Hoàng Việt Hằng – Một đèn một bóng
Một đèn một
bóng là nét tự họa của Hoàng Việt Hằng. Trong tập thơ Tự tay
nhóm lửa, in năm 1996 của chị, mở đầu là bài Hồ Bảy Mẫu, trong
đó có những câu thơ đượm buồn: Cây liễu rủ ưu tư và phiền muộn. Câu
thơ hình như chỉ để tả cảnh hồ Bảy Mẫu, nơi chị gắn bó từ thuở rất nhỏ, như chỉ
là nốt nhạc dạo cho bài ca buồn, theo kiểu lấy đà để đi đến một “thông tin”
khác, thông tin về chính tác giả: Tôi là kẻ thua trận…/ Trước tỷ số một
đèn một bóng (Hồ Bảy Mẫu). Kể ra, với người viết, chân thành giãi bầy
và đau đớn thừa nhận “thua trận” như vậy không phải ai cũng làm được! Nhưng
chính sự chân thành (ít nhất là trong trường hợp này) đã tạo ra hiệu ứng nơi
người đọc. Phải rồi, hãy tin ngọn lửa của lòng trắc ẩn, sự cảm thông… từ đâu đó
rất sâu trong mỗi con người chưa bao giờ nguội lạnh. Nếu không thế thì như ai
dó từng nói “trái đất đang trở nên hoang vu”, chẳng lẽ lại đúng!
Nhưng quả tình, Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng (Trịnh Công Sơn), chưa từng biết nương nhẹ trước mỗi số phận, và đặc biệt là trong từng duyên phận của mỗi con người trên trần gian. Từ đâu đó, trong tay một “Đấng toàn năng” nào đó, khi trao cho ta một đóa hồng, không quên kèm theo chùm gai, trao cho ta chuỗi ngọc trai, nhưng nhắc ta chuỗi ngọc kia chắt từ nỗi đau âm thầm nơi đáy biển… Cho nên cuộc “mưu cầu hạnh phúc” ghi trong Hiến pháp về nhân quyền của nhiều Quốc gia, nếu được hiểu rằng những khát khao trần thế chưa bao giờ là đủ, chưa bao giờ là toại nguyện đối với mối một người, thì âu đó cũng là một sự thật phải chấp nhận. Cho dù hạnh phúc như chị vẫn khát khao chẳng có gì cao siêu:
Bao năm
Em thân cò lặn lội
để chăm anh và con
đủ ấm
đủ no
… chỉ ước đủ thôi
mà tóc em bạc phơ
(Dấu chấm than viết ngược)
Tôi lần đọc những tập thơ
của Hoàng Việt Hằng (chị đã in 8 tập thơ và 12 tập văn xuôi), và tâm tư trở nên
phần nào bị xáo trộn.
Hình như đâu đó có đôi lần
chị nói thì phải, chị là “típ” phụ nữ nếu có một gia đình riêng, thì công việc
yêu thích của chị là là thêu thùa, cơm nước, bếp núc, chợ búa… nhìn người khác
ngon miệng làm thú vui hàng ngày của mình, chứ chưa phải thơ phú, văn
chương…Đây là những câu thơ cho ta biết điều vừa nói:
Câu chữ trong đầu nhảy
múa
Em viết ở xó bếp
Viết nhẩm trong đầu khi
nhặt rau
Bỏ quên hành khô, bỏ quên
rau ngò
(Mới tám phẩy năm
milimet)
Chị lao vào văn chương, từ
truyện ngắn, truyện dài, đến tiểu thuyết, từ tạp văn, báo chí đến thơ… Lý giải
thế nào trường hợp của chị? Vì đam mê? cũng phải. Không đam mê mà dám “dấn
thân” đi ngược về xuôi, lên rừng xuống biển, đi mây về gió, nước trong nước
ngoài đủ cả như thế? (Đọc thơ chị, phải thừa nhận chị đi thật nhiều, ghi nhớ thật
nhiều, để lại trong trang viết rất nhiều địa chỉ xa lắc xa lơ, gặp gỡ thật nhiều,
để lại trong trang viết rất nhiều gương mặt ấn tượng). Vì kiếm sống? cũng đúng.
Nhưng kiếm sống bằng văn thơ thì thật là quả cảm. Vĩ đại như Đỗ Phủ, Nguyễn Du,
mê đắm tài hoa như Tú Xương, Tản Đà, thiết thực như Xuân Diệu, Huy Cận…mấy ai
đã dám “viết để nuôi mình, nuôi con” như chị. Cũng rất khó hình dung một “nhà
thơ nữ”, là phái yếu, phái đẹp, vốn gốc gác kinh kỳ… lại phải “xông pha”, “thân
gái dặm trường” “liều mình như chẳng có”… như chị. Chính chị cũng cay đắng thừa
nhận:
Kết bạn với nỗi cô đơn
Đêm đêm ngồi viết nhớ con
đèn mờ
Thân cò du lịch thân cò
Nuôi con sao được bằng
thơ mỗi ngày
(Cò mẹ đi du lịch)
Vậy là có cả “nghiệp”
(đam mê), có cả “nghề” (nhọc nhằn) trong sự lựa chọn của chị: Hẹn gì với
những đam mê /Mà em bùa ngải viết thuê lần hồi (Xòe bàn tay, bấm ngón
tay). Cái nghiệp trót đã “mang vào thân”, từ người nổi tiếng đến người chân ướt
chân ráo, không ai thoát được sợi dây vô hình đam mê kia trói chặt, đến mức
không thể tìm thấy ví dụ nào cho sự bỏ cuộc nửa chừng; còn cái nghề bắt buộc
thì có thể có lý do của nó. Hoàng Việt Hằng học xong Đại học Văn hóa thì cầm
bút viết văn. Một lần đi thực tế ở Lạng Sơn, chị viết được cái truyện ngắn ưng
ý liền gửi tới Tạp chí VNQĐ. Triệu Bôn biên tập truyện ngắn này. Sau mấy năm ở
chiến trường B2 ra, Triệu Bôn ốm xo, nụ cười mệt mỏi, dáng đi xiêu vẹo, làn da
xám chì, đôi môi xanh tái vì sốt rét lâu ngày…, hành trang mang theo của anh là
chiếc balo sờn, hành trang tinh thần là một đôi tập truyện ngắn…Và những gì đã
đến với hai người như một mối duyên trời định (Trong tiểu thuyết của mình Một
bàn tay thì đầy chị đã nói điều này). Thì thế gian vẫn vậy, vào cái thời
“gạo châu củi quế” kia, có duyên phận nào không khỏi những vướng víu, éo le, có
duyên phận nào không gặp những trắc trở, gian nan?. Hoàng Việt Hằng xuất hiện
đúng lúc đó. Đấy là duyên phận chứ còn sao nữa. Không ai ngăn cản ai đi “mưu cầu
hạnh phúc”. Sự lựa chọn nào cũng có lý do, và lý do nào cũng đẹp. Nhưng sự lựa
chọn trong trường hợp này còn có cả sự quả cảm. Bởi vì với chị hạnh
phúc là leo dốc (Bên nhau và lẻ nhau):
Em khâu tóc trắng thay lời
Mỗi khi cúi xuống rã rời
nỗi đau
Con chồng, vợ cũ, đồng
sâu
Lấy chồng lấy cả nỗi đau
của chồng
(Một mình khâu những lặng
im)
Một trong những nỗi đau ấy
là những ngày ốm bệnh của chồng, thiếu phụ trong vai “đóng thế” bắt buộc,
nhưng nỗi nhọc nhằn thì không thay thế được:
Từ ngày anh ốm thừa ra
Người đàn ông ở trong nhà
là em
Bao nhiêu công việc không
tên
Nửa đêm bơm nước, thắp
đèn leo cao
Có hôm chữa điện ngã
nhào…
(Không đề năm 2000)
Chưa hết, cái tổ ấm là
căn phòng nhỏ trên gác 2 phố Hàng Buồm chưa thật sự quen với cung cách làm chủ
gia đình của một nhà văn áo lính ra với phố xá (lúc này Triệu Bôn chuyển ra dân
sự), thì một sự cố khác ập tới. Sau một thời gian đau ốm, Triệu Bôn qua đời vì
bệnh hiểm nghèo. Bấy giờ, với chị mọi thứ mới thật sự trở nên nghiệt ngã, như một
hồi trống trận chưa dứt, như một thách thức mà chị phải đương đầu, như thể một
mình trong cơn bão lớn. Khi ấy đau đớn mất mát cho dù to lớn đến đâu cũng chưa
bằng câu hỏi tồn tại hay không tồn tại của hai con người, Hoàng Việt Hằng và
con trai chị. Kiếm sống trở thành mệnh lệnh. Đấy, với chị cầm bút không phải để
ngâm vịnh, chưa phải là câu chuyện tỉa gọt ngôn từ, không phải là câu chuyện
“trà dư tửu hậu”, cũng chưa cần nghĩ đó là lẽ sống, mà là để phải sống.
Bây giờ chúng ta hãy xem
với tâm thế ấy, người viết đã quan tâm đến những gì trên mỗi trang viết.
Trên kia chúng ta biết
Hoàng Việt Hằng ham đi, đi nhiều, đến nhiều nơi, ghi nhớ nhiều điều. Hình như đấy
là phẩm chất, là công việc của người làm báo? Đặc điểm này rồi sẽ để lại dấu ấn
gì trong thơ chị, có phải là mặt mạnh và có phải trong mặt mạnh này đã chứa đựng
những hạn chế của ngòi bút chị? Đi để nhận biết hay đi để thỏa chí, đi để thu nạp
vốn sống hay đi để xả strees, đí để tìm kiếm niềm vui hay đi để vướng
thêm nỗi buồn, đi để trải nghiệm hay để thể nghiệm, đi để hòa nhập trốn khỏi cô
đơn hay đi để quên lãng sự đời?…Hình như có cả những tâm trạng ấy. Đây là tâm
trạng vui, phấn chấn và lãng mạn: Đám mây như chiếc khăn màu /Bay
hồng cả nỗi nhớ nhau lưng đèo (Qua Đèo Nai). Liền đó là cảm giác bơ
vơ: Theo dòng thác Bờ /Nhìn hoa dại nở /Mà thấy bơ vơ ( Tôi
ơi), Lên đến Tủa Chùa /Rồi xuống Mường Lay /Một mình với núi /Một mình
với mây (Đỉnh núi và bờ vực). Đi và thấm thía nỗi đau, nỗi buồn từ tâm
khảm: Đỉnh Dốc Cun này /Bỗng nhớ anh quá /Những đau đớn /Vùi trong rơm
rạ …/Ta khóc thỏa thuê /Đá núi xám buồn (Dốc Cun) Anh mất đã
chín năm /Trên dương gian buồn lắm…/Em vẫn đi về phía những chân trời thác đổ (Bấm
chín đốt ngón tay). Còn đây không biết trốn cô đơn hay chìm vào cô đơn: Có
một người đi trốn cô đơn /Lên đỉnh núi tìm bóng mình trên núi (Trên
cây đơn lá đỏ). Thường gặp là cảm giác mất mát với “nỗi đau không đầu không
cuối” (Người ấy): khi đến trước một dòng thác Tôi ký gửi mất mát
/Nhờ dòng thác xóa đi /Tôi ký gửi nước mắt /Nửa cuộc tình chia ly (Thác)…Một
lần lên núi Thạch Lâm, không xác định được buồn hay vui: Thấy mình bé
nhỏ mong manh /Chỉ như chiếc lá rời cành dễ không /Mùa xuân chín đợi, mười
trông /Hoa thơm, cỏ lạ trời trong gió đầy /Ước gì đi khắp đó đây /Đặt chân lên
núi tóc đầy tuyết rơi /Ước gì xuống núi thảnh thơi /Nỗi buồn núi giữ, niềm vui
đem về (Lên núi Thạch Lâm)…
Mang trong mình tâm trạng
như vậy, rất dễ hiểu vì sao Hoàng Việt Hằng thường đến gần những con người có cảnh
ngộ éo le, khó khăn mỗi khi bắt gặp trên những ngả đường. Một bà mế, một em nhỏ
nghèo ở chợ Rã: Con ngan này tám ngàn /Trả mười ngàn không bán /Đưa cho
mế mười ngàn /Tặng lại mế con ngan…/Áo trẻ con hai ngàn /Đổi giỏ ngô cũng được
/Giỏ ngô cũng hai ngàn /Bát phở và giỏ ngô…/Tôi ăn chan nước mắt (Đi
Chợ Rã). Chị công nhân quét rác bến Phà Đen: Dốc mặt xuống đời người /
Nơi có người đàn bà tha thủi /Quét rác và bán rau (Dốc Phà Đen). Người
đàn bà nơi đồng cói Kim Sơn: Có một người đàn bà đan cói cúi xuống /Em
không dám hỏi /Sợ vỡ đi nỗi buồn (Ai phơi trắng cói đồng Kim Sơn). Một
lần đến Nậm Khan: Chị Ngải sống một mình /Túp lều gianh và chiếc ấm
sành /Chị đi nhỏ cỏ và nuôi vịt /Khi mò cua bắt tép cũng qua ngày (Bên
này sông Nậm Khan). Một bà Còng nghèo nàn làm ngòi bút chị trở nên đầy cảm
thương: Tôi mừng tuổi vài đồng /Mà bà Còng vắt vai bao tượng mấy lần
/Lau nước mắt /Bà Còng ơi, thương lắm bà Còng (Những mùa xuân ám ảnh).
Gặp một cảnh ngộ cô đơn: Buổi chiều mưa bụi hắt hiu /Tấm thân như một
cánh diều gặp mưa…/Thương cô giá rét vô thường /Con người sao lại cô đơn thế
này (Thơ viết tặng nhà thơ Anh Thơ). Gặp một người già tốt bụng: Bà
thương người phận bạc /Cúng giỗ toàn người dưng /Gió thổi tắt bát hương /Nước mắt
tràn xuống má (Bà lão nơi khe sâu). Rồi chẳng phải đâu xa, cậu Nghẹo,
người thân bên cạnh chị, không ít lần Hoàng Việt Hằng nghẹn ngào: Không
việc làm /Tàn tật phải ra ga /Cậu cũng cố chở hàng kiếm dăm ba ngàn bạc /Tiền
nong chị cho /Cậu nhận thường cúi mặt /Rồi bèo dạt /Mây trôi /Cậu thui thủi một
mình (Cậu Nghẹo)…Thơ Hoàng Việt Hằng thường là nơi ký thác tâm sự, gặp
người gặp chuyện, thấy cảnh sinh tình, như thể chạnh lòng, như thể một lời tự vấn
lương tâm. Những con người mới gặp càng bất hạnh làm chị càng buồn lây, những
khung cảnh vừa mới thấy càng khuất nẻo hoang sơ thì cái sự tình bên trong của
người cầm bút càng day dứt. Trong thơ rất ít những con người may mắn, hạnh
phúc, rất nhiều những con người thiệt thòi, cô đơn. Chị gần với họ, nói về họ bằng
lời lẽ ân tình, cảm thông. Câu thơ bình dị thấy rõ thiên lương của ngôn từ, như
thể rút từ tâm can. Đó là những điều dễ nhận ra nếu đọc thơ chị.
Nhưng nếu khắt khe mà nói
thì đúng là trong ưu điểm đã hàm chứa cả những hạn chế của thơ Hoàng Việt Hằng.
Nghề nghiệp báo chí, phẩm chất người làm báo, sự nhanh nhạy, tính chính xác, cộng
thêm ý thích muốn đưa thật nhiều chất liệu cuộc sống vào thơ…, đã một phần làm
nên bản sắc thơ chị. Nhưng sự nhanh nhạy, chính xác, chất liệu cuộc sống… không
phải là phẩm chất số một của thơ trữ tình. Sự lắng đọng từ những trải nghiệm,
cái mờ nhòe, gấp khúc, vượt xa của sự liên tưởng, cái sắc nhọn của những triết
lý khái quát từ chất liệu cuộc sống…mới là “tầng thứ hai” của nhận thức, mới
đưa thơ từ “thực” đến “siêu”, từ cụ thể đến trừu tượng, từ chỗ nhìn thấy đến chỗ
cảm thấy, nghĩ thấy…Sở trường của Hoàng Việt Hằng là chất liệu hiện thực, chị
đưa lên trang rất nhiều “sự thực” đến mức tưởng như “nệ thực”, cái nệ thực thường
thấy của báo chí, văn xuôi. Nhưng với thơ, khi đã quen nệ thực thì muốn bay
cũng không dễ, cũng phải tập. Chỉ xin dẫn một ví dụ: Bấm chín đốt ngón
tay là bài thơ khá hay của chị, hay vì có những câu hay: Anh mất
đã chín năm /Trên dương gian buồn lắm. Và có cái “kết” cũng có tầm: Đi,
ngộ ra nỗi đau riêng rất nhỏ /trên ngàn ngày cây số phía sau lưng. Nhưng
để đi đến cái “kết” này chị viện dẫn: có bữa nghe tin vắn /vỡ đập, rừng
cháy rừng /chùa cổ dỡ tan hoang /như chiếc lá vẫn nghiêng về đất /trẻ em trên
cao nguyên /đói cơm là có thật /đường đèo cao /đỗ lỗi tại đường đèo /bấm chín đốt
ngón tay /em vẫn đi phía chân trời thác đổ. Khá dài dòng mà vẫn chưa đủ,
(và biết chất chứa làm sao cho đủ những “chuyện buồn trên dương gian” trong một
bài thơ?), ít có sự gia công lựa chọn ngôn từ trong từng câu; một đôi chỗ ít có
sự “ăn nhập”, hô ứng giữa câu nọ với câu kia…Vậy nên, bài thơ chưa hoàn bích.
Có thể đó là quan niệm về thơ của Hoàng Việt Hằng, nhưng theo tôi, thơ không cần
thiết phải có nhiều “cái thật”. Không cần nhiều chứ không phải không cần thiết.
Chất lên nhiều cây sáo quá trên một cánh diều là vô tình làm triệt tiêu sự bay
của cánh diều và cũng không còn tiếng sáo. Thơ không phải là cuốc bộ, mà thơ cần
bay. Ở một tầm mức khác, thơ là sự lắng lại từ rất nhiều quặng, sự lên men và
ngưng đọng của rất nhiều tinh bột, nước, lửa, thời gian, là hạt muối cất từ nước
biển, cát, nắng gió và mồ hôi. Thơ chị diễn đạt thoải mái, nghĩ đến đâu gõ phím
đến đấy, nhiều bài như thể còn ở dạng “ghi chép” (nghề báo), như thể là một
phiên bản khác của bài báo, mỗi khi lúng túng bí vần, bí chữ thì vượt qua vần,
thì “dùng tạm” chữ đã có, thậm chí thêm vào một chữ nào đó, khỏi cần “thôi
xao”. Bởi vậy, tìm một sự “hoàn hảo” ở chị là hơi khó! Đấy, trong cái ưu điểm
chúng ta vừa nhắc trên kia, rất ưu điểm, đến đây đã xuất hiện những yêu cầu
không hề đơn giản của thể loại, mà thơ chị nên phải có. Nói vậy không sợ mất
lòng, vì chị vốn là người có cá tính, mạnh mẽ và không ngại nói thẳng. Kể ra với
một cây bút nữ làm thơ mà mạnh mẽ và thẳng thắn quá đôi khi cũng dễ bị thiệt
thòi, dễ bị thương tổn!
Nhưng cho dù mạnh mẽ đến
đâu đối với người làm thơ cũng không thoát khỏi những giây phút yếu mềm, nhất
là với những cây bút nữ. Với Hoàng Việt Hằng cũng không thiếu những trống trải
sau mỗi chuyến đi: Ta vẫn về trong nỗi buồn tĩnh lặng /Với ngọn đèn dầu
/Với bóng của trăng trong (Trời trở lạnh), Tỉnh dậy trong cơn
sốt /Nhìn vào đâu cũng chỉ thấy lá vàng /Thấy nhà thật vắng vẻ (Lá
vàng và lá xanh). Không ít giằng xé:…một mình một phiên tòa /Vừa là chánh án
vừa là luật sư. Và không ít khi cảm thấy mong manh trước “một chiều
không bến đỗ” của một kiếp phù du …một mình một con đò /lênh đênh trên biển
phù du qua ngày (Một chiều cuối đông). Chị cũng không che giấu những mệt
mỏi: Buồn vui áp mặt lên gối /Dẫu cho bao nhiêu mệt mỏi /Tan trong
xương thịt ngậm ngùi (Phút giây). Những lúc như vậy, cảm giác mong
manh, bé nhỏ, bất lực, yếu đuối, hữu hạn… xâm chiếm tâm hồn: Bao lần một
mình bên vực /Thấy mình nhỏ hơn hạt mưa (Bên hành lang bệnh viện), Chớp
mắt tan ra trong biển lớn / Đời người như tia chớp (Chớp mắt). Và
không thiếu những buông xuôi: Không khát vọng được thua, cố chấp /Chỉ
lên chùa học thở với nghe kinh (Mai vàng nghe sấu rụng). Thậm chí những
tiêu cực: Lúc ốm đau /Em đã muốn bỏ cuộc (Dấu chấm than viết
ngược). Nhưng rồi khi bản tính mạnh mẽ trỗi dậy, khi “có bao thứ vô thường
/khép hờ ngoài cánh cửa”, chị lại ngồi vào bàn. Cái bàn, cái đèn, chuyến đi
và trang viết giúp chị quên đi thời gian, quên đi cảm giác cô đơn, lấy lại sức
sống cho ngòi bút. Đúng hơn vẫn cô đơn, nhưng là cô đơn của trang viết: Không
có ai nhìn thấy…/Khi em gắng hết sức mình /Từng đêm trên trang giấy (Tàn
giấy), Em đã muốn bỏ cuộc /Nhưng thấy con tha thủi không đành… (Dấu
than viết ngược).
Động lực “phải sống” đã
giúp chị vượt qua thử thách. Riêng tôi, đọc thơ chị còn nhận thấy một động lực
khác, không kém phần quan trọng, giúp những con chữ trên trang viết của chị “cứng
cáp” dần, đó là những gì “hữu hình” và “vô hình” mà người bạn đời của chị, nhà
văn Triệu Bôn để lại.
Những gì hữu hình nhìn thấy
mà chị luôn trân trọng “giữ lại nằm lòng” là “góc bảo tàng” hiện vật chiến
tranh mà anh mang về từ cuộc chiến: chiếc hăng gô, chiếc khuy áo, mảnh dù, cái
rút dép (một vật mà các thế hệ trẻ tuổi hôm nay chắc chắn không thể hiểu dùng để
làm gì), cái ba lô sờn, các tập sách của anh viết trong những năm tháng nhọc nhằn:
Em lau hăng gô, nhìn cái
rút dép
Kỷ vật một thời gắn bó với
anh
Thư viện nhà mình còn góc
chién tranh
Còn hơi thở của em dành
cho ký ức
(Phía trong cánh cửa)
Những gì vô hình như vết
thương anh mang suốt đời, tấm lòng nhân ái anh thường có, nụ cười hiền (nhưng cục)
giấu kín niềm thương tổn, nghị lực có thừa của một người luôn muốn hết mình với
trang viết…Chị “tựa vào” những thứ hữu hình, vô hình ấy và tự tin bước đi. Cho
dù mọi thứ đã không còn: Ngày ấy anh ôm em /Cây cũng trẻ /và cây
nghiêng ngả /Bây giờ cây đã già /Và anh trở về với đất (Dấu ngã bên trời);
Cho dù những kỷ niệm cũ vẫn thường nhói đau: Bây giờ anh rời xa, rất xa/ Thi thoảng em vẫn giẫm phải thủy tinh vỡ (Vẫn giẫm lên thủy tinh vỡ);
Cho dù vậy, em đã viết đằng sau anh đợi em (Dấu chấm than viết
ngược). Cho dù vậy: Ngày tháng xa anh/ Ngày tháng biệt ly/ Tôi tựa vào
câu thơ /Đứng vững trên đất đá/ Tôi tựa vào dịu dàng /Để vượt qua những gì tưởng
không thể vượt qua (Những dấu lặng).
Có thể nghĩ rằng, sau bao nhiêu năm tháng nhọc nhằn gian nan trên “cánh đồng chữ nghĩa”, Hoàng Việt Hằng không phải là người “thua trận” như chị tự nhận. Số lượng trang viết của chị đủ để nói lên điều đó, đủ để nói lên rằng chị là người yêu lao động, là người yêu văn chương, cẩn trọng học hỏi chữ nghĩa, có nghị lực biến đam mê thành sự thật, biến ước mơ của người nông dân ngày giáp hạt thành những mùa lúa chín.
3/3/2020
Lê Thành Nghị
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét