Những miền quê trong thơ Đoàn Thị Ký
Cái được nhiều trời
chỉ dành cho chị đó là sự từng trải, được sống và gắn bó nhiều với các miền quê
và cũng chính nhờ sự được đi, được sống, được gắn bó ở khắp các miền quê ấy nên
chất liệu đời sống hiện thực đã tích tụ thành thi liệu đầy ắp trong chị để rồi
đến tháng, đến ngày tự nó nở ra một miền thơ tươi thắm, mặn nồng, thơ mộng…
Quê gốc Đoàn Thị Ký ở
làng Tiên Du – Bắc Ninh nhưng chị được sinh ra và lớn lên tạị Nông Tiến – Thị
xã Tuyên Quang (nay là thành phố Tuyên Quang). Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Thái
Nguyên chị về làm công tác giảng dạy văn học tại trường Cao đẳng Sư phạm Tuyên
Quang rổi chuyển công tác về Báo Tuyên Quang. Năm 1982, tỉnh thành lập Hội Văn
học nghệ thuật, chị được biệt phái sang hội phụ trách mảng biên tập thơ của tờ
Văn Nghệ Hà Tuyên (nay là Báo Tân Trào). Sau đó chị đi học tiếp Trường Viết văn
Nguyên Du và về công tác tại Tạp chí Kiểm Tra Trung ương. Ở đây chị mới xây dựng
tổ ấm gia đình và công tác cho đến lúc nghỉ hưu (2005).
Nhà thơ Đoàn Thị Ký
Nhìn trên bản trích ngang
quá trình công tác thấy cuộc đời chị là những xê dịch, liên tục xê dịch. Có lẽ
từ lí do xê dịch ấy nên sự nghiệp, đời tư chị cũng chất trưởng, chẳng mấy gì
may mắn. Nhưng ở đời, ông trời cho ai cũng chả cho tất cả mà lấy của ai cũng chả
lấy sạch trơn! Trong cái chất trưởng ấy chị lại được nhiều, cái được nhiều ấy
trời chỉ dành cho chị đó là sự từng trải, được sống và gắn bó nhiều với các miền
quê trên đất nước và cũng chính nhờ sự được đi, được sống, được gắn bó ở khắp
các miền quê ấy nên chất liệu đời sống hiện thực từ mỗi miền quê, mỗi vùng đất
đã tích tụ thành thi liệu đầy ắp trong lòng chị để rồi đến tháng, đến ngày tự
nó nở ra một miền thơ tươi thắm, mặn nồng lồ lộ những miền quê vừa thơ mộng vừa
nhọc nhằn gian khổ!…
Nhận xét như vậy có thể
là chủ quan theo cảm tính của cá nhân tôi nhưng mỗi lần giở lại văn bản thơ chị
từ tập: Dòng sữa nuôi tôi đến Cô gái và Cầu vồng rồi Nửa vòng Hoa gạo, Hà Nội
thời có Nhau… đều thấy dấu ấn những địa danh, những vùng quê đan xen lấp lánh
trong thơ chị.
Miền quê trung du
Những quả đồi chạt nắng
Miền quê yêu thương
Xa xa. Dài nỗi nhớ!
Là một trong những bài
thơ đầu mùa của chị nhưng nó đã được sống cùng hành trình của những người lính
trên đường hành quân ra trận. Có lẽ khi viết bài thơ này lòng chị đã đồng hành
với những người lính thời bấy giờ nhất là những người lính quê ở trung du. Khi
thơ in ra, những người lính thời ấy đã đón nhận nó một cách tự nhiên và họ đã
theo thơ về gặp những dòng sông để rồi nhìn thấy một điều giản đơn nhất, gần
gũi nhất đó là quê mình, nơi mình sinh ra và lớn lên mà tự bền bỉ trong nhiệm vụ
của mình với quê hương, đất nước.
Miền quê trung du
Sá cày đi bụi trắng lông
mày
Cọng rạ không vương bờ cỏ
Bữa cơm ngày mùa
Sắn đánh tơi quện hương gạo
mới
Đất nước còn nghèo!…
(Miền quê trung du)
Hình bóng quê hương hiện
ra trong thơ không phải là cái gì xa lạ mà chính là bữa cơm độn sắn, là sá cày
đi bụi trắng lông mày… phải gắn bó thật sự với nông dân thì mới viết ra được những
câu thơ như vậy.
Đoàn Thị Ký có thơ in vào
thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ đang đi vào giai đoạn ác liệt nhất. Thơ ca buổi
ấy là tiếng thơ hùng tráng vừa thể hiện hào khí của dân tộc vừa cổ vũ động
viên: Đêm hành quân thả tâm hồn đi trước, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này
chăng, Ta đi nghe xôn xao trong gió thoảng mây ngàn… Lẫn trong giọng
điệu ấy nhưng thơ chị lặng lẽ, giản dị và giàu hình ảnh. Chỉ cần một biểu tượng
cây cau già thôi nhưng nó lại như một dấu ấn khắc sâu trong lòng người xa quê,
nhất là những tràng trai quê lòng đầy mơ ước thuở bấy giờ trên đường ra trận
đánh giặc.
Cao hơn lũy tre làng,
Thấp hơn ông trăng một với,
Là cây cau già nhà tôi…
……
Tuổi trẻ chúng tôi nhiều
mơ ước
Về những chân trời mới mẻ
Chân trời đi đánh Mỹ
Bóng cau theo tôi ngả
dài…
(Cây cau già nhà tôi)
Cây cau ở đây như một nét
vẽ vút lên để tự bày ra trong lòng người đi xa toàn cảnh làng xóm quê mình…Bắt
vào mạch cảm xúc này thơ chị giống như khe nước biết đổ ra biển cả nhưng lại
như mây bay biết tìm về nơi mình sinh đẻ còn đầy gian lao khổ nhọc mà thân
ái, sẻ chia với những con người còn một nắng hai sương làm ra củ khoai, hạt
gạo.
Tay cấy lúa nước bốc hơi
hầm hập
Thương lúa giữa trời chả
nón che thân
Bóng lúa nương nhau hàng
hàng ngay thẳng
Một cánh cò bay vội dáng
phân vân…
(Hạt nắng hạt vàng)
Và đôi bàn tay chai sần của
người kéo phà trên bến sông Nông Tiến. Để cùng cố gắng, cùng hy vọng vươn đến
miền cuộc sống đẹp đẽ hơn mơ ước khi con người ta thật sự được tự do, dân chủ
không còn bất cứ một thế lực xiềng gông nào đè nén.
Chào bác, chào bàn tay
chai sần
Chào bến nước sông Lô
Lòng tôi vang sóng vỗ
Một bến đò như muôn nẻo đất
tôi qua
Đang trổ những bông hoa
Con người sống đẹp hơn những
điều mơ ước
Bằng cánh tay mình khi hết
mọi xiềng gông.
(Cuộc sống đời đời từ bến
nước Sông Lô)
Ngay từ những trang viết
đầu tay, được Nhà xuất bản Việt Bắc tập hợp in thành tập: Dòng sữa nuôi
tôi, đã thấy hình ảnh những miền quê lấp ló hiện lên trong thơ chị
nhưng nó chỉ mới là làng mình, nơi mình sinh ra và lớn dậy, nó giống như cái
vành nôi để ru vỗ cho thơ chị chắp cánh bay đi khắp miền đất nước. Điều này được
thể hiện đằm đậm, sâu sắc hơn khi tập thơ thứ hai của chị được xuất bản: Cô
gái và cầu vồng. Với hơn bẩy mươi trang sách cùng ba lăm bài thơ nhưng đã
có tới trên hai mươi bài mang tên các địa danh chị đến và gắn bó.Lí do này có lẽ
cũng do điều kiện xê dịch vì thời gian này chị chuyển sang công tác tại cơ quan
báo Tuyên Quang. Làm báo càng phải đi nhiều. Vậy nên tập thơ chị có dấu ấn nhiều
địa danh, nhất là những địa danh miền núi Hà Giang.

Mỗi địa danh trong tập
thơ này là mỗi hình, mỗi dáng. Có bài giống như tranh vẽ nhưng lại thầm thì như
người kể chuyện. Nét vẽ, lời kể chuyện đều mộc mạc, câu từ, màu sắc cũng mộc mạc
nhưng đẹp đẽ, xinh động hồn nhiên đến lạ thường.
Chân Bát Đại Sơn là sông
Tráng Kìm
Chân sông Tráng kìm ngựa
ta uống nước
Ta cưỡi ngựa thăm đất này
đất khác
Chỉ có núi là không gặp
nhau
Xem thơ thấy bức tranh dưới
chân núi Bát Đại Sơn là dòng sông Tráng Kìm cuộn chảy… Chuyện ở đây là ta cưỡi
ngựa đi đất này đất khác, chỉ có núi là không gặp nhau. Rồi đến:
Sớm mai xuống sông lấy
bình nước dầu
Ta tưới cây ngô, cây chè,
cây bí
Cây rau dền nép bóng lá
ngô
Ngô bẻ quả, hoa rừng rực
lửa
Dây bí bò lan, bò tỏa
Con ngựa già đẻ con ngựa
non
Ăn bánh hạt dền bụ sữa
Nhà ta ở nước đi vòng
tròn
(Nhà ta ở)
Đọc xong câu kết bài thơ
mới thấy hở ra toàn cảnh ngôi nhà của đồng bào ở dưới chân núi Bát Đại Sơn với
bao công việc đời thường bám quanh cuộc đời họ. Nên nói thơ như tranh, như chuyện
kể là vậy!… Vẫn mạch cảm hứng này chị lạị cho ta thấy một cổng trời quản bạ như
hư, như thực. Ở đây ngoài việc muốn khám phá vùng đất đầy huyền bí : Cổng trời
Quản Bạ mấy then… Chắc chị có nỗi riêng tư với ai đó nên thơ cứ phảng phất nỗi
niềm vừa như trách cứ vừa như so sánh:
Người về xứ ấy làm vua
Mình đi xứ ấy gió lùa trắng
phau.
Trách cứ và so sánh ở đây
không phải để mà bậm bực, đau khổ và qua ngọn gió lùa trắng phau ấy lòng
lại bình thản nên cái riêng tư lại được hóa vào hư không để hiện lên một Quản Bạ
mơ màng huyền thoại.
Chuyện xưa Quản Bạ truyền
tay
Có nàng tiên xuống đến
nay chua về!…
(Quản Bạ)
Nàng tiên không về để người
loay hoay mãi mà cũng chưa biết cổng trời có bao nhiêu then, trên trời có những
gì? thế mà khi mấy cái then của bật ra, chị bước qua cổng trời, cao nguyên Đồng
Văn hiện ra không phải là huyền thoại mà là đất đá chất chất xếp trong mây,
trong trời. Lẫn vào đất đá cao nguyên, chị nhìn thấy những địa danh vùng cao Hà
Giang vừa thơ mộng vừa dịu dàng, nhẫn nại trong mỗi vóc dáng con người để đá có
hồn và cuộc sống tươi lên không hề đơn độc:
….
Trập trùng đá tên nào gọi đủ
Dịu
dàng em đá bớt tủi hờn.
Và:
Dịu dàng em đá lại nên khôn
Đất như tàn hương bàn thờ tổ
Gốc kiều mạch chân hương cháy đỏ
Đá bền lòng gửi lại làm tin
Rằng đá nên cổng trời
nên mùa màng
Nên dịu dàng em
(Đá cao nguyên)
Ở đây chỉ thấy đất đọng
dưới đá như bụi tàn hương mà gốc cây kiều mạch như cái chân hương cháy đỏ. Hình
tượng này tự nó thắp lên cuộc sống của con người nơi đây vừa nhọc nhằn vừa sáng
tạo, vừa nền nếp, gia phong mà thủy chung son sắt để tạo dựng một cổng trời
đá, sinh ra những mùa màng, sinh ra vóc dáng vùng cao dịu dàng, xinh đẹp, gan
góc và đầy bí ẩn!…
Từ trên đất đá cao nguyên
Đồng Văn chị kéo về những miên quê Hà Giang thơ mông, ấy là một Bắc Quang Mưa để
nhớ một người già hong lửa và thưởng thức một bát cơm mẹ xới cho có đặc sản con
cá vẹt mồm, (Bà mẹ Nùng xới cho tôi bát cơm, Cá sông Chảy bám đá vẹt môi nướng
vàng) đến một phiên chợ Xin Mần đơn sơ hàng họ nhưng lại giàu có về tinh thần,
nơi hội tụ niềm vui họp mặt của người vùng cao khi phiên chợ đến. Lại rưng rưng
đồng cảm, mến yêu một cháu bé đến trường trên con đường đèo dốc lại nhiều nắng,
nhiều mưa!.
Núi Bằng Lang khuất mấy tầng trời
Tôi vẫn nhiều lần hun hút
Mắt trẻ thơ
Niềm
đồng cảm bất ngờ
Mang màu lá nón!
Là người có tấm lòng lại
giàu có trí tưởng tượng nên trước vùng cao cho dù nhấp nhô trùng trùng núi đá,
cho dù thăm thẳm vực sâu, sông suối ngoằn ngoèo chị vẫn nhìn ra nét đẹp đa màu,
đa sắc về phong cảnh cũng như cuộc sống của đồng bào vùng cao.Vậy nên mới có
hình tượng Cô Gái Và Cầu Vồng. Người đọc thơ cũng phải sững sờ cùng cô gái Nùng
trước cây cầu Nấm Dẩn. Người ngựa đến đây thì trời đang nắng chợt mưa, câu vồng
hiện ra vắt ngang sông vừa hư vừa thật.
Cây cầu vồng trước mặt
Bện
trăm sợi chỉ màu
Vắt qua cầu Nấm Dẩn
Đôi bờ cây nối nhau
Đây là cây cầu trời bắc,
qua được cầu sẽ thấy một thiên đường sống: Thấy bầu trời có mâm xôi, có
ngàn sao rắc bạc, bản làng ăn chả hết, có chợ phiên không phải leo núi…nhưng
làm sao qua được vì nó là cây cầu vồng, mặc dù ngựa rung bờm nhưng cô gái vẫn
phải bước qua cây cầu tre trước mặt để về với ngôi nhà tranh nho nhỏ. Ở đây có
mẹ, có ruộng bậc thang bông lúa cũng uấn như cầu vồng, có tình yêu trong câu si
li đã hẹn…đi trên đường quen nhưng cây cầu vẫn hiện trong mắt cô gái ngời ngời
muôn màu sắc. Phải trăng đây cũng là ước mơ của người vùng cao mong có những
cây cầu đẹp bắc qua sông suối để cuộc sống ở vùng cao mỗi ngày một đẹp lên. Thấu
hiểu niềm khao khát này nên vó ngựa lại ròn trên cây cầu có thật:
Hiểu nỗi lòng cô gái
Đâu phải chuyện đường quen
Cầu lại ròn vó ngựa
Cô gái Nùng sang sông
Cây cầu
vồng vẫn mọc
Cô gái Nùng sang sông.
…Cô gái Nùng sang sông,
hành trình này tự nói lên mơ ước của người vùng cao chắc chắn sẽ thành hiện thực.
Gắn bó với vùng cao, phong cảnh thiên nhiên và con người đằm vào chị vừa lấp
lánh vừa thiết tha máu thịt nên những đia danh chị qua đều hóa thơ vừa bộc trực,
vẹn nguyên vừa mơ màng, huyền ảo. Để rồi khi cái mạch thơ địa danh ấy theo chị
về Hà Nội, đứng trước Hồ Gươm uy nghi, dưới những dãy phố nhà cao tầng… Một loạt
các bài thơ địa danh Hà Nội lần lượt hiện lên như: Phố Chiếu, Phố Hàng Cháo, Chợ
Bưởi, Chợ Đồng xuân… Tuy là thơ phố nhưng đọc vẫn thấy vệt bồ hóng ong vàng
trên gác bếp của người quê, người núi, mùi cháo vương vấn hương đất đồng làng….
và có lẽ vì thế chị phải trở về với Nửa Vòng Hoa Gạo, tựa vào bóng núi Tràng
Đà… mà tự Thẫm Chiều:
Chiều tim tím núi Tràng Đà
Tôi tim tím nụ hoa cà bến sông
Có lẽ ở đây sắc màu từ những
miền quê núi non chị qua lại cùng ào chảy về để tạo nên một màu tím đẹp tươi
nhuốm thắm tâm hồn chị để sinh thành một miền thơ yêu thương chung thủy. Đây
cũng là nét đặc trưng nhất nối liền thơ với cuộc đời riêng chung của chị. Nghĩ
vậy tôi đành phải chép cả bài thơ Thẫm Chiều thay cho lời kết của bài viết này
và cũng để ai đó đọc thơ Đoàn Thị Ký mà tự suy ngẫm, tự tìm ra phong cách cũng
như những đóng góp của chị cho thơ văn của quê nhà!.
Thẫm Chiều
Chiều tim tím núi Tràng Đà
Tôi tim tím nụ hoa cà bến sông
Có người khách cõi hư không
Chờ con đò vãn bóng hồn nẻo sang
Dòng sông vẫn chẳng tầy gang
Bè xuôi gối sóng đêm vàng đứt neo
Trông người… nào thấy người theo
Trông trời… đôi hạt trong veo cách vời
Vẳng lên một tiếng – Đò ơi
Sang sông lỡ chuyến, khách tôi thẫm chiều.
11/10/2020
Trịnh Thanh Phong
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét