Mùa đông Hòa Lan - Mùa xuân tết Việt Nam - Niềm nhớ quê hương trong tâm thức ngươi viễn khách
Không khí cuối năm vui
nhộn của phương Tây phải nói là từ đầu tháng Mười Hai dương lịch. Ở
Hòa Lan cũng vậy bắt đầu không khí lễ hội mang theo một niềm vui rất đặc
biệt : ánh đèn lung linh treo khắp phố, tiếng nhạc rộn ràng, mùi bánh ngọt,
mùi quế thoang thoảng và cảm giác ấm áp và vui vẻ cho tới ngày
Giáng Sinh. Qua tiệc Giáng Sinh không khí vui vẻ giản dần theo sự
mệt mỏi của người cho tới đêm giao thừa.
Đón giao thừa, người
ta khui rượu nổ, cụn ly chúc nhau rồi đốt pháo, ăn oliebollen và các
món nhắm truyền thống Hòa Lan như phó mát, trứng nhồi, thịt nguội,
trái ô-liu và bitterballen... xong tiệc thì mạnh ai nấy về nhà nấy.
Coi như Tết Tây bắt đầu khép lại mọi rộn ràng ngay sáng một tây.
Những ánh đèn màu sắc
rực rỡ treo theo đường phố, trước cửa nhà dần dà tháo gỡ, phố xá trở
lại yên ắng hơn, và niềm vui lễ hội cũng nhẹ nhàng lùi lại, dư âm của mùa lễ
vẫn còn đọng nhẹ như một làn khói mỏng trong lòng mỗi người, cho tới vài
ngày sau, gặp nhau trong công sở cũng còn chúc mừng năm mới, như một lời
nhắc rằng niềm vui không chỉ nằm ở những ngày đặc biệt, mà còn ở cách ta tiếp tục
tạo ra sự ấm áp cho chính mình trong những ngày kế tiếp.
Đối với người Việt
tha phương, không khí sau Tết Tây vừa lắng xuống, thì hơi thở của Tết Nguyên
Đán đã nhẹ nhàng len vào lòng như một làn gió mới. Tôi là một người
Việt định cư ở Hà Lan, năm nào cũng cùng những người nước ngoài, tổ
chức hợp mặt với một buổi tiệc trà, cà phê, bánh ngọt cuối năm.
Chúng tôi là những người của bốn phương tụ lại trên xứ người, vui vẻ
trao đổi nhau những kinh nghiệm sống đời tha phương, nó đã trở thành một
phần quen thuộc của đời sống hiện tại.
Sau buổi hợp mặt trở
về, tôi hay suy tư và nhận ra dòng chảy của người di cư khắp thế giới,
mỗi người có hoàng cảnh mỗi khác về việc rời quê hương của họ,
nhưng giống nhau chỗ là không sống được với những chế độ độc tài hà
khắc. Cuối năm ngồi ôn lại, mỗi người mỗi tâm trạng khác nhau, nhưng
nỗi nhớ quê hương đều giống như nhau. Mặc dù tôi sống trên mảnh đất
hiền hoà, nhân bản cả một đời, hình ảnh quê xưa cũng có nhiều phai
nhạt, nhưng vào những ngày cuối năm, ký ức về văn hóa và những ngày Tết
truyền thống của quê nhà đặt tôi vào một không gian hoàn toàn khác biệt.
Giữa mùa đông lạnh giá,
là viễn khách không chỉ đối diện với khí hậu khắc nghiệt mà còn đối diện với
chính nỗi nhớ của mình, một nỗi nhớ mang tính rất người, vượt lên trên cảm
xúc cá nhân. Khi Tết đến ở Việt Nam, sự đối lập giữa hai mùa, hai nhịp sống,
hai thế giới càng làm nỗi nhớ ấy trở nên sắc nét và sâu thẳm hơn.
