Mùa mưa đọc lại Vũ Trung tùy bút
Vũ trung tùy bút (*) (Tùy bút trong mưa) của danh
sĩ Phạm Đình Hổ là một tập truyện ký bằng chữ Hán, theo thể loại
ký - một thể loại văn học đã để lại nhiều tác phẩm lớn do các nhà văn là nhà
Nho sáng tác, như Truyền kỳ mạn lục (1547) của Nguyễn Dữ, Phủ
biên tạp lục (1776), Kiến văn tiểu lục (1777) của Lê Quý
Đôn, Thượng Kinh ký sự (1783) của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu
Trác, Tang thương ngẫu lục (**) của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, v.v…
Phạm Đình Hổ (1768-1839) tên chữ là Tùng Niên, Bỉnh
Trực, hiệu: Đông Dã Tiều, tục gọi là Chiêu Hổ. Người làng Đan Loan,
huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Sinh trong một gia đình khoa bảng,
ngay từ nhỏ, Phạm Đình Hổ đã tỏ chí “Làm người con trai phải lập thân hành đạo...Lấy
văn thơ nổi tiếng ở đời...”. Tuy học và đọc nhiều sách (9 tuổi, ông đã đọc
sách Hán thư), nhưng ông chỉ đỗ đến sinh đồ (tức tú tài) vào khoảng cuối đời
Chiêu Thống.Gặp buổi loạn lạc, Phạm Đình Hổ sống đời hàn nho dạy học ở quê. Đến
khi Gia Long lên ngôi, cho khôi phục lại việc thi cử, ông có đi thi Hương ba lần,
nhưng đều không đỗ. Hồi ấy ông đang dạy học ở phường Thái Cực, huyện Thọ Xương
trong thành Thăng Long, hằng ngày rèn luyện học trò và biên soạn sách. Ở đây,
ông kết bạn thơ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương (***).
Năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng ra Bắc. Khi ấy, Phạm Đình Hổ
ở tuổi 53, vua vời ông đến hỏi về học vấn, thi cử và tính hình nhân tài đất Bắc.
Lại khuyên hễ có những sách tiền triều, sách trước thuật...nên đem tiến trình.
Ông bèn dâng lên nhà vua những sách do mình biên soạn, liền được triệu vào Huế
nhận chức Hành tẩu Viện Hàn lâm. Nhưng chỉ được ít lâu, ông xin từ chức. Năm
Minh Mạng thứ 7 (1826), vua lại triệu ông, phong chức Thừa chỉ Viện Hàn Lâm, tiếp
đến làm Tế tửu Quốc Tử Giám. Năm sau, ông lại xin nghỉ bệnh rồi từ
chức. Sau, ông lại vào sung chức, được thăng Thị giảng học sĩ. Năm Nhâm Thìn
(1832), Phạm Đình Hổ xin về hưu…
Chí hướng của Phạm Đình Hổ là “lấy văn thơ nổi tiếng ở đời”,
nên cuộc đời ông chủ yếu dành cho việc sáng tác và biên soạn sách. Ông đã để lại
nhiều công trình khảo cứu, biên soạn có giá trị thuộc nhiều lĩnh vực: văn học,
triết học, lịch sử, địa lý,... tất cả đều bằng chữ Hán. Hiện còn lưu giữ được
22 tác phẩm, trong số đó đáng kể là: An Nam chí (Ghi chép về nước An
Nam); Ô châu lục (Ghi chép về châu Ô); Kiền khôn nhất lãm (Cái
nhìn tổng quát về trời đất); Lê triều hội điển (Điển chương pháp luật
triều Lê); Đạt Man quốc địa đồ (Chân Lạp địa đồ); Ai Lao sứ
trình (Hành trình đi sứ Ai Lao); Bang giao điển lệ (Phép tắc luật
bang giao); Nhật dụng thường đàm (Từ điển từ ngữ và tri thức thông dụng); Hy
kinh lãi trắc (Giải thích ngắn gọn về bộ kinh của Phục Hy),v.v…Về sáng
tác văn học có hai tập bút ký Vũ trung tùy bút và Tang
thương ngẫu lục (hợp soạn với Nguyễn Án), và hai tập thơ: Đông Dã
học ngôn thi (Tập thơ học nói của Đông Dã), Tùng cúc liên mai tứ
hữu (Bốn người bạn thông, cúc, sen, mai)(****).
Vũ trung tùy bút, hiểu theo nghĩa tùy theo ngọn bút viết
trong khi mưa, được viết khoảng thời Lê mạt Nguyễn sơ, ghi lại nhiều sự việc xảy
ra vào cuối đời Lê và đời Tây Sơn.
Phạm Đình Hổ gọi tác phẩm của mình là tùy bút, nhưng nó
không phải được viết theo lối tùy bút bây giờ, mà với nghĩa nôm na là tùy hứng,
"muốn viết cái gì thì viết, không cần hệ thống, kết cấu và mạch lạc"…
Và trong 90 truyện dài ngắn, không được tác giả sắp xếp theo thể loại, có những
nội dung chính sau:
Truyện về các danh nhân, những nhân vật phi thường trong lịch
sử, như Phạm Ngũ Lão, Lý Đạo Tái, Truyện vua Lê Lợi, Đoàn Thượng,...Ghi
chép các cuộc du lãm, những nơi có danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Cảnh
chùa Sơn Tây, Đền Đế Thích,... Các việc xảy ra ở cuối đời Lê: Chuyện cũ
trong phủ chúa Trịnh, Cuộc bình văn trong nhà Giám,… Khảo cứu về
duyên cách, địa lý như Thay đổi địa danh, Xứ Hải Dương, Xứ Đường An, Tên
làng Châu Khê,... Khảo về phong tục trong đời sống xã hội như Hoa thảo,
Cách uống chè, Nón đội, Mẹo lừa, Trộm cắp, Thần trẻ con, Tệ tục, Thần hổ,... Khảo
về học thuật như Học thuật, Lối chữ viết, Bàn về âm nhạc, Các
thể văn,... Khảo về lễ nghi Lễ tế giao, Lễ nhà miếu, Lễ sách phong,... Khảo cứu về điển lệ: Khoa cử, Phép thi,
Quan chức,...
Khi đánh giá Vũ trung tùy bút, các nhà nghiên cứu văn học
đều khẳng định giá trị hiện thực cao của tác phẩm, chẳng hạn như thiên bút
ký Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh đã được chọn đưa vào chương trình
văn học lớp 9 Trung học Phổ thông: Tác giả đã ghi lại cuộc sống xa hoa vô độ của
triều đình phong kiến thời vua Lê chúa Trịnh suy tàn. Chúa Trịnh Sâm chỉ thích
đi chơi ngắm cảnh đẹp, ngự ở các li cung... nên việc xây dựng đình đài, phục dịch
tốn kém, lãng phí vô cùng. Bao nhiêu vật quý ở chốn dân gian, Chúa đều sức lấy.
Bọn hoạn quan cung giám “mượn gió bẻ măng”, nhũng nhiễu và dọa nạt, cướp bóc
lương dân. Đến nỗi bà mẹ của tác giả cũng phải chặt đi những cây cảnh quý trong
nhà để khỏi vạ lây.
Các nhà sử học, cũng tìm thấy trong Vũ trung tùy bút những
tư liệu lịch sử quý giá trong nhóm truyện các danh nhân lịch sử với cách kể
chuyện ngắn gọn, súc tích và sự chọn lọc những chi tiết, sự kiện độc đáo. Chẳng
hạn như chuyện Phạm Ngũ Lão ra mắt Trần Hưng Đạo: Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng
đi ngang qua Đường Hào thấy Phạm Ngũ Lão ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân
lính kéo đến, dẹp lối đi. Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi thản nhiên, như không để ý đến
ai cả. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ông vẫn không nhúc nhích, thấy
vậy Vương dừng lại hỏi, bấy giờ Phạm Ngũ Lão mới trả lời rằng đang nghĩ một câu
trong binh thư nên không để ý. Biết là người có tài, Trần Hưng Đạo cho ông ngồi
cùng kiệu đưa về kinh sư. Từ đó Phạm Ngũ Lão trở thành môn khách của Trần Hưng
Đạo. Sau đó, Phạm Ngũ Lão đã lập nhiều chiến công trong hai cuộc chống
quân Nguyên xâm lược. Năm 1290, vua Trần Nhân Tông phong chức Hữu Kim ngô Đại
Tướng quân, cai quản quân Thánh Dực. Đến đời vua Trần Anh Tông Phạm Ngũ Lão được
thăng chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan Nội hầu.
Các nhà nghiên cứu văn hóa thì tìm thấy rất nhiều những tư liệu
sống động của xã hội phong kiến xưa, từ chế độ Khoa cử, Quan chức cho đến các
nghi lễ từ nhỏ đến lớn…Cuộc sống muôn mặt đời thường cũng hiện ra thật sinh động:
cách uống chè, nón đội và cả tệ nạn xã hội: mẹo lừa, trộm cắp…
Điều đáng chú ý là bút pháp miêu tả của tác giả rất gần
với cách viết ký của văn học hiện đại: có sự chọn lọc lấy cái điển hình để nâng
cao tính khái quát của sự việc, của câu chuyện được kể, chẳng hạn như chuyện về Cuộc
bình văn trong nhà Giám: Thoạt nhìn thì cuộc bình văn rất trang trọng với sự có
mặt của đủ các quan chức phân chia ra ba chiếu có trên có dưới theo thứ tự phẩm
hàm cao thấp… Nhưng, vị quan có chức quyền cao nhất ở cuộc bình văn này là quan
Thái phó, Quận công Nguyễn Hoãn mới được triệu ra làm quan Tri Quốc tử giám thì… không hiểu gì về văn chương: “... Duy quan Tri giám Nguyễn Hoãn thì thủy
chung nín lặng không nói câu nào, thỉnh thoảng chỉ sẽ cười hi hi mà thôi. Ta
trong bụng lấy làm ngờ, hỏi các bè bạn thì ai cũng cười, không bảo rõ. Ta lại
càng ngờ, sau hỏi đến các bậc lão thành thì có người bảo rằng: "Nguyễn
công học vấn không được học trò phục cho nên lúc bình văn ở nhà Giám không tỏ ý
khen chê gì cả". Cũng có người nói rằng: "Nguyễn công khi tuổi trẻ,
vì là con nhà tướng, được đỗ hương nguyên, về sau lại đỗ hội nguyên, văn hai kỳ
thi ấy đều không phải tự Nguyễn công làm ra". Đó đều là lời truyền văn như
thế, ghi lại đây để tham khảo.
Ngày bình văn ở nhà Giám, quan Tri giám làm chủ tọa. Lúc mới đến hội họp, quan
Tri giám đứng ở phía Tây, chiếu giữa, quan Tham tụng, Bồi tụng thì đều đứng xế
về phía Ðông Nam chiếu mình ngồi, các quan ngồi ở chiếu phía Ðông thì đứng về
phía Ðông chiếu mình ngồi. Quan Tri giám lúc bấy giờ mới hướng vào hai chiếu giữa,
vái chào mời ngồi, quan Tham tụng, quan Bồi tụng đều vái đáp lại. Rồi quan Tri
giám lại vái mời chiếu phía Ðông, các quan Thị lang, Tham đô đều vái đáp lại. Lại
hướng vào chiếu phía Tây vái chào mời ngồi, các quan chiếu phía Tây đều vái đáp
lại, xong rồi đều lên chiếu theo thứ tự mà ngồi. Chiếu giữa và chiếu phía Ðông
thì hộp trầu, ống súc bày đủ mỗi vị quan viên một bộ, còn chiếu phía Tây thì mỗi
chiếu hai hộp trầu, hai ống súc. Mặt trời đứng giữa trưa, quan Tri giám sai nha
dịch bảo lính lệ sửa soạn cơm trưa, cỗ bàn cũng lịch sự lắm. Cứ lệ thì do nhà bếp
riêng quan Tri giám làm cỗ, mà tiền thì dân tạo lệ cung ứng và lấy tiền thuế
các hồ Huy Văn”.
Ở chùm những bài viết khảo về học thuật, Phạm Đình Hổ đã
thể hiện sự hiểu biết sâu rộng của mình về các vấn đề được bàn tới và được
trình bày một cách khúc triết, sinh động, chẳng hạn như bài Bàn về âm nhạc:
Sách Lễ ký (1) nói rằng âm nhạc hợp với hòa khí trong trời đất, thế thì âm nhạc cũng rất quan hệ. Đời thượng cổ đã chế ra lục luật, lục lã, ngũ thanh, bát âm, đến đời nhà Chu thì đầy đủ hơn. Nhà Tần dấy lên đốt mất Kinh Nhạc. Vua Cao tổ nhà Hán không chuộng văn học, Thúc tôn thông (2), Thích phu nhân (3) chỉ bịa ra những tiếng dâm tà, thô tục để nịnh nhà vua. Cổ nhạc từ bấy giờ không còn biết dựa vào đâu mà lý hội được nữa. Song những nhà nghề âm nhạc vẫn còn giữ được chức nghiệp. Dẫu không biết hết được cái ý chế tác của cổ nhân, nhưng âm thanh, tiết tấu vẫn chưa biến mất. Trong những kẻ trí tuệ, họa hoằng có người dò biết được cái mối thừa, như là tiếng đàn gỗ vông của Bá Di (4), khúc hát Ngư Dương của Chính Bình, khúc đàn Quảng Lăng của Kê Khang (5), khúc sáo Tam lộng của Hoàn Y, đó đều là những âm nhạc ai nghe cũng lấy làm khoái trá. Về sau, học giả thất truyền, sai mất cả bản lĩnh. Ống khống hầu thì tiếng bi phẫn, đàn tỳ bà thì giọng ai oán, lại pha thêm những tiếng kèn hồ, trống rợ, thì hăng hái khích liệt quá. Đến cuối đời Tấn, Ngụy, rợ Chi Khương lấn đất Trung nguyên, thanh âm của Trung Hoa chỉ còn ở phía Giang tả. Nhưng khốn nỗi, về đời Tống, Tề thì tản mạn, đời Tấn, Lương thì dâm bạc, đời Tùy lại dâm loạn tệ hơn. Đến đời Đường mới sai Tổ Hiếu Tôn định nhã nhạc, chép ở trong sách Đường chí có 60 điệu, 84 thanh, cũng hơi đủ cái lệ năm chính, hai biến. Song những khúc Đại thực, Quỳ từ thì lẫn cả tiếng rợ mọi, những điệu Tiên lữ thì động đến đạo quỷ thần, còn những đồ nhạc khí thì lẫn lộn nửa Hồ nửa Hán, không được hoàn toàn. Truyền về sau lại đặt ra khúc Võ mị nương, Tang điều, Tử vân hồi, Vũ lâm ly cùng là những khúc âm nhạc Thiên trúc, Sơ lặc, những bài từ Sắc kê, Khuất thác, không thể kể xiết được. Chính thanh đến đấy không còn gì nữa. Đến đời Ngũ quý gặp buổi binh đao loạn lạc, họ ra luật cướp sạch cả những sách vở của các đời ghi chép về khoa âm nhạc. Nhà Sài châu mới sưu tầm lại, nhưng cũng không được đủ. Vua Thái Tổ, Thái Tôn đời nhà Tống không lưu ý gì đến âm nhạc. Những nhà bàn làm nhạc, hoặc kẻ thì chắc bằng về ống ngọc dịch, hoặc người thì chuyên chú về nghề thổ khuê, người thì bảo theo thước cổ, kẻ thì bảo theo thước kim, không biết nên theo đường nào. Sách Nhạc chí, Nhạc thư, mỗi sách chép một khác. Lại như cách phân cự ly theo bằng hạt gạo nếp, cái lỗ tròn chặn theo như lỗ đồng tiền Thông Bảo, thì ông Hồ Viên, ông Phạm Trấn lại khảo cứu mỗi người một khác.
Sách Lễ ký (1) nói rằng âm nhạc hợp với hòa khí trong trời đất, thế thì âm nhạc cũng rất quan hệ. Đời thượng cổ đã chế ra lục luật, lục lã, ngũ thanh, bát âm, đến đời nhà Chu thì đầy đủ hơn. Nhà Tần dấy lên đốt mất Kinh Nhạc. Vua Cao tổ nhà Hán không chuộng văn học, Thúc tôn thông (2), Thích phu nhân (3) chỉ bịa ra những tiếng dâm tà, thô tục để nịnh nhà vua. Cổ nhạc từ bấy giờ không còn biết dựa vào đâu mà lý hội được nữa. Song những nhà nghề âm nhạc vẫn còn giữ được chức nghiệp. Dẫu không biết hết được cái ý chế tác của cổ nhân, nhưng âm thanh, tiết tấu vẫn chưa biến mất. Trong những kẻ trí tuệ, họa hoằng có người dò biết được cái mối thừa, như là tiếng đàn gỗ vông của Bá Di (4), khúc hát Ngư Dương của Chính Bình, khúc đàn Quảng Lăng của Kê Khang (5), khúc sáo Tam lộng của Hoàn Y, đó đều là những âm nhạc ai nghe cũng lấy làm khoái trá. Về sau, học giả thất truyền, sai mất cả bản lĩnh. Ống khống hầu thì tiếng bi phẫn, đàn tỳ bà thì giọng ai oán, lại pha thêm những tiếng kèn hồ, trống rợ, thì hăng hái khích liệt quá. Đến cuối đời Tấn, Ngụy, rợ Chi Khương lấn đất Trung nguyên, thanh âm của Trung Hoa chỉ còn ở phía Giang tả. Nhưng khốn nỗi, về đời Tống, Tề thì tản mạn, đời Tấn, Lương thì dâm bạc, đời Tùy lại dâm loạn tệ hơn. Đến đời Đường mới sai Tổ Hiếu Tôn định nhã nhạc, chép ở trong sách Đường chí có 60 điệu, 84 thanh, cũng hơi đủ cái lệ năm chính, hai biến. Song những khúc Đại thực, Quỳ từ thì lẫn cả tiếng rợ mọi, những điệu Tiên lữ thì động đến đạo quỷ thần, còn những đồ nhạc khí thì lẫn lộn nửa Hồ nửa Hán, không được hoàn toàn. Truyền về sau lại đặt ra khúc Võ mị nương, Tang điều, Tử vân hồi, Vũ lâm ly cùng là những khúc âm nhạc Thiên trúc, Sơ lặc, những bài từ Sắc kê, Khuất thác, không thể kể xiết được. Chính thanh đến đấy không còn gì nữa. Đến đời Ngũ quý gặp buổi binh đao loạn lạc, họ ra luật cướp sạch cả những sách vở của các đời ghi chép về khoa âm nhạc. Nhà Sài châu mới sưu tầm lại, nhưng cũng không được đủ. Vua Thái Tổ, Thái Tôn đời nhà Tống không lưu ý gì đến âm nhạc. Những nhà bàn làm nhạc, hoặc kẻ thì chắc bằng về ống ngọc dịch, hoặc người thì chuyên chú về nghề thổ khuê, người thì bảo theo thước cổ, kẻ thì bảo theo thước kim, không biết nên theo đường nào. Sách Nhạc chí, Nhạc thư, mỗi sách chép một khác. Lại như cách phân cự ly theo bằng hạt gạo nếp, cái lỗ tròn chặn theo như lỗ đồng tiền Thông Bảo, thì ông Hồ Viên, ông Phạm Trấn lại khảo cứu mỗi người một khác.
Lý Đạo Tái (6) là một nhân vật đặc biệt, được bao phủ bởi
nhiều huyền thoại. Song Phạm Đình Hổ không tiếp tục “huyền thoại hóa” nhân vật
mà đưa nhân vật trở về chỗ tính người được thể hiện rõ nhất, đó là đứng trước sự
cám dỗ của “Cái đẹp” - Thiền sư Huyền Quang có rung động trước nàng Điểm Bích
hay không? Đó là điều chưa có lời đáp rõ ràng và trong thiên truyện ký của
mình, Phạm Đình Hổ như là muốn hướng người đọc tập trung sự chú ý vào bài thơ của
nàng Điểm Bích: Một vị chân tu nơi cửa thiền bất chợt thấy một dung nhan tuyệt
đẹp, tức thì cảnh “trăng mai, gió trúc” trước mắt mà mơ hồ như điệu đàn ngân
trên mặt nước. Lẽ nào làm ngơ cho đành? Và dung nhan tuyệt đẹp đó lại có Nàng
Thơ trú ngụ thì vị chân tu - cũng là một Thi nhân sao lại có thể dửng dưng:
“Huyền Quang thiền sư là Lý Đạo Tái, người làng Vạn Ty,
huyện Gia Định, là bậc khoa bảng mà bỏ đi tu, chuyện này đã chép ở Trúc
lâm truyền đăng lục. Gần đây, ông Nguyễn Hoàn (7), người Cố đô có soạn
bài Huyền Quang hành bằng quốc ngữ, trong có nói đến chuyện nàng
Bích, nhưng truyện ấy không thấy chép trong sử, ta thường lấy làm ngờ. Còn nhớ
khi mới lên bảy tám tuổi, thường theo bà tiên cung nhân ta sang hầu bà cô họ
ngoại là bà chính thất quan Thiêm sự Võ công, người làng Mộ Trạch. Khi các bà
ngồi rỗi nói chuyện, có nói đến nàng Bích, ta mới biết quả có người ấy thật. Bà
phu nhân thường nói rằng: Mộ nàng Bích ở làng Hoạch Trạch; buổi đầu năm Cảnh
Hưng, có kẻ đào lên thì thấy quan tài vẫn còn sơn son y nguyên, mở ra xem, quan
tài đầy nước trong veo, hương thơm ngát mũi, rồi đậy lại liền. Sau ông Nhữ Công
Chân có câu thơ rằng:
Nghĩa là: Giai nhân đày đọa rụng bông vàng.
Lại có câu:
Tằng hướng tiêu phòng khoa yểu điệu,
Khước lai sơn tự bạn không thiền.
Nghĩa là:
Phòng tiêu thuở trước từng khoe đẹp,
Chùa núi sau này tựa cảnh không.
Bài thơ ấy toan đem đi khắc bia để chôn trước mộ, nhưng sau lại thôi. Ta tiếc rằng
không nhớ được toàn bài.
Chú giải: Câu chuyện như sau: Huyền Quang là một vị thiền sư đắc đạo. Năm ông 60 tuổi, vua Anh tôn sai nàng Điểm Bích đến thử ông. Điểm Bích là một cung nhân. Thị Bích đến chùa, xin ở lại tu hành, tối tìm cách chọc ghẹo ông, nhưng không được. Cuối cùng, nghĩ ra kế lấy được nén vàng nhà vua ban cho ông, rồi trở về tâu đã cám dỗ được ông. Sau mới biết được sự thật. Sách Tam tổ đạo lục có chép bài thơ nôm nàng Điểm Bích (8) làm ghẹo ông:
Chú giải: Câu chuyện như sau: Huyền Quang là một vị thiền sư đắc đạo. Năm ông 60 tuổi, vua Anh tôn sai nàng Điểm Bích đến thử ông. Điểm Bích là một cung nhân. Thị Bích đến chùa, xin ở lại tu hành, tối tìm cách chọc ghẹo ông, nhưng không được. Cuối cùng, nghĩ ra kế lấy được nén vàng nhà vua ban cho ông, rồi trở về tâu đã cám dỗ được ông. Sau mới biết được sự thật. Sách Tam tổ đạo lục có chép bài thơ nôm nàng Điểm Bích (8) làm ghẹo ông:
Vằng vặc trăng mai ánh nước,
Hiu hiu gió trúc ngân sinh.
Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ
Mâu thích ca nào thuở hữu tình?
Chú thích:
(*) Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ: bản
dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (*1). Nhà xuất bản Trẻ và Hội
Nghiên cứu giảng dạy Văn học thành phố Hồ Chí Minh liên kết xuất bản, in lại
năm 1989.
(*1) Nguyễn Hữu Tiến (1875-1941), hiệu Đông Châu. Quê
ở làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), ông xuất thân
từ Nho học. Phần lớn công trình nghiên cứu của ông đều công bố trên Tạp
chí Nam Phong trước khi in thành sách. Các công trình của ông là
những chuyên luận về lịch sử, địa lý, phong tục, luân lý, tôn giáo và văn
chương Việt Nam và Trung Quốc, bước đầu nghiên cứu các tác gia Việt Nam: Nguyễn
Gia Thiều, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê (Nam
Phong, 1929). Bản dịch Vũ trung tùy bútđăng trên Nam Phong tạp
chí (1927-1928).
(**) Tang thương ngẫu lục (ghi chép tình cờ trong cuộc bể
dâu) là tập ký bằng chữ Hán do đôi bạn thân là Phạm Đình Hổ và Nguyễn
Án (**1) cùng hợp soạn vào khoảng Lê mạt-Nguyễn sơ, tức khoảng cuối
thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19.
Bài Tựa in ở đầu tập Tang thương ngẫu lục cho
biết bởi những cuộc tang thương, khiến người ta tất có cái cảm khái tang
thương, ấy tập sách Tang thương này sỡ dĩ có là vì thế đó. Và theo Trúc Khê,
cũng vì chép nhiều chuyện biến thiên của hồi ấy (cuối Lê), cho nên có cái
tên sách là Tang thương ngẫu lục, nghĩa là những câu chuyện ghi chép tình cờ
trong cuộc bể dâu.
Năm 1943, nhà xuất bản Tân Dân cho in Tang thương ngẫu lục,
bản tiếng Việt do nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch.
Bàn về ý nghĩa tập Tang thương Ngẫu lục, bài Tựa (Phùng
Dực Bằng Sô viết năm 1896) viết:
Từ Lý, Trần, Lê, Trịnh đến nay, trên dưới mấy trăm năm có những
điều quốc sử chưa ghi, dã sử chưa chép; hai ông đều thu cả vào trong cõi mắt
tang thương. Nếu hai ông hết thẩy đều cho là việc tang thương mà quên đi, thì
những chuyện ấy phỏng được mấy lâu mà mai một đi mất. May mà lấy ngòi bút tang
thương biên chép, nên nó mới còn là cánh bè chở bến mê, ngọn đèn soi nhà tối; đặt
tên là Tang thương ngẫu lục, ý nghĩa có thể nhận biết được vậy.
Tang thương ngẫu lục là tập ký mang nặng tính chất truyền
kỳ. Trừ một số ít truyện nói về các đời trước, còn đa phần đều viết về thời Lê
mạt. Sách được chia làm 2 quyển: quyển Thượng có 40 bài, quyển Hạ có 49 bài
(không kể bài Thơ đề sau của người khác). Có một số bài ghi mỗi tên tác giả.
Căn cứ theo bản in năm 2000 do NXB Văn hóa-Thông tin in lại theo bản của NXB
Tân Dân (1943), thì:
Ở quyển Thượng có 13 bài và ở quyển Hạ có 19 bài đề tên Kính
Phủ, tức Nguyễn Án. Ở quyển Thượng có 10 bài và ở quyển Hạ có 23 bài đề tên
Tùng Niên, tức Phạm Đình Hổ. Số bài còn lại không đề tên, nên không rõ của ai
hay do hai ông cùng hợp soạn.
Căn cứ nội dung từng truyện, có thể xếp chúng thành 5 đề tài
sau:
1. Tiểu truyện các danh nhân: Nguyễn Duy Thời, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, v.v…
2.Thắng cảnh: Bài ký chơi núi Phật Tích (Chùa Thầy), núi Dục Thúy, v.v…
3. Di tích: Bia núi Thành Nam, Tháp
chùa Báo Thiên, Thành cũ Trào Khẩu, Miếu Thanh Cẩm, Cái miếu cổ ở cử Đông Hoa, v.v…
4. Việc cuối đời Lê: Chuyện cũ trong phủ chúa, Thi Hội, v.v…
5. Chuyện hay, chuyện lạ: Thần Tôn hoàng đế, Hiển Tôn hoàng đế, Chuyện Nguyễn Duy Thời, Hồ Gươm, Nguyễn Văn Giai, Người nông phu ở Như Kinh, Người nông phu ở An Mô, Ma Đồng Xuân, Ông Nguyễn Bá Dương, Thành Đạo Tử, Mẹ ranh càn sát, v.v...
1. Tiểu truyện các danh nhân: Nguyễn Duy Thời, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, v.v…
2.Thắng cảnh: Bài ký chơi núi Phật Tích (Chùa Thầy), núi Dục Thúy, v.v…
3. Di tích: Bia núi Thành Nam, Tháp
chùa Báo Thiên, Thành cũ Trào Khẩu, Miếu Thanh Cẩm, Cái miếu cổ ở cử Đông Hoa, v.v…4. Việc cuối đời Lê: Chuyện cũ trong phủ chúa, Thi Hội, v.v…
5. Chuyện hay, chuyện lạ: Thần Tôn hoàng đế, Hiển Tôn hoàng đế, Chuyện Nguyễn Duy Thời, Hồ Gươm, Nguyễn Văn Giai, Người nông phu ở Như Kinh, Người nông phu ở An Mô, Ma Đồng Xuân, Ông Nguyễn Bá Dương, Thành Đạo Tử, Mẹ ranh càn sát, v.v...
Sau cuối tập Tang thương ngẫu lục có bài thơ đề vịnh
do Phó bảng khoa Canh Thìn Quang Lộc tự Thiếu khanh Đồng Giang Phạm Văn Tâm viết
vào tháng Trọng thu năm Bính Thân (1896) niên hiệu Thành Thái, bài thơ như sau:
Phiên âm Hán Việt
Tọa sách hưng vong nhất thảng hiên
Vô cùng nhân thế nại hà thiên
Vô cùng nhân thế nại hà thiên
Trịnh Lê tự tác ly cao giải
Nhạc Huệ tranh khoa đắc hủ diên
Nhạc Huệ tranh khoa đắc hủ diên
Thiết sỉ Ô nam Bằng quận Kiếm
Thương tâm Yên bắc Mũ đồng chuyên
Na kham độc cánh Tang thương truyện
Thử nhật hoàn kim hựu bách niên.
Thương tâm Yên bắc Mũ đồng chuyên
Na kham độc cánh Tang thương truyện
Thử nhật hoàn kim hựu bách niên.
Trúc Khê dịch:
Nghĩ cuộc hưng vong luống ngậm ngùi
Khôn đem thế sự hỏi ông giời
Trịnh Lê cua để lìa mai cứng
Nhạc Huệ diều khoe được miếng hôi
Tím ruột quận Bằng gươm Huế sắc
Đau lòng bồi ngựa gạch Yên tơi
Tang thương truyện đọc buồn sao xiết
Lại một trăm năm cách đấy rồi.
(**1): Nguyễn Án: (1770-1815): là danh sĩ sống cuối đời
Lê Mạt, đầu nhà Nguyễn; tự Kính Phủ, hiệu Ngu Hồ. Quê ở làng Du
Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Nguyễn Án xuất thân Khoa bảng, là người thông minh
hiếu học, nhưng lớn lên giữa thời ly loạn, việc học hành lỡ dở. Ông đã sống những
năm tháng gần như ẩn dật ở đất Thăng Long, trú ngụ trên mảnh đất thuê của người
khác và mưu sinh một cách vất vả bằng nghề dạy học, làm thuốc, tìm niềm an ủi ở
thiên nhiên và những người bạn văn chương.. Năm Gia Long thứ 4 (1805), lúc đã 35
tuổi, do được tiến cử, ông được bổ làm Tri huyện Phù Dung (nay là huyện Phù Cừ,
tỉnh Hưng Yên), nhưng chỉ được một năm, ông lấy cớ có việc riêng xin từ quan.
Năm Đinh Mão (1807), nhà Nguyễn mở khoa thi Hương đầu tiên ở Bắc Thành, ông đỗ
Cử nhân tại trường thi Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), sau nhập chung với
Trường Thăng Long, rồi lại ra làm Tri huyện Tiên Minh, tỉnh Kiến An (nay là huyện
Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).
Tác phẩm Nguyễn Án còn lại gồm: Phong Lâm minh
lãi thi tập (Tập thơ Tiếng kêu của gió thổi qua rừng):Tập thơ gồm
75 bài thơ, phần lớn là thơ đề vịnh cảnh, thơ cảm hoài và tiễn tặng bạn
bè. Hiện còn bản chép tay ở Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội), số hiệu:
A. 1201.
Về văn, ngoài Tang thương ngẫu lục (hợp soạn với Phạm
Đình Hổ),ông còn viết lời tựa cho tập thơ Đông dã học ngôn thi tập của
Phạm Đình Hổ, thể hiện quan niệm của mình về thơ.
Tác phẩm Tang thương ngẫu lục gồm 90 thiên, chia
làm 2 quyển: quyển thượng 40 bài, quyển hạ 50 bài. Mỗi bài đều có tên tựa của
tác giả hoặc Tùng Niên (Phạm Đình Hổ) hoặc Kính Phủ (Nguyễn
Án).Trong đó có 32 thiên được ghi rõ tác giả là Kính Phủ.
(***) Hồ Xuân Hương: sống vào cuối thế kỷ 18, đầu
thế kỷ 19. Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa
tục và được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”. Tiểu sử của Hồ Xuân Hương đến nay vẫn
còn nhiều điểm gây tranh cãi. Các nhà nghiên cứu đã tạm thừa nhận một số kết luận
bước đầu về tiểu sử của nữ sĩ: Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ ở làng Quỳnh
Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đây là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt
và làm quan nhưng đến đời Hồ Phi Diễn - thân sinh của bà - thì dòng họ này đã
suy tàn. Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Dương Quảng Hàm
thì bà là con ông Hồ Phi Diễn (sinh 1704). Ông thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới
triều Lê Bảo Thái. Nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng,
Hà Bắc, để kiếm sống. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẽ - Hồ
Xuân Hương ra đời là kết quả của tình duyên đó. Là một phụ nữ tài hoa có cá
tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại nhiều bất hạnh. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến
ba lần “qua sông” và cả ba lần đều làm lẽ, đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc.
Các tác phẩm của Hồ Xuân Hương đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu
là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng. Có lẽ quan hệ với bạn thơ Chiêu Hổ (Phạm
Đình Hổ) là những tháng ngày đắc ý nhất của Nữ sĩ họ Hồ. Dưới đây là chùm thơ
Nôm xướng họa của hai kỳ nhân “Bà Chúa thơ Nôm” và Nho gia danh sĩ Chiêu Hổ:
Cặp xướng họa I
Hồ Xuân Hương xướng:
Anh đồ tỉnh, anh đồ say
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!
Chiêu Hổ họa:
Này ông tỉnh, này ông say
Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Hang hùm ví bẵng không ai mó
Sao có hùm con bỗng trốc tay?
Sao có hùm con bỗng trốc tay?
Cặp xướng họa II
Hồ Xuân Hương xướng:
Sao nói rằng năm lại có ba
Trách người quân tử hẹn sai ra
Trách người quân tử hẹn sai ra
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt
Nhớ hái cho xin nắm lá đa
Nhớ hái cho xin nắm lá đa
Chiêu Hổ họa:
Rằng gián thì năm quý thì ba
Bởi người thục nữ tính không ra
Bởi người thục nữ tính không ra
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt
Cho cả cành đa lẫn củ đa!
Cho cả cành đa lẫn củ đa!
Cặp xướng họa III
Hồ Xuân Hương xướng:
Những bấy lâu nay luống nhắn nhe
Nhắn nhe toan những sự gùn ghè
Gùn ghè nhưng vẫn còn chưa dám
Chưa dám cho nên phải rụt rè
Nhắn nhe toan những sự gùn ghè
Gùn ghè nhưng vẫn còn chưa dám
Chưa dám cho nên phải rụt rè
Chiêu Hổ họa:
Hỡi hỡi cô bay tố hão nhe
Hão nhe không được, gậy ông ghè
Hão nhe không được, gậy ông ghè
Ông ghè không được, ông ghè mãi
Ghè mãi rồi lâu cũng phải rè.
Ghè mãi rồi lâu cũng phải rè.
(****) Thơ Phạm Đình Hổ, bên cạnh những bài viết về cái nghèo
khổ, cái bất đắc chí của mình; về tình cảm bạn bè, cảm quan lịch sử...còn có một
số bài viết về các thiếu nữ trẻ trung, ngây thơ khá độc đáo như bài Hoài cổ:
Khứ tuế đào hoa phát,
Lân nữ sơ học kê.
Lân nữ sơ học kê.
Kim tuế đào hoa phát,
Dĩ giá lân gia tê (tây).
Dĩ giá lân gia tê (tây).
Khứ tuế đào hoa phát,
Xuân phong hà thê thê.
Xuân phong hà thê thê.
Lân nữ đối hoa khấp,
Sầu thâm mi chuyển đê.
Sầu thâm mi chuyển đê.
Kim tuế đào hoa phát,
Xuân thảo hà thê thê.
Xuân thảo hà thê thê.
Lân nữ đối hoa tiếu,
Ngâm thành thủ tự đề.
Ngâm thành thủ tự đề.
Cảm nhớ chuyện cũ
Năm ngoái hoa đào nở,
Cô gái láng giềng mới học cài trâm,
Năm nay hoa đào nở,
Cô đã lấy chồng ở nhà láng giềng phía tây.
Năm ngoái hoa đào nở,
Gió xuân sao lành lành,
Đứng trước hoa cô gái láng giềng khóc,
Buồn quá đôi lông mày sa xuống.
Năm nay hoa đào nở,
Cỏ xuân sao mà xanh tươi.
Đứng trước hoa cô gái láng giềng tươi cười
Thơ làm xong tự tay cô viết lấy.
(1) Lễ Ký: Kinh Lễ hay còn gọi là Lễ ký là
một quyển trong bộ Ngũ Kinhcủa Khổng Tử, tương truyền do các môn đệ của Khổng
Tử thời Chiến quốc viết, ghi chép các lễ nghi thời trước. Học giả thời Hán là Đới
Đức đã dựa vào bản do Lưu Hướng thu thập gồm 130 thiên rồi tổng hợp giản hoá
còn 85 thiên gọi là Đại Đới Lễ ký, sau đó cháu Đới Đức là Đới Thánh lại
đơn giản hoá Đại Đới Lễ ký còn 46 thiên, thêm vào các thiên Nguyệt
lệnh, Minh Đường vị và Nhạc ký, tổng cộng là 49 thiên, được gọi
là Tiểu Đới Lễ ký. Đại Đới Lễ ký đến thời Tuỳ, Đường bị thất lạc quá nửa,
hiện nay chỉ còn 39 thiên, do đó Tiểu Đới Lễ ký là bản Kinh Lễ thông dụng hiện
nay.
Toàn bộ Kinh Lễ được viết bằng tản văn, không chỉ
miêu tả chế độ lễ nghi đương thời mà còn giáo dục về nhân nghĩa, đạo đức, ngoài
ra có giá trị về văn học rất lớn. Đại Học và Trung Dung, hai cuốn
sách kinh điển của Nho giáo, chính là hai thiên trong Kinh Lễ. Khổng Tử hiệu
đính lại Kinh Lễ mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật
tự. Khổng Tử nói: "Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời"
(sách Luận Ngữ).
(2) Thúc Tôn Thông: Lã hậu hay Lữ hậu (241-180
TCN), là hoàng hậu đầu tiên đời nhà Hán - vợ Hán Cao Tổ Lưu Bang. Lã hậu có
tên Lã Trĩ, sinh ra Thái tử Lưu Doanh (sau khi Lưu Bang chết thì lên ngôi
vua gọi là Hán Huệ Đế) và công chúa Lỗ Nguyên. Khi Lưu Doanh làm thái tử, Thúc
Tôn Thông làm Thái phó.
(3) Thích phu nhân: Ngoài Hoàng hậu Lã Trĩ (còn gọi là
Lã Hậu), Lưu Bang còn nhiều vợ khác, trong đó có Thích phu nhân rất được yêu,
sinh được hoàng tử Như Ý.
Sau khi Lưu Bang chết, Lã hậu sai người mang thuốc độc đến
cho Như Ý uống. Như Ý uống xong thì chết ngay. Lã Hậu lại sai chặt chân tay
Thích phu nhân, móc mắt, đốt tai, cho uống thuốc thành câm, quẳng vào chuồng lợn
gọi đó là "con người lợn".
(4) Bá Di là con vua nước Cô Trúc - quốc gia chư hầu nhà
Thương trong lịch sử Trung Quốc. Ông cùng người em là Thúc Tề nổi tiếng
vì sự trung thành với nhà Thương bị nhà Chu tiêu diệt. Bá Di là con
trai lớn nhất của Á Vi - vua nước Cô Trúc thời vua Trụ nhà Thương. Vua cha muốn
lập người em thứ 3 là Thúc Tề. Sau khi cha mất, Thúc Tề nhường lại ngôi vua cho
Bá Di nhưng ông không nhận, nói rằng phải theo mệnh lệnh của cha và bỏ trốn.
Thúc Tề thấy ông bỏ khỏi nước Cô Trúc cũng đi theo ông. Người trong nước bèn lập
Á Bằng - người em của Bá Di và anh của Thúc Tề lên ngôi.
Nghe tin Tây Bá Cơ Xương (4*) là người trọng đãi hiền
sĩ, anh em Bá Di tìm đến. Nhưng khi hai người đến nơi thì Cơ Xương đã qua đời,
con là Cơ Phát lên thay, mang quân đánh vua Trụ tàn bạo. Bá Di cùng em đến trước
ngựa của Cơ Phát can rằng: “Cha chết không chôn lại gây việc can qua có thể gọi
là hiếu không? Là bầy tôi giết vua có thể gọi là nhân không?”. Cơ Phát
không nghe. Những người hộ vệ của Cơ Phát định giết anh em Bá Di nhưng Khương
Tử Nha (4**) ngăn lại và đỡ anh em ông dậy và cho đi nơi khác.
Cơ Phát mang đại quân cùng các chư hầu đánh vua Trụ. Vì Trụ
tàn bạo mất lòng người nên bị đại bại ở trận Mục Dã, tự thiêu mà chết. Cơ Phát
lên ngôi thiên tử, lập ra nhà Chu, tức là Chu Vũ Vương. Các chư hầu đều tôn thờ
nhà Chu. Riêng Bá Di và Thúc Tề xấu hổ về việc đã can ngăn vua Chu diệt bạo
chúa, bèn cùng nhau thề không ăn thóc nhà Chu. Bá Di và Thúc Tề lên núi
Thú Dương, hái rau vi ăn qua bữa. Rau vi không thể nuôi sống được, cuối cùng
ông và Thúc Tề đều chết đói tại núi Thú Dương. Trước khi qua đời, Bá Di và Thúc
Tề làm bài ca: Lên núi Tây chừ hái rau vi,/ Lấy bạo đổi bạo chừ có
hay chi?/ Thần Nông, Ngu, Hạ chìm cả rồi, ta biết nơi nào đi?. Đời sau thường
dùng hình ảnh Di, Tềđể nói về việc đi ở ẩn.
(4*) Tây Bá Cơ Xương: Chu Văn Vương (1090 TCN
- 1050 TCN), họ Cơ, tên Xương, người đất U (nay thuộc ấp Tuần, huyện Bân, tỉnh
Thiểm Tây), là người đã xây nền móng triều đại nhà Chu Trung Quốc.
Khi cha Cơ Xương là Cơ Quý Lịch còn ở ngôi, Chu chỉ
là một nước nhỏ thuộc vương triều nhà Thương. Quý Lịch từng dẫn người tộc Chu từ
sông Vị Thủy xuống xây thành Cư Ấp ở Chu Nguyên, phía tây nam núi Kỳ Sơn, gây dựng
cơ sở tiến về phía Đông. Về sau, Quý Lịch bị vua nhà Thương giết hại, Cơ
Xương nối ngôi cha làm tước bá, gọi là Tây Bá Cơ Xương.
(4**) Khương Tử Nha: Tề Thái Công, tên thật là Khương
Thượng tự là Tử Nha, nên thường được gọi là Khương Tử Nha, là
công thần khai quốc nhà Chu thế kỷ 12 trước Công nguyên và là vua khai lập nước
Tề tồn tại từ thời Tây Chu đến thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc.
Khương Tử Nha được biết đến như một vị tướng tài vĩ đại
và là người góp phần lập lên sự nghiệp nhà Chu kéo dài hơn 800 năm, là triều đại
kéo dài nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Khương Thượng là người ở Đông Hải. Tổ tiên ông từng làm chức Tứ
nhạc giúp vua Hạ Vũ trị thủy có công. Sử ký xác định tổ tiên ông được
phong ở đất Lã vào khoảng thời vua Thuấn đến thời nhà Hạ, do đó lấy Lã làm
họ. Ông còn được dân gian và các nhà nghiên cứu lịch sử gọi bằng nhiều tên khác
như: Khương Thái Công; Thái Công Vọng, Lã Vọng.
Sang thời nhà Thương, vì Lã Thượng là con cháu chi thứ nên dần
dần trở thành dân thường. Vì nhà nghèo, Khương Thượng tuổi già thường đi câu cá
ở sông Vị.Thủ lĩnh bộ tộc Chu là Tây Bá Cơ Xương đi săn, gặp Khương Thượng đang
câu cá phía bắc sông Vị. Cơ Xương nói chuyện với ông rất hài lòng, ngưỡng mộ
tài năng của ông. Cơ Xương nhớ lời tổ tiên là Thái Công dặn rằng sẽ có vị thánh
đến nước Chu, giúp Chu hưng thịnh, ứng với quẻ bói trước khi đi săn. Do đó Cơ
Xương quả quyết Khương Thượng chính là người Thái Công mong đợi trước đây và
tôn ông làm Thái Công Vọng (nghĩa là người mà [Chu] Thái Công
mong đợi), đón lên xe về cung và tôn ông làm thầy.
(5) Kê Khang: Kê Khang (233-262): tên Thúc Dạ, người đời
Tấn, ở đất Trất (nay thuộc huyện Túc, tỉnh An Huy). Dòng họ Hề, lánh nạn đến Kê
Sơn, do đó tự đặt hiệu là Kê Khang.
Trên đồ sứ Trung Hoa, ta thường thấy vẽ 7 ông cụ già ngồi
trong rừng tre, kẻ đánh cờ, gãy đàn, người uống rượu ngâm thơ. Đó là hình ảnh của Trúc
Lâm Thất Hiền (5*) đời nhà Ngụy (220-264). Kê Khang là một trong bảy người
hiền này, ông nổi tiếng bởi Khúc nhạc Quảng Lăng của mình.
Kê Khang là một người có khí tiết cao khiết giàu ḷng nghĩa hiệp và cũng là người có biệt tài trong các môn cầm, kỳ, thi, họa ... Một điều lạ hơn hết là mặc dù có tài như thế, nhưng ông không học qua một thầy nào. Từ nhỏ chí lớn, ông cố công tự học, rèn luyện mà nên. Kê Khang cũng như 6 người bạn kia đều thích an nhàn dật lạc, say mê đạo Lão. Ông làm đến chức Trung Tán đại phu nhưng luôn luôn chê vua Thang, vua Võ, khinh Văn Vương và Khổng Tử. Kê Khang làm quan một thời gian rồi từ quan ở ẩn, để hưởng cảnh tiêu diêu lúc về già. Nhưng sau đó bị Tư Mã Chiêu giết hại.
Kê Khang là một người có khí tiết cao khiết giàu ḷng nghĩa hiệp và cũng là người có biệt tài trong các môn cầm, kỳ, thi, họa ... Một điều lạ hơn hết là mặc dù có tài như thế, nhưng ông không học qua một thầy nào. Từ nhỏ chí lớn, ông cố công tự học, rèn luyện mà nên. Kê Khang cũng như 6 người bạn kia đều thích an nhàn dật lạc, say mê đạo Lão. Ông làm đến chức Trung Tán đại phu nhưng luôn luôn chê vua Thang, vua Võ, khinh Văn Vương và Khổng Tử. Kê Khang làm quan một thời gian rồi từ quan ở ẩn, để hưởng cảnh tiêu diêu lúc về già. Nhưng sau đó bị Tư Mã Chiêu giết hại.
Khi lâm hình Kê Khang vẫn ung dung gảy khúc Quảng Lăng tán. Ðàn xong
nói: "Có kẻ xin học bài này, ta không dạy, thế là từ đây không ai còn
đàn bài Quảng Lăng này nữa”!. Nguyễn Du có bài thơ Kê
Khang Cầm đài:
Cầm đài (5a) cổ tích ký Kê Khang
Nhân tử cầm vong đài diệc hoang
Nhân tử cầm vong đài diệc hoang
Văn vũ (5b) thất huyền chung tịch tịch
Đông tây lưỡng Tấn (5c) diệc mang mang
Chí kim bất hủ duy đồng tính
Thử hậu hà nhân đáo túy hương (5d)
Thán tức Quảng Lăng huyền tuyệt hậu
Tỳ bà tân phổ bán Hồ Khương (5e)
Đông tây lưỡng Tấn (5c) diệc mang mang
Chí kim bất hủ duy đồng tính
Thử hậu hà nhân đáo túy hương (5d)
Thán tức Quảng Lăng huyền tuyệt hậu
Tỳ bà tân phổ bán Hồ Khương (5e)
Dịch nghĩa:
Sách xưa ghi "Cầm đài" là của Kê Khang
Người chết, đàn mất, đài cũng bỏ hoang
Bảy dây văn vũ cuối cùng đã im bặt
Hai nước Đông Tấn, Tây Tấn cũng mất tăm
Đến nay cái bất hủ ở ông còn lại là tính trẻ con
Sau đó ai là người đến với làng say?
Than thở cho tiếng đàn Quảng Lăng nay đã thất truyền
Bài nhạc mới đàn tỳ bà, một nửa là theo điệu Hồ Khương.
(5a) Cầm đài: chỗ Kê Khang đánh đàn. Truyện Kiều của
Nguyễn Du có câu:
"Rằng nghe nổi tiếng cầm đài
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ".
"Rằng nghe nổi tiếng cầm đài
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ".
(5b) Dây đàn. Vũ là dây to, văn là dây nhỏ. Truyện Kiều có
câu: "So dần dây vũ dây văn, Bốn dây to nhỏ theo vần cung
thương".
(5c) Tức Đông Tấn và Tây Tấn.
(5d) Làng say. Kê Khang là bạn thân với Lưu Linh, tác giả
bài Tửu đức tụng.
(5e) Người Hồ, ở miền tây bắc Trung Quốc.
(5*) Trúc lâm thất hiền: Nhóm bảy người hiền trong rừng
Trúc:
1/ Nguyễn Tịch (210-263);
2/ Kê Khang (223-263);
3/ Lưu Linh (220-300);
4/ Sơn Đào (205-283);
5/ Hướng Tú (221-300);
6/ Vương Nhung (234-305);
7/ Nguyễn Hàm.
1/ Nguyễn Tịch (210-263);
2/ Kê Khang (223-263);
3/ Lưu Linh (220-300);
4/ Sơn Đào (205-283);
5/ Hướng Tú (221-300);
6/ Vương Nhung (234-305);
7/ Nguyễn Hàm.
Trúc lâm thất hiền, bảy nhà thơ, nhà văn Trung Quốc sống
thời kỳ cuối Ngụy đầu Tấn, thế kỷ thứ 3, ở ẩn trong rừng trúc, đánh đàn,
uống rượu, ngâm thơ, bàn triết học Lão Trang, nói chuyện huyền viễn để tỏ lòng
chống đối chế độ đen tối đương thời. Trong số đó, nổi tiếng nhất là Nguyễn
Tịch và Kê Khang. Nguyễn Tịch (210 - 263) có 82 bài "Vịnh hoài
thi" nói lên nỗi bất mãn của ông trước hiện thực và nỗi lo lắng buồn
thương cho cuộc đời, nhưng lời lẽ rất kín đáo. Ông "dùng khí mà làm
thơ" (Lưu Hiệp), cho nên "khó biết ông nói gì", người đọc chỉ phỏng
đoán. Bài "Đại nhân tiên sinh truyện" là một bài ca, nhà thơ dùng
hình tượng "Đại nhân tiên sinh" để tả tâm tình bi quan, tuyệt vọng của
mình trước "ngày cuối cùng", "vũ trụ tan vỡ", không tránh
được. Nguyễn Tịch có cặp mắt rất đặc biệt, khi vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt
xanh, còn không vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt trắng. Khi mẹ Nguyễn Tịch mất,
ông Kê Hỷ mang đồ lễ đến viếng, Nguyễn Tịch tiếp nhìn với đôi mắt trắng dã. Hỷ
ra về mà bụng không bằng lòng. Em của Kê Hỷ là Kê Khang nghe biết chuyện đó, mới
mang rượu và cắp đàn đến, thì Tịch rất vui, vừa ý lắm, tiếp Kê Khang với đôi mắt
xanh. Kê Khang (223 - 263) sở trường về tản văn, tác phẩm nhuốm màu sắc Lão
Trang rất đậm, nhưng tâm tình phẫn nộ, bất bình bộc lộ khá rõ. Tính ông lại
cương trực, "quá thanh cao" nên cuối cùng ông bị họ Tư Mã giết hại.
Cả hai ông đều nhất trí phủ định lễ giáo của Nho gia, vì họ Tư Mã và bọn tay
sai lợi dụng thứ Nho giáo này chuẩn bị lấy hình thức "vua nhường
ngôi" che đậy việc tiếm quyền. Ngoài ra, Lưu Linh cũng sống phóng túng, ngạo
mạn, có bài "Tửu đức tụng" được lưu truyền.
(6) Lý Đạo Tái: Pháp hiệu là Huyền Quang (1254-1334),
người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang. Nay là làng Thái Bảo, huyện
Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Học giỏi, đỗ cả thi hương, thi hội. Ông đỗ đệ nhất
giáp tiến sĩ (trạng nguyên) khoa thi năm 1272 (hay 1274?) và được bổ làm việc
trong Viện Nội Hàn của triều đình, tiếp sư Bắc triều, nổi tiếng văn thơ. Sau
này từ chức đi tu, theo Trần Nhân Tông lên Trúc Lâm. Là một Thiền sư Việt Nam,
tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử. Cùng với Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân
Tông (1*) và Pháp Loa (1**) ông được xem là một Đại thiền sư của
Việt Nam. Theo sách Tam tổ thực lục (1***), mẹ của Huyền Quang là Lê
Thị hay đến chùa Ngọc Hoàng cầu nguyện vì tuổi đã 30 mà chưa có con. Đầu năm
Giáp Dần 1254, vị trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Huệ Nghĩa mơ thấy "các tòa
trong chùa đèn chong sáng rực, chư Phật tôn nghiêm, Kim Cương Long Thần la liệt
đông đúc. Đức Phật chỉ Tôn giả A-nan-đà bảo: “Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí
Đông Độ và phải nhớ lại duyên xưa”. Năm ấy Lê Thị sinh Huyền Quang. Lớn lên Sư
dung mạo dị thường, làm quan đến chức Hàn Lâm.
Một hôm, Sư cùng vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện
Phượng Nhãn, nghe Thiền sư Pháp Loa giảng kinh, liền nhớ lại "duyên
xưa", xin xuất gia thụ giáo (có tài liệu nói Sư thụ giáo với Bảo Phác ở
chùa Vũ Ninh). Sư được cử làm thị giả của Trúc Lâm Đầu Đà và được ban pháp hiệu
là Huyền Quang.
Sau, Sư theo lời phó chúc của Trúc Lâm trụ trì chùa Vân Yên
(nay là chùa Hoa Yên) trên núi Yên Tử. Vì đa văn bác học, tinh thông đạo lí nên
tăng chúng đua nhau đến học. Niên hiệu Đại Khánh thứ 4 (1317), Sư được Pháp Loa
truyền y của Trúc Lâm và tâm kệ. Sau khi Pháp Loa tịch (1330), Sư kế thừa làm Tổ
thứ ba của thiền phái Trúc Lâm nhưng vì tuổi đã cao nên Sư giao phó trách nhiệm
lại cho Quốc sư An Tâm. Sư đến trụ trì Thanh Mai Sơn sáu năm, sau dời sang Côn
Sơn giáo hoá. Ngày 23 tháng 1 năm Giáp Tuất (1334), Sư viên tịch, thọ 80 tuổi.
Vua Trần Minh Tông sắc thuỵ là Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại, đặc phong Từ Pháp
Huyền Quang Tôn Giả.
Huyền Quang là một nhà thơ lớn, sau đây là hai bài thơ tiêu
biểu của Sư:
Cúc hoa
Vong thân vong thế dĩ đô vong
Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương
Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.
Hoa cúc
Quên mình quên hết cuộc tang thương
Ngồi lặng đìu hiu mát cả giường
Năm cuối trong rừng không có lịch
Thấy hoa cúc nở biết trùng dương.
Thu phong ngọ dạ phất thiền nha
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la
Dĩ lữ thành thiền tâm nhất phiến
Cùng thanh tức tức vị thùy đa?
Cùng thanh tức tức vị thùy đa?
Mưa núi
Gió thu ban tối thổi hiên tây
Nhà núi đìu hiu tựa đám cây
Tấc dạ tu hành từ những thuở
Dế kêu rầu rĩ bởi ai đây?
(6*) Trần Nhân Tông (1258-1308), tên thật
là Trần Khâm là vị vua thứ ba của nhà Trần (sau vua cha Trần Thánh
Tông và trước Trần Anh Tông) trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi 15 năm
(1278-1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Ông là người đã thành lập Thiền
phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu đà Hoàng giác Điếu ngự. Ông được
sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.
(6**) Thiền sư Pháp Loa (1284-1330): Là Tổ thứ
hai dòng Trúc Lâm; tên tục là Ðồng Kiên Cương. Năm 1305, ông được Trúc Lâm cho
thọ giới Tỳ Khưu và Bồ Tát, và cho hiệu là Pháp Loa. Năm 1306,
ông được lập làm giảng chủ chùa Báo Ân. Năm 1307 cùng với 6 vị đệ tử khác của
Trúc Lâm, ông được Trúc Lâm dạy cho bộ Ðại Tuệ Ngữ Lục trên am Quán
Trú. Tháng năm năm đó, trên am Ðình Trú, vào ngày rằm, ông được Trúc Lâm trao y
bát và tâm kệ. Như vậy là ông được đắc pháp chỉ sau hơn 3 năm tu học. Mồng một
tết năm Mậu thân (1308) ông được chính thức làm trụ trì chùa Báo Ân ở Siêu Loại,
và được giao cho chức vụ Tổ thứ hai của thiền phái Trúc Lâm. Pháp Loa mất năm
1330, thọ 47 tuổi.
(6***) Tam Tổ thực lục: Truyện về 3 vị sư tổ dòng thiền
Trúc lâm Việt Nam đời Trần: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền
Quang. Sách tập hợp bài viết từ đời Trần, do 2 nhà sư Quảng Điền và Hải Lượng
ở chùa Lân Động, Yên Tử soạn năm 1765. Bài thứ nhất trích từ sách "Thánh đăng
lục" (còn gọi là "Thánh đăng ngữ lục"), không rõ tác giả. Bài thứ
hai sao lại tấm bia dựng năm 1685, ở chùa Hương Hải, quê hương Pháp Loa ("Đệ
nhị đại tổ bi trùng tu sự tích kí"). Bài thứ ba ("Tổ gia thực lục")
sáng tác đời Trần, bị thất lạc, giữa thế kỷ 16 mới tìm được. Có một phần đề là
"Thiền đạo yếu lược", ghi một số đoạn ngữ lục của Pháp Loa. Cách viết
3 truyện không thống nhất. Truyện Huyền Quang giống truyện truyền kì, có nhiều
tình tiết nửa thực nửa hư.
(7) Nguyễn Hoàn: Với chức trách đứng đầu Quốc sử viện cuối đời
Lê, cùng với Lê Quý Đôn, Vũ Miên, Ngô Thời Sĩ… soạn Đại Việt sử ký tục
biên và Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (Lịch sử VN giai đoạn
từ 1676 đến 1789). Đây là những tư liệu lịch sử quí giá trong giai đoạn này. Cuốn Đại
Việt lịch triều đăng khoa lục được coi là công trình chính thức của triều
Lê, bởi công trình đó không những cho chúng ta biết những người đỗ đại khoa của
triều Lê mà cũng sưu tầm được cả các tiến sĩ của triều Mạc.
Sau này ông làm đến chức Nhập thị Tham tụng, Lại bộ Thượng
thư kiêm hành Lễ bộ sự Hữu tư giảng, Tri Quốc Tử Giám, Tri Hàn lâm viện sự
(1774) kiêm Quốc sử tổng tài. Năm 1777, khi ông đã 65 tuổi, theo lệ được về trí
sĩ, thăng hàm Thái phó, tước Viện quận công. Chúa Trịnh Sâm vời ông đến tôn làm
Quốc lão, xếp ông là một trong năm vị nguyên lão đại thần.
(8) Nguyễn Thị Điểm Bích: Có nhiều giai thoại xung
quanh quan hệ của nàng Điểm Bích với Thiền Sư Huyền Quang, chỉ khác đoạn kể của
Phạm Đình Hổ chút ít, riêng bài thơ thì không có sai khác. Chẳng hạn như đoạn kể
chuyện về Nàng Điểm Bích sau:
Nguyễn Thị Điểm Bích, tên tự Tam Nương, người làng Hoạch Trạch,
huyện Đường An, lộ Hồng Châu (Hải Hưng). Không ai rõ năm sinh, năm mất của bà…
Điểm Bích lớn lên trong một gia đình của bố mẹ nuôi, vốn là một hào phú trong
làng, họ Lý. Cả hai ông bà đều nhân từ, rất thương người, lại thấy cô con nuôi
hiền thục nết na và sáng dạ, Lý ông bèn thuê thầy đến nhà dạy cho cô biết chữ
thánh hiền. Chỉ trong thời gian ngắn, cô Điểm Bích đã trở thành một thiếu nữ
duyên dáng và có học vấn. Sẵn có sắc đẹp, cô được tiến làm cung nhân cho vua Trần
Anh Tông (1293 - 1314). Là một cung nữ rất thông minh, có tài xuất khẩu thành
chương, đặc biệt giỏi thơ quốc âm, ứng đối lưu loát; cô được vua Trần Anh Tông
giao cho nhiệm vụ lên Yên Tử để thử thách đạo hạnh thiền sư Huyền Quang tức danh
sĩ Lý Đạo Tái, sau này ông là vị tổ thứ 3 của phái thiền Trúc Lâm.
Trải đã dài ngày, bày hết kế nhưng không lung lạc được nhà sư
Huyền Quang. Sau cùng, Điểm Bích nghĩ cách oán than gia cảnh túng quẫn, mà cha
già đang bệnh nặng… Nàng cố than thở cốt lấy cho được đồng vàng Kim Tử do nhà
vua đã ban cho thiền sư. Muốn chắc hơn, Điểm Bích còn nghĩ cách tự đặt bốn câu
thơ lơi lả trăng hoa (chữ nôm) với ý đồ gán cho nhà sư là tác giả. Liền đó cô
quay về cung tâu vua, dâng Kim Tử và trình bài thơ ấy:
Vằng vặc trăng mai ánh nước
Hiu hiu gió trúc ngân sinh
Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ
Mâu Thích ca nào thuở hữu tình.
Xét kỹ bài thơ ấy thì rõ ràng nhà sư Huyền Quang đã bị dao động trước nhan sắc
của nàng Điểm Bích. Vua giận truyền đòi nhà sư về hạch tội. Nhưng khi nhà sư sắp
bị phạt trượng (đánh bằng gậy) thì có dân làng gần chùa kéo nhau đến quỳ lạy
minh chứng, bởi họ chỉ vì vô tình mà biết rõ được chuyện oan ức này ngay từ đầu.
Nhà vua cho thẩm tra lại, biết sư Huyền Quang bị oan, cho về chùa Yên Tử tiếp tục
làm phận sự tu hành. Còn cung nhân Điểm Bích bị phạt giáng xuống làm thị nữ
quét chùa trong cung Cảnh Linh.
Tương truyền từ đấy nàng Điểm Bích hối hận, thường đặt thơ theo lối kể hạnh để răn đời. Vì thời đó phần nhiều là thơ xuất khẩu nên sớm bị thất truyền.
Tương truyền từ đấy nàng Điểm Bích hối hận, thường đặt thơ theo lối kể hạnh để răn đời. Vì thời đó phần nhiều là thơ xuất khẩu nên sớm bị thất truyền.
Sài Gòn, tháng 8-2010









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét