Việt Nam danh tướng yếu mục
Tựa
Thầm nghĩ: Ở về buổi
phong trào mới mẻ nầy, mà lại là về phong trào sách vở thì những nhà ưu-thễ mẫn
thời, những nhà văn-sĩ trứ danh, ai cũng huơ ngọn bút ái-quốc để truyền bá
cái tư-tưởng cao xa, để diều dắc đồng bào lên con đường văn-minh tấn-bộ! Mừng
thay cho vận mạng nước nhà, song trái lại, buồn thay cho buổi hậu vận tương
lai. Vì sao lại mừng? Vì sao lại buồn? Xin giải: Mừng là vì hiện giờ ở xứ
ta nảy sanh chẳng biết bao nhiêu những sách vở và tiểu thuyết. Buồn là vì những
nhà văn-sĩ ở nước ta, hiếm vị viết sách vì nghĩa-vụ, vì tấm lòng ái-quốc, phần
đông là vì bã danh lợi. Than ôi! những vị ra viết sách hoặc viết tiểu-thuyết
là những nhà nhiệt-tâm ái-quốc, lấy bút làm gươm, lấy văn chương làm khí-giải
để nâng đỡ cái trình-độ của dân, trên đối với bốn ngàn năm tổ quốc, dưới đối với
hai mươi lăm triệu đồng bào! thế thì một nhà tác giả là một nhà có quan hệ
cho quốc-gia, có phần lớn lao cho xã-hội!
Thầm xét: Nước Việt-Nam
ta tuy là một nước chịu quyền bảo-hộ của nước Pháp, song le hồn nước vẫn còn tỉnh
táo, lẽ đâu cứ một giấc mộng hồn, không người đánh tỉnh? Song tức vì dân ta
trước kia rất nên lầm lộn, truyện sử nước mình không xem, chỉ xem những chuyện
Tàu, nào là Tam-quốc, Tây-du, chớ chẳng chịu học hỏi những truyện sử nhà mình,
có nhiều người cũng da vàng máu đỏ, cũng con Tiên cháu Rồng, mà thử hỏi họ :
nào ai là ông tổ sáng lập nước nhà, nào ai là bực anh hùng chí sĩ cạnh tranh
với Tàu; thì chỉ bơ ngơ báo ngáo, chẳng biết đâu mà trả lời; nghĩ có buồn
chăng? Những nhà độc-giả ở nước ta thì như thế, còn những nhà tác-giả thì thường
dùng những câu văn nhảm nhí, những giọng nỉ non phù trầm, để xiêu lòng những bạn
mày xanh, để đánh đổ tinh thần người phụ-nữ! Than ôi! Độc-giả cũng thế, mà
tác-giả cũng thế, biểu sao hồn nước chẳng lu mờ, đồng bào chẳng ám muội?
Hôm nay tôi chẳng quản sức
kém tài hèn, câu văn sơ siễn lượm lặt những câu văn rơi thừa và soạn những lịch-sử
của các đấng vĩ-nhơn anh-kiệt, chép thành quyển sách nhỏ nhen nầy, mong rằng đồng-bào
Việt-Nam nên biết lịch-sử của các bực anh hùng chí-sĩ nước Việt-Nam, cho khỏi
mang câu «Mồ cha chả khóc, khóc đống mối, mồ mẹ chả khóc, khóc bối
bòng bong».
Nay kính,
Năm Mậu-Thình, ngày giáp
tuất
Soạn-giả cẩn chí
I. Tên các nhà vua, từ đời
Đức Gia-Long đến Đức Bảo-Đại
Đức Gia-Long quí danh là
Nguyễn-Ánh, vẫn là con của ông Chưởng-Vũ ; lúc nhỏ ngài phải chịu nhiều
cảnh ngặt nghèo, chẳng biết mấy trận vào sanh ra tử với quân Tây-sơn, sau nhờ
Đức cha d’Adran xin binh Langsa cứu viện. Nhờ vậy mới trừ khử đặng bọn Tây-sơn
và bình-phục nước Cao-mên. Đến năm 1802, ngài mới tức vị xưng vương, cai trị nước
Annam, đến năm 1820 thì băng-hà, tính ra ngài giữ ngôi cửu-ngũ trọn 18 năm.
Năm 1820 là năm
Canh-thìn, đức Minh-Mạng quí danh Nguyễn-Phước-Đảm là con Đức Gia-Long, tức-vị
làm vua hai mươi mốt năm.
Năm 1841 là năm Tân-sửu,
đức Thiệu-Trị quí danh Nguyễn-Phước-Thì là con Đức Minh-Mạng, tức-vị làm vua bảy
năm.
Năm 1848 là năm Mậu-thân,
đức Tự-Đức quí danh Nguyễn-Hồng-Nhậm con ông Thiệu-Trị, tức-vị làm vua đặng ba
mươi sáu năm.
Đến năm 1883, ông Hiệp-Hòa
tức-vị đặng năm tháng, cũng trong năm ấy, ông Kiến-Phúc tức-vị đặng tám tháng.
Năm 1884, ông Hàm-Nghi tức-vị
thế cho ông Kiến-Phúc, giữ ngôi đặng một năm, đoạn phải bã-thiên.
(Trong ba đời vua :
ông Hiệp-Hòa, Kiến-Phúc, Hàm-Nghi, trong nước nảy sanh những bọn gian thần, lại
có nhiều điều loạn lạc !)
Năm 1885 là năm Ất-Dậu, Đức
Đồng-Khánh tức-vị làm vua đặng năm năm.
Năm 1889, Đức Thành-Thái
tức-vị, giữ ngôi đặng 18 năm.
Năm 1907, Đức Duy-Tân là
con vua Thành-Thái tức-vị giữ ngôi đặng 9 năm.
Năm 1916, đức S. M.
Khải-Định là con vua Đồng-Khánh tức-vị, giữ ngôi đặng mười năm.
Năm 1926, Đức Bảo-Đại là
con vua Khải-Định lên ngôi.
Tính ra thì từ đời đức
Gia-Long đến đời đức Bảo-Đại, 12 đời vua, đặng 126 năm.
(Hiện giờ, đức Bảo-Đại
(Vĩnh-Thụy) còn đang du học bên Pháp, việc triều-chánh thì phó-thác cho cụ
Tôn-Thất-Hân ; đức Hàm-Nghi hiện giờ ở tỉnh Alger thuộc xứ Algérie; đức
Thành-Thái và đức Duy-Tân thì ở đảo Réunion. Ba vua rày vui thú với cỏ cây,
đành an phận nơi xứ người, chớ hết trông chi về đến quê hương !!! Thảm
thay!!!)
II. Câu chuyện cấm đạo
Từ ngày giặc Tây-sơn nổi
lên, diệt chúa Trịnh, phá tan nhà Lê, chỉ còn có ông Nguyễn-Ánh (cháu chúa
Nguyễn) là tay đối thủ với quân Tây-sơn; song cũng mấy phen thất bại. Sau
ngài gặp đức cha d’Adran tại cù-lao Phú-Quốc, ngài mới tỏ những câu chuyện
thương-tâm và cậy đức cha xin binh Langsa cứu viện: «Cũng bởi trời
khiến cho nước Việt-Nam ta ngày giờ nầy phải chịu quyền bảo-hộ của người Pháp,
nên trời mới khiến cho đức Gia-Long gặp đức cha d’Adran, nếu không thì làm sao
Nguyễn-Ánh dẹp đặng bọn Tây-sơn ! Mà Nam-kỳ rày có phải là xứ thuộc-địa ;
Trung-kỳ và Bắc-kỳ có phải là xứ Bảo-hộ !!! »
Nhắc lại: đức cha
d’Adran mấy phen về quí quốc xin binh Langsa qua giúp sức Gia-Long. Đến khi dẹp
đặng bọn Tây-sơn, Nguyễn-Ánh lên ngôi cửu-ngũ, cai-trị cả nước Annam; cũng
vì thọ ơn nước Pháp, nên phải cho mấy ông Giáo Sĩ sang nước Việt-Nam giảng đạo
và người Pháp đặng phép mở mang việc thông thương ở nước ta. Đến khi đức
Gia-Long băng-hà, truyền ngôi cho vua Thánh-Tổ, hiệu Minh-Mạng ; đến đời Minh-Mạng
thì trái hẳn với đời Gia-Long. Chính vì đức Minh-Mạng chẳng ưa mấy thầy
giảng-đạo và chẳng muốn cho người Pháp thông thương ở nước ta, nên ngài truyền
cấm mấy người giáo-sĩ chẳng phép giảng-đạo và ngài chẳng giao thiệp với các
nước ngoại-bang. Mãi đến đời Thiệu-Trị, Tự-Đức cũng thế, cũng giết mấy người đạo
Thiên-Chúa, cũng chẳng giao thiệp với các nước ngoại-bang. Vì thế, mới sanh ra
một mối ác cảm với người Pháp và người I-pha-nho. Cũng bởi mối ác cảm nầy,
binh Langsa mới kéo qua đánh lấy nước Việt-Nam, chia ra xứ Nam-kỳ là thuộc địa,
Trung-kỳ, Bắc-kỳ là bảo-hộ !!! [1]
Lời phê bình. – Những
sự của đức Minh-Mạng, Thiệu-Trị, Tự-Đức làm theo thế cũng cho là phải ; song chớ
chi đức tiên-hoàng (Gia-Long) chẳng muốn làm vua một cõi trời nam thì đâu có những
ông giảng-đạo lưu linh xứ ta ; ông Phan-Thanh-Giảng đâu có uống thuốc độc,
thành Hà-nội đâu có mất, sáu tỉnh trong Nam-kỳ đâu có về tay người ? Ấy cũng
bởi mình gây hoạ trước ! Mà cũng may gặp nước Pháp là nước nhân-từ, bằng không
nước Việt-Nam sẽ tan-tành, giòng Hồng-Bàng phải tuyệt !!! Mà ngôi vua cũng mất,
có đâu cụ Tôn-Thất-Hân quyền Nhiếp Chánh, đức Bảo-Đại du học bên Pháp !!!
[1] Những câu chuyện trên
kia đều là sơ lược, quí ngài muốn rõ thì hãy xem « Nam Việt sử-ký ».
III. Hai chị em bà Trưng
Hiện nay, ở làng Hát-môn,
huyện Phúc-thọ, thuộc về tỉnh Sơn-tây ; ta trông thấy có đền thờ hai chị em bà
Trưng ; mỗi năm, hễ đến ngày mồng sáu tháng hai, thì nhơn dân đam hương đăng
trà hỏa và nhan đèn đến miễu hai bà mà vái lạy ; trong đền khói nhang và mùi
trầm làm cho ta tưởng tượng đến hai vị nữ anh thư Nam-Việt ; vì thù chồng, vì nợ
nước, chẳng quản phận quần hồng, cầm thương lên ngựa, lập quốc, xưng vương, tiếng
thơm muôn thở.
Hai chị em bà Trưng là
Trưng-Trắc, Trưng-Nhị ; vẫn là con gái của quan Lạc-tướng ở huyện Mê-Linh
(rày thuộc về phủ Yên-Lãng, tỉnh Phúc-yên). Khi bà Trưng-Trắc lớn lên thì gả
cho Thi-Sách người huyện Chu-diên ; lúc bây giờ Thi Sách đang làm ký-lục cho
Tô-Định ; mà Tô-Định là người Tàu, lại là quan Thái-thú quận Giao-chỉ. Vả,
Tô-Định là đứa tham tàn, tánh-khí bạo ngược, chính trị bất công, nên lòng người
bất phục ; qua năm sau, vì một chuyện bất bình, anh ta đam giết Thi-Sách là chồng
bà Trưng-Trắc. Bấy giờ, bà Trưng-Trắc, một : thù chồng, hai : nợ nước, hiệp
cùng bọn thủ hạ, bà Trưng-Nhị là em bà Trưng-Trắc cũng hiệp sức cùng bà ; hai
chị em mộ binh đánh đuổi Tô-Định và quân Tàu ở quận Giao-chỉ. Hai bà mộ binh chẳng
bao lâu, mà những người ở quận Cửu-Chân, quận Hợp-Phố và quận Nhật-Nam đều
theo hai bà nữ-tướng. Chẳng bao lâu, quân hai bà tràng khắp mọi nơi, chiếm được
các thành trì ; đánh 1 trận quân Tàu táng đởm kinh tâm, hai bà bèn tự xưng làm
vua, đóng đô tại đất Mê-Linh (là nơi hai bà sanh đẻ).
Hai bà làm vua được hơn
hai năm, lúc nầy, bên Tàu, vua nhà Đông-Hán sai tướng là Mã-Viện sang đánh.
Quân Mã-Viện và quân hai chị em bà Trưng đánh nhau rất dữ dội ở gần Hồ-Tây. Và
quân của Mã-Viện là quân đánh giặc đã thuần, còn quân của hai bà là quân mới nổi,
chưa quen luyện tập ; cho nên đánh trận ấy quân của hai bà phải thất bại ; hai
bà chạy lên vùng Sơn-Tây bây giờ, bị quân Tàu đánh đuổi ngặt quá ; trước là
sông Hát-giang, sau thì quân Tàu theo đuổi, hai bà tin khó nổi chống với quân
Tàu liền nhảy xuống sông mà tự tử. Từ đây, nước ta lại phải nô-lệ cho người Tàu
nữa.
Lời phê bình. – Hai
chị em bà Trưng tuy chết mà danh thơm chẳng chết, tiếng tốt để muôn đời. Người
phụ nữ mà chí khí dường ấy, làm nên nghiệp lớn như thế, chẳng đáng cho ta kính
phục sao ?
Lấy công-nghiệp của hai
chị em bà Trưng Nữ Vương thì công ấy rất dài, danh đáng nếu vào sử, mà gương
cũng đáng để ta trông vào ; thật từ xưa đến nay, nước Việt-Nam ta chỉ có hai
bà : Trưng-Trắc, Trưng-Nhị, đàn bà mà dám lập quốc, xưng vương, bồi bổ nền tổ
quốc, lên ngựa cầm thương, đốc quân phá giặc ; làm cho quân Tàu nhà Đông-Hán
lúc ấy phải kinh tâm táng đởm, phải vỡ mật hồn kinh, hết dám khi nước Việt-nam
ta là không người đối thủ.
IV. Quan Tả-Quân
Lê-văn-Duyệt
Mỗi khi ta đi Bà Chiểu,
vừa đến lối quẹo, trước tòa bố Gia-định, thì ta trông thấy một đền thờ rất
nguy nga, dưới mấy bóng diệp um tùm xanh mịch ; tuy là bia cũ nền xưa, gạch
ngói bay mầu, song mùi nhang khói vẫn còn hiển hích. Ấy là miễu thờ quan tả-quân
Lê-văn-Duyệt, trước miễu vẫn là mộ của ngài ; hằng năm hằng cúng tế ; hằng bữa
hằng khói nhan, dân sự kỉnh thờ, quan quân sùng bái. Lại có nhiều khi, người
mình có ức hiếp điều chi, thì thường thách nhau vô lăng ông thề ; ấy là lăng của
quan Tả-Quân vậy ; bởi lúc ngài sống là một vị trung quân ái-quốc, đến chết thì
hiển thánh thành thần ; vậy ta cũng nên biết những công nghiệp của ngài làm
trong lúc ngài còn sanh tiền.
Lê-tiên-sanh vẫn là con
trưởng nam của ông Lê-văn-Thoại, sanh năm 1760 ; người tỉnh Quảng-Ngãi,
huyện Chương-Đài ; sau vì trong nước loạn lạc, chúa Trịnh chúa Nguyễn tranh
phuông, gia quyến tiên-sanh mới dời nhà về ở gần Rạch-Gầm, nay là làng
Long-Hưng. Lúc ấu thơ, cha mẹ cho đi học, tiên-sanh cũng vưng lời, song cứ một
đều luốc lác, trốn học luôn luôn ; chẳng phải tiên-sanh làm biếng mà trốn học,
song vì tánh người chẳng ưa về phe học giới, ý lại thích những việc cung tên,
nên chi cả ngày cứ theo lũ chăn trâu, lúc tập binh, lúc tập võ ; có khi thì
đánh bẫy chim, có lúc lại bắt cá dưới hào. Láng giềng, ai trông thấy tiên-sanh
như thế, đều cho là một đứa trẻ hoang, chớ có ai dè đâu tiên-sanh sẽ là một
tôi lương đống của nhà Nguyễn, lại là một danh tướng của Nam-trào ; ấy cũng
bởi phước tinh tiên-sanh chưa lộ, nên tiên-sanh mới phải mai một anh hùng.
Trong năm 1782, đức Nguyễn-Ánh
bại binh, quân Tây-Sơn theo đuổi, bởi quân Tây-Sơn biết ngài là tử vị nhà
Nguyễn, nếu để ngài thì e cho ngài khôi phục cơ đồ, nên chúng nó hết sức
truy tầm, quyết trảm thảo trừ căn, mà cũng may nhờ chư thần ủng hộ, nên
ngài mới thoát khỏi bọn Tây-Sơn. Hôm kia, Nguyễn-Ánh chạy giặc, lọt vào nhà
ông Lê-văn-Thoại, nhằm lúc Lê-Công đang chơi với bọn chăn trâu ngoài đồng. Khi
Nguyễn-Ánh vào nhà, ông bà Lê-văn-Thoại tiếp rước cũng tử tế, cơm nước lo dọn
ra đãi khách ; cơm nước xong rồi, đức Nguyễn-Ánh qua bộ ngựa giữa ngồi trò
chuyện với chủ nhà. Thừa lúc Lê-văn Duyệt về, dòm nhà thấy có khách, bèn tháo
lui ra cửa sau mà vô. (Trong sử có nói : bộ ngựa giữa là của Lê-Công sấm ra,
nếu khách nào lạ vào ngồi thì ông chẳng dung tha, mà đến khi thấy đức Gia-Long
ngồi, tiên-sanh lại chịu, ấy cũng kỳ !). Tắm rửa xong rồi tiên-sanh mới chịu
ra chào khách. Đức Nguyễn-Ánh nhắm xem diện mạo, thì biết tiên-sanh chẳng phải
người thường ; ngài hỏi thăm tiên-sanh, tiên-sanh cũng vui vẻ trả lời, ban đầu
còn hỏi việc nọ việc kia, lần lần hỏi qua binh thơ đồ trận, nhứt nhứt tiên-sanh
trả lời xuôi rót. Đức Nguyễn-Ánh lấy làm vui đẹp, bèn xin với ông Lê-văn-Thoại
cho tiên-sanh theo ngài. Tới đây, ngài mới cho gia quyến ông Lê-văn-Thoại biết
ngài là ai và công cuộc ngài tính làm vậy vậy. Ông Lê-văn-Thoại nghe nói rất
đỗi vui mừng, mà tiên-sanh cũng lấy làm đẹp dạ.
Từ đây chúa thánh gặp tôi
hiền, Lê-tiên-sanh dự vào lo chung cho cuộc phục hưng cơ đồ nhà Nguyễn. Vả,
tiên-sanh là người trí dõng lại có tánh hay tự quyết và có chí nhứt định, đức
Nguyễn-Ánh hết sức yêu chuộng tiên-sanh vì võ lược tiên-sanh vận trù dường có
thần linh giúp vậy. Lắm lúc Nguyễn-Ánh và tiên-sanh ngồi dưới bóng cây mà
tính toán việc nước, coi rất tâm đầu ý hiệp. Từ ngày tiên-sanh theo giúp đức
Nguyễn-Ánh để lo khôi phục giang san nhà Nguyễn : khi đánh bắc, lúc dẹp Nam,
oai võ tiên-sanh đến đâu thế như chẻ tre, làm cho phe nghịch hễ nghe tên
tiên-sanh thì giựt mình ; lại cũng nhờ trận Thị-Nại [1] mà oai sấm tiên-sanh lừng
lẫy vang trời. Nếu lấy bảng các đứng công-thần, thì công tiên-sanh thứ nhứt.
Sau khi trừ được giặc Tây-Sơn thì xứ Nam-kỳ lúc ấy rất là khốn đốn ; vì những
phe Tây-Sơn cũng tùng phong tiếp dẫn mà nổi lên, đức Gia-Long lại sai Lê
tiên-sanh vào tổng trấn xứ Nam-kỳ mà trừ loạn, vì oai được và tài năng của
tiên-sanh, nên chẳng bao lâu tiên-sanh đã dẹp an cả bọn chôm ong ủ kiến ấy.
Tiên-sanh sắp đặt việc cai trị xứ Nam-kỳ rất nên kỹ lưỡng, một mực công bình
; có công thì thưởng có tội thì răng, nên chi những quân cướp đảng, nghe danh
tiên-sanh thì tan rã, thế chẳng khác gió đè cỏ yếu, nắng rã sương mai.
Đến ngày mồng một tháng
tám, năm Nhâm-thình (1853), tiên-sanh lâm trọng bịnh mà bỏ mình, hưởng dương đặng
70 tuổi. Khi tiên-sanh mất là nhầm trào đức Minh-Mạng ; vả, đức Minh-Mạng có một
cái ác cảm với tiên-sanh, nên khi tiên-sanh qui-vị thì đức Minh-mạng hài tội
tiên-sanh ra (không cho tước phẩm gì cả) :
1. Tội
tư hình xử-giáo : song khó mà xử-giáo một người đã thác rồi, nên đức Minh-Mạng
truyền trồng trước mộ ngài một cây trụ lớn, khắc hàng chữ nầy : « Quyền
yêm Lê-văn-Duyệt, phục pháp xứ » (Đây là chỗ tên thái-giám quyền-thế
Lê-văn-Duyệt chịu hình phạt).
2. Tẩy
núm mộ tiên-sanh bằng mặt đất, phải đánh trên mộ 100 trượng và xiềng lại.
3. Tru
di tam tộc (giết ba họ : bà con bên cha, bà con bên mẹ, bà con bên vợ !).
Vì sao mà tiên-sanh có ác
cảm với đức Minh-Mạng ? Số là lúc Gia-Long gần băng-hà, ngài định lập đức
hoàng Đãm (con 1 bà thứ phi, tức là đức Minh-Mạng), nhóm cả trào thần đặng chọn
Đông cung kế vị. Các đại thần chẳng thuận tuyển lập đức hoàng Đãm là : Quan
tả-quân Lê-văn-Duyệt, Trung-Quân Nguyễn-văn-Thành và Lê-văn-Chất. Ba ông đại
thần nầy khuyên vua nên lập đức hoàng Mỹ-Dân là con đức đông cung Cảnh ; lại
nhắc công lúc đông cung Cảnh còn niên thiếu, trải chịu muôn cay ngàn đắng, lắm
nỗi hiểm nguy, sang Pháp quốc cầu binh cứu viện trong cơn vận mạng nhà Nguyễn
gặp lúc chẳng may, khi về nước phải tùng chinh cực nhọc v.v… và buộc vua phải
tuân luật « Phụ truyền tử kế ». Cũng vì câu chuyện lập
đông cung nầy, mà đức Minh-mạng sanh ra mối ác cảm cùng Lê-Công, song vì
Lê-Công là người trung can nghĩa khí, quyền thế rất to, nên lúc tiên-sanh còn
sanh tiền, đức vua chẳng dám động đến, để khi qui-vị, lại dùng quyền thế mà
hành phạt mộ ngài. Ác độc thay !
Lời phê bình. – Lúc
tiên-sanh còn thơ ấu, ai cũng cho tiên-sanh là một trẻ hoang ? Mà
thật, nếu trời chẳng xuôi cho chúa thánh gặp tôi hiền, thì chắc
tiên-sanh phải an vui nơi rẫy bái, mai một anh hùng, chớ có đâu cầm
binh đánh giặc, gióng trống thúc binh ? Bởi cơ trời đà khiến
vậy, có lẽ cũng còn nhiều vị trung quân ái-quấc, trí dõng song
toàn, song vì phước tinh chẳng lộ, nên phải ẩn mặt nơi non cao núi
thẫm, thời đại nào cũng có anh hùng ẩn mặt, tiếc thay !
Đây lại nói qua chuyện
tiên-sanh bị hình phạt, cũng vì tánh cang-nghị của Tả-quân, càng
ngày càng nhúm vào lòng đức Minh-Mạng một ngọn lửa lưu thù báo
oán ; mà khiếp nhược thay, lúc tiên-sanh còn sanh tiền thì đức vua
chẳng dám động đến, để người chết lại hài tội ra !!! Vả,
tiên-sanh là người khẳng khái, mấy phen đức Minh-Mạng hạ chỉ cấm
đạo, ngài cãi thánh chỉ, cứ dung dưỡng cho người đạo và người Pháp.
Lại một hôm, tiên-sanh đang coi đá gà, có thánh chỉ đến, tiên-sanh xem
rồi xé thánh chỉ tan nát và nói : « Cơm người ăn còn
dính kẻ răng ». Sau hỏi ra mới hay thánh chỉ cấm đạo. Bởi
cái cớ trên kia nên khi tiên-sanh qui-vị, đức Minh-Mạng mới hành phạt
v.v… Việc làm của đức Minh-Mạng thật là lếu, ngài há chẳng biết
đức Gia-Long phục quốc đấy là nhờ binh Langsa cứu viện sao ? Trước khi
muốn cấm đạo và muốn cho người Pháp đừng sang đây thì ngài nên hỏi
đức Cao-Hoàng Gia-Long ? Chớ nhè oán thù quan Tả-quân rồi tru di tam
tộc người thì chẳng là ác độc lắm ru ??? Ngài chẳng dòm thử ngày
nay ngài an hưởng thái bình trên ngôi cửu-ngũ là nhờ ai ? Có phải
nhờ công trấn quan Tả-quân đánh Nam dẹp Bắc chăng ? Lấy công ấy mà
trị tội ấy ! thật là hay ?
[1] Nơi đây toàn là
tóm tắt.
V. Giặc Ngụy Khôi (tục
kêu là Mả-Ngụy)
Có nhiều người tuổi
tác, mỗi khi giận con cháu thường hay mắng rằng : « Đồ
Mả-ngụy đầu thai ! ». Tuy mắng con cháu vậy, chớ chẳng hiểu
Mả-ngụy là gì ? Chẳng hiểu Mả-ngụy nảy sanh ở đời vua nào và chẳng
biết gặc Ngụy là giặc nhơn nghĩa hay là giặc bất lương ! Nghĩ cũng buồn !
Hiện giờ, khi ta đi ngang
qua làng Chí Hòa, miệt trường đua, thì ta sẽ thấy một khoảnh đất trống, ta
dòm hồi lâu thì sẽ tưởng tượng dường như oan hồn của kẻ thác oan, đang có ân
oán nuốt hờn, chờ khi trăng thanh gió mát, vất vả hồn ma, theo ngọn gió mà than
điều oan khúc ! Thảm thay ! người lớn, con nít, kẻ già, đàn-bà chữa, đều chôn
thây nơi đấy ! Sự đau đớn ấy có thấu trời xanh, điều oan khúc biết bao cho tỏ
rõ ; vậy mà có nhiều kẻ cho giặc ngụy là giặc bất lương, nghĩ cũng đau đớn !
Sự tích giặc ngụy như vầy :
Giặc Ngụy nổi lên do
Lê-văn-Khôi (nên người ta mới kêu là giặc Ngụy-Khôi). Lê-văn-Khôi vẫn là tôi
yêu của Lê-tả-Quân. Tả-Quân phong cho Khôi làm chức Chánh-vệ-huý. Người phái
Lê-văn-Khôi cùng với Đồ-Hoanh là Tổng-Trấn khai phá rừng Tây-Ninh và Quảng-Hòa,
để lấy cây về cất dinh trại cho binh lính và các quan trong thành và đóng thêm
chiến thuyền ngăn-ngừa quân Xiêm-La xâm lấn. Nên chi, khi quan Tả-quân qui-vị,
quan bố-chánh Bạch-xuân-Nguyên lấy hai điều nầy mà buộc tội người về vụ đốn phá
cây rừng và khoản tiền chi phí. Bạch-xuân-Nguyên buộc tội quan Tả-quân hà
lạm. Trong cơn tra xét, Bạch-xuân-Nguyên tỏ dấu bất bình kỉnh quan Tả-quân
và cứ kêu trỏng là « Lê-văn-Duyệt ». Vả, Lê-văn Khôi đã có ác cảm với
triều đình, bởi bất bình vì chủ đã thác mà phải mang nhơ, nên một điều cứ đối nại
với Bạch-xuân-Nguyên và bào chữa cho quan Tả-quân một cách rất khẳng-khái. Khốn
nạn cho trào thần buổi ấy ? Chỉ lấy quyền chuyên chế mà áp bức người ! Bạch-xuân-Nguyên
chẳng lấy lẽ phải quấy, truyền hạ ngục cả thảy bọn Lê-văn-Khôi. Trong ngục thất,
Lê-văn-Khôi nghĩ chừng nào càng giận chừng nấy, nên bọn Khôi lại nhập lõa với
hai mươi tám tên tù phạm, toan bề dấy loạn. Trong đêm 18 tháng năm hiệu Minh-Mạng
thứ 14, bọn ấy dấy loạn, tận sát quân giữ ngục, giết Bạch-xuân-Nguyên (đáng đời
quân thú) để tế quan Tả-quân Lê-Công (nghĩa khí thay cho giặc Ngụy). Giết đặng
Bạch-xuân-Nguyên và cha con Nguyễn-ngọc-Quế rồi, bọn ấy lấy thành và treo cờ khởi
nghĩa, qui tụ binh lương, phòng khi đương cự với Trào. Khi đức Minh-Mạng hay
tin bọn Lê-văn-Khôi khởi loạn, liền hạ chiếu chỉ sai một đạo binh bộ và một đạo
binh thuỷ vào đánh. Lê-văn-Khôi hay tin thì rút binh vào cứ thủ thành Saigon.
Binh trào vây thành ; binh ngụy nhờ có lương thảo (lương thảo nầy của Tả-quân
tích trữ sẵn phòng ngừa giặc Xiêm-La. Xem biết lòng ái quốc trung quân của
quan Tả-quân là dường nào !) nên cầm cự với binh trào trót ba năm. Mãn 3 năm,
quân trào công phá rất dữ dội, binh ngụy hết lương nên thành bị hạ. Vì binh
Ngụy bị vây đã ba năm, phần đói khát cực khổ, nên ai nấy cũng hình gầy vóc ốm
; song tuy vậy chớ chạy cũng chẳng khỏi án tử hình. Đức Minh-Mạng lúc ấy xuống
lịnh đồ sát cả thảy, chẳng chừa một đứa con đỏ. Giết sạch thành Saigon rồi truyền
đam giập cả thây đó vào chôn chung một huyệt tại làng Chí-Hòa bây giờ, tục kêu
là « Mả-Ngụy ». Chỉ có Lê-văn-Khôi đã thát trước ngày thành bị lấy.
Lời phê bình. – Giã
sử Minh-Mạng đừng bạc đãi các tôi công-thần, đừng làm nhục cho quan Tả-quân
thì đâu có giặc Ngụy-Khôi ? Bởi có giặc Ngụy, nên sau nầy người Pháp mới lấy
thành Saigon dễ như trở tay. Phải chi nhà vua lúc ấy đừng thi hành những cách
bạo ngược, đừng lấy luật tàn nhẫn mà ở với dân, thì sau nầy đâu có những bọn
người làm quân dắt đường cho nước Pháp ?
VI. Hậu quân Võ-Tánh
Quan Hậu quân Võ-Tánh
người tỉnh Biên-Hòa, tánh tình khí khái, trí dõng song toàn, giúp vua
Gia-Long dựng cơ nghiệp nhà Nguyễn ; thật cũng là một danh tướng của Nam-trào.
Khi vua Gia-Long thâu phục
đặng thành Qui-Nhơn liền cải tên lại là thành Bình-Định, giao cho ngài làm
chánh tướng trấn thủ thành ấy. Ngô-tùng-Châu làm phó trấn. Vua cùng các quan trở
về Gia-Định.
Đây nhắc lại, Tây-Sơn là
Nguyễn-Huệ đã thác, truyền ngôi cho con là Nguyễn-quang-Toản. Và bọn Tây-Sơn
thường nghe danh ông Võ-Tánh trí dõng vô song nên cùng tâu với
Nguyễn-quang-Toản để đam binh ra vây thành Bình-Định. Vì bọn nó nghĩ rằng : Nếu
hạ đặng Võ-Tánh thì có sợ chi binh tướng nhà vua. Bởi thế bọn Tây-Sơn đam cả
binh bộ, binh thủy, thống kê là một muôn tám ngàn người và ba chiếc Định-quốc đại-chiến
thuyền, đi đường thủy tới Vũng-Trích, thuộc về địa phận Quảng-Ngãi, lại có một
bọn khác đi đường bộ kéo thẳng vào vây thành Bình-Định, ngày đêm canh gác
nghiêm nhặt. Vua Gia-Long hay tin thành Bình-Định bị vây thì sai binh tướng ra
tiếp giúp, song cũng phá chẳng đặng trùng vây, vua bèn hỏi quan Tả-quân
(Lê-văn-Duyệt) coi định liệu lẽ nào ; quan tả-quân tâu : « Thừa dịp nầy
bọn Tây-Sơn về vây thành Bình-Định thì Phú-Xuân kinh ắt hơ-hổng, hiện giờ nên
đam binh lấy Phú-Xuân kinh rồi sẽ giải vây cho thành Bình-định ». Các
quan đều tâu theo lời quan tả-quân. Vua nghe tâu dùng dằng chưa nhứt định,
chợt đâu có tờ biểu chương của quan Hậu-quân gởi về đại khái như vầy :
« Binh Tây-Sơn bao nhiêu đều nhóm nơi đây vây tôi, Phú-Xuân kinh chắc là
mỏng binh và trống thế, gặp cơ hội may mắn như vầy, xin chúa thượng nên dẹp cuộc
giải vây thành Bình-định, lo ra đánh Phú-Xuân kinh, thâu đặng Phú-Xuân kinh, đổi
1 mạng thôi cũng đủ. Xin chúa thượng nhậm lời, tấn binh kiếp kiếp ».
Vua xem lời biểu chương ấy,
nước mắt rơi xuống dầm dề, mặt rồng ủ dột, than thở một chập lâu, vua dạy ông
trung quân Thành, hiệp với các tướng, điều bá các đạo binh bộ, trấn thủ từ cửa
Giã lên tới chợ Phú-trung, đặng mà tương trừ với lũ giặc. Vua lại phong cho
quan tả-quân Lê-văn-Duyệt làm chức chánh tướng, ông Lê-Chấc làm phó tướng, hiệp
với các tướng sĩ đam thủy binh ra lấy Phú-Xuân, vừa trú ẩn tại Phú xuân, liền
sai ông Duyệt và Chấc đam binh vào giải vây Bình-Định. Cũng bởi đánh phá các đồn
bão phía bên giặc cho trống đường đi mới được nên chi hai ông vừa kéo binh đi tới
sông Trà khúc thì quan Hậu-quân đã lên giàn hỏa thiêu mình.
Số là thành Bình-Định bị
vây ba năm, trong thành hết lương, ăn đến thịt voi thịt ngựa đỡ đói, ngài thấy
tướng sĩ ta nhà thế sĩ, thì trong dạ chẳng đành, ngài quyết liều mình để cứu
tam quân tướng sĩ. Ngài dạy đem thuốc súng để dưới lầu bát giác, chất củi
khô lên trên, ngài đội áo mão chỉnh tề ngồi trên lầu, quyết thiêu mình để cứu
muôn binh. Các tướng sĩ thấy vậy rống khóc nghe rất bi ai cảm động ; lập
tức ngài sai quan Lưu-thủ Nguyễn-văn-Thanh ra thành trao cho quân Tây-Sơn bức
thơ đại khái ngài xin gởi quan quân trong thành đừng gia hại ; song rồi ngài
quăng điếu thuốc của ngài đang hút, thuốc súng cháy rần rần ! Than ôi ! một ngọn
lửa hồng đành thiêu hủy thân người nghĩa khí. Ngô-tùng-Châu và Nguyễn-văn-Biện
cũng nhào vào đám lửa mà tự tử. Thương thay !
Lời phê bình. – Trung
cang nghĩa khí như quan Hậu quân xưa nay thật là ít có, quyết kê vai gánh vác
nước non nhà. Song phần trời khiến ba năm bị vây trong thành Bình-Định, đến khi
hết phương vùng vẫy, vô kế khả thi, mới chịu lên giàn hỏa thiêu mình để báo đáp
ơn vua, đền tròn nợ nước, cứu tướng vớt binh. Thật chí khí thay !
VII. Nguyễn-huỳnh-Đức
Mỗi năm, đến ngày mồng
chín tháng chín là ngày trùng cửu, thì ta trông thấy nhơn dân ở làng Tường-Khánh
tổng Hưng-Long thuộc về tỉnh Tanan, đam hương đăng trà quả đến miễu quan Tiền-quân
mà vái lạy, mình còn niên thiếu chưa biết miễu quan Tiền-quân là miễu ai, sau
hỏi ra mới hay là miễu quan Tiền-quân Nguyễn-huỳnh-Đức. Bởi khi quan Tiền-quân
qui-vị thì an táng ngài tại làng Tường-Khánh ; lâu lâu ngài anh linh bảo-hộ
trong xóm làng, nên nơi đó ai ai cũng sùng bái ngài, đến ngày tế ngài thì những
viên quan hương chức trong làng đều tới đủ mặt, hết lòng kỉnh phục. Ấy cũng
là một gương tốt.
Truy nguyên ngài tên là
Huỳnh-Đức, vua cho thêm họ Nguyễn nên gọi là Nguyễn-huỳnh-Đức. Ngài quê ở Trấn-Định,
tánh nết khí khái, cử chỉ ôn-hòa, lúc giặc Tây-Sơn nổi lên, ngài theo phò đức
Gia-Long, gian nan khổ cực kể không xiết. Đức Gia-Long thấy ngài có tài đánh giặc,
lại trí dõng mưu mô, thì hết lòng yêu chuộng, phong cho ngài đến chức Khâm-sai
bình-tây đại-tướng-quân. Có một ngày kia, vua bị giặc Tây-Sơn theo đuổi rất gấp,
ngựa vua chạy sa xuống bưng, bùn lút tới bụng ngựa, lúc ấy có quan Tiền-quân
Nguyễn-huỳnh-Đức theo bảo giá, ngài lập tức chạy vô xóm, kiếm cây ván làm thế
thân nhảy xuống cõng vua lên, rồi lại xuống đam con ngựa lên, ngựa mệt chạy
không nổi, ngài tay nắm đầu ngựa chạy trước, cho nó nương sức chạy theo. Lại có
một khi giặc Tây-Sơn theo vua, đức vua hoảng hốt, dạy sáu tên quân chèo, chèo
chiếc ghe củi lén đi vô trong rạch nhỏ mà tị nạn, đương nửa đêm đi tới lối
kinh Bà-Bèo, trời mưa nhỏ lai rai, mòng muỗi vô số, vua mệt lắm ngủ không đặng,
vua bèn gối đầu lên vế ngài, nằm nghỉ đỡ cho khỏe ; ngài cứ lo đuổi muỗi, chẳng
cho cắn đến vua, ngài bổn thân chịu cho muỗi cắn. Khi vua tỉnh giấc, mới hay
ngài chịu muỗi cắn suốt đêm đặng an giấc cho mình, vua ngẫm nghĩ giây lâu
rưng rưng nước mắt và than rằng : « Chúa tôi ta khổ cực thế nầy, trời đâu
nỡ phụ ». (Đoạn sau nầy, chép ở tập Điểu-Cổ hạ-kim)
Lời phê bình. – Chịu
muỗi cắn, để an giấc ngủ vua, thật là một người trung quân ái-quốc, xưa nay ít
có vậy.
VIII. Phan-thanh-Giản
Ông Phan-thanh-Giản xuất
thân hàn vi, có chí lớn, ăn học cao xa, thi đậu đâu tấn-sĩ ; ngài phò ba đời
vua : Minh-Mạng, Thiệu-Trị, Tự-đức, giữ một lòng khẳng khái, hết dạ thờ vua ;
làm đến quan đại-thần, thanh liêm chánh-trực ; ngài lại là một người có hiếu, ở
với cha mẹ hết lòng ; làm con có hiếu thì làm tôi có trung, bởi nên ngài trọn
cả hai giềng, tiếng thơm bay muôn thuở. Ngài có đi xứ bên Trung-quốc ; văn học
ngài rất cao thâm làm cho bên Trung-quốc ai ai cũng kỉnh phục, đến khi ngài
trở về nước, ngài dưng mấy món bửu vật bên Trung-quốc hiến cho nhà vua, ngài lại
dưng cả bửu vật của Trung-quốc cho riêng ngài ; chừng nào vua ban cho, ngài mới
dám bảo lãnh. Ngài cũng có đi xứ bên Paris về cuộc nghị hòa ; nên chi khi
ngài về nước, ngài nghĩ nước Pháp binh ròng tướng mạnh, súng, ống, tàu hơi,
ngài nghĩ binh mình rất hèn yếu thì than thở không cùng. Sau ngài sang trấn
nhậm tỉnh Vĩnh-Long. Lúc nhà-nước thâu thành Vĩnh-Long, ngài nghĩ khó nổi
kiên thủ thành trì, nên đành uống thuốc độc mà tự tử để cứu mấy vạn sanh linh.
Mộ ngài và phủ thờ ngài hiện giờ ở làng Bảo-Thạnh tỉnh Bến-Tre, là nơi ngài
sanh đẻ.
Lời phê bình. – Về
sau nầy ông hội-đồng quản-hạt Nguyễn-phan-Long viết trong báo « Echo
Annamite » mà kích-bác Phan-thanh-Giản về tội dưng thành cho giặc, chẳng
hết lòng với vua. Ông Quản-hạt Long nói thế cũng phải, song vì quân Langsa sức
mạnh, thế lực như chẻ tre, ông Phan-thanh-Giản biết sức quân mình chống cự
không nổi với quân Langsa ; nếu có đánh nhau, thì làm hại cho quân-sĩ, mà rốt
cuộc, tỉnh thành Vĩnh-Long cũng không khỏi người Pháp lấy, nên ngài tính cứu
mấy vạn sanh linh ; thà một mình ngài chết cho toàn danh tiếng. Bởi cụ
Nguyễn-phan-Long kích-bác ông Phan-thanh-Giản nên báo Văn-Minh trả lời một
cách rất cứng cỏi, làm cho cụ Nguyễn im. Thôi, mình cũng nín, nói nữa e mích
lòng.
Mấy lời nói của soạn-giả
sau khi soạn xong quyển sách nhỏ nhen nầy
Mình là hạng người đầu
xanh tuổi trẻ, trí học còn non nớt, mình chẳng dám ra mặt một anh văn-sĩ viết
văn : hôm nay mình soạn đặng quyển sách nhỏ nhen nầy là cũng nhờ lúc nhỏ thầy
mình có dạy và cũng nhờ xem đặng mấy cuốn sử-ký, nên mình thỏ thẻ viết ra ít
bài nầy để đồng bào mình xem giải muộn. Mà mình cũng xin thú thật rằng mình
viết quyển sách nầy chẳng phải vì bã lợi danh, mình viết ra là vì lòng mình
quá ư xót cảm cho mấy đấng trung thần ở nước mình ; mình viết ra là mong cho đồng
bào mình đừng quên mấy đấng trung thần ấy : thì mình cũng có chúc hân hoan !
Vì : anh hùng nước mình mình biết, sự tích nước mình mình hay ! Thì có chi
quí bằng ? Song mình viết rồi quyển sách nầy, thì tấm lòng mình lại càng
tê-tái, sanh ra một cái ác cảm nặng nề ! Mối ác cảm nầy chẳng chi
lạ cho bằng mối ác cảm triều-đình xưa và thời đại nầy, đấng trung thần đời
trước với các vị ái quốc bây giờ ! Than ôi ! nước Việt-Nam cũng là nước Việt-Nam,
giòng Hồng-Lạc cũng giòng Hồng-Lạc, trải mấy ngàn năm tổ quốc, nước Việt-Nam
há đổi lại nước chi ư ? giòng Hồng-Lạc há đổi lại giống nào ư ? Mà than ôi ! đấng
trung thần thuở xưa thì khác hẳn với tấm lòng ái quốc bây giờ. Đấng-trung thần
xưa kia nếu yêu nước bằng máu bằng gươm, thì liều thân sống, quyết báo đáp ơn
vua, lo tròn nợ nước, không tham bã sang giàu, không mến mồi phú quí, quyết một
thân sống thừa mà báo đáp ơn trọng của quốc gia ; đó là đang khi nước nhà rối
loạn. Còn trong lúc thái bình, thì lo cai trị muôn dân, lấy chữ thanh liêm làm
gốc, bởi hưởng thọ hoàng ân, phải lều thân mà trị nước. Đó là nói về các đấng
trung thần thuở xưa, bây giờ nhắc tới mấy tay ái quốc hiện thời. Một dãy đất
liên tiếp Trung Nam Bắc mà lại chia ra xứ Nam-kỳ là thuộc-địa, Trung Bắc kỳ là
bảo-hộ. Trung Bắc kỳ thì có quan chánh Khâm-sứ, Nam-kỳ thì có quan Tổng-thống
Toàn-quyền. Trên nửa là quan Toàn-quyền Đông-pháp (Gouverneur Général). Trung
Bắc là xứ bảo-hộ vì còn cái ngôi « HOÀNG-ĐẾ ». Vua ta là đức Bảo-Đại
Hoàng-Đế còn đang du học bên Pháp, cụ Tôn-thất-Hân đang quyền Nhíp Chánh.
Đây lại nhắc đến mấy tay
ái quốc ở nước ta. Ngoại trừ cụ Tây-Hồ Phan-châu-Trinh đã mất, những công nghiệp
cụ làm trong lúc cụ còn sanh tiền, nên ta nói cụ là một nhà chí-sĩ, cụ vì nước
nhà điên đảo, vì dân quốc yếu hèn, cụ phải xa cửa lìa nhà, cách biệt quê
hương, lưu linh khi nước Nhựt, khi nước Tàu, để dân quốc ta đặng mở mang, nước
nhà ta đặng tỉnh táo. Công nghiệp ấy thật đáng cho ta sùng bái, đáng tôn trọng
cụ là nhà nhiệt tâm ái quốc. Cụ Sào-Nam cũng thế. Chỉ có ông Nguyễn-an-Ninh bước
đường còn dài, sự thế còn lắm nỗi gay go ; mình cũng cầu chúc cho ông Ninh bước
đường cho vén khéo, để lo cứu vớt anh em thanh-niên còn đang trông ngóng. Ông
Ninh còn đó, non nước còn đây, ta ráng đợi coi công nghiệp ông sẽ làm thể
nào ?
Ngoại trừ ba ông trên
kia, mình chẳng muốn nói nữa, song phận sự mình đã là soạn, thì ngòi viết mình
phải cho minh chánh, nên hễ ai phải mình khen, ai quấy mình chê. Dưới đây mình
lấy ngòi bút minh chánh của mình để kích-bác những bọn lường dân dối nước, bọn
giả-minh ái-quốc yêu dân. Mình cũng biết câu : Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi
; song hễ ai có tịch thì nên sửa đổi, chớ mình chẳng dám nói nhiều ; sợ câu :
bứt dây thì động rừng.
Nhắc đến hai chữ Ái-quốc ở
nước mình, làm cho mình bắt não-nề, dân mình đã yếu, nước mình đã hèn, mà bị mấy
ông Ái-quốc (!) giả dối làm cho dân sẽ hư, nước phải mất. Than ôi ! nghề Ái-quốc
là nghề để kiếm tiền ; nên có nhiều bọn ngưu đầu mã viện giả mặt thương dân,
giả mình mến nước, để lo cho vinh thân phì gia, no lòng ấm cật ; có lẽ mấy năm
sẽ tới đây, bọn nầy sẽ làm cho tuyệt nòi tuyệt giống thì chớ.
Thôi, nói lắm bắt nhàm.
Soạn giả cẩn chí
Vương Quang
Theo
https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét