Đến khi nào Nobel Văn chương mới bớt ‘Âu tâm’?
Trước khi giải
Nobel Văn chương được trao năm ngoái, người đứng đầu ủy ban trao giải, Anders
Olsson, đã đưa ra một tuyên bố được chú ý: “Chúng tôi từng có quan điểm nặng
tính Âu tâm trong văn chương, và giờ chúng tôi muốn nhìn ra khắp thế giới”.
Nhưng ngay sau đó, hai giải
của các năm 2018 và 2019 đều là cho những nhà văn châu Âu: Olga Tokarczuk (người
Ba Lan) và Peter Handke (người Áo).
Ra đời năm 1901 với tham
vọng toàn cầu, giải Nobel Văn chương gần như chỉ gói gọn trong thế giới sáng
tác châu Âu và Bắc Mỹ suốt một thời gian dài.
Tới tận giữa những năm
1980, vẫn không có tác giả người châu Phi, Ả Rập hay Trung Quốc nào được trao
giải, dù châu Á hay Caribê thỉnh thoảng có một đại diện, gồm Rabindranath
Tagore (Ấn Độ, 1913); Yasunari Kawabata (Nhật Bản, 1968), và Saint-John Perse
(Guadeloupe, 1960).
Mỹ Latin, một vùng ảnh hưởng
quan trọng của văn hóa châu Âu – có lẽ là hơn so với châu Á hay châu Phi – cũng
có nhiều đại diện hơn, với Gabriela Mistral (Chile, 1945), Miguel Ángel
Asturias (Guatemala, 1967), Pablo Neruda (Chile, 1971) và Gabriel García
Márquez (Colombia-Mexico, 1982).
15 năm cuối của thế kỷ 20
là giai đoạn giải thưởng mở rộng hơn. Những người nhận giải các năm gần đây có
Wole Soyinka (Nigeria, 1986), Nadine Gordimer (Nam Phi, 1991) và Mario Vargas
Llosa (Peru, 2010).
Nhưng vẫn còn quá nhiều
tên tuổi lớn của những nền văn học “bên lề” được coi là xứng đáng mà vẫn chưa
được trao giải: Ngũgĩ wa Thiong’o (Kenya), Adonis (Syria), hay Nuruddin Farah
(Somalia).
Adonis, nhà thơ Ả Rập vĩ
đại nhất còn sống – Ảnh: Middle East Eye
Adonis thì được nhiều người
coi là nhà thơ Ả Rập vĩ đại nhất còn sống, năm nay đã 90 tuổi. Những sáng tác
thể nghiệm của ông được ca ngợi là tạo ra “cuộc cách mạng trong thi ca Ả Rập
sánh ngang với TS Eliot trong thế giới Anh ngữ, bằng một hình thức nghệ thuật
mà nhiều thế kỷ nữa vẫn có thể lôi kéo khán giả tới lấp đầy những sân vận động”.
Do không có một danh sách
rút gọn công khai, trên lý thuyết mọi tác giả còn sống đều có hi vọng được trao
giải, dù họ viết truyện ngắn, thơ, tiểu thuyết, là dịch giả, tác giả kịch bản,
hay cả nhạc sĩ.
Dẫu vậy, với nhiều nhà
phê bình, Nobel văn chương vẫn là một sự kiện phù phiếm, một đám rước diễu
hành, hơn là điều gì đấy thực chất (như các giải Nobel khác?).
Bằng chứng hay được dẫn
ra là danh sách những văn hào bị Nobel văn chương từ chối ấn tượng không kém,
thậm chí là còn ấn tượng hơn danh sách những người được giải: Mark Twain,
Joseph Conrad, James Joyce, Franz Kafka, Leo Tolstoy, Jorge Luis Borges, Anton
Chekhov, Marcel Proust, Philip Roth, Vladimir Nabokov…
Hồi năm 2009, một thành
viên chủ chốt của ban giám khảo Nobel văn chương, Peter Englund, đã thừa nhận
giải thưởng “quá Âu tâm” (eurocentric).
“Với mọi vùng ngôn ngữ…
có những tác giả xứng đáng và lẽ ra phải được trao giải Nobel”, Englund nói với
AP, và bởi các giám khảo ở Viện Hàn lâm Thụy Điển là người châu Âu, họ thường
có nhãn quan thiên Âu về văn chương.
Vấn đề phức tạp hơn khi
tính tới yếu tố lịch sử và chính trị: châu Âu cũng là nơi xuất phát của chủ
nghĩa thực dân và sự “nhất thể hóa” – một phần hoặc toàn bộ – văn hóa toàn cầu.
Không chỉ năm 2017, đã
nhiều năm Murakami được nhiều nhà cái đặt cược cho giải Nobel văn chương
Giống nhiều thứ khác, văn
chương của thời toàn cầu hóa cũng đồng nhất hơn, qua những tác giả bán sách cực
chạy và viết với ý thức rõ ràng là để tác phẩm của mình được dịch ra các thứ tiếng
khác (hoặc ít ra là ra tiếng Anh) – như Haruki Murakami.
Nhưng đồng thời, tính bản
sắc và sự khác biệt mới là điều làm nên sức hấp dẫn của văn chương, và nhiều thứ
nữa – điều khó một ủy ban nào, dù học thức và ảnh hưởng lớn đến đâu, có thể định
đoạt được. Câu “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” không thể đúng hơn ở đây.
Chẳng hạn, Rachel John,
phóng viên tờ The Print, Ấn Độ, nói về đặc điểm của văn chương đất
nước Nam Á 1,4 tỉ dân: “Vị thế một quốc gia hậu thuộc địa của Ấn Độ đã định
hình nền văn chương ở đây 70 năm qua.
Chức năng của văn chương ở
Ấn Độ đã thay đổi đáng kể từ khi độc lập với nhiều tác phẩm hiện thực chủ nghĩa
nhằm trả lời những câu hỏi lớn hơn như một người “Ấn” là như thế nào và “tiếng
nói của người Ấn” sẽ ra sao.
Vì thế, một Viện Hàn lâm
Thụy Điển – toàn người Âu, da trắng, nam giới áp đảo – có lẽ, và theo nhiều
nghĩa chắc chắn không thể đủ khả năng xác định điều gì là hay và dở trong những
bối cảnh mang bản sắc Ấn Độ sâu sắc”.
Điều đúng với Ấn Độ cũng
đúng với mọi nền văn chương khác. Ngoài Tagore, đã không có thêm tác gia người Ấn
nào giành giải Nobel văn chương suốt 107 năm qua và cả thập kỷ vừa rồi, chỉ hai
tác giả ở nam bán cầu được trao giải.
Ngôn ngữ sáng tác là một
vấn đề lớn nữa. Các tác phẩm bằng những thứ tiếng không phải tiếng Anh, cần phải
qua chuyển ngữ hoặc đôi khi phải phù hợp với những ý niệm – rất nhiều khi là ảo
tưởng và nhầm lẫn – về “phương Đông huyền ảo”, hay “châu Phi lạ lùng” dưới mắt
châu Âu, để được coi là xứng đáng trao giải.
Frank Kafka không cần bất
kỳ giải thưởng nào để được công nhận ở trên đỉnh cao của văn chương nhân loại –
Ảnh: New Yorker
Vấn đề còn mang tính định
chế và phản ánh một lịch sử lâu dài.
Văn chương “Âu tâm” nói
riêng, và văn hóa nói chung – đầu tiên là qua những công cụ trực tiếp như công
cuộc thuộc địa hóa và bành trướng kinh tế, rồi sau đó là sự độc quyền văn hóa
và những giải thưởng (Nobel và Oscar là hai ví dụ nổi bật) – đã củng cố vững chắc
vị thế “khuôn vàng thước ngọc” gần như trên khắp hoàn cầu.
Giá trị của những giải thưởng kiểu đấy, cũng như của tác giả và tác phẩm đoạt giải, vẫn là rất thật, nhưng đồng thời có rất nhiều định kiến còn cần xóa bỏ để hướng tới một nền văn chương phi Âu tâm, mang tính nhân loại đích thực.
8/10/2020
Hải Minh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét