Thứ Tư, 24 tháng 7, 2019

Cảm thức nơi chốn trong thơ Nguyễn Bính trước 1945

Cảm thức nơi chốn trong 
thơ Nguyễn Bính trước 1945
Nguyễn Bính cũng như nhiều văn nghệ sĩ cùng thế hệ, luôn coi những chuyến đi là sự tìm kiếm cơ hội thay đổi bản thân và cuộc đời đến mức coi việc ra đi là lẽ sống: “Sống là sống để mà đi,/ Chuyến tàu bạn hữu, chuyến xe nhân tình”, nhưng những chuyến đi ấy cũng khiến nhà thơ cảm nhận thấm thía hơn thân phận lưu lạc, tha hương, lỡ làng, dang dở. Những chuyến đi ấy cũng lưu lại trong thơ Nguyễn Bính từng địa danh, từng vùng đất in đậm bản sắc riêng vùng miền mà nơi nào cũng đầy gắn bó, luyến thương. Dường như Nguyễn Bính có sự nhạy cảm đặc biệt với nơi chốn, với ông, mỗi cái tên nơi chốn đều gợi nhắc đến quá khứ và hiện tại, sự trôi đi của thời gian, sự đổi thay nơi chốn, như người du khách đang ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên - một Ngự Viên khác trong quá khứ hay trong mộng tưởng [1]. Cảm thức nơi chốn tạo cho thơ Nguyễn Bính một vẻ riêng không trộn lẫn với các nhà Thơ mới khác.                            
1. Cảm thức nơi chốn trong văn chương
Nơi chốn là chủ đề nổi bật trong ngành địa lý nhân văn, kiến trúc và nghiên cứu văn học hiện nay. Khác với những thuật ngữ như phong cảnh, khung cảnh, không gian, địa điểm,… nơi chốn chỉ không gian có sự độc đáo, có khả năng gợi cảm xúc và chuyên chở ý nghĩa văn hóa. Vượt ra ngoài không gian hình học đơn thuần của một địa điểm, nơi chốn là không gian có sự tồn tại và nhận thức của con người. Heidegger coi nơi chốn là môi trường xung quanh con người để con người xác định sự tồn tại của mình và cảm thấy sự hiện hữu đặc biệt của mình. Đi sâu vào lý thuyết nơi chốn trong địa lý nhân văn, Yi Fu Tuan cho rằng, điều quan trọng của nơi chốn chính là cảm xúc và tinh thần mà con người thấy được từ nơi chốn, là trạng thái gắn bó chặt chẽ giữa con người và nơi chốn chứ không phải vị trí và chức năng của nó [2].
Cảm thức nơi chốn, là sự nhận thức và cảm giác có tính thẩm mỹ và mang tính cá nhân về không gian địa lý và thế giới, mang cho nơi chốn những nét văn hóa theo cách chúng ta hình dung về nó [3]. Edward Relph quan niệm cảm thức nơi chốn là khả năng bẩm sinh có trong mỗi chúng ta theo từng mức độ để kết nối con người với thế giới. Nơi chốn cũng là chất liệu có giá trị văn chương và biểu tượng. Với ngôn ngữ diễn đạt của văn học, nơi chốn là không gian sống, là nơi cư trú, bởi vậy, một vật thể di động, một cái hộp cũng có thể được xem như là nơi chốn, giống như tổ chim là ngôi nhà của con chim và thế giới là tổ chim của nhân loại (Emerson gọi thiên nhiên là cái tổ êm đềm của ông, hay Whitman coi biển là cái nôi của tuổi trẻ đời mình) [4]. Trong tiểu luận “Sense of place”, Seamus Heaney từ việc tìm hiểu lý thuyết nơi chốn của Yi Fu Tuan đã khẳng định nơi chốn không chỉ là một bối cảnh, mà là nơi nuôi dưỡng cảm xúc, nó là nơi nương tựa của con người trong thế giới [5]. Bởi vậy, cảm thức nơi chốn là yếu tố quan trọng để tạo nên xu hướng thẩm mỹ của văn chương, đặc biệt là ở thơ. Gần đây, các nhà phê bình sinh thái khi trở về với chủ nghĩa lãng mạn đã coi nơi chốn thể hiện sự tương giao, kết nối giữa lịch sử của con người với môi trường địa lý và vật lý mà con người hít thở và chứng nghiệm [6]. Trong văn chương, mỗi nơi chốn có thể mang ý nghĩa biểu tượng nhất định, chẳng hạn như đường tàu trong Anna Karenina, đống tro trong Gastby vĩ đại, đáy sông cạn trong Giã từ vũ khí,...
Trong truyền thống thi ca Việt Nam đã có không ít nhà thơ khi đứng trước cảnh thiên nhiên hay địa danh lịch sử đã cảm tác nên những áng thơ văn và tạo cho nhiều địa danh trở thành nơi chốn mang chở ý nghĩa biểu tượng. Nguyễn Trãi với Côn Sơn ca, Dục Thúy Sơn, Bà Huyện Thanh Quan với Thăng Long thành hoài cổ, Qua Đèo Ngang,… đều gắn nơi chốn với cảm xúc tâm trạng của họ và cảm nhận được cái hồn nơi chốn. Ở thơ hiện đại, Chế Lan Viên tạo nên một vùng thẩm mỹ đặc sắc với Chiêm quốc, Tháp Chàm, sông Linh như một cách thể hiện hoài niệm thế giới đã mất, nay chỉ còn lại hoang tàn, đổ nát. Còn thế giới thơ của Hoàng Cầm tái dựng lại miền Kinh Bắc với văn hóa duyên dáng, đa tình. Đánh giá về văn học Việt Nam, nhà thơ Mỹ Kevin Bowen cho rằng, Việt Nam là đất nước mà nơi chốn quan trọng hơn cả, mỗi mảnh đất đều có một lịch sử riêng. Đối với hầu hết người Mỹ, họ chỉ nghe đến Việt Nam với những cuộc chiến tranh, và những địa danh gắn với cuộc chiến tranh đó, chứ không phải là những ngôi làng, những thành phố gợi lên một lịch sử khác, lịch sử nguyên vẹn của chính người Việt, và mặc dù rất nhiều tác phẩm viết về chiến tranh nhưng có một chủ đề lớn tồn tại lâu dài trong truyền thống Việt Nam vẫn là quê hương và tình yêu [7]. Mỗi nhà thơ với chìa khóa là không gian, nơi chốn đều có khả năng đánh thức cảm giác và khiến cho nơi chốn chở thành phương tiện chuyển nghĩa và trở thành biểu tượng.
2. Từ nơi chốn cụ thể đến biểu tượng văn hóa
Trong Thơ mới, ý thức chuyển hóa cái đơn lẻ thành cái phổ quát là xu hướng của nhiều tác giả như Xuân Diệu, Huy Cận, chẳng hạn, nhân vật trữ tình thường mang ý nghĩa đại diện chung, như trong Yêu, Tương tư chiều (Xuân Diệu), Vạn lý tình, Hỡi em yêu, hỡi em thương (Huy Cận). Thơ Nguyễn Bính dường như ngược lại, thường xuất hiện khá nhiều những tên người tên đất cụ thể như một cách cụ thể hóa cái phổ quát. Những địa danh cụ thể như thôn Vân, thôn Đoài, thôn Đông, Hà Nội, Hà Đông, Ninh Bình, xứ Thanh, phủ Lạng, Huế, Nam Kỳ,… thường gắn với cảm xúc, tâm trạng riêng của thi nhân, khi tương tư, yêu đương, khi nhớ nhà, khi thất tình, khi tuyệt vọng, và nhiều khi cũng gắn với một người là cô Oanh, cô Thơ, chị Trúc, Tú Uyên, Nhi,… Sự cụ thể hóa nơi chốn có phần gần gũi với thơ Đường, mỗi địa danh trong thơ đều có thể trở thành biểu tượng với ý nghĩa được khái quát hóa như lầu Hoàng Hạc, sông Hoàng Hà, bến Tầm Dương, kinh đô Trường An,... Những nơi chốn trong thơ Nguyễn Bính tuy không phải khi nào cũng trở thành biểu tượng nhưng khi gắn với một tâm trạng, một bóng hồng đã thể hiện ý thức về con người cá nhân của nhà thơ rõ hơn khi dám bộc lộ tình cảm nhớ nhung, yêu đương một cách công khai, không giấu giếm. Gọi tên những nhân vật trữ tình trong thơ như Nguyễn Bính là một trạng thái mạnh mẽ dâng trào của cảm xúc khi nhắc đến đích danh đối tượng, vừa thể hiện tấm tình chân thật, vừa muốn sở hữu tình yêu (từ cái tên người), vừa muốn “khoe cho cả thiên hạ biết”. Trong thơ Hàn Mặc Tử, tên người trong mộng thường ẩn đi dưới những hình ảnh thơ kín đáo và thơ Vũ Hoàng Chương cũng gọi tên người yêu say đắm, da diết nhưng chỉ có một Tố của Hoàng mà thôi. Còn với Nguyễn Bính, mỗi cái tên người yêu, mỗi địa danh đều có ý nghĩa quan trọng và giàu cảm xúc như nhau. Tất cả những nơi chốn liên quan đến làng quê đều hiện diện trong thơ Nguyễn Bính: thôn Đoài, thôn Đông, vườn dâu, dậu mùng tơi, giàn đỗ ván, ao cấy cần, bến sông… nhưng Nguyễn Bính không nhằm tạo nên bức tranh quê, cảnh quê như thơ Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân mà hướng đến một thế giới của tình quê.[8] 
Mỗi nơi chốn thôn quê trong thơ Nguyễn Bính đều chất chứa tình sầu khắc khoải của con người ở chốn nương náu bình an nhất mà vẫn thấy nặng trĩu tâm tình. Trên những bước đường tha hương, Nguyễn Bính luôn muốn quay về nơi chốn ấy với ý thức rất rõ đó là nơi ông thuộc về: “Bỏ nơi thành thị chốn tôi mơ,/ Trở lại thôn quê tự bấy giờ./ Sống lại quãng đời thời trẻ dại,/ Thả diều bắt bướm với nàng Thơ”. Nơi chốn thôn quê ấy đem lại cho tâm hồn thi sĩ sự bình an, thanh thản, bởi vẻ đẹp của cảnh hoàng hôn nhuộm cánh đồng chua rạng rỡ buồn, cảnh cá đớp ánh trăng suông (Sống lại) của mùa xuân Lá nõn, nhành non ai tráng bạc; “Lúa thì con gái mượt như nhung, Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng, Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng” (Xuân về). Thôn quê của Nguyễn Bính đẹp, đầy hương sắc và thấm đẫm tình. Đó là nơi có tuổi thơ đẹp đẽ, nơi bình yên tâm hồn, nơi được trở về “phục sinh”. Ở đó cũng có những bóng hình những nàng gái xuân, cô hàng xóm, cô thôn nữ để hồn thơ mơ màng dệt mộng. Thơ đồng quê của Nguyễn Bính gắn với cảnh điền viên thường thấy trong văn học lãng mạn. Với sự hài hòa con người và thiên nhiên, sự hòa hợp lứa đôi trong mộng ước: “Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng/ Chồng hái hoa cho vợ giắt đầu” (Hoa với rượu); “Sáng trăng chia nửa vườn chè,/ Một gian nhà nhỏ đi về có nhau” (Thời trước).
Tuy vậy, khi viết về thôn quê, Nguyễn Bính mang trong mình thái độ ứng xử nửa vời, nước đôi của con người một phần vì “sinh bất phùng thời” [9], một phần vì sống duy tình hơn là duy lý. Sự dùng dằng, thiếu dứt khoát của Nguyễn Bính khác với Xuân Diệu, mạnh mẽ, quyết liệt ngả hẳn về hiện đại và Tây hóa, cũng khác với Huy Cận, chọn lối về cổ điển. Nguyễn Bính về với thôn quê nhưng vẫn không thôi nhớ người phồn hoa: “Tôi về đây đã lâu rồi/ Nằm trong cô tịch nhớ người phồn hoa” (Quê tôi). Sự dùng dằng giữa hai ngả mới - cũ, chân quê - thành thị, hiện đại - cổ điển được thể hiện trong ngôn ngữ thơ, sự lựa chọn thể thơ, và trong cả cách thể hiện tình yêu vừa táo bạo lại vừa thầm kín. Trong thơ Nguyễn Bính, thành thị, kinh thành, phố phường luôn là chốn bụi bặm, phù hoa, xa lạ với tâm hồn người nhà quê và trở thành đối cực với làng quê thanh bình, yên ả: “Kinh kỳ bụi quá xuân không đến” (Sao chẳng về đây?). Nguyễn Bính mang một nỗi sầu đô thị và mơ trở về chốn thôn dã thanh bình thiên nhiên cảnh vật hiền hòa tươi đẹp cho hồn thơ để được sống lại: “Sao chẳng về đây nỡ lạc loài/ Giữa nơi thành thị gió mưa phai/ Chết dần từng nấc rồi mai mốt,/ Chết cả mùa xuân, chết cả đời” (Sao chẳng về đây?). Nhưng con người đã gian díu bụi kinh thành của Nguyễn Bính cũng không thể trở về chốn làng quê như xưa như trong mơ ước, về chốn thôn quê nhưng ông vẫn đặt thôn quê trong sự đối sánh với thị thành “Ở chốn này đây nhiều mái tranh (…) Ta nhớ ai đâu chốn thị thành”, và “Thương như thế, nhớ làm sao,/ Kinh thành biết có mưa rào đêm nay” (Đêm mưa nhớ bạn). Nguyễn Bính ở chốn thị thành vẫn không nguôi nuối tiếc thôn quê nhưng khi ở chốn điền viên vẫn không hết buồn bởi cảm giác về sự thanh bình đó chỉ là thế giới trong mộng ước xa vời hay quá khứ đã qua không trở lại. Chính vì vậy, nỗi băn khoăn với Chốn về - với ngôi nhà mơ ước của Nguyễn Bính xuất hiện trong nhiều bài thơ: “Bao giờ em được về quê cũ” (Xuân tha hương), Nguyễn Bính thấm thía nỗi cô độc và bơ vơ không nơi chốn của mình “Không còn ai ở quê nhà/ Hỏi còn ai nữa? Để hoa đầy vườn,/ Trăng đầy ngõ, gió đầy thôn/ Anh về quê cũ có buồn không anh?”. Khi lưu lạc giang hồ luôn hoài nhớ cố hương, nhưng khi trở về, nhân vật trữ tình của Nguyễn Bính cũng lưu lạc, bơ vơ ngay trên chính quê nhà. Sự mâu thuẫn ấy trong thơ Nguyễn Bính cũng chính là mâu thuẫn của mỗi con người luôn đào sâu vào trong cái tôi cá nhân của mình.
Bằng cảm quan đặc biệt nhạy cảm với nơi chốn, Nguyễn Bính luôn tạo nên những cặp nơi chốn song hành giàu ý nghĩa tượng trưng: bến - thuyền, tàu - sân ga, vườn - bướm, quán trọ - lữ khách,… là sự đối lập của tĩnh - động, người đi  kẻ ở. Bến sông và con thuyền vốn là biểu tượng quen thuộc trong thơ ca, đến Nguyễn Bính, bến vẫn là nơi hò hẹn, nơi đợi chờ, nhưng cũng là nơi chia ly, lỡ làng: “Đi biệt không về với bến sông” (Cô lái đò). Nguyễn Bính nhạy cảm với sự đổi thay của thời đại và với những sự chia ly, lỡ làng nên thơ ông xuất hiện nhiều lần hình ảnh tàu - sân ga - một cặp biểu tượng mới thay thế cho cặp biểu tượng truyền thống thuyền - bến. Mặc dù thuyền, đò và bến vẫn là cặp biểu tượng quan trọng như một sự tiếp nối dòng mạch truyền thống, nhưng tàu - sân ga là sự chuyển nghĩa gắn với tinh thần thời đại. Tàu - sân ga là những nơi chốn của thành thị, của thời hiện đại. Con tàu không chỉ mang ánh sáng văn minh đô thị mà còn ẩn chứa ước vọng được ra đi, thỏa mãn khát vọng giang hồ của thi sĩ: “Nửa đêm nghe tiếng còi tàu/ Ngày mai ta lại bắt đầu ra đi”. Nguyễn Bính luôn đặt tàu trong mối tương quan với sân ga, một nơi chốn biểu tượng cho sự chia lìa, ly biệt: “Những cuộc chia lìa khởi tự đây; Những chiếc khăn màu thổn thức bay,/ Những bàn tay vẫy những bàn tay,/ Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt/ Buồn ở đâu hơn ở chốn này?”(Những bóng người trên sân ga). Như cộng hưởng nỗi buồn ly biệt ấy, con tàu trong thơ Nguyễn Bính chở nặng nỗi buồn: “Tàu chạy hình như để chở buồn/ Chở người đi nhớ, kẻ về thương” (Chuyến tàu đêm). So với các nhà Thơ mới, cặp biểu tượng tàu - sân ga xuất hiện nhiều nhất, sớm nhất và buồn nhất trong thơ Nguyễn Bính: “Mà mãi đêm nay mới nhớ ra:/ Đời mình chẳng khác chuyến tàu qua./ Nhưng từ ga nhớn, từ ga nhỏ/ Đời chẳng làm cho lấy một ga./ Tàu biết bây giờ chạy đến đâu?/ Đêm sâu hoàn trả lại đêm sâu/ Bỏ đây một chiếc tàu kiêng đỗ/ Chở một toa tim nặng oán sầu”. Nguyễn Bính cũng nhìn thấy đằng sau hiện diện của con tàu và sân ga là bao nhiêu câu chuyện đời, bao nhiêu xúc cảm: “Tàu qua để lại ga đơn chiếc/ Đường sắt nằm chờ những chuyến qua/ Có người lưu lạc bên đường sắt/ Mỗi chuyến tàu đi lại nhớ nhà” (Nhớ). Bằng sự nhạy cảm của một hồn thơ “dan díu với kinh thành” và “quen thói giang hồ”, Nguyễn Bính đã đem lại cho thơ ca thời đại mình cặp biểu tượng nơi chốn tàu - sân ga mới mẻ, ấn tượng mà hết sức gần gũi với người đọc. Đó cũng là một trong những cặp biểu tượng nơi chốn hấp dẫn và giàu ý nghĩa văn hóa trong văn chương Việt Nam hiện đại.
Nếu như sân ga là một nơi chốn của đô thị hiện đại thì vườn trong thơ Nguyễn Bính được nhắc đến khá nhiều như một biểu tượng của làng quê thanh bình yên ả, nơi tuổi thơ đẹp đẽ trải qua, nơi mộng ước tình yêu, nơi mùa xuân ngự trị. Đó là những vườn dâu, vườn cam, vườn chè, vườn đào, vườn mía,…vốn vô cùng gần gũi với tâm hồn người Việt: “Có những ngày đi rất nhẹ nhàng,/ Vườn tôi đầy cả gió xuân sang,/ Hai ba con bướm giang hồ đó,/ Đã trở về đây rũ phấn vàng (Vườn xuân); “Bỏ lại vườn cam, bỏ mái gianh/ Tôi đi gian díu với kinh thành/ Hoa thơm mơ mãi vườn tiên giới/ Chuốc mãi men cay rượu ái tình” (Hoa với rượu). Khác với khu vườn đẹp rạng rỡ, huyền ảo của Hàn Mặc Tử trong Đây thôn Vỹ Dạ, hay khu vườn hoang đầy “lá rầu”, “trái sầu” trong Ngậm ngùi của Huy Cận, trong thơ Nguyễn Bính, vườn, cũng như thôn quê, là nơi khởi đầu và cũng là chốn về hạnh phúc như là biểu tượng của một khu vườn địa đàng phương Đông.
Sự trở về tha thiết với thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bính cũng tạo nên một cặp song hành vườn - rừng, nơi chốn khởi đầu, nơi chốn trở về - và nơi chốn của thiên nhiên hoang dã, bí ẩn trên những bước đường lữ khách tha hương. Rừng mang vẻ đẹp hoang sơ, tươi tắn sắc màu mà quạnh vắng, hoang vu: “Đèo cao cho suối ngập ngừng/ Nắng thoai thoải nắng chiều lưng lửng chiều; Đồi sim dan díu nương chè/ Trắng phau khói núi, xanh lè áo ai?” (Đường rừng chiều); “Xanh cây xanh cỏ xanh đồi, Xanh rừng xanh núi da trời cũng xanh. Áo chàm cô Mán thanh thanh, Mắt xanh biêng biếc một mình tương tư” (Vài nét rừng). Những sắc màu của rừng đem lại nét trong trẻo, tươi mát và khỏe khoắn cho thơ Nguyễn Bính. Cùng với rừng, miền biên giới cũng là một nơi chốn để lại ấn tượng sâu đậm: “Chiều lại buồn rồi em vẫn xa,/ Lá rừng thu đổ, nắng sông tà./ Chênh vênh quán rượu mờ sương khói, Váng vất thôn sâu quạnh tiếng gà,…” (Một trời quan tái); “Ải xa không pháo giao thừa nổ,/ Mưa rét tơi bời, mưa rét thêm” (Tết biên thùy). Cảnh vùng biên giới như những nét vẽ của tranh thủy mặc cũng chính là sự trở về của Nguyễn Bính với thơ truyền thống, khi thi nhân thấm thía nỗi buồn thương cô độc ở chốn biên thùy, quan tái.
Nhưng nét hiện đại ở Nguyễn Bính là luôn cụ thể hóa nơi chốn và nhìn nơi chốn bằng con mắt của kẻ duy tình. Nơi chốn đẹp nhất là nơi chốn có người mình yêu, là ngôi nhà có mặt trời, có rừng có suối, có hoa tươi, có bao nhiêu chim lạ, bao nhiêu bướm, nhưng quan trọng nhất là có một người (Hà Nội ba mươi sáu phố phường). Nhân vật trữ tình của Nguyễn Bính dám “tuyên chiến” với cả kinh thành, khi thách thức: “Cả kinh thành có những ai/ Cả kinh thành có một người mắt nhung” (Mắt nhung). Đối với thi nhân, không có người yêu, không gian nơi chốn trở nên vô hồn, vô nghĩa. Không gian của kẻ thất tình là một trời nhớ thương, là nỗi cô đơn nguyên khối, cả vầng trăng cũng rụng về bên ấy, căn gác trọ chỉ còn nguyên gió thất tình (Một mình). Còn Phố huyện vắng em cũng trở thành tiêu điều, hoang vắng (Trường huyện). Thơ Nguyễn Bính mang đậm màu sắc lãng mạn, cái buồn rớt của thi nhân thời Thơ mới, cũng đề cao tình yêu và cái tôi cá nhân nhưng ở thơ Nguyễn Bính nỗi buồn, cô đơn của tình yêu không được hồi đáp nặng nề hơn, cũng coi trọng tình yêu tha thiết mãnh liệt của lứa thanh niên đầu thế kỷ đang bứt phá khỏi những lề lối cũ nhưng lụy tình, bi phẫn hơn. Thơ Nguyễn Bính là sự hòa trộn của phiêu lưu lãng mạn và hoài niệm. Ông coi tình yêu là lẽ sống, tôn thờ tình yêu và người yêu như tôn thờ sự sống, đẩy mọi xúc cảm tới cùng cực lại, mang đến cho thơ lãng mạn một sắc thái riêng từ chính cảm thức riêng về nơi chốn của ông.
3. Bản sắc nơi chốn và cái tôi cá nhân
Nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính thường tự nhận mình là kẻ vướng nợ giang hồ, một lữ khách lẻ loi trên những dặm dài lưu lạc. Hình ảnh đó gần gũi với hình tượng khách chinh phu trong thơ ca truyền thống, vừa mang ước vọng tự do được hành tẩu giang hồ, nhưng vừa là một hình tượng lý tưởng của văn học lãng mạn (chẳng hạn trong thơ Thâm Tâm, Vũ Hoàng Chương, hay trong các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn). Người lữ khách trong thơ Nguyễn Bính tự coi nợ giang hồ như là định mệnh cuộc đời: “Con gian díu nợ giang hồ” (Thư cho thầy mẹ)”, “Thân con trót vướng nợ giang hồ” (Bắt gặp mùa thu), “Đem thân đi với giang hồ” (Quê tôi).
Nhưng trong thơ Nguyễn Bính, vẻ ngang tàng, mạnh mẽ của khách giang hồ được thay bằng sự đơn độc, bơ vơ: “Một thân lữ thứ sầu phong toả/ Đốt ngọn đèn lên bóng rợn tường”, “Trọn đời làm một thân cô lữ/ Ở mọi đường xa ở mọi miền”. Cảm thức lưu lạc và nỗi hoài nhớ nơi chốn chi phối hồn thơ Nguyễn Bính khiến cho nhà thơ luôn cảm thấy cô độc trong mọi khoảnh khắc và mất mát ngay trong hiện tại. Bởi thế, Nguyễn Bính cảm nhận rất tinh tế cái hồn nơi chốn, thậm chí cả cái đã mất đi, cái lỡ làng dang dở của nơi chốn nên đang ở Ngự Viên mà người du khách lại nhớ Ngự Viên, một Ngự Viên trong quá khứ xa xưa đẹp đẽ. Không chỉ gọi tên đất và người một cách cụ thể, ý thức nơi chốn đã tạo cho thơ Nguyễn Bính cái hồn riêng của không gian địa lý, khiến người ta có thể cảm nhận nơi chốn ấy một cách rõ ràng, sắc nét. Nơi chốn trong thơ Nguyễn Bính cụ thể mà cũng trừu tượng, bởi mỗi nơi chốn ấy được nhìn bằng đôi mắt và cảm xúc của nhân vật trữ tình khốn khổ vì yêu. Đó là con sông Thương xa xôi cách trở: “Phủ Lạng có con sông Thương/ Muốn lên phủ Lạng nhưng đường xa xôi “(Xa xôi), “Sông Thương nước mấy lần xanh/ Xa xôi lắm lắm cho anh đón nàng”; đó là Thôn Đoài thôn Đông, những thôn làng phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ trở thành biểu tượng của hai nửa xa mà gần, gần mà xa do tâm lý chi phối. “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” (Tương tư), “Tôi ở thôn Đoài cô thôn Đông/ Biết còn gặp gỡ được nhau không?” (Nhặt nắng), đó là Huế trầm mặc và lặng lẽ khiến cho thi nhân thấm thía hơn cảm giác tha hương, hoài niệm: “Trời mưa ở Huế sao buồn thế/ Cứ kéo dài ra đến mấy ngày,/ Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói/ Trời mờ ngao ngán một loài mây” (Trời mưa ở Huế); đó cũng là Nam Kỳ đất khách xa lạ mà vẫn hòa cùng nỗi sầu với lòng người: “Nam Kỳ cũng gió cùng mưa/ Đêm đêm đắp đổi cũng vừa chăn bông/ Mình đi trăm núi ngàn sông/ Ngờ đâu mang cả lạnh lùng sang Nam” (Nam Kỳ cũng gió cùng mưa). Nguyễn Bính đã làm cho những địa danh, nơi chốn được hiện diện rõ ràng trong thơ, mang cái bản sắc riêng mà chỉ nơi chốn ấy mới có. Trước hết đó là bởi nơi chốn luôn gắn với cảm hứng của thơ lãng mạn (sầu nhớ, yêu đương), gắn với một người trong tâm tưởng (là em, nàng, cô hay chị). Nhưng điều quan trọng là sự cảm nhận tinh tế, sự đồng cảm sâu sắc để nhận ra cái bản sắc nơi chốn của nhưng không gian, địa điểm khác nhau. Cảm thức tinh tế, nhạy cảm của Nguyễn Bính nhận ra được ở nơi chốn những gì riêng nhất, màu sắc độc đáo nhất. Màu sắc trong cảnh vật nơi chốn ở Nguyễn Bính có sự hòa hợp tông màu: “Mùa xuân là cả một mùa xanh/ Xanh cây xanh cỏ xanh đồi, Xanh rừng xanh núi da trời cũng xanh/ Áo chàm cô Mán thanh thanh/ Mắt xanh biêng biếc một mình tương tư”. Cảm thức tinh nhạy và độc đáo của Nguyễn Bính đã khiến cho nơi chốn được hiển hiện rõ nét, chan chứa tình và gần gũi với tâm hồn người đọc.
Thơ Nguyễn Bính vừa in đậm hồn dân tộc (từ con người nhà quê, gắn bó với truyền thống, từ thể thơ, lời thơ) vừa là sự chuyển dẫn văn học lãng mạn với cảm hứng luôn đẩy mọi thứ tình cảm đến đau khổ tận cùng, yêu tha thiết, đắm đuối, lúc nào cũng thấy bị cô đơn, bỏ rơi, lúc nào cũng yêu đương nhung nhớ. Về với dân tộc nhưng thơ Nguyễn Bính không hề xa lạ với những đặc điểm của văn học lãng mạn. Kiến tạo nơi chốn bằng cảm quan độc đáo của nhà thơ, Nguyễn Bính đã tạo cho mình bản sắc riêng như là sự khẳng định cái tôi cá nhân trong thời đại Thơ mới.
Ghi chú:
[1] Nguyễn Đăng Điệp: “Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa”, ngày 28/7/2014. Nguồn: http://vannghequandoi.com.vn/
[2] Edward S. Casey: Getting Back into place (Second Edition), Indiana University Press, Bloomington - Indianapolis, 2009. 
[3] Trong tiểu luận “What is Sense of Place”, Jennifer E. Cross.
[4] Leonard Lutwack: The Role of Place in Literature, Syracuse University Press, 1984.
[5] Contemporary British poetry and the sense of place, Neal Alexander, Aberystwyth University.
[6] Hoàng Tố Mai chủ biên: Phê bình sinh thái là gì?. Nxb. Hội Nhà văn, H., 2017.
[7] Kevin Bowen: Vietnamese Poetry: A Sense of Place, Manoa, Vol. 7, No. 2, New Writing from Viet Nam (Winter, 1995), pp. 49-50, University of Hawai'i Press,
[8] Trong Ba đỉnh cao Thơ mới, Chu Văn Sơn cho rằng, Nguyễn Bính dường như thâu gồm tất cả vào mình thành một thứ là hồn quê. Xem thêm Chu Văn Sơn: Ba đỉnh cao Thơ mới (Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử). Nxb. Giáo dục, H., 2003.
[9] Chu Văn Sơn: Sđd.
Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống - Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học - Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.
Đỗ Hải Ninh
Theo https://trieuxuan.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Việt Nam danh tướng yếu mục

Việt Nam danh tướng yếu mục Tựa Thầm nghĩ: Ở về buổi phong trào mới mẻ nầy, mà lại là về phong trào sách vở thì những nhà ưu-thễ mẫn t...