Thế giới tôi đang sống
PHÀM LỆ:
1. Những cước chú và những
chữ in nghiêng trong bản dịch này đều là của người dịch.
2. Chúng tôi có chua thêm một số từ tiếng Anh để bạn đọc dễ bề tham khảo.
3. Tuy đã cố gắng nhiều nhưng chắc chắn không thể nào tránh khỏi sai sót. Xin bạn
đọc góp ý để bản dịch được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cám ơn.
CHƯƠNG
II: BÀN TAY CỦA KẺ KHÁC
CHƯƠNG
III: BÀN TAY CỦA CHỦNG LOẠI NGƯỜI
CHƯƠNG
IV: SỨC MẠNH CỦA XÚC GIÁC
CHƯƠNG
V: NHỮNG RUNG ĐỘNG TINH TẾ HƠN
CHƯƠNG
VI: KHỨU GIÁC, VỊ THIÊN THẦN BỊ ĐỌA
CHƯƠNG
VII: GIÁ TRỊ TƯƠNG ĐỐI CỦA NHỮNG GIÁC QUAN
CHƯƠNG
VIII: THẾ GIỚI 5 GIÁC QUAN
CHƯƠNG
X: NHỮNG LOẠI SUY TRONG TRI GIÁC GIÁC QUAN
CHƯƠNG
XI: TRƯỚC KHI LINH HỒN TỈNH DẬY
CHƯƠNG
XII: MẮT MÙ NHƯNG TÂM KHÔNG MÙ
CHƯƠNG
XIII: THẾ GIỚI CỦA GIẤC MƠ
CHƯƠNG
XIV: NHỮNG GIẤC MƠ VÀ THỰC TẠI
CHƯƠNG
XV: GIẤC MƠ TRONG KHI TỈNH
CHƯƠNG I
BÀN TAY NHÌN THẤY [1]
Tôi vừa sờ
vào con chó của tôi. Nó đang lăn trên cỏ, với sự thích thú trong mọi bắp thịt
và tứ chi. Tôi muốn lưu giữ một hình ảnh về nó trong những ngón tay tôi, và tôi
sờ vào nó nhẹ nhàng như sờ vào những màng nhện; nhưng, trông kìa, cơ thể nó
xoay tròn, cứng lại thành một vị trí thẳng đứng, và lưỡi nó liếm bàn tay tôi một
cái ! Nó ép sát vào tôi, như thể nó sẵn sàng đổ xô vào bàn tay tôi. Nó yêu bàn
tay tôi với cái đuôi, với cái móng, với cái lưỡi của nó. Nếu nó nói được, tôi
tin rằng, nó sẽ nói với tôi rằng, thiên đường được đạt tới bằng xúc
giác; bởi vì xúc giác chứa đựng toàn bộ tình yêu và sự thông minh.[2]
Sự việc nhỏ bé này đã gây cảm hứng cho tôi, để khởi sự một cuộc tán gẫu về những
bàn tay, và nếu sự tán gẫu của tôi may mắn, tôi phải cám ơn con chó của mình.
Dù sao đi nữa, thật thú vị khi có một cái gì đó để nói về, mà không ai khác có
độc quyền; nó giống như tạo ra một con đường mới trong những khu rừng không lối,
nơi mà không có bàn chân nào đã giẫm lên trước đó. Tôi vui mừng nắm tay bạn và
dẫn bạn dọc theo một lối đi chưa ai từng đặt chân, vào trong một thế giới
mà ở đó, bàn tay có địa vị tối cao. Nhưng ngay ở sự khởi đầu, chúng ta gặp
phải một khó khăn. Bạn quá quen với ánh sáng, và tôi e rằng, bạn sẽ vấp té khi
tôi cố hướng dẫn bạn xuyên qua vùng đất của bóng tối và sự im lặng. Không ai
nghĩ rằng, người mù là kẻ hướng đạo tốt nhất. Tuy vậy, mặc dù tôi không thể bảo
đảm là không lạc mất bạn, tôi hứa rằng, bạn sẽ không bị dẫn vào trong lửa hay
nước, hay té vào một vực sâu. Nếu bạn đi theo tôi một cách kiên nhẫn, bạn sẽ thấy
rằng, “có một âm thanh quá đẹp, không có gì sống [live] giữa nó và sự im lặng”
và rằng, có nhiều ý nghĩa trong sự vật, so với những gì mà con mắt gặp gỡ.
Bàn tay tôi, đối với tôi,
là thính giác và thị giác của bạn gộp lại. Nhìn chung,
chúng ta du hành trên cùng những xa lộ, đọc cùng những cuốn sách, nói cùng một
ngôn ngữ, thế nhưng, những kinh nghiệm của chúng ta thì khác biệt. Tất cả mọi
cái đến và đi của tôi [3] đều xoay trên bàn tay như trên một cái trục.
Chính bàn tay là cái ràng buộc tôi vào thế giới của đàn ông và đàn bà. Bàn tay
là cái radar của tôi, với nó tôi vươn ra, xuyên qua sự cô lập
và bóng tối và chụp bắt mọi lạc thú, mọi sinh hoạt mà những ngón tay tôi chạm
vào. Khi bàn tay một người khác thả vào bàn tay tôi một từ [word] nhỏ bé, một sự
rung động nhẹ của những ngón tay [4], cũng là lúc mà sự thông minh, niềm vui, sự
tròn đầy của đời tôi bắt đầu.
Giống như Job [5], tôi cảm
thấy như thể một bàn tay đã sáng tạo ra tôi một cách vòng vèo và nặn ra chính
linh hồn tôi.
Trong tất cả những kinh
nghiệm và ý tưởng của tôi, tôi đều ý thức về một bàn tay.
Bất cứ cái gì làm tôi xúc động, bất cứ cái gì làm tôi phấn khích, đều giống như
một bàn tay chạm vào tôi trong bóng tối, và cái xúc chạm đó là thực tại của
tôi. Bạn cũng có thể nói rằng, một quang cảnh làm cho bạn vui mừng, hay một cú
đánh khiến bạn chảy nước mắt, thì cũng phi thực [6] như nói rằng, những ấn tượng
mà tôi đã tích lũy bằng xúc giác là phi thực. Cái run rẩy tinh tế của đôi cánh
bướm, những cánh hoa mềm của hoa violet cuộn mình trong những
nếp gấp của những chiếc lá của chúng, hay nhẹ nhàng nhấc mình lên từ cánh đồng
cỏ, cái đường nét rõ ràng, xác định của khuôn mặt và tứ chi, cái vòm mịn màng
nơi cổ của một con ngựa, và cái xúc chạm êm như nhung, và một ngàn sự kết hợp vốn
hình thành trong tâm trí tôi, cấu thành thế giới của tôi.
Những ý tưởng tạo ra cái
thế giới mà trong đó chúng ta sống, và những ấn tượng cung cấp những ý tưởng. Thế
giới của tôi được xây dựng bởi xúc giác, bị tước bỏ màu sắc và âm thanh vật lý;
nhưng không màu sắc, nó vẫn thở và phập phồng với sự sống. Mọi vật thể đều được
gắn kết trong tâm trí tôi với những phẩm chất có thể sờ mó được, mà, được kết hợp
trong vô số cách, chúng cho tôi một cảm thức về quyền lực, cái đẹp, hay về sự lạc
điệu : bởi vì với bàn tay mình, tôi có thể cảm nhận cái buồn cười cũng
như cái đẹp trong cái vẻ bề ngoài của sự vật.
Hãy nhớ rằng, bị lệ thuộc
vào thị giác của mình, bạn không biết có bao nhiêu sự vật là sờ thấy được [7].
Mọi vật sờ mó được thì di động hay cứng đơ, ở thể rắn hay thể lỏng, lớn hay nhỏ,
ấm hay lạnh, và những tính chất này biến đổi một cách đa dạng. Cái mát mẻ của một
cây hoa súng đang nở hoa, thì khác với cái mát mẻ của một cơn gió chiều vào mùa
hè, và cũng khác với sự mát mẻ của cơn mưa [mà] thấm vào lòng của những vật
đang tăng trưởng và cho chúng sự sống và cơ thể. Cái chất nhung của hoa hồng
không phải là chất nhung của trái đào chín hay cái lúm đồng tiền của một đứa trẻ.
Độ cứng của đá tảng, so với độ cứng của gỗ, là sự khác biệt giữa giọng trầm sâu
[8] của người đàn ông so với giọng trầm của phụ nữ. Cái mà tôi gọi là cái đẹp,
tôi tìm thấy trong những tổ hợp nào đó của tất cả những tính chất này, và phần
lớn phái sinh từ sự luân lưu của những đường cong và đường thẳng, vốn có mặt
nơi mọi vật.
“Những đường thẳng có ý
nghĩa gì với bạn?” bạn sẽ hỏi.
Nó có nhiều ý nghĩa. Nó
tượng trưng cho bổn phận. Dường như nó có sự không-thể-lay-chuyển mà bổn phận
có. Khi tôi có một cái gì đó phải làm, mà không được phép để sang một bên, thì
tôi cảm thấy như thể tôi đang đi về phía trước trên một đường thẳng, buộc phải
đến một nơi nào đó, hoặc là tiếp tục đi mãi mà không chệch sang phải hay sang
trái. Nó có ý nghĩa như vậy. Để thoát khỏi phạm vi đạo đức, bạn sẽ hỏi: “Đường
thẳng cho cảm giác như thế nào?” Đối với tôi, dường như nó cho cảm giác thẳng –
một ý tưởng buồn tẻ bị kéo ra vô tận. Đối với xúc giác, thì sự hùng biện không
cư ngụ trong những đường thẳng, mà trong những đường không thẳng, hoặc trong
nhiều đường cong và đường thẳng xen kẽ nhau. Chúng xuất hiện và biến mất, có
lúc sâu, lúc cạn, có khi bị cắt đứt hay bị kéo dài ra hay phồng to lên. Chúng nổi
lên và chìm xuống dưới những ngón tay tôi, chúng đầy những những cú giật nẩy đột
xuất và những lần tạm ngừng, và sự đa dạng của chúng là vô tận và tuyệt vời. Do
vậy, bạn thấy đó, tôi không bị “cấm cửa” đối với vùng đất của cái đẹp,
mặc dù bàn tay tôi không thể tri giác những màu sắc rực rỡ trong buổi hoàng hôn
hay trên núi, hay vươn tới những chiều sâu màu thiên thanh, sâu thẳm của bầu trời.
Môn vật lý bảo tôi rằng,
tôi vẫn “thuận lợi” trong một thế giới mà ở đó, tôi không biết gì về màu sắc
hay âm thanh – một thế giới có kích cỡ, hình thể, và những tính chất vốn có
[9]; bởi vì ít nhất mọi vật hiện ra với những ngón tay tôi, đứng thẳng lên một
cách vững chắc, và không phải là một hình ảnh bị lộn ngược trên võng mô, mà tôi
hiểu, bộ não của bạn phải rất khó nhọc, tuy bất thức, để đưa nó về đúng vị trí
của nó. Một vật sờ mó được, đi một cách hoàn chỉnh vào trong bộ não tôi với hơi
ấm của sự sống trên nó, và chiếm cùng một trương độ mà nó chiếm trong không
gian; bởi vì, nếu không có lòng vị kỷ, thì tâm trí rộng lớn như vũ trụ [10].
Khi tôi nghĩ đến những ngọn đồi, thì tôi nghĩ đến cái sức mạnh hướng về phía
trên. Khi nước [biển] là đối tượng của ý nghĩ tôi, tôi cảm nhận sự chấn động
mát mẻ của cú phóng và sự nhượng bộ nhanh chóng của những con sóng vốn cuộn
tròn và nhấp nhô xung quanh cơ thể tôi. Những thay đổi thú vị của cái thô ráp
và cái mịn màng, cái mềm dẻo và cái cứng ngắc, cái cong và cái thẳng trong vỏ
cây và những cành cây mang sự thật đến cho bàn tay tôi. Tảng đá không thể di
chuyển với những chỗ nhô ra và bề mặt bị vênh của nó, uốn cong dưới những ngón
tay tôi thành những cái rãnh và những chỗ trũng. Chỗ phình ra của một trái dưa
hấu và sự mập tròn của những cây bí vốn đâm chồi, nở nụ và chín trong khu vườn
kỳ lạ được trồng ở một nơi nào đó đằng sau những đầu ngón tay tôi, thì buồn cười
trong ký ức và trí tưởng tượng có tính xúc giác của tôi. Những ngón tay tôi tìm
thấy niềm vui thích trong cái trầm bổng nhẹ nhàng trong tiếng cười của một hài
nhi, và trong tiếng gáy cường tráng của con gà trống của sân kho trang trại. Một
lần, tôi có một con gà trống [làm cảnh], nó thường đậu trên đầu gối tôi và gáy.
Một con chim trong bàn tay tôi thì có giá trị bằng hai con chim trong sân kho
trang trại.
Dĩ nhiên, những ngón tay
tôi không thể có những ấn tượng về cái toàn bộ rộng lớn ở “một cái liếc nhìn”
nhưng tôi cảm nhận những bộ phận, và tâm trí tôi ráp chúng lại với nhau. Tôi di
chuyển xung quanh nhà, sờ vật này sau vật nọ theo thứ tự, trước khi tôi có thể
hình thành một ý kiến về toàn bộ ngôi nhà.
Trong những ngôi nhà của
người khác, tôi chỉ sờ được những gì mà chủ nhân cho phép – những vật chính yếu
đáng chú ý, những hình chạm trên tường, hoặc một đường nét kiến trúc kỳ lạ, được
trưng bày giống như cuốn album gia đình. Do vậy, một ngôi nhà
mà tôi không quen thuộc, thoạt đầu, không gây ấn tượng tổng quát hay sự hài hòa
về chi tiết. Nó không là một khái niệm hoàn chỉnh, nhưng là một bộ sưu tập của
những ấn tượng về sự vật mà, như nó đến với tôi, rời rạc và cô lập. Nhưng tâm
trí tôi đầy những liên tưởng, cảm giác, lý thuyết, và với chúng, nó xây dựng
cái nhà. Cái quá trình này nhắc tôi nhớ đến việc xây dựng ngôi đền của Solomon,
nơi mà không có tiếng cưa, búa hay bất cứ dụng cụ nào trong khi những viên đá
đang được đặt chồng lên nhau. Người làm việc im lặng là trí tưởng tượng, mà đã
tạo ra thực tại từ sự hỗn độn.
Nếu không có trí tưởng tượng [11],
thì thế giới của tôi sẽ tồi tệ biết bao ! Khu vườn của tôi sẽ là một
miếng đất im lặng nhan nhản những cái que có đủ những hình thể và mùi. Nhưng
khi con mắt của tâm trí tôi [tâm nhãn] được mở ra trước cái đẹp của thế giới,
thì mặt đất bừng sáng lên dưới hai bàn chân tôi, và hàng giậu bung thành lá, và
những cây hoa hồng tỏa hương ra khắp mọi nơi. Tôi biết những cái cây đang nở nụ
trông ra sao, và tôi chia sẻ niềm vui tình ái với những con chim đang giao phối,
và đây là cái phép mầu của trí tưởng tượng.
Phép mầu trở thành gấp
đôi, khi, xuyên qua những ngón tay tôi, trí tưởng tượng của tôi vươn ra và gặp
trí tưởng tượng của một nhà nghệ sĩ mà đã thể nhập vào trong một tác phẩm điêu
khắc của ông. Mặc dù, so với khuôn mặt của một người bạn, linh hoạt và có hơi ấm
của sự sống, thì cẩm thạch lạnh lẽo và lãnh đạm, thiếu sinh khí, thế nhưng nó đẹp
đối với bàn tay tôi. Những đường cong duyên dáng của nó cho tôi một lạc thú
đích thực; chỉ có hơi thở là thiếu; nhưng dưới cái “bùa mê” của trí tưởng tượng,
cẩm thạch mang đến niềm phấn khích và trở thành một thực tại thiêng liêng. Trí
tưởng tượng đặt một tình cảm vào trong mọi đường thẳng và đường cong, và bức tượng
trong cái xúc chạm của tôi quả thực là chính vị nữ thần, thở và di động và làm
tôi say mê.
Tôi tìm thấy trong một bức
tượng đẹp sự hoàn thiện về mặt hình thức của cơ thể, những phẩm chất của sự cân
bằng và sự hoàn chỉnh. Bức tượng Minerva [12], lửng lơ với một
mạng lưới ám chỉ có chất thơ, cho tôi một cảm thức về sự hân hoan mà hầu như có
tính thể lý; và giống như mái tóc quăn, rậm rạp của Bacchus và Apollo, và vòng
hoa trường xuân, gợi nhớ về những ngày lễ dị giáo.
Như vậy, trí tưởng tượng
đội mũ triều thiên cho kinh nghiệm của hai bàn tay tôi.
Và chúng học sự khôn khéo từ bàn tay khôn ngoan của một người khác, mà, chính
nó, được hướng dẫn bởi trí tưởng tượng, dẫn tôi một cách an toàn trên những lối
đi mà tôi không biết, làm cho bóng tối trở thành ánh sáng trước mắt tôi, và làm
cho cái cong thành cái thẳng.
_______
[1] Bạn đọc lưu ý:
Helen Keller là một phụ nữ mù, câm, điếc. Xem tự truyện Chuyện
đời tôi, bản dịch cũng của Đỗ Tư Nghĩa, trên art2all.net.
[2] Intelligence. Cần chú
ý: đối với một người mù và điếc như Helen, thì xúc giác đóng vai trò vô
cùng quan trọng. Nó thay thế cho cả thị giác và thính giác gộp lại.
[3] All my comings and
goings.
[4] Ý nói, khi một ai đó
“đánh vần” vào bàn tay của tác giả.
[5] Job: Một nhân vật
trong Cựu Ước. Đức Chúa Trời nhiều lần thử thách ông, bắt ông phải chịu rất nhiều
tai họa, nhưng ông vẫn luôn tin tưởng Đức Chúa Trời.
[6] Unreal.
[7] Tangible.
[8] The deep bass.
[9] Inherent qualities.
[10] Lòng vị kỷ phát xuất
từ “bản ngã,” “cái tôi.” Đây là một chân lý mà không phải ai cũng có thể phát
hiện ra, kể cả những người có đầy đủ mọi giác quan như chúng ta.
[11] Chúng ta đều biết,
trí tưởng tượng là yếu tố rất quan trọng của văn học-nghệ thuật, và của cả những
phát minh khoa học. Riêng đối với một người mù-điếc như Helen, thì nó lại càng
quan trọng.
[12] Minerva: [thần thoại
La Mã] Vị nữ thần của minh triết và nghệ thuật
CHƯƠNG II
BÀN TAY CỦA KẺ KHÁC
Hơi ấm và sự
che chở của bàn tay là cái thấm thía đối với tôi, kẻ luôn hướng về nó để tìm kiếm
sự trợ giúp và niềm vui. Tôi hoàn toàn hiểu, như thế nào mà tác giả của Thánh Vịnh
có thể cất tiếng với sức mạnh và sự vui mừng, hát rằng: “Tôi đặt sự tin cậy của
tôi vào Đức Chúa Trời trong mọi lúc, và bàn tay Ngài sẽ bảo vệ tôi, và tôi sẽ
cư ngụ trong sự an ninh.” Trong sức mạnh của bàn tay con người, cũng có một cái
gì đó thiêng liêng. Tôi được cho biết rằng, cái liếc nhìn của đôi mắt thân yêu
gây cho người ta sự xúc động từ một khoảng cách; nhưng không có khoảng cách nào
trong cái xúc chạm của một bàn tay yêu dấu. Ngay cả những lá thư tôi nhận, thì
“những lá thư nhân ái biểu lộ cái lịch sử sâu xa của trái tim / mà trong đó,
chúng ta cảm nhận sự có mặt của một bàn tay.”
Thật thú vị khi quan sát
những khác biệt trong những bàn tay của những con người. Chúng cho thấy mọi loại
sức sống, năng lượng, sự tĩnh lặng, và sự thân tình. Tôi không bao giờ nhận thức
được rằng, bàn tay thì sống động ra sao, cho đến khi tôi “thấy” những bức tượng
bằng bột thạch cao lạnh giá trong bộ sưu tập của ông Hutton. Bàn tay mà tôi biết
trong đời, có sự tràn đầy của máu trong huyết quản, và linh động, có linh hồn.
Bàn tay của ông Hutton thì khác biết bao, so với với những bức tượng buồn tẻ,
vô tri giác của bộ sưu tập đó! Đối với tôi, cái bộ sưu tập đó thiếu chính cái
hình dáng của bàn tay.Trong số nhiều “hình ảnh” trong bộ sưu tập của ông, tôi
không nhận ra một hình ảnh nào, thậm chí, của chính tôi. Nhưng có một bàn tay đầy
yêu thương mà tôi không bao giờ quên. Tôi nhớ, trong những ngón tay tôi, hai
bàn tay to bè của Giám mục Brooks, tràn đầy lòng âu yếm và niềm vui của một con
người mạnh mẽ. Nếu bạn bị điếc và mù, và có thể nắm bàn tay ông Jefferson, bạn
đã có thể thấy trong nó một khuôn mặt và nghe một giọng nói nhân ái không giống
như bất cứ giọng nói nào mà bạn đã biết. Bàn tay của Mark Twain [13] thì đầy sự
kỳ dị và sự hài hước buồn cười nhất, và trong khi bạn nắm lấy nó, sự buồn cười
biến thành sự đồng cảm và sự che chở.

The Medallion
The bas-relief on the wall is a portrait of the Queen Dowager of Spain, which
Her Majesty had made for Miss Keller
Người ta bảo tôi rằng, những
dòng chữ mà tôi vừa mới viết, không “mô tả” những bàn tay của các bạn tôi,
nhưng chỉ gán cho chúng những phẩm chất nhân ái của con người mà tôi rằng biết
họ sở hữu, và ngôn ngữ diễn đạt chúng bằng những từ trừu tượng.
Lời chỉ trích đó hàm ý rằng,
tôi không đang đưa ra cái sự thật “nguyên thủy” về những gì mà tôi cảm thấy;
nhưng những mô tả trong những cuốn sách mà tôi đọc – được viết bởi những người
sáng mắt – chúng diễn tả như thế nào cái dáng vẻ hữu hình của một khuôn mặt?
Tôi đọc thấy rằng, một khuôn mặt thì mạnh mẽ, dịu dàng; rằng nó đầy trí tuệ, đầy
lòng kiên nhẫn; rằng nó dễ thương, cao thượng, đẹp đẽ. Phải chăng tôi
không có quyền sử dụng những từ này để mô tả những gì mà tôi cảm thấy, bởi vì
tôi không sáng mắt như bạn? Chúng thực sự diễn đạt những gì mà tôi cảm
thấy trong bàn tay. Tôi ít khi nhận biết về những tính chất vật lý, và tôi
không nhớ là những ngón tay của một bàn tay là ngắn hay dài, hoặc làn da ướt
hay khô. Bạn cũng không – nếu không có nỗ lực của ý thức – nhớ lại những chi tiết
của một khuôn mặt, ngay cả khi bạn đã nhìn thấy nó nhiều lần. Nếu bạn thực sự
nhớ lại những sắc thái đó, và nói rằng, một con mắt màu xanh da trời, một cái cằm
nhọn, một cái mũi ngắn, hoặc một gò má hốc hác, thì tôi cho rằng, bạn không
thành công trong việc đưa ra những ấn tượng về người đó. Cho dẫu bạn mô tả những
chi tiết của khuôn mặt đó, thì sự mô tả đó cũng không cho thấy những phẩm chất tinh
thần cốt yếu của nó – cái hài hước, sự nghiêm nghị của nó, nỗi buồn,
tính tâm linh [14] của nó. Nếu tôi sẽ nói với bạn bằng những từ ngữ có tính vật
lý, một bàn tay cho cảm giác ra sao, thì sự tường thuật của tôi cũng không khiến
cho bạn thấy rõ hơn, so với khi bạn mô tả cho một người mù, một cách chi tiết,
một khuôn mặt nào đó.
Hãy nhớ rằng, khi một người
mù phục hồi thị giác của mình, thì người ấy không nhận ra cái điều bình thường
nhất vốn đã từng quen thuộc đối với xúc giác của anh ta – cái khuôn mặt thân
yêu nhất, thâm tình với những ngón tay anh ta, và, cho dẫu những sự vật và những
con người được mô tả cho bạn một cách lặp đi lặp lại, thì nó cũng không trợ
giúp được gì. Do vậy, bạn, kẻ không được rèn luyện về về xúc giác, không nhận
ra bàn tay bằng một cái xiết chặt; và bất cứ sự mô tả nào mà tôi có thể đưa ra,
sẽ không làm cho bạn quen với một bàn tay thân thiện mà thường đan lấy bàn tay
tôi, và được ghi vào trong ký ức của tôi.
Tôi không thể mô tả, phân
loại những bàn tay thành bất cứ giai cấp hay loại người nào; nhưng không có sự
giống nhau giữa những bàn tay. Một vài bàn tay nói cho tôi biết rằng, chúng làm
mọi sự với sự xô bồ và ồn ào tối đa. Những bàn tay khác thì bồn chồn và khinh
suất, với những ngón tay lo lắng, rối rít, cho thấy một bản tính nhạy cảm trước
những tổn thương nhỏ bé của đời sống thường nhật. Đôi khi, với linh tính, tôi
nhận ra bàn tay nhân ái nhưng ngu xuẩn của một kẻ ba hoa, thông báo những tin tức
quá ư vặt vãnh. Tôi đã gặp một giám mục với một bàn tay có chất hài hước; một kẻ
hài hước với một bàn tay nghiêm nghị; một người đàn ông tự cho mình là dũng cảm
với một bàn tay rụt rè, và một người đàn ông ít nói, hay nói lời xin lỗi, với một
nắm đấm bằng sắt. Khi tôi còn rất bé, tôi được đưa tới gặp một người phụ nữ mù
và bại liệt. Tôi sẽ không bao giờ quên cái cách mà bà chìa bàn tay nhỏ bé, run
rẩy của bà ra và ép nó vào bàn tay tôi với niềm đồng cảm. Đôi mắt tôi mờ lệ khi
tôi nghĩ đến bà. Sự mệt mỏi, sự đau đớn, bóng tối và lòng kiên nhẫn dịu dàng,
là những gì mà tôi cảm nhận được trong bàn tay gầy, hao mòn, mò mẫm và đầy yêu
thương của bà.
Tôi nghĩ, một số người mà
không biết tôi, sẽ không hiểu tôi nắm bắt bao nhiêu về tâm trạng của một người
bạn đang tham gia đàm thoại [bằng miệng] với một ai khác. Bàn tay tôi dõi theo
những chuyển động của anh ta; tôi sờ vào bàn tay, cánh tay, khuôn mặt anh ta.
Tôi có thể nói khi nào anh ta thích chí về một câu nói đùa dí dỏm mà đã không
được lặp lại cho tôi, hoặc khi nào anh ta đang kể một câu chuyện hào hứng. Một
trong những người bạn của tôi thì hơi gây hấn, và bàn tay anh ta luôn luôn báo
tin sắp xảy ra một cuộc cãi vã. Bằng cái giật mạnh nóng nảy của anh ta, tôi biết
anh ta sắp tranh cãi với một ai đó. Tôi đã cảm thấy anh ta giật nẩy người lên
khi một hồi ức đột xuất hay một ý kiến mới bắn qua tâm trí anh ta. Tôi đã cảm
nhận nỗi sầu muộn trong bàn tay anh ta. Tôi đã cảm nhận linh hồn anh ta tự gói
mình trong bóng tối một cách bệ vệ như trong một bộ y phục. Một người bạn khác
có hai bàn tay quả quyết, chứng tỏ sự cương quyết lớn trong quan niệm. Cô ta là
người duy nhất mà tôi biết, thường nhấn mạnh những lời cô nói ra bằng miệng,
khi tôi đọc môi cô; khi đánh vần vào bàn tay tôi, cô cũng nhấn mạnh như vậy.
Tôi thích sự nhấn mạnh đa dạng này hơn là tiếng đập đều đều buồn tẻ của những
người đánh vần vào bàn tay tôi như nện búa.
Một vài bàn tay, khi
chúng xiết chặt bàn tay bạn, bừng sáng và sôi lên với sự vui mừng. Chúng phập
phồng và giãn ra với sức sống. Một vài người lạ đã xiết chặt bàn tay tôi như thể
đó là bàn tay của một đứa em thất lạc đã lâu. Những người khác, đã bắt tay với
tôi như thể họ sợ rằng, tôi có thể gây tổn thương cho họ. Những người như thế
chìa những đầu ngón tay mà họ cho phép bạn sờ vào, và trong khoảnh khắc xúc chạm,
họ rút lui, và trong thâm tâm, bạn hy vọng rằng, bạn sẽ không bao giờ được yêu
cầu phải một lần nữa nắm lấy bàn tay đó. Nó là dấu hiệu của một tâm hồn ưa kiểu
cách, kiêu ngạo lố bịch, và không hiếm khi, đa nghi. Nó đối nghịch với bàn tay
của những người có bản chất phóng khoáng, đáng yêu.
Cái bắt tay của vài người
khiến bạn nghĩ đến tai nạn và cái chết bất đắc kỳ tử. Hãy đối chiếu bàn tay báo
điềm dữ này với bàn tay lặng lẽ, nhanh nhẹn, khéo léo của một cô nữ điều dưỡng
mà tôi nhớ đến với lòng cảm mến, bởi vì cô tận tụy chăm sóc cô giáo của tôi.
Tôi đã xiết chặt những bàn tay của vài người giàu, không phải lao nhọc, và thế
nhưng, không đẹp. Bên dưới cái tròn trịa mềm mại, mịn màng của chúng, ẩn chứa
biết bao sự hỗn độn của một tính cách chưa phát triển!
Tôi chắc rằng, không có
bàn tay nào có thể so sánh với bàn tay của vị y sĩ, trong kỹ năng kiên nhẫn, sự
dịu dàng nhân từ và sự đích xác tuyệt vời. Thảo nào mà Ruskin tìm thấy trong những
nhát dao chính xác của nhà phẫu thuật, sự hoàn hảo của sự kiểm soát và sự chính
xác tinh tế cho nhà nghệ sĩ tranh đua. Nếu nhà y sĩ là một người có tâm
hồn vĩ đại, thì trong cái xúc chạm của ông, có sự chữa trị cho linh hồn.
Cái xúc chạm thần kỳ này, đến từ bàn tay của một người bạn thân mến của tôi,
ông là vị bác sĩ của chúng tôi trong lúc bệnh hoạn hay mạnh khỏe. Cái tinh thần
thân ái, hạnh phúc của ông tác động tốt đến những bệnh nhân của mình, bất luận
họ có cần thuốc men hay không.
Khuôn mặt có nhiều vẻ đẹp;
bàn tay cũng vậy. Xúc giác có những cơn xuất thần của nó. Những người có cá
tính mạnh mẽ và nhạy cảm, thì linh hoạt một cách kỳ diệu. Trong một
thoáng của những đầu ngón tay họ, chúng diễn tả nhiều cung bực của ý tưởng.
Thỉnh thoảng, tôi sờ vào một bàn tay đẹp, nhã nhặn, cổ tay mềm dẻo – nó đánh vần
[vào bàn tay tôi] với vẻ đẹp và sự độc đáo mà bạn thường thấy trong thủ bút của
vài người có văn hóa. Tôi mong ước rằng, bạn có thể thấy những đứa trẻ nhỏ đánh
vần vào bàn tay tôi một cách đáng yêu ra sao. Chúng là những bông hoa dại
của nhân loại, và những chuyển động ngón tay của chúng là những bông hoa dại của
ngôn ngữ.
Những điều nói ở trên là
nghệ thuật “xem bàn tay” của riêng tôi, và khi tôi “coi bói” cho bạn, thì nó
không phải là trực giác huyền bí hay pháp thuật của những người gipsy,
mà bởi sự nhận ra tự nhiên, giải thích được, về cái tính cách được khắc lên bàn
tay bạn.
Bàn tay không chỉ dễ nhận
ra như khuôn mặt, mà nó còn phát lộ những bí mật của nó một cách công khai và
vô ý thức hơn. Người ta kiểm soát khuôn mặt họ, nhưng bàn tay thì không
bị kềm chế như thế. Nó thư giãn và trở nên thờ ơ khi tinh thần bị xuống thấp
và thất vọng; những bắp thịt căng thẳng khi tâm trí bị kích động hay khi trái
tim vui mừng; và những tính chất thường hằng được viết trên nó trong mọi lúc.
_____
[13] Mark Twain [1835 –
1910) : Nhà văn hoạt kê nổi tiếng của Mỹ.
[14] Spirituality.
CHƯƠNG III
BÀN TAY CỦA CHỦNG LOẠI
NGƯỜI
[Chương III, tác giả nói về chữ “hand”(bàn tay) trong tiếng Anh. Thiển nghĩ,
những thông tin đó không cần thiết lắm đối với đa số bạn đọc người Việt; do vậy,
chúng tôi chỉ dịch đoạn mở đầu và đoạn kết luận của chương này].
Đoạn mở đầu:
* Hãy tra từ điển Century
Dictionary, hay, nếu bạn bị mù, hãy nhờ giáo viên của bạn tra giúp, và bạn
sẽ thấy có bao nhiêu thành ngữ được tạo ra trên ý tưởng về bàn tay, và có bao
nhiêu từ được thành lập từ căn ngữ Latin “manus”– những từ đủ để định
danh tất cả những vụ việc thiết yếu của cuộc sống. “Hand,” [bàn tay] với những
lời trích dẫn và những từ ghép, chiếm 24 cột, 8 trang của cuốn từ điển này. Bàn
tay được định nghĩa như là “cơ quan để bắt giữ một cái gì đó.” Định nghĩa này
ăn khớp với trường hợp của tôi biết bao, trong cả 2 nghĩa của từ “apprehend”
[15] ! Với bàn tay mình, tôi chụp bắt và nắm giữ tất cả những gì mà tôi
tìm thấy trong 3 thế giới – vật lý, tri thức, và tâm linh.
Đoạn kết luận:
* Dù chúng ta nhìn về
đâu, thì chúng ta đều tìm thấy bàn tay trong thời gian và lịch sử: làm việc,
xây dựng, phát minh, đưa sự văn minh ra khỏi sự dã man. Bàn
tay tượng trưng cho quyền lực và sự xuất chúng của công việc. Bàn tay của người
thợ, bàn tay đẽo, cưa, cắt, xây dựng, v.v..., thì hữu ích trong thế giới, bình
đẳng với với bàn tay tinh tế [của nhà họa sĩ] vẽ một bông hoa dại, hay [của nhà
điêu khắc] nặn một cái bình sứ Hy Lạp, hay bàn tay của một chính khách nào đó,
viết ra một sắc luật. Con mắt không thể nói với bàn tay: “Tôi không cần đến
anh.” Chúc phúc cho bàn tay! Chúc phúc ba lần, cho bàn tay nào làm việc!
_____
[15] To apprehend: có 2
nghĩa chính: a. Bắt giữ. b. Hiểu.
CHƯƠNG IV
SỨC MẠNH CỦA XÚC GIÁC
Vài tháng
trước đây, trong một nhật báo – loan tin việc xuất bản Tạp chí Matilda
Ziegler cho người mù – xuất hiện đoạn văn này: “Nhiều bài thơ và truyện
ngắn hẳn sẽ bị loại bỏ, bởi vì chúng đề cập đến thị giác. Sự ám chỉ
về ánh trăng, cầu vồng, ánh sao, những đám mây và phong cảnh đẹp không thể được
đăng tải, bởi vì chúng sẽ gia tăng cảm thức về sự bất hạnh và khuyết tật của
người mù.”
Có nghĩa là, tôi không được
phép nói về những dinh thự và những khu vườn đẹp, bởi vì tôi nghèo. Tôi không
được phép đọc về Paris, bởi vì tôi không thể viếng thăm nó. Tôi không thể mơ về
thiên đàng, bởi vì có thể là tôi sẽ không bao giờ lên tới đó.
Thế nhưng, một tinh thần
mạo hiểm thúc bách tôi sử dụng những từ chỉ hình ảnh và âm thanh, mà ý nghĩa của
chúng, tôi chỉ có thể phỏng đoán từ phương pháp loại suy và trí tưởng tượng. Đối
với tôi, thì trò chơi “nguy hiểm” này là một nửa sự thích thú, sự vui đùa, của
đời sống hằng ngày. Khuôn mặt tôi bừng sáng lên khi tôi đọc về cái huy hoàng mà
chỉ có con mắt mới có thể khảo sát. Sự ám chỉ về ánh trăng và những đám
mây không làm gia tăng cảm thức về sự bất hạnh của tôi: chúng mang linh hồn tôi
vượt lên cái thực tiễn chật hẹp của sự bất hạnh.
Những nhà phê bình thích
thú bảo cho chúng tôi [những người mù] biết những gì mà chúng tôi không thể
làm. Họ cho rằng, sự mù và điếc cắt đứt chúng tôi hoàn toàn khỏi những điều mà
những người bình thường tận hưởng, và do vậy, họ khẳng định rằng, chúng
tôi không có quyền nói về cái đẹp, bầu trời, núi non, bài ca của chim, và những
màu sắc. Họ tuyên bố rằng, chính những cảm giác mà chúng tôi có từ xúc
giác, thì “có tính gián tiếp,” như thể là những người bạn của chúng tôi cảm nhận
mặt trời giúp chúng tôi! Họ phủ nhận một cách tiên thiên những gì mà họ đã
không thấy và tôi cảm thấy. Một vài nhà hoài nghi táo bạo đã đi quá xa, thậm
chí, họ còn phủ nhận cả sự hiện hữu của tôi. Do vậy, để có thể biết
rằng mình hiện hữu, tôi phải dùng đến phương pháp của Descartes “Tôi tư duy, vậy
tôi hiện hữu.”
Như thế, tôi được xác lập
trên bình diện siêu hình học, và tôi ném lên những kẻ ngờ vực cái gánh nặng của
việc chứng minh sự phi hiện hữu của tôi. Những điều được phát hiện về tâm trí
thì rất ít ỏi; do vậy, cũng khó mà xác định là người ta có thể biết hay không
thể biết cái gì ! Tôi thừa nhận rằng, có vô vàn những điều kỳ diệu trong vũ trụ
hữu hình mà tôi không thể đoán biết được. Cũng tương tự, hỡi nhà phê
bình tự tin, có vô vàn cảm giác tôi “cảm nhận” được, mà các vị không ngờ tới.
Tạo Hóa ban cho con mắt một
sức mạnh quý giá của thị giác, và trong cách tương tự, nó ban cho toàn bộ cơ thể
cái sức mạnh quý giá của sự “cảm nhận.” Đôi khi, dường như chính cái bản thể của
xác thịt tôi có nhiều con mắt đang nhìn một cách tùy ý lên một thế giới được tạo
ra mọi ngày. Sự im lặng và bóng tối mà được cho là đang giam nhốt tôi,
mở cánh cửa của tôi một cách hiếu khách nhất trước vô số cảm giác – những
cảm giác có tính thông báo, cảnh cáo và tiêu khiển. Với 3 vị hướng đạo đáng tin
cậy: xúc giác, khứu giác và vị giác, tôi làm nhiều cuộc du ngoạn vào trong cái
biên giới của kinh nghiệm, vốn hiện ra trong thành phố Ánh Sáng. Thiên nhiên tự
thích nghi với sự cần thiết của mọi người. Nếu con mắt bị tàn phế, đến
nỗi nó không thấy khuôn mặt phong phú của ngày, thì xúc giác trở nên sắc bén
hơn và có tính biện biệt hơn. Thiên nhiên tiến hành xuyên qua sự thực tập,
để tăng cường những giác quan còn lại. Vì lý do này, người mù thường
nghe dễ dàng và rõ ràng hơn những người khác. Khứu giác trở thành hầu
như một quan năng mới, để xuyên thấu cái rối ren và sự mơ hồ của sự vật.
Như thế, theo một định luật bất biến, những giác quan hỗ trợ và tăng cường lẫn
nhau.
Tôi không thể nói, chúng
ta thấy tốt nhất với bàn tay hay con mắt [16]. Tôi chỉ biết rằng, cái
thế giới mà tôi “thấy” với những ngón tay tôi thì sinh động, hồng hào, và thỏa
đáng. Xúc giác mang đến cho người mù nhiều sự chắc chắn mà những đồng
loại may mắn của họ bị thiếu, bởi vì xúc giác của những người đó không được
trau dồi.
Khi họ [người sáng mắt]
nhìn những sự vật, thì họ thọc tay vào trong túi. Chắc chắn, đây là một lý do tại
sao kiến thức của họ thường hay quá mơ hồ, thiếu chính xác, và vô ích. Cũng
rất có thể, rằng kiến thức của chúng ta về những hiện tượng ở ngoài tầm với của
bàn tay, thì đều bất toàn ngang nhau. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào,
chúng ta thấy chúng xuyên qua một làn sương vàng óng của trí tưởng tượng.
Tuy nhiên, không có gì mơ
hồ hay không chắc chắn về những cái mà chúng ta có thể sờ vào. Thông qua xúc
giác, tôi biết những khuôn mặt của bạn bè, sự đa dạng vô giới hạn của những đường
thẳng và đường cong, mọi bề mặt, cái phong phú của đất, những hình thể tinh tế
của những bông hoa, những hình dáng tráng lệ của những cái cây, và trường hoạt
động của những cơn gió lớn. Bên cạnh những vật thể, những bề mặt, và sự thay đổi
của bầu không khí, tôi tri giác vô số những rung động. Tôi thu thập nhiều
kiến thức về mọi sự việc hằng ngày từ những chấn động và rung chuyển mà tôi cảm
nhận được, khắp nơi trong nhà.
Tôi phát hiện ra rằng, những
bước chân thay đổi một cách sờ mó được tùy theo tuổi tác, giới tính, và cách đi
đứng của đương sự. Không thể nhầm tiếng lộp bộp nơi bước chân của một đứa trẻ với
bước chân của một người trưởng thành. Bước chân của một người trẻ, mạnh mẽ và tự
do, khác với bước chân nặng nề, khoan thai của một người trung niên, và bước
chân của một người già, mà hai bàn chân kéo lê dọc theo sàn nhà, hay đập lên
sàn một cách chậm rãi, ngập ngừng. Trên một sàn nhà trống không, một cô gái bước
đi với một tiết nhịp nhanh, uyển chuyển, thì hoàn toàn khác biệt với bước chân
nghiêm nghị hơn của một phụ nữ đứng tuổi. Tôi đã cười lớn khi nghe tiếng cót
két của đôi giày mới và tiếng rổn rảng của một cô hầu gái mập mạp đang trình diễn
một màn khiêu vũ vui nhộn trong nhà bếp. Một hôm, trong phòng ăn của một khách
sạn, một sự bất hòa điệu chụp bắt sự chú ý của tôi. Tôi ngồi im và “lắng nghe”
với hai bàn chân tôi. Tôi “thấy” rằng hai người hầu bàn đang đi lui đi tới,
nhưng không cùng một dáng điệu. Một ban nhạc đang chơi, và tôi có thể cảm nhận
những làn sóng âm thanh dọc theo sàn nhà. Một người hầu bàn bước đi ăn nhịp với
tiếng nhạc, duyên dáng và nhẹ nhàng, trong khi người kia phớt lờ âm nhạc và lao
vụt từ bàn này sang bàn nọ theo tiếng đập của sự bất hòa điệu nào đó trong
chính tâm trí mình. Những bước chân của họ gợi tôi nhớ đến một con ngựa chiến đầy
khí thế được thắng yên cương chung với một con ngựa kéo xe bình thường.
Thường khi, những
bước chân bộc lộ, ở mức độ nào đó, tính cách và tâm trạng của đương sự. Tôi
cảm nhận trong chúng sự quả quyết và sự lưỡng lự, sự vội vã và sự cân nhắc, sự
linh hoạt và sự lười biếng, sự mệt mỏi, sự hờ hững, sự rụt rè, sự giận dữ, và nỗi
sầu muộn. Tôi ý thức nhiều nhất về những tâm trạng và những nét tính cách này
trong những người mà tôi quen biết.
Những bước chân thường
xuyên bị đứt quãng bởi những rung chuyển và những cú giật mạnh nào đó, đến nỗi
tôi biết khi nào người ta quỳ gối, đá, lắc một cái gì đó, ngồi xuống, hay đứng
lên.
Như thế, tôi theo dõi, tới
mức độ nào đó, những hành động của những người xung quanh tôi và những thay đổi
trong những tư thế của họ. Ngay bây giờ, tiếng lộp bộp nhẹ và dày của những bàn
chân trần, có tấm đệm, và một rung chuyển nhẹ bảo tôi rằng, con chó của tôi đã
nhảy lên ghế để nhìn ra cửa sổ. Tuy nhiên, tôi không cho phép nó muốn đi đâu
thì đi, mà không có sự giám sát; bởi vì, thỉnh thoảng tôi cảm nhận cùng sự chuyển
động đó, và “thấy” nó, không phải trên ghế, mà lại ngồi tót trên sofa.
Khi những người thợ mộc
làm việc trong nhà hay trong nhà để xe tải kế bên, tôi biết – qua sự rung động
nghiêng, lên và xuống, có khía răng cưa, và sự chấn động rung rung của cú đánh
này trên cú đánh kia – rằng ông ta đang cưa hay đập búa. Nếu tôi không đủ gần,
thì một rung động nào đó, chạy lui chạy tới dọc theo một bề mặt bằng gỗ, mang đến
cho tôi cái thông tin rằng, ông ta đang sử dụng một cái bào.
Một tiếng vỗ nhẹ trên tấm
thảm nói cho tôi biết rằng, một cơn gió nhẹ đã thổi những giấy tờ của tôi bay
khỏi cái bàn. Một tiếng “bịch” tròn, là một tín hiệu rằng, một cây bút chì đã
lăn xuống sàn. Nếu một cuốn sách rơi xuống, nó gây ra một tiếng “sạt” nhẹ. Một
tiếng “cốp” trên bao lơn chân cầu thang, báo tin rằng, bữa ăn tối đã sẵn sàng.
Nhiều trong số những rung động này bị xóa đi khi ở ngoài trời. Trên một bồn cỏ
hay con đường, tôi chỉ có thể cảm nhận tiếng chạy, giẫm chân, và tiếng ầm ầm của
những cái bánh xe.
Bằng cách đặt bàn tay
mình lên đôi môi hay cổ họng một ai đó, tôi thu nhận nhiều rung động đặc biệt,
và thuyết minh chúng : tiếng cười khúc khích của một bé trai, tiếng “ối chà” ngạc
nhiên của một người đàn ông, tiếng “hừm” của sự bực bội hay bối rối, tiếng rên
của sự đau đớn, một tiếng thét, một tiếng thì thầm, một tiếng sột soạt, một tiếng
nức nở, một sự nghẹn ngào, và một tiếng thở dốc. Những âm thanh của những con vật,
dù không lời, cũng nói nhiều điều với tôi – tiếng rừ rừ của con mèo, tiếng meo
meo của nó, tiếng gầm gừ giận dữ, giật giật, đầy phiền trách của nó; tiếng gâu
gâu của con chó, biểu lộ sự cảnh báo hay sự đón chào vui sướng, tiếng kêu ăng ẳng
của tuyệt vọng, và tiếng ngáy thoả mãn của nó; tiếng rống của con bò cái; tiếng
chí chóe của một con khỉ; tiếng khịt mũi của một con ngựa; tiếng gầm của con sư
tử, và tiếng rống khủng khiếp của con cọp. Có lẽ tôi phải nói thêm, với những
nhà phê bình và những kẻ ngờ vực – những người mà có thể suy ngẫm về bài tiểu
luận này – rằng, với chính hai bàn tay, tôi đã cảm thấy mọi âm thanh
này.
Từ thuở ấu thơ cho đến hiện
nay, tôi đã tranh thủ mọi cơ hội để viếng thăm vườn bách thú, những sở thú nhỏ,
và gánh xiếc; và mọi con vật, trừ con cọp, đã “nói” vào bàn tay tôi. Tôi đã chỉ
sờ con cọp trong một viện bảo tàng, nơi mà nó là một chú cừu non vô hại. Tuy
nhiên, tôi đã “nghe” nó nói bằng cách đặt tay tôi trên những song sắt cái chuồng
của nó. Tôi đã sờ vài con sư tử bằng xương bằng thịt, và cảm nhận chúng rống “một
cách vương giả,” giống như một thác nước chảy qua những tảng đá.
Tôi biết cái tiếng “tõm”
của chất lỏng trong một cái bình. Do vậy, nếu tôi làm đổ sữa của tôi, thì tôi
không thể viện cớ là không biết. Tôi cũng quen thuộc với tiếng “bốp” của một
cái nút chai, tiếng “lụp bụp” của một ngọn lửa, tiếng tích tắc của cái đồng hồ
treo tường, tiếng lắc lư của một cối xay gió, sự lên xuống của cái bơm, sự tăng
tốc của cái vòi phun nước, tiếng vỗ nhẹ của cơn gió nhẹ lên cửa lớn và cửa sổ,
và nhiều cái rung động khác, không kể hết.
Có những rung động thuộc
về xúc giác mà không thuộc về sự xúc chạm của làn da. Chúng xuyên thấu da, những
dây thần kinh, xương, giống như sự đau đớn, hơi nóng, và cái lạnh.
Tiếng đập của một cái trống
đập mạnh vào tôi, xuyên suốt từ ngực tới bả vai. Tiếng ầm ầm của xe lửa, cây cầu,
và tiếng nghiến của máy móc vẫn lưu lại ấn tượng trên tôi rất lâu, sau khi cái
nguyên nhân của nó đã bị bỏ lại đằng sau. Nếu sự rung động và chuyển động kết hợp
trong xúc giác của tôi trong một thời gian, thì mặt đất dường như chạy ra xa
trong khi tôi đứng im.
Khi tôi bước xuống xe lửa,
cái sân ga xoay vòng xung quanh, và tôi thấy khó bước đi một cách vững
chãi. Mọi nguyên tử của cơ thể tôi là một máy chấn nghiệm [17].
Nhưng những cảm giác của tôi không phải là không thể sai lầm. Có lần, những
ngón tay tôi vươn ra, và gặp một cái gì đó giống như da thú, nhảy lui tới, tự
gom mình lại với nhau như thể nhảy lên, và hành động giống như một con thú. Tôi
ngừng một khoảnh khắc để đề phòng. Tôi sờ nó lại, kỹ hơn, và thấy nó là một cái
áo khoác bằng da thú đang phất phơ và đập phành phạch trong gió. Đối với tôi,
cũng như với bạn, trái đất có vẻ bất động, và mặt trời có vẻ di chuyển; bởi vì
những tia nắng của buổi chiều rút lui dần khi chúng chạm vào mặt tôi, cho đến
khi không khí trở nên mát mẻ.
Từ điều này, tôi hiểu,
như thế nào mà cái bờ có vẻ như rút lui khi bạn đi thuyền ra xa khỏi nó. Do vậy,
tôi không cảm thấy chút nghi ngờ nào khi bạn nói rằng, những đường thẳng song
song có vẻ như đồng quy, mặt đất và bầu trời gặp nhau. Những giác quan ít ỏi của
tôi, từ lâu, đã phát lộ cho tôi những bất toàn và sự lừa dối của chúng.
Những giác quan không chỉ
lừa dối, mà vô số cách dùng trong ngôn ngữ của chúng ta chỉ định rằng, những
người có đủ 5 giác quan thấy khó mà giữ cho những chức năng của chúng tách biệt
rạch ròi. Tôi hiểu rằng chúng ta “nghe” những quan điểm, “thấy” những giọng điệu,
“nếm” âm nhạc. Tôi được nói cho biết rằng, những giọng nói có màu sắc. Xúc
giác, mà tôi cho là một vấn đề của tri giác tinh tế, hóa ra là vấn đề về “nếm.”
[18] Xét theo nghĩa rộng của nó, thì từ “taste” [nếm] dường như là cái quan trọng
nhất trong mọi giác quan. “Nếm” [thị hiếu] chi phối những quy ước lớn và nhỏ của
cuộc sống. Chắc chắn, ngôn ngữ của những giác quan thì đầy những mâu thuẫn, và
các đồng loại của tôi – những người có đủ 5 giác quan – thì chắc chắn không
“thoải mái” trong chúng hơn tôi. Vậy thì, há chẳng phải, là tôi có thể
được tha thứ, nếu bản tường trình này về những cảm giác của tôi thiếu sự chính
xác ?
_____
[16] Các nhà khoa học cần
lưu ý điểm này, bởi vì, người ta thường mặc nhiên cho rằng, thị giác có tầm
quan trọng lớn hơn xúc giác
[17] Vibroscope.
[18] Taste: (động từ): Nếm.
Taste: (danh từ): vị giác; thị hiếu.
CHƯƠNG V
NHỮNG RUNG ĐỘNG TINH TẾ
HƠN
Tôi đã nói đến
vô số những chấn động và rung chuyển mà hằng ngày trợ giúp cho những quan năng
của tôi. Những rung động cao vời và uy nghi hơn, vốn tác động tới những cảm xúc
của tôi, là đa dạng và phong phú. Tôi “lắng nghe” với cảm giác kính sợ tiếng rền
của sấm và chuỗi âm thanh bị nghẹt khi biển tự ném mình lên bờ. Và tôi yêu cái
“nhạc cụ” mà bởi nó, mọi hòa âm của đại dương được chụp bắt và phóng thích
trong những cơn lũ dâng trào – cây đàn organ đa thanh. Nếu âm
nhạc có thể được thấy bằng mắt, thì tôi có thể chỉ trỏ nơi mà những nốt nhạc của
đàn organ đi, khi chúng lên và xuống, leo lên, lắc lư và đong
đưa, lúc to và sâu, lúc cao và bão táp, lúc nhẹ nhàng và trang nghiêm, với những
rung động nhẹ hơn xen kẽ ở giữa, và chạy băng qua chúng. Tôi xin nói rằng, âm
nhạc của đàn organ mang lại một cảm nhận xuất thần.
Có niềm thích thú sờ mó
được trong những nhạc cụ khác, nữa. Cái vĩ cầm có vẻ như sống động một cách đẹp
đẽ khi nó đáp ứng cái mong muốn nhỏ nhất của người chạm vào nó. Sự phân
biệt giữa những nốt của nó, thì tinh tế hơn giữa những nốt của cây đàn piano.
Tôi cảm nhận vẻ đẹp của
âm nhạc piano nhiều nhất, khi tôi sờ vào cây đàn. Nếu tôi giữ hai bàn tay mình
trên thùng đàn, thì tôi phát hiện những tiếng ngân nhỏ bé, những lặp lại của
giai điệu, và cái im lặng theo sau. Cái này giải thích cho tôi, âm thanh có thể
tắt dần như thế nào, đối với cái tai đang nghe.
Tôi có thể theo dõi át âm
[19] của những giai điệu. Tôi chụp bắt cái vũ điệu vui sướng khi nó nhún nhảy
trên những phím đàn: bài ca buồn, chậm, sự mơ mộng... Tuyệt vời biết bao, cái
nhạc cụ mà trên nó một nhạc sĩ lớn hát với hai bàn tay mình ! Tôi chưa bao giờ
thành công trong việc phân biệt một nhạc phẩm này với một nhạc phẩm khác. Tôi
nghĩ, đó là điều bất khả; nhưng sự tập trung chú ý của tôi, thường là quá lớn,
đến nỗi, tôi tự hỏi, không biết cái lạc thú có được, có tương xứng với cái nỗ lực
hay không.
Tôi cũng không thể phân
biệt một cách dễ dàng một làn điệu được hát lên. Nhưng bằng cách đặt bàn tay
tôi lên cổ họng và má của một người khác, tôi thưởng thức những thay đổi của giọng
nói. Tôi biết khi nào nó thấp hay cao, trong trẻo hay bị tắc nghẽn, buồn
hay vui. Cái cảm giác nhẹ, run run trong giọng nói của người già, đối với
xúc giác của tôi, thì khác với cảm giác về một giọng nói của một người trẻ. Một
cái giọng lè nhè của người miền Nam thì hoàn toàn không giống với cái giọng mũi
của một Yankee [20]. Đôi khi, cái “trào lên và rút xuống” của
một giọng nói thì quá quyến rũ, đến nỗi, những ngón tay tôi run rẩy với sự
thích thú tuyệt vời, mặc dù tôi không hiểu một lời nào được nói ra.
Mặt khác, tôi cực kỳ nhạy
cảm với sự chói tai của những tiếng ồn giống như tiếng cọ xát, tiếng cạo vét,
và tiếng cót két của những ổ khóa hoen gỉ.
Những hồi “còi báo sương
mù” là những cơn ác mộng của tôi. Có lần tôi đứng gần một cây cầu đang thi
công, và tôi cảm nhận cái ầm ĩ có thể cảm nhận bằng xúc giác, tiếng lộp độp của
những khối đá nặng, cái sự rung chuyển đều đều của đất bị xới lên, tiếng ầm ầm
của những động cơ, tiếng xe đổ đất xuống, những cú nện liên tiếp của những chiếc
búa tạ. Tôi cũng có thể ngửi thấy hỏa lò, hắc ín và xi-măng. Do vậy, tôi có một
ý tưởng sống động về những lao động nặng nhọc trong thép và đá, và tôi tin rằng,
tôi quen với tất cả những tiếng ồn tệ hại mà có thể được tạo ra bởi con người
hay máy móc. Tiếng nện mạnh của những thân người nặng nề ngã xuống, mảnh vụn
run rẩy của những khúc củi bị bửa, sự vỡ nát của gạo được giã, tiếng sạt của một
cái cây bị hất xuống đất bởi một trận cuồng phong, tiếng ồn dai dẳng, “điên rồ”
[21] được tạo ra bởi sự “bẻ ghi” [22] của những chiếc xe lửa chở hàng hóa, sự nổ
của khí đốt, việc dùng chất nổ để khai thác đá, và tiếng nghiến khủng khiếp của
tảng đá này trên tảng đá kia, vốn đi trước sự đổ xuống – tất cả những cái này
đã là kinh nghiêm xúc giác của tôi, và góp phần vào ý tưởng của tôi về một trận
chiến, một vòi xả nước, một trận động đất, và những tích lũy to lớn khác về âm
thanh.
Xúc giác giúp tôi tiếp
xúc với xe cộ và cái sinh hoạt đa dạng của thành phố. Bên cạnh cái xô bồ và
chen chúc của những con người và tiếng ken két khôn tả và tiếng gầm rú của những
chiếc xe điện, tôi nhận biết những cái mùi xông lên từ nhiều loại cửa tiệm khác
nhau; từ những chiếc ô tô, những chiếc xe ngựa bốn bánh [để chở hàng], những
con ngựa, những quày bán trái cây, và nhiều loại khói.
Thành phố cũng thú vị;
nhưng cái im lặng sờ mó được của vùng quê thì luôn luôn được đón chào nhất, sau
khi trải qua tiếng đinh tai nhức óc của thành phố và tiếng ầm ầm khó chịu của
xe lửa. Sự phá hủy, sự sửa chữa, và những biến đổi của thiên nhiên, thật lặng lẽ
và yên bình biết bao ! Không có âm thanh của cái búa, cái cưa, hay đá bị cắt
lìa khỏi đá, mà là âm nhạc của những tiếng xào xạc và tiếng đập mạnh trên cỏ, đến
từ những những chiếc lá bay phất phới và những trái cây chín mà gió làm rơi rụng
suốt ngày từ những cành cây. Một cách lặng lẽ, tất cả rủ xuống, mọi thứ bị
“rót” trở lại vào trong đất, để nó có thể sáng tạo; mọi thứ yên ngủ trong khi
những “kiến trúc sư” bận rộn của ngày chăm chú vào công việc lặng lẽ của chúng ở
nơi nào khác. Sự thanh bình tương tự ngự trị, khi bỗng nhiên đất sản sinh ra một
sự sáng tạo mới. Một cách nhẹ nhàng, một biển cỏ, rêu, và hoa nhấp nhô đợt này
trên đợt kia băng qua trái đất. Những tấm màn của khóm lá che phủ những cành
trơ trụi.

Những cây lớn chuẩn bị sẵn
sàng trong những trái tim cường tráng của chúng để lại đón nhận những con chim
vốn chiếm những “căn phòng” [chamber] rộng lớn của chúng tại phương Nam và
phương Tây. Không, không có nơi chốn nào quá thấp hèn, đến nỗi nó không xứng là
chỗ trọ cho một sinh vật hạnh phúc nào đó. Con suối đồng cỏ tháo những xiềng
xích băng giá của nó với những nốt nhạc róc rách, và chảy tự do. Và mọi thứ này
thì được tạo ra trong chưa đầy hai tháng, hòa điệu với cái âm nhạc của ban hợp
xướng của thiên nhiên, giữa một rừng hương của đất trời.
Hàng ngàn những giọng nói
nhỏ nhẹ của trái đất đã thực sự tìm thấy lối đi của chúng đến với tôi – những
tiếng xào xạc trong những búi cỏ, cái vẻ mượt mà sang trọng của những chiếc lá,
tiếng vo vo của côn trùng, tiếng o o của những con ong trong những bông hoa mà
tôi đã hái, tiếng đập cánh của một con chim sau khi nó tắm, và sự rung động nhấp
nhô của nước chảy qua những hòn sỏi. Một khi đã được cảm nhận, thì những giọng
nói thân yêu này sẽ xào xạc, vo vo, phất phới và róc rách trong ý nghĩ của tôi
mãi mãi, và là một phần bất tử của những kỷ niệm hạnh phúc.
Giữa những kinh nghiệm của
tôi và của những người khác, không có vực thẳm nào của không gian câm nín mà
tôi không thể bắc cầu. Bởi vì tôi có những tiếp xúc đa dạng, vô tận và bổ ích với
toàn thế giới, với sự sống, với cái bầu khí mà cái hoạt động rực rỡ của nó ôm
choàng tất cả chúng ta. Cái năng lượng gây phấn khích của làn không khí bao bọc
xung quanh, thì ấm áp và ngây ngất. Những làn sóng nhiệt lượng và những làn
sóng âm thanh chơi đùa trên mặt tôi trong sự đa dạng và sự kết hợp vô hạn, cho
đến khi tôi có thể phỏng đoán những âm thanh đa dạng này phải là cái gì, mà đôi
tai vô dụng của tôi đã không thể nghe.
Không khí thay đổi trong
những vùng khác nhau, ở những mùa khác nhau của năm, và thậm chí, vào những giờ
khác nhau của ngày. Những làn gió nhẹ tươi mát, thơm tho từ biển, thì khác biệt
với những làn gió nhẹ, thổi từng cơn dọc theo những bờ sông, ẩm ướt và đầy những
cái mùi của lục địa. Làn không khí nhẹ, khô, bỗ dưỡng của vùng núi không bao giờ
có thể nhầm lẫn với làn không khí mằn mặn, cay nồng của đại dương.
Làn không khí của mùa
đông thì đậm đặc và nén chặt. Vào mùa xuân, nó có sức sống mới. Nó nhẹ,
linh hoạt, và đầy ắp một nghìn mùi phập phồng từ mặt đất, cỏ, và những chiếc lá
đang nhú ra. Làn không khí giữa mùa hạ thì đặc, bão hòa, hay khô và nóng bỏng,
như thể bốc lên từ một lò lửa. Khi một cơn gió nhẹ mát mẻ xua đi sự yên tĩnh oi
bức, nó mang đến ít mùi hơn trong tháng Năm, và, thường xuyên, cái mùi của một
cơn bão đang tới.
Khối mát mẻ mà quét xuyên
qua bầu không khí của mùa xuân, thì ít giống với cái lạnh cắt da của mùa đông.
Cơn mưa của mùa đông thì
“sống sít,” [23] không mùi, và ảm đạm. Cơn mưa của mùa xuân thì mát mẻ, thơm
tho, đầy hơi ấm của sự sống. Tôi đón chào nó một cách vui sướng khi nó viếng
thăm mặt đất, làm giàu những con suối, tưới mát những ngọn đồi một cách dồi
dào, làm cho những luống cày mềm lại với những cơn mưa rào cho hạt giống nẩy mầm,
làm tỏa ra một mùi hương mà tôi không thể hít vào đủ sâu. Mưa xuân thì đẹp,
đáng yêu, không thiên vị. Với những giọt long lanh như ngọc, nó rửa mọi chiếc
lá trên cây và những bụi cây, chăm sóc đồng đều những thảo mộc bổ dưỡng và độc
hại, lùng sục mọi sinh vật mà cần đến lòng hảo tâm của nó.
Những giác quan hỗ trợ và
tăng cường lẫn nhau, tới một mức độ mà tôi không biết chắc là xúc giác hay khứu
giác nói cho tôi nhiều nhất về thế giới.
Mọi nơi, dòng sông của
xúc giác được kết nối với những con suối của khứu giác. Mỗi mùa có những mùi
khác biệt của nó. Mùa xuân thì có mùi đất và đầy nhựa. Tháng Bảy thì phong phú
với mùi của hạt đang chín và cỏ khô. Khi mùa diễn tiến, một cái mùi khô, chín,
giòn thống trị, cây cúc vàng và những cây cúc trường sinh đánh dấu bước đi của
năm. Vào mùa thu, những mùi hương nhẹ nhàng, quyến rũ tỏa ngát trong không khí,
bay từ những bụi cây, cỏ, hoa, cây, và chúng nói cho tôi biết về thời
gian và sự biến dịch, về sự chết và sự tái sinh, dục vọng và sự thỏa mãn dục vọng.
[24]
_____
[19] The dominant : Âm bậc
V của thang âm.
[20] Người Mỹ ở miền Bắc.
[21] Irrational.
[22] Switching: bẻ ghi;
cho xe lửa sang đường khác.
[23] Raw
[24] Tác giả, qua kinh
nghiệm gần gũi của mình với thiên nhiên, đã tiến gần tới sự minh triết !
CHƯƠNG VI
KHỨU GIÁC, VỊ THIÊN THẦN
BỊ ĐỌA
Vì lý do
không thể giải thích nào đó, khứu giác không có địa vị cao mà nó đáng được hưởng
trong số những chị em của nó. Nó có vẻ là một thiên thần bị đọa. Khi nó khuyến
dụ chúng ta với những mùi hương rừng và mê hoặc chúng ta với hương thơm của những
khu vườn đáng yêu, thì nó được chúng ta thẳng thắn thừa nhận. Nhưng khi nó cảnh
báo chúng ta về một cái gì đó độc hại trong vùng lân cận của chúng ta, thì nó bị
đối xử như thể quỷ sứ đã thắng thế đối với thiên thần, và bị trừng phạt về sự
phục vụ trung thành của nó. Thật rất khó mà giữ ý nghĩa thực của những từ, khi
người ta thảo luận những thành kiến của loài người, và tôi thấy khó mà đưa ra một
bản tường trình về những cảm giác của khứu giác mà sẽ vừa “có phẩm cách,” vừa
chân thực.
Trong kinh nghiệm của
tôi, khứu giác là rất quan trọng, và tôi thấy rằng, có chứng cứ đáng tin cậy về
sự đáng kính của cái giác quan mà chúng ta đã bỏ quên và phỉ báng này. Sử sách
ghi rằng, Đức Chúa Trời ra lệnh rằng, hương trầm, với một mùi thơm dễ chịu, phải
được đốt trước mặt Ngài. Tôi không rõ, liệu có cảm giác nào khởi lên từ thị
giác, thú vị hơn những cái mùi được lọc xuyên qua những cành cây ấm nắng mặt trời,
bị gió thổi tung bay, hay cơn thủy triều của những hương thơm phồng lên, rút xuống,
lại nổi lên, làn sóng này sau làn sóng kia, đổ đầy thế giới rộng lớn với mùi
thơm vô hình. Một mùi hương thoáng qua của vũ trụ khiến chúng ta mơ về những thế
giới mà chúng ta chưa bao giờ thấy, gợi lại trong chớp mắt toàn bộ những giai
đoạn của kinh nghiệm thân yêu nhất của mình. Tôi không bao giờ ngửi thấy mùi
hoa cúc mà không sống lại những buổi sáng ngây ngất mà cô giáo tôi và tôi đã trải
qua, lang thang trên những cánh đồng, trong khi tôi học những từ mới và tên của
những sự vật. Khứu giác là một vị phù thủy hùng mạnh, vận chuyển chúng ta băng
qua một nghìn dặm và mọi tháng năm mà chúng ta đã sống. Mùi của những trái cây
đưa ký ức tôi đến ngôi nhà miền Nam của tôi, với những trò nô đùa trẻ con trong
vườn đào. Những mùi khác, chớp nhoáng và chóng qua, khiến trái tim tôi giãn ra
một cách vui sướng hay se thắt với nỗi sầu muộn quá khứ, khi hồi tưởng lại. Khi
tôi nghĩ về những mùi, cái mũi của tôi đầy hương thơm, làm sống lại những kỷ niệm
êm đềm của những mùa hè đã ra đi và những cánh đồng lúa đang chín xa xa.
Mùi hương nhẹ nhất từ một
đồng cỏ, nơi mà cỏ khô mới cắt nằm dưới mặt trời nóng bức, có thể hoán chuyển
cái ở đây và bây giờ. Nó đưa tôi trở lại cái kho chứa cỏ khô xưa, màu đỏ. Những
người bạn bé nhỏ của tôi và tôi đang chơi đùa trong vựa chất cỏ khô. Một cái vựa
khổng lồ, đầy cỏ khô giòn, thơm tho, từ cái chóp của nó, đứa trẻ bé nhất có thể
với tới những cái đòn tay. Trong những cái chuồng phía dưới, là những con vật của
nông trại. Đây là Jerry, khó bảo, xấu xí, đang nhai răng rắc những hạt lúa mạch
của nó giống như một kẻ yếm thế đích thực, quyết định rằng thức ăn của nó không
ngon – ít nhất, không ngon như ý nó. Một lần nữa, tôi sờ vào Brownie, bé nhỏ,
háo hức, biết ơn, sẵn sàng rời bỏ món cỏ khô ngon lành nhất để đổi lấy một cái
vỗ nhẹ, rướn cái cổ mảnh mai, xinh đẹp của nó, để nhận lấy một cái vuốt ve. Đứng
gần đó là Quý bà Belle [25], với cái mõm dễ thương ươn ướt, đang lười biếng chiết
xuất chất bổ dưỡng từ cỏ đuôi mèo và cây móng bò, và mơ về những đồng cỏ rậm
tháng Sáu và những dòng suối thì thầm.
Khứu giác đã nói cho tôi
biết một cơn bão đang đến, nhiều giờ trước khi có bất cứ dấu
hiệu nào của nó hiện ra. Tôi nhận thấy trước hết, một sự phập phồng của sự chờ
đợi, một cái run rẩy nhẹ, một sự tập trung trong mũi tôi. Khi cơn bão đến gần
hơn, thì mũi tôi giãn ra tốt hơn để tiếp nhận cơn lụt của những mùi từ mặt đất,
mà có vẻ như gia bội và lan rộng ra, cho đến khi tôi cảm nhận những hạt mưa chạm
vào má tôi. Khi cơn bão qua đi, rút lui mỗi lúc một xa hơn, thì những cái mùi
phai dần đi, trở thành nhẹ hơn, và mất hẳn ở phía bên kia chấn song của không
gian.
Qua mùi, tôi biết cái nhà
mà tôi bước vào thuộc loại nào. Tôi đã nhận ra một ngôi
nhà vùng quê, kiểu cổ, bởi vì nó có nhiều tầng mùi, để lại bởi nhiều gia đình nối
tiếp nhau – mùi của thảo mộc, và của chăn màn, quần áo…
Vào buổi chiều tối yên
tĩnh, có ít rung động hơn so với ban ngày, và lúc bấy giờ, tôi nương dựa phần lớn
vào mùi. Mùi lưu huỳnh của một cây diêm, cho tôi biết những cây đèn đang được
thắp. Sau đó, tôi ghi nhận cái dấu vết chập chờn của cái mùi bay thoáng qua và
biến mất. Đó là tín hiệu giới nghiêm; điện bị cúp vào ban đêm.
Ở ngoài trời, tôi ý thức
được sự vật nhờ có mùi và sự xúc chạm với mặt đất mà chúng ta giẫm lên và những
nơi mà chúng ta đi qua. Đôi khi, khi không có gió, thì những cái mùi tạo
thành nhóm, đến nỗi tôi biết cái tính chất của vùng quê, và có thể nhận ra một
cánh đồng cỏ, một cửa tiệm vùng quê, một khu vườn, một vựa lúa, một rừng thông,
một nông trang với những cửa sổ mở.
Hôm kia, tôi đi bộ về
phía một khu rừng quen thuộc. Bỗng nhiên, một mùi khó chịu khiến cho tôi dừng lại,
hoảng sợ. Theo sau là một rung chuyển đặc biệt, đều đặn, rồi có tiếng sấm rền nặng
nề. Tôi hiểu cái mùi và cái rung chuyển này quá rõ. Những cái cây đang bị đốn
xuống. Chúng tôi trèo lên bức tường đá, sang phía trái. Nó tiếp giáp với khu rừng
mà tôi đã yêu mến quá lâu, đến nỗi nó dường như là vật sở hữu của riêng tôi.
Nhưng hôm nay, một luồng không khí xa lạ và và một cơn bộc phát bất thường của
mặt trời nói cho tôi biết rằng, những người “bạn cây” của tôi đã ra đi. Nơi đó
trống rỗng, giống như một căn nhà bị bỏ hoang. Tôi dang tay ra. Nơi mà trước
đây là những cây thông vững chãi, to lớn, xinh đẹp, thơm tho, thì bàn tay tôi
chạm vào những gốc cây ươn ướt, xù xì. Nằm xung quanh, là những cành gãy, giống
như bộ gạc của con nai bị thương. Mạt cưa thơm, chất đống, xoay vòng và rơi rụng
xung quanh tôi. Một sự oán hận tự phát, xẹt qua tôi trước sự hủy diệt tàn nhẫn
cái đẹp mà tôi yêu quý. Nhưng thiên nhiên không có sự giận dữ, sự oán hận.
Không khí vẫn tràn đầy những cái mùi của sự sống và của sự hủy diệt, bởi vì sự
chết song hành với với sự tăng trưởng, mãi mãi chăm lo cho sự sống, vốn thống
trị tất cả.[26] Mặt trời vẫn chiếu sáng như bao giờ, và những cơn gió hoành
hành qua những khoảng không gian vừa mới mở ra. Tôi biết rằng, một khu rừng mới
sẽ lại mọc lên tại địa điểm của khu rừng cũ, cũng xinh đẹp và từ ái như vậy.
Xúc giác thì lâu bền và
xác định. Nhưng mùi thì rẽ hướng và phù du, thay đổi về sắc độ, mức độ, và địa
điểm. Có một cái gì đó khác trong mùi mà cho tôi một cảm thức về khoảng cách.
Tôi sẽ gọi nó là chân trời – cái đường thẳng nơi mà mùi và trí tưởng tượng gặp
nhau tại mức giới hạn xa nhất của khứu giác.
Khứu giác cho tôi nhiều ý
tưởng hơn xúc giác hay vị giác, về cái thể cách mà trong đó thị giác hay thính
giác thường thực hiện những chức năng của chúng. Xúc giác có vẻ như “cư
ngụ” trong vật thể được sờ vào, bởi vì có một sự tiếp xúc với những bề mặt.
Trong khứu giác, không có khái niệm về sự chạm nổi [27], và mùi có
vẻ như không “cư ngụ” trong sự vật được ngửi thấy, nhưng ở nơi giác quan. Bởi
vì tôi ngửi thấy một cái cây ở đằng xa, nên tôi có thể hiểu được rằng, người ta
thấy nó mà không chạm vào nó. Tôi không thấy khó hiểu về sự kiện rằng, người ta
tiếp nhận nó như một hình ảnh trên võng mô của mình mà không có “hình nổi.”Tự
thân chúng, những cái mùi không gợi lên cái gì cả. Tôi phải học bằng liên tưởng
để phán đoán chúng về khoảng cách, nơi chốn, và về những hành động hay cái môi
trường quen thường đối với chúng, như người ta bảo tôi rằng, người ta phán đoán
từ màu sắc, ánh sáng, và âm thanh.
Từ những cái mùi xông
lên, tôi học hỏi nhiều về những con người. Tôi thường biết
công việc mà họ đang làm. Những mùi của gỗ, sắt, chất sơn, và thuốc men bám vào
y phục của những người làm việc với chúng. Như thế, tôi có thể phân biệt
người thợ mộc với người thợ đồ sắt, người họa sĩ với người thợ nề, hay nhà hóa
học.
Khi một người di chuyển
nhanh từ nơi này sang một nơi khác, tôi có một ấn tượng mùi về cái nơi mà anh
ta đã ở – nhà bếp, khu vườn, hay phòng của bệnh nhân. Tôi có những ý tưởng thú
vị về sự tươi mát và sự dễ chịu từ mùi của xà phòng, y phục sạch, những chất liệu
len hay lụa, và bao tay.
Quả thực, tôi không có
cái khứu giác đánh hơi được mọi sự của con chó săn hay con dã thú. Không ai
ngoài người què và người mù cần phải sợ kỹ năng theo đuổi của tôi; bởi vì ngoài
nước, những dấu vết quá thời, những lối đi giao nhau, còn có nhiều vật khác khiến
cho tôi phán đoán sai lầm. Tuy nhiên, những cái mùi của con người thì đa dạng
và có thể nhận ra, như những bàn tay và những khuôn mặt. Cái mùi thân thương của
những người tôi yêu mến thì quá xác định, không thể nhầm lẫn, đến nỗi không gì
có thể hoàn toàn xóa bỏ chúng. Tôi nghĩ rằng, nếu gặp lại một người bạn thân
thiết sau nhiều năm xa cách, cho dẫu tại châu Phi, thì tôi sẽ nhận ra cái mùi của
người ấy ngay lập tức – cũng nhanh chóng như con chó của tôi có thể.
Một lần, cách đây đã lâu,
trong một nhà ga xe lửa đông đúc, một quý bà hôn tôi khi bà đi vội vàng ngang
qua. Tôi đã không sờ vào, thậm chí cái váy của bà. Nhưng bà để lại một mùi
hương với nụ hôn của bà, nó cho tôi một “thoáng nhìn” về bà. Nhiều năm
đã trôi qua kể từ khi bà hôn tôi. Nhưng cái mùi của bà vẫn còn tươi mới trong
trí nhớ tôi.
Thật khó mà diễn tả thành
lời cái mùi cá nhân, khó nắm bắt. Dường như không có vốn từ thỏa đáng về những
cái mùi, và tôi phải dùng ẩn dụ và từ ngữ phỏng chừng.
Một số người có một cái
mùi mơ hồ, hư hư thực thực, mà thoảng bay, giễu cợt mọi nỗ lực để nhận diện nó.
Nó là con “ma trơi” của kinh nghiệm về khứu giác của tôi. Đôi khi, tôi gặp một
người thiếu một cái mùi cá nhân rõ rệt, và tôi hiếm khi thấy một người như thế
mà lại sống động hay thú vị. Mặt khác, một người có một cái mùi cay nồng
thường sở hữu sức sống, năng lượng lớn và khí lực [lớn] của tâm trí.
Thường thường, những cái
mùi của nam giới, thì mạnh mẽ hơn, sống động hơn, và đa dạng hơn của phụ nữ. Trong
cái mùi của những người trẻ, có một cái gì “sơ nguyên” như của lửa, cơn bão, và
biển mặn. Nó phập phồng với sự lạc quan và mơ ước. Nó gợi lên mọi vật mạnh mẽ,
đẹp và vui sướng, và cho tôi một cảm thức về sự hạnh phúc thể lý. Tôi tự hỏi,
liệu những người khác có quan sát thấy rằng, mọi hài nhi có cùng một
mùi – tinh khiết, giản dị, không thể giải mã, bởi vì nhân cách của chúng chưa
phát triển. Mãi cho đến khi chúng lên 6 hay 7 tuổi, thì chúng mới bắt đầu có những
cái mùi cá nhân tri giác được. Những cái này phát triển và chín muồi cùng với
những năng lực tâm thần và thể xác của chúng.
Những gì mà tôi đã viết về
mùi, nhất là mùi của con người, có lẽ sẽ bị xem như là cái tình cảm “bất thường”
của một kẻ không có ý tưởng nào về “thế giới của thực tại và cái đẹp mà con mắt
tri giác.”
Có những người mù màu, những
người điếc về âm thanh. Phần lớn người ta đều “mù và điếc” về mùi. Chúng ta
không thể kết án một tác phẩm âm nhạc dựa trên bằng chứng của một cái tai vốn
không thể phân biệt một hợp âm này với một hợp âm khác, hay đánh giá một bức họa
bằng cái phán quyết của một nhà phê bình bị mù màu. Những cảm giác về mùi vốn
thông báo, làm hưng phấn và nới rộng đời tôi, chúng không bớt thú vị, chỉ vì lời
phát biểu của một nhà phê bình nào đó, ông ta đã đi trên lối đi rộng rãi, rực rỡ
của thị giác, nhưng không trau dồi khứu giác. Nếu không có những cảm giác “e lệ,”[shy]
thoáng qua, – thường khi không quan sát được, và sự chắc chắn mà vị giác, khứu
giác và xúc giác đã cho tôi – thì tôi buộc phải “thủ đắc” quan niệm của tôi về
vũ trụ hoàn toàn từ những người khác. Tôi sẽ thiếu đi cái “thuật giả kim” [28]
mà nhờ nó, tôi đưa vào thế giới của tôi ánh sáng, màu sắc, và tia lửa của
Prometheus. Cái thực tại được tri giác bằng giác quan, vốn đan kết và nâng đỡ mọi
sự quờ quạng của trí tưởng tượng của tôi, sẽ bị vỡ nát. Mặt đất vững chắc sẽ chảy
tan từ dưới hai bàn chân tôi và tự tản mác trong không gian.Những vật thể
thân yêu với hai bàn tay tôi, sẽ trở nên những vật chết, không hình thù, và tôi
sẽ bước đi giữa chúng như giữa những con ma vô hình.
____
[25] Lady Belle. Đây là
con chó của gia đình Helen Keller.
[26] Tuy bị mù và điếc,
nhưng nhờ có xúc giác, mà tác giả đã có được một “cái nhìn” khái quát và sâu sắc
biết bao !
[27] Relievo.
[28] Alchemy: Thuật giả
kim; Sự biến đổi bí ẩn
CHƯƠNG VII
GIÁ TRỊ TƯƠNG ĐỐI CỦA NHỮNG
GIÁC QUAN
Một lần, tôi bị mất
cảm thức về mùi và vị trong vài hôm. Có vẻ như là khó tin, cái sự cách ly hoàn
toàn khỏi mùi : hít vào không khí, và không quan sát thấy một cái mùi nào cả. Rất
có thể, cái cảm nhận đó thì tương tự, tuy nhỏ hơn đề cấp độ, với cảm nhận của một
người lần đầu tiên bị mất thị giác và không thể mong đợi thấy lại ánh sáng bất
cứ ngày nào, giây phút nào. Tôi biết, một lúc nào đó, tôi sẽ lại có thể ngửi.
Tuy nhiên, sau khi bị mất cảm giác [về mùi và vị], thì một nỗi cô đơn
bò qua tôi, bao la như cái bầu không khí mà vô số những cái mùi của nó, tôi
đã không ngửi thấy. Những cảm giác thú vị đa dạng mà khứu giác đã cho tôi, trở
thành, trong một thời gian, những hồi ức đầy nuối tiếc. Khi tôi phục hồi hai
giác quan bị mất, trái tim tôi nhảy nhót với nỗi vui mừng. Nó là một cái xúc chạm
đẹp đẽ, kịch tính mà Hans Andersen đem lại cho câu chuyện về Kay và Gerda trong
đoạn nói về những bông hoa. Kay, người mà cái gương thần của mụ phù thủ độc ác
đã làm cho đui mù trước tình yêu con người, vụt chạy khỏi nhà một cách dữ tợn,
khi anh ta phát hiện rằng, những bông hồng đã mất đi cái hương thơm của
chúng.
Việc bị mất khứu giác
trong vài ngày, cho tôi một ý tưởng rõ ràng hơn, về việc bị mù đột ngột, một
cách vô phương cứu chữa. Với một chút nhỏ bé của trí tưởng tượng, tôi biết rồi
sẽ ra sao, khi bức màn lớn bỗng nhiên che khuất ánh sáng của ngày, những ngôi
sao, và chính bầu trời. Tôi thấy đôi mắt của người mù nhướng lên tìm ánh sáng,
khi anh ta sợ hãi cố sức bước đi vòng quanh, cho đến khi cái trống không bất biến
trải ra khắp nơi phía trước anh ta, đóng lên ý thức anh ta con dấu của bóng tối.
Việc tạm thời bị mất khứu
giác cũng đã chứng minh cho tôi rằng, sự vắng mặt của khứu giác không
làm cùn nhụt những quan năng tâm thần và không bóp méo cái nhìn của người ta về
thế giới, và do vậy, tôi lý luận rằng, sự mù và điếc không làm hư hỏng cái trật
tự nội tại của trí năng. Tôi biết rằng, nếu không có mùi nào cho tôi, thì
tôi vẫn sẽ sở hữu một phần đáng kể của thế giới. Những cái mới mẻ, những cái ngạc
nhiên sẽ dồi dào, và những cuộc phiêu lưu sẽ gia tăng trong bóng tối.
Trong sự phân loại của
tôi về những giác quan, thì khứu giác hơi thấp hơn thính giác một chút,
và xúc giác, thì cao hơn thị giác rất nhiều. [30] Tôi phát hiện rằng,
những họa sĩ và những triết gia đồng ý với tôi về điều này. Diderot nói:
“Tôi thấy rằng, trong số
những giác quan, thì con mắt là hời hợt nhất, cái tai là kiêu ngạo nhất, khứu
giác là ưa khoái lạc nhất, vị giác là “mê tín” và bốc đồng nhất, xúc
giác là sâu xa và có tính triết học nhất.”
Một người bạn mà tôi chưa
bao giờ gặp, gửi cho tôi một đoạn trích dẫn từ tác phẩm Renaissance in Italy của
Symonds:
Lorenzo Ghiberti, sau khi
mô tả một tác phẩm điêu khắc cổ đại mà ông thấy tại Rome, nói thêm: “Diễn tả sự
hoàn hảo của sự học vấn, sự điêu luyện và nghệ thuật được phô bày trong nó, là
vượt quá sức mạnh của ngôn ngữ. Những cái đẹp tuyệt vời hơn của nó, không thể
khám phá bởi thị giác, nhưng chỉ bởi sự xúc chạm của bàn tay lướt qua nó.” Về một
bức tượng cẩm thạch cổ điển khác tại Padua, ông nói: “Nó có rất nhiều cái đẹp
đáng yêu, mà một mình đôi mắt không thể hiểu thấu, dù bởi ánh sáng mạnh hay yếu;
chỉ có bàn tay, xúc chạm chúng, mới có thể phát hiện ra chúng.”
Hãy chìa tay ra để cảm nhận
cái sự lộng lẫy của những tia mặt trời. Hãy ép những bông hoa mềm mại lên má bạn,
và cảm nhận sự duyên dáng trong hình thể của chúng, sự uyển chuyển tinh tế của
hình dáng, sự mềm mại và sự tươi mát của chúng. Hãy để cho khuôn mặt bạn phô ra
trước những cơn lụt của làn không khí quét qua bầu trời, “hãy hít vào những ngụm
của không gian,” hãy kinh ngạc, kinh ngạc trước cái hoạt động không mệt mỏi của
gió. Hãy chất nốt nhạc này trên nốt nhạc kia, cái âm nhạc vô hạn vốn tuôn chảy
không ngừng nghỉ tới linh hồn bạn từ những vang dội có thể xúc chạm của một
ngàn cành cây và của những khối nước đang đổ xuống. Làm thế nào mà thế giới có
thể bị héo úa khi xúc giác, cái giác quan sâu xa nhất này về mặt cảm xúc, vẫn
trung thành với sự phục vụ của nó? Tôi chắc rằng, nếu một bà tiên ra lệnh
cho tôi chọn giữa thị giác và xúc giác, thì tôi sẽ không lìa bỏ sự tiếp xúc ấm
áp, yêu dấu của những bàn tay con người, hay cái giàu có của hình thể, cái cao
thượng và phong phú vốn ép vào lòng bàn tay tôi.
____
[29] Đối với một người mù
và điếc, thì đây là một phát hiện rất quan trọng.
[30] Có đúng như vậy
không? Đây là vấn đề lý thú cho các nhà khoa học.
CHƯƠNG VIII
THẾ GIỚI 5 GIÁC QUAN
Những nhà
thơ đã dạy chúng ta, đêm thì đầy những kỳ diệu như thế nào; và cái đêm của sự
mù lòa, cũng có những cái tuyệt vời của nó. Cái bóng tối duy nhất không
ánh sáng, là đêm của sự ngu dốt và sự vô cảm [31]. Chúng ta, người mù
và người sáng, khác nhau, không phải trong giác quan của chúng ta, mà trong việc
chúng ta sử dụng chúng – trong cái trí tưởng tượng và lòng can đảm, mà với
chúng, chúng ta tìm kiếm sự khôn ngoan vượt quá những giác quan của
mình.
Dạy kẻ ngu dốt suy nghĩ,
thì khó hơn dạy một người mù thông minh thấy cái uy nghi của thác Niagara.
Tôi đã bước đi với những người sáng mắt, nhưng họ không thấy gì trong
rừng, trên biển, hay trên bầu trời; không thấy gì trên những đường phố, không
thấy gì trong những cuốn sách. Thật là một sự thấy giả tạo, vô hồn! Thật là, sẽ
tốt hơn rất nhiều, nếu mãi mãi đi thuyền trong đêm của sự mù lòa, với lương
tri, sự cảm nhận và tâm trí, hơn là bằng lòng với sự thấy theo cách đó. Họ có
hoàng hôn, bầu trời buổi sáng, màu tím sẫm của những ngọn đồi xa, thế
nhưng, linh hồn họ du hành xuyên qua cái thế giới kỳ diệu này với một cái nhìn
cằn cỗi.
Tai họa của người mù thì
bao la, không cứu chữa được. Nhưng nó không lấy đi của họ những cái quan trọng
– sự ân cần, tình bạn, sự hài hước, trí tưởng tượng, sự minh triết. Chính
cái ý chí nội tại bí mật, mới là cái kiểm soát số phận của mỗi người. Chúng
ta [những người mù] có năng lực để muốn trở thành người tốt, để yêu thương và để
được yêu thương, để suy nghĩ cho đến cuối, rằng chúng ta có thể khôn ngoan
hơn. Chúng ta sở hữu những sức mạnh phát sinh từ linh hồn, ngang hàng với
tất cả những đứa con của Thượng Đế. Cũng do vậy, chúng ta thấy những tia chớp
và nghe những tiếng sấm của Sinai. Chúng ta cũng đi qua hoang địa và nơi cô quạnh
mà sẽ trở thành những nơi chốn vui tươi đối với chúng ta, và khi chúng ta đi
qua, Thượng Đế làm cho sa mạc nở hoa giống như bông hồng. Chúng ta nữa, đi vào
vùng Đất Hứa để sở hữu những kho báu của linh hồn, sự trường tồn vô hình của sự
sống và thiên nhiên.
Kẻ mù lòa trong linh hồn
đối mặt với cái bất tri [32] và đương đầu với nó, và thế giới của người sáng
làm cái gì khác? Anh ta có trí tưởng tượng, sự đồng cảm, nhân tính, và những hiện
hữu không thể nhổ rễ này thúc bách anh ta chia sẻ, bởi một loại “ủy quyền,” một
giác quan mà anh ta không có. Khi anh ta gặp những thuật ngữ về màu sắc,
ánh sáng, diện mạo, anh ta phỏng đoán, tìm ra ý nghĩa của chúng bằng phương
pháp loại suy, từ những giác quan mà anh ta có. Tôi tự nhiên có khuynh hướng
suy nghĩ, lý luận, rút ra những suy diễn như thể tôi có 5 giác quan thay vì chỉ
có 3. Khuynh hướng này thì vượt quá sự kiểm soát của tôi; nó phi ý chí, quen
thường, có tính bản năng.
Tôi không thể ép buộc tâm
trí tôi phải nói “tôi cảm thấy,” thay vì “tôi thấy” hoặc “tôi
nghe.” Khi tôi tìm kiếm những từ chính xác để mô tả những sự vật bên ngoài
vốn tác động tới những giác quan thể lý của tôi, thì cái từ “cảm thấy,” xét cho
cùng, cũng có tính quy ước như từ “thấy” và “nghe.” Khi một người mất đi một
cái cẳng chân, thì bộ não vẫn tiếp tục thúc bách anh ta sử dụng cái mà anh ta
không có nhưng vẫn cảm thấy nó ở đó. Phải chăng, có thể là, bộ não được cấu tạo
theo một thể cách nào đó, khiến cho nó sẽ tiếp tục cái hoạt động vốn kích hoạt
thị giác và thính giác, sau khi con mắt và cái tai đã bị hủy diệt?
Có vẻ như, 5 giác quan sẽ
làm việc một cách thông minh cùng nhau, chỉ khi nào chúng cư ngụ trong cùng một
cơ thể. Thế nhưng, khi 2 hay 3 giác quan bị mất đi, thì chúng vươn ra
tìm trong một cơ thể khác những cái bổ sung cho chúng, và phát hiện rằng,
chúng liên kết một cách dễ dàng với cái nhóm [giác quan] được vay mượn. Khi bàn
tay tôi đau nhức vì sờ quá nhiều, tôi tìm thấy sự nhẹ nhõm trong thị giác của một
người khác. Khi tâm trí tôi tụt lại phía sau, mệt mỏi với sự rán sức để có những
ý tưởng về cái thế giới tối tăm, không âm nhạc, không màu sắc, thì nó phục hồi
sự đàn hồi của nó ngay khi tôi quay sang sức mạnh của một tâm trí khác vốn tri
giác được ánh sáng, sự hài hòa, màu sắc. Do vậy, nếu 5 giác qua không tách rời
khỏi nhau, thì cuộc đời của người điếc-mù cũng không thể bị cắt lìa khỏi cuộc đời
của người sáng mắt và người “sáng tai.”
Người mù-điếc có thể bị
nhấn chìm và lại bị nhấn chìm giống như người thợ lặn của Schiller vào trong những
đại dương của cái bất tri. Nhưng, không giống như vị anh hùng xấu số, anh ta trở
lại, đắc thắng, nắm bắt cái chân lý vô giá rằng, tâm trí anh ta không bị
tàn phế, không bị giới hạn bởi sự khiếm khuyết của những giác quan. Thế giới
của con mắt và cái tai, đối với anh ta, trở thành một đề tài có tầm quan trọng
lớn. Anh ta chộp lấy mọi từ chỉ thị giác và thính giác, bởi vì những cảm giác của
anh ta ép buộc điều ấy. Tuy anh ta không có chứng cứ xúc giác về ánh
sáng và màu sắc, anh ta nghiên cứu chúng không sợ hãi, tin rằng, toàn bộ chân
lý khả tri đối với con người, thì mở ra với anh ta. Anh ta ở trong một vị
thế tương tự như vị thế của một nhà thiên văn học kiên trì, kiên nhẫn, ngắm một
vì sao đêm này sang đêm nọ, trong nhiều năm, và cảm thấy được đền đáp, nếu anh
ta khám phá một sự kiện duy nhất về nó. Người câm-mù với những sự vật ngoại tại
bình thường, và người điếc-mù với cái vũ trụ vô lượng, cả hai đều bị giới hạn bởi
thời gian và không gian; nhưng họ đã làm một thỏa ước : tận dụng những giới hạn
của họ.
Khối lượng kiến thức về
thế giới là một sự xây dựng của trí tưởng tượng.
Lịch sử chỉ là một phương cách của trí tưởng tượng, nó tái hiện lại những nền
văn minh đã không còn xuất hiện trên trái đất. Vài trong số những khám phá có ý
nghĩa nhất trong khoa học hiện đại, đã dựa trên cái trí tưởng tượng của
những người vốn không có kiến thức chính xác, cũng như [không có] những dụng cụ
chính xác để chứng minh cho những niềm tin của họ.
Nếu thiên văn học đã
không luôn đi trước kính thiên văn, thì không ai sẽ từng nghĩ rằng đáng làm một
cái kính thiên văn. Có phát minh vĩ đại nào mà không hiện hữu rất lâu
trong tâm trí của nhà phát minh, trước khi ông ta cho nó một hình dáng có thể sờ
mó được?
Một thí dụ tuyệt vời hơn
về kiến thức tưởng tượng [33], là tính “thống nhất,” [34] mà với nó, nhà triết
học khởi đầu sự nghiên cứu của họ về thế giới. Họ không bao giờ có thể
tri giác thế giới trong cái thực tại toàn bộ của nó. Thế nhưng, trí tưởng tượng
của họ – nó tự cho phép mình sai lầm, và xem sự thiếu chắc chắn như là không
đáng kể – đã chỉ đường cho kiến thức thực nghiệm.
Trong những khoảnh khắc
sáng tạo cao vời nhất của mình, nhà thơ lớn, nhạc sĩ lớn ngừng sử dụng những dụng
cụ thô sơ của thị giác và thính giác. Họ bứt mình ra khỏi những cái neo giác
quan, bay lên trên những đôi cánh mạnh mẽ của linh hồn [35],
trên những ngọn đồi sương mù và những thung lũng tối tăm của chúng ta, vào
trong cõi miền của ánh sáng, âm nhạc, và trí năng.
Con mắt nào đã thấy những
vinh quang của Jerusalem Mới ?[36] Cái tai nào đã nghe âm nhạc của những tầng
trời, những bước đi của thời gian, những cú đánh của sự ngẫu nhiên và của sự chết? Con
người không nghe với cái giác quan thể lý của họ, cái xôn xao của những giọng
nói ngọt ngào trên những ngọn đồi của Judea, cũng không thấy cái linh ảnh về
thiên đường; nhưng hàng triệu người đã lắng nghe cái thông điệp tâm linh đó qua
nhiều thời đại.
Sự mù của chúng ta không
làm thay đổi chút nào cái diễn tiến của những thực tại nội tại.
Điều đó đúng với chúng ta, bởi vì cái thế giới đẹp nhất luôn luôn bước vào
[chúng ta] qua trí tưởng tượng. Nếu bạn mong trở thành một cái gì đó mà bạn
không là – một cái gì đó đẹp đẽ, cao thượng, tốt lành, – thì bạn hãy nhắm đôi mắt
lại, và trong một khoảnh khắc mơ màng, bạn là cái mà bạn mong ước trở thành.
____
[31] Rất sâu sắc và
rất đúng !
[32] The unknown:
Cái bất tri; cái vị tri.
[33] Imaginative
knowledge.
[34] Unity.
[35] Spirit. Tác giả
nhắc lại sự ưu việt của linh hồn so với sự hạn hẹp của những giác quan.
[36] The New
Jerusalem.
CHƯƠNG IX
NHỮNG TÂM ẢNH [37]
Theo mọi nghệ
thuật, mọi ý tưởng mạch lạc của con người, chúng ta biết rằng, trật tự, sự cân
đối, hình dáng, là những yếu tố cốt tủy của cái đẹp. Ta cũng biết, trật tự, sự
cân xứng, và hình dáng, thì sờ mó được. Nhưng cái đẹp và tiết nhịp thì
sâu xa hơn giác quan. Chúng giống như tình yêu và đức tin. Chúng khởi phát từ một
quá trình tâm linh, ít bị lệ thuộc vào những cảm giác.
Trật tự, sự cân xứng, và
hình dáng không thể làm phát sinh trong tâm trí cái ý tưởng trừu tượng về cái đẹp, trừ
phi đã sẵn có một linh hồn thông minh để thổi sự sống vào trong những nguyên tố [38].
Nhiều người, có đôi mắt hoàn hảo, nhưng bị mù trong những tri giác của họ. Nhiều
người, có đôi tai hoàn hảo, nhưng bị điếc về mặt cảm xúc. Thế nhưng, đây chính
là những người dám đặt giới hạn cho “tầm nhìn” của những người, mà tuy thiếu một
hay hai giác quan, họ có ý chí, linh hồn, đam mê, trí tưởng tượng. Đức tin là một
sự giễu cợt nếu nó không dạy chúng ta rằng, chúng ta có thể xây dựng một thế giới
hoàn chỉnh hơn và đẹp hơn thế giới vật chất. Và tôi, nữa, có thể xây dựng
cái thế giới tốt hơn của mình, bởi vì tôi là một đứa con của Thượng Đế, một kẻ
thừa kế một mảnh của cái Linh Hồn vốn sáng tạo ra mọi thế giới.
Có một sự hòa điệu của mọi
sự vật, một sự pha trộn của tất cả những gì mà chúng ta biết về thế giới vật chất
và thế giới tâm linh. Nó bao gồm, với tôi, tất cả mọi ấn tượng, rung động, nhiệt
lượng, cái lạnh, mùi, vị, và những cảm giác mà những cái này truyền đạt tới tâm
trí, được tổng hợp một cách vô hạn, hòa quyện với những ý tưởng và kiến thức đã
thủ đắc. Không có kẻ nào thận trọng trong suy nghĩ sẽ tin rằng, cái mà tôi đã
nói về ý nghĩa của những bước chân, là đúng một cách chính xác về những rung
chuyển và những chấn động đơn thuần. Nó là một dữ kiện về cái “tâm linh” trong
những nguyên tố tự nhiên, những tiếng đập sờ mó được nào đó, và một kiến thức
được thủ đắc về những thói quen thể lý và những nét đạo đức của những con người
có mức tiến hóa cao. Những cái mùi sẽ có ý nghĩa gì, nếu chúng không được liên
kết với thời gian của năm, cái nơi mà tôi sống, và những người mà tôi biết?
Kết quả của một pha trộn
như thế, đôi khi tạo ra một chuỗi những âm thanh chói tai, chứ không phải là một
là một sự hòa điệu. Đối với những ai còn nghi hoặc, thì tôi sẽ nói rằng, tôi đã
cảm nhận một nhạc sĩ lên dây cây đàn vĩ cầm của anh ta, rằng tôi đã đọc về một
bản giao hưởng, và do vậy, tôi có ý thức, cân nhắc khi dùng cái ẩn dụ của mình.
Nhưng với sự rèn luyện và kinh nghiệm, thì những quan năng thu góp những nốt nhạc
“lạc đường” và kết hợp chúng thành một toàn bộ đầy đủ, hài hòa. Nếu kẻ nào
thành tựu công việc này, thì đó là kẻ có năng khiếu bẩm sinh đặc biệt, và tôi gọi
anh ta là một nhà thơ. Những người mù và điếc không phải là những nhà thơ lớn,
đúng vậy. Thế nhưng, thỉnh thoảng bạn tìm thấy một người điếc và mù mà họ đạt tới
vương quốc cái đẹp của mình.
Tôi có một tập thơ nhỏ của
một người điếc-mù, Bertha Galeron. Thơ của bà có cái linh hoạt của tư tưởng.
Khi thì dịu dàng và êm ái, khi thì đầy nỗi đam mê bi đát và cái hà khắc của số
phận. Victor Hugo gọi bà là La Grande Voyante [40]. Bà đã viết
dăm bảy vở kịch, hai trong số đó, đã được diễn tại Paris. Hàn Lâm Viện Pháp đã
vinh danh tác phẩm của bà.
Những kỳ quan vô hạn của
vũ trụ được phát lộ cho chúng ta, chính xác theo cái mức độ mà chúng ta có thể
tiếp nhận chúng. Sự sắc bén của “cái nhìn” [41] của chúng ta không tùy thuộc
vào số lượng bao nhiêu cái mà chúng ta có thể thấy, nhưng tùy
thuộc vào cái mức độ mà ta cảm nhận [42]. Chỉ kiến thức không
thôi, cũng không tạo ra cái đẹp. Thiên nhiên hát những bài ca tuyệt vời nhất của
“bà” cho những ai yêu mến “bà.” Bà không phơi mở những bí mật của mình cho những
ai chỉ đến để thỏa mãn cái ước muốn phân tích của họ, để thu thập những sự kiện,
mà cho những ai thấy trong những hiện tượng đa dạng của “bà” những gợi ý về những
tình cảm cao vời, tinh tế.
Phải chăng tôi không được
dùng những tính từ như “tươi mát,” “lấp lánh,” “tối tăm,” và “ảm đạm”? Tôi đã
đi dạo trên những cánh đồng vào buổi sáng sớm. Tôi đã cảm nhận một bụi hoa hồng
nặng trĩu sương và hương thơm. Tôi đã cảm nhận những đường cong và sự duyên
dáng của con mèo của tôi, khi nó đang nô đùa. Tôi đã biết cái điệu bộ dễ
thương, e lệ của những đứa trẻ nhỏ. Tôi đã biết cái đối lập buồn bã của những
cái này, một bức tranh rùng rợn, “thấy” được bằng xúc giác. Hãy nhớ rằng, đôi
khi tôi đã đi bộ trên một con đường bụi bặm, xa như hai bàn chân tôi có thể đi.
Bỗng nhiên, tại một chỗ rẽ đột xuất, tôi đã giẫm lên những cây cỏ dại cằn cỗi,
và dang tay ra, tôi đã chạm vào một cái cây đẹp, bị một loài tầm gửi “hút máu”
như một con ma cà rồng. Tôi đã sờ vào một con chim xinh đẹp mà đôi cánh mềm của
nó cứng đơ, trái tim nhỏ bé của nó không còn đập nữa. Tôi đã khóc trước
cái sự yếu ớt và sự dị dạng của một đứa trẻ – bị què, mù bẩm sinh, hoặc, tệ hơn
nữa, bị bại não. Nếu tôi có thiên tài của Thomson, thì tôi cũng có thể mô tả
“Thành phố của Đêm Hãi hùng” từ chỉ những cảm giác của xúc giác. Từ những tương
phản không thể hòa giải, phải chăng, chúng ta không thể hình thành một ý tưởng
về cái đẹp và biết chắc chắn khi nào chúng ta gặp sự đáng yêu?
Đây là một bài sonnet,
cho thấy một cách hùng biện khả năng “nhìn thấy” của một người mù:
NÚI NÓI VỚI CÂY THÔNG
Nhà ngươi, vị quốc vương uy nghi của khu rừng,
Đứng ở nơi mà không cây leo dại nào dám bò lên,
Người ta gọi ngươi là lão trượng, và nói rằng ngươi đã đứng
một thế kỷ trên sườn dốc hiểm trở của ta;
Nhưng với ta, đời ngươi chỉ là một ngày,
Khi ta nhớ lại những sự vật mà ta đã thấy –
Những quốc vương của rừng mà đã qua đi
trên cái địa điểm, nơi mà lần đầu tiên ta thấy màu xanh của ngươi;
Bởi vì ta già hơn tuổi của con người,
hoặc mọi sinh vật trườn hay bò trên đất,
hoặc những con chim của không trung, hoặc những sinh vật của đại dương;
Ta là bản đề cương mờ nhạt đầu tiên của kế hoạch của Thượng đế:
Chỉ có biển cả không ngừng nghỉ
Và những ngôi sao vô hạn trên bầu trời, là già đối với ta.

Tôi vui vì bạn tôi, ông
Stedman biết bài thơ đó trong khi ông đang làm cuốn Tuyển Tập của
ông; bởi vì, khi đã biết nó, thì một nhà thơ và nhà phê bình văn học xuất sắc
không thể không cho nó một chỗ trong kho tàng của thi ca Mỹ. Nhà thơ, ông
Clarence Hawkes, đã bị mù từ thời thơ ấu; thế nhưng, ông tìm thấy trong thiên
nhiên những gợi ý về những kết hợp cho những bức tâm ảnh của mình. Từ kiến thức
và những ấn tượng đến với ông, ông xây dựng một kiệt tác vốn “treo” trên những
bức tường của tư tưởng ông. Và mọi linh hồn đích thực của thế giới bước vào
ngôi nhà của nhà thơ.
Thật hiếm có một nhà thơ
mà nghĩ về núi như là “bản đề cương mờ nhạt đầu tiên của kế hoạch của Thượng Đế.”
Đó là cái tuyệt vời đích thực của bài thơ, và không phải là cái mà một người mù
sẽ nói một cách quá tự tin về bầu trời và biển. Những ý tưởng của chúng tôi về
bầu trời là một sự tích lũy của những thoáng nhìn của xúc giác, những ám chỉ
văn học, và những quan sát của những người khác, với một sự pha trộn về cảm xúc
của tất cả. Khuôn mặt tôi chỉ cảm nhận một phần nhỏ của bầu không khí; nhưng
tôi đi xuyên qua không gian liên tục và cảm nhận làn không khí ở mọi điểm, mọi
khoảnh khắc. Người ta cho tôi biết cái khoảng cách từ trái đất tới mặt trời, tới
những hành tinh khác, và tới những định tinh. Tôi nhân lên một ngàn lần
cái chiều cao và chiều rộng tối đa mà mà xúc giác của tôi cảm nhận được, và như
thế, tôi có một cảm thức sâu xa về cái bao la của bầu trời [43].
Nếu bạn di chuyển tôi, một
cách thường trực, qua nước, nước, không gì ngoài nước, thì bạn sẽ cho tôi cảm
giác về sự cô độc, cái bao la của đại dương, vốn đổ đầy con mắt. Tôi đã từng ở
trên một chiếc thuyền buồm nhỏ bé trên biển, khi con sóng thủy triều quét nó về
phía bờ. Phải chăng tôi không hiểu cái văn ảnh của nhà thơ : “Màu xanh của mùa
xuân chảy trào ra mặt đất giống như một cơn thủy triều” ? Tôi đã cảm nhận ngọn
lửa của một cây nến chập chờn trong một làn gió nhẹ. Vậy thì, phải chăng tôi
không thể nói: “Vô số những con đom đóm bay đó đây
trong cỏ ướt sương, giống như những cây nến chập chờn”?
Nếu bạn kết hợp cái không
gian vô tận của bầu không khí, hơi ấm của mặt trời, những đám mây được mô tả
cho tôi, sự bứt mình thường xuyên qua đất của một con suối hay khoảng rộng của
mặt hồ gợn sóng, sự nhấp nhô sờ mó được của những ngọn đồi – mà tôi nhớ lại khi
tôi rời xa chúng, những cái cây cao ngất nghểu khi tôi dạo bước ngang qua
chúng, cái phương hướng mà tôi cố giữ trong khi những người khác bảo cho tôi biết
hướng của những phong cảnh khác nhau – thì bạn sẽ bắt đầu cảm thấy chắc chắn
hơn về cái phong cảnh trong trí tưởng tượng của tôi. Cái giới hạn xa nhất mà ý
tưởng của tôi sẽ đi tới với sự rõ ràng, là cái chân trời của tâm trí tôi. Từ
cái chân trời này, tôi tưởng tượng ra cái chân trời mà con mắt đánh dấu để định
vị.
Xúc giác không thể bắc cầu
khoảng cách – nó chỉ thích hợp cho sự tiếp xúc với những bề mặt – nhưng ý tưởng
nhảy qua cái vực sâu đó. Vì lý do này, tôi có thể sử dụng những từ mô tả những
vật xa khỏi những giác quan của tôi. Tôi đã cảm thấy sự tròn trịa trong hình
dáng mỏng manh của một hài nhi. Tôi có thể áp dụng cái tri giác này vào phong cảnh
và những ngọn đồi xa xa.
____
[37] Inward
visions.
[38] Elements.
[39] Vision.
[40] Nhà Thấu Thị
Vĩ Đại.
[41] Our vision.
[42] Đây là một nhận
xét rất sâu sắc. Do vậy, cần phân biệt số lượng và mức độ cảm thụ của những
kinh nghiệm sống của mình.
CHƯƠNG X
NHỮNG LOẠI SUY TRONG TRI
GIÁC GIÁC QUAN
Tôi chưa sờ
vào cái đường viền của một ngôi sao, hay cái vẻ huy hoàng của mặt trăng, nhưng
tôi tin rằng, Thượng Đế đã đặt hai nguồn sáng đó trong tâm trí, cái lớn hơn để
trị vì ban ngày, và cái nhỏ hơn, ban đêm, và nhờ chúng, tôi biết rằng, tôi có
thể lái con thuyền của đời tôi, chắc chắn sẽ tới bến đỗ, như kẻ lái thuyền theo
Sao Bắc Đẩu. Có lẽ mặt trời của tôi không chiếu sáng như mặt trời của bạn. Những
màu sắc vốn làm huy hoàng thế giới của tôi – màu thiên thanh của bầu trời, màu
xanh của những cánh đồng – có thể không tương ứng một cách chính xác với những
màu sắc mà bạn hân hoan tận hưởng; tuy vậy, chúng vẫn là màu sắc đối với
tôi. Mặt trời không chiếu sáng cho đôi mắt thể lý của tôi, tia chớp cũng
không, những cái cây trở nên xanh vào mùa xuân cũng không; nhưng không vì thế
mà chúng ngừng hiện hữu, cũng như cái phong cảnh không bị hủy diệt khi bạn quay
lưng khỏi nó.
Tôi hiểu, như thế nào mà
màu đỏ tươi có thể khác với màu đỏ thẫm, bởi vì tôi biết rằng, cái mùi của một
trái cam không phải là mùi của một trái bưởi. Tôi cũng có thể biết rằng những
màu có những sắc độ, và đoán đó là những sắc độ gì. Trong mùi và vị, có những
biến thể không đáng kể; do vậy, tôi gọi chúng là những sắc độ. Có khoảng 6 bông
hồng gần tôi. Tất cả chúng đều có mùi hương không thể nhầm lẫn của bông hồng;
thế nhưng, cái mũi của tôi bảo tôi rằng, chúng không giống hệt nhau. Hoa hồng gốc
Mỹ, thì khác với hoa hồng gốc Pháp. Những mùi của những loại cỏ nào đó, thực sự
phai đi đối với khứu giác của tôi, như màu sắc nào đó phai đi với thị giác của
bạn dưới mặt trời. Cái tươi mát của một bông hoa trong bàn tay tôi, thì tương tự
như cái sự tươi mát mà tôi nếm trong một trái táo mới hái. Tôi sử dụng những
cách loại suy như trên, để nới rộng những khái niệm của tôi về những màu. Vài
loại suy mà tôi rút ra giữa những tính chất trong bề mặt và sự rung động, vị,
và mùi, thì được rút ra bởi những người khác giữa thị giác, thính giác và xúc
giác. Sự kiện này động viên tôi kiên trì, cố bắc cầu cái khoảng cách giữa con mắt
và bàn tay.
Chắc chắn, sự loại suy
này đưa tôi đi khá xa, đủ để đồng cảm với sự hân hoan mà đồng loại của tôi cảm
thấy trong cái đẹp mà họ thấy, và cái sự hài hòa mà họ nghe. Mối quan hệ giữa
nhân loại và tôi thì đáng gìn giữ, cho dẫu cái ý tưởng mà trên đó tôi đặt nền tảng,
chứng tỏ là sai lầm.
Những rung động đẹp đẽ,
êm ái hiện hữu cho xúc giác của tôi, dẫu rằng, chúng du hành xuyên qua những chất
liệu khác hơn là không khí để đến tôi. Do vậy, tôi tưởng tượng ra những âm
thanh êm ái, thú vị, và sự sắp xếp có tính nghệ thuật của chúng, được gọi là âm
nhạc, và tôi nhớ rằng, chúng du hành xuyên qua không khí tới cái tai, chuyển tải
những ấn tượng phần nào giống những ấn tượng của tôi. Tôi cũng biết, chúng là
những giọng điệu gì, bởi vì, trong một giọng nói, chúng có thể được tri giác bằng
xúc giác. Có sự khác biệt rất lớn về sức nóng giữa mặt trời, lửa, những bàn
tay, và lông của thú vật; quả thực, đối với tôi, có một vật gọi là một “mặt trời
lạnh.” Do vậy, tôi nghĩ về những biến thể của ánh sáng mà chạm vào con mắt, lạnh
hay ấm, rõ ràng hay mờ nhạt, dịu nhẹ hay chói chang, nhưng luôn luôn là ánh
sáng, và tôi tưởng tượng sự di chuyển của chúng xuyên qua không khí, tới một
giác quan rộng lớn, thay vì tới một giác quan chật hẹp giống như xúc giác.
Từ kinh nghiệm mà tôi có
với những giọng nói, tôi đoán, như thế nào mà con mắt phân biệt những sắc độ giữa
ánh sáng. Trong khi tôi đọc môi của một phụ nữ có giọng soprano,
tôi nhận thấy một âm thanh thấp hay vui mừng giữa một giọng nói cao, tuôn chảy.
Khi tôi cảm thấy hai má nóng, tôi biết rằng tôi đỏ mặt. Tôi đã nói quá nhiều và
đọc quá nhiều về những màu, đến nỗi, một cách tự phát, tôi gán những ý nghĩa
cho chúng, hệt như mọi người gán những ý nghĩa nào đó cho những từ trừu tượng
như hy vọng, chủ nghĩa duy tâm, độc thần luận, trí năng, mà không thể được biểu
thị một cách thực sự bởi những vật hữu hình, nhưng được hiểu từ những loại suy
giữa những khái niệm phi vật thể và những ý tưởng mà chúng đánh thức về những sự
vật ngoại tại. Sức mạnh của liên tưởng thúc đẩy tôi nói rằng, màu trắng thì cao
quý và tinh khiết, màu xanh thì dồi dào, sum suê, màu đỏ gợi lên tình yêu hay sự
hổ thẹn hay sức mạnh. Không có màu sắc, hay cái tương đương của nó, thì
cuộc sống đối với tôi sẽ tối tăm, cằn cỗi, một bóng tối bao la. [44]
Như thế, thông qua một
quy luật nội tại của sự hoàn chỉnh, những ý tưởng của tôi không được phép không
có màu sắc. Nó thúc đẩy tâm trí tôi tách rời màu sắc và âm thanh ra khỏi những
sự vật. Từ khi được giáo dục, tôi luôn nhờ ai đó mô tả cho tôi những sự vật với
những màu sắc và âm thanh của chúng – một người có những giác quan sắc bén và một
cảm nhận về những cái quan trọng. Do vậy, tôi có thói quen nghĩ về những sự vật
như là có màu sắc và âm vang . Thói quen giải thích một phần. Cái “giác quan
linh hồn” [45] giải thích một phần khác. Bộ não với cấu trúc 5 giác quan của
nó, khẳng định quyền của nó và giải thích phần còn lại. Dung nhiếp tất cả, sự
nhất thể của thế giới đòi hỏi rằng, màu sắc phải được giữ lại trong nó, bất luận
tôi có ý thức về nó hay không.
Thay vì bị “cấm cửa,” tôi
tham gia vào nó bằng cách thảo luận nó, tưởng tượng nó, hạnh phúc trong sự hạnh
phúc của những ai gần tôi [mà] nhìn thấy những màu sắc đáng yêu của hoàng hôn
hay cầu vồng. Bàn tay tôi có phần chia của nó trong cái kiến thức phức hợp này,
nhưng, đừng bao giờ quên rằng, với những ngón tay, tôi chỉ thấy một mảng rất nhỏ
của một bề mặt, và rằng, tôi phải liên tục di chuyển bàn tay tôi qua nó, trước
khi cái xúc chạm của tôi nắm bắt cái toàn bộ; tuy nhiên, hãy nhớ rằng, trí tưởng
tượng của tôi không bị cột vào những điểm, những vị trí, và khoảng cách nhất định
nào đó. Nó ráp mọi phần lại với nhau một cách đồng thời, như thể nó
thấy hay biết thay vì cảm thấy chúng. Mặc dù mỗi lần tôi chỉ cảm thấy một phần
nhỏ về con ngựa của tôi – nó bực bội và không chịu để cho bàn tay tôi khám phá
– thế nhưng, bởi vì tôi đã nhiều lần sờ vào bắp chân sau, mõm, vó và bờm của
nó, tôi có thể thấy những con ngựa của thần Apollo phi nước đại qua bầu trời.
Với một sức mạnh năng động
như thế, thì ý tưởng của tôi không thể mơ hồ. Nó phải vững vàng, xác định. Đây
thực sự là một hệ quả tất yếu của chân lý triết học rằng, thế giới thực
chỉ hiện hữu cho tâm trí.
Có nghĩa là, tôi không
bao giờ có thể sờ vào thế giới trong cái toàn bộ của nó; quả thực, tôi sờ vào
nó ít hơn, so với cái phần mà những người khác thấy hay nghe. Nhưng mọi sinh vật,
mọi vật thể đi vào trong bộ não tôi một cách hoàn chỉnh, và ở đó, chúng chiếm
cùng một trương độ mà chúng chiếm trong không gian vật chất. […] Hãy đơn cử một
bông hồng ở quá xa, tôi không ngửi thấy nó. Ngay lập tức, một mùi hương len lén
đi vào mũi tôi, một hình thể ép vào lòng bàn tay tôi trong vẻ mềm mại của nó, với
những cánh hoa tròn trịa, những mép lá hơi quăn, thân lá cong, những chiếc lá rủ
xuống. Khi tôi muốn nhìn thế giới như một toàn thể, thì nó vụt hiện lên – con
người, dã thú, chim, loài bò sát, ruồi, bầu trời, đại dương, núi non, đồng bằng,
đá tảng, sỏi. Hơi ấm của sự sống, cái thực tại của sự sáng tạo ở khắp nơi – sự
phập phồng của bàn tay con người, vẻ bóng láng của lông thú, những khúc uốn lượn
uyển chuyển của những cơ thể dài, cái tiếng vo vo buồn buồn của côn trùng, cái
lởm chởm của những dốc cao khi tôi leo lên chúng, sự di chuyển và tiếng ầm ầm của
những con sóng lên những tảng đá.
Thật kỳ lạ, dù tôi cố mấy
đi chăng nữa, thì tôi cũng không thể buộc xúc giác của tôi tiếp xúc với cái vũ
trụ này trong mọi hướng. Cái khoảnh khắc mà tôi cố sức, cái toàn bộ biến đi, chỉ
còn lại những vật thể nhỏ bé, hay những mảng hẹp của một bề mặt, chỉ là những dấu
hiệu xúc giác, một sự hỗn độn của những sự vật tản mác một cách ngẫu nhiên.
Không có sự phấn chấn, không niềm hoan lạc nào được gợi lên. Hãy phục hồi cái cảm
thức nội tại, bao quát, có tính nghệ thuật, cái lãnh địa “hợp pháp” của nó, và
bạn sẽ cho tôi niềm vui vốn chứng minh [sự hiện hữu của] thực tại một cách tốt
nhất.
____
[44] Tuy không thấy
mầu sắc, nhưng tác giả đã dùng trí tưởng tượng và phương pháp loại suy, để tạo
ra mầu sắc cho mình.
[45] Soul sense:
“Giác quan linh hồn”. Ý muốn nói, linh hồn cũng là một loại “giác quan” đặc biệt,
khác với 5 giác quan của thể xác.
CHƯƠNG XI
TRƯỚC KHI LINH HỒN TỈNH DẬY
Trước
khi cô giáo tôi đến với tôi, tôi không biết rằng tôi hiện hữu. Tôi sống trong một
thế giới phi thế giới.[46] Tôi không thể hy vọng mô tả một cách đầy đủ cái
quãng đời hư vô đó – bất thức, nhưng không hoàn toàn bất thức. Tôi sống như cỏ
cây, không biết rằng tôi sống, hành động hay mơ ước. Tôi không có ý chí hay trí
năng. Tôi bị lôi cuốn tới những vật thể và những hành vi bởi một xung lực
tự nhiên, mù quáng. Tôi có một tâm trí mà khiến cho tôi cảm thấy giận
dữ, thỏa mãn, mơ ước. Hai sự kiện này khiến cho những người xung quanh tôi cho
rằng, tôi có ý muốn và có suy nghĩ. Tôi có thể nhớ mọi cái này, không phải bởi
vì tôi biết rằng nó là như vậy, mà bởi vì, tôi có ký ức về xúc giác.
Nó cho phép tôi có thể nhớ rằng, tôi không bao giờ nhăn trán trong tác động suy
nghĩ. Tôi không bao giờ “dự kiến” bất cứ cái gì hay chọn nó. Tôi cũng nhớ bằng
xúc giác sự kiện rằng, không bao giờ – trong một cái giật mình của cơ thể hay
trong một tiếng đập trái tim – tôi cảm thấy rằng tôi yêu mến hay quan tâm đến bất
cứ cái gì. Đời sống nội tâm của tôi, lúc ấy, là một sự trống rỗng không
có quá khứ, hiện tại, hay tương lai, không hy vọng hay sự chờ đợi, không có sự
ngạc nhiên, niềm vui hay đức tin.
Nó không phải là đêm – nó
không phải là ngày. Nhưng là khoảng không gian rỗng không, và sự cố định, không
một nơi chốn. Không có ngôi sao nào, không trái đất, không thời gian. Không biến
dịch, không thiện, không ác. Cái tồn tại đang ngủ của tôi không có khái niệm
nào về Thượng đế, tính bất tử, hay nỗi sợ về cái chết.
Tôi nhớ, cũng qua xúc
giác, mà tôi có một sức mạnh của sự liên tưởng. Nhờ xúc giác, tôi cảm được những
chấn động giống như cái giậm chân, sự mở hay đóng cửa sổ, tiếng đánh sầm của một
cái cửa lớn. Sau khi ngửi thấy mưa, một cách lặp đi lặp lại, và cái khó chịu của
sự ẩm ướt, tôi hành động giống như những người xung quanh mình : Tôi chạy lại
đóng cửa sổ. Nhưng đó không phải là “ý tưởng” trong bất cứ nghĩa nào. Nó thuộc
về loại liên tưởng mà khiến cho thú vật tìm nơi trú ẩn khi có
mưa. Từ cùng cái bản năng bắt chước những người khác, tôi gấp quần áo đưa về từ
tiệm giặt ủi, và cất áo quần của tôi, cho những con gà Tây ăn, may những con mắt
bằng hạt cườm lên mặt con búp bê của mình, và làm nhiều điều khác, mà về chúng
tôi có ký ức xúc giác. Tôi thích kem – nó để lại một cái vị ngon lành trên lưỡi
tôi [mà bây giờ tôi không bao giờ có] – và với bàn tay, tôi đã cảm nhận sự vận
hành của cái freezer. Khi tôi muốn bất cứ cái gì mà tôi thích, thì
tôi làm dấu hiệu, và mẹ tôi biết là tôi cần kem. Tôi “suy nghĩ” và mơ ước
bằng những ngón tay tôi. Nếu tôi đã tạo ra một con người, chắc chắn, tôi đã
đặt bộ não và linh hồn trong những đầu ngón tay của anh ta. Từ những hồi ức như
trên, tôi kết luận rằng, chính sự khai trương của hai quan năng – tự do của ý
chí, [hay sự chọn lựa], và lý tính, [hay sức mạnh của tư duy], từ cái này sang
cái kia – là cái đã cho ra đời, trước hết, một đứa trẻ, và sau này, một con người.
Bởi vì tôi không có sức mạnh
của tư tưởng, tôi không so sánh một trạng thái tinh thần này với một trạng thái
tinh thần khác. Do vậy, tôi không nhận biết bất cứ sự thay đổi hay quá trình
nào đang diễn ra trong bộ não mình khi cô giáo tôi bắt đầu giáo huấn tôi. Tôi
chỉ cảm thấy niềm vui thích sắc bén trong việc có được cái mà tôi muốn một cách
dễ dàng hơn, bằng cách di chuyển những ngón tay, mà cô đã dạy tôi. Tôi chỉ nghĩ
về những vật thể, chỉ những vật thể mà tôi muốn. Nó là sự vận hành của
cái freezer trên một phạm vi rộng lớn hơn. Khi tôi học
cái nghĩa của từ “tôi,” và thấy rằng, tôi là một cái gì đó, thì tôi bắt đầu suy
nghĩ. Rồi “ý thức” [47] lần đầu tiên hiện hữu đối với tôi. Như thế, không
phải xúc giác mang lại kiến thức cho tôi. Đó là sự tỉnh dậy của linh hồn tôi,
[48] mà lần đầu tiên trả lại cho những giác quan tôi cái giá trị của chúng, sự
nhận biết của chúng về những vật thể, những cái tên, những tính chất, và những
thuộc tính. Tư tưởng khiến cho tôi ý thức về tình yêu, niềm vui, và tất cả mọi
cảm xúc. Tôi háo hức muốn biết, rồi hiểu, rồi, về sau, suy tưởng trên những gì
mà tôi biết và hiểu, và cái xung lực mù quáng – mà trước kia đã đẩy tôi đi chỗ
này chỗ kia, theo mệnh lệnh của những giác quan tôi – biến đi mãi mãi.
Tôi không thể trình bày
rõ hơn bất cứ ai khác, những thay đổi dần dần và tinh tế, từ những ấn tượng đầu
tiên sang những ý tưởng trừu tượng. Nhưng tôi biết rằng, những ý tưởng vật lý,
nghĩa là, những ý tưởng phát sinh từ những vật thể vật chất, xuất hiện với tôi,
trước tiên như là một ý tưởng tương tự như những “ý tưởng” của xúc giác. Ngay lập
tức, chúng chuyển sang những ý nghĩa có tính trí thức. Về sau, cái ý nghĩa tìm
thấy dự diễn đạt trong cái được gọi là “tiếng nói nội tại.” [49] Khi còn là cô
bé, thì cái “ngôn ngữ nội tại” của tôi là “sự đánh vần nội tại.” [50] Mặc dù,
ngay cả bây giờ, tôi thường xuyên bắt gặp chính mình đánh vần thầm với mình
trên những ngón tay, thế nhưng, tôi cũng nói với chính mình bằng đôi môi tôi,
và đúng là, khi lần đầu tiên tôi bắt đầu học nói, thì tâm trí tôi vứt bỏ những
biểu tượng ngón tay và bắt đầu phát âm thành tiếng. Tuy nhiên, khi tôi cố nhớ lại
những cái mà người ta đã nói với tôi, thì tôi nhận biết một bàn tay đánh vần
vào bàn tay tôi.
Tôi thường được hỏi, đâu
là những ấn tượng sớm sủa nhất của tôi về cái thế giới mà trong đó tôi thấy
mình đang sống. Nhưng, kẻ nào nghĩ về những ấn tượng đầu tiên của mình, biết rằng
đây là một câu đố hóc búa. Những ấn tượng của chúng ta phát triển và thay đổi một
cách không ai hay biết; do vậy, cái mà chúng ta cho rằng chúng ta đã nghĩ khi
còn bé, có thể hoàn toàn khác với cái mà chúng ta thực sự trải nghiệm trong thời
thơ ấu của mình. Tôi chỉ biết rằng, sau khi việc giáo dục của tôi bắt đầu, cái
thế giới mà đến trong tầm với của tôi, thì hoàn toàn sống động. Tôi
đánh vần [bằng ngón tay, để nói chuyện] với những đồ vật và những
con chó của mình. Tôi đồng cảm với thảo mộc khi những bông hoa bị hái, bởi vì
tôi nghĩ, chúng bị đau đớn, và rằng, chúng khóc thương cho những bông hoa bị mất
đi của chúng.[51] Và, phải mất hai năm, tôi mới hiểu rằng, những con chó của
tôi không hiểu những điều tôi nói, và tôi luôn luôn xin lỗi chúng khi
tôi va vào hay giẫm lên chúng.
Khi kinh nghiệm của tôi rộng
thêm và sâu thêm, thì những tình cảm bất định, thi vị của tuổi thơ bắt đầu tự
trở thành những ý tưởng xác định.
Thiên nhiên – thế giới mà
tôi có thể sờ vào – thì được ôm choàng và đổ đầy với chính tôi. Một số triết
gia tuyên bố rằng, chúng ta không biết gì ngoài những tình cảm và ý tưởng
của chính mình. Tôi tin lời tuyên bố đó. Với một chút lý luận thông minh,
người ta chỉ có thể thấy trong thế giới vật chất một tấm gương, một hình ảnh của
những cảm giác thường tồn. Trong cả hai lãnh vực, sự tự tri là điều kiện và sự
giới hạn của ý thức chúng ta. Có lẽ, đó là lý do tại sao nhiều người biết quá
ít những gì vượt quá cái phạm vi chật hẹp của kinh nghiệm của họ. Họ nhìn vào
bên trong – và không thấy gì! Do vậy, họ kết luận rằng, cũng không có gì bên
ngoài chính họ.
Mặc dù vậy, về sau, tôi
tìm kiếm một hình ảnh của những cảm xúc và những cảm giác của mình trong những
người khác. Tôi phải học những dấu hiệu bên ngoài về những tình cảm bên trong.
Cái giật mình của sợ hãi, cái căng thẳng hoặc sự đau đớn bị đè nén, tiếng đập của
những bắp thịt hạnh phúc trong những người khác, phải được tri giác và so sánh
với những kinh nghiệm của tôi trước khi tôi có thể truy nguyên chúng về cái
linh hồn không sờ mó được của một người khác. Quờ quạng một cách bấp
bênh, sau cùng, tôi tìm thấy “ngã tính” [53] của mình, và sau
khi “thấy” những ý tưởng và tình cảm của tôi được lặp lại trong những người
khác, thì tôi dần dần xây dựng thế giới của tôi và của Thượng Đế. Khi tôi đọc
và học hỏi, tôi phát hiện rằng, đây là những gì mà phần còn lại của giống loài
đã làm. Con người nhìn vào bên trong chính mình, và một lúc nào đó, tìm
thấy cái kích thước và cái ý nghĩa của vũ trụ.
____
[46] A world
that was no-world.
[47] Consciousness.
[48] Đây là một
phát hiện rất quan trọng đối với tác giả.
[49] Inner speech.
[50] Inner
spelling.
[51] Sơ nguyên,
tinh khôi và thuần khiết biết bao ! Có thể nói, cô bé Helen là một biểu tượng của
con người sơ nguyên, chưa bị nhiễm độc bởi xã hội và văn minh. Do vậy, mà cô có
thể đồng cảm được với cái vũ trụ rộng lớn bao quanh mình.
[52] Permanent
sensations.
[53] My identity
CHƯƠNG XII
MẮT MÙ NHƯNG TÂM KHÔNG
MÙ [54]
Do
vậy, giữa cuộc sống – cuộc sống sôi nổi, cấp bách – đứa trẻ điếc-mù bị xiềng
vào cái tảng đá trần trụi của hoàn cảnh, như con nhện gửi những sợi tơ nhện của
tư tưởng vào trong cái hư không vô lượng vốn bao quanh nó. Một cách kiên nhẫn,
nó khám phá bóng tối, cho đến khi nó xây dựng một kiến thức về cái thế giới mà
trong đó nó sống, và linh hồn nó gặp cái đẹp của thế giới, nơi mà mặt trời luôn
chiếu sáng, và chim chóc hát ca. Đối với đứa trẻ mù, bóng tối thì nhân ái.
Trong đó, nó không thấy cái gì phi thường hay kinh khủng. Đó là thế giới quen
thuộc của nó; ngay cả sự quờ quạng từ nơi này sang nơi nọ, những bước đi ngập
ngừng, sự lệ thuộc vào những người khác, dường như không kỳ lạ với nó. Nó không
biết là cái bóng tối đã giam nhốt nó, cướp đi của nó bao nhiêu lạc thú. Cho
mãi đến khi nó cân cuộc đời mình trên cái cân [kinh nghiệm] của những người
khác, thì nó mới nhận thức được thế nào là sống vĩnh viễn trong bóng tối.
Nhưng cái kiến thức dạy cho nó cái sự cay đắng này, cũng mang đến niềm an ủi của
nó – ánh sáng tâm linh, sự hứa hẹn của cái ngày mà sẽ đến.
Đứa bé điếc-mù, đã thừa
hưởng cái tâm trí của tổ tiên nó – những người sáng mắt và sáng tai – một tâm
trí tương ứng với 5 giác quan. Do vậy, nó phải bị ảnh hưởng, dù nó không hay biết,
bởi ánh sáng, màu sắc, bài ca vốn đã được trao truyền qua ngôn ngữ mà nó được dạy,
bởi vì tâm trí sẵn sàng để tiếp nhận cái ngôn ngữ đó. Bộ não của loài người thì
thấm nhuần với màu sắc, đến nỗi, nó “nhuộm” ngay cả tiếng nói của người mù. Mọi
vật thể mà tôi nghĩ về, đều có dấu vết của màu sắc vốn thuộc về chúng bằng liên
tưởng và trí nhớ. Kinh nghiệm của người điếc-mù, trong một thế giới của
những người sáng mắt và sáng tai, thì giống như thế giới của một thủy thủ trên
một hòn đảo, nơi mà những cư dân nói một ngôn ngữ xa lạ với anh ta, và đời
họ cũng không giống cuộc đời mà anh ta đã sống. Anh ta là một, họ thì nhiều;
không có cơ hội nào để thỏa hiệp. Anh ta phải học để nhìn với đôi mắt họ, nghe
với đôi tai họ, suy nghĩ những ý tưởng của họ, và theo đuổi những lý tưởng của
họ.
Nếu cái thế giới tối tăm,
câm lặng vốn bao quanh anh ta là hoàn toàn khác với cái thế giới đầy ánh nắng,
đầy âm thanh, thì đồng loại của anh ta không thể hiểu nó, và hai thế giới sẽ
không bao giờ thảo luận được với nhau. Nếu những cảm nhận và cảm giác của anh
ta là khác biệt một cách nền tảng với những tình cảm và cảm giác của những người
khác, thì chúng sẽ không thể nào quan niệm được, trừ ra với những người có những
cảm giác và tình cảm tương tự.
Nếu cái ý thức của người
mù-điếc là tuyệt đối khác biệt với cái ý thức của đồng loại, thì anh ta không
có phương tiện nào để tưởng tượng cái mà họ suy nghĩ. Bởi vì tâm trí của người
mù là cơ bản giống như tâm trí của người sáng mắt, ở chỗ nó không thừa nhận sự
thiếu hụt nào, nó phải cung cấp một loại tương đương nào đó cho cái cảm giác thể
lý bị thiếu mất. Nó phải tri giác một sự tương tự giữa những vật bên ngoài và
những vật bên trong, một sự tương ứng giữa cái thấy được và cái vô hình. Tôi sử
dụng sự tương ứng như thế trong nhiều quan hệ, và bất luận tôi theo đuổi sự
tương tự đó bao xa đối với những sự vật mà tôi không thể thấy, thì nó vẫn phần
nào “bù đắp” cho những giác quan bị thiếu của tôi.
Như là một “giả thiết tạm
thời,” thì sự tương ứng là thỏa đáng trong toàn bộ sự sống, xuyên qua toàn bộ
phạm vi của những hiện tượng. Tia chớp của tư tưởng và sự mau lẹ của nó giải
thích tia chớp và sự quét của một sao chỗi xuyên qua bầu trời. Bầu trời tinh thần
của tôi mở ra cho tôi những khoảng không gian bao la, và tôi khởi sự đổ đầy
chúng với những hình ảnh của những ngôi sao tâm linh của mình. Tôi nhận ra chân
lý bằng sự rõ ràng và sự hướng dẫn mà nó ban cho tư tưởng của tôi, và, biết sự
rõ ràng ấy là gì, tôi có thể tưởng tượng thế nào là ánh sáng đối với
con mắt. Nó không phải là một quy ước của ngôn ngữ, mà là một cảm nhận sinh
động về thực tại, mà nhiều lúc khiến tôi giật mình khi tôi nói: “Ồ, tôi thấy sự
sai lầm của tôi!” Hay, : “Đời anh ta mới tối tăm, buồn bã làm sao!” Tôi biết
đây là những ẩn dụ. Tuy nhiên, tôi phải dùng chúng để chứng minh, bởi vì không
có gì trong ngôn ngữ của chúng ta để thay thế chúng. Cái tương ứng với những ẩn
dụ của người mù-điếc, nó không hiện hữu và không cần thiết. Bởi vì tôi có thể
hiểu từ “phản ánh” theo nghĩa bóng, nên một cái gương chưa bao giờ khiến cho
tôi bối rối. Cái thể cách mà trong đó trí tưởng tượng của tôi tri giác những sự
vật vắng mặt, cho phép tôi “thấy,” như thế nào mà những tấm gương có thể phóng
đại sự vật, đưa chúng đến gần hơn, hay đẩy chúng đi xa hơn.
Nếu bạn từ chối sự “tương
ứng” này của tôi, cái giác quan nội tại này; nếu bạn nhốt tôi vào cái thế giới
bị phân mảnh, rời rạc này của xúc giác, thì hãy nhìn xem, tôi sẽ giống như một
con dơi lang thang đó đây trên đôi cánh.
Giả thử rằng, tôi bị thiếu
mất tất cả những từ chỉ thị giác, thính giác, màu sắc, ánh sáng, phong cảnh,
ngàn hiện tượng, dụng cụ, và những cái đẹp nối kết với chúng. Tôi sẽ nhận chịu
một giảm sút lớn về cái kinh ngạc và thú vị trong việc thu thập kiến thức; thêm
nữa – mất mát khủng khiếp hơn – những cảm xúc của tôi sẽ bị cùn nhụt, đến nỗi,
tôi không thể xúc chạm những sự vật vô hình.
Có cái gì nổi lên để bác
bỏ sự thỏa đáng của sự tương ứng? Phải chăng một khoang nào đó của bộ não của
người mù được mở ra và được phát hiện là trống rỗng? Đã có nhà tâm lý học nào
khám phá tâm trí của người mù, và có thể nói rằng: “Không có cảm giác nào ở
đây” ?
Tôi giẫm lên mặt đất vững
chắc; tôi thở làn không khí thơm tho. Từ hai kinh nghiệm này, tôi hình thành vô
số liên tưởng và sự tương ứng. Tôi quan sát, tôi cảm nhận, tôi suy nghĩ, tôi tưởng
tượng. Tôi liên kết vô số ấn tượng, kinh nghiệm, khái niệm đa dạng. Từ những chất
liệu này, Trí Tưởng Tượng, người thợ khôn lanh của bộ não, gắn kết một hình ảnh,
mà kẻ hoài nghi sẽ phủ nhận, bởi vì tôi không thể thấy với đôi mắt thể lý của
tôi cái khuôn mặt khả biến, đáng yêu của “đứa con tư tưởng” của mình. Anh ta sẽ
đánh vỡ tấm gương của tâm trí. “Kẻ phá hoại linh hồn” này sẽ hạ thấp linh hồn
tôi và ép buộc tôi phải ngã quỵ trước những sự vật vật chất. Trong khi tôi “gặm
cái hàm thiếc của hoàn cảnh,” anh ta quất roi và thúc tôi đi với cái đinh thúc
[55] của sự kiện. Nếu tôi nghe lời anh ta, thì trái đất, với khuôn mặt dịu
dàng, sẽ biến thành hư vô, và tôi sẽ nắm trong tay tôi không gì ngoài một mảng
vật chất chết, vô mục đích, không linh hồn. Nhưng mặc dù cái cơ thể vật lý bị
xiềng vào tảng đá của Prometheus [56], thì cái linh hồn kiêu hãnh của tôi vẫn sẽ
theo đuổi những xa lộ sáng láng, thênh thang của vũ trụ.
Sự mù không làm hạn chế
chút nào “cái tầm nhìn tâm linh.” [57] Chân
trời tri thức của tôi thì rộng một cách vô hạn. Cái vũ trụ mà nó bay vòng quanh
là vô lượng.
Phải chăng, người ta bắt
tôi phải tự giới hạn mình trong những giác quan ít ỏi của tôi? …Phải chăng, nên
dựng Darwin dậy từ nấm mồ và ra lệnh cho ông ta xóa bỏ cái thời gian địa chất học
của mình, trả lại cho chúng ta cái lịch sử nhỏ nhoi của vài ngàn năm? Ôi, những
kẻ hoài nghi ngạo mạn! Họ luôn mãi cố sức xén đi đôi cánh bay lên, táo bạo của
linh hồn.
Một người bị tước mất một
hay nhiều giác quan, không bị đuổi – như nhiều người nghĩ – vào trong một hoang
địa không lối, không có cột mốc địa giới hay người hướng đạo. Người mù mang
theo với anh ta vào trong cái môi trường tối tăm của mình mọi quan năng cần thiết
cho sự hiểu biết cái thế giới hữu hình, mà cánh cửa của nó bị đóng lại đằng sau
anh ta. Anh ta thấy môi trường xung quanh, ở mọi nơi, là đồng thể [58] với những
môi trường của thế giới có mặt trời; bởi vì có một đại dương vô hạn của sự giống
nhau giữa thế giới bên trong và thế giới bên ngoai, và nhờ những cái giống nhau
này, những tương ứng này, mà anh ta thấy mình đủ sức đương đầu với mọi yêu sách
mà đời anh ta gặp phải.
Sự cần thiết của vài điều
như sự tương ứng hay “sự tượng trưng” [59] hiện ra ngày càng khẩn cấp, khi
chúng ta xem xét những bổn phận mà tôn giáo và triết học ra lệnh cho chúng ta.
Người mù được khuyên là
nên đọc Thánh Kinh như là phương tiện để đạt tới hạnh phúc tâm linh. Xuyên suốt
Thánh Kinh, tràn đầy những lời nhắc đến những đám mây, những ngôi sao, những
màu sắc và cái đẹp, và thường khi, sự đề cập đến những cái này thì cốt yếu cho
ý nghĩa của câu chuyện ngụ ngôn hay của cái thông điệp mà trong đó chúng xuất
hiện. Ở đây người ta phải thấy sự thiếu nhất quán của những người tin vào Thánh
Kinh, và thế nhưng, lại phủ nhận, không cho chúng tôi cái quyền được nói về cái
mà chúng tôi không thấy, và, do vậy, cái mà họ cũng không thấy,
nữa. Ai sẽ cấm trái tim tôi hát: “Vâng, Ngài thực sự bay trên đôi cánh của gió.
Ngài khiến cho bóng tối trở thành cái nơi chốn bí mật của mình; căn lều tạm
[60] của Ngài xung quanh Ngài là những đại dương thâm u và những đám mây dày của
bầu trời” ?
Triết học liên tục chỉ ra
sự không đáng tin cậy của 5 giác quan và công việc quan trọng của lý tính, vốn
sửa chữa những sai lầm của thị giác và phát lộ những ảo tưởng của nó. Nếu chúng
ta không thể nương dựa vào 5 giác quan, thì làm thế nào chúng ta có thể nương dựa
trên chỉ 3 giác quan! Chúng ta có cơ sở nào để vứt bỏ ánh sáng, âm thanh, và
màu sắc như là một phần không thể thiếu của thế giới? Làm thế nào chúng ta biết
rằng, chúng đã thôi hiện hữu đối với chúng ta? Chúng ta phải mặc nhiên chấp nhận
thực tại của chúng, cũng như vị triết gia phải “giả định” thực tại của thế giới
mà không thể thấy nó – một cách thể lý – như một toàn bộ.
Triết học cổ đại cung cấp
một luận cứ mà hình như vẫn còn nguyên giá trị. Trong người mù, cũng như trong
người sáng mắt, có một Tuyệt Đối Thể, vốn ban chân lý cho cái mà chúng ta biết
là thực, đem trật tự đến cho những gì có trật tự, cái đẹp cho những sự vật đẹp,
tính sờ mó được cho những cái sờ mó được. Nếu chấp nhận điều này, thì hệ luận
là, cái Tuyệt Đối Thể này không phải là không hoàn hảo, không hoàn chỉnh, từng
phần, phiến diện. Nó phải đi vượt quá cái bằng chứng hạn chế của những giác
quan ta, và có thể đem ánh sáng đến cho cái vô hình, âm nhạc cho cái có âm nhạc
mà sự im lặng làm cho cùn nhụt. Như thế, chính tâm trí thúc bách chúng ta công
nhận rằng, chúng ta ở trong một thế giới của trật tự trí năng, cái đẹp, và sự
hài hòa. Những “yếu tính,” [61] hay những cái tuyệt đối của những ý tưởng này,
nhất thiết xua tan những cái đối nghịch của chúng, vốn thuộc về cái ác, sự hỗn
độn và sự bất hòa điệu. Như thế, sự điếc và mù không hiện hữu trong tâm trí phi
vật chất, mà, về mặt triết học, là thế giới thực, nhưng [sự điếc và mù] bị trục
xuất khỏi những giác quan vật chất, khả diệt. Thực tại, mà những sự vật hữu
hình là những biểu tượng của nó, chiếu sáng trước tâm trí tôi. Trong khi tôi bước
đi xung quanh “căn phòng” của mình với những bước chân lảo đảo, thì linh hồn
tôi vươn lên về phía bầu trời trên đôi cánh phượng hoàng và nhìn ra, với “cái
nhìn không thể dập tắt,” lên thế giới của cái đẹp vĩnh cửu. [62]
____
[54] Chỗ này, chúng
tôi chỉ dịch thoát ý.
[55] The spur of
fact.
[56] Prometheus:
[thần thoại Hy Lạp] Một người khổng lồ, vì trộm lửa trên đỉnh Olympus, mang đến
cho con người, nên bị trừng phạt, bị xiềng vào một tảng đá cho đại bàng moi
gan. Về sau, Prometheus được Hercules giải thoát.
[57] Mental vision.
[58] Homogeneous.
[59] Symbolism.
[60] Pavilion.
[61] Essences.
[62] Ở đây, tác giả
lại khẳng định niềm xác tín của mình: những giác quan [thể lý] chỉ cho ta cái
nhìn hạn hẹp, đôi khi sai lầm, về thế giới. Chỉ có linh hồn mới có thể cho ta một
cái nhìn xác thực, về cả cõi hữu hình lẫn cõi vô hình.
CHƯƠNG XIII
THẾ GIỚI CỦA GIẤC MƠ
Mọi
người xem trọng những giấc mơ của chính mình, nhưng ngáp dài ở bàn điểm tâm khi
một ai đó khác bắt đầu kể những cuộc phiêu lưu của đêm hôm trước. Do vậy, tôi
lưỡng lự khi kể về những giấc mơ của tôi; bởi vì, sẽ là một tội lỗi văn học,
khi làm chán tai bạn đọc, một tội lỗi về khoa học, khi tường thuật về một đất
nước xa xôi, mà chỉ quan tâm đến những sự kiện quan trọng hơn là sự thật hoàn
chỉnh và chính xác. Những nhà tâm lý học đã “huấn luyện” một mớ học thuyết và sự
kiện mà họ xích lại, giống như những con chó dữ, và thả chúng ra bất cứ khi nào
chúng ta rời bỏ lối đi thẳng và hẹp của những lý thuyết đó. Người ta thậm chí
không thể kể lại một giấc mơ thú vị mà không bị nghi là đã tùy tiện “biên tập”
nó – như thể sự biên tập là một trong 7 trọng tội, thay vì là một công việc hữu
ích và đáng kính!
Tôi có thói quen tự hỏi,
tại sao những nhà khoa học và những người khác luôn hỏi tôi, về những giấc mơ của
tôi. Nhưng bây giờ tôi không ngạc nhiên, bởi vì tôi đã phát hiện những cái mà một
số người trong số họ xem là kinh nghiệm bình thường khi đang thức, của một người
vừa điếc vừa mù. Họ nghĩ rằng, tôi có thể biết rất ít về những vật thể thậm chí
vượt quá tầm với của vòng tay tôi vài mét. Mọi sự bên ngoài chính tôi, theo họ,
là một quang cảnh lờ mờ. Cây cối, núi non, những thành phố, đại dương, ngay cả
ngôi nhà nơi tôi sống, chỉ là những hư cấu như trong truyện cổ tích, những phi
thực tại mơ hồ [63]. Do vậy, người ta giả định rằng, những giấc mơ của tôi sẽ
có sự hấp dẫn đặc biệt đối với nhà khoa học. Trong cách thức mơ hồ nào đó, người
ta mong đợi rằng, chúng sẽ tiết lộ cái thế giới mà tôi đang cư ngụ, là tẻ nhạt,
không hình thù, không màu sắc, không viễn ảnh, với ít độ dày và ít độ cứng chắc
hơn – sự cô độc bao la của không gian vô thanh. Nhưng ai có thể diễn thành lời
cái khoảng trống vô giới hạn, im lặng, mù mịt? Người ta phải là một linh hồn
lìa khỏi xác, để tạo ra một cái gì đó từ những kinh nghiệm vô căn cứ như thế.
Do vậy, tôi thiết nghĩ, một thế giới, hay một giấc mơ, để hiểu được với chúng
ta, phải có một đường chỉ dọc [64] của chất liệu dệt vào trong đường chỉ ngang
[65] của trí tưởng tượng. Chúng ta không thể tưởng tượng, ngay cả trong những
giấc mơ, một vật thể mà không có “nguyên mẫu” [counterpart] nào trong thực
tại. Những con ma luôn luôn giống một ai đó, và nếu chính chúng không xuất hiện,
thì sự hiện diện của chúng được chỉ định bởi những hoàn cảnh mà chúng hoàn toàn
quen thuộc với.
Trong giấc ngủ, chúng ta
bước vào một miền xa lạ, bí mật, mà từ trước tới nay, khoa học chưa khám phá. Kẻ
điều tra không thể vượt quá đường ranh giới của giấc ngủ, với qui tắc và sự trắc
nghiệm thường nghiệm của mình. Giấc ngủ, với sự xúc chạm nhẹ nhàng nhất của nó,
đóng mọi cánh cửa của những giác quan thể lý của ta và và khiến cho ý chí hữu
thức của ta – người kiểm soát những ý tưởng trong khi thức của chúng ta – ngủ
yên. Rồi linh hồn vùng vẫy thoát ra khỏi những cánh tay gân guốc của lý trí và
giống như một con chim đẩy lùi mặt đất xanh vững chắc và lao vụt đi trên gió và
mây, không để lại dấu vết hay dấu chân mà qua đó, khoa học có thể truy tầm đường
bay của nó và mang đến cho chúng ta kiến thức về cái vùng đất xa xôi, thâm u mà
chúng ta viếng thăm hằng đêm.
Khi chúng ta trở lại từ
vùng đất của giấc mơ, chúng ta không thể đưa ra bản tường trình hợp lý về những
gì mà chúng ta gặp ở đó. Nhưng một khi đã băng qua biên giới, chúng ta cảm thấy
như ở nhà mình, như thể chúng ta vẫn luôn luôn sống ở đó và chưa bao giờ làm cuộc
du ngoạn nào vào trong cái cái thế giới hợp lý của ánh sáng ban ngày.
Những giấc mơ của tôi có
vẻ như không khác lắm, so với những giấc mơ của những người khác. Một vài trong
số chúng thì mạch lạc, ăn khớp với một biến cố hay một kết luận nào đó. Những
giấc mơ khác, thì rời rạc, vô lý và quái dị. Tất cả đều chứng thực rằng, trong
Cõi Mơ, không có cái gì như là sự nghỉ ngơi. Chúng ta luôn “tỉnh /thức” và đang
làm một cái gì đó, với một tâm trí cho một cuộc phiêu lưu nào đó. Chúng ta hành
động, phấn đấu, suy nghĩ, đau khổ, và vui mừng mà không có mục đích nào cả.
Chúng ta để lại bên ngoài những cánh cửa của Giấc Ngủ mọi hồ nghi phiền toái và
những suy nghĩ buồn phiền về điều có thể xảy ra.
Tôi trôi bồng bềnh như hồn
ma trên những đám mây, không hề có khái niệm rằng, tôi đang làm một cái gì đó
khác thường. Trong Cõi Mơ, tôi phát hiện rằng, rất ít cái hoàn toàn xa lạ và mới
lạ đối với kinh nghiệm của tôi. Bất luận cái gì xảy ra, tôi không ngạc nhiên, bất
luận những hoàn cảnh có phi thường đến đâu. Tôi viếng thăm một vùng đất lạ, nơi
mà tôi chưa từng đến trong thực tại, và tôi nói chuyện với những con người mà
ngôn ngữ của họ tôi chưa từng nghe.
Thế nhưng, chúng tôi
thành công trong việc hiểu nhau một cách hoàn toàn. Bất luận tình huống hoặc
môi trường nào mà những chuyến lang thang của tôi mang tôi đến, có một sự đồng-thể
tương tự. Nếu tôi tình cờ có mặt tại Vagabondia, thì tôi vui đùa với những người
vui vẻ trên đường hay trong quán rượu.
Tôi không nhớ đã bao giờ
gặp những người mà tôi không thể truyền thông một cách tức thì, hay bị sốc, hay
ngạc nhiên trước những việc làm của những người bạn trong mơ của mình. Trong những
chuyến lang thang kỳ lạ trong những khu rừng âm u của Giấc Ngủ, linh hồn tôi
xem mọi sự là mặc nhiên và tự thích nghi với những ảo ảnh kỳ dị nhất. Tôi hiếm
khi bị bối rối. Mọi sự thì rõ ràng như ban ngày. Tôi biết những biến cố trong
cái khoảnh khắc mà chúng diễn ra, và bất cứ khi nào tôi xoay hướng những bước
chân tôi, thì Tâm Trí là kẻ hướng đạo và kẻ thuyết minh trung thành của tôi.
Tôi cho rằng, trong một
giấc mơ, mọi người đều có cái kinh nghiệm vô ích của việc tìm kiếm một cái gì
mà anh ta mơ ước một cách khẩn thiết vào lúc đó, và cái cảm giác chán nản theo
sau mỗi thất bại trong việc truy tìm sự vật đến tận cái chỗ trú ẩn của nó. Đôi
khi, với một sự choáng váng trong đầu, tôi leo và leo mãi, mà không biết leo đi
đâu, và tại sao. Thế nhưng, tôi không thể từ bỏ cái nỗ lực hăng say và đau đớn,
mặc dù, một cách lặp đi lặp lại, tôi vươn tay ra một cách mù quáng, tìm một vật
nào đó để níu vào. Dĩ nhiên, với “sự gian ác” của những giấc mơ, không có vật
nào ở gần. Tôi bám vào không khí trống rỗng, và rồi ngã xuống, cứ xuống mãi, và
giữa cơn ngã, tôi tan biến vào trong bầu không khí mà trên đó tôi đã và đang
trôi bồng bềnh một cách quá bấp bênh.
Dường như một vài trong số
những giấc mơ của tôi, phải được truy nguyên giấc mơ này bên trong giấc mơ kia,
giống như một loạt những vòng tròn đồng tâm. Có lần, trong giấc ngủ, tôi nghĩ rằng
tôi không thể ngủ. Tôi trằn trọc trong tấm lưới của những nhiệm vụ không hoàn
thành. Tôi quyết định dậy và đọc một lát. Tôi biết cái kệ trong thư viện của
tôi, nơi mà tôi giữ cuốn sách mà tôi cần. Cuốn sách không có tên, nhưng tôi tìm
thấy nó không chút khó khăn. Tôi ngồi thoải mái vào ghế dựa, cuốn sách mở trên
đầu gối tôi. Tôi không thể nhận ra một từ nào, những trang đều hoàn toàn trắng.
Tôi không ngạc nhiên, nhưng rất thất vọng.Tôi sờ bằng ngón tay vào những trang
giấy, tôi âu yếm cúi xuống chúng, những giọt lệ chảy xuống hai bàn tay tôi. Tôi
gấp cuốn sách một cách nhanh chóng khi ý tưởng lướt qua tâm trí tôi: “Những chữ
in sẽ bị xóa đi nếu sách bị ướt.” Thế nhưng, không có dòng chữ in nào có thể sờ
mó được trên trang giấy!
Sáng nay, tôi nghĩ rằng
tôi tỉnh dậy. Tôi chắc chắn rằng, tôi đã ngủ quên. Tôi chộp lấy cái đồng hồ đeo
tay của mình, và đúng là, nó cho thấy tôi đã dậy trễ một tiếng so với thường lệ.
Tôi vội vàng nhảy ra khỏi giường, biết rằng bữa ăn sáng đã sẵn sàng. Tôi gọi mẹ
tôi, bà tuyên bố rằng, cái đồng hồ đeo tay của tôi hẳn là sai. Tôi lại nhìn đồng
hồ, và, hãy nhìn xem, những chiếc kim lắc lư, xoay tròn, kêu vo vo và biến mất.
Càng khiếp đảm, tôi càng tỉnh ra, cho đến khi tỉnh hẳn. Sau cùng, đôi mắt tôi mở
ra thực sự, và tôi biết rằng, tôi đã nằm mơ. Tôi chỉ tỉnh dậy để lại rơi vào
trong giấc ngủ. Cái gây hoang mang hơn, là không có khác biệt nào giữa ý thức về
“sự tỉnh giả tạo” và cái ý thức về sự “tỉnh thực.”
Thật đáng sợ khi nghĩ rằng,
tất cả những gì mà chúng ta đã thấy, cảm nhận, đọc, và làm, có thể bỗng nổi lên
trong giấc mơ của chúng ta, như biển cả ném lên mặt nước những vật thể mà nó đã
nuốt vào. Tôi đã ôm một đứa trẻ nhỏ trong vòng tay giữa một vụ bạo động và khẩn
cầu, van xin những binh sĩ Nga đừng tàn sát những người Do Thái. Tôi đã sống lại
những cảnh đau đớn của Cuộc Nổi Dậy Sepoy và cuộc Cách Mạng Pháp. Những thành
phố đã bốc cháy trước đôi mắt tôi, và tôi đã tìm cách dập tắt những ngọn lửa
cho đến khi tôi cảm thấy mệt lả. Những cuộc tàn sát khủng khiếp đã vồ chụp thế
giới, và tôi vùng vẫy luống công để cứu những người bạn của tôi. Một lần, trong
một giấc mơ, một thông điệp đến, băng qua lục địa và đại dương, rằng mùa đông
đang phủ xuống trên thế giới từ Bắc Cực, rằng vùng Bắc Cực đang chuyển sang khí
hậu ôn đới của chúng ta. Cái thông điệp bay xa và rộng. Đại dương bị đóng băng
vào giữa mùa hè. Hàng nghìn những con thuyền bị kẹt trong băng, những con thuyền
với những cánh buồm rộng, trắng bị kẹt lại. Của cải của phương Đông và những
thu hoạch phong phú của phương Tây có thể không còn lưu thông giữa dân tộc này
và dân tộc khác. Trong một thời gian, cây cối và hoa vẫn tiếp tục phát triển, mặc
dù cái lạnh cắt da. Những con chim bay vào trong những ngôi nhà để được an
toàn, và những con chim bị mùa đông “đuổi kịp”, nằm trên tuyết, với những đôi
cánh trải ra, nhưng không thể nào bay được. Sau cùng, vòm lá và hoa ngã xuống
dưới chân Mùa Đông. Những cánh hoa bị biến thành những viên hồng ngọc và lam ngọc.
Những chiếc lá đông cứng thành những viên ngọc bích. Những cái cây rên rỉ và lắc
lư khi băng giá xuyên thấu chúng qua vỏ và nhựa, vào tận trong chính những cái
rễ của chúng. Tôi rùng mình tỉnh dậy, và với một niềm vui pha lẫn lo sợ, tôi thở
vào nhiều mùi hương dịu dàng của buổi sáng, được đánh thức bởi mặt trời mùa hạ.
Người ta không cần phải
thăm một khu rừng châu Phi và khu rừng Ấn Độ để săn cọp. Người ta có thể nằm
trên giường giữa những cái gối êm ái và mơ thấy những con cọp kinh khủng như bất
cứ con cọp nào trong vùng hoang dã, không có lối mòn. Khi còn là một cô bé, một
đêm tôi nằm mơ, rằng tôi cố băng qua khu vườn phía trước nhà bà cô tôi tại
Alabama. Tôi đang đuổi theo một con mèo lớn, với một cái đuôi lớn, rậm rạp. Một
vài giờ trước đó, nó đã vồ con chim hoàng yến bé nhỏ của tôi ra khỏi cái lồng,
và nhai rau ráu giữa những cái răng tàn nhẫn của nó. Tôi không thể thấy con
mèo. Nhưng cái ý tưởng trong tâm trí tôi thì rõ ràng: “Nó đang đi về phía vạt cỏ
rậm ở cuối khu vườn. Mình sẽ đến đó trước tiên.” Tôi chạy nhanh dọc theo lối
đi. Khi tôi đến chỗ cỏ rậm, có con mèo đang trườn vào đó. Tôi lao nhanh về đằng
trước và cố chộp lấy nó và giật con chim ra khỏi những cái răng của nó. Trước sự
kinh hãi của tôi, một con dã thú khổng lồ, không phải là con mèo, nhảy lên từ cỏ,
và cái bả vai gân guốc của nó chà xát vào tôi với sức mạnh khủng khiếp. Đôi tai
của nó dựng đứng lên và ve vẫy với sự giận dữ. Đôi mắt nó long lên sòng sọc.
Hai lỗ mũi của nó rộng và ướt. Đôi môi nó chuyển động một cách đáng sợ. Tôi biết
rằng, đó là một con cọp, một con cọp thật, đang sống, và rằng, tôi sẽ bị nó vồ
– con chim nhỏ của tôi và tôi. Tôi không biết cái gì xảy ra sau đó. Cái quan trọng
kế tiếp, hiếm khi xuất hiện trong những giấc mơ.
Trước đây một thời gian,
tôi đã có một giấc mơ, nó để lại một ấn tượng sống động trên tôi. Cô tôi đang
khóc vì cô không thể tìm thấy tôi. Nhưng tôi có một sự thích thú tinh quái với
ý tưởng rằng, cô và những người khác đang tìm kiếm tôi, và họ đang làm ầm ĩ –
đó là những điều mà tôi cảm thấy qua hai bàn chân tôi. Bỗng nhiên, sự nghịch ngợm
nhường chỗ cho sự lo lắng và sợ hãi.Tôi cảm thấy lạnh. Không khí có mùi giống
như băng và muối. Tôi cố chạy; nhưng cỏ cao ngáng bước chân tôi, và tôi ngã về
phía trước, mặt úp xuống.
Sau một lát, cảm giác của
tôi có vẻ như được tập trung trên những ngón tay tôi, và tôi tri giác rằng, những
lá cỏ thì sắc như những con dao, và làm hai bàn tay tôi đau buốt. Tôi cố chỗi dậy,
cẩn thận, để khỏi bị cỏ sắc cứa vào da thịt. Tôi dò dẫm đặt xuống một bàn chân,
như con mèo của tôi lần đầu tiên giẫm xuống khu rừng nguyên sinh ở vùng phía
sau nhà. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy tiếng lộp bộp thầm lén của một cái gì đang
bò, bò một cách cố ý về phía tôi. Lúc bấy giờ tôi không biết cái ý tưởng đó là
như thế nào trong tâm trí tôi… Thế nhưng, cái làm tôi sợ hãi, không phải là con
vật đang bò, mà là cái ý định độc ác của nó. Tôi không sợ những sinh vật. Tôi
yêu những con chó của cha tôi, con bê nhỏ bé, hiếu động, những con bò cái hiền
lành, những con ngựa và những con lừa vẫn thường ăn những quả táo từ bàn tay
tôi, và không con nào trong số chúng đã làm hại tôi. Tôi nằm im, và trong sự
khiếp đảm, đợi con vật chồm lên và vồ lấy tôi với những cái vuốt dài của nó.
Tôi nghĩ: “Chúng sẽ giống như móng vuốt của con gà tây.” Một cái gì đó ấm và ướt
chạm vào mặt tôi. Tôi thét lên, vung tay đánh loạn xạ, và tôi tỉnh dậy.
Một cái gì đó đang vùng vẫy
trong vòng tay tôi. Tôi ôm chặt nó với hết sức mình, cho đến khi mệt lả, rồi
tôi nới lỏng vòng tay. Tôi thấy “quý bà” Belle, đang lắc lư thân mình và đang
nhìn tôi trách móc. Nó và tôi đã đi ngủ cùng nhau trên tấm thảm, và đã lang
thang tới khu rừng trong mơ, nơi mà những cô gái nhỏ và những con chó săn những
con mồi hoang dã và có những cuộc phiêu lưu kỳ lạ. Belle cũng có những giấc mơ
của nó. Chúng tôi có thói quen nằm dưới những cái cây và những bông hoa trong
khu vườn cổ, và tôi thường cười lớn thích thú khi những chiếc lá của hoa mộc
lan rơi với những tiếng “thịch” nhỏ, và Belle nhảy lên, nghĩ rằng nó đã nghe thấy
một con gà gô. Nó thường đuổi theo chiếc lá, chỉ vào nó, mang nó đến cho tôi và
nằm xuống bàn chân tôi với một cái vẫy đuôi buồn cười, như muốn nói: “Đây là loại
chim mà đã đánh thức tôi dậy.” Tôi làm một chiếc vòng đeo cổ cho nó từ những
bông hoa màu xanh da trời xinh đẹp và phủ lên nó những chiếc lá có hình trái
tim.
Cô nàng Belle thân mến,
nó đã và đang nằm mơ giữa những hoa sen và cây anh túc của thiên đàng chó.
Những giấc mơ nào đó đã
ám ảnh tôi từ thời thơ ấu của tôi. Một giấc mơ mà thường diễn ra theo cách như
sau: Một “hồn ma” nào đó có vẻ như đi qua trước mặt tôi. Tôi cảm thấy một hơi
nóng dữ dội giống như luồng hơi nóng từ một đầu máy xe lửa. Nó là hiện thân của
cái ác. Hẳn là nó đã xuất hiện lần đầu tiên sau cái ngày tôi bị bỏng. Một “hồn
ma” khác viếng thăm tôi, thường mang đến một cảm giác về sự ẩm ướt mát lạnh,
như người ta cảm thấy vào một đêm tháng 11 giá buốt khi cửa sổ mở. Hồn ma dừng
lại ở một vị trí xa khỏi tầm với của tôi, đong đưa lui tới như một sinh vật
đang sầu muộn. Máu tôi tê buốt, và dường như đông lại trong những mạch máu tôi.
Tôi cố cử động, nhưng cơ
thể tôi cứng đơ, và tôi thậm chí không thể kêu lên. Sau một lát, hồn ma tiếp tục
lướt đi, và tôi rùng mình tự nhủ thầm: “Đó là Tử Thần. Phải chăng là ông ta đã
mang cô giáo của mình đi?”
Trong những giấc mơ của
mình, tôi có những cảm giác, mùi, vị, mà tôi không nhớ là đã có trong thực tại.
Có lẽ, chúng là những “thoáng nhìn” mà tâm trí tôi đã chụp bắt xuyên qua tấm mạng
của giấc ngủ của thời thơ ấu bé bỏng của tôi... Đôi khi, một làn ánh sáng tuyệt
vời viếng thăm tôi trong giấc ngủ. Một tia chớp huy hoàng biết bao! Tôi nhìn
nó, nhìn nó cho đến khi nó biến đi. Tôi ngửi và nếm nó như trong những giờ tỉnh
thức; nhưng xúc giác đóng một vai trò bớt quan trọng. Trong giấc ngủ, tôi hầu
như không bao giờ mò mẫm. Không ai hướng dẫn tôi. Ngay cả trên một đường phố
đông đúc, tôi cũng độc lập, một sự độc lập hoàn toàn xa lạ với cuộc sống thể lý
của tôi. Bây giờ tôi hiếm khi đánh vần trên những ngón tay mình, và những người
khác, càng hiếm khi đánh vần vào bàn tay tôi. Tâm trí tôi hành động độc lập với
những giác quan tôi. Tôi vui sướng được như thế, dù chỉ trong giấc ngủ; bởi vì,
lúc ấy linh hồn tôi mang vào đôi hài có cánh của nó, và vui sướng gia nhập vào
đội ngũ của những hữu thể cư ngụ bên ngoài tầm với của những giác quan thể lý.
Sự thiếu nhất quán của những
giấc mơ thì hết sức rõ ràng. Những giấc mơ của tôi trở nên ngày càng ít hòa điệu
với những nguyên tắc riêng tư của tôi. Hằng đêm, tôi bị ném vào trong một mớ hỗn
tạp vô đạo đức của những cực đoan. Tôi phải, hoặc là bảo vệ một người khác cho
tới giọt máu cuối cùng, hoặc kết án anh ta quyết liệt. Trong giấc mơ, tôi phạm
tội sát nhân, để cứu sinh mạng của những người khác. Gán cho những người tôi
yêu mến nhất những hành vi và lời nói, mà nó khiến cho tôi khổ tâm khi nhớ lại,
và tôi ném lên họ lời trách móc này sau lời trách móc nọ. Thật may mắn cho sự
bình an tâm hồn của chúng ta, rằng những giấc mơ độc ác nhất đều bị quên đi
nhanh chóng. Cái Chết, đột nhiên và khủng khiếp, những tình yêu và thù hận kỳ lạ
được theo đuổi một cách không ân hận, sự trả thù được hoạch định một cách tinh
ranh, và sáng hôm sau, nó chỉ còn là những hồi ức lờ mờ, và trong ngày, chúng bị
xóa đi bởi những hoạt động bình thường của tâm trí.
Đôi khi ngay khi tỉnh dậy,
tôi quá bực mình với ký ức về sự hỗn loạn của những giấc mơ, đến nỗi, tôi mong
ước, ước chi mình đừng nằm mơ nữa. Nhưng rồi, tôi lại rơi vào trong một cơn xáo
động mới của những giấc mơ.
Ôi, những giấc mơ, ta đã
chồng chất xiết bao ô nhục lên chúng bây – chúng bây, những sự thể vớ vẩn nhất
có thể tưởng tượng, những con khỉ hỗn xược,“kẻ bịa đặt” những tương phản khả ố,
những con chim báo điềm dữ, những vọng âm giễu cợt, những nhắc nhở không đúng
lúc, những sầu muộn trở đi trở lại, những bộ xương trong ghế dựa của ta, những
kẻ giễu cợt [66] trong nấm mồ, những cái đầu của Thần Chết tại tiệc cưới, những
kẻ ngoài vòng pháp luật của bộ não mà hằng đêm thách thức sự kiểm soát của tâm
trí, những kẻ phá vỡ sự bình an nội tại [domestic] của ta, những kẻ sát nhân của
giấc ngủ. “Ồ, những giấc mơ khủng khiếp mà đã xáo trộn linh hồn ta!” Thảo nào
mà Hamlet thích những tai họa mà anh ta biết, hơn là phải chịu đựng sự run rủi
của giấc mơ.
Thế nhưng, nếu cất bỏ cõi
mơ, thì sự mất mát là không thể nào lường được.
Cái “bùa chú” thần diệu vốn gắn kết thi ca lại với nhau, bị đánh vỡ. Cái huy
hoàng của nghệ thuật và cái sức mạnh bay bổng của trí tưởng tượng bị giảm sút,
bởi vì không có “ảo tượng” [67] nào của những buổi hoàng hôn và những bông hoa
không phai tàn thúc giục tiến về một mục tiêu. Đã mất đi sự “đồng lõa” [68] vốn
khích lệ linh hồn giễu cợt những giới hạn của thời gian và không gian, dự báo
và thu hái trong những mùa gặt cho những thời đại tương lai. Nếu xóa đi những
giấc mơ, thì người mù mất đi một trong những niềm an ủi chính yếu của họ; bởi
vì trong những cái mơ thấy trong giấc ngủ, họ thấy niềm tin của họ vào cái “tâm
trí sáng láng” của họ, sự mong đợi của họ về ánh sáng ở bên kia cái đêm tối trống
không, chật hẹp, được chứng minh. Nói đúng hơn, khái niệm của chúng tôi [những
người mù. ĐTN] về tính bất tử bị lung lay. Đức tin, động lực của đời sống con
người, tàn lụi dần. Trước sự trống rỗng và cằn cỗi như thế, thì những chấn động
của những thế giới đổ nát, quả thực, được chào đón. Quả thực, những giấc mơ
mang đến cho chúng ta ý tưởng – độc lập với chúng ta, và bất chấp chúng ta – rằng,
linh hồn “có thể chỉnh đốn bản tính của nó, buộc cánh buồm lớn vào sợi dây thừng
vững chắc, và hân hoan lao vụt về Cái Vô Hạn.”
____
[63] Misty
unrealities.
[64] Warp.
[65] Woof.
[66] Jesters.
[67] Phantom.
[68] Connivance.
CHƯƠNG XIV
NHỮNG GIẤC MƠ VÀ THỰC TẠI
Thật
ngạc nhiên khi nghĩ về việc như thế nào mà cái thế giới thực, thế giới “tỉnh”
[69] lại xoay xung quanh những cái phi thực tối tăm của Cõi Mơ. Mặc dù mọi thứ
mà chúng ta nói về cái rời rạc, vô lý của những giấc mơ, nhưng chúng ta thường
lý luận dựa trên chúng. Chúng ta đặt cược những hy vọng lớn nhất của mình trên
chúng. Hơn thế nữa, trên nền tảng của chúng, chúng ta xây “ngôi nhà” của một thế
giới lý tưởng. Tôi có thể nói rằng, ít có bài thơ đẹp nào, ít tác phẩm
nghệ thuật cao cả nào, hay bất cứ hệ thống triết học nào, mà trong đó, không có
bằng chứng rằng, những ảo tượng của giấc mơ tượng trưng cho những chân lý bị
che giấu bởi những hiện tượng [70]. Sự kiện rằng, trong những giấc mơ,
sự hỗn độn ngự trị, và những nối kết phi lý tính xuất hiện, biện minh cho cái
lý thuyết mà Sir Arthur Mitchell và những nhà khoa học khác chủ trương, rằng tư
duy trong giấc mơ của chúng ta thì không được kiểm soát và hướng dẫn bới ý chí.
Ý chí – sức mạnh kềm chế và hướng dẫn – tìm thấy sự nghỉ ngơi và sự tươi mới
trong giấc ngủ, trong khi tâm trí, giống như một con thuyền không bánh lái hay
la bàn, trôi dạt vô định trên một đại dương chưa thám hiểm. Nhưng khá ngạc nhiên,
những mộng mị và những đan quyện này của tư tưởng, thì chỉ được tìm thấy trong
những bài thơ vĩ đại, giàu tưởng tượng như Færie Queene của
Spenser. Lamb bị ấn tượng bởi sự tương tự giữa “tư duy trong mộng” của
chúng ta và sự vận hành của trí tưởng tượng.
Nói về biến cố xảy ra
trong hang của thần Mammon [71], Lamb viết:
“ […] Những gì mà có vẻ
như quá vô định và thế nhưng, quá mạch lạc, khi đặt dưới sự xem xét trầm tĩnh,
sẽ hiện ra quá vô lý và quá rời rạc, đến nỗi mà, chúng ta xấu hổ là đã bị lừa
như thế, và đã, dù trong giấc ngủ, xem một quái vật là một vị thần.”
Có lẽ tôi cảm nhận nhiều
hơn những người khác sự tương tự giữa thế giới của cuộc sống “trong khi thức” của
chúng ta và thế giới của những giấc mơ, là bởi vì, trước khi tôi được
giáo dục, tôi sống trong một loại giấc mơ bất tận. Cái bằng chứng của
bố mẹ tôi và những người bạn vốn quan sát tôi ngày này sang ngày nọ, là phương
tiện duy nhất mà tôi có để biết về những năm sớm sủa, mờ mịt kia của thời thơ ấu
của tôi. Hành vi đi ngủ và tỉnh dậy vào buổi sáng, chỉ một mình nó đánh
dấu sự chuyển tiếp từ thực tại sang Cõi Mơ. Theo như tôi biết, thì bất luận
ngủ hay thức, tôi chỉ cảm nhận [mọi sự] thông qua cơ thể mình. Tôi không thể nhớ
quá trình nào mà bây giờ tôi có thể gán cho nó cái từ “ ý nghĩ.” Đúng là, những
cảm giác của tôi thì cực kỳ nhạy bén; nhưng vượt quá một sự kết nối thô thiển với
những nhu cầu thể lý, thì chúng không được nối kết hay được hướng dẫn. Chúng có
ít liên hệ với nhau, với tôi, hay với kinh nghiệm của những người khác. Ý tưởng
– cái vốn mang lại “đồng nhất tính” [72] và sự liên tục cho kinh nghiệm – xuất
hiện khi tôi ngủ và khi tôi thức, đồng thời với sự tỉnh dậy của ý thức về
mình. Trước khoảnh khắc đó, thì tâm trí tôi ở trong một trạng thái “vô
chính phủ” [73] mà trong đó những cảm giác vô nghĩa hoành
hành, và nếu ý tưởng hiện hữu, thì nó quá mơ hồ và vô lý, đến nỗi nó không thể
được xem là một phần của “diễn ngôn.” [74] Thế nhưng, trước khi sự giáo dục
của tôi bắt đầu, tôi đã nằm mơ. Tôi biết rằng, tôi hẳn đã nằm mơ, bởi vì tôi
không nhớ có sự gián đoạn nào trong những kinh nghiệm xúc giác của mình. Những
sự vật rơi xuống đột xuất, nặng nề. Tôi cảm thấy y phục mình bốc cháy, hoặc tôi
rơi xuống một chậu nước lạnh. Một lần, tôi ngửi thấy chuối, và cái mùi trong
mũi tôi quá sinh động, đến nỗi vào buổi sáng, trước khi thay quần áo, tôi đến
cái tủ đựng thức ăn để tìm chuối. Không có trái chuối nào, và không có mùi chuối
ở đâu cả! Quả thực, trọn đời tôi là một giấc mơ.
Sự tương tự giữa trạng
thái thức và ngủ của tôi, thì vẫn rõ rệt. Trong cả hai trạng thái, tôi
“thấy,” nhưng không phải bằng đôi mắt của tôi. Tôi “nghe,” nhưng không phải
bằng tai. Tôi nói và được đáp lại, mà không có âm thanh của một giọng nói. Tôi
xúc động một cách vui sướng bởi những “hiển thị” [visions] có vẻ đẹp khôn tả mà
tôi chưa bao giờ nhìn ngắm trong thế giới vật lý. Một lần, trong một giấc mơ,
tôi nắm trong tay một viên ngọc. Viên ngọc mà tôi thấy trong những giấc mơ của
mình, do vậy, hẳn phải là sự sáng tạo của trí tưởng tượng của tôi. Nó là một khối
thủy tinh nhẵn nhụi, được tạo hình một cách tinh xảo. Trong khi tôi nhìn vào
trong cái chiều sâu lóng lánh của nó, linh hồn tôi tràn ngập một cơn ngây ngất
dịu ngọt, và tôi ngạc nhiên thích thú như một kẻ lần đầu tiên nhìn vào trái tim
mát rợi, đáng yêu của một bông hồng. Viên ngọc của tôi là sương và lửa, màu
xanh lá cây như nhung của rêu, màu trắng mềm mại của hoa huệ, và những sắc màu
được tinh lọc và sự tươi mát của một nghìn bông hồng. Dường như với tôi, linh hồn
của cái đẹp đã hòa tan vào khối thủy tinh của viên ngọc đó. Cái nhìn phong phú
này củng cố niềm xác tín của tôi rằng, cái thế giới mà tâm trí xây dựng
lên, từ vô số kinh nghiệm và gợi ý tinh tế, thì đẹp hơn cái thế giới của những
giác quan. Cái vẻ huy hoàng của hoàng hôn mà các bạn tôi tôi nhìn ngắm qua
những ngọn đồi đang tím thẫm, thì tuyệt vời. Nhưng cảnh hoàng hôn của “cái nhìn
bên trong” mang đến niềm hoan lạc thuần khiết hơn, bởi vì nó là sự pha trộn tuyệt
vời của mọi vẻ đẹp mà chúng ta đã biết và mơ ước.
Tôi tin rằng, tôi may mắn
trong những giấc mơ của mình hơn phần lớn người khác, bởi vì khi tôi nhìn kỹ lại
những giấc mơ của mình, thì những giấc mơ thú vị dường như nổi trội, mặc dù
chúng ta, một cách tự nhiên, hồi tưởng một cách sinh động nhất và kể lại một
cách háo hức nhất những cuộc phiêu lưu kỳ quái và dị thường nhất trong Cõi Mơ.
Tuy nhiên, tôi có những người bạn, mà những giấc mơ của họ luôn bị quấy rối và
phiền muộn. Họ tỉnh dậy, mệt mỏi và bầm giập, và họ bảo tôi rằng, họ sẽ đổi một
vương quốc để lấy một đêm ngủ không mơ. Có một người bạn tuyên bố rằng, cô ta
chưa bao giờ có một giấc mơ hạnh phúc trong đời mình. Sự ma sát và lo lắng của
ngày xâm lăng cái lãnh địa êm ái của giấc ngủ và khiến cô mệt mỏi. Tôi cảm thấy
rất thương xót cho người bạn này, và có lẽ, sẽ là thiếu tế nhị, khi nhấn mạnh
niềm vui sướng của giấc mơ trong sự hiện diện của một người mà kinh nghiệm
trong mơ của họ quá bất hạnh. Đúng là những giấc mơ của tôi thường êm ái, ít có
những nghịch cảnh. Mọi hoài vọng về cái kỳ lạ, cái quái gở, “ma mị” đều được thỏa
mãn trong những giấc mơ. Chúng mang tôi ra khỏi cái quen thuộc và cái tầm thường,
tẻ nhạt. Trong một chớp mắt, chúng cất đi gánh nặng từ đôi vai tôi, cái nhiệm vụ
vặt vãnh từ bàn tay tôi, và sự đau đớn, thất vọng từ trái tim tôi, và tôi nhìn
ngắm khuôn mặt đáng yêu của giấc mơ tôi.
Nó nhảy múa xung quanh
tôi với nhịp điệu vui tươi và lao đi chỗ này chỗ kia trong sự buông thả hạnh
phúc. Bỗng nhiên, những “ảo tượng” đáng yêu nổi lên từ mọi xó xỉnh và ngóc
ngách, và những cái ngạc nhiên thú vị gặp gỡ tôi khắp mọi nơi, mọi lúc. Một giấc
mơ hạnh phúc thì quý giá hơn vàng và hồng ngọc.
Tôi thích nghĩ rằng,
trong những giấc mơ, chúng ta có thể chụp bắt những thoáng nhìn về một cuộc sống
lớn hơn cuộc sống của riêng ta. Chúng ta thấy nó khi
còn bé, hoặc như một kẻ man dã viếng thăm một dân tộc văn minh. Những ý tưởng
được truyền đạt đến chúng ta, chúng ở rất cao phía trên sự suy nghĩ bình thường
của ta. Những cảm nhận cao thượng hơn và khôn ngoan hơn bất cứ cảm nhận nào mà
chúng ta đã biết, làm phấn khích chúng ta giữa những tiếng đập của trái tim.
Trong một đêm thoáng qua nhanh, một bản chất cao cả hơn chụp bắt chúng ta, và
chúng ta trở nên vĩ đại như những nguyện vọng của mình. Tôi dám nói rằng, chúng
ta trở lại với cái thế giới nhỏ bé của những sinh hoạt thường nhật của mình với
một ký ức méo mó và phiến diện về những gì mà chúng ta đã thấy... Sự bao quát của
ý nghĩ ta, bất luận chúng ta ngủ hay thức, chắc chắn lệ thuộc phần lớn vào cái
khí chất, cái “tạng” riêng của chúng ta, những tập quán, và năng lực tinh thần
của chúng ta. Nhưng bất luận cái bản chất của những giấc mơ của ta có ra sao đi
nữa, thì cái quá trình tinh thần vốn đặc trưng hóa chúng, thì tương tự như những
quá trình vốn diễn tiến trong tâm trí khi tâm trí không bị ý chí can thiệp vào.
____
69] “Tỉnh”, có nghĩa là
“thức”, không nằm mơ.
[70] Nhận xét này, chắc hẳn phải khiến cho Freud và Jung kinh ngạc!
[71] Mammom: Vị thần chủ trì về của cải.
[72] Identity.
[73] Anarchy.
[74] Discourse.
CHƯƠNG XV
GIẤC MƠ TRONG KHI TỈNH
Tôi
đã ngồi hàng giờ trong một loại mơ màng, để cho tâm trí lang thang
tự do, không kềm chế và không định hướng, và nhàn rỗi ghi lại tiếng đập không dứt
của ý tưởng này trên ý tưởng nọ, hình ảnh này trên hình ảnh nọ. Tôi đã quan sát
thấy rằng, những ý tưởng của tôi tạo ra mọi loại kết nối, quanh co, trong những
vòng tròn đồng tâm, và tản ra trong những cơn lốc của trí tưởng tượng, hệt
như trong những giấc mơ. Một hôm, tôi có một “cuộc nô đùa văn học” với một
chuỗi ý tưởng nào đó, mà ghé thăm tôi vào một buổi chiều. Tôi viết trong 3 hay
4 giờ khi chúng đến, và kết quả, bản tường thuật thì rất giống như một
giấc mơ. Tôi phát hiện rằng, những ý tưởng rời rạc nhất, khác nhau nhất
cùng dắt tay nhau đến – tôi mơ một giấc mơ hoàn toàn tỉnh thức. Sự
khác biệt nằm ở chỗ, trong những “giấc mơ khi đang thức”, tôi có thể nhìn lại sự
tiếp nối vô tận của những ý tưởng, trong khi trong những giấc mơ trong giấc ngủ,
thì tôi chỉ có thể nhớ lại rất ít ý tưởng và hình ảnh. Tôi chụp bắt những sợi bị
đứt từ một “khuôn mẫu” mà tôi không thể thấy, hoặc những chiếc lá rực sáng mà
đã bay bồng bềnh trên một cơn gió từ một cái cây mà tôi không thể nhận diện.Trong
sự mơ màng này, tôi nắm chìa khóa của cái chuỗi ý tưởng đó. Tôi ghi lại chúng để
chứng minh rằng, có sự tương tự giữa những ý tưởng khi chúng không được
hướng dẫn [trong khi thức] và cái “cách hành xử” thực sự của “tư duy trong giấc
mơ.”
Tôi có một bài tiểu luận
phải viết. Tôi muốn tâm trí mình tươi mới và dễ bảo, và tất cả những “thuộc hạ”
của nó sẵn sàng nâng đỡ hai bàn tay tôi trong nhiệm vụ đó. Tôi dự định sẽ trình
bày một cách “thông thái” về những kinh nghiệm giáo dục của tôi, và tôi rất muốn
làm hết sức mình. Tôi có một “kế hoạch làm việc” trong đầu cho bài tiểu luận,
nó phải “nghiêm nghị,” minh triết, và dồi dào ý tưởng.Tuy nhiên, nó phải có một
cái phong vị hàn lâm, và bạn đọc sẽ phải bị ấn tượng bởi cái sự đĩnh đạc,
nghiêm nghị của bậc “mũ cao, áo dài.” Tôi tự nhốt mình trong thư phòng, quyết
tâm gõ lên máy chữ cái chương “bất tử” này về lịch sử đời tôi. Alexander Đại Đế
không tự tin trong việc chinh phục châu Á với đội quân tinh nhuệ mà cha ông,
Philip, đã huấn luyện. Thì cũng vậy, tôi không tự tin về việc sẽ tìm thấy ngôi
nhà tinh thần của mình ở trong trật tự, và trong những ý tưởng dễ bảo của tôi.
Tâm trí trí tôi đã có một kỳ nghỉ dài, và tôi, bây giờ đang trở lại với nó
trong một giờ khắc mà nó không “để ý đến tôi.” Tình huống của tôi cũng tương tự
như tình huống của người chủ, đi tới một đất nước xa xôi, và mong đợi, khi về
nhà, sẽ tìm thấy mọi sự y nguyên như khi ông ta rời nó. Nhưng khi trở lại,
ông thấy những tôi tớ của ông đang tổ chức một bữa tiệc. Sự hỗn loạn đang lan
tràn.
Mọi người đang khiêu vũ.
Có tiếng đàn vĩ cầm, và tiếng bép xép của nhiều cái lưỡi, đến nỗi, giọng nói của
ông chủ không thể được nghe thấy. Mặc dù ông quát to và đập mạnh lên cổng,
nhưng nó vẫn đóng.
Với tôi cũng vậy. Tôi thổi
kèn trumpet to và lâu; nhưng các “thuộc hạ” của ý tưởng của tôi không tập hợp
dưới lá cờ hiệu của tôi. Mỗi người đặt vòng tay quanh thắt lưng bạn nhảy của
mình … Không có gì để làm. Tôi thất vọng nhìn xung quanh vào đám tùy tùng đông
đảo của mình, và nhận thức rằng, không phải việc sở hữu một vật, mà khả năng sử
dụng nó, mới có giá trị. Tôi ngồi xuống ghế dựa để quan sát “màn trình diễn.”
Khá thú vị khi ngồi ở đó, quan sát chính những ý tưởng của mình nô đùa. Nó giống
như việc suy nghĩ những điều hay ho để nói, mà không cất công để ghi lại chúng.
Tôi cảm nhận như Alice trong xứ Thần tiên, khi cô ta chạy hết tốc lực với vị
“hoàng hậu đỏ” và không bao giớ tới một nơi nào cả.
Cuộc vui đùa tiếp tục một cách điên cuồng. Những kẻ khiêu vũ, họ đang nhảy múa theo thể cách của những ý tưởng. Có những ý tưởng buồn và những ý tưởng hạnh phúc. Những ý tưởng phù hợp với mọi khí hậu và thời tiết, những ý tưởng mang con dấu của mọi thời đại và dân tộc, những ý tưởng ngớ ngẩn và những ý tưởng khôn ngoan, những ý tưởng về những con người, về những sự vật, và về “hư vô,” những ý tưởng thiện lành, những ý ý tưởng ranh ma, và những ý tưởng khoáng đạt, nhân ái.
Chú thích của người dịch:
[Đoạn cuối, khoảng 3
trang. Tác giả diễn đạt quá rối rắm, nên chúng tôi thấy, nếu tóm tắt đại ý, thì
bạn đọc dễ hiểu hơn].
* Tác giả kể lại nhiều
“giấc mơ trong khi tỉnh,” vô cùng quái dị của mình. Những “giấc mơ” hoàn toàn
không theo logic của cuộc sống bình thường.
* Một số những “giấc mơ”
đó, phát xuất từ những nhân vật mà tác giả đã đọc thấy trong những cuốn sách.
Nhiều nhân vật nổi tiếng xuất hiện trong những “giấc mơ” của tác giả, chẳng hạn
như Homer, Molière, Aristophanes, Shelley, Calvin, Shakespeare…
* Kết luận của tác giả: “Những giấc mơ khi tỉnh” cũng không khác bao nhiêu, so với “những giấc mơ khi ngủ”.
BÀI TỤNG CA BÓNG TỐI
Tôi không dám hỏi, tại
sao chúng ta [75] bị tước bỏ ánh sáng,
Bị trục xuất đến những hòn đảo nhỏ cô liêu
giữa những đại dương vô lượng
Hoặc, như thế nào, mà thị giác chúng ta được phát triển để chứng kiến bao cảnh
sắc huy hoàng,
Để rồi phai tàn và biến đi, để lại chúng ta một mình trong bóng tối.
Sự bí mật của Thượng đế ở trên bàn thờ của chúng ta;
Tôi không dám tò mò tìm hiểu cái Huyền Nhiệm của Ngài. Tôi chỉ biết:
Với Ngài là sức mạnh, với Ngài là sự minh triết,
Và sự minh triết của Ngài đã đặt bóng tối lên những lối đi của chúng ta.
Từ cái bóng tối không có
bản đồ, bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về
Vào trong cái bóng tối bao la, câm lặng.
Ôi, Bóng Tối! Bóng tối khủng
khiếp, dịu dàng, Bóng Tối thiêng liêng !
Trong những khoảng không gian uy nghi của Người [76], vượt quá con mắt loài người,
Thượng Đế đã nặn ra cái vũ trụ của Ngài; đặt nền tảng cho trái đất,
Đặt kích thước cho nó, và
gạch đường thẳng lên nó;
Đóng đại dương bằng những cánh cửa, và biến cái huy hoàng của những đám mây
thành một vỏ bọc cho nó;
Sai khiến buổi sáng của Ngài, và trông kìa, sự hỗn độn trốn chạy trước khuôn mặt
ngước lên của mặt trời;
Rẽ một dòng nước cho sự chảy tràn của những khối nước;
Gửi mưa xuống mặt đất –
Xuống vùng hoang địa, nơi không có bóng dáng con người,
Xuống sa mạc, nơi không có ngọn cỏ nào,
Và, hãy nhìn, có màu xanh
trên những đồng bằng,
Và những ngọn đồi được mặc tấm áo của cái đẹp !
Từ bóng tối không bản đồ,
bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về
Vào trong bóng tối bao la, câm lặng –
Ôi, Bóng Tối! Bóng Tối bí
mật và khôn dò !
Trong những đáy sâu im lặng
của Người, mà những mạch nước của chúng, con người chưa thăm dò,
Thượng Đế tạo ra linh hồn con người.
Ôi, Bóng Tối ! Bóng Tối từ
bi, toàn trí !
Một cách âu yếm, Người gửi
thông điệp đến cho con người.
Nhẹ nhàng, Người đặt tay lên mí mắt mỏi mệt của hắn,
Và linh hồn hắn, bơ phờ và nhớ nhà, trở lại vòng tay êm ái của Người.
Từ bóng tối không bản đồ,
bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về
Vào trong bóng tối bao la, câm lặng –
Ôi, Bóng Tối ! Ôi Bóng Tối minh triết, tràn đầy sức sống, gợi lên bao ý tưởng!
Trong sự huyền nhiệm của
Người, Người giấu làn ánh sáng,
Vốn là sự sống của linh hồn.
Trên những bến bờ hiu quạnh
của Người, tôi bước đi không sợ hãi;
Tôi không sợ điều bất hạnh
nào; mặc dù tôi bước đi trong thung lũng của bóng tối,
Tôi sẽ không biết cái nỗi sợ hãi
Khi Tử Thần dịu dàng dắt tôi xuyên qua cánh cửa mở của đời;
Khi những dải băng của đêm bị xé rách,
Và ngày rót ánh sáng tràn lan của nó.
Từ bóng tối không bản đồ,
bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về
Vào trong bóng tối bao la, câm lặng.
Linh hồn rụt rè, kinh hãi, trốn xa bóng tối;
Nhưng trên hai gò má của kẻ phải lưu lại trong bóng tối
làn gió của đôi cánh thiên thần lao vụt qua,
Và xung quanh hắn, rới xuống một làn ánh sáng từ những đám lửa vô hình.
Tia sáng diệu kỳ ánh lên, xuyên qua bóng tối;
Những lối đi của cái đẹp chạy quanh co xuyên qua thế giới tối đen của hắn
Tới một thành phố khác của
ánh sáng,
Nơi mà không có tấm mạng nào của giác quan đóng cửa đuổi hắn ra khỏi Thiên
đàng.
Từ bóng tối không bản đồ,
bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về.
bóng tối bao la, câm lặng.
Ôi, Bóng Tối ! Bóng Tối bình yên, diễm phúc !
Đối với kẻ lưu đày cô độc, mà phải cư ngụ với Người
Người thật từ ái và thân thiện;
Người tránh cho hắn khỏi phải nhìn thấy cái thế giới hà khắc;
Với hắn, Người thì thầm những bí mật của đêm tuyệt vời;
Người ban phát cho hắn những vùng rộng lớn và vô hạn như linh hồn hắn;
Người ban sự vinh quang cho mọi sự vật hèn mọn;
Với đôi cánh của Người,
Người che phủ mọi vật thể xấu xí; dưới đôi cánh ấp ủ của Người, có sự bình an.
Từ bóng tối không bản đồ,
bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta sẽ lại trở về
trong bóng tối bao la, câm lặng.
II
Xưa kia, tôi lang thang
trong những miền không ánh sáng;
Trong bóng tối rỗng
không, tôi vấp té;
Và nỗi sợ hãi dắt tay
tôi;
Hai bàn chân tôi ép vào mặt
đất,
Sợ những cạm bẫy.
Bên nhiều nỗi kinh hoàng
không hình dạng của đêm kinh hãi,
Tôi chìa vòng tay cầu khẩn
ra với ánh ngày.
Rồi Tình yêu đến, mang
trên bàn tay Bà cây đuốc, thắp sáng dưới hai bàn chân tôi,
Và Tình yêu dịu dàng lên
tiếng:
“Con đã bước vào kho tàng
của đêm chưa?
Hãy khám phá sự mù lòa của
con.
Nó chứa đựng những kho
báu vô lượng.”
Những lời của Tình yêu
khiến linh hồn tôi bốc lửa.
Những ngón tay háo hức của tôi tìm kiếm những huyền nhiệm,
Những vẻ huy hoàng, sự thiêng liêng sâu xa nhất của những sự thể,
Và trong những khoảng trống không, phát hiện ra,
Với giác quan của linh hồn [77], sự tròn đầy của sự sống;
Và cánh cổng của Ngày mở rộng.
Tôi run rẩy vui mừng;
Tứ chi tôi run với niềm
vui;
Trái tim tôi và mặt đất
Run rẩy với hạnh phúc;
Cơn xuất thần của sự sống
Hiện diện khắp nơi trong thế giới.
Kiến thức đã vén mở thiên đường;
Trên những bến bờ xa xôi nhất của bóng tối, có ánh sáng;
Nửa đêm đã gửi ra một tia sáng!
Hỡi kẻ mù lòa vốn từng vấp
ngã trong bóng tối không ánh sáng
Hãy nhìn một ngày mới!
Trong sự tối tăm, ánh lên ngôi sao của Tư Tưởng;
Trí tưởng tượng có một con mắt phát sáng,
Và tâm trí có một cái nhìn huy hoàng.
III
“Một kẻ bị mù. Đối với hắn,
cuộc đời là gì?
Một cuốn sách bị đóng, với một khuôn mặt mù lòa.
Ước chi hắn có thể thấy,
Ngôi sao quảng đại trên kia, và biết
Trong một khoảnh khắc siêu việt, niềm vui phập phồng của thị giác!”
Mọi hình ảnh là của linh
hồn.
Hãy chiêm ngưỡng nó trong chuyến bay hướng thượng
Của linh hồn thoát khỏi
xiềng xích!
Bạn có thấy
Ý tưởng nở hoa trên khuôn mặt đứa trẻ mù?
Bạn đã thấy tâm trí nó
phát triển,
Giống như bình minh hối hả,
để chụp bắt
Hình ảnh của vị Thầy?
Đó là phép mầu của cái nhìn hướng nội.
Trong những lãnh địa kỳ diệu nơi mà tôi cư ngụ
Tôi khám phá cuộc đời với hai bàn tay tôi;
Tôi nhận ra, và tôi hạnh phúc;
Những ngón tay tôi vẫn hằng khát khao mặt đất,
Và tôi hân hoan uống cạn những diệu kỳ của nó,
Tát cạn những hoan lạc thân yêu của mặt đất;
Hai bàn chân tôi đầy tiếng thì thầm,
Tiếng nhảy đập của mọi sự vật tăng trưởng.
Đây là xúc giác, sự run rẩy này,
Ngọn lửa này, vòm trời này,
Sự lao vụt vui mừng của máu,
Làn ánh sáng ban ngày này trong tim tôi,
Hơi ấm của đồng cảm trong hai lòng bàn tay tôi!
Cái xúc giác mù lòa, yêu thương, cái xúc giác muốn khám phá tất cả,
Người mở cuốn sách đời cho tôi.
Những âm thanh bé nhỏ, vô thanh của mặt đất
Đến với tiếng xào xạc nhẹ nhàng nhất;
Hai bàn chân e lệ, êm ái của đời;
Tiếng thì thầm nhẹ nhàng của đôi cánh của con mối
Áp vào lòng bàn tay tôi;
Tiếng đập inh ỏi của đôi cánh côn trùng,
Tiếng nhỏ giọt của dòng nước ánh bạc;
Những làn gió nhẹ bận rộn trong cỏ mùa hạ;
Âm nhạc của những chiếc lá hơi quăn, hối hả, vội vã,
Những chiếc lá xoay tròn, bị gió quét đi, bám đầy tuyết giá;
Cơn mưa thủy tinh của mùa hạ,
Thấm đẫm những mùi của đất.
Với những ngón tay tỉnh táo, tôi lắng nghe
Những cơn mưa rào của âm thanh
Khi gió lay lá cây từ khu rừng.
Tôi tắm [bathe] trong bóng râm sũng nước
Dưới những cây thông, nơi mà không khí mát dịu
Sau khi cơn mưa rào đã tạnh.
Người bạn nhỏ tinh nghịch của tôi, chú sóc,
Chạm nhẹ vào vai tôi với cái đuôi của nó,
Nhảy từ khóm lá này sang khóm lá kia,
Trở về ăn bữa điểm tâm của nó từ bàn tay tôi.
Giữa chúng tôi, có niềm đồng cảm vui mừng;
Nó nhảy nhót nô đùa; mạch máu tôi nhảy múa;
Tôi hân hoan, tràn ngập niềm vui của đời!
Há chẳng phải những ngón tay tôi đã chẻ cát
Trên bãi biển ngập nắng?
Há chẳng phải cơ thể trần truồng của tôi cảm nghe nước hát
Khi biển vây quanh nó
Với âm nhạc rì rào?
Há chẳng phải tôi đã cảm thấy
Điệu nhạc của những con sóng dưới chiếc xuồng của tôi,
Tiếng đập phần phật của cánh buồm,
Sự căng thẳng của cột buồm,
Sự lao vụt điên cuồng
Của những cơn gió đầy tia chớp ?
Há chẳng phải tôi đã cảm nhận đường bay nhanh chóng, sôi nổi
Của cái mùi có cánh trước
cơn bão ?
Đây là niềm vui sống động,
rạng rỡ;
Đây là cơn xáo động của
trái tim.
Hai bàn tay tôi khêu gợi
hình ảnh và âm thanh từ xúc giác,
Kết nối sự chuyển động với
hình ảnh, mùi, với âm thanh
chúng mang lại màu sắc
cho cơn gió nhẹ ngọt ngào,
Nhịp điệu và nỗi đam mê của
một khúc giao hưởng
Theo tiếng đập và sự run rẩy của những đôi cánh vô hình.
Trong những bí mật của trái đất và mặt trời và không khí,
Những ngón tay tôi thì khôn ngoan;
Chúng chộp lấy ánh sáng từ bóng tối,
Chúng rung động với những hòa âm thở ra trong im lặng.
Tôi bước đi trong tĩnh lặng của đêm,
Và linh hồn tôi thốt lên lời reo mừng.
Ôi, Đêm tĩnh lặng, Đêm thơm tho, tôi yêu Người!
Ôi, Đêm rộng lớn, mênh
mông, tôi yêu Người!
Ôi đêm trung thành, vinh
quang !
Tôi sờ vào Người với hai
bàn tay tôi;
Tôi tựa vào sức mạnh của Người;
Tôi được an ủi.
Ôi, Đêm khôn dò, đêm xoa dịu đau thương!
Người là một niềm an ủi đối với linh hồn trăn trở của tôi,
Tôi nép vào trong ngực của Người, đầy niềm tri ân,
Người mẹ nhân từ, tối đen!
Như một con bồ câu tôi yên nghỉ nơi ngực Người.
Từ bóng tối không bản đồ,
bất khả tư nghì, chúng ta đến,
Và trong phút chốc, chúng ta lại trở về
Trong bóng tối bao la, câm lặng.
Chú thích:
[75] We: chúng ta;
chúng tôi. Tôi dịch “we” là “chúng ta”, nhưng nghĩ rằng, tác giả đang nói với
những người mù, chứ không phải với tất cả mọi người.
[76] “Người” ở đây
chỉ “Bóng Tối.” Còn “Ngài”, chỉ “Thượng đế.”
[77] Spiritual sense: “giác quan của linh hồn.” Ý tác giả muốn nói, có 5 giác quan của thể xác, và linh hồn cũng là một loại “giác quan”, có thể tri giác mọi sự mà không qua giác quan thể lý.
Helen Keller
Đỗ Tư Nghĩa dịch
Theo https://www.art2all.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét