Thứ Ba, 2 tháng 12, 2025

Tôi yêu "Con trai phố cổ" của Nguyễn Việt Hà

Tôi yêu "Con trai phố cổ"
của Nguyễn Việt Hà

Tôi được đọc Nguyễn Việt Hà mới từ 2014, trong khi tác phẩm của anh xuất hiện từ 1999 với Cơ hội của Chúa. Đến bây giờ, năm 2024, anh đã thành công trong các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và xuất sắc nhất là tạp văn. Trong đó Con giai phố cổ (2013) đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc về giọng văn, nghệ thuật diễn đạt và cảm xúc.
Không thể tách biệt rành rẽ ba khía cạnh này bởi chúng đan xen, hòa quyện nhau rất tự nhiên và gây lý thú rất riêng cho người đọc. Chỉ thấy gật gù, khoái trá và rất tâm đắc. Nhưng đôi khi tự hỏi hay ở chỗ nào thì lại ngẩn người ra, trầm ngâm suy nghĩ và cảm nhận. Giống như một người tình mà ta say mê, nhưng nếu tự vấn: yêu vì lẽ gì thì đành chịu. Chỉ thấy đáng yêu thì yêu thôi. Mà một khi trái tim đã rung động rồi thì mọi lý lẽ là vô nghĩa.
Trước đây viết về Hà Nội, với thể loại tùy bút có Thạch Lam, Vũ Bằng. Hà Nội băm báu phố phường của Thạch Lam thì tinh tế, nhẹ nhàng, giàu chất thơ. Còn Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng lại thức dậy trong mỗi người các giác quan ẩm thực riêng biệt, độc đáo khi thưởng thức những đặc sản không thể có bất cứ vùng miền nào – bởi nó là riêng của Hà Nội. Song cả Thạch Lam và Vũ Bằng đều để lại trong lòng chúng ta một cảm giác chung đó là hoài niệm về vẻ đẹp của cái thời một đi không trở lại. Hương vị của những gì là tinh hoa do trời đất và con người tạo nên ấy, giờ đây hình như không còn nữa. Bởi chỉ có thiên nhiên trong những ngày tháng ấy, chỉ có những con người xuất thân trong hoàn cảnh riêng của gia đình và hoàn cảnh chung của xã hội trong thời đại ấy, mới tạo nên những áng văn tài hoa như thế ấy!
Đến tạp văn Con giai phố cổ, tôi thấy giữa Nguyễn Việt Hà với thế hệ nhà văn lớp trước là Thạch Lam và Vũ Bằng có một điểm chung. Cả ba đều không đã động đến kỳ hoa, dị thảo hay món ăn cầu kỳ, hiếm có khó tìm, hoặc giới phong kiến quý tộc trong cuộc sống đất kinh kì trong quá khứ. Những đối tượng họ đề cập tới chủ yếu là những gì bình thường ta thường gặp trong đời sống hàng ngày. Nhưng chính những sự vật, hiện tượng, con người bình thường ấy lại tạo nên tinh hoa của một Hà Nội ngàn năm văn vật.
Điều độc đáo của Nguyễn Việt Hà trong tạp văn này là anh hoàn toàn tập trung bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ, đánh giá của mình về người Hà Nội. Nếu coi Hà Nội ngày nay tức là Thăng Long xưa là nơi hội tụ tinh hoa của cả nước thì người phố cổ trong tạp văn Nguyễn Việt Hà là đại diện cho tinh hoa Hà Nội. Ca dao từng có câu:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Trong số đó có ba loại nhân vật tiêu biểu cho người phố cổ là “cao bồi già Hà Nội”, “con giai phố cổ” và “bạn vong niên”. Một điều phi lý. Bạn vong niên, theo Nguyễn Việt Hà là bạn lệch tuổi, đương nhiên già hơn và thường già hơn một can (10 năm), hay một chi (12 năm). Còn cao bồi già Hà Nội “là những ngoại hình trung niên, rất khó đoán tuổi, đã gần sáu mươi hay ngoài bảy mươi.” Vậy mà cả hai đều được gọi là “con giai phố cổ” – xếp ngang cùng lứa thanh niên mới lớn mười bảy, mười tám cho tới khoảng ba mươi xuân xanh. Cách xếp ngang hàng như vậy cho thấy cái nhìn của Nguyễn Việt Hà về hình tượng con giai phố cổ rất nhân văn. Người đàn ông ở phố cổ Hà Nội không có tuổi, họ luôn trẻ trung, lịch lãm, hóm hỉnh, thông minh và hấp dẫn trước bất kỳ một đối tượng khác giới nào.
Một trong ba nhân vật “con giai phố cổ”, trước hết, Nguyễn Việt Hà dành lòng quý mến, tâm đắc, biết ơn nhất của mình cho “bạn vong niên”. Một điều kiện hiếm có, khó tìm, độc đáo đến lạ lùng là người đó thường tự chọn cho bản thân một cuộc sống cá nhân hoàn toàn tự do, không chịu vướng bận hoặc bị kiềm tỏa bởi bất cứ lý do gì. Đó là cuộc sống độc thân, phải chăng đây là yếu tố chủ quan đầu tiên khiến họ tự do lựa chọn bạn tri âm tri kỷ của mình và cũng tùy ý cư xử với người ấy theo cách tốt nhất và thú vị nhất.
“Cho dù ở cữ tuổi nào hay từng đã vài lần hôn nhân nhưng hiện tại bọn họ đều sống độc thân, thỉnh thoảng có người ở cùng mẹ già. Đã được họ coi là bạn thì có thể đến chơi nhà họ bất kể giờ giấc, không cần bất cứ lý do gì. Và nếu chiều có muộn, đêm có khuya, trời có mưa thì đương nhiên thanh thản thoải con gà mái nằm lại dùng bữa ngủ thân mật. Có vẻ như họ không có khái niệm bị làm phiền, mặc dầu chẳng bao giờ có ai thấy họ quấy rầy người khác.” Cách sống ấy làm không ít người tò mò nhận xét và bình phẩm là lập dị. Nhưng hiểu rõ quyền sống cá nhân, bạn vong niên tự tin, điềm nhiên sống theo ý mình, bất chấp dư luận đàm tiếu. Bởi vậy ai được trở thành tri âm tri kỷ của bạn vong niên thì phải là người yêu tự do của bản thân mình và biết tôn trọng tự do của người khác.
Bạn vong niên với Nguyễn Việt Hà còn là người cực kỳ hiểu biết nhờ đọc nhiều và từng trải. Song điều vô cùng đáng quý, đáng trân trọng và nể phục là tấm lòng nhân hậu được thể hiện hết sức tinh tế, chân thành và giản dị của bạn vong niên. Đối với người bạn trẻ, ít tuổi hơn, chưa va vấp nhiều với đời, bạn vong niên không bao giờ có thái độ kẻ cả, bề trên, lên mặt dạy đời hoặc mỉa mai châm biếm. Như một người anh lớn độ lượng, bao dung, sẵn sàng cảm thông, chia sẻ; đồng thời lại như một người bạn thấu hiểu cả những điều mà anh bạn trẻ kia không nói ra hoặc chưa thể nói, bạn vong niên không nêu cụ thể cách giải quyết mà khéo léo, tế nhị, mượn những mẩu chuyện xa xôi vừa thực, vừa buồn cười để khiến cho bạn hiểu ý bóng gió mà tự giễu cợt bản thân và nhìn đời bằng đôi mắt tỉnh táo hơn. Tuổi trẻ vốn hay cực đoan tin yêu hết mình nên thất vọng cũng cùng cực, gần như tuyệt vọng. Trong những cảnh huống ấy, bạn vong niên là ánh sáng dẫn đường đưa bạn ra khỏi tuyệt lộ: “Khi tỉnh hẳn giấc, gã trai bàng hoàng thấy trời thật sáng. Rồi thấy cái trường đại học mình thi trượt hình như cũng chó chết. Hoặc rồi thấy mình cũng chẳng cần nhảy cầu tự vẫn, vì cái cô vợ tha hóa kia cũng chẳng đáng phải chặt chân chặt tay mà chỉ đáng nhổ một bãi nước bọt.”
Năm tháng qua đi, những chàng trai trẻ ngày nào đã trưởng thành và chín chắn. tình bạn vong niên vẫn hồn nhiên như khí trời, quý giá như chất màu trong đất giúp cho cây đời tri âm tri kỷ mãi mãi xanh tươi. Cây đời càng phát triển tán lá xum xuê của nó giống như bạn vong niên luôn luôn tỏa bóng mát che cho bạn khi nắng gắt, cản ngăn gió mạnh lúc mưa dông. Viết về tình bạn có nhiều câu nói hay. Nhưng ít có áng văn nào ngợi ca đầy biết ơn, hàm súc, trang trọng và cảm động như những lời của Nguyễn Việt Hà dâng tặng cho bạn vong niên – loại nhân vật hiếm có giữa đời thường trong Con giai phố cổ: “Bạn vong niên giống như tiểu thuyết kiệt tác nó chỉ rưng rưng sẻ chia trải nghiệm, không bao giờ dạy khôn, không bao giờ đưa ra những giải pháp. Nó song hành cùng người đọc bằng tinh thần độ lượng, bình dị, vị tha. Nó trân trọng tất cả những sai lầm trong trắng.”
Có những phẩm chất độc đáo như vậy không phải vì bạn vong niên là thần thánh. Họ là những con người bình thường sống giữa nhân gian. Họ vô danh chứ không hề nổi danh như một nghệ sĩ ưu tú hay nghệ sĩ nhân dân nào. Họ cũng từng có tuổi thanh xuân như anh bạn trẻ kia. Như vậy bao cay đắng, tủi nhục, khổ đau mà tuổi trẻ bất ngờ hứng chịu, dằn vặt, quằn quại họ cũng từng chịu trận, ngấm đòn và vượt thoát nhờ người bạn vong niên của chính họ: “Chỉ có những tài năng đã cay đắng thì mới chân thành biết  thương những tài năng được Chúa sinh ra sau mình. Thuật ngữ của “văn minh bằng hữu Phương Đông” xót xa gọi đó là lòng liên tài. Và tấm lòng hồn hậu ấy đã nuôi dưỡng cho văn thơ nhạc họa Thủ đô được không ít những tác phẩm bất hủ.”
Bạn vong niên dám sống cô đơn giữa đám đông người được tạo nên bởi chính tấm “lòng liên tài” đó. Lòng liên tài ấy không phải bây giờ mới có mà nó được kế thừa có sáng tạo từ truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Nó vượt qua cả thời gian và không gian mà thi hào Nguyễn Du là tiêu biểu. Không có tấm lòng liên tài thì không thể có tiếng khóc của Tố Như tiếc thương cho tài sắc nàng Tiểu Thanh sống trước ông ba trăm năm mãi tận bên Trung Quốc. Lòng liên tài là niềm tự hào và khát vọng của Nguyễn Du khi nghĩ đến thế hệ mai sau trong bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí”:
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.
Dịch là:   
Ba trăm năm nữa ta nào biết
Thiên hạ ai người khóc Tố Như.
Trước đây, trong thơ ca, chúng ta chỉ thấp thoáng mấy nét về tình bạn vong niên giữa Lý Bạch với Mạnh Hạo Nhiên – hai nhà thơ nổi tiếng đời Đường trong bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (được dịch là: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng.)
Cổ nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.
Phải đến nhà văn Hà Nội Nguyễn Việt Hà, bằng tạp văn, với lòng biết ơn chân thành sâu sắc, anh đã bộc lộ cảm xúc, kể, tả, nhận xét, bình giá… giúp ta hiểu cụ thể và xúc động thực sự trước hình tượng bạn vong niên. Bạn vong niên là những tinh hoa đầu tiên trong lớp con giai phố cổ và trở thành mơ ước của nhiều người, đặc biệt là giới nghệ sĩ. Bởi vì theo Nguyễn Việt Hà:  “Đến ngày nay, cuộc sống vẫn nhan nhản nhiều bất trắc. Đã thật lương thiện đàng hoàng đàn ông rất dễ rơi vào cảnh khốn cùng hoạn nạn. Ở vào hoàn cảnh “khốn nạn” ấy, vợ thì bạc, con thì nhỏ, cái danh cái lợi thì phù phiếm chẳng cứu giúp gì. Duy nhất chỉ có một điều tin được, nó ấm áp an ủi để cố tử tế mà sống, đó là nghĩa tình từ những huynh đệ bằng hữu.
Và tuyệt vời thay, trong số những bằng hữu hiếm hoi đấy, luôn có một người bạn vong niên da sắp mồi tóc đã bạc.”
Ước có một người bạn vong niên trong đời chính là mơ về một người tri âm tri kỉ. Bởi muốn có một tình bạn tri âm tri kỉ như thế một tình bạn lý tưởng như thế thì cả hai đều phải tu thân. Để có một người bạn vong niên của mình hoặc mình trở thành bạn vong niên của người nào đó thì cả hai đều tìm đến nhau bởi lòng liên tài. Tu thân để thành tài đã khó rồi, lại còn khiêm nhường, tôn trọng, thương quý cả những người tài năng mà bất hạnh khác còn khó hơn. Bởi kẻ có tài mà không có tâm thường ích kỷ, kiêu căng, tự phụ, khinh người. Hơn nữa còn do số phận quyết định. Nếu có được tri âm tri kỷ rồi liệu có giữ được bền lâu. Tình bạn giữa Bá Nha với Chung Tử Kỳ chẳng là bi kịch của khát vọng tri âm tri kỷ đó sao? Nhưng dù cái Đẹp trên đời mong manh lắm thì bạn vong niên vẫn là con người đẹp trong những giấc mơ đẹp của Con giai phố cổ.
Loại con giai thứ hai mà Nguyễn Việt Hà gửi gắm cảm xúc thú vị, tự hào nối tiếp là “cao bồi già Hà Nội”. Có lẽ viết về loại con giai thứ hai này, Nguyễn Việt Hà đã thể hiện nguyên tắc trò chơi trong tư duy hậu hiện đại. Anh đã hạ bệ những quan niệm độc tôn, nhất thành bất biến trong xã hội Việt Nam thời bao cấp về con người. Anh đưa nhân vật của mình đến sát hơn cuộc đời thực, “nơi các sự vật, hiện tượng xảy ra chủ yếu theo quy luật ngẫu nhiên”, anh “không cắt nghĩa những ngẫu nhiên đó”. (Khái niệm hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học)
Cao bồi vốn là một danh từ chỉ người làm nghề chăn bò ở châu Mỹ. Họ thường mặc quần bò bó sát người, đội mũ rộng vành; cử chỉ mạnh mẽ, ngang tàng, phóng khoáng giữa những đồng cỏ bao la. Nhưng ở Việt Nam, trong thời bao cấp, danh từ này bị hiểu sai lạc. Khoảng từ 1955 – 1980, cao bồi thường dùng để gọi những thanh niên ăn mặc khác người. Áo thường kẻ ca rô sắc màu xanh, đỏ, vàng nổi bật; quần thì hoặc tuýp chật bó lấy chân, hoặc loe rộng, miệng phì phèo thuốc lá, đi đứng tự tin, đầu ngẩng cao. Nhưng dưới con mắt của các nhà giáo dục và dân chúng thời đó thì đấy là kiểu cách của những thanh thiếu niên mới lớn, đua đòi ăn chơi, lười biếng học hành, không tuân thủ nội quy, kỷ luật. Đã từng có lời ca chế giễu, chê trách họ:
Học sinh cao bồi mặc áo sơ mi ca rô
Lại thêm cái quần ống tuýp trông như ma cô
Và cũng từng có phong trào cán bộ Đoàn Thanh niên tổ chức dùng kéo cắt bỏ những quần ống tuýp hoặc loe của những ai mặc nó trên đường phố. Dư luận coi họ là những kẻ lố lăng, ngạo ngược và thường chỉ trích, phê phán khá mạnh.
Thế mà, đến tạp văn của Nguyễn Việt Hà danh từ ấy lại được khẳng định một cách ngạo nghễ, tự tin trong nhan đề “cao bồi già Hà Nội.”
Vào thời kinh tế bao cấp tất cả nhu yếu phẩm đều do nhà nước quản lý và phân phối theo kế hoạch nên cuộc sống rất thiếu thốn, khó khăn. Chỉ có cán bộ, công nhân viên nhà nước mới được cấp tem phiếu để mua gạo, thịt, vải vóc, đường, mắm ở mức tối thiểu. Còn nhân dân thì tự cung, tự cấp. Nền kinh tế tập thể đã cào bằng tất cả. Mọi người ăn mặc kiểu dáng, màu sắc đều phần đông giống nhau. Quanh đi quẩn lại chỉ có áo sơ mi, áo cánh, áo vest. Nữ quần vải đen, nam quần kaki ống vừa phải. Màu sắc chung là xanh, nâu, đen vì đó là màu trang phục của người lao động cơ bản công nhân và nông dân.
Cho nên, dưới con mắt của số đông, cách trang phục, sinh hoạt, chơi bời của cao bồi già là một kiểu chơi trội, phớt đời rất cá tính. “Đó là những ngoại hình trung niên rất khó đoán tuổi đã gần sáu mươi hay ngoài bảy mươi. Quần áo phẳng phiu, hàng hiệu hoặc là kiểu đờ mi xe dông (quần kaki áo vest), hoặc một bộ đũi sáng sang trọng đĩ tính nổi bật ra khỏi cái hồi khó khăn khi đồ cotton chưa lên ngôi. Bọn họ thích đi bộ, có lẽ cũng vì già, nhiều tay phô phang thì cầm baton, mồm ngậm tẩu, đầu đội “phớt” dạ và dưới thắt lưng da nâu có thấp thoáng một sợi dây xích sáng trắng từ cái đồng hồ quả quýt nắp bạc. Bọn họ ăn sáng ở linh tinh các quán, các hàng rong, nơi các ông chủ, bà chủ nổi tiếng nấu ngon cùng tài nhớ mặt khách, rồi khệnh khạng tới một hàng cà phê quen”. Thật ra, cách sống ấy của các cao bồi già thể hiện quan niệm sống của họ. Với họ, con người có quyền khẳng định vẻ đẹp cá nhân và quyền hưởng hạnh phúc. Nếu điều đó chẳng làm hại đến ai. Quả thật, trang phục cách sống ấy rất văn hóa. Trang phục nhã nhặn, lịch sự, sang trọng. Ăn uống có giờ giấc, nề nếp và tùy chọn theo khẩu vị của mình. Họ không chấp nhận lối sống a dua, xuề xòa, lôi thôi luộm thuộm nhưng tự cho là giản dị; hoặc tùy tiện, bừa bãi, cẩu thả lại tự nhủ là mình dân dã, quần chúng, gần gũi với mọi người. Lòng tự trọng mình và tôn trọng người pha chất nghệ sĩ ấy đã đưa họ lên tầm văn hóa rất riêng của người Hà Nội. Chỉ có ở cỡ tuổi như thế, cung cách ăn mặc và sinh hoạt như thế mới được “giới vỉa hè trân trọng gọi cũng như bọn họ trịch thượng tự nhận cao bồi già Hà Nội” mà thôi.
Sự khác đời ấy hoàn toàn phù hợp với sở thích văn hóa văn nghệ tinh hoa. Sinh ra ở Hà Nội, mảnh đất có các tác giả nổi tiếng của Thơ mới, Tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, nhạc Tiền chiến, lại bẩm sinh “Do bản chất tài hoa, đám cao bồi hầu hết tinh tế ham thích âm nhạc, văn thơ, hội họa”. Thơ của họ không in thành tập, không đăng báo nhưng được dân Hà Thành yêu thích, khoái trá lan truyền. Mỗi lần đọc lên, người nghe đắc ý, gật gù tán thưởng bởi nó ngẫu nhiên nêu ra được nhiều điều tưởng như phi lý nhưng lại rất chí lý. “Không vênh vang mặt giai không sợ. Không giáo giở lòng gái không thương”. Đây là hai câu vào loại nhẹ nhất trong các bài thơ có nhan đề “Đời có ra chi mà đéo chửi” của một chân chính cao bồi ngoài bát thập. Những câu thơ đầy xúc cảm thế sự là kết quả của sự chiêm nghiệm thói đời. Sự bịp bợm, giả trá, càn rỡ có khi lại lên ngôi trong thời đại đến cả thế giới cũng còn đang phức tạp, gay cấn, lộn xộn. Đến nỗi nhà thơ cách mạng Tố Hữu đã có lúc phải kêu lên:
Chợ trời thật giả đâu chân lý?
 Hàng hóa, lương tâm cũng thiếu thừa.
Tuy Nguyễn Việt Hà không viết ra nhưng ai cũng ngầm hiểu. Cao bồi già phố cổ Hà Nội sở dĩ có bản lĩnh như thế bởi họ không chỉ tinh hoa trong văn hóa vật chất và tinh thần mà còn sáng suốt và dũng cảm trong làm ăn kinh tế. Phần lớn cao bồi già Hà Nội là người dân kinh tế tự do, làm ăn thủ công buôn bán nhỏ, không song hành với kinh tế tập thể của nhà nước như công nhân, cán bộ, xã viên trong nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã. Vợ con họ thường buôn bán trong các chợ có tiếng như chợ Đồng Xuân, chợ Hàng Da, chợ Mơ, chợ Hôm… hoặc có cửa hàng ở các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Bạc… thậm chí bán ở vỉa hè. Họ làm ăn trong sự kiểm soát, sự cho phép có mức độ của nhà nước. Họ dám làm chủ, chịu trách nhiệm từ kinh tế đến văn hóa của gia đình mình. Họ là số ít tinh hoa trong đám đông đại trà người Hà Nội. Họ sống bằng chính sức lực mềm dẻo, linh hoạt và trí tuệ tỉnh táo, sáng suốt của bản thân. Họ chính là một trong những mẫu người đẹp của Hà Nội giữa đời thường trong thời kỳ bao cấp.
Giọng văn Nguyễn Việt Hà có sự trầm lắng trong những dòng cuối. Đang từ ngợi ca đầy thú vị, tự hào bỗng chuyển sang nuối tiếc cho một vẻ đẹp một đi không trở lại, như nền văn minh cổ đại Hy Lạp – La Mã thời xưa:
“Ngày nay, lớp cao bồi già đang dần dần tuyệt tự. Chẳng biết họ hay hay dở, nhưng bọn họ xứng đáng được ghi vào sách đỏ để bảo vệ giữ gìn như một loài khác lạ quý hiếm. Bởi không có họ, cũng như không có kẻ cắp ở chợ Đồng Xuân hoặc “phe phẩy” chợ Giời, Hà Nội sẽ vĩnh viễn mất đi một khoảng trống bi tráng nhố nhăng.
Mà nhố nhăng là một đặc tính làm nên một đô thị lớn, nhà văn Vũ Trọng Phụng chuyên viết về cao bồi gốc Hà Nội đã bảo vậy”.
Đoạn văn một lần nữa đã để lại trong lòng độc giả dư âm của cái duyên rất riêng, rất cuốn hút của Nguyễn Việt Hà. Buồn sâu lắng ẩn giấu trong nụ cười hài hước, hóm hỉnh, ý tứ liên tưởng xa xôi, nhiều chiều. Song tất cả đều khắc ghi một cảm xúc chủ đạo:  khẳng định, ngợi ca “cao bồi già Hà Nội”.
Song, đàn ông với đúng nghĩa trẻ trung, lãng tử, tài hoa thì phải đến lớp “con giai phố cổ”. Đó là loại nhân vật kế thừa bản lĩnh sống tự do và tấm lòng nhân hậu liên tài của cao bồi già Hà Nội và bạn vong niên nhưng hiện đại và lãng mạn hơn. Bằng giọng văn vừa kiêu hãnh tự hào, vừa châm biếm giễu cợt, tác giả vừa giải thích cái khác, vừa ngợi ca cái hay trong xuất xứ của con giai phố cổ: “chỉ biết con giai ở những phố mang tên “Hàng…” là đương nhiên đặc sản sang trọng rất Kẻ Chợ. Đám lóc nhóc đang lớn ấy tuổi khoảng từ mười sáu đến hai mươi và cho đến bây giờ vẫn hầu hết là con nhà buôn bán… Vì hay dính dáng tới buôn bán, thậm chí chỉ là chứng kiến, nên đám con giai phố cổ tất thảy đều hoạt bát khoáng đạt lẫn lộn cả tiểu xảo lưu manh, nhất là những đứa “không gia đình” sớm bị vứt ra vỉa hè kiểu như thằng Xuân tóc đỏ.”
Biết trân trọng giá trị cá nhân, con giai phố cổ hiểu nét độc đáo, dị biệt, đặc sắc tạo nên cái Đẹp của cuộc sống và con người. Ngay khi còn là học sinh, lúc phần đông xã hội ca ngợi lối sống tập thể nhàn nhạt, chung chung, không sắc nét thì “Hồi bao cấp, con giai phố cổ không thích chơi thành bầy đàn như ở các quân khu Lý Nam Đế hay 1A Hoàng Văn Thụ, chúng thỉnh thoảng cặp đôi và có thể học cùng nhau từ năm cấp Một”. Đến tuổi thanh niên, được bố mẹ nhà có điều kiện cho đi xe đẹp từ năm cuối cấp ba, họ đã có ý thức tạc vào khung trời chiều Hà Nội một dáng chơi đầy cá tính. “Đạp xe không chậm lắm, mặt lành lạnh nửa vui nửa như bất cần. Bọn có xe đẹp là bậc thầy của “cưa đường” một kiểu tán gái chỉ riêng có ở Hà Nội. Đa phần là chúng cưa đổ vì ngoài chuyện xông xênh dư dật, bọn chúng đều thật sự chân thành. Và các nàng khi bị cưa gần đứt, không hiểu sao thường đổ sầm về phía thằng đi cưa.”
Phớt đời, kiêu kỳ, quý phái nhưng chân thành, cùng với “thông minh tài hoa lãng tử kiêu bạc”, “không một thứ giai của vùng nào sánh nổi” đã làm nên vẻ đẹp độc đáo đầy sức quyến rũ của con giai phố cổ. Nhạc Phú Quang, tranh Lê Thiết Cương là những minh chứng đầy thuyết phục.
Từ lão niên “cao bồi già Hà Nội” đến trung niên “bạn vong niên” rồi đến thanh niên “con giai phố cổ”, Nguyễn Việt Hà – nhà văn Hà Nội đã tinh kết lại và khắc họa một ấn tượng đặc biệt độc đáo. Con giai phố cổ Hà Nội không nổi tiếng về học hàm học vị trong lĩnh vực học vấn; cũng không xuất chúng trong khoa học quân sự hay có tài kinh bang tế thế như các bậc vĩ nhân. Con giai phố cổ chỉ là những con người bình thường, làm cái nghề bình thường của gia đình buôn bán mà trong xã hội phong kiến thường được xếp ở hạng cuối cùng trong bậc thang nghề nghiệp: sĩ, nông, công, thương. Nhưng suốt đời, trải qua bao thế hệ, con giai phố cổ luôn phát huy lối sống tinh hoa của cha ông: làm thế nào để cuộc sống của mình đầy đủ hơn, giàu sang hơn, tốt đẹp hơn – ăn phải ngon, mặc phải đẹp, sống phải đường hoàng, kiêu hãnh trước cuộc đời – bằng sức lực, trí tuệ của mình mà chẳng làm hại đến ai. “Rồi ngày qua ngày, tất cả giờ đây đã quá trung niên, bọn họ thong thả ăn, tinh tế mặc, chầm chậm sống. Có bọn họ, Hà Nội hôm nay mới có dăm bảy hàng phở ngon, vài ba quán cà phê thị dân sâu lắng. Bọn họ chẳng chịu là gì, sống bạc nhược nghệ sĩ nửa mùa. Rồi trả ơn Hà Nội bằng cách quyết liệt tự nuôi cho mình những thói quen của bao đời Hà Nội”.
Bình thản, bình thường, bình lặng, thanh sạch và vĩnh cửu như chính cuộc sống. Phải chăng Hà Nội được thế giới tôn vinh là Thành phố hòa bình là vì có được chất sống và nhịp sống này. Lối sống của con giai phố cổ là một bản sắc văn hóa phi vật thể ở người Hà Nội. Lối sống ấy là ước mơ và niềm kiêu hãnh của bao thế hệ con giai đất kinh kì. Sống như thế, đôi khi du khách phương xa cảm thấy vừa buồn vừa vui. Buồn vì nó êm ả, không sóng gió, bão tố để tạo được tiếng vang gây sự chú ý cho thiên hạ; vui vì đó là một cuộc sống đẹp, đáng yêu, đáng mơ ước… Và khó có thể với tới nếu không phải là “con giai phố cổ” với chiều sâu văn hóa trầm tích, tinh hoa.
Con giai phố cổ (2013) ra đời muộn hơn nhiều so với tác phẩm đầu tay Cơ hội của chúa (1999). Nhưng không hiểu sao tôi thấy nó mới chính là mối tình đầu trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Việt Hà. Hài hước, giễu cợt, cảm nhận hồn nhiên cực kỳ duyên hóm. Giọng văn tự nhiên như lời trò chuyện tâm tình với bạn bè, người thân, độc giả và đôi khi cả với chính mình: “Một đô thị đã ngoài nghìn tuổi thì đương nhiên phải có linh hồn. Hoặc hay hoặc dở đâu có quan trọng, chỉ biết nó thăm thẳm mơ màng rêu phong tạo riêng một bản sắc. Phố cổ chính là nơi giữ gìn được đôi chút những mảnh hồn độc đáo ấy. Có phải thế chăng mà cho dù bị dung tục phát triển các phố cổ đến nay vẫn chưa chịu mất.
Mà mất làm sao được khi trong từng ngôi nhà của nó vẫn có mấy thằng con trai”.
Tất cả đều nhằm bộc lộ tình yêu day dứt, thiết tha, đầy trân trọng dưới hình thức kể, nhận xét, biểu cảm đùa vui với con giai phố cổ.
Trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Việt Hà, Con giai phố cổ là một bản nhạc có giai điệu đặc sắc, độc đáo không thể nào quên được. Nhắc tới Nguyễn Việt Hà là hình tượng con giai phố cổ lại hiện ra trong những nốt nhạc khi trầm lắng, lúc vút cao trong tiết tấu nhịp nhàng, thanh bình, dịu ngọt. Sau bản nhạc ấy, người ta hiểu hơn, yêu mến hơn, gần gũi hơn với người Hà Nội.  Bởi đó chính là những người Hà Nội tinh hoa theo con mắt của một nhà văn Hà Nội xuất sắc – Nguyễn Việt Hà.
Trong một ngàn năm Thăng Long cùng với biết bao thế hệ người Hà Nội, Nguyễn Việt Hà đã nhìn ra được những tinh hoa giữa bạt ngàn đại trà mênh mông, là “con giai phố cổ” để khẳng định và ngợi ca. Nguyễn Việt Hà cũng như Thúy Kiều xứng đáng với lời khen của Từ Hải trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du:
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già.
Hải Phòng, 9/8/2024
Thái Thị Hải
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Ái tình tiểu thuyết

Ái tình tiểu thuyết Sợ các ngài tẩy chay tôi, hôm nay tôi xin hiến các ngài một thiên ái tình tiểu thuyết. Nhưng ái tình tiểu thuyết tôi v...