Bài viết này tôi muốn
tâm sự về cảm xúc cá nhân và trải nghiệm thuần túy của ký ức, về sự tương
phản như một hiện tượng văn hóa, đồng thời tìm hiểu cách người xa xứ duy trì
bản sắc và ký ức truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện
nay. Mùa đông Hoà Lan mùa xuân Tết Việt Nam” Qua sự đối lập giữa hai
mùa, không chỉ kể về nỗi nhớ quê của người xa xứ, mà còn gợi ra câu hỏi mới:
con người giữ gìn bản sắc của mình như thế nào trong dòng chảy toàn cầu hóa.
Bài viết vì vậy mang âm hưởng trầm lắng, nhân văn, hy vọng có những cái
mới mẻ để lại dư vị suy tư dài lâu nơi người đọc.
Trong khi tôi lui cui
dọn dẹp cây thông giáng sinh thì Trúc Thanh đen hai nhánh cây trụi lá
mà tôi vô rừng chặt đem về từ hôm qua, cắm lên bình rồi đem bông mai
và hoa đào bằng giấy mà mấy hôm trước Trúc Thanh mua ở chợ Á châu,
gắn lên mỗi nhánh một loại bông. Tôi vừa tháo những nhánh thông nhân
tạo bỏ vào thùng vừa hỏi Thanh:
– Hổng biết ngày nay
trước Tết ta bên Việt Nam mình với những cổng chào, cờ xí màu mè hoa
lá cành, những khẩu hiệu “mừng đảng, mừng xuân” treo khắp
phố phường, có lấn át không khí mùa xuân truyền thống không nữa?
Thanh hỏi lại:
– Anh nói rõ hơn được
không?
Như được nước tôi kể
vanh vách:
– Như truyền thống
dựng cây nêu cổng làng, sân đình, liễn tết đỏ dán trước cửa nhà và
những con phố cũng bắt đầu thay áo, sắc đỏ len lỏi trên từng khung cửa; miền
Nam nhành mai, miền Bắc nhành đào như đánh thức niềm háo hức trong lòng mỗi
người. Nhang khói nghi ngút ở những nơi thờ phượng, thoang thoảng mùi trầm
hương. Tiếng chổi quét đường, quét sân chuẩn bị đón năm mới và nụ cười rạng rỡ
của những người đi chợ Tết, khiến cho không gian trở nên vừa thơ mộng vừa xôn
xao với không khí rất là xuân.
Trúc Thanh nhỏ nhẹ
nói:
– Tục dán liễn đỏ trước
nhà thì không còn, nhưng chơi chữ thư pháp thì rất nhiều, người viết
thư pháp chữ quốc ngữ thay chữ hán-nôm đứng đầy góc phố, và tục dựng
cây nêu trước nhà dịp Tết Nguyên Đán ở Việt Nam vẫn còn, nhưng đã mất dần ở
thành thị, chủ yếu tồn tại ở nông thôn và các vùng dân tộc, với ý nghĩa tượng
trưng nhiều hơn là xua đuổi tà ma như xưa. Nhưng dù sao đi nữa không khí Tết
vẫn rộn ràng và vẫn kéo dài từ tháng Chạp cho tới ra Giêng, lại
thêm những hô hào cổ vũ nên có phần nhộn nhịp hơn xưa.
– Nghe em nói anh có
cảm giác như Tết là lời hứa hẹn của mọi người: rằng sau những ngày tất
bật, ai cũng xứng đáng có một khoảnh khắc để trở về với gia đình, với ý ức tuổi
thơ, với những điều bình dị mà ấm áp. Và niềm vui lại được thắp lên; tươi mới,
tròn đầy, mang theo hy vọng cho một năm an lành sắp tới. Như vậy Tết Nguyên
Đán không chỉ là một ngày lễ, mà là một hành trình trở về.
– Đúng rồi, trở về với
gia đình, với những bữa cơm sum họp, với những câu chuyện cũ được kể lại bằng nụ
cười: tiếng pháo chuột lách tách, pháo đùng ầm ầm; mùi bánh tét, bánh
chưn, thịt kho trứng, thịt đông. Nồi bánh tét, bánh chưn tổ bố trên
bếp lửa bập bùng sôi sùng sụt trước giờ giao thừa. Nhứt là cảm giác
của trẻ em háo hức khi được nhận tiền lì xì đầu năm. Tết là dịp để người lớn
tạm gác lại những lo toan, để trẻ con được vui chơi thỏa thích, và để mỗi người
tìm thấy sự bình yên trong chính quê hương và ngôi nhà ấm áp của mình.
Tôi dọn dẹp xong cây
thông nhân tạo. Đóng nắp thùng, dán băng keo lại và nói với Trúc
Thanh:
– Em còn nhớ nhiều
quá.
– Đừng có nịn tui, đem
cái đó lên cất rồi bưng cái bàn xuống làm bàn thờ.
Vậy là trong tôi không
khí Giáng Sinh và tết Tây đã nhường lại cho đến Tết Nguyên Đán. Đối với
người tha phương, dù có sống nơi xứ người bao lâu nữa những ngày này
cũng còn có một chút nhớ, một chút buồn. Từ sự lung linh, ấm áp của
mùa đông phương Tây đến sự rộn ràng, sum vầy của mùa xuân Việt Nam, mỗi giai đoạn
đều mang một ý nghĩa và một sắc thái riêng, nhưng lại hòa quyện với nhau một
cách tự nhiên. Đó là hành trình của ánh sáng, từ ánh đèn Giáng Sinh đến sắc đỏ
may mắn của Tết. Là cuộc dạo chơi của niềm vui, từ những món quà nhỏ đến những
bao lì xì và cái ôm đoàn tụ, cũng là cuộc thụ hưởng niềm vui. Hy vọng cho
một năm mới an lành, đủ đầy, và tràn ngập những điều tốt lành.
Không gian của tĩnh lặng
nội tâm và là mùa đông Hoà Lan mang vẻ đẹp đặc trưng của vùng đất Tây Âu: bầu
trời xám bạc, cây rừng trụi lá đứng im. Không gian ấy tạo nên một sự tĩnh lặng
gần như tuyệt đối. Trong sự tĩnh lặng đó, người tha hương dễ dàng nghe thấy tiếng
vọng của chính mình—những suy tư, những nỗi lo, những mong mỏi vốn bị nhịp sống
bận rộn che lấp.
Cái lạnh của Hoà Lan
không chỉ là cảm giác thực tế; nó còn là một dạng cảm xúc không gian, khiến
con người thu mình lại, hướng vào bên trong. Những buổi sáng đi làm trong sương
mù, những buổi chiều tắt nắng từ rất sớm, những đêm dài kéo mãi không dứt… tất
cả tạo nên một nhịp sống chậm, đôi khi nặng nề. Đối với người Việt, vốn quen với
khí hậu nhiệt đới và sự náo nhiệt của cộng đồng, mùa đông Hòa Lan trở thành một
thử thách tinh thần. Chính trong thử thách ấy, nỗi nhớ quê hương bắt đầu hình
thành như một phản ứng tự nhiên.
Tôi vẫn nhớ năm hết Tết
đến: ngày xưa là không gian của đoàn tụ và ký ức văn hóa trái ngược hoàn
toàn với mùa đông Hoà Lan. Tết Việt Nam là mùa của sự bừng nở. Tết không chỉ
là một dịp lễ; nó là một “không gian văn hóa” nơi mọi giác quan đều được đánh
thức. Mùi bánh tét, tiếng cười trong bếp, sắc mai vàng, những buổi chợ Tết
đông vui… tất cả tạo nên một hài hoà trong ký ức mà bất kỳ người Việt nào
cũng mang theo suốt đời.
Trong tâm thức của
người Việt tha hương họ không còn sự trở về nhà vào dịp Tết là một bổn phận
thiêng liêng. Vì vậy, Tết không chỉ là một ngày lễ bị bỏ lỡ; nó là một phần căn
tính bị tách khỏi dòng chảy thường ngày.
Gia đình tôi khi Tết đến,
vẫn còn cúng tất niên, cuối năm Trúc Thanh vẫn còn gói bánh tét,
vẫn còn nhớ gia đình, mà nổi nhớ chỉ còn trong quá khứ, nhớ bản thân từng
sống trọn vẹn trong không gian văn hóa xưa cũ ấy.
Theo tôi nỗi nhớ quê
hương của người xa xứ không chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn là biểu hiện của “ký ức
văn hóa” (cultural memory). Ký ức đó là những hình ảnh, nghi thức, biểu tượng
được cộng đồng lưu giữ qua nhiều thế hệ. Nó không chỉ tồn tại trong hiện tại mà
còn được tái hiện mỗi năm, trở thành một phần của bản sắc dân tộc.
Nói về người Việt sống ở
Hoà Lan nhớ Tết, họ kích thích ký ức văn hóa ấy bằng những hình ảnh về quê nhà
không chỉ là hoài niệm mà còn là cách họ duy trì sự liên tục của bản sắc. Trong
bối cảnh toàn cầu hóa, nơi con người dễ bị hòa tan vào môi trường mới, ký ức
văn hóa trở thành điểm tựa giúp họ giữ được sự ổn định nội tâm.
Có phải sự tương phản
giữa hai mùa là một phép so sánh của tâm hồn? Thiệt vậy, mùa đông Hoà Lan
và mùa xuân Việt Nam tạo nên một sự đối lập mạnh mẽ: lạnh – ấm, tĩnh – động, cô
đơn – đoàn tụ. Chính sự đối lập này làm nỗi nhớ trở nên sâu sắc. Giữa trời Âu lạnh
buốt, họ không chỉ nhớ cái ấm của khí hậu quê nhà mà còn nhớ cái ấm của tình
thân, của cộng đồng, của những giá trị văn hóa đã nuôi dưỡng họ.
Sự trái chiều ấy cũng tạo
nên một dạng “khoảng cách biểu tượng”. Mùa đông Hoà Lan trở thành phông nền để
người xa xứ soi chiếu lại chính mình. Trong cái lạnh, họ nhận ra điều gì là
quan trọng nhất; trong sự cô đơn, họ nhận ra giá trị của đoàn tụ; trong sự xa
cách, họ nhận ra sức mạnh của ký ức.
Dù không trở về được,
những người Việt xa xứ vẫn tìm cách tái tạo Tết. Đối với gia đình thì một
nồi thịt ba rọi, ở Hoà Lan trong siêu thị không có bán hột vịt thì
họ kho thịt ba rọi với hột gà, hổng có mai thiệt thì họ làm mai
giấy, một mâm cơm giản dị cúng ngày Tất niên… tất cả trở thành những nghi
thức nhỏ giúp họ kết nối với quê hương. Còn trở ra cộng đồng thì họ vẫn
cùng nhau tổ chức trong chùa, nhà thờ hoặc mướn một hội trường làm
một chợ Tết, cũng bán tét bánh chưng và những món ăn truyền thống
ba miền. Cho nên, trong ý tưởng trở về quê hương đối với họ không còn
nặng nề như trước nữa, vì một không gian tinh thần đã có nơi nương tựa.
Trong không gian tinh thần ấy, người xa quê tìm thấy sự an ủi và sức mạnh. Họ học
cách mang Tết theo mình, không phải như một nỗi buồn mà như một nguồn năng lượng
giúp họ tiếp tục bước đi giữa mùa đông dài.
Sự tương phản giữa mùa
đông Hoà Lan và mùa xuân Tết Việt Nam không chỉ là sự khác biệt về khí hậu mà
còn là sự khác biệt về văn hóa, cảm xúc và tâm tính. Nỗi nhớ của kẻ tha
phương vì vậy, không chỉ là nỗi nhớ quê mà còn là nỗi nhớ về chính bản sắc của
mình. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nỗi nhớ ấy trở thành một phần quan trọng của
đời sống tinh thần, giúp họ giữ được sự bềnh bỉ và niềm tin.
Và chính trong sự trái ngược giữa hai mùa, người xa xứ tìm thấy một điều giản dị nhưng sâu sắc: Khi mùa đông phủ kín người viễn khách học cách trở về bằng ký ức. Và trong sự trở về thầm lặng ấy, mới hiểu rằng quê hương không mất đi, quê hương chỉ chuyển sang một dạng tồn tại khác, bền bỉ và âm thầm nuôi dưỡng con người.
5/1/2026
Nguyễn Lê Hồng Hưng
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét