Ẩn dụ: từ tương đồng đến ánh xạ
Trước nay, ẩn dụ được
xem là đặc trưng của ngôn ngữ văn chương, phép tu từ dựa vào sự tương đồng và sự
so sánh ngầm. Khoa học trí tuệ nhân tạo phát hiện ẩn dụ là thao tác của tư duy
và chúng có mặt trong tất cả mọi loại hình giao tiếp, thông qua miền Nguồn cụ
thể bằng phép ánh xạ mà người ta hiểu miền Đích trừu tượng…
Hầu như không cần bàn
cãi, nói tới ẩn dụ là đề cập đến cách diễn đạt bóng bẩy, dựa vào sự tương đồng
của đối tượng được đề cập, người ta mượn cái này để nói cái kia và đó là đặc
trưng của ngôn ngữ văn chương. Ẩn dụ là giấc mơ viễn du của văn chương.
Có thể phân xuất chúng
thành ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ.
PGS-TS Trịnh Sâm
Ẩn dụ từ vựng là kiểu cấu
tạo từ dựa vào một số đặc điểm giống nhau để định danh như dựa tính chất nhô
ra giữa mặt người, hay mặt động vật có xương sống của cái mũi, để gọi
mũi dao, mũi kéo, mũi kim, mũi tàu…, mũi quân, mũi tiến công, mũi Cà Mau, Mũi
Né. Hay dựa vào đặc điểm của chân người để định danh chân núi, chân cầu, chân
bàn ghế, chân nhang, chân cầu thang… Đây là những ẩn dụ chết vì không có sức sản
sinh, cấu tạo rất ổn định và thường người bản ngữ không nhận ra tính chất ẩn dụ
của nó. Điều thú vị là, các nhà tri nhận luận phát hiện rằng, trong tất cả các
ngôn ngữ đều có phương thức dùng những hiểu biết của cơ thể con người từ các bộ
phận bên ngoài cũng như bên trong( nội tạng) từ hình dáng, màu sắc, hoạt động,
trạng thái, tính chất đến cả tư thế ngồi, nằm đi, đứng… để nhận thức thế giới.
Người ta dùng cả hệ lý thuyết nghiệm thân (embodiment theory) để phân tích và
lý giải điều nầy.
Còn ẩn dụ tu từ thường gắn
với ngữ cảnh, có tính sáng tạo, là ngôn ngữ đa nghĩa và giàu hình tượng, là một
kiểu so sánh ngầm, so sánh mà không có yếu tố so sánh. Các ngữ đoạn cá cắn câu,
chim vào lồng trong câu ca dao sau: Cá cắn câu biết đâu mà gỡ, chim vào
lồng biết thuở nào ra là ẩn dụ tu từ. Trong khi, em có chồng
như chim vào lồng, như cá cắn câu hiển nhiên là so sánh.
Một quan niệm như thế tồn
tại trên hai nghìn năm. Cho dù lịch sử ẩn dụ có khi được đề cao trong nghệ thuật
hùng biện, trong thi pháp, chúng là ngôn ngữ của giới quí tộc như xác tín của
Aristote, có khi bị rẻ rúng coi khinh, là “đám ma trơi”, chính ngôn ngữ hình ảnh
làm cho sai lạc suy nghĩ như nhận xét của T. Hobbes và J. Locke, hoặc có tính
chất dung hoà, ẩn dụ chỉ tồn tại trong môi trường đa nghĩa văn chương chứ không
có đất sống trong ngôn ngữ khoa học, bởi diễn đạt của khoa học được xây dựng
trên logic ngôn từ, đơn nghĩa và khách quan như triết gia I. Kant chủ trương.
Năm 1980, cuốn sách Ẩn
dụ mà chúng ta sống (Metaphors we live by) của G. Lakoff và M. Johnson
ra đời gây chấn động không chỉ trong giới ngôn ngữ học. Được gợi ý từ ngôn ngữ
máy tính, từ khoa học trí tuệ nhân tạo, từ kỹ thuật dịch tự động (dịch máy),
hai tác giả trình bày rất thuyết phục về ẩn dụ. Ẩn dụ là ngôn ngữ thường ngày,
gắn liền với hoạt động trí tuệ của con người, ẩn dụ xuất hiện trong mọi lĩnh vực
trong đời sống, từ thần kinh học, luật pháp, kinh tế, âm nhạc đến toán học, vật
lý học. Trong đó đáng chú ý là luận điểm: ẩn dụ là cách ý niệm hoá, giúp
chúng ta hiểu ý sự vật hiện tượng này này thông qua sự vật hiện tượng khác. Và
bao trùm lên tất cả là ẩn dụ được xây dựng trên một phép ánh xạ thông qua những
trải nghiệm hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp của con người, gọi là ẩn dụ ý niệm. Cần
thấy, hai tác giả trên là đồ đệ của Noam Chomsky, ông tổ của ngôn ngữ học tạo
sinh, người có công rất lớn trong việc xác lập bản chất tư duy của con người,
thông qua cặp thuật ngữ đối lập: cấu trúc nổi và cấu trúc chìm. Trong đó, tính
chất modul của nhận thức con người và hoạt động của máy tính được khai thác tối
đa. Trên cơ sở, một mặt kế thừa thành tựu của Ngôn ngữ học tạo sinh, mặt khác
phê phán triệt để những hạn chế của trường phái này, G. Lakoff và M. Johnson,
cùng với những học giả khác tạo nên ngành Ngôn ngữ học tri nhận. Lý thuyết
của hệ phái này khá mới mẻ, được vận dụng nghiên cứu trong nhiều ngành học,
khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội, trong đó có việc phân tích diễn
ngôn văn chương. Ở đây, bài viết chỉ giới hạn trong phạm vi ẩn dụ ý niệm.
Theo cách biện giải này, ẩn
dụ ý niệm là một thao tác của tư duy, thông qua miền ý niệm NGUỒN, thường có những
đặc điểm như cụ thể, vật chất, hữu hình, dễ hình dung, được trải nghiệm nhiều
hơn, bằng phép ánh xạ, con người có thể nhận hiểu miền ý niệm ĐÍCH, thường có
những đặc điểm đối nghịch như trừu tượng, phi vật chất, vô hình, khó hình dung,
ít được trải nghiệm. Chẳng hạn, ta có ẩn dụ THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC thì tiền bạc
là ý niệm nguồn, thời gian là ý niệm đích. Có thể thấy trong tiếng Việt hiện đại
có rất nhiều ngữ liệu minh chứng cho điều này: Quỹ thời gian của tôi
không còn nhiều, Đừng lãng phí thời gian, Bận quá không có thời gian đi siêu thị,
Giết thời gian trong mấy ván cờ, Tiết kiệm được khối giờ, Tiêu mất cả ngày trời
mới hoàn thành được báo cáo, Cảm ơn anh đã dành thời gian tiếp tôi, Cô ấy mất rất
nhiều thời gian cho làm đẹp, Dành thời gian để tập thể dục, Thời gian trận đấu
cạn dần, Ông ấy không còn đủ thời gian, Đại gia đầu tư nhiều thời gian cho cho
giới chân dài, Lập thời gian biểu cho dự án, Để dành thời gian, Tiêu tốn thời
gian vô ích… Rõ ràng, cứ theo cách hình dung trên thì thời gian là tiền
bạc, là hàng hoá, gắn liền với công việc. Thậm chí trong xã hội hiện đại, thời
gian công việc được tính chính xác đến từng giây, một công trình đúng tiến độ,
chậm / nhanh đều gắn liền với giá trị kinh tế, rồi thời gian phục vụ, giờ ở
khách sạn; việc trả lương theo giờ, theo tuần, theo tháng, theo quí, theo năm…
Như vậy, chúng ta nhận thức và trải nghiệm thời gian như đồ vật, như tiền bạc
nên mới có thể chi tiêu, để dành, phung phí, tiết kiệm, lập quỹ, lập kế hoạch…
đó là cách chúng ta ý niệm hoá thời gian. Ta tiếp tục phân tích ẩn dụ ý niệm
sau : TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH. Theo đó, thông qua những hiểu biết
miền nguồn là cuộc hành trình, chúng ta dễ nhận hiểu miền đích tình yêu. Chẳng
hạn, Anh ơi, đừng đi quá xa, hãy để dành cho đêm tân hôn, Cảm em đã đồng
hành cùng anh, Thương nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội… Nhiều
mối quá, anh chàng đang đứng giữa ngã ba đường, Anh với em, đường ai nấy đi,
Tuy con đường phía trước còn gập ghềnh, chông gai, nhưng dù sao quãng đường đã
qua của chúng mình rất đẹp, Tình yêu của họ đi vào ngõ cụt, tình cảm của hai đứa
chẳng đi đến đâu…
Có thể bạn sẽ nghĩ, lập
thức về thời gian là theo tư duy công nghiệp của phương Tây. Còn do tình yêu là
vấn đề muôn thuở, nên ngôn ngữ nào chả thế. Bạn nhận xét hoàn toàn chính xác, bởi
tư duy nhân loại có tính phổ quát. Nhưng ẩn dụ ý niệm không phải là không có đặc
thù. Bạn có bao giờ để ý đến vai trò của sông nước trong đời sống tinh thần và
vật chất của người Việt không? Đi trên bờ mà vẫn dùng lặn lội( lặn
lội đến thăm nhau), lặn khỏi cơ quan, lặn mất
tăm khỏi lớp học, đi trên bờ mà vẫn xin quá
giang (qua sông), trên bờ mà vẫn dùng bến, bến
xe đò… rồi hắn lên nước không coi ai ra gì; biết yếu
nước, nó xuống nước, bỏ nước nhỏ; được nước, thắng
bé càng khóc to… nó bơi môn toán: tràn ngập niềm vui, hạnh
phúc dâng trào, công việc lút đầu; ngập lặn trong
cuộc tình, mới đến còn lạ nước lạ cái, quen nước quen cái, tình
cảm cạn kiệt… Sở dĩ nói được như vậy là vì người Việt thường dùng miền nguồn
sông nước để ánh xạ lên rất nhiều miền đích thông qua các ẩn dụ ý niệm
như: Con người là nước, Hành trình đời người là hành trình dòng sông, Cuộc
đời là dòng sông, Xã hội là vật chứa nước, Nội tâm là mạch nước, Ngôn ngữ là vật
chứa nước, Cảm xúc là nước, Ứng xử của con người là hoạt động, trạng thái, tình
chất của nước.
Có thể tiếp tục nhận diện, phân loại và giải thích một số đặc điểm ánh xạ của người Việt, xuất phát từ một số miền ý niệm nguồn quen thuộc như núi đồi, cây cối, mưa bão, thực phẩm, tri thức, vật dụng… trong mối quan hệ với miền ý niệm đích như cuộc đời, đời người, cảm xúc, lẽ sống, cái chết, không gian, thời gian… mà theo ghi nhận sơ khởi của chúng tôi, là có nhiều khác biệt so với tri nhận của người phương Tây.
4/10/2020
Trịnh Sâm
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét