Chế Lan Viên – Tôi trong đau vẫn làm viên muối bể
Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của nền Văn học Việt Nam thế kỷ XX, với trên 50 năm cầm bút nhà thơ đã để lại cho nền văn học nước nhà một sự nghiệp đồ sộ với nhiều thể loại gồm thơ, văn, tiểu luận, phê bình… Riêng về thơ, ông đã để lại 13 tập thơ với trên một nghìn bài. Những vấn đề về thơ Chế Lan Viên đã được các nhà nghiên cứu phê bình quan tâm suốt hơn tám mươi năm qua.
Ông cũng là nhà thơ luôn
tìm tòi, sáng tạo, trăn trở về thơ cho đến những ngày cuối đời, trong khi các
nhà thơ cùng thời, cùng tầm cỡ với ông đã dừng lại với những thành tựu đã ổn định.
Mặc dù nhà thơ đã rời xa cõi thế trên ba mươi năm nhưng thời gian ngày càng khẳng
định vị trí và tầm vóc của ông đối với văn học nước nhà. Đóng góp về thơ của Chế
Lan Viên vô cùng phong phú, đa dạng tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết nhỏ này
chúng tôi chỉ điểm lại những suy ngẫm về thơ của ông, tức là những vấn đề mang
tính lí luận văn học được ông đặt ra qua những bài thơ, câu thơ tiêu biểu nhằm
bổ sung cho bạn đọc những khía cạnh mang tính lí luận văn học trong quá trình
tiếp nhận thơ Chế Lan Viên và văn học nói chung với mấy vấn đề dưới đây.
Những vấn đề về mối quan
hệ giữa Hiện thực cuộc sống – Nhà văn – Tác phẩm
Nhiều nhà nghiên cứu phê
bình đều thống nhất cho rằng Chế Lan Viên là người viết nhiều những câu thơ, đoạn
thơ về thơ nhất, chưa kể đến các cuốn sách mang tính tiểu luận, phê bình
như: Suy ngẫm và bình luận, Phê bình văn học, Nghĩ cạnh dòng thơ. Trước
Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên đã nổi tiếng với tập thơ Điêu tàn, khi
ông mới 17 tuổi, còn đang đi học nhưng giọng thơ của một người già trước tuổi,
tiếc thương cho một vương quốc Chiêm Thành huy hoàng, than khóc cho những bóng
ma Hời ảo não. Nhưng Cách mạng tháng Tám đã làm thay đổi nhà thơ, đem đến cho
nhà thơ nguồn sống mới để ông “sáng mắt sáng lòng”, đi từ “thung
lũng đau thương ra cánh đồng vui”. Sự bắt nhịp của nhà thơ với thời đại mới được
thể hiện rõ nhất trong những năm 60 của thế kỷ XX, tiêu biểu trong đó là
tập thơ Ánh sáng và phù sa. Ngay từ nhan đề tập thơ đã cho ta thấy nguồn
năng lượng mới, nguồn sống mới đã bồi đắp tâm hồn nhà thơ đồng thời ông cũng
xác định rõ trách nhiệm của nhà thơ, của người nghệ sĩ trước cuộc đời nhất là
trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới khi ấy. Tuy nhiên những vấn đề mang tính
lí luận mà Chế Lan Viên đặt ra đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Người nghệ sĩ phải
là người gắn bó với cuộc đời, phải mở lòng mình đề đón nhận cuộc đời, phải rút
ngắn khoảng cách cuộc đời và nghệ thuật…
Tập thơ Ánh sáng và
phù sa ra đời năm 1960, trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc,
cùng với các tập Trời mỗi ngày lại sáng của Huy Cận, Sông
Đà của Nguyễn Tuân, Mùa lạc của Nguyễn Khải… Tuy nhiên Chế Lan
Viên có hướng đi riêng với những vần thơ giàu cảm xúc và triết luận. Trong đó
không thể không kể đến bài thơ Tiếng hát con tàu, một bài thơ xuất sắc
nhất của tập thơ và cũng tiêu biểu cho phong cách thơ Chế Lan Viên. Bài thơ thể
hiện trách nhiệm của người nghệ sĩ khi đến với cuộc đời, nhất là những vùng xa
xôi của Tổ quốc và chỉ có thể đến đó Khi lòng ta đã hoá những con
tàu, hình ảnh con tàu hay chính là tiếng gọi của Tổ quốc, của trái tim, tiếng
gọi của sự hòa nhập và lên đường như ngay trong lời Đề từ của bài thơ:
Tây Bắc ư? Có riêng gì
Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu
Bài thơ đặt ra bằng những
câu hỏi tu từ, hay đó là cách nhà thơ tự hỏi mình để thể hiện sự nhận thức về mối
quan hệ cuộc đời – nghệ thuật, chỉ có hiện thực cuộc sống phong phú mới là ngọn
nguồn của nghệ thuật chân chính. Chế Lan Viên dùng các hình ảnh: gió ngàn
đang rú gọi, những vành trăng…
để nói đến một miền Tây Bắc
hay miền xa xôi của Tổ quốc, chính những hình ảnh đó mới đem lại cảm hững sáng
tác mới mẻ cho nhà thơ, cho người nghệ sĩ chân chính bởi Chẳng có thơ đâu
giữa lòng đóng khép.
Con tàu này lên Tây Bắc,
anh đi chăng?
Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng
Đất nước mênh mông, đời
anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia
Trong bài thơ còn rất nhiều
lần Chế Lan Viên khẳng định Tây Bắc và hiện thực cuộc sống phong phú nơi đây
chính là mẹ của hồn thơ, là ngọn nguồn của mọi cảm hứng sáng tạo.
Đất nước gọi ta hay lòng
ta gọi?
Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ
Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga
…
Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ
Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa
Nay trở về, ta lấy lại vàng ta
Bên cạnh bài thơ Tiếng
hát con tàu, còn rất nhiều bài thơ trong các tập thơ khác Chế Lan Viên
cũng đề cập đến mối quan hệ cuộc sống và nghệ thuật hay để “Cuộc sống đánh
vào thơ trăm nghìn lớp sóng” chứ không thể là những lời trống rỗng. Người
nghệ sĩ phải gắn bó chan hòa với cuộc sống, phải thấy sức mạnh từ cuộc sống, phải
buồn vui cùng với những nỗi buồn vui của nhân dân, phải có cách nhìn đời, nhìn
người đa diện, nhiều chiều:
Phá cô đơn ta hòa hợp với
người
Lấy cái vui cuộc đời đánh
bại mọi đau thương
Xưa tôi hát mà nay tôi tập
nói
Chỉ nói thôi mới nói hết
được đời
Nhà thơ luôn trăn trở phải “Phát giác sự việc ở bề chưa thấy” hay ở bề sâu, bề xa . Ông cũng không cho phép mình viết những câu thơ hời hợt, dễ dãi, mỗi câu thơ phải là “Muối lắng ở ô nề và thơ đọng ở bề sâu”(Đối thoại mới).
Mối quan hệ Nhà văn – Tác
phẩm – Bạn đọc
Cùng với mối quan hệ Hiện
thực cuộc sống – Nhà văn – Tác phẩm như chúng tôi đề cập trên, Chế Lan Viên
cũng rất quan tâm đến vấn đề tiếp nhận của người đọc, đó là điểm đáng lưu ý ở
Chế Lan Viên so với nhiều nhà thơ cùng thời. Chế Lan Viên có rất nhiều bài thơ,
tập thơ thể hiện sự quan tâm đó của mình như: Nghĩ về thơ, Sổ tay thơ, Thơ
và bạn đọc, Nghề chúng ta, Thơ về thơ… Sự hình thành và phát triển của lý
thuyết tiếp nhận nhằm khẳng định hoạt động văn học với các khâu Nhà văn –
Tác phẩm – Bạn đọc ngày càng được chú ý đúng mức. Sự ra đời của lý thuyết
tiếp nhận cho thấy sự dịch chuyển vị trí trung tâm từ tác phẩm sang người đọc,
từ đó có thể nhận thấy lịch sử văn học không chỉ đơn thuần là các tác giả, tác
phẩm mà cả lịch sử tiếp nhận của người đọc cũng phải được quan tâm đúng mức,
nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn cho rằng: “Nói đến việc tạo nghĩa một tác phẩm
văn học, nếu chỉ nói đến tư tưởng, ý đồ sáng tạo, chủ đích của tác giả vẫn chưa
đủ. Nếu không có người đọc với toàn bộ kiến thức, sự lịch lãm, với quan điểm đạo
đức, thẩm mỹ riêng tiếp nhận văn bản tác phẩm thì văn bản đó vẫn không có hiệu
lực của văn bản nghệ thuật: lý thuyết tiếp nhận xuất hiện. Với lý thuyết tiếp
nhận, người đọc được đặt đúng địa vị của mình; hành động đọc là hành động tạo
nghĩa cho văn bản”. Nhà văn sáng tạo ra tác phẩm mới chỉ là hệ thống kí
hiệu trên giấy chỉ khi nào có sự tiếp nhận tác phẩm mới có đời sống thực sự của
nó, Giôn Điuây phân biệt sản phẩm nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật, tương ứng
với sáng tác của nhà văn và tiếp nhận của người đọc, “chỉ khi nào được
công chúng thưởng thức, tiếp nhận thì mới trở thành tác phẩm nghệ thuật”. Bên cạnh
đó nhiều nhà lí luận rất đề cao vai trò của bạn đọc, họ coi đó là quá trình đồng
sáng tạo, một số nhà văn còn để ngỏ kết thúc của tác phẩm hoặc đưa ra các
phương án kết thúc để người đọc lựa chọn. Từ những tiền đề trên, lý thuyết tiếp
nhận ra đời nhằm khẳng định vai trò quan trọng của người đọc trong cả quá trình
sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, điều đó được Chế Lan Viên thể hiện rất rõ:
Bài thơ anh, anh làm một
nửa mà thôi,
Còn một nửa cho mùa thu làm lấy.
Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá.
Nó không là anh, nhưng nó là mùa.
(Sổ
tay thơ)
Nghệ sĩ là người nào biết
giãn cách họ với ta bằng tác phẩm
Đem tất cả cái Bên Trong
tạo hình thức Bên Ngoài
(Tạo hóa tạo hình)
Cho đến những năm tháng
cuối đời, mặc dù phải đấu tranh với bệnh tật những Chế Lan Viên luôn luôn trăn
trở về trách nhiệm của người cầm bút đồng thời qua Di cảo thơ ông
cũng mong mỏi sự đồng cảm của người đọc, sự tiếp nhận của bạn đọc trowng
tương lai: “Nhìn trang sách biết mình hữu hạn” và “Một nghìn câu thơ
thì chín trăm câu dang dở, và ai đón thơ anh ở cuối con đường” hay “Đừng đuổi
thơ tôi, vì một chiều tà nào ngả bóng/ Hãy kiên lòng, sẽ thấy nắng mai lên”.
Mặc dù đã hơn ba mươi năm nhà thơ đi xa cõi thế nhưng những gì Chế Lan Viên nêu ra về thơ đến nay chúng ta vẫn cần phải tiếp tục suy nghĩ có như vậy việc tiếp nhận di sản thơ đồ sộ mà ông để lại cũng như văn chương nói chung mới có ý nghĩa thực sự. Để khép lại bài viết nhỏ này tôi xin dẫn lại lời tâm sự của ông với bạn đọc, với cuộc đời: Tôi trong đau vẫn làm viên muối bể/ Để mặn lòng những kẻ muốn vô tư.
24/10/2023
Nguyễn Quỳnh Anh
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét