Chữ duyên trong truyện Kiều
Sinh thời, Nguyễn Du vốn có thâm tình với Phật giáo; dù ông vẫn
được hình dung như một kẻ sĩ ưu thời mẫn thế, một nhà nho cốt cách tài tử.
Việc Nguyễn Du thông hiểu Kinh Kim Cương, Kinh Hoa Nghiêm và
câu chuyện về thế giới duyên khởi trong Truyện Kiều là một “đề bài” hấp
dẫn cho những ai quan tâm.Một trong những khái niệm sâu sắc nhất của hệ thống kinh luận
và tư tưởng Phật giáo là Duyên. Chữ Duyên ẩn hiện trong Truyện Kiều dưới
nhiều dạng thức khác biệt, khiến cho tư tưởng của truyện càng trở nên u huyền.Sẽ có phần khiên cưỡng nếu giải thích tinh thần Phật giáo
trong Truyện Kiều xuất phát từ nguyên do tác giả của nó muốn vận vào
một lý tưởng tôn giáo để làm mờ đi bế tắc nội tâm (điều này dễ suy luận nhưng
khó kết luận); rằng ông chỉ dựa vào Phật giáo để làm một đệ tử thuần thành mà
thuyết minh cho đạo phái.“Nếu biết cách đọc, chúng ta có thể học được rất nhiều từ
Truyện Kiều như học từ một cuốn kinh” [1]. Điều này không mấy khác với sự phát hiện
lại kiệt tác Genji (Murasaki, Nhật Bản), một tiểu thuyết từ chốn thượng
nguồn thời gian (thế kỉ X); Sau những lời ta thán nghiệt ngã về mối tình loạn
luân của chàng Genji, cuối cùng, người ta cũng tin tưởng rằng Murasaki đã viết
thiên truyện này bằng tinh thần của người viết kinh Phật (như nàng tự nói về
mình).Văn hóa của Truyện Kiều phản ánh văn hóa và nhân
cách Nguyễn Du, qua đó, phản ánh một khối tinh hoa tinh thần được nhào nặn
trong một tâm sự lớn khó giãi bày. Nguyễn Du nghiền ngẫm Phật giáo ở tư thế một
thiên tài văn chương, không phải tư thế một tín đồ, một sinh mệnh chính trị, một
cá thể xã hội. Không nên xét yếu tố Phật giáo trong Truyện Kiều như
“ưu điểm”, càng không phải như “hạn chế”. Phật giáo trong Truyện Kiều là
một dấu ấn đương nhiên trong thời đại Nguyễn Du sống (một hoàn cảnh phiền não
sâu sắc về tinh thần), là hệ quả một quá trình “ăn gió nằm sương”, thấm trải
triết lý Phật giáo của nhà thơ ở những chiều sâu của cảm thức dân gian và suy
nghiệm cá nhân.Chữ Duyên trong Truyện Kiều có sức ám ám ảnh dài
lâu, xuất hiện thần tình và chứa nhiều lớp nghĩa phong phú hơn bản thân nó.Trung bình cứ 50,8 câu thì có một chữ Duyên; chữ Duyên cùng với
Phận, Tâm, Tình, Thân xuất hiện với cường độ lớn, độ bao phủ lớn, tạo nên một
thế giới nội tâm trùng điệp, thế giới nhân tình thế thái tràn ngập thao thức.
Phan Ngọc nói Truyện Kiều là câu chuyện của hàng nghìn tâm trạng, hẳn
cũng có lý lắm.1. Một số nét nghĩa chính của chữ Duyên từ triết lý Phật giáo đến
đời sống người ViệtChữ Duyên (hàm nghĩa là duyên khởi, duyên sinh, nhân duyên)
trong tiếng Sanskrit là pratītyasamutpāda, tiếng Pali là paṭiccasamuppāda, ngữ
liệu chữ Hán là 縁起. Nguyên gốc từ Duyên bắt nguồn từ chữ
Sanskrit paccaya (p. pati) có hàm nghĩa vô cùng rộng lớn: chuyển
động, nương nhờ, nâng đỡ, nguyên do, nền tảng của mọi sinh tồn và chuyển hóa.Theo Phạm Hữu Dung, cụm từ tiếng Anh tương đương với khái niệm
Duyên là The conditionality of all physical and psychical phenomena
(twelve factors), có nghĩa là các điều kiện của mọi hiện tượng tự nhiên và siêu
nhiên. Trần Nghĩa Phương dịch: Conditional causation, nghĩa là quan hệ
nhân quả do các điều kiện (hợp lại, quy định nhau) mà tạo thành. Thích Trí Chơn
trong cuốn Phật giáo yếu lược thì chuyển nguyên văn của Narada Thera
là: dependent origination, dependent arising, hay conditioned arising,
nghĩa là “sự phát khởi mang tính tùy thuộc, tính điều kiện”.Về tư tưởng, thuật ngữ Thập nhị nhân duyên là bài học
vỡ lòng vĩnh viễn cho những ai hướng về đạo Phật, là đề bài uẩn áo cho những bậc
tu hành. Về kinh điển, thuật ngữ Duyên có mặt trong bộ thứ 7 của tạng Thắng
pháp, gọi là bộ Patthāna. Theo tỳ khưu Chánh Minh, bộ này gồm hai phần:
Duyên hệ (Paccayasabhāgo) với ý nghĩa trung tâm là “hỗ trợ cho các pháp
sinh lên được vững mạnh” và Duyên sinh với ý nghĩa là “từ cái này, cái kia có”.
Trong đó, Duyên hệ gồm 24 duyên, Duyên sinh gồm 12 duyên. Những kết hợp của Duyên ở cả hai góc độ: tôn giáo và đời sống
đều vô cùng sống động qua hệ thống từ kết nối đồ sộ: gieo duyên, tương duyên,
hóa duyên, nghiệp duyên, duyên khởi, duyên sinh, duyên nợ, duyên phận, phúc
duyên, ác duyên, duyên lành, nghịch duyên, thuận duyên, nhân duyên, gặp duyên,
vô duyên, có duyên, phan duyên,…Độ phức tạp và tính chất trừu tượng hiếm có của khái niệm
Duyên cho thấy nó xứng đáng được tồn tại và triển tiến bền bỉ, sâu thẳm trong
các nền văn hóa chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo. Qua hệ thống kinh luận Phật
giáo, có thể thấy rằng, Duyên là một khái niệm mang tính biện chứng gần gũi với
điểm nhìn, cách diễn đạt hiện đại về bản chất và hiện trạng tồn tại của con người
và thế giới như: ảo hóa, vong hóa, tương tùy, tương liên, tương tức, huyền ảo,
huyễn hóa… (danh sách các từ này còn có thể dài hơn nữa). Bởi vậy chữ Duyên
không chỉ có sức khái quát mà còn có sự hoạt hóa vô hạn trong đời sống sinh hoạt
và tinh thần của người dân Đông Á.Chữ Duyên cốt tủy là một định danh triết học về đời sống,
nhưng bản thân nó không đóng đinh trên đài kinh điển mà lăn vào đời sống và sống
thêm nhiều hàm nghĩa khác, hiện ra ở muôn vàn “pháp”. Rất rõ ràng, chữ Duyên đã
chuyển từ nghĩa tư tưởng sang nghĩa cuộc sống, biến triết học tư tưởng thành
triết lý đời sống, đưa khái niệm tư tưởng thành khái niệm chỉ những đơn vị, biến
cố, khoảnh khắc của đời sống.Từ cái kho khổng lồ của văn học dân gian và văn học viết nói
chung, có thể thấy rõ 24 khái niệm vĩ đại của Duyên hệ và 12 lý lẽ của Duyên khởi,
Duyên sinh được giản lược đi các nghĩa khái quát hóa triết học để dùng trong
các trường hợp cụ thể của đời sống. Chiếc áo Duyên không chỉ còn là công cụ cắt
nghĩa một vòng đời đau đớn của vô minh và luân hồi mà nó còn tự sản sinh ra một
mối tình với các trạng thái tinh thần khác, các trạng huống khác, đa nghĩa hơn
và sống động hơn.Sông dài cá lội biệt tămPhải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ.Sông sâu cá lội vào bờPhải duyên thì lấy, đợi chờ nhau chi“Phải duyên” là sự bất ngờ. Yếu tố nhân - quả ở đây gần như
biến hình, chỉ để lại một kết cục: bất ngờ gắn bó chặt chẽ và không thể khác. Từ
“phải” rất nhiều lớp nghĩa, nếu nhìn từ cấu trúc: va phải, gặp phải, yêu phải,
lấy phải… Ca dao Việt Nam rất nhiều cách nói này:Thuyền ai trôi trướcĐợi bước tới cùngChiều về trời đất mông lungPhải duyên thì xích lại cho đỡ não nùng tuyết sương.Phải duyên thì gắn như keoTrái duyên đuểnh đoảng như kèo đục vênhCác khái niệm “gá duyên”, “duyên mãn tình ôi”, “còn duyên”,
“hết duyên”, “phận ẩm duyên hôi”, “duyên bạn bầy”, “duyên đôi lứa”, “duyên cắc
cớ”, “ế duyên”, “lỡ duyên”, “ép duyên” là cách nói thuần Việt và Việt hóa thú vị
mang hơi thở phong vị đời sống linh động bên cạnh các cụm từ Hán Việt mang màu
sắc Phật giáo Đại thừa như “duyên tiền định”, “nhân duyên”, “căn duyên”; “nghiệp
duyên”; mang màu sắc Nho giáo, Tam giáo như “duyên nợ ba sinh”, “duyên phận lỡ
làng”, “duyên tương phùng”…Duyên trong tiếng Việt còn có nghĩa một sự định giá, đánh
giá:– Một thương ăn nói có duyên– Người xấu duyên lặn vào trong, bao nhiêu người đẹp duyên
bong ra ngoàiSong, nhìn chung, nghĩa chữ Duyên gắn với tuổi xuân, ái tình
và nghĩa vợ chồng chiếm hầu hết trong các cách sử dụng ngôn ngữ (gồm cả văn viết
và văn nói). Ở đó, Duyên như một cách giải thích, lý giải đời sống, đặc biệt là
về những rủi may, gặp hay không gặp, gắn bó hay không gắn bó. Điều này chứng tỏ
có khả năng chữ Duyên (ở Việt Nam) được lồng ghép sâu sắc vào chữ Tình (đa
tình, lụy tình, tình nghĩa, tài tình,…), giàu âm tính (than thở, than vãn,
than thân, liên hệ duyên với phận, kiếp…). Nói cách khác, chữ Duyên trong tiếng
Việt đã rời bỏ sự nghiêm ngặt của định luật trí tuệ và giáo lý để trở thành quy
luật tâm lý, cảm xúc, gần gũi và thấm sâu vào đời sống tinh thần của người dân ở
mọi tầng lớp.Đêm nằm lo bảy lo baLo cau trổ muộn, lo già hết duyên.Đôi ta như lúa đòng đòngĐẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha– Anh đừng rơi nước mắt ớtAnh đừng rớt nước mắt gừngĐôi ta chẳng đặng thì đừngNhân duyên ông Trời định nửa chừng thôi nhau– Chim bay về tổ có đôi,Nghĩ mình duyên phận lẻ loi mà buồnTừ nỗi lòng than vãn, cách nói về Duyên của người Việt gắn với
niềm tin bất biến vào một sự gắn kết/ tan rã đã được tiên liệu (sự tiên liệu gắn
với mô hình “ông Trời”, “ông Tơ”, “con tạo”). Niềm tin bất biến này một mặt chứng
tỏ một trình độ nhận thức triết học và tín tâm, mặt khác bộc lộ một sự chấp nhận,
cam chịu, bất lực mà qui luật tâm lý ẩn phía sau là cả một nỗi buồn thảm không
hồi kết.Chữ Duyên còn dùng để cắt nghĩa những biến cố lớn nhất hay ám
ảnh nhất của cuộc đời. Khi không giải thích được nữa thì người ta cần có một
cái lý đủ mạnh để không còn băn khoăn. Chữ Duyên làm được điều đó. Nàng Kiều
“buổi ngày chơi mả Đạm Tiên” đã thổn thức:Người mà đến thế thì thôiĐời phồn hoa cũng là đời bỏ điNgười đâu gặp gỡ làm chiTrăm năm biết có duyên gì hay không?Ca dao kể:– Bâng khuâng bát ngátEm hát thật hữu tìnhNày em ơi!Căn duyên tiền định xui chúng mình gặp nhau.– Đó chưa chồng, anh đây chưa vợChẳng qua duyên nợ vần xoayTình cờ đó lại gặp đâyTrời xoay đất trở, nên đây gặp nàngMột lòng nghĩa nặng, đá vàngTrăm năm đã hẹn, giữ tròn nợ duyênCách “đổ” cho duyên tiền định, trời định, thiên định thúc đẩy
sự ký thác tâm sự, cõi lòng, hy vọng, nhẫn chịu và cả những ước mơ dai dẳng về
một hạnh phúc sẽ đến trong muộn màng. Chữ Duyên, vì vậy, không chỉ dùng để cắt
nghĩa về một đấng nào đó mà còn dùng để cắt nghĩa chính cuộc sống mỗi cá nhân
mà đỉnh cao nhất của nó là kết hợp Duyên - Phận. Như vậy, Duyên vừa tồn tại như bầu
khí quyển bao la, vạn sự vạn vật vừa ẩn sâu trong mỗi cá thể, mỗi sinh linh.2. Chữ Duyên trong Truyện Kiều - Minh chứng một thiên
tàiYếu tố Phật giáo trong Truyện Kiều không phải là điều
khó tìm; nhưng chắc rằng nó là cái khó đọc.Trần Trọng Kim xác đáng khi quả quyết: “Có người nói rằng:
Nguyễn Tố Như tiên sinh, tác giả Truyện Kiều, là một nhà thâm nho, nay lại nói
tiên sinh theo Phật học, thì cho là không đúng sự thật (…) Tôi dám chắc rằng
tiên sinh là một người học rộng, tinh thông cả Nho học và Phật học” [2].Một dẫn giải khác rất có lý:“Điều đáng ngạc nhiên là nàng Kiều luôn oán trách Trời, Mệnh,
Hóa công, Hóa nhi, Số, Phận, Ông tơ, v.v… và trái lại khi nàng nói đến “nghiệp”
thì cũng là lúc nàng chịu đựng đau khổ và tự oán trách mình thôi” [3]Câu chuyện Nguyễn Du hiểu Phật giáo không hề đồng nghĩa với
việc nàng Kiều “thanh y hai lần” mà vẫn “rơi châu vắng người”. Nàng Kiều đã
hành xử bằng một tâm thức phổ biến về niềm tin Phật giáo trước cuộc đời nhiều
đau khổ, song chưa bao giờ Kiều là một đệ tử đúng nghĩa của Đức Phật. Dường
như đó mới là điều Nguyễn Du nói đến.Các nhà nghiên cứu như Lê Đình Kỵ, Cao Huy Đỉnh, Lê Văn Quán
đều nhìn nhận đó là yếu tố gây hoang mang nhất, khắc đậm niềm bi quan thời đại
của Nguyễn Du cũng như sự “loay hoay”, bế tắc trong triết lí của ông [4].Những bậc tu hành thì thường viện dẫn những câu thơ của Nguyễn
Du để làm chứng cho sự thông hiểu Phật pháp và sự quán chiếu thâm diệu của nhà
thơ về lẽ duyên nghiệp, nhân quả [5].Câu chuyện đối ngược trên về nhận định sự ảnh hưởng Phật giáo
trong Truyện Kiều không có gì lạ khi đại diện hai cách nói ở hai chiều
kích ngược nhau: thế tục và tu hành.Ở một góc nhìn khác, có thể thấy Truyện Kiều là mảnh
đất màu mỡ để Nguyễn Du diễn bày toàn thể khối mâu thuẫn nội tâm với mô hình tự
sự đa thanh, nhiều lớp đối thoại. Truyện Kiều không phải là một tác
phẩm luận đề [6]; Truyện Kiều là một kiệt tác có
tứ văn chương/ tứ thơ thiên tài. Tứ văn chương/tứ thơ không chỉ là nơi chiếu rọi
nội tâm, tư tưởng của tác giả mà còn là chiến trường của mọi tuyên ngôn, định
giá. Lời của Kim Trọng, của Đạm Tiên, của Giác Duyên, của Hoạn Thư, của Từ Hải,
của Hồ Tôn Hiến về phẩm giá và sinh mệnh Thúy Kiều đều là cuộc đối thoại vô tận
của nhiều quan niệm sống mà suy cho cùng, cũng là “tiếng nói hiểu đời” của Tố
Như. Và, Thanh Hiên thi sĩ không đứng ở đâu trong chiến trường đó. Ông không
làm thiên sứ hay đại sứ cho một học thuyết nào, ông chỉ đặt những suy tư ấy vào
thế đối chọi của các nhân vật trong cuộc bi hoan của chính họ. Một nghệ sĩ thượng
thặng biết cách xuất hiện và mất tích trong tác phẩm của mình để nhân vật có
quyền được sống.Trong bài viết Nghiên cứu các hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo
từ góc độ lịch sử tư tưởng và đạo đức học, Trần Đình Hượu xác định một “công thức
sống” phổ quát của kiểu người không theo triệt để một học thuyết nào:Điều này rất cần được soi chiếu vào mô hình tư tưởng Truyện
Kiều, khi mà tác giả của nó cùng lúc đóng rất nhiều vai trong tấn trò đời oái
ăm của cuốn tiểu thuyết bằng thơ. Cái phơi phới ngậm ngùi của mối duyên tình ảm
đạm “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy” không thể lấy làm bằng chứng cho một
tâm hồn giải thoát theo thiền đạo. Kết cục nhiều tranh cãi này đôi khi chỉ khúc
xạ một thứ công thức buồn bã an toàn: tự tại.Trong nhiều bài viết về ảnh hưởng Phật giáo trong Truyện
Kiều, một số tác giả đã không bỏ qua yếu tố “duyên”: “Cái khởi duyên một đời cô
Kiều, tác giả đã báo trước cho độc giả biết ở giấc chiêm bao sau khi đi Thanh
minh về.Việc tình duyên đang dở dang, thì tình nhân phải gọi về quê
xa. Việc tình chưa xong, việc nghĩa tiếp đến. Không dung cha mắc tụng đình, nhà
cửa tan nát” [8]“47 chữ duyên, đứng một mình hay đi chung với chữ khác, mà
thi hào Nguyễn Du dùng trong Truyện Kiều đều nằm trong ý nghĩa chữ duyên, hay
duyên khởi của nhà Phật; trong đó có thể nêu ra một số trường hợp, nào là,
“duyên trời”, “duyên kỳ ngộ”, “trần duyên”, “nhân duyên”, “khuôn duyên”, “dây
duyên”, “duyên đôi lứa”, “duyên bạn bầy,” “duyên nợ”, “tơ duyên”, “vô duyên”,
“cơ duyên”, “duyên xưa”, v.v…” (Huỳnh Kim Quang) [9].Theo thống kê của chúng tôi, Truyện Kiều có 64 lần
xuất hiện chữ “duyên” (trừ tên riêng của Giác Duyên). Bản thân cái tên Giác
Duyên vừa gắn với thuật ngữ Duyên giác thừa vốn là bậc giác ngộ dựa vào lý Thập
nhị nhân duyên vừa có nghĩa Hiểu biết toàn mãn về nhân duyên. Việc Giác
Duyên xuất hiện và chi phối không khí tâm linh của tác phẩm (bên cạnh Đạm Tiên
là một bóng ma của sự khổ) cho thấy ám ảnh về duyên-phận khá đậm đặc
trong Truyện Kiều.Nếu chữ Tâm, chữ Nghiệp, chữ Thân được mô tả như con đường ngắn
nhất gắn tác giả Truyện Kiều với đạo Phật thì chữ Duyên là một minh
chứng khác, rất mạnh mẽ nhưng khó tỏ tường.Dưới đây là bảng phân loại, thống kê các cấp độ nghĩa chữ
Duyên trong Truyện Kiều:
|
STT |
Duyên mang nghĩa hôn nhân, tình yêu |
Duyên theo quan niệm nhân quả Phật giáo |
Duyên mang nghĩa điều kiện quy định hiện trạng |
Duyên mang nghĩa: cảm thức mơ hồ, cắt nghĩa mơ hồ về sự tồn
tại |
|
11 |
Duyên Châu Trần |
Nghiệp duyên |
Còn duyên |
Vô duyên |
|
22 |
Duyên Đằng |
Nhân duyên |
Vô duyên |
Trần duyên |
|
33 |
Ép duyên |
Trần duyên |
Duyên ưa |
Khuôn duyên |
|
44 |
Duyên đôi lứa |
Giải cấu là duyên |
Duyên bạn bầy |
Duyên đằm thắm |
|
55 |
Phải duyên |
Duyên nợ |
Phải duyên |
Duyên bẽ bàng |
|
66 |
Duyên hài |
Cơ duyên |
Duyên đâu |
Sự duyên |
|
77 |
Duyên mới |
|
Còn gì là duyên |
Hết duyên |
|
88 |
Tình duyên ấy |
|
Giận duyên |
Giận duyên |
|
99 |
Duyên trước |
|
|
Phận cải duyên kim |
|
110 |
Duyên sau |
|
|
|
|
111 |
Dây duyên |
|
|
|
|
112 |
Duyên ưa |
|
|
|
|
113 |
Duyên ta |
|
|
|
|
114 |
Kết duyên |
|
|
|
|
115 |
Duyên chị |
|
|
|
|
116 |
Duyên kỳ ngộ |
|
|
|
|
117 |
Tơ duyên |
|
|
|
|
118 |
Duyên hội ngộ |
|
|
|
|
119 |
Duyên nợ |
|
|
|
|
220 |
Duyên em |
|
|
|
|
221 |
Giận duyên |
|
|
|
|
222 |
Duyên kia có phụ chi tình |
|
|
|
|
223 |
Đẹp duyên |
|
|
|
|
224 |
Duyên đằm thắm |
|
|
|
|
225 |
Duyên bẽ bàng |
|
|
|
|
226 |
Duyên Vân |
|
|
|
|
227 |
Phụ duyên |
|
|
|
|
228 |
Chữ duyên càng nồng |
|
|
|
|
229 |
Duyên mày |
|
|
|
|
330 |
Duyên xưa |
|
|
|
|
Duyên + danh từ/ đại từ |
|
Danh từ + Duyên |
|
Tính từ + Duyên |
|
Duyên + Tính từ/ cụm tính từ |
|
Động từ + Duyên |


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét