Giọt nước mắt màu đất và những ngụ ý
Giọt nước mắt màu đất gồm 9 truyện ngắn của nhà văn Đức Ban được viết
chủ yếu ba năm trở lại đây. Trong bối cảnh sáng tạo có nhiều đổi mới của nền
văn nghệ quốc gia, anh có tiếp thu và trong chừng mực nhất định cá tính sáng tạo
của anh có nhiều đổi thay so với trước. Từ cây bút chuyên sâu về đề
tại nông thôn thời hậu chiến anh mở rộng sang viết về đời sống cộng đồng trong
một môi trường rộng lớn hơn cả thành thị lẫn nông thôn, đời sống người dân thời
đổi mới trong mối liên quan phức hợp từ văn hóa đến kinh tế, đạo lý đến phong
tục, hiện tại trở về quá khứ… tất cả được soi chiếu bằng một cái nhìn cấp tiến
và thể hiện bằng một bút pháp nhiều sáng tạo hòa vào vòng quay của nền văn xuôi
đương đại.
Mảng truyện
thứ nhất, căn bản anh vẫn sáng tác theo bút pháp truyền thống, bám chặt vào mảnh
đất hiện thực, sự dụng công tập trung vào các chi tiết gây hồi hộp cho người đọc.
Đó là các truyện Nước chảy, Sóng Bến Duềnh, Bên đường phố, Người đàn bà
trên Cầu Giằng, Thăm thẳm rừng xanh… Tuy xử dụng bút pháp tả thực
quen thuộc nhưng nội dung nhiều nét mới. Những mệnh đề có tính triết lý chìm
sâu dưới các truyện tạo một hấp lực không theo lối mòn. Hiện thực hiện lên
không rõ ràng hai tuyến ta địch, không tô vẽ về những con người hoặc tốt hoặc xấu
cụ thể đơn điệu, mà cái xấu, cái tốt phổ quát ở nhiều lớp người cũng như trong
mỗi con người được hiện lên trong một phức thể khá tiêu biểu của đời sống đương
đại.
Đó là vị quan chức một thời tha hóa, cuối đời trở nên lương thiện khi gặp cảnh
ngộ người đàn bà từng cưu mang mình nay trong thân phận thấp hèn vẫn le lói
tình yêu quê hương chứa đầy kỷ niệm, Ông đã bị cảm hóa (Người đàn bà
trên Cầu Giằng). Truyện khác dựng lên cảnh oái oăm ngang trái, người bị hại phải
đi ở nuôi kẻ đã hại gia đình mình - một con chó lai - cậu Pin, “con nuôi”
của một nhà giàu (Nước chảy). Sóng Bến Duềnh, Thăm thẳm rừng xanh lại
đề cập đến một vấn đề khá phổ biến trong cuộc sống thời thị trường, kẻ thì chạy
theo đồng tiền, kẻ thì chạy theo dục vọng làm những chuyện phi luân, nhưng phản
trắc bội bạc đã chịu quả báo. Những nhân vật Hân, nhân vật Ông tiêu
biểu cho lối sống tha hóa đó, kết quả bị chính cuộc sống đó hãm hại, bị vợ con
phản bội đẩy vào ngõ cụt bi thảm của số phận.
Có hai truyện
trong tập tác giả đưa đến cho người đọc hai mẫu đời đáng suy ngẫm. Một thanh
niên học xong đại học, từng đi lính, từng làm báo, đầy chữ nghĩa, nhiều mơ ước
(chú Huyên) bị cuộc đời oái oăm xô đẩy phải lập thân bằng việc lập“ Tổ thợ
nề ” sống cuộc đời cần lao lang bạt, với một tình duyên tủi cực, chua xót (chị Hiền),
chú sống vất vưởng, ngày lao động, tối làm thơ… rồi phá sản thất nghiệp, mắc bệnh
tâm thần. Con người ấy cho đến lúc chia tay vẫn không quên được cái hòm sách chứa
mơ ước một thời, nên nhờ cậu bạn chăm giữ hộ và luôn khuyên nhóm thợ đàn em sống
ở đời phải lấy tình nghĩa làm trọng (Bên đường phố). Trong mưa, câu
chuyện về một công chức tỉnh lẻ sống nhợt nhạt tù đọng chán ngán vì bao thất vọng:
phục vụ cho thủ trưởng rồi cũng bị bỏ rơi, vợ chạy theo đồng tiền mong cứu vớt
gia đình ra khỏi cái nghèo nhưng bị chính quỹ đạo đồng tiền nó hút vào, trụy lạc
rời bỏ gia đình, anh ta bế tắc sống một đời nhạt chán nơi tỉnh lẻ, thui chột
bao mơ ước ban đầu. Những nhân vật có vẻ như “sống mòn” kiểu mới bất lực trong đời sống hiện đại. Bằng cái nhìn có phần khách quan, tiên nghiệm Đức
Ban hé mở bước đầu cho người đọc thấy không chỉ “cái phần tối” trong con người
thời nay mà còn chỉ ra cái xấu, cái phi lý của cái khung xã hội hiện
hình ra trong mặt trái của cơ chế thị trường, nguồn gốc đẻ ra những bất công,
bế tắc dẫn đến sự hình thành, nảy sinh cái xấu, cái ác…
Mảng truyện thứ hai có những nét đổi mới làm rõ sự sáng tạo của cây bút Đức
Ban. Lối trong rừng, một vở kich đầy hồi hộp, sự dẫn dắt tài tình của
tác giả thông qua việc đi tìm báu vật của một vị giáo sư theo lời đồn. Đi mãi
trong rừng gặp chủ nhân báu vật (Cố đạo) đấu trí, đấu mẹo mãi mới được cho xem.
Nhưng than ôi một chiếc rương rỗng không, nhưng truyền mãi bao đời! Người dân
thì u tối, mê tín, kẻ giữ của thì lợi dụng hư truyền để kéo dài địa vị quyền uy
cha truyền con nối.
Câu chuyện hồi hộp về một báu vật vu vơ trong quá khứ nhưng xem ra có ích phần nào cho độc giả về những ngụy tín mà người đời đang mắc phải trong những tranh chấp làng xã. Chốn xưa, một câu chuyện hư tưởng về một cuộc trở về của một bà lão và một vị tiến sĩ trẻ tuổi - Võ Mỵ. Trên một chuyến đò họ tình cờ gặp nhau và trở thành đồng hành tìm về làng cũ Hòa Nghĩa. Bà lão tìm về hương khói cho những người làng hy sinh trong một “cuộc bể dâu” làm ăn, khai khẩn hiện đại, chàng tiến sĩ về theo di chúc người cha một thời làm quan trên tỉnh, để lại cho con trai một vùng đất rộng lớn mà ông chiếm đoạt được. Nhưng than ôi, chỉ có một vùng hương khói mông lung đầy những vong hồn xiêu giạt bơ vơ. Truyện đẫm màu sắc hư ảo tâm linh nhờ những chi tiết sương khói chen những câu kinh, những tích Phật. Đức Ban thành công trong một lối viết giàu chất hư tưởng.
Câu chuyện hồi hộp về một báu vật vu vơ trong quá khứ nhưng xem ra có ích phần nào cho độc giả về những ngụy tín mà người đời đang mắc phải trong những tranh chấp làng xã. Chốn xưa, một câu chuyện hư tưởng về một cuộc trở về của một bà lão và một vị tiến sĩ trẻ tuổi - Võ Mỵ. Trên một chuyến đò họ tình cờ gặp nhau và trở thành đồng hành tìm về làng cũ Hòa Nghĩa. Bà lão tìm về hương khói cho những người làng hy sinh trong một “cuộc bể dâu” làm ăn, khai khẩn hiện đại, chàng tiến sĩ về theo di chúc người cha một thời làm quan trên tỉnh, để lại cho con trai một vùng đất rộng lớn mà ông chiếm đoạt được. Nhưng than ôi, chỉ có một vùng hương khói mông lung đầy những vong hồn xiêu giạt bơ vơ. Truyện đẫm màu sắc hư ảo tâm linh nhờ những chi tiết sương khói chen những câu kinh, những tích Phật. Đức Ban thành công trong một lối viết giàu chất hư tưởng.
Giọt nước mắt màu đất, truyện ngắn có nhiều dụng công của tác giả. Trong
làn sóng công nghiệp hóa, trong bối cảnh bị xâm lăng kinh tế , làng Yên Linh một
làng thuần Việt với đền thờ Thánh Mẫu (nàng Len) một chứng tích lịch sử hào
hùng chống xâm lăng trở thành nạn nhân của cuộc khai hóa biến thành vùng đất
công nghiệp của ngoại quốc. Những khu rừng chống giặc được trồng lên trong quá
khứ bị xóa sạch, làng mạc hoang tàn. Ông già người trồng rừng năm xưa càng buồn
khổ hơn khi con gái vì lối sống phù hoa đã chạy theo ông chủ ra nước ngoài.
Nhưng rồi như có phép thần thông, một cơn bão, một trận sóng thần xô đến cuốn
đi hết. Không một dấu vết công trình còn lại. Ông lão mất trong cơn mơ, được
thánh mẫu cứu vớt, lại gặp con gái nơi đền thiêng. Cô gái hồi tỉnh trở về, đền
thiêng và dân làng vẫn còn văn hóa truyền thống vẫn còn trước sự xâm lăng kinh
tế ngoại bang. Chủ đề tác phẩm tuy có chìm lấp dưới vài sự kiện hoang tưởng
nhưng hiện lên khá rõ.
Ở mảng truyện
thứ hai này Đức Ban xử dụng nhiều thủ pháp mới không nệ thực và kết cấu tuyến
tính như trước. Kết cấu truyện “vô chiêu thức”, khi kết thúc đột ngột, lúc song
hành hai tuyến xưa và nay, khi nhảy vào trung tâm, lúc thắt mở nút như kịch…
Đặc biệt chất huyễn hoặc được xử dụng đắt trong những bước chuyển từ hiện tại sang quá khứ, từ hiện thực sang tâm linh, tạo một không khí liêu trai khá hấp dẫn người đọc. Mưa một biểu tượng xuyên suốt tác phẩm: mưa trong rừng cản trở bước chân người đi tìm báu vật, mưa nơi quán cà - phê ngắt quãng cuộc chuyện trò của tác giả và “hắn”, mưa trong xóm chài ngày bão dông phá tan bao công trình, mưa trên bến sông Duềnh đẫm ướt mối tình vụng trộm, mưa kết duyên lứa đôi trái ngang hai kẻ lạc loài trên đường phố, mưa trên Cầu Giằng bao che cho cuộc dan díu của người say… Đất miền Trung lắm mưa nhiều bão tràn vào một cách tự nhiên làm nền cho những câu chuyện của Đức Ban, làm chúng thấm đẫm một không gian mờ ảo sương khói, tạo một hấp dẫn riêng.
Đặc biệt chất huyễn hoặc được xử dụng đắt trong những bước chuyển từ hiện tại sang quá khứ, từ hiện thực sang tâm linh, tạo một không khí liêu trai khá hấp dẫn người đọc. Mưa một biểu tượng xuyên suốt tác phẩm: mưa trong rừng cản trở bước chân người đi tìm báu vật, mưa nơi quán cà - phê ngắt quãng cuộc chuyện trò của tác giả và “hắn”, mưa trong xóm chài ngày bão dông phá tan bao công trình, mưa trên bến sông Duềnh đẫm ướt mối tình vụng trộm, mưa kết duyên lứa đôi trái ngang hai kẻ lạc loài trên đường phố, mưa trên Cầu Giằng bao che cho cuộc dan díu của người say… Đất miền Trung lắm mưa nhiều bão tràn vào một cách tự nhiên làm nền cho những câu chuyện của Đức Ban, làm chúng thấm đẫm một không gian mờ ảo sương khói, tạo một hấp dẫn riêng.
Tập truyện nội dung chủ yếu vẫn xoay quanh cuộc đấu
tranh Thiện và Ác, Xấu và Tốt, nhưng về phương diện đề tài đã mở rộng ra
nhiều bình diện trong đời sống cộng đồng. Một cuộc đấu tranh không ngưng nghỉ,
con người cần phải cảnh giác trước cái xấu, cảnh giác ngay trong chính bản thân
mình. Tập truyện không vẽ tiếp nhưng nhân vật tội ác của tòa án hình sự đầy
rẫy trên báo chí mà bằng con đường nghệ thuật tái tạo cái xấu như một
phạm trù thẩm mỹ thức tỉnh lương tri con người thời nay. Cái thẩm mỹ trong nghệ
thuật, cái xấu, cái ác trong đạo lý, và sự thiếu khoa học, thiếu hợp lý trong
cái khung kinh tế - xã hội thời thị trường có một quan hệ tương tác, để cải tạo
cuộc sống không thể không thấy cái quan hệ biện chứng đó! Đó là cái hệ luận mà
nhà văn giúp người đọc nhận thức thêm sau những xúc cảm thẩm mỹ.
Đức Ban là một nhà văn có nghề, luôn trăn trở với nghề, với những
tìm tòi mạnh dạn, một số tác phẩm của anh từng gây được ấn
tượng trong độc giả, đến tác phẩm mới này nhiều yếu tố trở thành phương thức
nghệ thuật được vận dụng khá đắc địa, phát triển thường xuyên, tạo hiệu
ứng thẩm mỹ cao, góp phần khẳng định một phong cách riêng của
tác giả.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét