Thơ đến từ đâu
Thơ
đến từ đâu là một công trình tập thể của 25 nhà thơ quy tụ
chung quanh cuộc phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng, nhiều bài trong đó đã được phổ
biến trên mạng lưới Talawas năm 2007, nay được ra mắt bạn đọc bởi nhà xuất bản
Lao Động. Cuốn sách, trong nội dung tự tại của nó, là một tác phẩm hay, có giá
trị phổ cập về hai mặt lập thuyết và thời sự.
Đặt vào bối cảnh văn học
hiện nay, Thơ đến từ đâu, là biến cố, làm cơn gió thông thoáng, một
luồng tư duy tươi thắm, quy tụ được nhiều nhà thơ giàu kinh nghiệm sáng tác,
thuộc nhiều lứa tuổi, nhiều trường phái khác nhau, trong và ngoài nước, không
phân biệt chính kiến. Vì vậy về mặt khách quan, cuốn sách làm nên sự kiện.
Nhưng một sự kiện có tác
dụng lâu dài hay không, là tùy nội hàm từng trang giấy. Thơ đến từ đâu sẽ
có giá trị lâu dài vì có đóng góp nhiều quan điểm, kinh nghiệm trong việc làm
thơ và đọc thơ. Khi vượt ra khỏi những phân biệt, kỳ thị về tuổi tác, phong
cách, địa phương Nam Bắc, trong hay ngoài nước, thì những quan điểm kia, như những
đóa hướng dương, tự quay về một hướng, có thể không cố tình : là việc hòa
giải dân tộc.
Ở phần cuối sách, những
nhà thơ nổi tiếng, đã từng một thời chưa xa, còn cầm súng ở hai bờ chiến tuyến,
cùng nhau khẳng định : hòa hợp dân tộc là nhiệm vụ của thi ca và văn học.
Họ còn đi xa hơn nữa : chỉ có thơ, chỉ có văn học mới có khả năng hóa giải
những đau thương, thù hận mà chiến tranh đã gây ra – mặc dù những rào cản mà có
người, trong hay ngoài nước, ngày nay còn cố sức kéo dài.
Nghe qua thì như lời vọng
ngôn của thi sĩ ; nhưng trong thực tế thì từ 30 năm nay, văn chương đã và
đang làm việc này như lời Thanh Thảo phản ánh ý kiến của các nhà thơ
khác : « Chỉ có những người làm văn nghệ mới làm được giải oan cho
dân tộc » ; như vậy trong hoàn cảnh Việt Nam, câu hỏi tổng
quan Thơ đến từ đâu đã có câu trả lời cục bộ : thơ đến từ
những vết thương chung của dân tộc đang đòi hỏi được kéo da non. Các nhà thi
pháp thế giới sẽ ngạc nhiên trước câu trả lời cục bộ này. Nhưng mỗi dân tộc
trong điều kiện lịch sử và địa lý của mình đều có Nguồn Thơ riêng.
Thơ đến từ đâu khởi
đầu là câu hỏi văn chương, trí thức, nhưng đã đưa đến một hồi âm nhân bản, đạo
đức, thiết thực và bức bách của dân tộc, qua một lớp độc giả.
***
Trên cơ bản Thơ đến
từ đâu vẫn là một đề tài lý thuyết nhắc đến bài báo kinh điển của nhà
ngữ học Jakobson Thơ là gì (1934). Nhưng Thơ là
gì truy nguyên đặc tính của ngôn ngữ trên những văn bản đã hình thành,
còn Thơ đến từ đâu tra vấn quá trình thành hình của một văn bản
sẽ được xem là bài thơ.
Thơ đến từ đâu :
nếu xét thơ là một nghệ thuật ngôn ngữ đã được quy định, đã có quy chế có lịch
sử lâu dài, chung cho các dân tộc, thì câu trả lời đơn giản : thơ đến từ
nhu cầu ký ức của nhân loại nguyên sơ, muốn ghi nhớ kinh nghiệm, suy nghĩ, bằng
những câu ngắn gọn, có vần có điệu, dễ nhớ. Nhưng điều này không còn đúng với
thơ trên thế giới từ hàng ngàn năm nay. Vậy Thơ đến từ đâu là
câu hỏi thời sự đặt ra cho các tác giả đương thời, sáng tác trong những điều kiện
xã hội khác nhau. Các tác giả trả lời không phải là lý thuyết gia mà cũng không
có thì giờ giải đáp một câu hỏi phức tạp như thế. Cho nên chúng tôi ghi thêm
kinh nghiệm, có tính cách tiêu biểu, của nhà thơ Pháp Paul Valéry (1871-1945).
« Tôi đã quan sát
trong tôi những trạng thái có thể gọi là thơ, vì một số trạng thái ấy có lúc đã
kết thúc thành bài thơ. Chúng xảy ra không có lý do rõ rệt, từ những sự cố tầm
thường ; chúng phát triển theo bản chất riêng, và do đó trong một quãng thời
gian, tôi bị tách lìa ra khỏi tâm thức thường nhật. Sau đó tôi lại
trở lại với những trao đổi bình thường giữa đời sống và tư tưởng, chu kỳ thơ
này chấm dứt. Nhưng có lúc bài thơ đã thành hình (Valéry
nhấn mạnh), và chu kỳ khi hoàn tất, còn lưu lại điều gì sau đó. Chu kỳ
đã khép lại là một hành động, như đã nâng cao và tái tạo ra bên ngoài một nội lực
thi ca…
« …. » Đại
khái như thế, trạng thái thi ca nhập tâm, phát triển và cuối cùng tan rã trong
chúng ta… Trạng thái thi ca ấy hoàn toàn bất thường, bất định, vô ý, mong manh,
mà chúng ta mất đi hay đạt tới, do tai nạn »(Valéry
nhấn mạnh) [1].
Valéry không dùng từ cảm
hứng quen thuộc (inspiration) vì không ai biết thế nào là cảm hứng, từ ngữ mà
chúng ta cũng dịch thoát, không mấy quan tâm đến hai khái niệm khác nhau :
cảm hứng trong tư tưởng Á đông là một xúc cảm nội tâm, khác với inspiration
trong tư tưởng Tây phương, Hy lạp, như ở Platon chẳng hạn, là một cảm xúc ngoại
nhập, ân sủng của thần linh.
Thơ đến từ đâu,
nhìn dưới một góc độ Việt nam nào đó, còn là một lối đặt vấn đề đối thoại, vì
nó đă có lời giải đáp từ 1942 qua bài thơ Là thi sĩ kinh điển
của Sóng Hồng :
Tìm ý thơ trên ngọn sóng
Bạch Đằng,
Để tâm hồn rào rạt với
Chi Lăng
Làm bất tử trận Đống Đa
oanh liệt.
Sau này Tố Hữu còn đưa ra
một định nghĩa thơ : Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng
chí. Hai tiếng đồng chí của ta thật là đẹp, nó có nghĩa là đồng ý, đồng tình[2]
Cứ như thể chân lý đã rõ
ràng : thơ đến từ trái tim đồng chí, còn hỏi han, phỏng vấn, trao đổi qua
lại làm gì nữa ?
Những giáo điều này ngày
nay không còn mấy ai trích dẫn, nhưng đã lắng sâu vào máu huyết của một thời đại,
mà lại là một thời đại đau thương, và các nhà thơ, như Nguyễn Thụy Kha ở phần
cuối sách còn nhắc lại chính xác. Nó cũng còn in sâu trong tâm thức nhiều người
ngày nay vẫn còn quyền lực, hay ảnh hưởng âm ỉ trong đời sống văn học. Hỏi Thơ
đến từ đâu là vô hình trung đặt lại vấn đề nền móng của một nền văn học,
thậm chí vấn đề lãnh đạo văn nghệ. Mà Nguyễn Đức Tùng, anh là ai mà ra mặt đặt
vấn đề, và đặt cho một đám thi sĩ vớ vẩn ?
Từ đó nảy ra vấn nạn biên
tập, hay kiểm duyệt, đã gây tranh cãi.
Cũng vì vậy mà việc làm của
nhà xuất bản Lao Động, về mặt lý thuyết đã tham dự vào cuộc đổi mới văn học ;
trong thực tế, tạo được cuộc giao lưu rộng rãi giữa 25 nhà thơ độc lập, là một
việc làm dũng cảm đáng đề cao.
Cuối cùng, người phỏng vấn
có thể kéo thòng câu hỏi : thơ đến từ đâu… đến đâu ? Dĩ nhiên là đến
với người đọc. Nhưng liệu người đọc có nhận ra văn bản là một bài thơ hay
không, lại là một quá trình khác. Nhận diện ra chất thơ còn tùy tự do lãnh hội
của độc giả. Tác giả, người phê bình, hay cô giáo có rất ít thẩm quyền. Cô giáo
thuyết phục được học sinh, là nhờ cô có uy hay có tài ; chưa chắc văn bản
đã thật sự là thơ và việc cô làm là đúng.
Như vậy một văn bản đã
hoàn tất khi đến với người đọc phải phát huy được thi tính, mới thành ra được một
bài thơ. Valéry đã lưu ý đến quá trình này khi nói, đại khái : « thi
sĩ không phải là người cảm thấy thi hứng, mà là kẻ gây
ra thi hứng nơi người khác » (sđd, tr.1321).
Thơ là dư vang dừng lại,
đọng lại trong lòng người đọc, khi văn bản đã bay đi.
Là vết máu hồng còn lưu
luyến trần gian, khi hồn của bông hường đã phiêu bạt.
***
Thơ đến từ đâu là
chuyên luận về nghệ thuật, được hiện thể với nghệ thuật, hòa âm được nội hàm
nghiêm túc trong giọng điệu thông thoáng. Kết quả này là do người chủ xướng
Nguyễn Đức Tùng uyên bác, nắm vững lý thuyết thi ca, mà không khoe chữ, đặt câu
hỏi linh động, khi sâu sắc, khi dí dỏm. Người trả lời tinh tế nắm bắt được luật
chơi. Cuộc trao đổi hồn nhiên, nhẹ nhàng, hào hứng nhưng vẫn biểu đạt tư tưởng
sắc bén, chung quanh đề tài được mọi người trọng vọng, hướng về một tiềm năng độc
giả đang khao khát những tư tưởng mới mẻ và chân thực.
Biết đâu khát vọng của độc
giả mới là yếu tố tiềm ẩn thâm sâu làm nên giá trị cuốn sách do nhiều người
cùng viết.
Khát vọng thi ca, hòa hợp
và chân lý.
Chúng tôi mừng chào độc giả Việt Nam.
Chú thích:
[1] Paul
Valéry, Toàn tập, tập 1, tr. 1319-1321, Pléiade, Gallimard, 1961,
Paris.
[2] Tố Hữu, Xây dựng một nền văn nghệ lớn, tr.441, nưb Văn Học, 1973, Hà Nội.
1/1/2010
Đặng Tiến
Theo https://www.art2all.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét