Thơ Vũ Từ Trang trong hành trình “thăm thẳm và mênh mông” đi tìm cái đẹp
Vũ Từ Trang là cây
bút đa năng. Anh viết nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết, khảo cứu, chân dung văn
học. Ở thể loại nào anh cũng để lại những dấu ấn đáng ghi nhận. Chính vì vậy
nhà báo Nguyễn Thế Khoa đã cho rằng Vũ Từ Trang là “một tài hoa toàn diện của
quê hương Kinh Bắc”. Cho đến nay, VTT đã xuất bản 19 đầu sách với gần 5000
trang viết, trong đó có 6 tập thơ: Nắng lên cao (1977), Thời
trai trẻ (1996), Ngược dốc (1999), Lẻ và
không lẻ (2002), Những vòng tròn đồng tâm (2011), Cây
chuyển mùa (2016).
Viết văn nhiều, nhưng thơ
là cái nghiệp chính của Vũ Từ Trang; trong sâu thẳm và trên tất cả anh là một
nhà thơ, mang cốt cách và phẩm chất của một nhà thơ.
Nhà thơ Vũ Từ Trang
Thơ Vũ Từ Trang (VTT) đã
xuất hiện từ rất sớm. Ở tuổi 21, anh đã có chùm thơ in trên báo Văn Nghệ năm
1969. Từ đó đến nay, trên hành trình dằng dặc trong miền sương khói trầm mặc của
thơ, VTT đã để lại ấn tượng trong lòng người đọc: Một nhà thơ tài hoa với vẻ đẹp
tâm hồn, với những “giọt” thơ lặng thầm, tinh tế. Người đọc gặp trong thơ anh một
người khao khát vô bờ về một chân trời thi ca, mộng tưởng và cái đẹp vĩnh hằng.
Thơ VTT nhiều hoài niệm.
Anh hay “đi tìm thời gian đã mất”. Này đây, hoài niệm về một thời tuổi trẻ “khát
vọng cuồng điên” với bao hoài bão, với cả những nỗi “vui buồn chưa kịp đặt
tên”.
“Hai mấy năm trời nhớ nhớ
quên quên
rừng dương xưa chưa lần
trở lại
chợt nghe ABBA lòng thành
ngây dại
nhớ một thời khát vọng cuồng
điên
nhớ vui buồn chưa kịp đặt
tên
nắng nghẹn con đường cỏ rối”
(Chợt nghe ABBA)
Nhớ. Bởi “tuổi trẻ chẳng
hai lần thắm lại”.Và cũng bởi “có ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông?”
Này đây, một người thơ đa
cảm, hay buồn, hay nhớ khi nghĩ về kỷ niệm xưa. Bài thơ “Thị trấn bỏ quên” chứa
đựng những ký ức, hoài niệm về một thời với bao êm ấm, trong lành, thanh thản,
bình yên. Cái “thị trấn bỏ quên” ấy với hoa ti gôn, mái nhà xưa, cây cầu, vạt đồi
ngập nắng. Và em. Và cả một giấc mơ thời trai trẻ. Thơ VTT ở bài này là tiếng
nói nhỏ nhẹ, hiền lành, bình dị, tha thiết, đi vào lòng người một cách tự
nhiên, sâu sắc.
Này đây, bài thơ “Đồng hồ
tích tắc” với những kỷ niệm về một thời đã xa “Ngày ấy mẹ cha tản cư chống
Pháp”. Cảnh vật yên lành, nghèo nàn, gợi bao xa xót, mến thương, “Dăm nếp
nhà, ấp nhỏ xác xơ”. Và chiếc đồng hồ nhỏ thân thương- vật chứng của một thời,
gợi trong lòng người thơ bao nỗi nhớ:
“Tôi lên thăm, ngơ ngẩn lắng
nghe…
Tiếng kêu nhỏ rã rời,
tích tắc
Tích tắc…vọng xa, cha mẹ
xa rồi
Tiếng kêu nhỏ, mỏi mòn
nghẹn nấc
Sắn cùng khoai che lấp
khoảng trời”
Thương lắm “ngày xưa
ơi…”. Đọc bài thơ, tôi nao nao nghĩ thế.
Này đây, một VTT thương
nhớ người bạn đã đi xa mãi mãi trong bài “Bạn”:
“Bạn đã xa, nhà đã bán
Đời người còn nhúm xương
thôi
Công danh, tiền bạc nhòe
sương khói
Cửa đóng
…mình tôi đứng gọi tôi!”
Về bài thơ này, VTT kể:
“Bài thơ có mấy dòng mà tôi viết chật vật lâu mới thành. Đấy là cảm giác buồn,
khi Phạm Gia Bình bạn tôi ra đi (…). Phải đến mấy tháng sau ngày Bình mất, nhớ
Bình, thi thoảng tôi vẫn có thói quen phóng xe lượn qua ngôi nhà ấy. Có khi cửa
mở, cửa khép, nhưng cái cảm giác thiếu vắng hẫng hụt thì không thể có gì thay
thế”.
Đằng sau tâm trạng nhớ
thương bạn ấy của tác giả, ta còn đọc một nỗi buồn tê tái, nỗi buồn nhân sinh,
buồn cho cái phù du ngắn ngủi của kiếp người, buồn cho cái rời xa mãi mãi.
Này đây những câu thơ về
“em”:
Có khi nồng nàn với bao
thương mến, khao khát:
“Muốn cắt trời xanh may
áo cho em
Khoác đám mây kia lên mái
tóc ngoan lành
Muốn ru em trong vòng tay
vụng dại
Lại ngỡ ngàng con đường
xa xăm”
(Lời ngỏ)
Có khi vừa dịu dàng xao
xuyến nhớ thương, vừa thảng thốt đầy tiếc nuối:
“Mai em đi, mai em đi ư?
Thơ anh tan nát vạn con
đường
Lòng anh rối răm bờ cỏ ướt
Cho gót chân em in nhớ
thương”
(Mai em đi)
Những câu thơ đẹp và buồn,
để lại cho người đọc bao rưng rưng trong tâm cảm.
Là người đi nhiều (bạn bè
gọi anh là kẻ giang hồ vặt), đi đến đâu VTT gửi lòng mình ở đó.
Này đây một “Góc nhỏ Quy
Nhơn”, yên bình, tĩnh lặng, nao buồn, với:
“Phố nghèo chập chờn người
chìm trong gió mặn
Mái tóc dài ngủ quên bên
cửa sổ chờ trăng
Câu thơ tơ trời giăng
giăng góc phố”
Này đây một Phan Rí trong
những ngày “Hạ khát”:
“Cát đỏ rực dưới bầu trời
mùa hạ
Nắng như rang và gió như
phang
Mảnh đất cằn tâm hồn
phóng túng
(…)Mưa
mưa
giấc mơ
xa xỉ quá chừng”
Và đây, một lần “Về Phan
Thiết”:
“Rượu rót rồi tôi không nỡ
uống
Uống làm sao khi mai phải
chia xa
Tôi muốn qua sông mà cầu
đã bỏ
Biết bao giờ người bắc lại
cầu qua
Biết bao giờ về lại Phan
Thiết
Nơi góc vườn bỏ sót một
chùm hoa”
Bài thơ đã nói lên một tấm
lòng yêu cuộc sống đến đằm sâu, da diết. Đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Chỉ có những người
giầu tình cảm mới có những dòng thơ như thế.
Vũ Từ Trang có nhiều bài
thơ để lại ấn tượng trong lòng độc giả, trong đó phải kể đến bài “Trăng Phồn
Xương”. Bài thơ được đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội (1978). Sau này, trước
khi được in ở nhiều tuyển tập trong đó có tuyển tập “Thơ Việt Nam thế kỷ 20”
(Thơ trữ tình), “Trăng Phồn Xương” đã nhận giải thưởng của báo Nhân Dân năm
1978.
Bài thơ như một lời
kể, làm theo thể “hành” cổ điển.
Cảm xúc về một vùng đất
Yên Thế trữ tình và thượng võ, tứ thơ “Trăng Phồn Xương” vụt đến với người thơ
trong một căn gác nhỏ của phố Mã Mây (Hà Nội).Vẫn là vầng trăng ấy nhưng vào mỗi
thời điểm khác nhau của lịch sử, “trăng” lại hiện lên một khác.
Ở đại bản doanh của nghĩa
quân Đề Thám chống Pháp thì vầng trăng thật dữ dội trong một khung cảnh hùng
tráng:
“Ấy là đêm trăng thành Phồn
Xương
Đồi tung bụi lốc, cây ngả
nghiêng
Giáo mác lập lòe dựng bên
suối
Mây trời vần vụ, trăng đỏ
ối
Mặt trăng như một bát máu
thề.
Giọng thơ ở đây rắn rỏi,
gân guốc, có chút ngang tàng hảo hớn.
Còn vào thời điểm chống Mỹ
cứu nước thì vầng trăng lại trữ tình, êm ả, trẻ trung, tràn đầy cảm xúc:
“Ấy là đêm trăng thành Phồn
Xương
Trai làng, gái làng đất
Nhã Nam
Súng đón máy bay giặc bổ
kích
Bao đạn bên sườn va lách
cách,
Vàng ươm mấy chiếc mũ rơm
tròn
Hoa dẻ rừng thơm mái tóc
ướt
Và trăng đêm ấy khi hiện
khuất
Trăng như ánh mắt gái dân
quân.”
Giọng thơ ở đây lại mềm mại,
dịu dàng, thiết tha.
…Ở tuổi 70, nhà thơ VTT vẫn
cường tráng, nhanh nhẹn. Tuy nhiên, không ai ngờ con người tràn đầy sinh lực ấy
từ năm 2017 phát hiện mình mắc căn bệnh hiểm nghèo. Nếu khổ nạn lớn nhất của đời
người là cái chết thì VTT đang phải đối mặt với nó. Cuộc đời anh đã rẽ sang một
bước ngoặt. Lúc đầu VTT không khỏi sốc, bàng hoàng…
Đây là những dòng thơ
“thương thân”, rất thật, rất “người” của VTT khi anh “nói” với hương hồn cha mẹ
trong những tháng ngày buồn bã ấy:
… “Có phải mẹ về
Mà giàn trầu rung lá
Mà hoa cau thơm ngần sân
nhà ta
Mà nền nhà còn hơi chân ấm
Thương con bệnh trọng
Mẹ ơi, khăn mẹ ướt đầm,
xin mẹ đừng khóc
Cha thương con chí còn
chưa cạn
Đường đời lận đận
Con nhớ lời cha tu nhân,
tu đức
Con ngược dốc
Đời con luôn ngược dốc
Dâng nén hương
Mẹ cha vỗ về”
(Ẩn ức)
Những câu thơ tê tái, buồn
đến não lòng như không thể buồn hơn. Những ai yêu quý nhà thơ đọc lên… chỉ muốn
khóc.
Nhưng nghệ thuật là một sự
giải phóng. Khi số phận đã giáng cho anh những đòn chí mạng, thì sau cú sốc ban
đầu, ta lại gặp trong thơ anh một VTT kiên cường, rắn rỏi, vượt lên, đương đầu
với số phận:
“Anh không sợ nỗi buồn sập
đến
Buồn ơi, tan đi, ta phải
cố lên nhiều
Dẫu dông bão, vạn ngàn bất
trắc
Cây vẫn chuyển mùa, chồi
lá lại tươi non”
Nhà thơ VTT vẫn lạc quan
viết những câu thơ:
“Mình có là ghì đâu
Một tia nắng mong manh
Một lá cỏ rưng rưng đằm
sương trong suốt
Một ngọn khói chiều bảng
lảng vị rạ rơm…”
2. Vũ Từ Trang vẫn tâm niệm; “Làm
thơ là cuộc hành trình đi tìm cái Đẹp.Cuộc hành trình ngày càng thăm thẳm và
mênh mông”. Và anh “Mong câu thơ ngày viết có ích hơn”. Từ những
bài thơ trữ tình tâm tư đến những bài trữ tình công dân, từ những bài vui đến
những bài buồn (mà hầu hết là buồn), thơ anh đã làm đẹp tâm hồn người đọc theo
hướng tích cực, nhân bản. Trong những vẻ đẹp thì cái đẹp của tâm hồn là cái đẹp
vĩnh hằng. Người đọc sau khi cảm nhận cái hay, cái đẹp của thơ anh, sẽ làm giầu
thêm tâm hồn của chính họ. Lúc đó thơ anh đã “có ích”.
Những ngày tháng chống chọi
với bệnh tật, nhà thơ VTT như đang chạy đua với thời gian, với số phận. Anh viết
gấp gáp hối hả, như con tằm rút ruột nhả những sợi tơ. Viết để cống hiến, để
không gục ngã trước bệnh tật, để quên đi bệnh tật. Trong khoảng hơn một năm trở
lại đây, anh đã hoàn thành hai tập chân dung văn học, một tập khảo cứu, một
tập tiểu thuyết. Đặc biệt cuốn tiểu thuyết “Và khép rồi lại mở” là “những
trang văn đẹp đến lung linh, đau đớn da diết đến thắt lòng” về những người dân
trong làng, những người thân trong họ, những người thân yêu trong gia đình; về
làng quê Trang Liệt yêu dấu của anh với bao hồn quê, nét quê. Anh viết về
cái làng quê ấy như để lưu lại ký ức về làng, để ký thác với hậu thế; viết như
một lời cảm ơn sâu sắc, như để trả món nợ ân tình với quê hương, gia đình trước
lúc đi xa. Cảm phục anh biết mấy.
Hải Dương, 16/7/2020
Nguyễn Thị Lan
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét