Miền ý niệm sông nước trong tâm thức của người Nam Bộ
Nói tới vùng đất
Nam Bộ là nói tới vùng đất sông nước. Với tư cách là một mảng hiện thực gần
gũi, quen thuộc, sông nước và những thực thể liên quan đến sông nước có một vai
trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần và vật chất của người dân địa
phương. Từ góc nhìn của Ngôn ngữ học tri nhận, khảo sát mảng hiện thực sông nước,
chúng ta sẽ thu hoạch được những điều lý thú và bổ ích.
1. Do nhiều lý do khác
nhau, sông nước và những thực thể liên quan đến sông nước (từ đây gọi tắt là
sông nước) có một vai trò to lớn trong đời sống tinh thần và vật chất của người
Việt. Theo tri nhận quan, trong tư duy của con người, thực thể nào gần gũi nhất
(chủ đề nào được cộng đồng diễn ngôn quan tâm nhất) thì xuất hiện trước nhất,
xuất hiện nhiều nhất và có tầm tác động lớn nhất. Với tư cách là chủ thể tri nhận,
con người thường phóng chiếu hình bóng của chính mình lên môi trường sông nước,
hẳn nhiên, qua tương tác, môi trường ấy không thể không ngược chiếu lại chính
con người và xã hội. Nói cách khác, thông qua những trải nghiệm có tính tương
tác, con người thường dùng những hiểu biết, những kinh nghiệm từ chính bản thân
mình, từ người khác, từ môi trường xung quanh, bằng con đường dùng một miền ý
niệm, thường có tính vật chất, cụ thể, dễ quan sát và có tầm hiểu biết nhiều
hơn để nhận thức một miền ý miền niệm khác, thường là phi vật chất, trừu tượng,
khó quan sát và hiểu biết ít hơn. Có thể tìm thấy nhiều cách phạm trù hóa và ý
niệm hóa rất thú vị, kết quả của sự ánh xạ từ Con Người – Môi Trường Sông Nước
và ngược lại trong tiếng Việt[1].
PGS-TS Trịnh Sâm
Tuy nhiên, phải thừa nhận
rằng, các công trình về ẩn dụ tri nhận trong tiếng Anh đến nay chỉ tập trung
nghiên cứu các phóng chiếu xuôi, còn theo chiều hướng ngược lại, thành tựu chưa
nhiều. Nói rõ hơn, ngoài một số tri nhận nghiệm thân, hiểu theo nghĩa rộng,
mang tính phổ niệm được phát hiện và đúc kết khá đa dạng, dấu ấn của môi trường
vật chất văn hóa công nghiệp phương Tây kiểu như các ẩn dụ Thời gian là
vàng bạc, Sức lao động là hàng hóa, Giá trị là tiền bạc, Giao thông là nước…,
đặc biệt môi trường thiên nhiên, chăn nuôi gia súc, sản xuất công nghiệp chưa
được phân tích nhiều, trong khi đó, trong tiếng Việt có nhiều khả năng môi trường
vật chất nông nghiệp, sông nước, cỏ cây, núi đồi, đèo dốc, thực phẩm… là những
miền nguồn khá phong phú để kiến tạo nên miền đích[2],
gần đây đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu.
Bài viết này, xuất phát từ
kho tàng tri thức dân gian, cố gắng nhận diện thêm một số đặc điểm nổi trội
trong tri nhận sông nước của người Nam Bộ (NB).
Trong nhận thức của chúng
tôi, đây là một vấn đề không đơn giản, bởi tính thống nhất trong tâm lý dân tộc
của người Việt là khá cao, những mô tả ở sau, chủ yếu dựa vào mức độ thể hiện
các đặc điểm có phần đậm hơn so với các vùng khác, chứ hoàn toàn không căn cứ
vào thế đối lập có/không.
