Những câu hỏi không bao giờ cũ
về nghệ thuật
Chắc chắn chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều loại hình nghệ thuật mới,
song liệu chúng ta có thấy các giá trị thẩm mỹ mới không? Có lẽ chúng ta cũng sẽ
được thấy sự ra đời của nhiều lý thuyết mới về nghệ thuật. Nhưng liệu chúng có
hơn gì những lý thuyết cũ không?
Câu hỏi Nghệ thuật là gì? kéo theo luôn hai câu hỏi
khác: Cái đẹp là gì? và Họa sĩ là ai?. bài viết của
Bart Rosier và Joseph A. Goguen được trình bày dưới đây cũng chỉ nhằm làm sáng tỏ
một phần những vấn đề tuy không mới nhưng vẫn rất nan giải đó.
1. Nghệ thuật là gì?
Thời Cổ đại, người ta chia nghệ thuật ra làm bảy loại hình
nghệ thuật tự do (artes liberales) là: trivium (3 con đường) bao gồm: Văn phạm,
Logic, Hùng biện; và quadrivium (4 con đường) bao gồm: Số học (lý thuyết về các
con số), Hình học (các con số trong không gian), Âm nhạc (các con số trong thời
gian), và Thiên văn học (các con số trong không gian và thời gian). Mẹ của cả 7
nghệ thuật đó là Triết học. Các nghệ thuật mang tính kỹ thuật như kiến trúc,
nông nghiệp, hội họa, điêu khắc, và các nghề thủ công khác được xếp ở hàng thấp
hơn.
Thời Trung cổ, nghệ thuật được coi là đứa con của tự nhiên. Dần
dần nghệ thuật chỉ còn là những gì mà người xưa coi là nghề thủ công. Từ “nghệ
thuật” đòi hỏi một cái gì đó được tạo nên một cách khéo léo bởi người nghệ sĩ.
Có điều chính các nghệ sĩ đã phá bỏ các hạn chế do các định nghĩa loại đó tạo
ra, thách thức các định kiến của chúng ta, và vượt xa các triết gia, các nhà
tâm lý học và phê bình, chứ đừng nói chi đến đại chúng.
Ngày nay, thật khó định nghĩa được nghệ thuật. Đã qua rồi cái
thời có thể chỉ ra được cái gì là nghệ thuật, cái gì không phải là nghệ thuật.
Sau khi Marcel Duchamp triển lãm chậu đi tiểu vào năm 1917 tại New York, hay Andy
Warhol bày ra các tranh in lưới hàng loạt các đồ hộp giống nhau như đúc vào những
năm 1962 – 1964, thì bất cứ cái gì cũng có thể là nghệ thuật. Quan niệm này có
vẻ phù hợp với nghệ thuật đương đại.
Vậy cái gì làm cho một bức họa trở thành một tác phẩm nghệ
thuật? Có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Dưới đây chỉ liệt kê và
bình luận một số quan điểm tạm gọi là tiêu biểu nhất.
Có quan điểm cho rằng họa sĩ vẽ tranh, nhưng cần sự giám định
của ít nhất một đại diện của thế giới hội họa để khiến bức tranh trở thành một
tác phẩm nghệ thuật. Như vậy một người bình thường không thể trả lời được nghệ
thuật là gì. Chúng ta cần người “định hướng nghệ thuật” như tín đồ cần vị cố đạo
để nói cho biết chân lý ở đâu. Nếu quan niệm này đúng, nó loại trừ sự huyền bí
trong nghệ thuật, sẽ được nói đến bên dưới.
Trái với quan điểm mang tính ngoại suy kể trên, những người
theo quan điểm nội suy cho rằng tiêu chuẩn của nghệ thuật nằm trong tính trực cảm
của bức họa, rằng hành động vẽ phải có chủ đích, có nghĩa là họa sĩ phải chủ
tâm tạo ra nghệ thuật. Hành động vẽ phải được diễn ra theo một cách đặc biệt nhằm
tạo ra nghệ thuật. Như vậy người xem sẽ phải học cách làm sao nhận ra được tính
trực cảm đó. Ngoài ra, nếu nghệ thuật là cái do nghệ sĩ chủ tâm tạo ra, thì câu
hỏi tiếp theo sẽ là: “Vậy thì nghệ sĩ là ai?”
Quan điểm dựa trên lý thuyết về nguồn gốc của nghệ thuật lại
cho rằng nghệ thuật là các đồ vật hoặc hình ảnh do con người tạo ra với một ý
nghĩa tượng trưng như một phương thức giao tiếp. Tuy nhiên, không phải tất cả
các hình ảnh đó đều là nghệ thuật, mà một số chỉ đơn thuần là các ký hiệu mà
thôi.
Gần với quan điểm nguồn gốc nghệ thuật kể trên là phát biểu của
nhà vật lý thiên tài Albert Einstein: “Cái đẹp nhất mà chúng ta có thể trải
nghiệm là sự huyền bí.” Như vậy sự huyền bí là nguồn gốc của mọi nghệ thuật
đích thực. Chính vì lý do đó chúng ta không có hy vọng có được một định nghĩa
rõ ràng về nghệ thuật. Nghệ thuật là cái gì đó chúng ta chỉ có thể cảm thấy mà
không tài nào diễn giải được bằng lời. Nó giống như một trải nghiệm huyền bí vậy.
Ngày nay các nghệ sĩ một mặt tiếp tục truyền thống chọc tức
xã hội tư sản, xã hội tiêu thụ, mặt khác đã mở rộng vai trò của mình. Thay vì vẽ
tranh hay nặn tượng, họ trưng bày xác các con vật ngâm trong formaldehyde, các
vật thể đa dạng kể cả sỏi đá, cành cây, và dây thừng. Nghệ thuật môi trường đã
giải phóng các triển lãm khỏi 4 bức tường của viện bảo tàng. Các hình thức nghệ
thuật mới như trình diễn, sắp đặt, cơ thể, v.v. đã và đang thách thức các quan
niệm về ranh giới giữa các loại hình nghệ thuật. Kể cả trình diễn thời trang,
trò chơi điện tử video, phun sơn lên tường, và các trang nhà trên internet cũng
bắt đầu được coi là nghệ thuật.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật
của phương Đông và phương Tây cũng xích lại gần nhau hơn, chịu ảnh hưởng lẫn
nhau. Nghệ thuật bonsai của Nhật Bản trở nên thời thượng ở phương Tây. Nhiều nhạc
sĩ phương Tây sử dụng nhiều yếu tố âm nhạc phương Đông trong các tác phẩm của
mình.
Cái Đẹp thường được đưa ra như một tiêu chuẩn để đánh giá chất
lượng nghệ thuật. Tuy nhiên, định nghĩa được cái Đẹp còn khó hơn định nghĩa được
Nghệ thuật, vì cái Đẹp phụ thuộc vào văn hóa và thời gian nhiều hơn.
Lý thuyết đơn giản nhất về cái Đẹp là coi cái Đẹp như sự bắt
chước tự nhiên. Lý thuyết này định ra một tiêu chuẩn khá lý trí và đơn giản cho
cái đẹp. Tiếc rằng nó phụ thuộc chẳng những vào việc tách riêng chủ thể và
khách thể, mà còn phụ thuộc vào sự phân chia nghệ thuật và tự nhiên, và thế là
lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn về khái niệm nghệ thuật phụ thuộc vào văn hóa,
chứ không phải là cái gì đó toàn cầu. Hơn nữa tiến bộ của khoa học công nghệ
ngày nay đang làm khó cho định nghĩa tự nhiên là gì. Thêm vào đó rõ ràng là lý
thuyết này đã bỏ qua hầu như toàn bộ nghệ thuật đương đại. Cuối cùng, hoàn toàn
không rõ là liệu có một cơ sở vững chắc để phán xét một tác phẩm nghệ thuật bắt
chước tự nhiên giỏi đến mức nào.
Một cách tiếp cận khác đến cái Đẹp là đo nó bằng cảm xúc của
người xem. Phương pháp theo kiểu “tôi biết tôi thích gì” này có vẻ như vô vọng
vì nó hoàn toàn chủ quan. Tuy vậy vẫn có những hình thức phức tạp hơn một chút,
trong đó người ta dùng các thiết bị khoa học để đo mức độ của phản ứng, thu thập
một số lượng lớn các dữ liệu thống kê, và lấy trung bình để đưa ra những kết luận
có tính tổng quát nhất. Tuy nhiên phương pháp này cuối cùng cũng vẫn rơi vào việc
phân chia chủ thể và khách thể. Nó có thể có ích cho một số lĩnh vực như trong
thiết kế nhưng chẳng có giá trị gì mấy cho mỹ thuật nói chung.
Plato cho rằng cái Đẹp phải phản ánh chân lý. Đến đây ta lại
vấp phải câu hỏi Pilate đã đặt ra cho Chúa Jesus: “Vậy thì Chân lý là cái gì?”.
Theo thi sĩ lãng mạn John Keats chân lý ở đây phải được hiểu là chân lý nghệ thuật.
Ông viết: “Cái đẹp là Chân lý, Chân lý là cái Đẹp”, tức là một chân lý mang
tính cảm xúc, một biểu hiện chính xác cảm xúc thực của nghệ sĩ, chứ không phải
là chân lý theo nghĩa triết học hay khoa học, như là sự thật chẳng hạn.
Heidegger đã phát triển quan niệm nghệ thuật tuyệt đối của
Kant. Kant cho cái Đẹp là cái gì đó không có bất kỳ một chức năng nào khác
ngoài chức năng làm cái Đẹp. Khi đó một vật thể thể sẽ trở thành thuần túy là một
vật thể, hiện ra hoàn toàn chỉ vì nó đẹp chứ không vì bất cứ công dụng nào
khác. Như vậy nghệ thuật theo Kant là một cách biểu diễn đẹp của một hình thức,
thông qua đó nghệ sĩ mặc sức tưởng tượng để liên tục mở rộng quan niệm về chính
cái Đẹp. Điều đó có nghĩa là nghệ thuật đã đi ra ngoài thế giới của lý trí, và
cái Đẹp là cái gì đó không thể cắt nghĩa được. Lý thuyết này có nhiều điểm giống
với quan điểm của trường phái lãng mạn nói trên. Tuy nhiên nó loại trừ vai trò
của nghệ sĩ, của ảnh hưởng văn hóa, cũng như sự chuẩn bị của người xem.
Lý thuyết “hiện đại” về cái Đẹp thì cho rằng một vật chỉ đẹp
khi có hình thức phù hợp với công dụng của nó. Chậu đi tiểu của Marcel Duchamp
xem ra thỏa mãn tiêu chuẩn này. Trong khi đó tiêu chuẩn như vậy không thể đem
áp dụng cho những thứ vô dụng như các bức họa trường phái ấn tượng, các bức tượng
lập thể, thơ, cho dù tất cả những thứ đó có thể dùng cho nhiều mục đích khác
nhau như làm tiền, làm “lác mắt” bạn bè, hay để thư giãn khi ngắm nhìn chúng.
Lý thuyết này hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Oscar Wilde. Ông cho rằng:
“Cái cớ duy nhất để làm ra một vật vô dụng là vì ta ngưỡng mộ nó sâu sắc. Toàn
bộ nghệ thuật là vô dụng.” Lý thuyết này đã gây ra một số hậu quả như việc tạo
ra những kiến trúc quái đản trong các dự án xây dựng hàng loạt nhà cao tầng cho
những người thu nhập thấp trong những năm 50 – 60. Một lần nữa, ta thấy đây là
một minh họa rất rõ rằng các lý thuyết về cái Đẹp cũng phụ thuộc và điều kiện
xã hội và văn hóa.
Trong tác phẩm “Luận về thơ”, Aritsotle định nghĩa nghệ thuật
là một sự bắt chước, nhưng ông đã rất khôn ngoan không gọi đó là “bắt chước tự
nhiên”, mà là “bắt chước con người hành động”. Hơn nữa ông đã dùng một cách tiếp
cận cân bằng, không quy nghệ thuật, hay cách nhìn nhận nghệ thuật, về một thứ.
Đặc biệt, ông không hề gợi ý là phải dùng cái Đẹp để đo nghệ thuật. Thay vào
đó, ông đã đưa ra một loạt các tiêu chuẩn về chất lượng dựa trên một số ví dụ
như bi kịch, chơi đàn lyre, v.v. Aristotle nói rằng mục đích của bi kịch là gây
nên nỗi sợ và buồn thương ở người xem thông qua việc bắt chước các hành động
mang tính anh hùng. Tiêu chuẩn về sự xuất sắc của ông bao gồm sự thống nhất của
không gian và thời gian, việc sử dụng ngôn ngữ thành thạo và khéo léo, đặc biệt
cách dùng hình ảnh trong ngôn ngữ, v.v. Cách tiếp cận của ông kết hợp khéo léo
các quan điểm giải tích, lịch sử, luân lý và thực dụng về bi kịch, có ảnh hưởng
rất lớn cho đến tận ngày hôm nay. Đối với Aristotle, cũng như nhiều nghệ sĩ
đương đại, cái Đẹp quá lắm chỉ là mối quan tâm hạng hai.
3. Nghệ thuật và khoa học
Phương pháp của khoa học đòi hỏi các phép đo chính xác có thể
lặp lại được, và một tính khách quan tới mức có thể loại trừ tất cả các yếu tố
chủ quan từ phía người tiến hành thí nghiệm. Điều này khiến các phương pháp
nghiên cứu khoa học hoàn toàn ngược với các phương pháp của nghệ thuật. Nghệ
thuật đương đại đòi hỏi tính chủ quan của nghệ sĩ trong các tác phẩm. Nghệ thuật
tối kỵ sự lặp lại. Ngay cả khi Monet vẽ một ngôi nhà thờ rất nhiều lần, các bức
tranh của ông vẫn rất khác nhau. Ông sử dụng nhiều hòa sắc khác nhau, vẽ ở các
thời điểm khác nhau trong ngày, v.v...
Các đoạn gọi là nhắc lại trong âm nhạc thực chất không bao giờ được chơi như nhau, mà có thể là cường độ khác nhau, hoặc độ nhanh chậm khác nhau, v.v. Nhận xét về điểm này Anthony Freeman nói: “Thật nghịch lý là nhà khoa học tìm ra chân lý sau nhiều lần lặp lại thí nghiệm và thu được các kết quả giống hệt nhau, trong khi đó nghệ sĩ tìm thấy chân lý sau khi thu được các kết quả hoàn toàn khác nhau.” Những phép đo khách quan, như luật viễn cận, luật hòa sắc, pha màu, hòa thanh, lên dây đàn, v.v... được dùng trong nghệ thuật như sự hỗ trợ về kỹ thuật cho sáng tạo. Xuất phát từ quan sát này là quan điểm cho rằng không hề có một liên hệ nào có nghĩa giữa khoa học và nghệ thuật. Cho dù có không ít người đồng ý, quan điểm này rõ ràng là sai. Một ví dụ hiển nhiên là sự phát triển hình học thời Phục hưng đã kéo theo sự phát triển của luật viễn cận trong nghệ thuật. Công nghệ hiện đại là yếu tố quan trọng sản sinh ra nhiều hình thức nghệ thuật đương đại như điện ảnh, âm nhạc điện tử, nghệ thuật video, v.v...
Các đoạn gọi là nhắc lại trong âm nhạc thực chất không bao giờ được chơi như nhau, mà có thể là cường độ khác nhau, hoặc độ nhanh chậm khác nhau, v.v. Nhận xét về điểm này Anthony Freeman nói: “Thật nghịch lý là nhà khoa học tìm ra chân lý sau nhiều lần lặp lại thí nghiệm và thu được các kết quả giống hệt nhau, trong khi đó nghệ sĩ tìm thấy chân lý sau khi thu được các kết quả hoàn toàn khác nhau.” Những phép đo khách quan, như luật viễn cận, luật hòa sắc, pha màu, hòa thanh, lên dây đàn, v.v... được dùng trong nghệ thuật như sự hỗ trợ về kỹ thuật cho sáng tạo. Xuất phát từ quan sát này là quan điểm cho rằng không hề có một liên hệ nào có nghĩa giữa khoa học và nghệ thuật. Cho dù có không ít người đồng ý, quan điểm này rõ ràng là sai. Một ví dụ hiển nhiên là sự phát triển hình học thời Phục hưng đã kéo theo sự phát triển của luật viễn cận trong nghệ thuật. Công nghệ hiện đại là yếu tố quan trọng sản sinh ra nhiều hình thức nghệ thuật đương đại như điện ảnh, âm nhạc điện tử, nghệ thuật video, v.v...
Ngày nay khoa học được áp dụng để thẩm định nghệ thuật (qua
các phương pháp như đánh dấu carbon, dùng máy tính điện tử để thẩm định các tác
phẩm của Jackson Pollock, v.v...). Khoa học cũng được áp dụng để đo các hưởng ứng
sinh lý của người trước các tác phẩm nghệ thuật. Các nghiên cứu khoa học về tâm
lý con người khi tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật cũng có hữu ích cho các nghệ
sĩ và những người yêu nghệ thuật.
Lại có quan điểm ngược lại cho rằng khoa học và nghệ thuật có
thể hòa nhập vì đều dựa trên hoạt động sáng tạo của con người. Tuy nhiên nếu đi
sâu vào tính chất của sự sáng tạo, ta thấy rõ các lý thuyết khoa học đều mang
tính toán học rất cao, còn các thực nghiệm khoa học đòi hỏi sự lặp đi lặp lại
đã nói ở trên, khiến sáng tạo trong khoa học khác với sáng tạo trong nghệ thuật.
Nghệ thuật và khoa học là các thành tố của văn hóa. Vì thế bản
chất và quan hệ giữa chúng thực ra khá phức tạp, thay đổi tùy theo thời gian và
địa điểm. Sẽ thật ngây thơ khi cho rằng có thể tìm thấy một sự mô tả quan hệ bất
biến giữa chúng. Trong tương lai sự tiến triển mau lẹ của nghệ thuật, khoa học
và công nghệ sẽ còn đem lại cho chúng ta nhiều điều bất ngờ. Ví dụ internet có
liên hệ thế nào với nghệ thuật? Chúng ta sẽ thấy nhiều phương tiện dùng kỹ thuật
số, dùng network bandwidth. Chắc chắn chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều loại hình nghệ
thuật mới, song liệu chúng ta có thấy các giá trị thẩm mỹ mới không? Có lẽ
chúng ta cũng sẽ được thấy sự ra đời của nhiều lý thuyết mới về nghệ thuật.
Nhưng liệu chúng có hơn gì những lý thuyết cũ không?.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét