Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2021

Chuyện làng tôi

Chuyện làng tôi

Từ Thành phố Hồ Chí Minh về đến Trà Kiệu, Duy Xuyên, Quảng Nam, tôi đã phải hỏi mấy lần, xe mới tìm đúng đường vào làng Đông Yên, xã Duy Trinh; sau hơn năm mươi năm xa quê. Phần tôi theo gia đình tản cư khi còn nhỏ, phần qua hai cuộc chiến tranh, quê tôi đã bị tàn phá nặng nề, nay mới bắt đầu xây dựng lại, trong mấy năm đầu vừa có được hòa bình. Cứ mãi tới lui lần tìm đường xưa, cảnh cũ nơi có khuôn viên đất đai nền nhà của cha mẹ ngày trước, lòng tôi càng thấm thía ý nghĩa của mấy câu thơ:
“Trở về quê Tôi như du khách
Mãi quẩn quanh ngơ ngác hỏi đường
Thấm nỗi buồn: Đây chính quê hương
(Ôi cả đời về - thơ Sơn Thu)
Cũng may, trong lúc tôi như người “lạ nước lạ cái”, ngay trên chính nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình thì rất vui tình cờ gặp được các anh Đoàn Công Tiến, Trần Chín, Võ Quang Mười và một số anh em, hiện ở quê nhà, chạy xe máy đến gặp tôi. Qua câu chuyện, các anh dẫn đường cùng đi lên tới giếng đá, gần nhà thờ họ Đoàn, theo lưu nhớ trong ký ức, tôi xác định, nơi này không phải chỗ ở nhà tôi. Cái giếng đá, tôi nói với các anh, là giếng đá gần nhà ông Hương Nghi, nằm trên ngã ba, có lối rẽ vào nhà thờ họ Đặng. Ngược đường lúc nãy, chúng tôi quay xe chạy chầm chậm trên đường quê có hàng rào chè tàu vừa mới ra lá non, hướng về xóm dưới. Đến trước cánh đồng nhỏ, lúa xanh mơn mởn, bắp đang trổ cờ trên con đường đất rộng có mương thủy lợi. Linh tính buộc tôi dừng lại. Qua sự chỉ dẫn và xác nhận của ông cụ, đã ngoài tám mươi tuổi, nền nhà của cha mẹ tôi lúc trước, chính là ở nơi này (cụ đưa tay chỉ vào những đám lúa đang rập rờn trải sóng uốn mình trong gió…) Thấy tôi ngơ ngác, cụ giải thích tiếp: Vào thời sau này, đất vườn nhà nơi đây, đã trở thành đồng ruộng cho bà con trồng cây lương thực. Đường đi trong làng cũng có chút phân ranh thay đổi, đất đai được phân chia lại để làm nông… À ra thế, nên nền nhà của cha mẹ tôi, nay đã hóa nên đồng… Lặng nhìn nhà thờ họ Đặng, nay không có lối vào, cả cái giếng đá đầy ắp kỷ niệm làng quê và tuổi thơ của tôi cũng nằm chìm trong ruộng lúa, cơ hồ như không có thực. Sau này, qua anh Tiệm, tôi được biết bà con họ Đặng, phải mua lại một phần đất nhỏ, để làm đường vào nhà thờ. Về thăm quê lần sau, sớm mai thức dậy, tôi không đi bộ tập thể dục mà quanh quẩn rồi đứng lặng trước “Bia tưởng niệm” bà con quê mình bị lính Đại Hàn sát hại, nghe lòng đau thắt. Tôi thành kính xin quê hương tha tội, không trực tiếp bám trụ quê nhà để chiến đấu, bảo vệ nơi mình sinh ra mà mãi quần nhau với giặc ở chiến trường xa. Tiếng xe Honda của các cô gái làng đi chợ sớm, kéo tôi về hiện thực. Thả bộ qua những con đường nhỏ, ngắn trong làng, tôi tìm đến miếu cổ ngày xưa. Qua chiến tranh, nay không còn nữa, luôn cả cây đa cao, bóng cả, vốn đã có nhiều linh thiêng truyền miệng cũng mất luôn. Có người già nói chuyện: Giặc đã phá miếu đào bỏ cây đa to cùng với bao cây cối khác trong làng, để biến nơi đây thành vành đai trắng. Sau đó không lâu, nơi gốc đa cũ lại mọc lên một cây đa mới, rồi cũng bị đào phá. Gần đây lại lên một cây gòn, nhưng vì cần có đất dân đào bỏ luôn. Cũng may, khuôn viên đất miếu nay còn nhưng nhỏ hơn xưa nhiều. Miếu được xây lại trang nghiêm và khiêm tốn. Nhìn những cánh cửa miếu rêu phong muốn mục, được đóng kín, tôi liền nhớ lại chuyện xưa, nơi đây từng là chỗ quyên góp vàng để lập quỹ đánh Tây, đã từng dùng miếu thờ để dạy bình dân học vụ, vào một buổi tối, có người vô khám thờ lấy dầu châm thêm vào đèn, nghịch ngợm, xoa đầu mấy tượng Phật, khi ra ngồi, không hiểu vì buồn ngủ hay thế nào ngã lỗ đầu, chảy máu, từ đó người ta cũng có phần kiêng nể. Sân miếu không rộng lắm nhưng dân cũng tận dụng làm sân phơi lúa, bắp, đậu, mè. Tôi đi vòng ra phía sau miếu, có nhà nhỏ, để cái xe được thiết kế vừa kéo vừa đẩy, khung, sườn, bánh, dây rất chắc, sơn trắng đã ngả vàng thời gian. Ra khỏi khu vực miếu, tôi gặp người làng và được biết: Đó là xe đẩy quan tài, đưa lên chỗ chôn ở Nổng Bà Hành. Thay vì, trước đây phải có đông người khiêng rất nặng nhọc, đi một khoảng đường khá xa với gò, đồi vất vả. Nay có xe này, cứ để quan tài lên đó. Một người kéo trước mấy người đi sau đẩy, thế là xe đi nhẹ và êm. Tôi cũng được rõ thêm, chiếc xe này do một người xa quê, về thăm làng và tặng để giúp giảm bớt khó khăn cho bà con thôn xóm. Đình làng tôi cùng với cây me to, nay không còn nữa. Khuôn viên đình lưa thưa mấy ngôi mộ, đất còn rộng, chưa dùng vào việc gì. Khác với khu đất “Gò mả Lương”, chạy dài theo bên hông cơ quan xã, cập theo đường đi về phía tháp cổ Mỹ Sơn, đã được chính quyền giải tỏa để làm nên cánh đồng trồng lúa, mồ mả tổ tiên, ông bà họ Lương, phải khẩn cấp dời lên Nổng Bà Hành. Về thăm quê, đứng nơi đầu đường rẽ vào làng, tôi suy nghĩ về cái ao ở khu đất “Gò mả Lương” quanh năm có nước, trong những năm hạn hán kéo dài cũng không bao giờ cạn. Vào dịp lễ tế xuân, Thanh minh năm sau tôi cùng với vợ, con, em và cháu về quê cha đất tổ. Lần này, tôi thật sự ngạc nhiên, khi xe rẽ ngã ba Nam Phước là chạy trên con đường nhựa rất rộng, hai bên có đèn đường theo kiểu vừa cổ vừa tân. Nhưng khi xe chưa qua Trà Kiệu, chúng tôi lại bâng khuâng tự hỏi: “Vì sao con đường bỗng dưng bị bóp hẹp lại, chạy loanh quanh khiến hai xe ngược chiều, dù giảm tốc độ, vẫn khó tránh nhau và cứ thế chạy cho đến Mỹ Sơn, khu di tích văn hóa thế giới. Chúng tôi về làng ăn nghỉ ở nhà bà con, đông vui, ấm cúng. Theo đã thống nhất, tôi tham gia họp Hội Đồng gia tộc, cùng bà con chung góp lo xây dựng lại nhà thờ họ Lương ở Đông Yên và mồ mả Tiên hiền ở Nổng Bà Hành… Quê tôi, khu Văn Thánh không còn lưu dấu vết, trường Tân Tân được xây lại, so với trường xưa, nhỏ hơn nhiều, một số bến đò qua lại sông Thu Bồn đã bị cát bồi lấp, tre gai đua nhau mọc lên um tùm, chằng chịt. Đi sâu vào làng, gặp rất nhiều nhà thờ họ, tộc với nhiều kiểu xây, kích thước khác nhau, nhưng có chung một vẻ linh thiêng, tôn nghiêm, mới xây mà tưởng như đã lâu đời cổ kính. Đường làng được bê tông hóa, cầu xây rộng đẹp, liên xóm, liên thôn, phần đông nhà đã lên ngói mới, nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa, hình như có phần vắng thưa, khiến tôi thâu đêm thao thức. Một thực tế huy hoàng đã từng có ở quê tôi là nhờ phát huy truyền thống làng nghề tốt đẹp, hai Hợp tác xã ở Duy Trinh và Duy Sơn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng nhờ hoạt động có hiệu quả kinh tế cao, giàu tình làng, nghĩa xóm. Cũng trong thời kỳ đổi mới, quê tôi có Anh hùng Lưu Ban, đầu trần chân đất dám nghĩ, dám làm, cùng tập thể làm nên dòng điện nhà quê hòa nhập vào lưới điện quốc gia, góp phần phục vụ phát triển công, nông nghiệp và thuận lợi cho dân dụng. Tôi hy vọng, rồi đây qua xây dựng hợp lý cơ cấu công-nông-dịch vụ đồng thuận, quê tôi sẽ từng bước đi lên, bà con có công ăn việc làm ổn định, đời sống sẽ ấm no hơn… Sáng sớm nay, mặt trời chưa mọc hẳn làng quê tôi đã bừng sáng, màu khoai, lúa xanh tươi, ẩn mình trong những hàng cau vươn cao ngọn là những mái nhà ngói mới, tiếng thoi máy dệt lách ca lách cách hòa vui một điệp khúc làng nghề quen thuộc, khiến lòng tôi miên man nghĩ về bao kỷ niệm:
“Bạc tóc học trò qua lưu lạc
Đi giữa quê hương vẫn nhớ nhà”
(Ôi cả đời về - thơ Sơn Thu).
 Lương Thanh Liêm 
Theo http://www.sonthu.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tiếng phổ thông và ngôn ngữ vùng miền

Tiếng phổ thông và ngôn ngữ vùng miền Lắng nghe ý kiến của Thành Lộc, mới thấy băn khoăn về ngôn ngữ lai tạp không chỉ là chuyện của người...