Mối quan hệ giữa văn học và báo chí
trong ngôn ngữ tiểu phẩm
của Ngô Tất Tố
Ngô Tất
Tố là một nhà văn lớn đồng thời cũng là một nhà báo lớn thời kỳ nửa đầu thế kỷ
XX. Sự nghiệp sáng tác của ông bao gồm nhiều lĩnh vực như: tiểu thuyết, phóng sự,
truyện ký lịch sử, khảo cứu, nghiên cứu phê bình văn học, dịch thuật… nhưng nổi
bật nhất là tiểu phẩm trên báo chí. Trong gần 20 năm viết báo, Ngô Tất Tố đã để
lại một khối lượng tiểu phẩm khá đồ sộ. Tính đến nay cùng với những tác phẩm mới
tìm thấy, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được 1350 tác phẩm đăng báo của ông với
26 bút danh, nhưng chắc chắn đây chưa phải là con số cuối cùng.
Đặc
trưng tiểu phẩm của Ngô Tất Tố thường là những bài văn xuôi ngắn gọn, khoảng từ
300 - 1500 chữ. Những tác phẩm này là “một thể loại của báo chí… mang hình thức
của bút ký chính luận. Tuy nhiên nó dường như là một thể loại trung gian giữa
báo chí và văn học, vừa mang những đặc điểm của báo chí, của bình luận (tư duy
logic), vừa mang những đặc điểm của văn học (tư duy hình tượng)” [1,
tr.86]
Điều
đáng chú ý, đặc trưng của các loại hình văn nghệ trong thế kỷ XX chính là sự
tác động qua lại, sự giao thoa giữa các thể loại văn học, nghệ thuật. Sự tác động
qua lại giữa văn học và báo chí cũng nằm trong sự phát triển chung này. Nhất là
đối với những tác giả đồng thời vừa là nhà báo vừa là nhà văn như Ngô Tất Tố,
Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng…thì sự ảnh hưởng này càng rõ nét. Trong một số bài báo
của mình, Ngô Tất Tố đã kết hợp được sức thuyết phục logic trong kết cấu và lập
luận của tiểu phẩm với sức truyền cảm bằng hình tượng, với khả năng điển hình
hóa và nghệ thuật sử dụng ngôn từ… Song cũng cần phải nói thêm rằng không phải
tất cả các tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố đều có giá trị văn học. Trong thực
tế ông cũng có những bài báo là tiểu phẩm báo chí viết theo yêu cầu cập nhật,
chỉ có giá trị thông tin và cũng không gây ấn tượng nhiều với người đọc. Ở đây
chúng tôi muốn đề cập và tìm hiểu những tiểu phẩm tiêu biểu có sự kết hợp hài
hòa giữa hai yếu tố văn học và báo chí thể hiện qua ngôn ngữ.
Là một
trong những nhà báo thành công ở thể loại tiểu phẩm, với ngòi bút sắc sảo, Ngô
Tất Tố đã ghi lại bằng ngôn ngữ một cách toàn diện nhiều mặt của đời sống xã hội
Việt Nam trong một chặng đường lịch sử: chính trị, kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ,
phong tục tập quán… Toàn bộ tiểu phẩm của ông làm thành một bức tranh rộng lớn
và chân thực về xã hội thực dân phong kiến Việt Nam những năm trước Cách mạng
tháng Tám. Bằng ngòi bút hiện thực, ông tố cáo, đả kích vào mọi mắt xích của bộ
máy cai trị thực dân Pháp và bọn tay sai bán nước, đồng thời nói lên những nỗi
thống khổ, tủi nhục cũng như khát vọng của quần chúng nhân dân. Ngô Tất Tố đã
vượt xa những ông nghè ông cử của chế độ khoa cử để “hút thở cái không khí xã hội
của K. Marx như tất cả các thiếu niên văn sĩ ở hàng tranh đấu” [3, tr.197].
Ngôn ngữ báo chí của ông vì thế vừa mang hơi thở của cuộc sống hiện đại, vừa đậm
tính truyền thống.
Với tư
cách là một nhà báo, Ngô Tất Tố nhìn sự việc bằng “con mắt sự kiện” trên cơ sở
tôn trọng tính chân thực của sự kiện khách quan và có chính kiến rõ ràng, nhất
quán khi cầm bút. Chính vì vậy, khi tấn công vào cái “xã hội mũi lõ và áo thụng
xanh” Ngô Tất Tố đã sử dụng nghệ thuật châm biếm, có khi là ngôn ngữ đả kích
(thường dùng đối với kẻ thù), có khi là ngôn ngữ mang giọng điệu hài hước (thường
dùng trong nội bộ nhân dân), hoặc có khi là ngôn ngữ trào lộng (thường dùng để
viết khi bị kiểm duyệt, cấm đoán).
Trong
thời kỳ Mặt trận Dân chủ khi báo chí bỏ kiểm duyệt, ngòi bút của Ngô Tất Tố
không ngần ngại đả kích trực diện vào bọn thực dân Pháp đầu sỏ cũng như bè lũ
tay sai của chúng. Chỉ trích trò đểu cáng, giả nhân giả nghĩa của quan đầu tỉnh
Bắc Giang phát chẩn số nước mắm quá ít, chỉ có 5 thùng để cứu tế cho gần 3000
dân Yên Thế, chia theo kiểu “đổ hết nước mắm vào bể nước, cho dân kéo đến mỗi
người mút một cái, họa may mới được khắp”, Ngô Tất Tố chế nhạo bằng một giọng
hài hước sâu cay: “Người ta chỉ nói “đội ơn quan trên” “nhờ ơn quan trên”, ai
nói “mút ơn quan trên” bao giờ? Huống chi quan tuần là người thương dân (có
thương mới chăm sóc đến giọt nước mắm của dân), nếu ngài không thể mút ơn của
ai, quyết không khi nào ngài lại bắt dân mút ơn của mình” [4,
tr.246]
Khi chế
độ kiểm duyệt của thực dân Pháp và phát xít Nhật đối với báo chí công khai trở
nên gắt gao, Ngô Tất Tố sử dụng lối viết quanh co, bóng gió thấm nhuần chất
trào lộng đả kích. Có khi trong cả một bài báo, ông chỉ đặt một câu hỏi mà
không hề kết luận. Câu trả lời dành cho độc giả (Đố biết ông Godart là người
gì?)
Trong
trường hợp đối tượng bị phê phán là nội bộ nhân dân thì Ngô Tất Tố lại chuyển
sang ngôn ngữ trào lộng hài hước như trường hợp cô Tây Hoẻn trong tiểu phẩm
cùng tên. Cái cảnh hai vợ chồng cô Tây Hoẻn, một cô gái nông thôn ra thành phố
biến chất và một tên lính Tây hạng bét về làng mới thật là kệch cỡm: “Một anh
lính Tây mũi lõ râu xồm, mình cao bụng phệ dắt chiếc xe đạp đi bên cạnh người
đàn bà phấn son sặc sỡ, quần áo lam, giày cao gót, chiếc ô xanh biếc, chiếu xuống
bọ mặt bị mồ hôi loang lổ, bộ răng trăng nhom nhem khấp khểnh như rã rụa với bộ
môi cong mỗi khi cười nói. Bộ môi ấy, bộ răng ấy đã làm cho dân làng nhận được
là cô Hoẻn, con ông đĩ Hoét” [5, tr.127]. Ngôn ngữ của cô Tây Hoẻn thì
đúng là ngôn ngữ của loại người me Tây, trơ tráo nhưng vẫn giương giương tự đắc:
“Thây mẹ chúng nó, tôi lấy Tây thì tôi tức là đầm rồi, đứa nào vô phúc thì đụng
đến lông chân tôi mà chơi, thầy đừng lo!” [5, tr.130]. Tiếng cười châm biếm
bật lên mang thật nhiều ý nghĩa.
Đặc
trưng của thể loại tiểu phẩm là ngắn gọn vì vậy ngôn ngữ trong tiểu phẩm phải chính
xác, súc tích, cụ thể, đồng thời mang sắc thái biểu cảm rõ
rệt, vừa tạo sự sinh động, gợi mở cho người đọc, vừa thể hiện thái độ lời
bình của tác giả trước sự kiện, hiện tượng mà mình phản ánh. Ở điểm này, Ngô Tất
Tố đã sử dụng khá thành công ngôn ngữ với chức năng là “cái vỏ trực tiếp của tư
duy, là phương thức làm phát lộ tác giả, từ khuynh hướng tư tưởng, thái độ sống,
cách thức suy nghĩ, cho đến vốn tri thức, khả năng phát hiện vấn đề, khả năng
phân tích và bóc trần bản chất của sự kiện” (PGS.TS. Vũ Duy Thông) [1, tr.233].
Vạch trần sự giả dối, lừa bịp của bọn thực dân khi rêu rao khẩu hiệu “Pháp-Việt
đề huề” “Pháp-Việt hợp tác thân thiện”, Ngô Tất Tố đã ví nó như một “đứa con
hoang” của một cuộc tình duyên cưỡng ép giữa người Pháp và người Nam. Còn thân
thế của hai bên chẳng khác gì “một kẻ nằm trên giường. một người nằm
dưới đất, một kẻ ăn thịt, một người gặm xương” làm sao mà thân thiện
được. “Thế mà lạ thay cho cuộc tình duyên ấy, phân ly, đoạn tuyệt đã không bên
nào muốn, nhưng ăn ở với nhau vẫn cứ khăng khăng hai ý tưởng, một bên thì kiêu
căng kỳ thị, một bên thì phẫn uất căm hờn, cái không khí vui vẻ thuận hòa
không dễ có, làm cho đứa con kia chịu cái giáo dục xấu, sinh ra cái tham bạo giả
dối, làm cho hai bên cùng ngờ vực, cùng ghét bỏ ruồng rẫy, không muốn nhận nó. Ấy
“hiệp tác” sinh ra “hiếp tác” cũng vì thế” [4, tr.345].
Không
thể phủ nhận vốn từ ngữ phong phú được dùng một cách chính xác và súc tích
trong tiểu phẩm của Ngô Tất Tố. Chỉ với một từ hiếp tác cũng chính tỏ
khả năng sáng tạo ngôn từ của ông. Hiếp tác là dùng quyền lực bắt người
khác phải thực thi, phải đành chịu thua thiệt mà không làm gì được. Bọn thực
dân Pháp đã dùng khẩu hiệu giả dối Pháp Việt hiệp tác để che đậy những hành động
ức hiếp bất công đối với người An Nam. Ngô Tất Tố đã gọi đúng bản chất của hành
động lừa bịp đó bằng một từ hiếp tác chứ không phải hiệp tác.
Không
chỉ sử dụng vốn từ Hán Việt một cách thành thạo, Ngô Tất Tố còn sử dụng rất chuẩn
xác vốn từ thuần Việt. Để Lên án chính sách cướp đoạt và bóc lột dân chúng thuộc
địa đến tận xương tủy của bọn “quốc mẫu”, Ngô Tất Tố đã dùng những từ ngữ thuần
Việt giàu hình ảnh, mang tính chất biểu cảm rõ nét. Ông viết: “Đông Dương xưa
nay vẫn có tiếng là một thuộc địa giàu có nhất của nước Pháp. Chẳng thế mà vẫn
đứng đầu trong các việc đóng góp với quốc mẫu về quân phí, về quốc trái, về lạc
quyên. Lại những con số suất cảng, nhập cảng hàng năm cộng lên con số kếch
sù. Những quan lại công chức hàng năm biết bao gia đình khi nheo nhóc kéo
sang, chẳng bao lâu đã phởn phơ kéo về, hành lý kĩu kịt. Lại biết bao
nhiêu những tài chủ, nghiệp chủ và điền chủ cùng những danh công, đại thương, lập
nên những công ty vĩ đại, những cổ phần, những thương phiếu trên thị trường quốc
tế có một địa vị cao quý, làm cho bao kẻ thèm muốn cái xứ bờ môi ruộng mật
này” [4, tr.335].
Có thể
nói, ngôn ngữ chính xác, nhuần nhị và súc tích chính là một trong những yếu tố
quyết định làm cho tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố rất ngắn gọn, không có
thành phần thừa, có lượng thông tin tối đa trong số từ tối thiểu.
Mặt
khác, tiểu phẩm của Ngô Tất Tố luôn mang tính “tả chân”, thường nói về người thật,
việc thật mà rất ít khi dùng tính phiếm chỉ. Các nhân vật, sự việc được đề
cập đến trong bài báo của ông đều có địa chỉ, tên tuổi, nghề nghiệp rõ ràng.
Chính vì thế mà tính chiến đấu của bài viết cao, sức tố cáo mạnh mẽ. Ngôn ngữ
tiểu phẩm do đó sắc sảo, giàu tính luận chiến. Trong ngôn ngữ bút chiến, Ngô Tất
Tố luôn thể hiện thái độ dũng cảm, thẳng thắn, tập trung mũi dùi về một phía.
Ông có khả năng nhìn nhận rõ bản chất của sự kiện, hiện tượng, vấn đề qua các mặt
yếu kém, tiêu cực. Lên án loại người đục nước béo cò “thầy cò” lợi dụng sự cả
tin của người dân quê mà đục khoét, thu lợi, Ngô Tất Tố thẳng tay phê phán: “Bọn
thầy cò là bọn lái buôn lẽ phải, lại là bọn thợ chế ra tội ác nữa, họ chỉ là kẻ
trên không chằng dưới không rễ thế mà người lương dân một khi đã mắc vòng kiện
tụng thì họ hành sai dẽ khiến được như người ngoan đạo. Những cái công trình
hàn gắn để gây nên cơ nghiệp, những của mồ hôi nước mắt đều bào bọt đem ra theo
bọn thầy cò dắt díu đi tòa này sở khác cho tới khi thật nghiệp ăn mày. Họ làm
điên đảo cả trật tự trong gia đình, ngoài xã hội, thực là một cái tội ác tầy trời” [5,
tr.104, 105].
Tìm mọi
cách để vạch mặt, bóc trần những âm mưu, thủ đoạn bóc lột của bộ máy chính quyền
thực dân phong kiến, ngòi bút của Ngô Tất Tố luôn mang tính “dấn thân” mà không
màng đến hậu quả. Ông vạch mặt chỉ trán từ những tên thực dân chóp bu như thống
sứ Tholance, toàn quyền Brévié… đến những tên tay sai đầu sỏ như Phạm Quỳnh,
Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Quang Chiêu, Phạm Huy Lục, Nguyễn Năng Quốc, Hoàng Trọng
Phu…, cùng bọn tham quan. Bằng ngòi bút tiểu phẩm, Ngô Tất Tố đã cho thấy bộ mặt
thật và những luận điệu tuyên truyền lừa bịp của thực dân Pháp và bè lũ tay
sai: “Chẳng ai dùng đến chữ “đánh chiếm”, người ta đó là công cuộc rất nhân đạo
của mấy nước văn minh vì thiên chức mà khai hóa cho những dân tộc dã man… Trăm
lần đúng cả trăm. Hễ mở miệng trước mặt lũ dân bị chinh phục, mấy ông văn minh
không bao giờ quên cái giọng chứa chan nhân nghĩa ấy. Tôi đương thành tâm kính
phục mấy cái nhân đạo của mấy ông đó và muốn tin rằng ở trên đời này chỉ có cuộc
khai hóa, không bao giờ có cuộc đánh chiếm. Thế nhưng tôi vẫn còn phân vân và tự
hỏi thầm: “Nếu quả như vậy thì ra cái trận châu Âu đại chiến năm 1914 cũng do mấy
ông Nhật nhĩ man định khai hóa cho nước Pháp à?” [4, tr.366-367].
Nói đến
ngôn ngữ bút chiến của Ngô Tất Tố, các nhà nghiên cứu như Phan Cự Đệ, Vũ Duy
Thông đều cho rằng Ngô Tất Tố thường sử dụng cấu trúc “nâng lên để đập”. “Lúc đầu
là dùng những hình tượng, lời lẽ rất “đại ngôn” để “làm ầm lên”, đưa đối tượng
lên tầm tối quan trọng” “nâng lên tít mây xanh rồi bất ngờ cho rơi thụp xuống đất
đen” như trường hợp của như trường hợp của nhà học giả Phạm Quỳnh trong tiểu phẩm Tiên
sinh Phạm Quỳnh cãi lộn với ông Thượng Chi, hay Phạm Huy Lục trong Chỉ có
ông ấy đáng làm dân biểu.
Một đặc
trưng khác của ngôn ngữ báo chí Ngô Tất Tố là giàu hình tượng và đa thanh.
Đó là khả năng “tái hiện lại những hiện tượng của cuộc sống một cách cụ thể,
sinh động bằng những từ ngữ gợi cảm, gợi hình, gợi thanh; nói cách khác, ngôn
ngữ có tính hình tượng là ngôn ngữ rất giàu hình ảnh, đường nét, màu sắc, âm
thanh, nhạc điệu…, có khả năng tác động mạnh mẽ, tác động sâu xa vào trí tưởng
tượng và cảm nghĩ của người đọc” [2, tr.150]. Đây chính là đặc trưng
văn học trong tiểu phẩm của Ngô Tất Tố. Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi Ngô Tất Tố
là một nhà báo, đồng thời cũng là nhà văn xuôi. Ngôn ngữ văn xuôi đã in đậm dấu
ấn trong ngôn ngữ báo chí Ngô Tất Tố. Đặc trưng của ngôn ngữ văn xuôi là tính
chất tạo hình và đa thanh. Đa thanh là vì có sự trộn lẫn ngôn ngữ người kể chuyện
với ngôn ngữ nhân vật và trong ngôn ngữ nhân vật này lại có giọng điệu ngôn ngữ
nhân vật khác. Sử dụng nhiều giọng điệu đan xen vào nhau là một biểu hiện của
tính đa thanh trong ngôn ngữ tiểu phẩm của Ngô Tất Tố. Trong một tiểu phẩm của
Ngô Tất Tố, ta bắt gặp nhiều giọng điệu, có khi là một cuộc đối thoại
trực tiếp:
“Hôm nọ
trong bài, “ông Phạm Quỳnh cãi lộn với ông Phạm Thượng Chi” thấy anh kể ra một
xâu dài chức tước của ông Quỳnh, tôi cũng khen anh là người nhớ kỹ. Tuy vậy,
anh còn bỏ sót của ông ấy một chức rất trọng yếu.
– Bỏ
sót chức gì.
– Chức
Phó vẽ.
– Anh
thật nhà quê quá. Phạm tiên sinh là một nhà dở học giả, dở chính trị, ngài có
thèm làm thợ vẽ bao giờ, sao anh dám tặng ngài chức đó?” [4, tr.109].
Có khi
là cách nói gián tiếp mỉa mai sâu cay về một đối tượng hay một vấn đề
nào đó:
“Thôi
thì, ai trách phải chịu, đã gặp hãy nói:
Ông Phạm
Quỳnh là bạc tình lang.
Ấy chết,
nói vậy không đúng, chữa lại kẻo ông ta phản đối.
Ông Phạm
Quỳnh chẳng khác gì bạc tình lang.” [4, tr 91].
Có lúc
là “một cuộc giao thoại với nhiều giọng điệu khác nhau”, tạo nên một âm hưởng
đa thanh trong khi bình giá, giải thích một sự kiện:
“Vì cớ
gì mà họ bầu ông Lục?
Vì ông
Lục là người có học
Không
phải.
Vì ông
Lục là dân biểu do dân bầu ra.
Càng
không phải
Thế
thì vì gì?
Vì trời
Anh vẫn
chưa hết cái óc mê tín?
Đâu phải?
“Cái trời” tôi nói đây không phải là “cái trời” mù mù xanh xanh, mà nhiều người
vẫn gọi là chúa tể của vũ trụ, “cái trời” tôi nói đây là “trời” của dân” [4,
tr.96].
Bên cạnh
ngôn ngữ đa thanh, tính hình ảnh trong ngôn ngữ báo chí Ngô Tất Tố lại là kết
quả của nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ ngôn ngữ. Những phép ẩn dụ, so sánh
ví von, lộng ngữ,, phản ngữ, chơi chữ… được ông vận dụng rất linh hoạt. Ngoài
thủ pháp so sánh thường được Ngô Tất Tố sử dụng như đã nói ở trên, cũng có lúc
Ngô Tất Tố lại sử dụng thủ pháp ẩn dụ (so sánh ngầm) chứ không nói một cách
công khai, tạo cho người đọc sự tưởng tượng kín đáo. Trong tiểu phẩm Kêu
thay cho mấy con chó Bắc Ninh, Ngô Tất Tố đả kích việc ra nghị định bắt người
dân thuộc nội thành phải đóng sưu cho mỗi con chó 4 hào một năm, bất kể là chó
Tây, chó An Nam hay chó Nhật. Tác giả viết: “Loài chó tuy hết thảy đều không có
sản nghiệp, không có lương tháng, không có nghề gì kiếm ăn, nhưng cũng có con
sướng, con khổ. Khổ là chó nhà nghèo, quanh năm ăn đói nhịn khát, sướng là chó
nhà giàu, thường được no bụng luôn luôn. Vậy mà nhất luật bắt mỗi đầu chó đều
phải 4 hào công sưu, e rằng không được công bằng” [4, tr.393-394]. Không
trình bày sự bóc lột, đàn áp dân chúng của bọn quan lại “cha mẹ dân” nhưng qua
hình tượng mấy con chó, Ngô Tất Tố đã gợi cho người đọc nghĩ đến chính sách thuế
thân một thứ thuế cực kỳ vô nhân đạo do bọn thực dân Pháp đặt ra.
Sử dụng
các điển tích, điển cố, khai thác tục ngữ, ca dao, thành ngữ trong ngôn ngữ dân
gian cũng là một thủ pháp Ngô Tất Tố hay dùng và dùng rất có hiệu quả. Nó làm
cho ngôn ngữ của ông cô đọng hơn, dễ nhớ, dễ hiểu, giàu tính biểu cảm và gần
gũi với lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân. Chẳng hạn, ông sử dụng câu tục
ngữ “quan tha, ma bắt” để ví với bọn quan lại đẽo bóp dân chúng: “Hành động của
họ chẳng khác gì một lũ tà ma. Bởi thế câu tục ngữ mới đem họ mà nối liền với
ma trong câu “quan tha ma bắt” [6, tr.223].
Hay
khi mỉa mai về việc bảo tồn quốc túy trong việc cải cách y phục của chị em phụ
nữ, Ngô Tất Tố còn sử dụng cả bài ca dao xứ Bắc Kỳ, tạo cho tiểu phẩm giá
trị hài hước, châm biếm sâu sắc:
“Tháng
sáu có chiếu vua ra
Cấm quần
không đáy người ta hãi hùng
Chăng
đi thì chợ không đông
Đi ra,
bóc lột quần chồng sao đang?
Có quần
dọn quán bán hàng
Không
quần ra đứng đầu làng trông quan…” [4,
tr.443]
Thành
ngữ, quán ngữ cũng được Ngô Tất Tố sử dụng khá nhiều để làm giàu tính hình tượng
cho ngôn ngữ tiểu phẩm. Những thành ngữ như: “tốt đất cò đậu” “nghe hóng nói hớt”,
“của đi thay người” (Đa tạ ông thần sốt rét, Thời vụ, số 107, 3/3/1939),
“chia năm sẻ bảy”, “trơ như mặt thớt” (Chúng ta phải cảm ơn đi chứ, Thời vụ, số
88, 20/12/1938)… đều được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, đạt hiệu quả nghệ thuật
cao.
Những
câu thơ được Ngô Tất Tố sử dụng cũng góp phần làm cho ngôn ngữ tiểu phẩm trở
nên giàu hình ảnh, lôi cuốn người đọc. Ngô Tất Tố đã mượn những câu thơ của những
tác giả nổi tiếng trong lịch sử như Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều,
Hồ Xuân Hương, mượn chuyện xưa để nói chuyện đời nay. Những câu thơ trong Truyện
Kiều được tác giả vận dụng trong rất nhiều trường hợp. Trong bài Bà ấy chỉ
hiểu lầm một câu trong Truyện Kiều, tác giả dẫn một câu Kiều đã bị hiểu lầm:
“Buộc chân thôi cũng xích thằng nhiệm trao”. Sự hiểu lầm này đã gây những chuyện
đau khổ tuyệt vọng. Trong bài Vài chấm nhỏ của thời đại đã qua, Ngô Tất Tố
đã trích một câu trong Truyện Kiều “Kể trong các món chơi của trẻ con, đố lá là
thứ có ích. Cổ nhân nghĩ ra kiểu ấy, không phải cốt để cho trẻ con tiêu khiển,
các cụ còn muốn cho chúng nó thuộc hết các loài cây nữa; đọc Truyện Kiều thấy
câu:
“May
thay giải cấu tương phùng
Gặp tuần
đố lá thỏa lòng tìm hoa” [5,
tr.337]
Có tiểu
phẩm ta lại bắt gặp thơ của Nguyễn Gia Thiều trong bài Cung oán ngâm khúc:
“Cung oán ngâm khúc đã có một câu chí lý mà rằng:
Có âm
dương có vợ chồng
Dẫu từ
thiên địa cũng vòng phu thê” [4,
tr.418]
Cả thơ
của Nguyễn Khuyến cũng có mặt trong tiểu phẩm của Ngô Tất Tố: “Vậy thì với ông
vô danh này cũng như với bác Nguyễn Khắc Mậu, tôi muốn can cả hai người bằng
hai câu của cụ Yên đổ:
Ai chẳng
biết chán đời là phải
Nhưng
vội gì đã mải lên tiên” [4,
tr.422]
Đặc biệt
ngôn ngữ tiểu phẩm Ngô Tất Tố còn được thể hiện dưới dạng hát nói như tiểu phẩm Gửi
một bạn vệ quốc đoàn, Gửi bạn (báo Cứu quốc số xuân năm
1948 và 1949), dưới dạng văn tế như tiểu phẩm Nhớ viện xưa (Thời vụ, số
42, 5/7/1938) và dưới dạng chèo như tiểu phẩm Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (tạp
chí Văn nghệ, số tháng 6/1954).
Có thể nói với tư cách là người nghệ sĩ trên mặt trận ngôn từ, Ngô Tất Tố xứng
đáng là một tấm gương sáng cho những người làm báo ngày nay về nghệ thuật sử dụng
“cái chữ”. “Ngôn ngữ tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố đã kết hợp được nét
sắc nhọn mạnh mẽ của ngôn ngữ báo chí với chất thâm thúy, nhuần nhị, hàm súc của
ngôn ngữ văn chương… Ngôn ngữ không chỉ nhằm biểu đạt những ý tưởng một cách
thông thường mà còn tham gia trực tiếp vào việc xây dựng và kiến trúc nội dung
của tác phẩm” (GS. Hà Minh Đức) [3, tr.453].
22/5/2019Nguyễn Thị Thu Trang
22/5/2019
Nguyễn Thị Thu Trang


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét