thế giới mà đến trong tầm với của tôi, thì hoàn toàn sống động. Tôi đánh vần [bằng ngón tay, để nói chuyện] với những đồ vật và những con chó của mình. Tôi đồng cảm với thảo mộc khi những bông hoa bị hái, bởi vì tôi nghĩ, chúng bị đau đớn, và rằng, chúng khóc thương cho những bông hoa bị mất đi của chúng.[51] Và, phải mất hai năm, tôi mới hiểu rằng, những con chó của tôi không hiểu những điều tôi nói, và tôi luôn luôn xin lỗi chúng khi tôi va vào hay giẫm lên chúng.

Khi kinh nghiệm của tôi rộng thêm và sâu thêm, thì những tình cảm bất định, thi vị của tuổi thơ bắt đầu tự trở thành những ý tưởng xác định.

Thiên nhiên – thế giới mà tôi có thể sờ vào – thì được ôm choàng và đổ đầy với chính tôi. Một số triết gia tuyên bố rằng, chúng ta không biết gì ngoài những tình cảm và ý tưởng của chính mình. Tôi tin lời tuyên bố đó. Với một chút lý luận thông minh, người ta chỉ có thể thấy trong thế giới vật chất một tấm gương, một hình ảnh của những cảm giác thường tồn. Trong cả hai lãnh vực, sự tự tri là điều kiện và sự giới hạn của ý thức chúng ta. Có lẽ, đó là lý do tại sao nhiều người biết quá ít những gì vượt quá cái phạm vi chật hẹp của kinh nghiệm của họ. Họ nhìn vào bên trong – và không thấy gì! Do vậy, họ kết luận rằng, cũng không có gì bên ngoài chính họ.

Mặc dù vậy, về sau, tôi tìm kiếm một hình ảnh của những cảm xúc và những cảm giác của mình trong những người khác. Tôi phải học những dấu hiệu bên ngoài về những tình cảm bên trong. Cái giật mình của sợ hãi, cái căng thẳng hoặc sự đau đớn bị đè nén, tiếng đập của những bắp thịt hạnh phúc trong những người khác, phải được tri giác và so sánh với những kinh nghiệm của tôi trước khi tôi có thể truy nguyên chúng về cái linh hồn không sờ mó được của một người khác. Quờ quạng một cách bấp bênh, sau cùng, tôi tìm thấy “ngã tính” [53] của mình, và sau khi “thấy” những ý tưởng và tình cảm của tôi được lặp lại trong những người khác, thì tôi dần dần xây dựng thế giới của tôi và của Thượng Đế. Khi tôi đọc và học hỏi, tôi phát hiện rằng, đây là những gì mà phần còn lại của giống loài đã làm. Con người nhìn vào bên trong chính mình, và một lúc nào đó, tìm thấy cái kích thước và cái ý nghĩa của vũ trụ.

____

[46]   A world that was no-world.

[47]  Consciousness.

[48]  Đây là một phát hiện rất quan trọng đối với tác giả.

[49]  Inner speech.

[50]  Inner spelling.

[51]  Sơ nguyên, tinh khôi và thuần khiết biết bao ! Có thể nói, cô bé Helen là một biểu tượng của con người sơ nguyên, chưa bị nhiễm độc bởi xã hội và văn minh. Do vậy, mà cô có thể đồng cảm được với cái vũ trụ rộng lớn bao quanh mình.

[52]  Permanent sensations.

[53]  My identity

CHƯƠNG XII

MẮT MÙ NHƯNG TÂM KHÔNG MÙ [54]

 

          Do vậy, giữa cuộc sống – cuộc sống sôi nổi, cấp bách – đứa trẻ điếc-mù bị xiềng vào cái tảng đá trần trụi của hoàn cảnh, như con nhện gửi những sợi tơ nhện của tư tưởng vào trong cái hư không vô lượng vốn bao quanh nó. Một cách kiên nhẫn, nó khám phá bóng tối, cho đến khi nó xây dựng một kiến thức về cái thế giới mà trong đó nó sống, và linh hồn nó gặp cái đẹp của thế giới, nơi mà mặt trời luôn chiếu sáng, và chim chóc hát ca. Đối với đứa trẻ mù, bóng tối thì nhân ái. Trong đó, nó không thấy cái gì phi thường hay kinh khủng. Đó là thế giới quen thuộc của nó; ngay cả sự quờ quạng từ nơi này sang nơi nọ, những bước đi ngập ngừng, sự lệ thuộc vào những người khác, dường như không kỳ lạ với nó. Nó không biết là cái bóng tối đã giam nhốt nó, cướp đi của nó bao nhiêu lạc thú. Cho mãi đến khi nó cân cuộc đời mình trên cái cân [kinh nghiệm] của những người khác, thì nó mới nhận thức được thế nào là sống vĩnh viễn trong bóng tối. Nhưng cái kiến thức dạy cho nó cái sự cay đắng này, cũng mang đến niềm an ủi của nó – ánh sáng tâm linh, sự hứa hẹn của cái ngày mà sẽ đến.

Đứa bé điếc-mù, đã thừa hưởng cái tâm trí của tổ tiên nó – những người sáng mắt và sáng tai – một tâm trí tương ứng với 5 giác quan. Do vậy, nó phải bị ảnh hưởng, dù nó không hay biết, bởi ánh sáng, màu sắc, bài ca vốn đã được trao truyền qua ngôn ngữ mà nó được dạy, bởi vì tâm trí sẵn sàng để tiếp nhận cái ngôn ngữ đó. Bộ não của loài người thì thấm nhuần với màu sắc, đến nỗi, nó “nhuộm” ngay cả tiếng nói của người mù. Mọi vật thể mà tôi nghĩ về, đều có dấu vết của màu sắc vốn thuộc về chúng bằng liên tưởng và trí nhớ. Kinh nghiệm của người điếc-mù, trong một thế giới của những người sáng mắt và sáng tai, thì giống như thế giới của một thủy thủ trên một hòn đảo, nơi mà những cư dân nói một ngôn ngữ xa lạ với anh ta, và đời họ cũng không giống cuộc đời mà anh ta đã sống. Anh ta là một, họ thì nhiều; không có cơ hội nào để thỏa hiệp. Anh ta phải học để nhìn với đôi mắt họ, nghe với đôi tai họ, suy nghĩ những ý tưởng của họ, và theo đuổi những lý tưởng của họ.

Nếu cái thế giới tối tăm, câm lặng vốn bao quanh anh ta là hoàn toàn khác với cái thế giới đầy ánh nắng, đầy âm thanh, thì đồng loại của anh ta không thể hiểu nó, và hai thế giới sẽ không bao giờ thảo luận được với nhau. Nếu những cảm nhận và cảm giác của anh ta là khác biệt một cách nền tảng với những tình cảm và cảm giác của những người khác, thì chúng sẽ không thể nào quan niệm được, trừ ra với những người có những cảm giác và tình cảm tương tự.

Nếu cái ý thức của người mù-điếc là tuyệt đối khác biệt với cái ý thức của đồng loại, thì anh ta không có phương tiện nào để tưởng tượng cái mà họ suy nghĩ. Bởi vì tâm trí của người mù là cơ bản giống như tâm trí của người sáng mắt, ở chỗ nó không thừa nhận sự thiếu hụt nào, nó phải cung cấp một loại tương đương nào đó cho cái cảm giác thể lý bị thiếu mất. Nó phải tri giác một sự tương tự giữa những vật bên ngoài và những vật bên trong, một sự tương ứng giữa cái thấy được và cái vô hình. Tôi sử dụng sự tương ứng như thế trong nhiều quan hệ, và bất luận tôi theo đuổi sự tương tự đó bao xa đối với những sự vật mà tôi không thể thấy, thì nó vẫn phần nào “bù đắp” cho những giác quan bị thiếu của tôi.

Như là một “giả thiết tạm thời,” thì sự tương ứng là thỏa đáng trong toàn bộ sự sống, xuyên qua toàn bộ phạm vi của những hiện tượng. Tia chớp của tư tưởng và sự mau lẹ của nó giải thích tia chớp và sự quét của một sao chỗi xuyên qua bầu trời. Bầu trời tinh thần của tôi mở ra cho tôi những khoảng không gian bao la, và tôi khởi sự đổ đầy chúng với những hình ảnh của những ngôi sao tâm linh của mình. Tôi nhận ra chân lý bằng sự rõ ràng và sự hướng dẫn mà nó ban cho tư tưởng của tôi, và, biết sự rõ ràng ấy là gì, tôi có thể tưởng tượng thế nào là ánh sáng đối với con mắt. Nó không phải là một quy ước của ngôn ngữ, mà là một cảm nhận sinh động về thực tại, mà nhiều lúc khiến tôi giật mình khi tôi nói: “Ồ, tôi thấy sự sai lầm của tôi!” Hay, : “Đời anh ta mới tối tăm, buồn bã làm sao!” Tôi biết đây là những ẩn dụ. Tuy nhiên, tôi phải dùng chúng để chứng minh, bởi vì không có gì trong ngôn ngữ của chúng ta để thay thế chúng. Cái tương ứng với những ẩn dụ của người mù-điếc, nó không hiện hữu và không cần thiết. Bởi vì tôi có thể hiểu từ “phản ánh” theo nghĩa bóng, nên một cái gương chưa bao giờ khiến cho tôi bối rối. Cái thể cách mà trong đó trí tưởng tượng của tôi tri giác những sự vật vắng mặt, cho phép tôi “thấy,” như thế nào mà những tấm gương có thể phóng đại sự vật, đưa chúng đến gần hơn, hay đẩy chúng đi xa hơn.

Nếu bạn từ chối sự “tương ứng” này của tôi, cái giác quan nội tại này; nếu bạn nhốt tôi vào cái thế giới bị phân mảnh, rời rạc này của xúc giác, thì hãy nhìn xem, tôi sẽ giống như một con dơi lang thang đó đây trên đôi cánh.

Giả thử rằng, tôi bị thiếu mất tất cả những từ chỉ thị giác, thính giác, màu sắc, ánh sáng, phong cảnh, ngàn hiện tượng, dụng cụ, và những cái đẹp nối kết với chúng. Tôi sẽ nhận chịu một giảm sút lớn về cái kinh ngạc và thú vị trong việc thu thập kiến thức; thêm nữa – mất mát khủng khiếp hơn – những cảm xúc của tôi sẽ bị cùn nhụt, đến nỗi, tôi không thể xúc chạm những sự vật vô hình.

Có cái gì nổi lên để bác bỏ sự thỏa đáng của sự tương ứng? Phải chăng một khoang nào đó của bộ não của người mù được mở ra và được phát hiện là trống rỗng? Đã có nhà tâm lý học nào khám phá tâm trí của người mù, và có thể nói rằng: “Không có cảm giác nào ở đây” ?

Tôi giẫm lên mặt đất vững chắc; tôi thở làn không khí thơm tho. Từ hai kinh nghiệm này, tôi hình thành vô số liên tưởng và sự tương ứng. Tôi quan sát, tôi cảm nhận, tôi suy nghĩ, tôi tưởng tượng. Tôi liên kết vô số ấn tượng, kinh nghiệm, khái niệm đa dạng. Từ những chất liệu này, Trí Tưởng Tượng, người thợ khôn lanh của bộ não, gắn kết một hình ảnh, mà kẻ hoài nghi sẽ phủ nhận, bởi vì tôi không thể thấy với đôi mắt thể lý của tôi cái khuôn mặt khả biến, đáng yêu của “đứa con tư tưởng” của mình. Anh ta sẽ đánh vỡ tấm gương của tâm trí. “Kẻ phá hoại linh hồn” này sẽ hạ thấp linh hồn tôi và ép buộc tôi phải ngã quỵ trước những sự vật vật chất. Trong khi tôi “gặm cái hàm thiếc của hoàn cảnh,” anh ta quất roi và thúc tôi đi với cái đinh thúc [55] của sự kiện. Nếu tôi nghe lời anh ta, thì trái đất, với khuôn mặt dịu dàng, sẽ biến thành hư vô, và tôi sẽ nắm trong tay tôi không gì ngoài một mảng vật chất chết, vô mục đích, không linh hồn. Nhưng mặc dù cái cơ thể vật lý bị xiềng vào tảng đá của Prometheus [56], thì cái linh hồn kiêu hãnh của tôi vẫn sẽ theo đuổi những xa lộ sáng láng, thênh thang của vũ trụ.

Sự mù không làm hạn chế chút nào “cái tầm nhìn tâm linh.” [57] Chân trời tri thức của tôi thì rộng một cách vô hạn. Cái vũ trụ mà nó bay vòng quanh là vô lượng.

Phải chăng, người ta bắt tôi phải tự giới hạn mình trong những giác quan ít ỏi của tôi? …Phải chăng, nên dựng Darwin dậy từ nấm mồ và ra lệnh cho ông ta xóa bỏ cái thời gian địa chất học của mình, trả lại cho chúng ta cái lịch sử nhỏ nhoi của vài ngàn năm? Ôi, những kẻ hoài nghi ngạo mạn! Họ luôn mãi cố sức xén đi đôi cánh bay lên, táo bạo của linh hồn.

Một người bị tước mất một hay nhiều giác quan, không bị đuổi – như nhiều người nghĩ – vào trong một hoang địa không lối, không có cột mốc địa giới hay người hướng đạo. Người mù mang theo với anh ta vào trong cái môi trường tối tăm của mình mọi quan năng cần thiết cho sự hiểu biết cái thế giới hữu hình, mà cánh cửa của nó bị đóng lại đằng sau anh ta. Anh ta thấy môi trường xung quanh, ở mọi nơi, là đồng thể [58] với những môi trường của thế giới có mặt trời; bởi vì có một đại dương vô hạn của sự giống nhau giữa thế giới bên trong và thế giới bên ngoai, và nhờ những cái giống nhau này, những tương ứng này, mà anh ta thấy mình đủ sức đương đầu với mọi yêu sách mà đời anh ta gặp phải.

Sự cần thiết của vài điều như sự tương ứng hay “sự tượng trưng” [59] hiện ra ngày càng khẩn cấp, khi chúng ta xem xét những bổn phận mà tôn giáo và triết học ra lệnh cho chúng ta.

Người mù được khuyên là nên đọc Thánh Kinh như là phương tiện để đạt tới hạnh phúc tâm linh. Xuyên suốt Thánh Kinh, tràn đầy những lời nhắc đến những đám mây, những ngôi sao, những màu sắc và cái đẹp, và thường khi, sự đề cập đến những cái này thì cốt yếu cho ý nghĩa của câu chuyện ngụ ngôn hay của cái thông điệp mà trong đó chúng xuất hiện. Ở đây người ta phải thấy sự thiếu nhất quán của những người tin vào Thánh Kinh, và thế nhưng, lại phủ nhận, không cho chúng tôi cái quyền được nói về cái mà chúng tôi không thấy, và, do vậy, cái mà họ cũng không thấy, nữa. Ai sẽ cấm trái tim tôi hát: “Vâng, Ngài thực sự bay trên đôi cánh của gió. Ngài khiến cho bóng tối trở thành cái nơi chốn bí mật của mình; căn lều tạm [60] của Ngài xung quanh Ngài là những đại dương thâm u và những đám mây dày của bầu trời” ?

Triết học liên tục chỉ ra sự không đáng tin cậy của 5 giác quan và công việc quan trọng của lý tính, vốn sửa chữa những sai lầm của thị giác và phát lộ những ảo tưởng của nó. Nếu chúng ta không thể nương dựa vào 5 giác quan, thì làm thế nào chúng ta có thể nương dựa trên chỉ 3 giác quan! Chúng ta có cơ sở nào để vứt bỏ ánh sáng, âm thanh, và màu sắc như là một phần không thể thiếu của thế giới? Làm thế nào chúng ta biết rằng, chúng đã thôi hiện hữu đối với chúng ta? Chúng ta phải mặc nhiên chấp nhận thực tại của chúng, cũng như vị triết gia phải “giả định” thực tại của thế giới mà không thể thấy nó – một cách thể lý – như một toàn bộ.

Triết học cổ đại cung cấp một luận cứ mà hình như vẫn còn nguyên giá trị. Trong người mù, cũng như trong người sáng mắt, có một Tuyệt Đối Thể, vốn ban chân lý cho cái mà chúng ta biết là thực, đem trật tự đến cho những gì có trật tự, cái đẹp cho những sự vật đẹp, tính sờ mó được cho những cái sờ mó được. Nếu chấp nhận điều này, thì hệ luận là, cái Tuyệt Đối Thể này không phải là không hoàn hảo, không hoàn chỉnh, từng phần, phiến diện. Nó phải đi vượt quá cái bằng chứng hạn chế của những giác quan ta, và có thể đem ánh sáng đến cho cái vô hình, âm nhạc cho cái có âm nhạc mà sự im lặng làm cho cùn nhụt. Như thế, chính tâm trí thúc bách chúng ta công nhận rằng, chúng ta ở trong một thế giới của trật tự trí năng, cái đẹp, và sự hài hòa. Những “yếu tính,” [61] hay những cái tuyệt đối của những ý tưởng này, nhất thiết xua tan những cái đối nghịch của chúng, vốn thuộc về cái ác, sự hỗn độn và sự bất hòa điệu. Như thế, sự điếc và mù không hiện hữu trong tâm trí phi vật chất, mà, về mặt triết học, là thế giới thực, nhưng [sự điếc và mù] bị trục xuất khỏi những giác quan vật chất, khả diệt. Thực tại, mà những sự vật hữu hình là những biểu tượng của nó, chiếu sáng trước tâm trí tôi. Trong khi tôi bước đi xung quanh “căn phòng” của mình với những bước chân lảo đảo, thì linh hồn tôi vươn lên về phía bầu trời trên đôi cánh phượng hoàng và nhìn ra, với “cái nhìn không thể dập tắt,” lên thế giới của cái đẹp vĩnh cửu. [62]
 

____

[54]  Chỗ này, chúng tôi chỉ dịch thoát ý.

[55]  The spur of fact.

[56]  Prometheus: [thần thoại Hy Lạp] Một người khổng lồ, vì trộm lửa trên đỉnh Olympus, mang đến cho con người, nên bị trừng phạt, bị xiềng vào một tảng đá cho đại bàng moi gan. Về sau, Prometheus được Hercules giải thoát.

[57]  Mental vision.

[58]  Homogeneous.

[59]  Symbolism.

[60]  Pavilion.

[61]  Essences.

[62]  Ở đây, tác giả lại khẳng định niềm xác tín của mình: những giác quan [thể lý] chỉ cho ta cái nhìn hạn hẹp, đôi khi sai lầm, về thế giới. Chỉ có linh hồn mới có thể cho ta một cái nhìn xác thực, về cả cõi hữu hình lẫn cõi vô hình.
 

CHƯƠNG XIII

THẾ GIỚI CỦA GIẤC MƠ

 

          Mọi người xem trọng những giấc mơ của chính mình, nhưng ngáp dài ở bàn điểm tâm khi một ai đó khác bắt đầu kể những cuộc phiêu lưu của đêm hôm trước. Do vậy, tôi lưỡng lự khi kể về những giấc mơ của tôi; bởi vì, sẽ là một tội lỗi văn học, khi làm chán tai bạn đọc, một tội lỗi về khoa học, khi tường thuật về một đất nước xa xôi, mà chỉ quan tâm đến những sự kiện quan trọng hơn là sự thật hoàn chỉnh và chính xác. Những nhà tâm lý học đã “huấn luyện” một mớ học thuyết và sự kiện mà họ xích lại, giống như những con chó dữ, và thả chúng ra bất cứ khi nào chúng ta rời bỏ lối đi thẳng và hẹp của những lý thuyết đó. Người ta thậm chí không thể kể lại một giấc mơ thú vị mà không bị nghi là đã tùy tiện “biên tập” nó – như thể sự biên tập là một trong 7 trọng tội, thay vì là một công việc hữu ích và đáng kính!

Tôi có thói quen tự hỏi, tại sao những nhà khoa học và những người khác luôn hỏi tôi, về những giấc mơ của tôi. Nhưng bây giờ tôi không ngạc nhiên, bởi vì tôi đã phát hiện những cái mà một số người trong số họ xem là kinh nghiệm bình thường khi đang thức, của một người vừa điếc vừa mù. Họ nghĩ rằng, tôi có thể biết rất ít về những vật thể thậm chí vượt quá tầm với của vòng tay tôi vài mét. Mọi sự bên ngoài chính tôi, theo họ, là một quang cảnh lờ mờ. Cây cối, núi non, những thành phố, đại dương, ngay cả ngôi nhà nơi tôi sống, chỉ là những hư cấu như trong truyện cổ tích, những phi thực tại mơ hồ [63]. Do vậy, người ta giả định rằng, những giấc mơ của tôi sẽ có sự hấp dẫn đặc biệt đối với nhà khoa học. Trong cách thức mơ hồ nào đó, người ta mong đợi rằng, chúng sẽ tiết lộ cái thế giới mà tôi đang cư ngụ, là tẻ nhạt, không hình thù, không màu sắc, không viễn ảnh, với ít độ dày và ít độ cứng chắc hơn – sự cô độc bao la của không gian vô thanh. Nhưng ai có thể diễn thành lời cái khoảng trống vô giới hạn, im lặng, mù mịt? Người ta phải là một linh hồn lìa khỏi xác, để tạo ra một cái gì đó từ những kinh nghiệm vô căn cứ như thế. Do vậy, tôi thiết nghĩ, một thế giới, hay một giấc mơ, để hiểu được với chúng ta, phải có một đường chỉ dọc [64] của chất liệu dệt vào trong đường chỉ ngang [65] của trí tưởng tượng. Chúng ta không thể tưởng tượng, ngay cả trong những giấc mơ, một vật thể mà không có “nguyên mẫu” [counterpart] nào trong thực tại. Những con ma luôn luôn giống một ai đó, và nếu chính chúng không xuất hiện, thì sự hiện diện của chúng được chỉ định bởi những hoàn cảnh mà chúng hoàn toàn quen thuộc với.

Trong giấc ngủ, chúng ta bước vào một miền xa lạ, bí mật, mà từ trước tới nay, khoa học chưa khám phá. Kẻ điều tra không thể vượt quá đường ranh giới của giấc ngủ, với qui tắc và sự trắc nghiệm thường nghiệm của mình. Giấc ngủ, với sự xúc chạm nhẹ nhàng nhất của nó, đóng mọi cánh cửa của những giác quan thể lý của ta và và khiến cho ý chí hữu thức của ta – người kiểm soát những ý tưởng trong khi thức của chúng ta – ngủ yên. Rồi linh hồn vùng vẫy thoát ra khỏi những cánh tay gân guốc của lý trí và giống như một con chim đẩy lùi mặt đất xanh vững chắc và lao vụt đi trên gió và mây, không để lại dấu vết hay dấu chân mà qua đó, khoa học có thể truy tầm đường bay của nó và mang đến cho chúng ta kiến thức về cái vùng đất xa xôi, thâm u mà chúng ta viếng thăm hằng đêm.

Khi chúng ta trở lại từ vùng đất của giấc mơ, chúng ta không thể đưa ra bản tường trình hợp lý về những gì mà chúng ta gặp ở đó. Nhưng một khi đã băng qua biên giới, chúng ta cảm thấy như ở nhà mình, như thể chúng ta vẫn luôn luôn sống ở đó và chưa bao giờ làm cuộc du ngoạn nào vào trong cái cái thế giới hợp lý của ánh sáng ban ngày.

Những giấc mơ của tôi có vẻ như không khác lắm, so với những giấc mơ của những người khác. Một vài trong số chúng thì mạch lạc, ăn khớp với một biến cố hay một kết luận nào đó. Những giấc mơ khác, thì rời rạc, vô lý và quái dị. Tất cả đều chứng thực rằng, trong Cõi Mơ, không có cái gì như là sự nghỉ ngơi. Chúng ta luôn “tỉnh /thức” và đang làm một cái gì đó, với một tâm trí cho một cuộc phiêu lưu nào đó. Chúng ta hành động, phấn đấu, suy nghĩ, đau khổ, và vui mừng mà không có mục đích nào cả. Chúng ta để lại bên ngoài những cánh cửa của Giấc Ngủ mọi hồ nghi phiền toái và những suy nghĩ buồn phiền về điều có thể xảy ra.

Tôi trôi bồng bềnh như hồn ma trên những đám mây, không hề có khái niệm rằng, tôi đang làm một cái gì đó khác thường. Trong Cõi Mơ, tôi phát hiện rằng, rất ít cái hoàn toàn xa lạ và mới lạ đối với kinh nghiệm của tôi. Bất luận cái gì xảy ra, tôi không ngạc nhiên, bất luận những hoàn cảnh có phi thường đến đâu. Tôi viếng thăm một vùng đất lạ, nơi mà tôi chưa từng đến trong thực tại, và tôi nói chuyện với những con người mà ngôn ngữ của họ tôi chưa từng nghe.

Thế nhưng, chúng tôi thành công trong việc hiểu nhau một cách hoàn toàn. Bất luận tình huống hoặc môi trường nào mà những chuyến lang thang của tôi mang tôi đến, có một sự đồng-thể tương tự. Nếu tôi tình cờ có mặt tại Vagabondia, thì tôi vui đùa với những người vui vẻ trên đường hay trong quán rượu.

Tôi không nhớ đã bao giờ gặp những người mà tôi không thể truyền thông một cách tức thì, hay bị sốc, hay ngạc nhiên trước những việc làm của những người bạn trong mơ của mình. Trong những chuyến lang thang kỳ lạ trong những khu rừng âm u của Giấc Ngủ, linh hồn tôi xem mọi sự là mặc nhiên và tự thích nghi với những ảo ảnh kỳ dị nhất. Tôi hiếm khi bị bối rối. Mọi sự thì rõ ràng như ban ngày. Tôi biết những biến cố trong cái khoảnh khắc mà chúng diễn ra, và bất cứ khi nào tôi xoay hướng những bước chân tôi, thì Tâm Trí là kẻ hướng đạo và kẻ thuyết minh trung thành của tôi.

Tôi cho rằng, trong một giấc mơ, mọi người đều có cái kinh nghiệm vô ích của việc tìm kiếm một cái gì mà anh ta mơ ước một cách khẩn thiết vào lúc đó, và cái cảm giác chán nản theo sau mỗi thất bại trong việc truy tìm sự vật đến tận cái chỗ trú ẩn của nó. Đôi khi, với một sự choáng váng trong đầu, tôi leo và leo mãi, mà không biết leo đi đâu, và tại sao. Thế nhưng, tôi không thể từ bỏ cái nỗ lực hăng say và đau đớn, mặc dù, một cách lặp đi lặp lại, tôi vươn tay ra một cách mù quáng, tìm một vật nào đó để níu vào. Dĩ nhiên, với “sự gian ác” của những giấc mơ, không có vật nào ở gần. Tôi bám vào không khí trống rỗng, và rồi ngã xuống, cứ xuống mãi, và giữa cơn ngã, tôi tan biến vào trong bầu không khí mà trên đó tôi đã và đang trôi bồng bềnh một cách quá bấp bênh.

Dường như một vài trong số những giấc mơ của tôi, phải được truy nguyên giấc mơ này bên trong giấc mơ kia, giống như một loạt những vòng tròn đồng tâm. Có lần, trong giấc ngủ, tôi nghĩ rằng tôi không thể ngủ. Tôi trằn trọc trong tấm lưới của những nhiệm vụ không hoàn thành. Tôi quyết định dậy và đọc một lát. Tôi biết cái kệ trong thư viện của tôi, nơi mà tôi giữ cuốn sách mà tôi cần. Cuốn sách không có tên, nhưng tôi tìm thấy nó không chút khó khăn. Tôi ngồi thoải mái vào ghế dựa, cuốn sách mở trên đầu gối tôi. Tôi không thể nhận ra một từ nào, những trang đều hoàn toàn trắng. Tôi không ngạc nhiên, nhưng rất thất vọng.Tôi sờ bằng ngón tay vào những trang giấy, tôi âu yếm cúi xuống chúng, những giọt lệ chảy xuống hai bàn tay tôi. Tôi gấp cuốn sách một cách nhanh chóng khi ý tưởng lướt qua tâm trí tôi: “Những chữ in sẽ bị xóa đi nếu sách bị ướt.” Thế nhưng, không có dòng chữ in nào có thể sờ mó được trên trang giấy!

Sáng nay, tôi nghĩ rằng tôi tỉnh dậy. Tôi chắc chắn rằng, tôi đã ngủ quên. Tôi chộp lấy cái đồng hồ đeo tay của mình, và đúng là, nó cho thấy tôi đã dậy trễ một tiếng so với thường lệ. Tôi vội vàng nhảy ra khỏi giường, biết rằng bữa ăn sáng đã sẵn sàng. Tôi gọi mẹ tôi, bà tuyên bố rằng, cái đồng hồ đeo tay của tôi hẳn là sai. Tôi lại nhìn đồng hồ, và, hãy nhìn xem, những chiếc kim lắc lư, xoay tròn, kêu vo vo và biến mất. Càng khiếp đảm, tôi càng tỉnh ra, cho đến khi tỉnh hẳn. Sau cùng, đôi mắt tôi mở ra thực sự, và tôi biết rằng, tôi đã nằm mơ. Tôi chỉ tỉnh dậy để lại rơi vào trong giấc ngủ. Cái gây hoang mang hơn, là không có khác biệt nào giữa ý thức về “sự tỉnh giả tạo” và cái ý thức về sự “tỉnh thực.”

Thật đáng sợ khi nghĩ rằng, tất cả những gì mà chúng ta đã thấy, cảm nhận, đọc, và làm, có thể bỗng nổi lên trong giấc mơ của chúng ta, như biển cả ném lên mặt nước những vật thể mà nó đã nuốt vào. Tôi đã ôm một đứa trẻ nhỏ trong vòng tay giữa một vụ bạo động và khẩn cầu, van xin những binh sĩ Nga đừng tàn sát những người Do Thái. Tôi đã sống lại những cảnh đau đớn của Cuộc Nổi Dậy Sepoy và cuộc Cách Mạng Pháp. Những thành phố đã bốc cháy trước đôi mắt tôi, và tôi đã tìm cách dập tắt những ngọn lửa cho đến khi tôi cảm thấy mệt lả. Những cuộc tàn sát khủng khiếp đã vồ chụp thế giới, và tôi vùng vẫy luống công để cứu những người bạn của tôi. Một lần, trong một giấc mơ, một thông điệp đến, băng qua lục địa và đại dương, rằng mùa đông đang phủ xuống trên thế giới từ Bắc Cực, rằng vùng Bắc Cực đang chuyển sang khí hậu ôn đới của chúng ta. Cái thông điệp bay xa và rộng. Đại dương bị đóng băng vào giữa mùa hè. Hàng nghìn những con thuyền bị kẹt trong băng, những con thuyền với những cánh buồm rộng, trắng bị kẹt lại. Của cải của phương Đông và những thu hoạch phong phú của phương Tây có thể không còn lưu thông giữa dân tộc này và dân tộc khác. Trong một thời gian, cây cối và hoa vẫn tiếp tục phát triển, mặc dù cái lạnh cắt da. Những con chim bay vào trong những ngôi nhà để được an toàn, và những con chim bị mùa đông “đuổi kịp”, nằm trên tuyết, với những đôi cánh trải ra, nhưng không thể nào bay được. Sau cùng, vòm lá và hoa ngã xuống dưới chân Mùa Đông. Những cánh hoa bị biến thành những viên hồng ngọc và lam ngọc. Những chiếc lá đông cứng thành những viên ngọc bích. Những cái cây rên rỉ và lắc lư khi băng giá xuyên thấu chúng qua vỏ và nhựa, vào tận trong chính những cái rễ của chúng. Tôi rùng mình tỉnh dậy, và với một niềm vui pha lẫn lo sợ, tôi thở vào nhiều mùi hương dịu dàng của buổi sáng, được đánh thức bởi mặt trời mùa hạ.

Người ta không cần phải thăm một khu rừng châu Phi và khu rừng Ấn Độ để săn cọp. Người ta có thể nằm trên giường giữa những cái gối êm ái và mơ thấy những con cọp kinh khủng như bất cứ con cọp nào trong vùng hoang dã, không có lối mòn. Khi còn là một cô bé, một đêm tôi nằm mơ, rằng tôi cố băng qua khu vườn phía trước nhà bà cô tôi tại Alabama. Tôi đang đuổi theo một con mèo lớn, với một cái đuôi lớn, rậm rạp. Một vài giờ trước đó, nó đã vồ con chim hoàng yến bé nhỏ của tôi ra khỏi cái lồng, và nhai rau ráu giữa những cái răng tàn nhẫn của nó. Tôi không thể thấy con mèo. Nhưng cái ý tưởng trong tâm trí tôi thì rõ ràng: “Nó đang đi về phía vạt cỏ rậm ở cuối khu vườn. Mình sẽ đến đó trước tiên.” Tôi chạy nhanh dọc theo lối đi. Khi tôi đến chỗ cỏ rậm, có con mèo đang trườn vào đó. Tôi lao nhanh về đằng trước và cố chộp lấy nó và giật con chim ra khỏi những cái răng của nó. Trước sự kinh hãi của tôi, một con dã thú khổng lồ, không phải là con mèo, nhảy lên từ cỏ, và cái bả vai gân guốc của nó chà xát vào tôi với sức mạnh khủng khiếp. Đôi tai của nó dựng đứng lên và ve vẫy với sự giận dữ. Đôi mắt nó long lên sòng sọc. Hai lỗ mũi của nó rộng và ướt. Đôi môi nó chuyển động một cách đáng sợ. Tôi biết rằng, đó là một con cọp, một con cọp thật, đang sống, và rằng, tôi sẽ bị nó vồ – con chim nhỏ của tôi và tôi. Tôi không biết cái gì xảy ra sau đó. Cái quan trọng kế tiếp, hiếm khi xuất hiện trong những giấc mơ.

Trước đây một thời gian, tôi đã có một giấc mơ, nó để lại một ấn tượng sống động trên tôi. Cô tôi đang khóc vì cô không thể tìm thấy tôi. Nhưng tôi có một sự thích thú tinh quái với ý tưởng rằng, cô và những người khác đang tìm kiếm tôi, và họ đang làm ầm ĩ – đó là những điều mà tôi cảm thấy qua hai bàn chân tôi. Bỗng nhiên, sự nghịch ngợm nhường chỗ cho sự lo lắng và sợ hãi.Tôi cảm thấy lạnh. Không khí có mùi giống như băng và muối. Tôi cố chạy; nhưng cỏ cao ngáng bước chân tôi, và tôi ngã về phía trước, mặt úp xuống.

Sau một lát, cảm giác của tôi có vẻ như được tập trung trên những ngón tay tôi, và tôi tri giác rằng, những lá cỏ thì sắc như những con dao, và làm hai bàn tay tôi đau buốt. Tôi cố chỗi dậy, cẩn thận, để khỏi bị cỏ sắc cứa vào da thịt. Tôi dò dẫm đặt xuống một bàn chân, như con mèo của tôi lần đầu tiên giẫm xuống khu rừng nguyên sinh ở vùng phía sau nhà. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy tiếng lộp bộp thầm lén của một cái gì đang bò, bò một cách cố ý về phía tôi. Lúc bấy giờ tôi không biết cái ý tưởng đó là như thế nào trong tâm trí tôi… Thế nhưng, cái làm tôi sợ hãi, không phải là con vật đang bò, mà là cái ý định độc ác của nó. Tôi không sợ những sinh vật. Tôi yêu những con chó của cha tôi, con bê nhỏ bé, hiếu động, những con bò cái hiền lành, những con ngựa và những con lừa vẫn thường ăn những quả táo từ bàn tay tôi, và không con nào trong số chúng đã làm hại tôi. Tôi nằm im, và trong sự khiếp đảm, đợi con vật chồm lên và vồ lấy tôi với những cái vuốt dài của nó. Tôi nghĩ: “Chúng sẽ giống như móng vuốt của con gà tây.” Một cái gì đó ấm và ướt chạm vào mặt tôi. Tôi thét lên, vung tay đánh loạn xạ, và tôi tỉnh dậy.

Một cái gì đó đang vùng vẫy trong vòng tay tôi. Tôi ôm chặt nó với hết sức mình, cho đến khi mệt lả, rồi tôi nới lỏng vòng tay. Tôi thấy “quý bà” Belle, đang lắc lư thân mình và đang nhìn tôi trách móc. Nó và tôi đã đi ngủ cùng nhau trên tấm thảm, và đã lang thang tới khu rừng trong mơ, nơi mà những cô gái nhỏ và những con chó săn những con mồi hoang dã và có những cuộc phiêu lưu kỳ lạ. Belle cũng có những giấc mơ của nó. Chúng tôi có thói quen nằm dưới những cái cây và những bông hoa trong khu vườn cổ, và tôi thường cười lớn thích thú khi những chiếc lá của hoa mộc lan rơi với những tiếng “thịch” nhỏ, và Belle nhảy lên, nghĩ rằng nó đã nghe thấy một con gà gô. Nó thường đuổi theo chiếc lá, chỉ vào nó, mang nó đến cho tôi và nằm xuống bàn chân tôi với một cái vẫy đuôi buồn cười, như muốn nói: “Đây là loại chim mà đã đánh thức tôi dậy.” Tôi làm một chiếc vòng đeo cổ cho nó từ những bông hoa màu xanh da trời xinh đẹp và phủ lên nó những chiếc lá có hình trái tim.

Cô nàng Belle thân mến, nó đã và đang nằm mơ giữa những hoa sen và cây anh túc của thiên đàng chó.

Những giấc mơ nào đó đã ám ảnh tôi từ thời thơ ấu của tôi. Một giấc mơ mà thường diễn ra theo cách như sau: Một “hồn ma” nào đó có vẻ như đi qua trước mặt tôi. Tôi cảm thấy một hơi nóng dữ dội giống như luồng hơi nóng từ một đầu máy xe lửa. Nó là hiện thân của cái ác. Hẳn là nó đã xuất hiện lần đầu tiên sau cái ngày tôi bị bỏng. Một “hồn ma” khác viếng thăm tôi, thường mang đến một cảm giác về sự ẩm ướt mát lạnh, như người ta cảm thấy vào một đêm tháng 11 giá buốt khi cửa sổ mở. Hồn ma dừng lại ở một vị trí xa khỏi tầm với của tôi, đong đưa lui tới như một sinh vật đang sầu muộn. Máu tôi tê buốt, và dường như đông lại trong những mạch máu tôi.

Tôi cố cử động, nhưng cơ thể tôi cứng đơ, và tôi thậm chí không thể kêu lên. Sau một lát, hồn ma tiếp tục lướt đi, và tôi rùng mình tự nhủ thầm: “Đó là Tử Thần. Phải chăng là ông ta đã mang cô giáo của mình đi?”

Trong những giấc mơ của mình, tôi có những cảm giác, mùi, vị, mà tôi không nhớ là đã có trong thực tại. Có lẽ, chúng là những “thoáng nhìn” mà tâm trí tôi đã chụp bắt xuyên qua tấm mạng của giấc ngủ của thời thơ ấu bé bỏng của tôi... Đôi khi, một làn ánh sáng tuyệt vời viếng thăm tôi trong giấc ngủ. Một tia chớp huy hoàng biết bao! Tôi nhìn nó, nhìn nó cho đến khi nó biến đi. Tôi ngửi và nếm nó như trong những giờ tỉnh thức; nhưng xúc giác đóng một vai trò bớt quan trọng. Trong giấc ngủ, tôi hầu như không bao giờ mò mẫm. Không ai hướng dẫn tôi. Ngay cả trên một đường phố đông đúc, tôi cũng độc lập, một sự độc lập hoàn toàn xa lạ với cuộc sống thể lý của tôi. Bây giờ tôi hiếm khi đánh vần trên những ngón tay mình, và những người khác, càng hiếm khi đánh vần vào bàn tay tôi. Tâm trí tôi hành động độc lập với những giác quan tôi. Tôi vui sướng được như thế, dù chỉ trong giấc ngủ; bởi vì, lúc ấy linh hồn tôi mang vào đôi hài có cánh của nó, và vui sướng gia nhập vào đội ngũ của những hữu thể cư ngụ bên ngoài tầm với của những giác quan thể lý.

Sự thiếu nhất quán của những giấc mơ thì hết sức rõ ràng. Những giấc mơ của tôi trở nên ngày càng ít hòa điệu với những nguyên tắc riêng tư của tôi. Hằng đêm, tôi bị ném vào trong một mớ hỗn tạp vô đạo đức của những cực đoan. Tôi phải, hoặc là bảo vệ một người khác cho tới giọt máu cuối cùng, hoặc kết án anh ta quyết liệt. Trong giấc mơ, tôi phạm tội sát nhân, để cứu sinh mạng của những người khác. Gán cho những người tôi yêu mến nhất những hành vi và lời nói, mà nó khiến cho tôi khổ tâm khi nhớ lại, và tôi ném lên họ lời trách móc này sau lời trách móc nọ. Thật may mắn cho sự bình an tâm hồn của chúng ta, rằng những giấc mơ độc ác nhất đều bị quên đi nhanh chóng. Cái Chết, đột nhiên và khủng khiếp, những tình yêu và thù hận kỳ lạ được theo đuổi một cách không ân hận, sự trả thù được hoạch định một cách tinh ranh, và sáng hôm sau, nó chỉ còn là những hồi ức lờ mờ, và trong ngày, chúng bị xóa đi bởi những hoạt động bình thường của tâm trí.

Đôi khi ngay khi tỉnh dậy, tôi quá bực mình với ký ức về sự hỗn loạn của những giấc mơ, đến nỗi, tôi mong ước, ước chi mình đừng nằm mơ nữa. Nhưng rồi, tôi lại rơi vào trong một cơn xáo động mới của những giấc mơ.

Ôi, những giấc mơ, ta đã chồng chất xiết bao ô nhục lên chúng bây – chúng bây, những sự thể vớ vẩn nhất có thể tưởng tượng, những con khỉ hỗn xược,“kẻ bịa đặt” những tương phản khả ố, những con chim báo điềm dữ, những vọng âm giễu cợt, những nhắc nhở không đúng lúc, những sầu muộn trở đi trở lại, những bộ xương trong ghế dựa của ta, những kẻ giễu cợt [66] trong nấm mồ, những cái đầu của Thần Chết tại tiệc cưới, những kẻ ngoài vòng pháp luật của bộ não mà hằng đêm thách thức sự kiểm soát của tâm trí, những kẻ phá vỡ sự bình an nội tại [domestic] của ta, những kẻ sát nhân của giấc ngủ. “Ồ, những giấc mơ khủng khiếp mà đã xáo trộn linh hồn ta!” Thảo nào mà Hamlet thích những tai họa mà anh ta biết, hơn là phải chịu đựng sự run rủi của giấc mơ.

Thế nhưng, nếu cất bỏ cõi mơ, thì sự mất mát là không thể nào lường được. Cái “bùa chú” thần diệu vốn gắn kết thi ca lại với nhau, bị đánh vỡ. Cái huy hoàng của nghệ thuật và cái sức mạnh bay bổng của trí tưởng tượng bị giảm sút, bởi vì không có “ảo tượng” [67] nào của những buổi hoàng hôn và những bông hoa không phai tàn thúc giục tiến về một mục tiêu. Đã mất đi sự “đồng lõa” [68] vốn khích lệ linh hồn giễu cợt những giới hạn của thời gian và không gian, dự báo và thu hái trong những mùa gặt cho những thời đại tương lai. Nếu xóa đi những giấc mơ, thì người mù mất đi một trong những niềm an ủi chính yếu của họ; bởi vì trong những cái mơ thấy trong giấc ngủ, họ thấy niềm tin của họ vào cái “tâm trí sáng láng” của họ, sự mong đợi của họ về ánh sáng ở bên kia cái đêm tối trống không, chật hẹp, được chứng minh. Nói đúng hơn, khái niệm của chúng tôi [những người mù. ĐTN] về tính bất tử bị lung lay. Đức tin, động lực của đời sống con người, tàn lụi dần. Trước sự trống rỗng và cằn cỗi như thế, thì những chấn động của những thế giới đổ nát, quả thực, được chào đón. Quả thực, những giấc mơ mang đến cho chúng ta ý tưởng – độc lập với chúng ta, và bất chấp chúng ta – rằng, linh hồn “có thể chỉnh đốn bản tính của nó, buộc cánh buồm lớn vào sợi dây thừng vững chắc, và hân hoan lao vụt về Cái Vô Hạn.”

____

[63]  Misty unrealities.

[64]  Warp.

[65]  Woof.

[66]  Jesters.

[67]  Phantom.

[68]  Connivance.
 

CHƯƠNG XIV

NHỮNG GIẤC MƠ VÀ THỰC TẠI

 

          Thật ngạc nhiên khi nghĩ về việc như thế nào mà cái thế giới thực, thế giới “tỉnh” [69] lại xoay xung quanh những cái phi thực tối tăm của Cõi Mơ. Mặc dù mọi thứ mà chúng ta nói về cái rời rạc, vô lý của những giấc mơ, nhưng chúng ta thường lý luận dựa trên chúng. Chúng ta đặt cược những hy vọng lớn nhất của mình trên chúng. Hơn thế nữa, trên nền tảng của chúng, chúng ta xây “ngôi nhà” của một thế giới lý tưởng. Tôi có thể nói rằng, ít có bài thơ đẹp nào, ít tác phẩm nghệ thuật cao cả nào, hay bất cứ hệ thống triết học nào, mà trong đó, không có bằng chứng rằng, những ảo tượng của giấc mơ tượng trưng cho những chân lý bị che giấu bởi những hiện tượng [70]. Sự kiện rằng, trong những giấc mơ, sự hỗn độn ngự trị, và những nối kết phi lý tính xuất hiện, biện minh cho cái lý thuyết mà Sir Arthur Mitchell và những nhà khoa học khác chủ trương, rằng tư duy trong giấc mơ của chúng ta thì không được kiểm soát và hướng dẫn bới ý chí. Ý chí – sức mạnh kềm chế và hướng dẫn – tìm thấy sự nghỉ ngơi và sự tươi mới trong giấc ngủ, trong khi tâm trí, giống như một con thuyền không bánh lái hay la bàn, trôi dạt vô định trên một đại dương chưa thám hiểm. Nhưng khá ngạc nhiên, những mộng mị và những đan quyện này của tư tưởng, thì chỉ được tìm thấy trong những bài thơ vĩ đại, giàu tưởng tượng như Færie Queene của Spenser. Lamb bị ấn tượng bởi sự tương tự giữa “tư duy trong mộng” của chúng ta và sự vận hành của trí tưởng tượng.

Nói về biến cố xảy ra trong hang của thần Mammon [71], Lamb viết:

“ […] Những gì mà có vẻ như quá vô định và thế nhưng, quá mạch lạc, khi đặt dưới sự xem xét trầm tĩnh, sẽ hiện ra quá vô lý và quá rời rạc, đến nỗi mà, chúng ta xấu hổ là đã bị lừa như thế, và đã, dù trong giấc ngủ, xem một quái vật là một vị thần.”

Có lẽ tôi cảm nhận nhiều hơn những người khác sự tương tự giữa thế giới của cuộc sống “trong khi thức” của chúng ta và thế giới của những giấc mơ, là bởi vì, trước khi tôi được giáo dục, tôi sống trong một loại giấc mơ bất tận. Cái bằng chứng của bố mẹ tôi và những người bạn vốn quan sát tôi ngày này sang ngày nọ, là phương tiện duy nhất mà tôi có để biết về những năm sớm sủa, mờ mịt kia của thời thơ ấu của tôi. Hành vi đi ngủ và tỉnh dậy vào buổi sáng, chỉ một mình nó đánh dấu sự chuyển tiếp từ thực tại sang Cõi Mơ. Theo như tôi biết, thì bất luận ngủ hay thức, tôi chỉ cảm nhận [mọi sự] thông qua cơ thể mình. Tôi không thể nhớ quá trình nào mà bây giờ tôi có thể gán cho nó cái từ “ ý nghĩ.” Đúng là, những cảm giác của tôi thì cực kỳ nhạy bén; nhưng vượt quá một sự kết nối thô thiển với những nhu cầu thể lý, thì chúng không được nối kết hay được hướng dẫn. Chúng có ít liên hệ với nhau, với tôi, hay với kinh nghiệm của những người khác. Ý tưởng – cái vốn mang lại “đồng nhất tính” [72] và sự liên tục cho kinh nghiệm – xuất hiện khi tôi ngủ và khi tôi thức, đồng thời với sự tỉnh dậy của ý thức về mình. Trước khoảnh khắc đó, thì tâm trí tôi ở trong một trạng thái “vô chính phủ” [73] mà trong đó những cảm giác vô nghĩa hoành hành, và nếu ý tưởng hiện hữu, thì nó quá mơ hồ và vô lý, đến nỗi nó không thể được xem là một phần của “diễn ngôn.” [74] Thế nhưng, trước khi sự giáo dục của tôi bắt đầu, tôi đã nằm mơ. Tôi biết rằng, tôi hẳn đã nằm mơ, bởi vì tôi không nhớ có sự gián đoạn nào trong những kinh nghiệm xúc giác của mình. Những sự vật rơi xuống đột xuất, nặng nề. Tôi cảm thấy y phục mình bốc cháy, hoặc tôi rơi xuống một chậu nước lạnh. Một lần, tôi ngửi thấy chuối, và cái mùi trong mũi tôi quá sinh động, đến nỗi vào buổi sáng, trước khi thay quần áo, tôi đến cái tủ đựng thức ăn để tìm chuối. Không có trái chuối nào, và không có mùi chuối ở đâu cả! Quả thực, trọn đời tôi là một giấc mơ.

Sự tương tự giữa trạng thái thức và ngủ của tôi, thì vẫn rõ rệt. Trong cả hai trạng thái, tôi “thấy,” nhưng không phải bằng đôi mắt của tôi. Tôi “nghe,” nhưng không phải bằng tai. Tôi nói và được đáp lại, mà không có âm thanh của một giọng nói. Tôi xúc động một cách vui sướng bởi những “hiển thị” [visions] có vẻ đẹp khôn tả mà tôi chưa bao giờ nhìn ngắm trong thế giới vật lý. Một lần, trong một giấc mơ, tôi nắm trong tay một viên ngọc. Viên ngọc mà tôi thấy trong những giấc mơ của mình, do vậy, hẳn phải là sự sáng tạo của trí tưởng tượng của tôi. Nó là một khối thủy tinh nhẵn nhụi, được tạo hình một cách tinh xảo. Trong khi tôi nhìn vào trong cái chiều sâu lóng lánh của nó, linh hồn tôi tràn ngập một cơn ngây ngất dịu ngọt, và tôi ngạc nhiên thích thú như một kẻ lần đầu tiên nhìn vào trái tim mát rợi, đáng yêu của một bông hồng. Viên ngọc của tôi là sương và lửa, màu xanh lá cây như nhung của rêu, màu trắng mềm mại của hoa huệ, và những sắc màu được tinh lọc và sự tươi mát của một nghìn bông hồng. Dường như với tôi, linh hồn của cái đẹp đã hòa tan vào khối thủy tinh của viên ngọc đó. Cái nhìn phong phú này củng cố niềm xác tín của tôi rằng, cái thế giới mà tâm trí xây dựng lên, từ vô số kinh nghiệm và gợi ý tinh tế, thì đẹp hơn cái thế giới của những giác quan. Cái vẻ huy hoàng của hoàng hôn mà các bạn tôi tôi nhìn ngắm qua những ngọn đồi đang tím thẫm, thì tuyệt vời. Nhưng cảnh hoàng hôn của “cái nhìn bên trong” mang đến niềm hoan lạc thuần khiết hơn, bởi vì nó là sự pha trộn tuyệt vời của mọi vẻ đẹp mà chúng ta đã biết và mơ ước.

Tôi tin rằng, tôi may mắn trong những giấc mơ của mình hơn phần lớn người khác, bởi vì khi tôi nhìn kỹ lại những giấc mơ của mình, thì những giấc mơ thú vị dường như nổi trội, mặc dù chúng ta, một cách tự nhiên, hồi tưởng một cách sinh động nhất và kể lại một cách háo hức nhất những cuộc phiêu lưu kỳ quái và dị thường nhất trong Cõi Mơ. Tuy nhiên, tôi có những người bạn, mà những giấc mơ của họ luôn bị quấy rối và phiền muộn. Họ tỉnh dậy, mệt mỏi và bầm giập, và họ bảo tôi rằng, họ sẽ đổi một vương quốc để lấy một đêm ngủ không mơ. Có một người bạn tuyên bố rằng, cô ta chưa bao giờ có một giấc mơ hạnh phúc trong đời mình. Sự ma sát và lo lắng của ngày xâm lăng cái lãnh địa êm ái của giấc ngủ và khiến cô mệt mỏi. Tôi cảm thấy rất thương xót cho người bạn này, và có lẽ, sẽ là thiếu tế nhị, khi nhấn mạnh niềm vui sướng của giấc mơ trong sự hiện diện của một người mà kinh nghiệm trong mơ của họ quá bất hạnh. Đúng là những giấc mơ của tôi thường êm ái, ít có những nghịch cảnh. Mọi hoài vọng về cái kỳ lạ, cái quái gở, “ma mị” đều được thỏa mãn trong những giấc mơ. Chúng mang tôi ra khỏi cái quen thuộc và cái tầm thường, tẻ nhạt. Trong một chớp mắt, chúng cất đi gánh nặng từ đôi vai tôi, cái nhiệm vụ vặt vãnh từ bàn tay tôi, và sự đau đớn, thất vọng từ trái tim tôi, và tôi nhìn ngắm khuôn mặt đáng yêu của giấc mơ tôi.

Nó nhảy múa xung quanh tôi với nhịp điệu vui tươi và lao đi chỗ này chỗ kia trong sự buông thả hạnh phúc. Bỗng nhiên, những “ảo tượng” đáng yêu nổi lên từ mọi xó xỉnh và ngóc ngách, và những cái ngạc nhiên thú vị gặp gỡ tôi khắp mọi nơi, mọi lúc. Một giấc mơ hạnh phúc thì quý giá hơn vàng và hồng ngọc.

Tôi thích nghĩ rằng, trong những giấc mơ, chúng ta có thể chụp bắt những thoáng nhìn về một cuộc sống lớn hơn cuộc sống của riêng ta. Chúng ta thấy nó khi còn bé, hoặc như một kẻ man dã viếng thăm một dân tộc văn minh. Những ý tưởng được truyền đạt đến chúng ta, chúng ở rất cao phía trên sự suy nghĩ bình thường của ta. Những cảm nhận cao thượng hơn và khôn ngoan hơn bất cứ cảm nhận nào mà chúng ta đã biết, làm phấn khích chúng ta giữa những tiếng đập của trái tim. Trong một đêm thoáng qua nhanh, một bản chất cao cả hơn chụp bắt chúng ta, và chúng ta trở nên vĩ đại như những nguyện vọng của mình. Tôi dám nói rằng, chúng ta trở lại với cái thế giới nhỏ bé của những sinh hoạt thường nhật của mình với một ký ức méo mó và phiến diện về những gì mà chúng ta đã thấy... Sự bao quát của ý nghĩ ta, bất luận chúng ta ngủ hay thức, chắc chắn lệ thuộc phần lớn vào cái khí chất, cái “tạng” riêng của chúng ta, những tập quán, và năng lực tinh thần của chúng ta. Nhưng bất luận cái bản chất của những giấc mơ của ta có ra sao đi nữa, thì cái quá trình tinh thần vốn đặc trưng hóa chúng, thì tương tự như những quá trình vốn diễn tiến trong tâm trí khi tâm trí không bị ý chí can thiệp vào.

____

69] “Tỉnh”, có nghĩa là “thức”, không nằm mơ.
[70]  Nhận xét này, chắc hẳn phải khiến cho Freud và Jung kinh ngạc!
[71]  Mammom: Vị thần chủ trì về của cải.
[72]  Identity.
[73]  Anarchy.
[74]  Discourse.

 

CHƯƠNG XV

GIẤC MƠ TRONG KHI TỈNH

 

          Tôi đã ngồi hàng giờ trong một loại mơ màng, để cho tâm trí lang thang tự do, không kềm chế và không định hướng, và nhàn rỗi ghi lại tiếng đập không dứt của ý tưởng này trên ý tưởng nọ, hình ảnh này trên hình ảnh nọ. Tôi đã quan sát thấy rằng, những ý tưởng của tôi tạo ra mọi loại kết nối, quanh co, trong những vòng tròn đồng tâm, và tản ra trong những cơn lốc của trí tưởng tượng, hệt như trong những giấc mơ. Một hôm, tôi có một “cuộc nô đùa văn học” với một chuỗi ý tưởng nào đó, mà ghé thăm tôi vào một buổi chiều. Tôi viết trong 3 hay 4 giờ khi chúng đến, và kết quả, bản tường thuật thì rất giống như một giấc mơ. Tôi phát hiện rằng, những ý tưởng rời rạc nhất, khác nhau nhất cùng dắt tay nhau đến – tôi mơ một giấc mơ hoàn toàn tỉnh thức. Sự khác biệt nằm ở chỗ, trong những “giấc mơ khi đang thức”, tôi có thể nhìn lại sự tiếp nối vô tận của những ý tưởng, trong khi trong những giấc mơ trong giấc ngủ, thì tôi chỉ có thể nhớ lại rất ít ý tưởng và hình ảnh. Tôi chụp bắt những sợi bị đứt từ một “khuôn mẫu” mà tôi không thể thấy, hoặc những chiếc lá rực sáng mà đã bay bồng bềnh trên một cơn gió từ một cái cây mà tôi không thể nhận diện.Trong sự mơ màng này, tôi nắm chìa khóa của cái chuỗi ý tưởng đó. Tôi ghi lại chúng để chứng minh rằng, có sự tương tự giữa những ý tưởng khi chúng không được hướng dẫn [trong khi thức] và cái “cách hành xử” thực sự của “tư duy trong giấc mơ.”

Tôi có một bài tiểu luận phải viết. Tôi muốn tâm trí mình tươi mới và dễ bảo, và tất cả những “thuộc hạ” của nó sẵn sàng nâng đỡ hai bàn tay tôi trong nhiệm vụ đó. Tôi dự định sẽ trình bày một cách “thông thái” về những kinh nghiệm giáo dục của tôi, và tôi rất muốn làm hết sức mình. Tôi có một “kế hoạch làm việc” trong đầu cho bài tiểu luận, nó phải “nghiêm nghị,” minh triết, và dồi dào ý tưởng.Tuy nhiên, nó phải có một cái phong vị hàn lâm, và bạn đọc sẽ phải bị ấn tượng bởi cái sự đĩnh đạc, nghiêm nghị của bậc “mũ cao, áo dài.” Tôi tự nhốt mình trong thư phòng, quyết tâm gõ lên máy chữ cái chương “bất tử” này về lịch sử đời tôi. Alexander Đại Đế không tự tin trong việc chinh phục châu Á với đội quân tinh nhuệ mà cha ông, Philip, đã huấn luyện. Thì cũng vậy, tôi không tự tin về việc sẽ tìm thấy ngôi nhà tinh thần của mình ở trong trật tự, và trong những ý tưởng dễ bảo của tôi. Tâm trí trí tôi đã có một kỳ nghỉ dài, và tôi, bây giờ đang trở lại với nó trong một giờ khắc mà nó không “để ý đến tôi.” Tình huống của tôi cũng tương tự như tình huống của người chủ, đi tới một đất nước xa xôi, và mong đợi, khi về nhà, sẽ tìm thấy mọi sự y nguyên như khi ông ta rời nó. Nhưng khi trở lại, ông thấy những tôi tớ của ông đang tổ chức một bữa tiệc. Sự hỗn loạn đang lan tràn.

Mọi người đang khiêu vũ. Có tiếng đàn vĩ cầm, và tiếng bép xép của nhiều cái lưỡi, đến nỗi, giọng nói của ông chủ không thể được nghe thấy. Mặc dù ông quát to và đập mạnh lên cổng, nhưng nó vẫn đóng.

Với tôi cũng vậy. Tôi thổi kèn trumpet to và lâu; nhưng các “thuộc hạ” của ý tưởng của tôi không tập hợp dưới lá cờ hiệu của tôi. Mỗi người đặt vòng tay quanh thắt lưng bạn nhảy của mình … Không có gì để làm. Tôi thất vọng nhìn xung quanh vào đám tùy tùng đông đảo của mình, và nhận thức rằng, không phải việc sở hữu một vật, mà khả năng sử dụng nó, mới có giá trị. Tôi ngồi xuống ghế dựa để quan sát “màn trình diễn.” Khá thú vị khi ngồi ở đó, quan sát chính những ý tưởng của mình nô đùa. Nó giống như việc suy nghĩ những điều hay ho để nói, mà không cất công để ghi lại chúng. Tôi cảm nhận như Alice trong xứ Thần tiên, khi cô ta chạy hết tốc lực với vị “hoàng hậu đỏ” và không bao giớ tới một nơi nào cả.

Cuộc vui đùa tiếp tục một cách điên cuồng. Những kẻ khiêu vũ, họ đang nhảy múa theo thể cách của những ý tưởng. Có những ý tưởng buồn và những ý tưởng hạnh phúc. Những ý tưởng phù hợp với mọi khí hậu và thời tiết, những ý tưởng mang con dấu của mọi thời đại và dân tộc, những ý tưởng ngớ ngẩn và những ý tưởng khôn ngoan, những ý tưởng về những con người, về những sự vật, và về “hư vô,” những ý tưởng thiện lành, những ý ý tưởng ranh ma, và những ý tưởng khoáng đạt, nhân ái.

Chú thích của người dịch:

[Đoạn cuối, khoảng 3 trang. Tác giả diễn đạt quá rối rắm, nên chúng tôi thấy, nếu tóm tắt đại ý, thì bạn đọc dễ hiểu hơn].

* Tác giả kể lại nhiều “giấc mơ trong khi tỉnh,” vô cùng quái dị của mình. Những “giấc mơ” hoàn toàn không theo logic của cuộc sống bình thường.

* Một số những “giấc mơ” đó, phát xuất từ những nhân vật mà tác giả đã đọc thấy trong những cuốn sách. Nhiều nhân vật nổi tiếng xuất hiện trong những “giấc mơ” của tác giả, chẳng hạn như Homer, Molière, Aristophanes, Shelley, Calvin, Shakespeare…

* Kết luận của tác giả: “Những giấc mơ khi tỉnh” cũng không khác bao nhiêu, so với “những giấc mơ khi ngủ”.

BÀI TỤNG CA BÓNG TỐI

 

Tôi không dám hỏi, tại sao chúng ta [75] bị tước bỏ ánh sáng,
Bị trục xuất đến những hòn đảo nhỏ cô liêu
giữa những đại dương vô lượng
Hoặc, như thế nào, mà thị giác chúng ta được phát triển để chứng kiến bao cảnh sắc huy hoàng,
Để rồi phai tàn và biến đi, để lại chúng ta một mình trong bóng tối.
Sự bí mật của Thượng đế ở trên bàn thờ của chúng ta;
Tôi không dám tò mò tìm hiểu cái Huyền Nhiệm của Ngài. Tôi chỉ biết:
Với Ngài là sức mạnh, với Ngài là sự minh triết,
Và sự minh triết của Ngài đã đặt bóng tối lên những lối đi của chúng ta.

Từ cái bóng tối không có bản đồ, bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về
Vào trong cái bóng tối bao la, câm lặng.

Ôi, Bóng Tối! Bóng tối khủng khiếp, dịu dàng, Bóng Tối thiêng liêng !
Trong những khoảng không gian uy nghi của Người [76], vượt quá con mắt loài người,
Thượng Đế đã nặn ra cái vũ trụ của Ngài; đặt nền tảng cho trái đất,

Đặt kích thước cho nó, và gạch đường thẳng lên nó;
Đóng đại dương bằng những cánh cửa, và biến cái huy hoàng của những đám mây thành một vỏ bọc cho nó;
Sai khiến buổi sáng của Ngài, và trông kìa, sự hỗn độn trốn chạy trước khuôn mặt ngước lên của mặt trời;
Rẽ một dòng nước cho sự chảy tràn của những khối nước;
Gửi mưa xuống mặt đất –
Xuống vùng hoang địa, nơi không có bóng dáng con người,
Xuống sa mạc, nơi không có ngọn cỏ nào,

Và, hãy nhìn, có màu xanh trên những đồng bằng,
Và những ngọn đồi được mặc tấm áo của cái đẹp !

Từ bóng tối không bản đồ, bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về
Vào trong bóng tối bao la, câm lặng –

Ôi, Bóng Tối! Bóng Tối bí mật và khôn dò !

Trong những đáy sâu im lặng của Người, mà những mạch nước của chúng, con người chưa thăm dò,
Thượng Đế tạo ra linh hồn con người.

Ôi, Bóng Tối ! Bóng Tối từ bi, toàn trí !

Một cách âu yếm, Người gửi thông điệp đến cho con người.
Nhẹ nhàng, Người đặt tay lên mí mắt mỏi mệt của hắn,
Và linh hồn hắn, bơ phờ và nhớ nhà, trở lại vòng tay êm ái của Người.

Từ bóng tối không bản đồ, bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về
Vào trong bóng tối bao la, câm lặng –


Ôi, Bóng Tối ! Ôi Bóng Tối minh triết, tràn đầy sức sống, gợi lên bao ý tưởng!

Trong sự huyền nhiệm của Người, Người giấu làn ánh sáng,
Vốn là sự sống của linh hồn.

Trên những bến bờ hiu quạnh của Người, tôi bước đi không sợ hãi;

Tôi không sợ điều bất hạnh nào; mặc dù tôi bước đi trong thung lũng của bóng tối,
Tôi sẽ không biết cái nỗi sợ hãi
Khi Tử Thần dịu dàng dắt tôi xuyên qua cánh cửa mở của đời;
Khi những dải băng của đêm bị xé rách,
Và ngày rót ánh sáng tràn lan của nó.

Từ bóng tối không bản đồ, bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về
Vào trong bóng tối bao la, câm lặng.


Linh hồn rụt rè, kinh hãi, trốn xa bóng tối;
Nhưng trên hai gò má của kẻ phải lưu lại trong bóng tối
làn gió của đôi cánh thiên thần lao vụt qua,
Và xung quanh hắn, rới xuống một làn ánh sáng từ những đám lửa vô hình.
Tia sáng diệu kỳ ánh lên, xuyên qua bóng tối;
Những lối đi của cái đẹp chạy quanh co xuyên qua thế giới tối đen của hắn

Tới một thành phố khác của ánh sáng,
Nơi mà không có tấm mạng nào của giác quan đóng cửa đuổi hắn ra khỏi Thiên đàng.

Từ bóng tối không bản đồ, bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về.
bóng tối bao la, câm lặng.


Ôi, Bóng Tối ! Bóng Tối bình yên, diễm phúc !
Đối với kẻ lưu đày cô độc, mà phải cư ngụ với Người
Người thật từ ái và thân thiện;
Người tránh cho hắn khỏi phải nhìn thấy cái thế giới hà khắc;
Với hắn, Người thì thầm những bí mật của đêm tuyệt vời;
Người ban phát cho hắn những vùng rộng lớn và vô hạn như linh hồn hắn;
Người ban sự vinh quang cho mọi sự vật hèn mọn;

Với đôi cánh của Người, Người che phủ mọi vật thể xấu xí; dưới đôi cánh ấp ủ của Người, có sự bình an.

Từ bóng tối không bản đồ, bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về
trong bóng tối bao la, câm lặng.



II

Xưa kia, tôi lang thang trong những miền không ánh sáng;

Trong bóng tối rỗng không, tôi vấp té;

Và nỗi sợ hãi dắt tay tôi;

Hai bàn chân tôi ép vào mặt đất,

Sợ những cạm bẫy.

Bên nhiều nỗi kinh hoàng không hình dạng của đêm kinh hãi,

Tôi chìa vòng tay cầu khẩn ra với ánh ngày.

Rồi Tình yêu đến, mang trên bàn tay Bà cây đuốc, thắp sáng dưới hai bàn chân tôi,

Và Tình yêu dịu dàng lên tiếng:

“Con đã bước vào kho tàng của đêm chưa?

Hãy khám phá sự mù lòa của con.

Nó chứa đựng những kho báu vô lượng.”

Những lời của Tình yêu khiến linh hồn tôi bốc lửa.
Những ngón tay háo hức của tôi tìm kiếm những huyền nhiệm,
Những vẻ huy hoàng, sự thiêng liêng sâu xa nhất của những sự thể,
Và trong những khoảng trống không, phát hiện ra,
Với giác quan của linh hồn [77], sự tròn đầy của sự sống;
Và cánh cổng của Ngày mở rộng.
Tôi run rẩy vui mừng;

Tứ chi tôi run với niềm vui;

Trái tim tôi và mặt đất
Run rẩy với hạnh phúc;
Cơn xuất thần của sự sống
Hiện diện khắp nơi trong thế giới.
Kiến thức đã vén mở thiên đường;
Trên những bến bờ xa xôi nhất của bóng tối, có ánh sáng;
Nửa đêm đã gửi ra một tia sáng!

 

Hỡi kẻ mù lòa vốn từng vấp ngã trong bóng tối không ánh sáng
Hãy nhìn một ngày mới!
Trong sự tối tăm, ánh lên ngôi sao của Tư Tưởng;
Trí tưởng tượng có một con mắt phát sáng,
Và tâm trí có một cái nhìn huy hoàng.
 


III

“Một kẻ bị mù. Đối với hắn, cuộc đời là gì?
Một cuốn sách bị đóng, với một khuôn mặt mù lòa.
Ước chi hắn có thể thấy,
Ngôi sao quảng đại trên kia, và biết
Trong một khoảnh khắc siêu việt, niềm vui phập phồng của thị giác!”

Mọi hình ảnh là của linh hồn.
Hãy chiêm ngưỡng nó trong chuyến bay hướng thượng

Của linh hồn thoát khỏi xiềng xích!

Bạn có thấy
Ý tưởng nở hoa trên khuôn mặt đứa trẻ mù?

Bạn đã thấy tâm trí nó phát triển,

Giống như bình minh hối hả, để chụp bắt
Hình ảnh của vị Thầy?
Đó là phép mầu của cái nhìn hướng nội.
Trong những lãnh địa kỳ diệu nơi mà tôi cư ngụ
Tôi khám phá cuộc đời với hai bàn tay tôi;
Tôi nhận ra, và tôi hạnh phúc;

Những ngón tay tôi vẫn hằng khát khao mặt đất,
Và tôi hân hoan uống cạn những diệu kỳ của nó,
Tát cạn những hoan lạc thân yêu của mặt đất;

Hai bàn chân tôi đầy tiếng thì thầm,
Tiếng nhảy đập của mọi sự vật tăng trưởng.
Đây là xúc giác, sự run rẩy này,
Ngọn lửa này, vòm trời này,
Sự lao vụt vui mừng của máu,
Làn ánh sáng ban ngày này trong tim tôi,
Hơi ấm của đồng cảm trong hai lòng bàn tay tôi!
Cái xúc giác mù lòa, yêu thương, cái xúc giác muốn khám phá tất cả,
Người mở cuốn sách đời cho tôi.
Những âm thanh bé nhỏ, vô thanh của mặt đất
Đến với tiếng xào xạc nhẹ nhàng nhất;
Hai bàn chân e lệ, êm ái của đời;
Tiếng thì thầm nhẹ nhàng của đôi cánh của con mối
Áp vào lòng bàn tay tôi;
Tiếng đập inh ỏi của đôi cánh côn trùng,
Tiếng nhỏ giọt của dòng nước ánh bạc;
Những làn gió nhẹ bận rộn trong cỏ mùa hạ;
Âm nhạc của những chiếc lá hơi quăn, hối hả, vội vã,
Những chiếc lá xoay tròn, bị gió quét đi, bám đầy tuyết giá;
Cơn mưa thủy tinh của mùa hạ,
Thấm đẫm những mùi của đất.

Với những ngón tay tỉnh táo, tôi lắng nghe
Những cơn mưa rào của âm thanh
Khi gió lay lá cây từ khu rừng.
Tôi tắm [bathe] trong bóng râm sũng nước
Dưới những cây thông, nơi mà không khí mát dịu
Sau khi cơn mưa rào đã tạnh.
Người bạn nhỏ tinh nghịch của tôi, chú sóc,
Chạm nhẹ vào vai tôi với cái đuôi của nó,
Nhảy từ khóm lá này sang khóm lá kia,
Trở về ăn bữa điểm tâm của nó từ bàn tay tôi.
Giữa chúng tôi, có niềm đồng cảm vui mừng;
Nó nhảy nhót nô đùa; mạch máu tôi nhảy múa;
Tôi hân hoan, tràn ngập niềm vui của đời!

Há chẳng phải những ngón tay tôi đã chẻ cát
Trên bãi biển ngập nắng?
Há chẳng phải cơ thể trần truồng của tôi cảm nghe nước hát
Khi biển vây quanh nó
Với âm nhạc rì rào?
Há chẳng phải tôi đã cảm thấy
Điệu nhạc của những con sóng dưới chiếc xuồng của tôi,
Tiếng đập phần phật của cánh buồm,
Sự căng thẳng của cột buồm,
Sự lao vụt điên cuồng
Của những cơn gió đầy tia chớp ?
Há chẳng phải tôi đã cảm nhận đường bay nhanh chóng, sôi nổi

Của cái mùi có cánh trước cơn bão ?

Đây là niềm vui sống động, rạng rỡ;

Đây là cơn xáo động của trái tim.

Hai bàn tay tôi khêu gợi hình ảnh và âm thanh từ xúc giác,

Kết nối sự chuyển động với hình ảnh, mùi, với âm thanh

chúng mang lại màu sắc cho cơn gió nhẹ ngọt ngào,

Nhịp điệu và nỗi đam mê của một khúc giao hưởng
Theo tiếng đập và sự run rẩy của những đôi cánh vô hình.
Trong những bí mật của trái đất và mặt trời và không khí,
Những ngón tay tôi thì khôn ngoan;
Chúng chộp lấy ánh sáng từ bóng tối,
Chúng rung động với những hòa âm thở ra trong im lặng.

Tôi bước đi trong tĩnh lặng của đêm,
Và linh hồn tôi thốt lên lời reo mừng.
Ôi, Đêm tĩnh lặng, Đêm thơm tho, tôi yêu Người!

Ôi, Đêm rộng lớn, mênh mông, tôi yêu Người!

Ôi đêm trung thành, vinh quang !

Tôi sờ vào Người với hai bàn tay tôi;
Tôi tựa vào sức mạnh của Người;
Tôi được an ủi.

Ôi, Đêm khôn dò, đêm xoa dịu đau thương!
Người là một niềm an ủi đối với linh hồn trăn trở của tôi,
Tôi nép vào trong ngực của Người, đầy niềm tri ân,
Người mẹ nhân từ, tối đen!

Như một con bồ câu tôi yên nghỉ nơi ngực Người.

Từ bóng tối không bản đồ, bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta lại trở về
Trong bóng tối bao la, câm lặng.

Chú thích:

[75]  We: chúng ta; chúng tôi. Tôi dịch “we” là “chúng ta”, nhưng nghĩ rằng, tác giả đang nói với những người mù, chứ không phải với tất cả mọi người.

[76]  “Người” ở đây chỉ “Bóng Tối.” Còn “Ngài”, chỉ “Thượng đế.”

[77]  Spiritual sense: “giác quan của linh hồn.” Ý tác giả muốn nói, có 5 giác quan của thể xác, và linh hồn cũng là một loại “giác quan”, có thể tri giác mọi sự mà không qua giác quan thể lý.

Helen Keller

Đỗ Tư Nghĩa dịch

Theo https://www.art2all.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Những cái không phải là thiền tập

Những cái không phải là thiền tập Vài nét về tác giả:  Ni sư Charlotte Joko Beck  [1917- 2011] Sinh năm 1917, tại New Jersey. Học âm nhạc ...