2. Dễ thấy, người Việt
thường dựa vào các ẩn dụ: Phương tiện là vật chứa, Phương tiện là người
bạn đồng hành, Gần gũi vật chất là gần gũi con người… và cả các hoán dụ,Vật
thể thay cho con người, với hàng loạt hoán dụ bậc dưới như Đồ vật
thay cho người dùng, (người sử dụng) Đồ vật thay cho chủ thể sở hữu… tàu,
thuyền được định vị theo bậc thang giá trị xã hội rất khác nhau: thuyền
rồng (Trai ơn vua cưỡi thuyền rồng, gái ơn chồng bồng con thơ), thuyền
chài (Bà chúa phải gai, bằng thuyền chài đổ ruột; Mọt không ăn được cứt
sắt, chó không ăn được cứt thuyền chài), thuyền thúng (Vừa ăn,
vừa chơi vừa thả thuyền thúng, vừa bơi thuyền rồng), thuyền mành, thuyền
câu, thuyền nan, thuyền lá… đều như thế cả[3].
Nói rõ hơn, thuyền được xếp loại không phải xuất phát từ chính bản thân chúng
mà dựa vào chủ thể sử dụng. Ta xét tiếp: chiếc thuyền kia
nói có, chiếc giã nọ nói không, phải chi miễu ở gần sông, em
thề một tiếng kẻo lòng anh nghi, tức vẫn nằm trong phạm vi xây dựng các ý
niệm theo các nguyên tắc vừa nhắc.
Như vậy, bao trùm lên tất
cả là nguyên lý con người là vật thể, nói khác, chúng ta hiểu
và phân loại môi trường vật chất với vật thể và chất liệu gần gũi bằng chính
hình ảnh của con người.
Vẫn trên cái nền không
gian tâm thức ấy như: Bớ chiếc ghe sau chèo mau em đợi,
kẻo giông khói đèn mù mịt tối tăm, hay: Đừng theo cái thói ghe buôn,
khi vui thì ở khi buồn thì đi; Em biểu anh đừng đi bạn ghe chài, cột
buồm cao bao lúa nặng, sợ ngày dài anh xa em; Mồ cha đứa đốn cây bần, không
cho ghe cá đậu gần ghe tôm… thì phương thức biểu
đạt vẫn là các ẩn dụ ý niệm như đã phân tích ở trên, tuy nhiên sự phân loại
phương tiện đi lại trên sông nước của NB có phần hơi khác.
Có thể nói, phạm trù ngữ
nghĩa bậc trên là giống nhau, nhưng ở bậc cơ bản, đặc biệt là bậc dưới, cách thức
cấu trúc hóa ý niệm rất khác. Sự khác nhau không chỉ ở sự phân lập các kiểu thực
thể (types of entities) trong cùng một miền ý niệm mà còn thể hiện ở cách áp đặt
ảnh tượng (image) lên sự vật.
Bên cạnh các tổ hợp định
danh phương tiện khái quát: ghe cộ, ghe xuồng, ghe thuyền…, và
các tổ hợp định danh phương tiện đặc trưng cụ thể: xuồng, tắc ráng (tác
ráng), vỏ lãi… phương ngữ NB có cách quy loại ghe rất
tinh tế, có đến gần 70 tổ hợp định danh, hãy quan sát: ghe bầu, ghe bầu
nóc, ghe bầu lớn (ghe trường đà), ghe be, ghe bè, ghe cà vom, ghe cá, ghe cào,
ghe câu, ghe cửa, ghe chài( ghe bóc chài), ghe chài lớn, ghe chài lồng, ghe
cui, ghe chiến, ghe đục, ghe đuôi tôm then trỗ, ghe lê, (ghe ô), ghe
giàn, ghe hàng, ghe hàng xáo, ghe hàng xén, ghe chạp phô, ghe neo, ghe câu, ghe
chèo, ghe máy, ghe hát, ghe hầu, ghe lái ngoài, ghe lồng (ghe bản lồng), ghe lưới,
ghe lườn, ghe máy, ghe vạch (ghe mỏ vạch), ghe nan, ghe bất mãn, ghe nóc gia,
ghe nhà lá, ghe ngo, ghe trẹt, ghe vợi, ghe đò, ghe giàn, ghe son, ghe sai, ghe
chiến, ghe diệu, ghe tam sắc, ghe vẹm, ghe vạch, ghe khoái, ghe hàng bổ, ghe xệp,
ghe tam sắc, ghe rổi, ghe thương hồ, ghe máy đuôi tôm, ghe sam bu…
Dễ thấy, sự phân loại
này, trước hết, dựa vào các tiêu chí khác nhau của các phương tiện như cách thức
di chuyển, nguồn gốc, hình dáng, cấu tạo, chức năng, và cả tính chất điển dạng
của từng tiểu loại, cũng rất khác nhau. Và có thể nói ngay, hình thức định danh
xuất hiện nhiều yếu tố vay mượn tiếng Khmer và tiếng Trung Quốc (Triều Châu)
như ghe ngo, ghe cà vom, ghe chạp phô, ghe chài (tuk pokchay
hay pok chay), ghe sam bu (sampou)… Thứ đến, vẫn trên nền tảng
của ẩn dụ ghe xuồng là con người, trong đó, chủ thể sử dụng,
chủ thể sở hữu được dùng làm căn cứ để phân loại như ghe hầu, ghe lê,
ghe tam sắc, ghe bất mãn, ghe quốc sự, ghe rổi (nậu rổi)… thậm chí, cơ
sở này có khi lấn át các cơ sở khác.
Chẳng hạn, ghe bầu, Ghe
bầu trở lái về kinh, con gái theo chồng bỏ mẹ ai nuôi, vốn gọi tên theo
hình dáng, một loại ghe được đan bằng tre ngâm, trét nhiều lớp chai hay dầu
rái, ngày trước, hằng năm giong buồm từ Trung Bộ theo gió mùa ở biển chở mắm,
muối, hải sản khô vào NB bán hoặc đổi lấy lúa mang về. Thế nhưng người NB ưa sử
dụng nguồn gốc phương tiện hơn, do vậy khi nói dân ghe bầu, là
chỉ dân Trung Bộ. Liên quan đến ẩn dụ đang bàn, trong tiếng Việt toàn dân
(TVTD) khi gọi ai đó là hũ chìm, với một năng lực tri nhận
bình thường, không khó khi giải mã nó, bởi nó đã trở thành ngữ nghĩa thường quy
của nhiều vùng, thế nhưng khi nói Anh Nam là chiếc xuồng ba
lá, Anh Bắc là chiếc ghe chài[4] nếu
không phải là người NB với tri thức nền xuồng ba lá là người có tửu lượng
thấp, uống ít, nhanh say nhưng cũng nhanh tỉnh, ví dụ: Gặp xuồng ba lá nên
có mấy li mà đã ngủ rồi[5], ghe
chài là người có tửu lượng cao, uống được nhiều, lâu say, lâu tỉnh thì rõ
ràng để hiểu được chúng, quả không đơn giản. Các ý niệm kéo theo
này không chỉ dựa vào sự khác nhau về đặc điểm kích thước, trọng tải, vận tốc,
chức năng khác nhau của phương tiện ghe xuồng mà theo Huỳnh Công Tín dẫn giải: khi
bị chìm thì xuồng ba lá có thể lắc nước, lật lại và dùng đi tiếp được; còn ghe
chài một khi đã chìm thì phải mất nhiều công sức mới có thể trục vớt lên được[6], nói như ngôn ngữ học tri nhận, chúng còn
liên quan đến tính cơ động của của các phương tiện di chuyển trên sông nước
trong miền nguồn.
Về văn hóa rượu, ở đây
còn có khá nhiều ý niệm cũng được xây dựng dựa vào sông nước: Xuồng chìm
tại bến, Quắc cần câu, uống tới bến, nước
chưn… và xa hơn: Mở tạm ở bển cái bến bạ; Lo ra, công việc
mù tăm chưa thấy bến bờ đâu… Dễ thấy, về mặt tri nhận, các ý
niệm này vừa được xây dưng dựa trên nguyên lý tương tự (principle of
similarity) vừa trên cả nguyên lý nổi trội (principle of prominence).
Trở lại với các ý niệm
liên quan đến các phương tiện đi lại trên sông nước, ta có một ẩn dụ rất phổ biến
trong nhiều ngôn ngữ: Tổ quốc là một con tàu (con thuyền)
với hàng loạt ẩn dụ bậc dưới, kiểu như sóng gió, bão táp, thác ghềnh… là khó
khăn, trở ngại của đất nước; biển lặng sóng êm, thuận buồm xuôi gió, xuôi
chèo mát mái… là thuận lợi; người lãnh đạo quốc gia là thuyền trưởng, lèo lái
con tàu là chính sách của một quốc gia… Tại đây, trên bình diện phương ngữ lại
xuất hiện một cấu trúc phát sinh (emergent structure), trong tiếng TVTD con/
chiếc, đều kết hợp được với tàu/ thuyền, con có
phạm vi hoạt động rất rộng, trong khi ở phương ngữ đang xét thì hầu như nó
không có khả năng như thế, con ghe (-), con xuồng ba lá (-), con võ lãi, con
tác ráng (-)…, mà quen thuộc hơn cả là yếu tố chiếc, chiếc xuồng,
chiếc ghe, chiếc vỏ lãi… Phải chăng ngoài cái nghĩa phân lập theo từng đơn vị,
hình ảnh của các vật thể di chuyển trên môi trường bao la sông nước khiến chúng
trở nên nhỏ nhoi, bé nhỏ… đã góp phần hình thành nên nét nghĩa và sự kết hợp có
phần hơi khác so với TVTD? Hơn thế nữa, chúng ta không thể nói Tổ quốc
là một chiếc ghe (một chiếc xuồng), lại càng không thể là một
chiếc vỏ lãi. Phải chăng ngoài tính chất tương hợp về tính chặt chẽ, trang
trọng trong cấu trúc giữa các từ Hán Việt của tổ quốc, tàu, thuyền mà
các từ ngữ thuần Việt cùng miền ý niệm trong phương ngữ không có được, ở đây
còn có nguyên do tri nhận, nói rõ hơn, các ý niệm ghe, xuồng… trong miền nguồn
không đủ tầm vóc, hay nói theo G. Fauconnier và Turner M. (2007) là không xác lập
được một không gian tâm thức chung (generic mental space) để thực hiện một phép
ánh xạ tương đương trong miền đích.
Và khi người NB biểu đạt đi
cùng xuồng, cùng ghe, nghĩa là có cùng một hoàn cảnh, cùng một hội, một
hè với nhau: “Mình đi chung một xuồng, ông Nam Thành hớ. Hễ tụi em mà chìm,
thì ông cùng chìm tuốt theo” (Bình Nguyên Lộc, Đò dọc). Còn khi
nêu nhận xét, lời nói đưa đò hay nói đò đưa thì có nghĩa là lời
nói không thật, nói có tính chất đưa đẩy, không thể tin đươc.
Và cũng giống như ở một số
vùng miền khác, ở đây cách định danh cũng bị chi phối bởi nguyên lý nghiệm
thân, chẳng hạn, dùng bộ phận cơ thể con người để gọi tên vật thể mắt
ghe, mũi ghe (đò), lòng ghe (xuồng), thân ghe (xuồng), bụng ghe (xuồng), hông
ghe (xuồng), lườn ghe (đò, xuồng), đầu ghe, đít ghe, tay chèo, tay lái…
trong đó, phía trước mặt người điều khiển phương tiện là vùng mũi; vùng lái ở
sau (trước mũi, sau lái ), là khu vực chỉ huy có ý nghĩa quyết định như cách
nói trong TVTD: “Thuyền mạnh vì lái, gái mạnh vì chồng, Thuyền theo
lái, gái theo chồng, Lựa chiều bẻ lái, theo nước lượn thuyền”.
Và ở NB vẫn sử dụng nguyên lý: phương tiện nói chung, ghe xuồng nói riêng được
hình dung là vật chứa: trong ghe, trong xuồng;
định vị không gian tùy thuộc vào vị trí của chủ thể phát ngôn : Ngủ dưới ghe,
Rộng cá trên xuồng.
3. Có thể tìm thấy nhiều
ý niệm tương đồng giữa TVTD và phương ngữ NB. Có điều, trong TVTD, sự lựa chọn
các ảnh tượng tuy có bị chi phối bởi nền văn hóa thống nhất, nhưng trên bình diện
khái quát, chúng đều dựa vào sự tương quan có tính phổ biến,trong
khi đó, phải thừa nhận rằng, sông nước có vai trò rất lớn trong việc nhào nặn,
kiến tạo thành một hệ thống ý niệm khá đa dạng trong môi trường NB.
Chưa có dịp thống kê cụ
thể, nhưng có thể ghi nhận bước đầu, trong tri nhận sông nước, ở NB phương thức
đồng xuất hiện trải nghiệm (experiential co-occurrence) lấn át phương thức
tương đồng trải nghiệm (experiential similarity). Điều này có thể giải thích được
vì: (i) Phương thức đồng xuất hiện trải nghiệm dễ quan sát và thường là những
đúc kết đơn giản kiểu như khi đổ nước vào lu, nước càng nhiều thể tích nước
càng lớn; vật chứa càng lớn, vật được chứa càng nhiều, ghe xuồng càng lớn hẳn
nhiên chở được nhiều … hơn nữa phương thức này cũng rất phổ biến trong TVTD như
: Lớn thuyền lớn sóng, nước lên thuyền lên … (ii) Trong khi đó
phương thức tương đồng trải nghiệm phải được xây dựng trên một phép ánh xạ phức
tạp hơn và thường có số lượng không nhiều, nhất là những ẩn dụ tri nhận bậc
trên kiểu như Thời gian là sự vận động của nước.
Có thể nói, người NB
tương tác với môi trường vật chất một cách tự nhiên và thoải mái, tạo nên một bức
tranh ngôn ngữ đầy nhân tính và đến lượt nó chính môi trường hiện thực đã góp
phần tạo nên sự phóng khoáng và lạc quan trong tri nhận. Xem một số mô típ
trong hò đối đáp NB thì rõ[7].
Hãy quan sát thêm:
(i) TVTD:
“Thân em như tấm lụa đào, phất phơ giữa chợ, biết vào tay ai”, “Thân em như hạt
mưa sa, hạt rơi giếng ngọc, hạt ra ruộng cày”;
NB: “Thân em như trái bần
trôi, sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu”.
(ii) TVTD:
“Không mợ chợ cũng đông”;
NB: “Có ai nước cũng đứng
bờ, không ai nước cũng đứng cơ mực này”.
(iii) TVTD:
“Mèo lành ai nỡ cắt tai”;
NB: “Ghe lành ai nỡ trét
chai”.
4. Quan điểm nổi trội
không chỉ chi phối cách lựa chọn các quan hệ cú pháp, các tiêu điểm thông báo
trong mô tả một sự tình như sơ lược đề cập ở trên mà thông qua các giác tượng
(sensory image), có thể tìm thấy ít nhiều sự khác biệt trong nhận thức của cộng
đồng diễn ngôn.
Bên cạnh cách tri nhận
theo mô thức: vật chứa (nhân tạo hay tự nhiên) + vật được chứa là nước,
kiểu như: ảng nước, lạch nước, ghè nước… cho thấy tính thích
nghi của nước và một số hoạt động – tính chất – trạng thái của nó như: lên/xuống,
đầy/ vơi, đục/ trong, lớn /ròng, nổi/chìm, bơi /lặn/ lội, ngụp… làm miền
nguồn để phóng chiếu lên miền đích trong nhiều phạm trù tinh thần, rất phổ biến
trong tiếng Việt, nhìn chung người NB phân loại nước chi tiết hơn và khác lạ
hơn so các vùng khác. Nói
cụ thể, bên cạnh 117 kết hợp quen thuộc[8], để
định danh loại “chất lỏng không màu, không mùi tồn tại trong tự nhiên”, theo
quan sát của chúng tôi, riêng trong Từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị(1896) có trên
30 ngữ đoạn định danh nước có nét riêng của phương ngữ.
Trước hết, đáng chú ý là
cách phóng chiếu theo thang độ nhân tính (human scale) để nhận diện nước kiểu
như: nước bò, nước đứng, nước nhảy, nước chạy, nước nhửng, nước rọt, nước
rông, nước ương…, và cả nước quạu, nước cà tửng, nước rọt rẹt,
nước re re… như cách nói ngày nay. Điều này có thể giải thích được,
sông nước vốn là một thể liên tục, nhưng để đạt được một mục đích nào đó, con
người phải áp đặt một ranh giới nhân tạo làm cho chúng phân lập, riêng lẻ như
chính sự hiện hữu của con người cá thể trên một mặt phẳng. Và trong trường hợp
này, không gì thích hợp hơn là dùng trải nghiệm về đặc điểm, về hoạt động của
chính con người chúng ta gán cho sông nước. Tất nhiên, về mặt sâu xa còn bị chi
phối bởi các ẩn dụ đã hằn sâu trong trí não của người Việt kiểu như sông
nước là vật thể, sông nước là vật chứa, sông nước là con người, sông nước là xã
hội, ứng xử của con người là hoạt động của nước…
5. Như chúng ta điều biết,
ngôn ngữ học tri nhận không xem xét con người tách khỏi môi trường chung quanh,
tách khỏi người khác mà như một chủ thể tương tác. Từ đó những tổng thể trải
nghiệm được hình thành và các chủng loại trải nghiệm này không chỉ luôn được mở
rộng mà còn thường xuyên được kiểm tra thông qua sự nhận hiểu của các thành
viên trong một cộng đồng diễn ngôn.
Như vậy, con người thường
xuyên tương tác với thế giới vật chất, thậm chí những trải nghiệm vật chất là
cơ sở để xây dựng nên những ý niệm phi vật chất, và việc hình thành nên những ý
niệm như đã thấy, không hoàn toàn dựa vào những đặc trưng cố hữu của sự vật, hiện
tượng mà có thể nói một cách cực đoan, chúng thường tương ứng với những đặc
trưng tương tác. Bởi vì, các ý niệm tuy về bản chất mang tính ẩn dụ nhưng có thể
khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau. Điều này không chỉ chính xác trong
các ngôn ngữ mà còn tỏ ra có sức giải thích ngay trong lòng một ngôn ngữ có những
môi trường sinh hoạt vật chất khác nhau.
Bên cạnh câu tục ngữ sông
nước rất phổ biến trong tiếng Việt: Ăn như rồng cuộn, làm như cà cuống
lội nước, hãy xem xét một số ý niệm, xuất hiện ở ba vùng sau:
Bắc Bộ: Ăn như
thuyền chở mã, làm như ả chơi giăng
Trung Bộ: Ăn như
còng chạy, làm như mài mại bơi
Nam Bộ: Ăn như
xáng xúc, mần như lục bình trôi
Dễ thấy, xét về nhiều
phương diện, các diễn ngôn này có cùng chung một mô thức. Về nội dung, Ăn
= hưởng thụ, làm = lao động, lẽ thường theo một chuẩn mực nhất định (tay
làm, hàm nhai), hai phương diện này phải thống nhất với nhau, thế nhưng ở đây lại
không như thế, do vậy, thông điệp mà người nghe nhận được là phê phán
thái độ làm thì biếng nhác, chây lười còn việc hưởng thụ thì ngược lại, còn về
mặt hình thức, tất cả ba diễn ngôn đều dùng phương thức so sánh theo sự lựa chọn
các khía cạnh nổi trội khác nhau. Có thể mô hình hóa khuôn biểu đạt như sau: A
thì x, B thì y, trong đó x và y có nghĩa đối lập nhau.
Trước nay, các câu tục ngữ
trên được nhận diện như là những biến thể, tức về cơ bản là những diễn ngôn đồng
nghĩa. Nhận định này không sai, nhưng rõ ràng chưa bao quát hết phương diện ngữ
dụng của chúng, nhất là về phương diện văn hóa nhận thức. Theo tri nhận luận,
con người lựa chọn chi tiết nào trong một tổng thể sự tình là có lý do, bởi
trong diễn đạt chúng ta thường không gian hóa các hình thức ngôn ngữ và các
hình thức này có được nội dung nhờ vào các ẩn dụ không gian hóa đó. Nói đơn giản,
ngôn ngữ được hình dung là một vật chứa (hình thức) mà theo kinh nghiệm khi vật
chứa thay đổi thì ắt hẳn vật được chứa (nội dung) cũng thay đổi theo, do đó,
hình thức ngôn ngữ khác, ngữ nghĩa sẽ khác, thậm chí càng nhiều hình thức càng
nhiều nội dung (More of form is more of content)[9] và
ngôn ngữ học tri nhận không công nhận có loại câu đồng nghĩa.
Trở lại các diễn ngôn tục
ngữ đang xem xét, có thể thấy dấu ấn văn hóa và đặc điểm môi trường vật chất là
khá rõ nét. Bắc Bộ còn đậm ảnh hưởng của văn hóa truyền thống , việc cúng giỗ với
việc đốt hàng mã khá phổ biến, thuyền chở mã nhẹ đi trên sông nước hẳn là di
chuyển rất nhanh, trong khi hình ảnh đối lập được lựa chọn là một cô gái thơ thẩn
ngắm trăng, còn hiện thực sông nước Trung Bộ được lựa chọn là hình ảnh còng
chạy và mài mại bơi [10] và
ở NB hình ảnh xáng xúc phù sa đối lập với những giề lục
bình trôi được lựa chọn như những ảnh tượng nổi trội.
Rõ ràng, các ý niệm ở đây
được lựa chọn và cơi nới theo tư duy và ngôn ngữ hình tượng mang dấu ấn của từng
vùng văn hóa, dù xét chúng từ góc độ nào cũng không thể xem là đồng nghĩa được.
Công nhận đồng nghĩa là tước đi cái vẻ đa dạng trong kiến tạo ý niệm, tức cũng
có nghĩa là đồng nhất chủ thể tri nhận, làm nghèo đi tính hợp lý tưởng tượng
(imaginative rationality) của tư duy.
6. Có thể kể đến đặc
trưng cấu tạo- ngữ nghĩa có phần thô ráp của địa danh NB. với nhiều yếu tố sông
nước thuần Việt và cả vay mượn như: Bến Nghé, Bến Tre, Bến Dược…, Vàm Cống, Vàm
Cỏ, Vàm Cái Thia…, Kinh Tàu Hũ, Kinh Bàu Ót, Kinh Ruột Ngựa…, Rạch Chiếc, Rạch
Sỏi, Rạch Choại…, sự phân loại khá chi tiết một số vật chứa nước tự nhiên hoặc
nhân tạo như: lạch, ngòi, rẻo, kinh, rãnh, xẻo, láng, lung, ngọn, rọc, bưng, biền,
trấp, vũng, tắt…, bên cạnh một số ẩn dụ ý niệm sông nước phổ biến trong
TVTD đã được đúc kết, còn có thể kể thêm một số ẩn dụ nổi trội ở NB. như
: Tánh thủy là tánh phật (Sư Minh Đăng Quang, hệ phái phật
giáo Khất Sĩ) Thời gian là sự vận động của nước,Nổi thì hướng
lên, chìm thì hướng xuống, Xuôi dòng thì hướng lên, ngược dòng thì hướng
xuống…
Tuy nhiên, có thể nói được rằng, cách thức tương tác theo hướng xuôi, tức con người phóng chiếu lên hiện thực, hoặc ngược lại, tức, hiện thực tác động đến con người trong phương ngữ, về cơ bản là khá giống nhau trong tiếng Việt. Có điều, tính chất hòa hợp và thích nghi hơn là chế ngự và thống trị môi trường sông nước của người NB có phần đậm nét hơn. Chính điều này, chi phối đến điểm nhìn và cả sự lựa chọn độ nổi trội trong tri nhận.
Chú thích:
1. Xem Trịnh Sâm (2011), Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt, tạp chí Ngôn ngữ, số 12, tr.1- 15, ( 2011b), Dòng sông và cuộc đời, tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 10, tr.31-34 và (2013), Lạm bàn về chữ Thủy trong văn hóa Việt, Báo Văn hóa, Bộ VHTT& DL, Xuân Quý Tỵ.
2. Chẳng
hạn, tiếng Việt xuất phát từ ẩn dụ, Con người là cỏ cây, Đời người là
cây cỏ, có khá nhiều trường hợp dùng phương thức định danh thực vật để
gọi tên các bộ phận cơ thể con người như quả/trái tim, thận, cật… lá
gan, phổi, lách… bắp tay, chân, vế… sọ dừa, khỉ (đầu)… Hãy quan sát
cách dùng cây, quả để định danh cặp vú của phái nữ sau đây thì rõ: bầu
vú, bầu sữa, quả lê, quả mướp, quả đào, đôi quả hồng đào, cặp bưởi, núm cau, chủm
cau…
3. Cần
lưu ý, trong cuốn Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, một cuốn từ điển
Hán Nôm in năm 1761 có bài thơ Thuyền Xe, xuất hiện khá nhiều thuật
ngữ, giải thích về nhiều chủng loại thuyền, cấu tạo cũng như cách thức vận hành
chúng, trong đó có nhiều từ ngữ hiện nay vẫn còn được người Nam Bộ sử dụng. Xem
thêm, Phan Cẩm Thượng, 2011, Văn minh vật chất của người Việt, Nxb
Tri Thức tr.88-92.
4. Ghe
chài tức ghe bóc chài, không phải là ghe đánh cá, mà là
ghe chở lúa, ghe ăn lúa, còn bạn ghe chài không
phải là bạn trên thuyền đánh cá mà bạn chài trên ghe chở lúa. Theo Vương Hồng Sển,
(1993,1999 ),Tự vị tiếng nói miền Nam, Nxb. Trẻ, tr. 360 -63, ghe
chài có nguồn gốc từ tiếng Khmer là tuk pokchay hoặc pok
chay.
5. Ví
dụ minh họa mượn của Huỳnh Công Tín,( 2007), Từ điển từ ngữ Nam Bộ,
Nxb. Khoa học Xã hội tr. 1834.
6. Ví
dụ minh họa mượn của Huỳnh Công Tín,( 2006) ), Cảm nhận bản sắc Nam Bộ,
Nxb. Văn hóa –Thông tin tr.13.
7. Hình
ảnh cô gái NB trong chiếc áo bà ba, tấm khăn rằn, đứng điều khiển xuồng trước
bao la sông nước, động tác rướn chèo trong gió đã phô diễn hết cái vẻ đẹp hình
thể của người phụ nữ, khiến dân gian tức cảnh sinh tình: Nước chảy láng
linh chảy ra Vàm Cú, Thấy dạng em chèo cặp vú muốn hun.
Môi trường sông nước,
đi lại khó khăn, bùn đất chưa phải là những trở ngại trong tình yêu, hãy chú ý
đến các câu hò đối đáp sau, Nữ: Lỡ chưn em té xuống bùn, Áo quần lem lấm
hỏi anh hun chỗ nào; Nam: Bậu ơi, đừng nói tầm phào, Thân em
lem lấm chỗ nào qua cũng hun;Táo bạo hơn: Nữ: Xăn quần em lội qua
lung, Quần em tụt xuống hỏi anh hun chỗ nào? Nam: Qua hun thì
hun má đào, Chớ quần em tụt xuống thì qua cặm sào ngủ luôn.
Dùng các công cụ trong
môi trường sông nước như cái cớ để nói lái, chơi chữ rất độc đáo: Đệm
BA THU mà em còn chê đươn chưa khéo, chờ cho trăng lặn rồi em đòi đấp xéo mới
nghe. (BA THU: một nơi nổi tiếng về đan đệm, tụng, giỏ lác).
8. Thống
kê của Nguyễn Thị Thanh Phượng, (1997) Tìm hiểu từ ngữ sông nước trong
đời sống văn hóa Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn Tp. HCM.
9. Tư
tưởng này là của G.Lakoff và M. Johnson (1980, 2003) tr.127. Xem thêm Trịnh Sâm
(2015), Hình thức và nội dung nhìn từ tri nhận luận (Một
vài ghi nhận), tạp chí Ngôn ngữ, số 7.
10. Không
phải là cá mại nước ngọt như một số từ điển giải thích mà là một
loại sinh vật, hình dáng giống loài cua,nhưng nhỏ bằng đầu ngón tay, sống ở
vùng nước lợ như cửa biển, chúng thường trôi chậm chạp trong nước, khi nước thủy
triều xuống, chúng đeo bóm vào nhau hoặc chạy thành từng bầy trên cát, xem thêm
Nguyễn Đăng Vũ (2020).
11/10/2020
Trịnh Sâm
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét