Nhà Nguyễn: Gia Long
Ngày mồng một tháng giêng
năm Gia Long thứ nhất [3/2/1802], Vương ở hành tại Động Hải [Đồng Hới]; dinh Quảng
Nam chạy trạm dâng quả lòn bon [nam trân], bèn đưa chia cho tướng sĩ.
Vua Tây Sơn Nguyễn Quang
Toản sai em là Nguyễn Quang Thùy và Tổng quản Siêu xâm phạm luỹ Trấn Ninh [trường
lũy Đồng Hới], Tư lệ Đinh Công Tuyết, đô đốc Nguyễn Văn Đằng liên kết
với hơn trăm thuyền giặc biển Tề Ngôi bày thủy trận ở ngoài cửa biển Nhật
Lệ [Đồng Hới, Quảng Bình].
Vương sai Nguyễn Văn
Trương điều bát thủy binh ra biển ngăn ngừa, Phạm Văn Nhân và Đặng Trần Thường
đem bộ binh chia đường chống đánh.
Tây Sơn điều quân đến lũy
Trấn Ninh; lính túc trực tại ụ bắn giết được hơn một nghìn. Lại đem nhiều quân
đến sát núi Đâu Mâu [huyện Quảng Ninh, Quảng Bình], bám vào như kiến mà bò lên;
quân Nguyễn từ trên núi thả đá xuống, bị đè chết rất nhiều. Vợ Trần Quang Diệu
là Bùi Thị Xuân cưỡi voi thúc quân liều chết đánh từ sáng đến trưa chưa chịu
lui. Vừa gặp thủy binh của Nguyễn Văn Trương, theo chiều gió đông bắc đánh phá
ngoài biển cướp được 20 chiếc thuyền, bộ binh Tây Sơn nghe tin thủy binh thua,
sợ mà tan vỡ. Quang Toản thua chạy về Đông Cao [ huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng
Bình ]. Nguyễn Văn Kiên đem quân đầu hàng.
Vương nghe tin có 50 chiếc
thuyền lương địch ở sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình], lập tức sai Tống
Phước Lương và Nguyễn Văn Vân đem binh thuyền đến đánh. Bấy giờ Quảng Toản chạy
qua sông Gianh, quân đi theo chưa tới 2 phần 10. Quân Nguyễn chợt đến, lấy được
hết thuyền lương, hơn 700 người bị bắt. Hoàng Văn Điểm đem bộ binh đuổi đến
Tiên Cốc [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình]; quân địch đầu hàng 3.000 người; thu
được 700 cỗ súng lớn, 500 con ngựa. Thượng thư Tây Sơn Nguyễn Thế Trực, Đô đốc
Trần Văn Mô, Tham đốc Bùi Văn Ngoạn và Thiếu tể Nguyên đều bị bắt.
Trận này Tây Sơn bị thua
vùi giập, lòng dân Bắc Hà xôn xao; quân Nguyễn ở thế chẻ tre. Xa giá Vương đến
đồn Thanh Hà [huyện Bố Trạch, Quảng Bình]; nhân dân tranh đem trâu rượu mừng rước.
Bèn dụ cho các xã dân từ Quảng Bình vào Nam rằng phàm tàn quân của giặc Tây Sơn
chạy về làng xóm thì cho chúng được yên nghiệp làm ăn, không được doạ nạt quấy
nhiễu.
Vương bàn rút quân về,
các tướng xin thừa thắng đánh miền Bắc; đáp rằng:
“Bỏ nơi gần mưu nơi xa,
không phải là thượng sách. Hiện nay trong bọn giặc chỉ Trần Quang Diệu là ghê
nhất. Diệu chưa trừ xong, không nên khinh tiến. Hãy đợi hạ thành Bình Định,
không phải lo lắng về phương Nam nữa, rồi tiến đánh Bắc Hà cũng chưa muộn.”
Ngày Tân Tỵ mồng 9
[11/2/1802], xa giá khải hoàn. Sai Tống Phước Lương, và Đặng Trần Thường giữ
sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình], Nguyễn Văn Trương giữ Động Hải, Hoàng
Văn Điểm giữ cửa Ròn [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình]; ngày Ất Dậu [15/2/1802] tới
kinh đô,
Nước Vạn Tượng sai sứ
dâng phẩm vật địa phương; Vương ban thưởng hậu.
Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn
Đức Xuyên đánh luỹ Tây Sơn ở Kỳ Sơn [huyện Tuy Phước, Bình Định], chiếm được.
Trần Quang Diệu đem quân và voi theo đường sau núi xông ra vây bốn mặt; Phó tướng
Nguyễn Huệ chết trận. Đức Xuyên thu quân, vừa đánh vừa lui đến đồn Sạ Dã, rồi
dâng sớ xin chịu tội. Vương dụ rằng:
“Nay thế lớn của thiên hạ,
mười phần đã được đến tám chín phần. Chỉ còn một góc Bình Định này, thế như nốt
ruồi, còn trốn vào đâu được ? Ngươi nên cố gắng cùng các tướng sĩ đồng lòng góp
sức để diệt lũ hung cuồng, chớ vì một sự lầm lỡ mà nản chí.”
Vương thấy cơ hội đã đến,
bèn sai Lê Văn Duyệt tiến đánh thành Bình Định. Văn Duyệt tiến đánh Lộ Bôi , bắt
được Đô đốc Tây Sơn là Chu Hữu Mỹ và đồ đảng hơn 30 người, giải về kinh.
Định rõ lệnh cấm rượu ở
Gia Định. Người có quan chức nấu rượu thì phạt tiền 200 quan, uống rượu thì phạt
tiền 100 quan, đều xử biếm hay bãi chức; quân và dân nấu rượu thì phạt tiền 50
quan, đánh 50 roi, đi đày một năm, uống rượu thì phạt tiền 30 quan, đánh 50
roi. Lý dịch sở tại không ngăn cấm được thì bắt nộp tiền 30 quan để thưởng cho
người tố cáo. Lại định rõ lệnh cấm cờ bạc ở Gia Định. Ai chơi chọi gà, chọi cá
cũng phải tội.
Sai các dinh ở Gia Định
chia cấp ruộng hoang cho dân nghèo, cho vay thóc giống, đợi thu hoạch xong sẽ y
số trả lại nhà nước. Người nào ăn chơi lêu lổng, không chịu làm ruộng thì phạt
3 hộc thóc và sung làm lính.
Miễn thuế cửa biển năm
nay cho thuyền buôn ngoại quốc; cấm quan quân không được mua rẻ hóa vật.
Sai giám quân Thần sách
Phạm Văn Nhân lãnh các vệ Hậu quân, quản dinh Hậu thủy Lê Văn Quế lãnh thủy
binh, đến Bình Định để họp đánh giặc.
Ngày Nhâm Dần mồng 1
tháng 2 [4/3/1802], Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản sai bọn Nguyễn Đăng Sở sang
nhà Thanh xin cứu viện. Tri phủ Thái Bình [Quảng Tây] tâu lên, Vua Gia Khánh
ban chỉ dụ rằng:
“Hai nước đánh nhau khẩn
cấp, bọn cống sứ ấy bất tất phải diệu vợi tiến kinh, hãy cho về [ải] Nam
Quan để tỏ lòng thể tất.”
Đăng Sở trở về, cảm khái
làm thơ có câu như sau:
Bình ngạnh thử thân tằng
lý lịch,
Tang thương để cục kỷ
thôi di.
Dịch nghĩa:
Bèo bọt thân này qua trải
mấy,
Bể dâu cuộc ấy đổi thay
hoài.
Nguyễn Văn Thành đánh thắng
quân Tây Sơn ở Kỳ Sơn [huyện Tuy Phước, Bình Định], đuổi đến Lang Viên [Vườn
cau]; sai quân đóng đồn để chặn sau lưng. Thế địch cùng quẫn, Đô đốc Thị cùng với
bộ hạ hơn 100 người đến cửa quân đầu hàng.
Đô thống chế Trung đồn
quân Ngự lâm là Phan Tiến Hoàng tự trong lòng địch đem quân lẻn về, đặt dưới
quyền Lê Văn Duyệt.
Lê Văn Duyệt và Lê Chất
đánh nhau với tướng Tây Sơn Từ Văn Chiêu ở Thạch Tân [Bến Đá, chỗ tiếp giáp huyện
Hoài Nhơn và Quảng Ngãi] cả phá được. Quân thủy quân bộ cùng tiến, phá nhiều đồn,
bắt được đồ quân dụng, và khí giới rất nhiều, chỉ một mình Chiêu chạy
thoát. Bọn Duyệt bèn đem bộ binh tiến đóng ở Tùng Châu, sai Phan Văn Triệu và
Phan Tiến Hoàng đem thủy binh tiến đến Đạm Thủy [huyện Phù Mỹ, Bình Định] và
Tam Quan [huyện Hoài Nhơn, Bình Định]. Tin thắng trận báo lên, ban thưởng một vạn
quan tiền.
Vương chia quân hai đạo
đánh thành Bình Định, sợ chém giết bừa bãi, bèn dụ rằng:
“Quân vương giả đánh giặc
chỉ cầu yên dân. Trong khi lâm trận phàm bắt được quân giặc đừng nên giết bừa.
Vả đất Bình Định từ khi có việc binh giáp tới nay đã bị tàn tệ rất nhiều. Nên
răn cấm quân nhân không được cướp bóc, để cho nhân dân đều được yên ổn làm ăn”.
Nước Xiêm La sai tướng là
Ốc Nha Trà Tri đem 5.000 quân theo đường thượng đạo hợp với quân Vạn Tượng đánh
phá quân Tây Sơn ở Sa Nam,Nghệ An, rồi sai Sứ đến đưa tin thắng trận; Vương
phúc thư khen ngợi.
Phó đô thống chế Phan Văn
Kỳ, thống chế Lê Văn Niệm, Khâm sai cai đội Võ Viết Bảo trở về. Trước kia trong
trận Càn Dương [huyện Phù Cát, Bình Định]; Kỳ đánh thua bị bắt. Niệm và Bảo
thì ở trong thành Bình Định, khi thành bị hãm, đều bị địch bắt. Về sau đem nhau
trốn ra, đến nay được triệu về. Vương hỏi về tình hình hư thực của giặc, cho mỗi
người 50 quan tiền và quần áo nhiễu, rồi cho Viết Bảo làm Chánh quản đội Tiểu
sai.
Ngày Quý Hợi 22
[25/3/1802], Vương bái yết lăng tổ tiên, tha việc binh dịch cho các xã giữ
lăng.
Nguyễn Gia Cát dâng bộ Đại
Việt Sử Ký; Vương xem lâu, nhân cùng bầy tôi bàn những truyện cũ của các
triều đại, đến mặt trời xế bóng mới thôi.
Sai Lưu trấn thần Gia Định
dùng phép tam trường khảo thí học trò, chia cấp bậc khác nhau. Kỳ đệ nhất thi
chế nghĩa về kinh truyện, lấy đỗ 92 người; kỳ đệ nhị thi chiếu, chế, biểu, lấy
đỗ 46 người; kỳ đệ tam thi thơ, phú, lấy đỗ 41 người.
Tha thuế thiếu cho các
sách dân tộc thiểu số ở đạo Đồng Môn dinh Trấn Biên [Biên Hòa]. Dân thiểu số
thuộc mười một sách hàng năm phải nộp nhựa trám và sáp ong; năm nay đói, có người
trốn thiếu, Lưu thủ Võ Tiến Đẩu tâu lên, bèn tha cho.
Ngày Bính Dần 25
[28/3/1802], hào trưởng làng Tây Đam [huyện Hoài Đức, Hà Tây] là Trương Chi dấy
quân hẹn đánh thành Thăng Long, dán tờ yết thị tại cửa Nam, dụ bảo cư dân trở về
nguyên quán. Cho 50 tráng sĩ bí mật làm lái buôn, ngủ tại chợ; đến nữa đêm
phóng hỏa đốt nhà từ cửa Nam đến nhà Giám hơn 1.000 nóc, vào phá dinh Tư mã Dụng.
Đề lãnh Thái đem quân lùng bắt, đóng các cửa ô, bắt được Trương Chí, đem chém.
Tháng 3
[2/4-1/5/1802],Vương lên Gác Rồng để xem hình thế núi sông kinh thành, rồi đến
cửa Eo [cửa Thuận An, Thừa Thiên] duyệt chiến thuyền; diễn thủy quân ở các cửa
biển Tư Dung [cửa Tư Hiền, Thừa Thiên] và Đại Chiêm [Quảng Nam].
Ngày Đinh Sửu mồng 7
tháng 3 [8/4/1802], Tiến sĩ đời Lê là Nguyễn Trọng Tông đánh nhau với Tây Sơn tại
Phao Sơn [huyện Chí Linh, Hải Dương] bị thua. Tông khởi binh từ năm Canh Thân
[1800], đóng quân tại bãi trám xã Sùng Nghiêm, lập 3 sở nhà chòi ở Lạc Sơn [huyện
Chí Linh, Hải Dương]. Ngày mổng 9 [10/4/1802] quân trấn Hải Dương cùng Kinh Bắc
tiến quân, giao chiến trên sông từ Triều Dương [huyện Thanh Miện, Hải Dương]
đến Phả Lại [huyện Quế Võ, Bắc Ninh]; 2 viên Vũ phân [chức quan võ cấp
huyện của Tây Sơn] đều trúng đạn chết. Ngày 14 [15/4/1802] quân trấn Hải Dương
mai phục tại thượng lưu sông Nam Giản, cho quân từ hạ lưu khiêu chiến; quân
Tông không có kỹ luật, bị đánh dập, quân trấn Kinh Bắc cùng đánh đuổi, nên bại
vong; quân 2 trấn đốt 3 tổng, lấy sản vật gia súc đem về.
Nguyễn Văn Vân bắt được
ba người con của Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc là Thanh, Hán và Dũng đem nộp, sai giết
cả.
Chở 15.000 phương gạo từ
Kinh đô đến Tam Quan [huyện Hoài Nhơn, Bình Định], 40.000 phương gạo ở Gia Định
đến Thị Nại [thành phố Qui Nhơn, Bình Định]. Lại sắc cho Lưu trấn thần Gia Định
sai người đi mua 500 xe thóc ở Xiêm La và thu ở Chân Lạp 1.000 xe để cấp cho
quân.
Bộ binh của Lê Văn Duyệt
và Lê Chất tiến đến núi Bích Kê; thủy binh của Phan Văn Triệu và Phan Tiến
Hoàng từ Đạm Thủy [huyện Phù Mỹ, Bình Định] tiến theo đường bộ; quân địch nghe
hơi bỏ chạy, không ai dám chống.
Quân nhà Nguyễn lấy lại
thành Bình Định. Trước kia bọn tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng đem
vài vạn quân cầm cự đến 8,9 tháng, nay lương thực hết, sức mòn; quân Nguyễn
chia ba đạo tiến đánh, thế càng ngày càng cùng quẫn. Diệu, Dũng mưu tính theo
đường thượng đạo rút ra Nghệ An, bèn sai bộ hạ là bọn Từ Văn Chiêu, Nguyễn Văn
Mân, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Văn Điểm, Lê Văn Hưng làm tiên phong đêm quân mạnh
3.000 người, voi đực 86 thớt, ban đêm bỏ thành trốn đi. Nguyễn Văn Thành dò biết
tình trạng, truyền hịch cho quân các đạo đuổi theo, nhưng không kịp, bèn tâu
lên. Vương mừng lắm; hạ lệnh cho các xứ Quảng Nam và Cam Lộ [huyện Cam Lộ, Quảng
Trị] phái quân đóng giữ các đầu nguồn để chặn đường, lại gửi thư cho
Xiêm La, Vạn Tượng biết.
Lê Văn Duyệt bắt được Đại
đô đốc Tây là Trần Đại Cựu giải về kinh.; Vương tha và gọi đến hỏi rằng:
“Dư đảng của giặc Diệu
hãy còn nhiều, cớ sao không đánh mà chạy ?”.
Thưa rằng:
“Quân của Diệu ngoài tuy
mạnh, nhưng trong thì yếu, nên phải nhổ trại trốn đi, để cầu trộm sống, không
có mưu chước gì khác”.
Vương cho là phải,
bèn ban cho áo mặc. Quân Nguyễn bắt được tướng địch rất nhiều, đều tha tội cả,
sai Lê Đình Chính trông nom, nhưng những kẻ bị bắt vẫn lo sợ về tương lai;
Vương biết ý, dụ Nguyễn Văn Khiêm rằng:
“Bọn Trần Đại Cựu
trước làm tướng giặc, nay làm bầy tôi của ta. Ta suy lòng thành mà đãi, thương
yêu không phân cách gì. Ngươi nên yên ủi vỗ về, cho họ yên lòng”.
Rồi lựa kẻ đầu hàng
bổ vào quân Túc trực, ngày đêm quây quần, những người ngờ sợ bèn yên.
Ngày Canh Dần 20
[21/4/1802], đúc năm quả ấn:
- “Thảo tội an dân chi bảo”
(dùng để sai tướng ra quân).
- “Sắc chinh vạn dân chi
bảo” (dùng để sức răn thần dân).
- “Mạnh đức chi bảo”
(dùng về việc thăng thụ các hoàng thân đại thần từ tước công trở lên).
- “Chế cáo chi bảo” (dùng
về việc thăng thụ từ tước hầu trở xuống).
- “Quốc gia tín bảo”
(dùng làm việc thường).
Hạ lệnh cho các đạo quân
thủy bộ ở Bình Định rút về; để Nguyễn Văn Thành đóng giữ đất ấy, với nhiệm
vụ chiêu tập vỗ về cư dân, truy bắt dư đảng.
Lấy Khâm sai thống binh
cai cơ đạo Hưng Phước là Lê Văn Lân làm Lưu thủ Bình Định, cải bổ Cai bạ Quảng
Nam là Nguyễn Văn Khiêm làm Cai bạ Bình Định, Cai bạ Quảng Trị là Ngô Triều Cao
làm Ký lục Bình Định. Vương dụ rằng:
“Đất này trải binh cách
đã lâu, sức dân hao mòn, bọn ngươi nên tuyên dương đức ý, ra sức vỗ về, khiến
cho kẻ ốm lâu ấy được hồi lại nghỉ ngơi, mới khỏi phụ sự ủy thác”.
Sai Hoàng Viết Toản, Trịnh
Ngọc Trí, Tôn Thất Liêm đi Gia Định, rước quốc mẫu [mẹ Vương] về Kinh. Nhân dịp
giảm sưu thuế cho dân Gia Định; Vương dụ rằng:
“Từ khi vận nước nửa chừng
suy đốn, Tây Sơn nổi loạn, ta rước quốc mẫu về Gia Định, tôi dân miền ấy không
ai là không cùng lòng tôn kính. May được ngày nay khôi phục đất cũ, ta rước từ
giá (1) về Kinh, nên đặc biệt thi ân điển này cho thoả lòng dân mong
đợi. Vậy hạ lệnh phàm thuế sai dư và các hạng sưu... đều giảm một phần ba”.
Tháng 4 [2/5-30/5/1802],
sửa đắp hoàng thành, định các điều cấm trong ngoài kinh thành.
Lê Văn Duyệt, Lê Chất,
Nguyễn Huỳnh Đức, Phạm Văn Nhân từ Bình Định về yết kiến; Vương yên ủi rồi ban
cho áo mũ.
Vương sắp cử đại quân Bắc
phạt, sai Nguyễn Văn Trương và Tống Phước Lương sửa soạn thuyền ghe, Lại bộ Trần
Văn Trạc và Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế kiểm kê số lương thực khí giới. Lại sai Nguyễn
Huỳnh Đức thao duyệt thuyền đi biển, Lê Văn Duyệt lựa chọn voi chiến.
Vương cùng bầy tôi bàn về
danh nghĩa dụng binh Bắc phạt, bảo rằng:
“Bắc Hà là nước cũ của
nhà Lê, từ khi liệt thánh ta xây dựng cơ nghiệp ở miền Nam, hơn 200 năm vẫn
theo chính sóc (2) nhà Lê. Gần đây Tây Sơn trộm quyền, ta phải lo dụng
binh chỉ là để phục thù, mà thôi. Nay bờ cõi cũ đã được khôi phục, mà đầu sỏ giặc
lại trốn ra Bắc, nếu ta cử binh Bắc phạt thì sau khi bắt được tội nhân rồi đối
với nhà Lê sẽ thế nào ?”.
Bọn Đặng Đức Siêu
và Trần Văn Trạc đều tâu rằng:
“Từ khi vua Lê chạy sang
nước Thanh, đi không thấy trở lại, đất Bắc Hà đã lọt vào tay giặc Tây Sơn rồi.
Huống chi từ khi quân nhà vua lấy lại đô cũ tới nay, những tôi dân nhà Lê không
một người nào ứng nghĩa để đánh giặc, nhà Lê không dấy lại được đã có thể biết
rõ rồi. Nay ta diệt được giặc Tây Sơn, chiếm được đất đai, đó là ta lấy ở giặc
Tây Sơn chứ không phải lấy ở nhà Lê. Công việc xong rồi, thì sẽ xử trí. Duy việc
cất quân thì quý ở có danh nghĩa, mà đội quân ứng mệnh trời thuận lòng người
thì trước phải đổi chính sóc. Nay ta đánh miền Bắc mà còn vẫn dùng niên hiệu
nhà Lê, thực e người Bắc bảo ta mượn tiếng phù Lê, chi bằng cứ chính đế vị, đổi
niên hiệu, tỏ bày đại nghĩa với thiên hạ, như thế thì được nước là chính đáng,
không ai dị nghị được”.
Vương nói:
“Đó là việc lớn, bọn
khanh nên nghĩ kỹ xem”.
Rồi bầy tôi dâng biểu xin
Nguyễn Vương lên ngôi Vua và đổi niên hiệu, đại lược như sau:
“Trời sinh dân chúng, cần
có người coi giữ chăn nuôi, cho nên nghĩa kinh Xuân Thu (3) lấy nhất
thống làm lớn. Nhà nước ta gây nền vương nghiệp, thần truyền thánh nối hơn 200
năm. Giữa chừng vận nhà Lê suy, quyền họ Trịnh nắm, gây nên binh biến mà lấn bờ
cõi của ta, rồi tiếp đến giặc Tây Sơn nổi loạn, thôn tính đất đai, thiên hạ
không yên. Vương thượng ta chí mưu khôi phục, khó nhọc hơn hai mươi năm, dẹp
yên tiếm nghịch, quân đi tới đâu người đều hướng theo, dẫu các vua hiền trung
hưng ngày xưa cũng chẳng hơn thế. Nếu cứ dùng theo hiệu cũ Cảnh Hưng nhà Lê thì
trong ngoài bỡ ngỡ không biết hướng về đâu. Bằng nay không sớm chính vị hiệu
thì sợ không lấy gì giữ vững lòng người. Cúi xin vương thượng nghĩ việc rạng rỡ
công liệt của tổ tiên và hết đạo hiếu của con cháu, trên vâng ý trời, dưới theo
lòng dân, sớm lên ngôi tôn, xuống chiếu đổi niên hiệu cho hợp lòng tôn kính của
thần dân, để bền nghiệp vô cùng cho miếu xã”.
Vua dụ rằng:
“Thành Gia Định vừa lấy lại,
đã lên ngôi vương là vì lòng người tôn kính lâu rồi. Nay kinh đô cũ dẫu mới
khôi phục, mà giặc nước chửa trừ xong, việc lên ngôi tôn chưa thể bàn được. Duy
vương giả đổi họ chịu mệnh, nghĩa cần đổi mới, năm phải có hiệu, cho nên đổi
niên hiệu là phải. Bọn khanh nên bàn mà làm”.
Nguyễn Văn Thành dâng sớ
nói:
“Thần nghe các thánh
vương đời xưa giết trừ kẻ bạo loạn, bạo loạn đã trừ thì có thể làm chính
trị kế tiếp lâu dài được. Nay nước nhà dựng lại, mọi việc bắt đầu, những chế độ
về quan lại, lễ nghi và hình luật đều là việc đầu tiên của chính trị. Xin sắc
cho bầy tôi tìm tòi điển cũ, châm chước bàn bạc để thi hành....”
Vương khen lời ấy là phải.
Ngày Canh Ngọ mồng 1
tháng 5 [31/5/1802] , lập đàn ở đồng An Ninh [huyện Hương Trà, Thừa Thiên] hợp
tế trời đất, cáo về việc đặt niên hiệu Gia Long; rồi ban chiếu rằng :
“Ta nghe kinh Xuân thu trọng
nghĩa nhất thống là để chính danh nghĩa khi mở đầu. Từ Tiên Thái vương ta dựng
nền ở miền Nam, thần truyền thánh nối đã 200 năm. Gần đây Tây Sơn nổi loạn, vận
nhà Lê đã hết, hơn vài mươi năm trong nước không có chính thống. Ta phải xiêu dạt
một nơi, rất lo nghĩ về miếu xã và sinh dân. Nằm gai nếm mật, mong sao cho được
yên vui. Năm Canh Tý [5/2/1780-23/1/1781] ta mới ở thành Gia Định, được
các tướng sĩ suy tôn, đã lên ngôi Vương để giữ lòng người. Duy đô cũ chưa phục,
nên còn theo niên hiệu cũ. Nay ơn trời giúp đỡ, các thánh để phước, bờ cõi cũ
đã lấy lại, cơ nghiệp xưa đã trở về, các quan văn võ tại triều dâng sớ chương
khuyên ta lên ngôi Hoàng đế và đổi niên hiệu. Nhưng ta nghĩ rằng giống giặc
chưa trừ xong, đất nước chưa thống nhất, không nên vội lên ngôi tôn. Duy cứ
theo niên hiệu đã qua mà thi hành những lệnh đổi mới thì không phải là nêu rõ
được khuôn phép. Vậy nên chuẩn lời xin đặt niên hiệu mới, định lấy ngày mồng 1
tháng 5 năm nay [31/5/1802] kính cáo trời đất, ngày hôm sau kính
cáo liệt thánh, chép niên hiệu là Gia Long, để thống nhất kỷ cương, làm mới tai
mắt. Vậy xuống 6 điều ân điển :
1. Những số tiền thóc thuế
nhà nước còn lưu khiếm ở dân từ tháng 12 năm Tân Dậu [4/1-2/2/1802] trở
về trước đều tha cả.
2. Lệnh xá đến ngày nào
thì số tiền thóc nhà nước các nha còn thiếu đều tha cả.
3. Những tù hiện đương bị
giam, không kể đã xử án hay chưa xử án, đều được tha hết, duy kẻ giết người và
kẻ đầu đảng kẻ cướp thì không tha.
4. Phàm số tiền thuế sai
dư của các dân chính hộ, khách hộ, biệt nạp và các sắc thuộc quân từ năm Quý Hợi [23/1/1803-10/2/1804] trở
về sau, thì cho giảm 2 phần 10.
5 - 6. Các hạng thóc đồn
điền, lĩnh láng, lĩnh thâm, dầu rái, than gỗ, sáp ong, vải trắng, dầu lạc, nhựa
trám, buồm lá và hết thảy các thứ thuế vặt, từ năm Quý Hợi [23/1/1803-10/2/1804] trở
về sau, đều được giảm 2 phần 10.
Ôi ! Hiệu lớn ban ra, đã
cùng thiên hạ mà đổi mới ; đổi mà giữ tín, để giữ cơ đồ khó chuyển lay”.
Từ nay những cáo dụ mệnh
lệnh đều dùng chữ chiếu, trong ngoài dâng chương sớ đều dùng chữ tấu;
các chương sớ đều phải tuyên đọc ở trước mặt Vua, đợi được chuẩn y mới
thi hành.
Ban ấn cho Quốc thúc quận
công Tôn Thất Thăng (ấn khắc chữ triện “Quốc thúc chi ấn”).
Phong Nguyễn Huỳnh Đức,
Nguyễn Văn Nhân, Phạm Văn Nhân tước Quận công. Cho Đô thống chế Tả dinh quân Thần
sách Lê Văn Duyệt làm Khâm sai chưởng Tả quân bình Tây tướng quân; cho Lê Chất
làm Khâm sai chưởng Hậu quân bình Tây tướng quân.
Năm ngoái Vua Gia Long
sai Triệu Đại Nhiệm sang nhà Thanh dâng thư cảm ơn nước này cứu giúp thuyền bị
bão; nay trở về, Vua vời đến hỏi tình hình.
Hai năm về trước nước
Chân Lạp sai Cao La Hâm Sâm mang 5.000 quân giúp đánh Tây Sơn; Sâm ngầm gửi thư
liên lạc với tướng Trần Quang Diệu, Vua biết nhưng vẫn để yên; đến đây cho 30 lạng
vàng, 300 lạng bạc, 3.000 quan tiền yên ủi, bảo về.
Nguồn Quang Hóa [Tây
Ninh] sản nhiều gỗ, mỗi khi đóng thuyền, thường sai dân đội Mộc đĩnh đi tìm đem
nộp, lên xuống khe suối, sức người rất khó nhọc; Vua hạ lệnh lấy trâu làm thay,
phát ra 3.000 quan tiền mua 300 con trâu để kéo, dân khen là tiện.
Vua cùng bầy tôi bàn việc
thông sứ với nhà Thanh, bèn dụ rằng :
“Nước ta tuy cũ nhưng mệnh
đã đổi mới. Nghĩa lớn phục thù, người Thanh còn chưa hiểu rõ. Gần đây thủy binh
ta bị bão, người Thanh hậu đãi cho về, ta chưa có gì đáp lại. Nay bắt được ấn
sách của giặc Tây Sơn là do nhà Thanh phong cho, bắt được giặc biển, cũng là giặc
trốn của nhà Thanh, ta có thể sai người đưa sang trả trước và đem việc Bắc phạt
báo cho họ, đợi khi bình định được Bắc Hà sẽ nối lại việc bang giao cũ thì khéo
hơn. Các khanh nên chọn người có thể sai đi được”.
Quần thần đều cử Trịnh
Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn. Bèn cử Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư
bộ Hộ sung Chánh sứ, Ngô Nhân Tĩnh làm Hữu tham tri bộ Binh, Hoàng Ngọc Uẩn làm
Hữu tham tri bộ Hình sung chức Phó sứ; đem quốc thư và phẩm vật sang nhà Thanh,
lại đem cả ấn sách đã bắt được do nhà Thanh phong cho Tây Sơn, cùng bọn giặc biển
là Mạc Quang Phù, Lương Văn Canh, Phàn Văn Tài. Dùng hai thuyền Bạch yến và Huyền
hạc, vượt biển đến cửa Hổ Môn tỉnh Quảng Đông để nộp, Tổng đốc Lưỡng Quảng Cát
Khánh đem việc ấy chuyển đạt. Vua Thanh vốn ghét Tây Sơn vô đạo, lại chiêu nạp
bọn Mạc Quang Phù cho cướp bóc ở ngoài biên, đã lâu ngăn trở đường biển, đến
nay được tin báo, rất vui lòng. Hạ lệnh cho Quảng Đông nhận lấy bọn Quang Phù,
Văn Canh, Văn Tài đem giết; lưu bọn Hoài Đức ở lại tỉnh thành, cung cấp rất hậu.
Phái đoàn Trịnh Hoài Đức
đến Trung Quốc vào tháng 8, tức 3 tháng sau đó. Sự việc do Thanh Thực Lục thuật
lại tương tự như sử Việt; riêng Vua Gia Khánh hài tội Vua Tây Sơn Nguyễn Quang
Toản, và cho biết nếu y chạy đến quan ải hoặc bị phía nhà Nguyễn giải giao, sẽ
bắt đem giam:
“Ngày 6 tháng 8 năm Gia
Khánh thứ 7 [2/9/1802]. Lại dụ các Quân Cơ Đại thần;Cát Khánh tấu rằng:
‘Nông Nại sai Sứ
dâng biểu tiến cống, trói giải giao 3 phạm nhân là bọn Mạc Quan Phù; bèn đưa ra
chính pháp [xử tử] tại Lưỡng Quảng.v.v..’
Đã xem kỹ tờ tấu; đầu
đuôi liên quan đến việc trước đây bọn Nguyễn Quang Bình hết sức khẩn khoản cung
kính tại quan ải, cầu xin nội phụ. Hoàng khảo ta xét rõ lòng thành, bèn phong
tước. Nguyễn Quang Bình cảm khích ân vinh, đích thân đến kinh khuyết chiêm cận.
Hoàng khảo ta tăng thêm ân, nhiều lần ban thưởng. Nguyên do Nguyễn Quang Bình
biết khắc kỷ kính sợ, mới được đón nhận sự đãi ngộ. Đến lúc Nguyễn Quang Toản kế
thừa đất Nam Giao, lại được ban sắc mệnh, để nối đời giữ chức. Rồi mấy năm gần
đây phát hiện trong số các thuyền cướp phá tại vùng biển Phúc Kiến, Lưỡng Quảng,
thỉnh thoảng có bọn hải tặc tóc dài; nghe rằng nước này [nhà Tây Sơn] tung
ra biển cướp. Trẫm chưa vội tin, nghĩ rằng bọn tóc dài có thể là những người
nghèo tại An Nam gia nhập vào đảng cướp; nên đã giáng chỉ ra lệnh cho nước này
truy nã, nhưng chưa bắt và dâng hiến được một tên nào!
Nay Nguyễn Phúc Ánh cho
trói giải giao bọn Mạc Quan Phù 3 tên, lấy cung từ đều xưng bọn chúng là trộm
cướp nội địa [Trung Quốc], bị nước này chiêu dụ, phong cho các ngụy
chức như Đông Hải vương, Tổng binh v.v..và ra lệnh đến biển nội địa cướp phá
khách thương. Nguyễn Quang Toản không những không chịu tuân chỉ truy nã bọn cướp,
mà lại còn dung nạp chúng, ban chức tước, cướp phá vùng biển, bội nghĩa vong ân
đến như vậy là cùng! Còn như sắc thư ấn tín do Thiên triều ban cho, danh khí tối
quan trọng, phải hết sức kính cẩn giữ gìn, mất còn cùng với nước. Cớ sao Nguyễn
Quang Toản không biết thận trọng, khi Nguyễn Phúc Ánh tấn công thành Phú Xuân
năm ngoái, bèn bỏ sắc ấn chạy trốn, tội không thể tránh được.
Riêng việc Sứ thần của
Nguyễn Phúc Ánh đến, Cát Khánh nên dụ như sau:
‘Những tình tiết mà
Quốc trưởng ngươi cung kính trình bày trong biểu văn đã được trình tấu, mong đại
Hoàng đế ngó xuống thấy được lòng thành cung thuận của nước ngươi, để ban thưởng
nhiều. Trước đây Nguyễn Quang Bình xưng thần thờ Thiên triều, được Tiên Hoàng đế
ban sắc mệnh, đặc cách gia ân. Rồi con y, Nguyễn Quang Toản, dám dung dưỡng bọn
tội phạm nội địa, thông đồng cướp phá, táng tận bội ân, thực lẽ trời không
dung, nên cơ nghiệp mất nhanh không kịp quay gót. Nay bỏ nước chạy trốn, ngay cả
sắc ấn Thiên triều ban cho cũng không giữ được; vậy Nguyễn Quang Toản không những
riêng phụ lòng nhân từ rộng lượng của Tiên Đại Hoàng đế, mà cũng là đứa con bất
hiếu của Nguyễn Quang Bình, tội lỗi y thật lớn lao.
Quốc trưởng ngươi cho
mang sắc ấn giao nạp, trói hiến bọn đạo tặc, biết sâu đạo nghĩa thờ nước lớn; lại
tiến dâng biểu chương, thấy đủ lòng chí thành. Nhưng Thiên triều mỗi lần thấy
thuyền bè các nước bị nạn, đều được đối xử chung một lòng nhân, tư cấp tống hồi,
không vì lý do đó mà phải nạp cống. Vả lại Quốc trưởng ngươi việc nước cũng
chưa ổn định (4), không hoàn bị để được phong làm Phiên thần, xét
theo thể chế còn chưa đáng theo lệ nhận chức cống. Nay cho các ngươi trở về,
cáo tri lại cho Quốc trưởng ngươi hay biết.’
Dụ một cách rõ ràng như vậy
mới đúng cách. Sắc ấn giao nạp, cho Cát Khánh tạm thu nhận.
Tái bút: Trước đây theo lời
tâu của Thanh An Thái, Nguyễn Quang Toản bị Nguyễn Chủng (5) bắt;
Nguyễn Chủng có phải là Nguyễn Phúc Ánh hay không, cũng không thể căn cứ vào lời
nói suông được. Trong tấu triệp ngày hôm nay Cát Khánh tâu rằng Sứ thần Nông Nại
khởi hành trước lúc Nguyễn Quang Toản bị bắt, nên chưa nhận được tin này. Trước
đây có dụ bọn Cát Khánh nếu như Nguyễn Quang Toản mang thuộc hạ đến đầu thuận,
thì cho an trí ổn thỏa. Nay tội trạng y rõ ràng, thực không đáng tiếc. Nếu y đến
gõ cửa quan xin dung nạp, Cát Khánh hãy cho xem sắc ấn Nguyễn Phúc Ánh giao nạp,
cùng cung từ của bọn cướp Mạc Quan Phù; sau khi trách mắng xong, bèn truyền chỉ
cách tước Vương, rồi đem giam cấm, đợi chiếu chỉ định đoạt. Trường hợp Nguyễn
Quang Toản bị Nguyễn Phúc Ánh bắt; nếu Nguyễn Phúc Ánh không dám tự quyết định,
đem y giải giao đến trấn Nam Quan, thì cũng đối xử giống như trên. Còn 3 phạm
nhân, bọn Mạc Quan Phù, chiếu theo luật đại nghịch mà liệu biện; nếu như gia
thuộc phạm nhân có sự liên can, cũng cho tra xét cùng một lần. Lúc này Cát
Khánh đáng tuân theo chỉ dụ trước, đến trấn Nam Quan điều binh phòng thủ, để địa
phương được trấn tĩnh. Đợi lúc Nguyễn Phúc Ánh chiếm được toàn lãnh thổ An Nam,
sai Sứ đến cầu phong, hoặc biết rõ thực trạng về Nguyễn Quang Toản thì hãy tấu
lên rồi đợi chiếu chỉ. Đem dụ này cáo tri để hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục quyển
102, trang 8-11)
Vua sắp cử đại binh Bắc
phạt, truyền hịch dụ quân dân Bắc Hà sáu điều, đại lược như sau:
“Nghĩa lớn kinh Xuân
thu không gì lớn bằng trả thù, mà quân của vương giả thì giết loạn thần là
việc trước hết. Ngẫm từ khi Tây Sơn gây biến, từ Thuận Quảng ra Bắc, nhân dân
khổ sở đã lâu. Ta đây cố chí giết thù là chỉ nghĩ đánh kẻ có tội để cứu dân. Từng
đã định nghiêm quân lệnh, khiến mảy may không được phạm của dân. Thế mà còn sợ
bọn giả danh mạo chữ, ức hiếp binh dân, làm điều phi pháp, nên xuống dụ này. Bọn
ngươi nên dặn bảo nhau, kẻ nào tuân mệnh thì được hậu thưởng, trái mệnh thì giết.
1. Người hào mục mà đánh
được đồn giặc và đón bắt được giặc thì lượng công mà thưởng ; ai có lòng hướng
thuận, đến nơi quân để ứng nghĩa thì tùy tài thu dụng.
2. Người dân mà bắt sống
được giặc Nguyễn Quang Toản thì cho quan chức nhất
phẩm, cấp ruộng 100 mẫu, thuộc binh 100 người ; bắt được các em Quang Toản thì
cho chức quan nhị phẩm, cấp ruộng 50 mẫu, thuộc binh 50 người ; bắt được bọn quận
công đầu sỏ giặc thì cho chức quan tam phẩm, cấp ruộng 30 mẫu, thuộc binh 30
người. Chém chết được cũng thưởng như thế. Nếu lại dung chứa và dẫn đi, biết được
thì sẽ xử theo quân pháp.
3. Người ở Thuận Quảng đều
là con đỏ của triều đình, bị giặc Tây Sơn hiếp bách xua đi thú miền Bắc, họ trốn
ở chỗ nào sở tại đều nên cho ở và nuôi tử tế, dẫn đến nộp ở trước quân, sẽ lượng
gia thưởng. Nếu lại oán mối thảm năm Bính Ngọ [30/1/1786-17/2/1787] (6) bị
giặc giết ở thành Phú Xuân mà tự tiện giết hay đánh bị thương, và nếu ẩn giấu
không giải nộp thì đều xử theo tội nặng.
4. Những sổ sách lương tiền
có ai thu giữ cẩn thận, đợi khi xong việc đem nộp thì tất có trọng thưởng. Nếu
dám đốt phá cướp bóc là phạm quân pháp.
5. Bọn côn đồ vô lại mặc
giả quân nhân tự tiện vào nhà dân cướp bóc thì cho xã dân sở tại bắt giải, nếu
thế lực không thể bắt được thì cho đến cửa quân trình bày để bắt xét trị.
6. Đại binh tới đâu, hào
mục địa phương biết được tình hình hư thực của giặc mà đến trình bày thì có
khen thưởng. Nếu không nói thực và còn dung ẩn bọn giặc thì xử theo quân pháp”.
Cho tổng duyệt các quân
thủy bộ, định rõ tám điều quân chính:
“1. Quan quân mà bắt hay
chém được giặc Nguyễn Quang Toản và những đầu sỏ thì được thưởng như trong lời
hịch trước.
2. Bọn giặc đầu hàng và bị
bắt sống, trước phải gạn hỏi tình hình hư thực của giặc rồi giải đến hành tại
chờ lệnh, không được tự tiện bổ vào quân mình, để khỏi lỡ việc.
3. Đại binh tới đâu mà lấy
lửa làm hiệu thì nên đốt ở nơi rừng rú rộng rãi, nếu đốt càn nhà dân là phạm
quân pháp.
4. Kho tàng sách vở không
được đốt cướp, nếu có thu được giấy tờ của giặc về việc quan trọng thì do thống
tướng tiến lãm, sẽ lượng gia thưởng.
5. Đại binh tiến đi cần
phải mau chóng, người nào ốm không thể đi được thì cho lấy dân ở dọc đường chở
đi giúp, ngoài ra không được quấy nhiễu.
6. Đại binh đóng nghỉ nên
chiếu theo thứ tự ở đồ bản mà đóng đồn trại, không được tự tiện vào nhà dân. Đạo
quân nào lương thực chuyển đến chưa đủ thì cho tạm lấy lương của dân mà phát,
phải lưu phái tích làm bằng để đợi sau chiếu trừ.
7. Hào mục địa phương có
ai thành tâm xin theo giúp việc đều do thống tướng chuyển tâu, tùy việc sai khiến,
không được thiện tiện cấp phát văn bằng và gọi mộ binh lương mà sinh rối tệ.
Duy xã dân có xin chiêu an thì xét thực cấp bằng để khỏi rối động.
8. Các quân đến địa
phương nào, không được cướp bóc của cải, gian dâm phụ nữ, ai phạm thì trị tội nặng”.
Sai Chưởng Trung quân
bình Tây đại tướng quân Nguyễn Văn Trương lãnh thủy binh, Chưởng Tả quân bình
Tây tướng quân Lê Văn Duyệt và Chưởng Hậu quân bình Tây tướng quân Lê Chất lãnh
bộ binh đi trước.
Sai Tham tri Hộ bộ Nguyễn
Hữu Đồng chở gạo lương ra Thanh Hà [huyện Bố Trạch, Quảng Bình] trước để cấp
cho quân.
Sai chọn hai thớt voi ngự
lấy xuyến vàng trang sức.
Ngày Đinh Hợi 18
[17/6/1802], đem việc Bắc phạt kính cáo liệt thánh. Mệnh cho Quốc thúc quận
công Tôn Thất Thăng cùng Đô thống chế dinh Túc trực là Nguyễn Văn Khiêm, và Tả
tham tri Hình bộ là Nguyễn Đăng Hựu ở lại giữ kinh đô.
Ngày Canh Dần 21
[20/6/1802], xa giá phát tự Kinh sư. Hoàng tử thứ tư đi theo. Ngày Nhâm Thìn 23
[22/6/1802], xa giá đến An Lạc [huyện Hướng Hóa, Quảng Trị]. Tên Tứ ở đội Nội hầu
nạt bắt dân đệ trạm, vua nghe tin, lập tức đem chém để rao. Quân Thần võ đi trước
cũng có kẻ phạm tội ấy, bị Cai bạ Trần Văn Tuân hặc. Vua vời Phó tướng Trần
Quang Thái trách rằng :
“Quân đi đã có kỷ luật,
ngươi làm tướng không ngăn cấm được quân lính, tội đáng chết. Nhưng vì mới phạm
lần đầu, hãy tha cho”.
Rồi sai đánh roi đau, do
đó các quân đều nghiêm, không ai dám phạm mảy may của dân.
Ngày Ất Mùi 26
[25/6/1802], đến hành cung Động Hải [Đồng Hới], sai Thủ thần Quảng Bình chia
quân đóng đồn ở các đường hiểm yếu.
Lại sai Tống Phước Lương
đi trước thăm dò tình hình giặc mà báo lên.
Ngày Bính Thân 27
[26/6/1802], đến hành cung Thanh Hà [huyện Bố Trạch, Quảng Bình], phân phái các
tướng :
Sai Đặng Trần Thường đem
quân bản bộ ngầm theo đường thượng đạo đánh úp Hoành Sơn [biên giới Hà Tĩnh, Quảng
Bình] để chặn đường sau lưng giặc ; Nguyễn Văn Trương điều bát thủy binh giã
vào lòng giặc ; Lê Văn Duyệt điều bát bộ binh theo đường trung đạo thẳng tiến,
xông đánh vào trước mặt giặc ; Nguyễn Đức Xuyên đem quân voi do miền đầu nguồn
sang sông Gianh để chờ sai phái; tham quân Thần sách là Nguyễn Trí Hòa lưu giữ
châu Bố Chính ngoại ; Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Hữu Đồng kiểm duyệt các thuyền
chở gạo lương để tiếp tế lương quân.
Thủy binh của Nguyễn Văn
Trương đến cửa Ròn [huyện Quảng Trạch, Quảng Bình], đánh phá được đồn thủy của
giặc, đô đốc giặc là Nguyễn Văn Ngũ và Nguyễn Văn Lục thua chạy. Văn Trương lại
tiến lấy được dinh Hà Trung [huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh].
Bộ binh của Lê Văn Duyệt
thẳng đến đồn Đại Nại [huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh], quân giặc vỡ chạy. Tin thắng
trận báo lên; Vua đốc các quân sang sông Gianh [huyện Bố Trạch, Quảng Bình].
Chú thích:
1.Từ giá: Xa giá của mẹ
Nguyễn Vương.
2.Chính sóc: Chính là
chính nguyệt tức tháng giêng, sóc là ngày mồng một ; vậy chính sóc là lịch. Thời
xưa nhận lịch chính sóc, hàm nghĩa phục tùng Vua cai trị. Trước đây chúa Nguyễn
vẫn nhận lịch chính sóc của Vua Lê, nay các quan xin đổi lịch chính sóc, có
nghĩa Nguyễn Vương sẽ lên làm Vua, không còn lệ thuộc vào nhà Lê nữa.
3.Xuân Thu: Bộ sử của nước
Lỗ, do Khổng Tử biên soạn.
4.Chưa ỗn định: Ý nói lúc
này chưa dẹp xong nhà Tây Sơn, đất nước chưa thống nhất.
5.Nguyễn Chủng: Lời hiệu
triệu của vua Quang Trung gửi cho văn võ quân dân Quảng Ngãi, Qui Nhơn xác nhận
Nguyễn Chủng tức Nguyễn Phúc Ánh “Kể chi cái thằng Chủng hèn nhát; nó đã chạy
trốn đi các nước khốn nạn bên Tây vv..” (Theo Trần Gia Phụng, Nhà Tây Sơn,
nhà xuất bản Non Nước, Toronto, 2005)
6.Mối thảm năm Bính Ngọ
[30/1/1786-17/2/1787]: Chỉ việc Tây Sơn xua quân chiếm kinh thành Huế.
Ngày mồng một tháng 6 năm
Gia Long thứ nhất [30/6/1802] Vua mang đại quân ra Bắc, xa giá dừng ở
dinh Hà Trung [huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh]. Thủy binh tiến vào cửa biển Hội Thống
[huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh] , đánh tan quân Đổng lý Tây Sơn Nguyễn Văn Thận, bắt
được thuyền ghe, súng ống, khí giới, lương hướng rất nhiều. Bộ binh tiến đến
thành Nghệ An, bắt được Nguyễn Lân, con Vua cũ Nguyễn Nhạc.
Thừa thắng, ngày mồng hai
[1/7/1802] đánh đồn Tiên Lý [huyện Diễn Châu, Nghệ An]; viên Đô đốc tên Y đem bộ
khúc đến đầu hàng. Vua nghe tin, giục giã tiến lên; từ Kỳ Anh trở ra, dân đón
đường rước mừng.
Ngày mồng 5 [4/7/1802],
xa giá đến thành Nghệ An dừng lại. Duyệt các thuyền ghe, xét số quân, kiểm
lương thực, đo dặm đường, trong khoảng vài ngày mọi việc đều xong. Bọn Thiếu úy
giặc là Đặng Văn Đằng, Đô đốc là Đào Văn Hổ đem 7 thớt voi đực đến hành tại, lạy
xin đầu hàng. Quân tiền đạo tiến lấy Thanh Hoa, bắt được con Vua Quang Trung là
Đốc trấn Nguyễn Quang Bàn.
Triệu tán lý thượng đạo Đặng
Trần Thường đến hành tại bàn việc binh. Sai Đô thống chế Phan Tiến Hoàng thay
lãnh quân thượng đạo. Trần Thường đến, dâng những tù bắt được, có tên Thất con
Vua Quang Trung, sai đem giết.
Bọn Hoàng Văn Toản rước
xa giá Từ cung [mẹ Vua] từ Gia Định đến kinh thành, sai Phó đội Nội mã là Lê
Văn Đặng đến hành tại tâu báo; Vua rất mừng, sai Sứ về thăm sức khỏe.
Ngày mồng 7 [6/7/1802]
Phó đô thống chế Tả dinh Võ Doãn Văn và Chánh thống Tiền đồn Lê Đức Định
bắt được Thiếu phó Tây Sơn Trần Quang Diệu ở miền thượng đạo Nghệ An. Diệu từ
Quy Nhơn đem đồ đảng chạy trốn, chui rừng lội suối, gặp các sách Man ngăn giữ
thì ra sức đánh gỡ mà qua, trong khoảng vài tháng lương thực cạn hết, quân lính
hao tan. Đến sách Quy Hợp [huyện Hương Khê, Hà Tĩnh], chợt gặp quan quân, tướng
sĩ địch đều mỏi, không thể đánh được, nên Diệu bị bắt. Ngoài ra còn bắt được đồ
đảng là bọn Từ Văn Chiêu, Nguyễn Văn Giáp, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Mân và 76 thớt
voi đực. Tin thắng trận báo lên; Vua sai Lê Văn Duyệt đóng xiềng giam lại, dặn
không được tự tiện giết.
Ngày mồng 9 [8/7,1802], bộ
binh tiến đánh đồn Tam Điệp [thị xã Tam Điệp, Ninh Bình], bọn Tư mã Tây Sơn
Nguyễn Văn Dụng, Nguyễn Văn Tứ chạy trốn.
Ngày mồng 10 [9/7/1802],
bộ binh tiến đánh Thanh Hoa ngoại [Ninh Bình], Đô đốc Tài đầu hàng.
Ngày 12 [11/7/1802]
tiến lấy được Châu Cầu [Phủ Lý, Hà Nam]. Thủy binh của Nguyễn Văn Trương thẳng
tới Vị Hoàng [Nam Định] Sơn Nam hạ. Thủy quân địch là Thống binh Dương Thất
Nguyên, Ngô Tam Đồng lên bộ để chống đánh. Văn Trương vẫy quân giáp đánh, bắt
được; Đô đốc Thọ, Hiệp trấn Xuân nộp thành đầu hàng, sai Văn Trương ở lại trấn
giữ.
Ngày 14 [13/7/1802], xa
giá nhà Vua đến Thanh Hoa, dạo xem hình thế sông núi rồi vời những người già ở
làng Bố Vệ [huyện Đông Sơn, Thanh Hóa] hỏi về sự tích cũ về miếu nhà Lê. Những
người dòng dõi họ Lê tranh nhau đem trâu rượu đến lạy mừng; Vua yên ủi rồi cho
về.
Bọn Phạm Ngọc Phác, Phạm
Ngọc Thụy 19 người là dân làng Ngọ Xá [huyện Nông Cống, Thanh Hóa] bắt được Tư
đồ Võ Văn Dũng và 3 người đồ đảng, giải đến hành tại; sai đóng xiềng giam lại.
Hoãn binh dịch tô thuế
cho Thanh Hoa, ban chiếu rằng :
“Thanh Hoa là ấp thang mộc (1) của
trẫm. Trước vì Tây Sơn tàn ngược, thuế nhiều dịch nặng, dân phần nhiều xiêu dạt.
Nay mới khôi phục, nghĩ đất căn bản cần phải vỗ về nuôi nấng trước, nên đặc biệt
chuẩn cho phàm binh dao tô thuế đều hoãn, gọi dân trở về để đều yên nghiệp làm
ăn, cùng nhau hưởng phước thái bình”.
Ngày 16 [17/7/1802], Vua
Tây Sơn Nguyễn Quang Toản đến sông Xương Giang [sông Thương, Bắc Giang],
đêm trú ở chùa Thọ Xương. Sau đó dân trong thôn bắt được Quang Toản cùng với bộ
hạ Thái tể Quang Duy, Nguyên soái Quang Thiệu, Tư mã Nguyễn Văn Dụng,
Nguyễn Văn Tứ, rồi đem giải nộp; riêng con thứ Vua Quang Trung là Quang
Thùy thì thắt cổ chết.
Trước đó vào ngày 15
[14/7/1802], Nguyễn Quang Toản sai em là Nguyễn Quang Thùy cùng Tư Mã Tứ đem
quân vượt sông Hồng qua Kinh Bắc, sửa cung phủ, làm cầu phao tại sông Cầu và
sông Thương, lấy đường đi Lạng Giang. Kế hoạch chưa thực hiện được, thì ngày 16
[15/7/1802] Quang Toản cùng em là Quang Thiệu phải đội mưa rời thành Thăng
Long; tháp tùng có Tư mã Dụng đem quân Vũ Lâm, Đô đốc Di đem quân Dực Lâm, đều
cầm gươm vàng, kích bạc. Tại trấn Kinh Bắc, nghe nói quân tiên phong nhà Nguyễn
đã vào thành Thăng Long, bọn hào mục nỗi lên đón đánh, lòng quân lìa tan. Đến
Thọ Xương cầu bị dân phá, Quang Toản ngó nhìn tả hữu than rằng:
“Lũ ngươi ngày thường
tuyên dương đức hóa, không biết làm được việc gì, mà để nhân tình như thế!”
Bèn cửi voi sang sông,
người đi theo chỉ còn vài trăm.
Bấy giờ tại làng Phương Độ
[huyện Gia Bình, Bắc Ninh] có viên lái đò tên Điền, thấy thuyền Quang Toản có
nhiều ngọc vàng châu báu. Bèn làm đắm thuyền giữa dòng. Sau đó cho mò lấy châu
báu, trở nên giàu có; lúc chết vợ quyên tiền làm Hậu thần ở làng Phượng Độ.
Quang Toản và Quang Thiệu
chạy đến Lạng Giang, đình Phương Lan; các viên Cai tổng Vũ Thám, Trần Huy Dao
đem dân chúng 2 huyện Phượng Nhãn [Bắc Giang], Lục Ngạn [Bắc Giang] đến vây
nhưng không bắt được. Chợt thấy đại quân đến, tướng sĩ Tây Sơn sợ quá, tản mác
tan chạy; Quang Toản và Quang Thiệu cửi voi trốn vào rừng. Lúc đó có tên điên ở
chợ (thị cuồng) hét voi dừng lại; Cai tổng Thám sấn vào bắt được Toản và Thiệu
nạp cho đại quân. Vợ Quang Toản là Lê Thị Ngọc Bình [黎氏玉坪]
được đưa vào cung. Bọn Cai tổng Thám, Huy Dao dâng tù, binh khí và của báu; đều
được ban thưởng. Tên điên ở chợ, trước ngụ tại chợ Thượng cùng vài chục người
ăn xin, sớm tối đánh kẻng cầm canh; bây giờ được thưởng 3 mẫu ruộng, nêu tên là
trung nghĩa.
Riêng Nguyễn Quang Thùy
thấy đất Trụ Hữu thuộc huyện Bảo Lộc [huyện Lạng Giang, Bắc Giang] núi sông hiểm
trở, định đến đấy để cố thủ. Hào mục Bảo Lộc đốc suất quân dân đánh đuổi, đến cầu
Quất Lâm thấy sự thế nguy cấp không thể cứu vãn được, Quang Thùy bèn giết vợ rồi
thắt cổ tự tử. Hào mục là bọn Trần Huy Dao, lấy đầu dâng đại quân, bèn bêu lên ở
phố Hàng Gà.
Ngày 17
[16/7/1802], xa giá nhà Vua đến trấn Thanh Hoa ngoại [Ninh Bình], phát tiền kho
chia cho các quân, sai Phạm Văn Nhân ở lại trấn giữ.
Ngày 18 [17/7/1802], xa
giá đến trấn Sơn Nam thượng [ Hà Nam], Đô đốc Tây Sơn Lê Văn Hòa, Hiệp trấn là
Tín đến quân thứ đầu hàng. Sai phó tướng Tả quân là Nguyễn Đình Đắc ở lại trấn
giữ. Cùng ngày Lê Văn Duyệt xua quân từ Sơn Nam Thượng tiến đến thành Thăng
Long, các đồn huyện đều sợ oai trốn chạy, nên gươm không phải dính máu. Quan tướng
Tây Sơn bọn Tư mã Tứ, Đốc trấn Bàn, Đổng lý Thận, Đô hộ [quan phụ trách việc hộ]
Giáp, Thống tướng Đức đều bị bắt; giao cho ngục lại giam giữ.
Ngày 21 [20/7/1802], xa
giá đến thành Thăng Long. Vua ngự tại điện Kính Thiên do nhà Lê dựng; xuống chiếu
dụ dân Bắc Hà rằng :
“Từ khi giặc Tây Sơn nổi
loạn, nhân dân lầm than đã lâu. Trẫm nay vâng làm lệnh phạt của trời, trên để
trả thù cho tổ tiên đất nước, dưới để cởi bỏ đau khổ cho nhân dân. Nay đại binh
tới đâu, chỉ giết những giặc đầu sỏ, còn người nào bị ép phải theo thì đều tha,
nên cứ ở yên như cũ. Những kẻ có nhận quan chức của giặc ra thú thì được miễn tội,
gần thì hạn 3 ngày, xa thì hạn 5 ngày. Nếu quá hạn mà không ra thú, bị người ta
bắt được thì làm tội. Những tàn quân của giặc mang theo binh khí trốn về thì lập
tức phải đến cửa quân trao nộp, nếu cất giấu thì xử theo quân pháp”.
Lê Văn Phong đem quân
Tiên phong đến Lạng Sơn, Trấn thủ là Hoàng Văn Kim và Hiệp trấn là Trương
Luyện nộp thành đầu hàng. Giữ Trương Luyện theo làm việc văn thư; đem công việc
dẹp Tây Sơn báo với quan chức nhà Thanh tại ải Nam Quan.
Có hơn 10 chiếc thuyền hiệu
chữ Gia của thủy quân từ cửa Eo [Thuận An, Thừa Thiên] ra khơi gặp bão lạc mất.
Vua nói :
“Các tướng sĩ theo
ta khó nhọc, không may gặp phải tai nạn gió bão như thế, ta rất thương. Vậy nên hạ
lệnh cho khổn thần (2) ở Lạng Sơn gửi thư sang nước Thanh hỏi dò tin
tức”.
Dẹp yên Tây Sơn; lấy hết
đất An Nam từ miền bắc Trung Phần trở ra, tất cả gồm 14 trấn, 47 phủ, 187 huyện,
40 châu, liệt kê như sau:
|
Trấn, Thành |
Phủ |
Huyện, Châu |
|
1. Trấn Nghệ An |
9 phủ: Đức Quang, Diễn Châu, Hà Hoa, Anh Đô, Trà Lân, Quỳ Châu, Trấn Ninh, Lâm An, Ngọc
Ma. |
18 huyện: Hương Sơn, Nghi Xuân, Thanh Chương, La Sơn, Chân Lộc,
Thiên Lộc, Đông Thành, Quỳnh Lưu, Kỳ Hoa, Thạch Hà, Nam Đường, Hưng Nguyên,
Tương Dương, Vĩnh Hòa, Hội Nguyên, Kỳ Sơn, Thúy Vân, Trung Sơn. |
|
2. Trấn Thanh Hoa |
4 phủ: Hà Trung, Tĩnh Gia, Thanh Đô, Thiệu Thiên |
16 huyện: Tống Sơn, Hoằng Hóa, Phong Lộc, Nga Sơn, Nông Cống, Ngọc
Sơn, Quảng Xương, Thọ Xuân, Đông Sơn, Yên Định, Quảng Bình, Thạch Thành, Cẩm
Thủy, Vĩnh Lộc, Lôi Dương, Thụy Nguyên. 3 châu: Quan Da, Lang Chánh, Tàm. |
|
3. Trấn Thanh Hoa ngoại |
2 phủ: Trường Yên, Thiên Quan. |
6 huyện: Yên Khang, Yên Mô, Gia Viễn, Yên Hóa, Phụng Hóa, Lạc Thổ |
|
4. Trấn Sơn Nam thượng |
4 phủ: Thường Tín, Ứng Thiên, Khoái Châu, Lỵ Nhân. |
17 huyện: Thanh Trì, Thượng Phước, Phú Xuyên, Thanh Oai, Chương Đức,
Sơn Minh, Hoài An, Đông Yên, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Dung, Thiên Thi, Kim Bảng,
Duy Tiên, Nam Xang, Bình Lục, Thanh Liêm. |
|
5Trấn Sơn Nam hạ |
5 phủ: Thiên Trường, Tiên Hưng, Thái Ninh, Kiến Xương, Nghĩa Hưng |
19 huyện: Mỹ Lộc, Thượng Nguyên, Nam Chân, Giao Thủy, Thần Khê,
Ngự Thiên, Thanh Quan, Diên Hà, Đông Quan, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Thụy Anh, Thư
Trì, Vũ Tiên, Chân Định, Thiên Bản, ý Yên, Đại An, Vọng Doanh. |
|
6.Trấn Kinh Bắc |
4 phủ: Thuận An, Từ Sơn, Lạng Giang, Bắc Hà |
20 huyện: Gia Lâm, Văn Giang, Gia Định, Siêu Loại, Lang Tài, Đông
Ngàn, Yên Phong, Tiên Du, Quế Dương, Võ Giàng, Yên Dũng, Yên Thế, Bảo Lộc,
Phượng Nhãn, Lục Ngạn, Hữu Lũng, Kim Hoa, Yên Việt, Hiệp Hòa, Thiên Phước. |
|
7. Trấn Hải Dương |
4 phủ: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn |
18 huyện: Đường An, Đường Hào, Cẩm Giàng, Thanh Miện, Gia Lộc,
Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Thanh Lâm, Thanh Hà, Tiên Minh, Chí Linh, Kim Thành, Giáp
Sơn, Đông Triều, Thủy Đường, An Lão, An Dương, Nghi Dương. |
|
8.Trấn Sơn Tây |
5 phủ: Quốc Oai, Tam Đới, Quảng Oai, Lâm Thao, Đoan Hùng. |
24 huyện: Từ Liêm, Yên Sơn, Đan Phượng, Thạch Thất, Mỹ Lương, Yên
Lạc, Yên Lãng, Bạch Hạc, Phù Khang, Lập Thạch, Tiên Phong, Phước Lộc, Minh
Nghĩa, Bất Bạt, Sơn Vi, Hạ Hoa, Thanh Ba, Hoa Khê, Tam Nông, Sơn Dương, Tam
Dương, Đông Quan, Tây Quan, Đương Đạo. |
|
9:Trấn Tuyên Quang. |
1 phủ: Yên Bình. |
1 huyện: Phước Yên. 5 châu: Đại Man, Thu Vật, Vị Xuyên, Bảo Lạc, Lục Yên. |
|
10.Trấn Hưng Hóa |
3 phủ: Quy Hóa, Gia Hưng, An Tây |
4 huyện: Văn Chấn, Yên Lập, Trấn Yên, Thanh Xuyên. 16 châu: Thủy Vĩ, Văn Bàn,Sơn La, Thuận Châu, Tuần Giáo,
Mai Sơn, Việt Châu, Ninh Biên, Mộc Châu, Đà Bắc, Mai Châu, Phù Hoa, Chiêu Tấn,
Luân Châu, Lai Châu, Quỳnh Nhai. |
|
11.Trấn Cao Bằng |
1 phủ: Cao Bằng |
4 châu: Thạch Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang. |
|
12.Trấn Lạng Sơn |
phủ: Trường Khánh |
7 châu: Văn Quan, Thất Tuyền, Văn Uyên, An Bắc, Lộc Bình, Thoát
Lãng, Ôn Châu |
|
13.Trấn Thái Nguyên |
2 phủ: Phú Bình, Thông Hóa |
9 huyện Tư Nông, Bình Tuyền, Phổ An, Động Hỉ, Phú Lương, Đại Từ,
Văn Lãng, Võ Nhai, Cảm Hóa. 2 châu: Định Hóa, Bạch Thông. |
|
14.Trấn Quảng Yên |
1 phủ: Hải Đông |
3 huyện: Hoành Bồ, Yên Hưng, Hoa Phong. 3 châu: Vạn Ninh, Tiên Yên, Vân Đồn. |
|
Thành: Bắc Thành |
1 phủ: Phụng Thiên |
2 huyện: Thọ Xương, Quảng Đức. |
Sau đó cho đổi tên một
số phủ, châu, huyện như sau:
|
Tên cũ |
Tên mới |
|
Đức Quang |
Đức Thọ |
|
Hà Hoa |
Hà Thanh |
|
Anh Đô |
Anh Sơn |
|
Trà Lân |
Tương Dương |
|
Lâm An |
Trấn Tĩnh |
|
Ngọc Ma |
Trấn Định |
|
Kỳ Hoa |
Kỳ Anh |
|
Trung Sơn |
Quế Phong |
|
Thanh Đô |
Thọ Xuân |
|
Thiệu Thiên |
Thiệu Hóa |
|
Phong Lộc |
Hậu Lộc |
|
Quảng Bình |
Quảng Địa |
|
Thọ Xuân và Lang Chính |
Lang Chánh |
|
Tầm Châu và Quan Da |
Quan Hóa |
|
Trường Yên |
Yên Khánh |
|
Phụng Thiên |
Hoài Đức |
|
Quảng Đức |
Vĩnh Thuận |
|
Ứng Thiên |
Ứng Hòa |
|
Lỵ Nhân |
Lý Nhân |
|
Phù Dung |
Phù Cừ |
|
Thái Ninh |
Thái Bình |
|
Ngự Thiên |
Hưng Nhân |
|
Vọng Doanh |
Phong Doanh |
|
Bắc Hà |
Thiên Phước |
|
Gia Định |
Gia Bình |
|
Kim Hoa |
Kim Anh |
|
Yên Việt |
Việt Yên |
|
Thượng Hồng |
Bình Giang |
|
Hạ Hồng |
Ninh Giang |
|
Tam Đới |
Vĩnh Tường |
|
Phù Khang |
Phù Ninh |
|
Phước Lộc |
Phước Thọ |
|
Hạ Hoa |
Hạ Hòa |
|
Hoa Khê |
Cẩm Khê |
|
Đông Quan |
Hùng Quan, |
|
Đại Man |
Chiêm Hóa |
|
Thu Vật |
Thu Châu |
|
Việt Châu |
Yên Châu |
|
Phù Hoa |
Phù Yên |
|
Thất Tuyền |
Thất Khê |
|
Bình Tuyền |
Bình Xuyên |
|
Định Hóa |
Định Châu |
|
Hoa Phong |
Nghiêu Phong |
|
Bảo Lạc |
Hai huyện Để Định và Vĩnh Điện |
|
Thanh Xuyên |
Hai huyện Thanh Sơn và Thanh Thủy |
|
Cao Bằng |
Hai phủ Hòa An và Trùng Khánh |
|
Hải Đông |
hai phủ Hải Ninh và Sơn Định |
Rồi sai các quan văn võ,
chia trị các trấn Bắc Thành. Mỗi trấn đặt một Trấn thủ, dùng chức Thống chế,
Chưởng cơ, Cai cơ cho làm; và một Hiệp trấn, một Tham trấn, dùng chức Thiêm sự,
Tham quân, Hàn lâm, Thị thư . Nhân sự bổ nhiệm tại 11 trấn Bắc Thành như sau:
1.Nguyễn Đình Đắc làm Chưởng
dinh lãnh chức Trấn thủ Sơn Nam thượng, Nguyễn Khắc Khoan làm Hiệp trấn, Nguyễn
Công Viên làm Tham hiệp.
2.Trấn Công Lại làm Trấn
thủ Sơn Nam hạ, Nguyễn Văn Đảng làm Hiệp trấn, Nguyễn Đăng Cơ làm Tham hiệp.
3.Trương Phước Phượng làm
Trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Văn Quang làm Hiệp trấn, Dương Công Tòng làm Tham hiệp.
4.Ngô Văn Ngữ làm Trấn thủ
Kinh Bắc, Nguyễn Văn Lê làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Hoàng làm Tham hiệp.
5Trần Công Hiến làm Trấn
thủ Hải Dương, Ngô Đức Tuấn làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Công làm Tham hiệp.
6.Lê Đình Chính làm Trấn
thủ Lạng Sơn, Ngô Văn Uyển làm Hiệp trấn, Lê Minh Huy làm Tham hiệp.
7.Lê Văn Niệm làm Trấn thủ
Thái Nguyên, Nguyễn Đức Tư làm Hiệp trấn, Hoàng Đường làm Tham hiệp.
8.Nguyễn Văn Kiên làm Trấn
thủ Hưng Hóa, Lê Nguyên làm Hiệp trấn, Nguyễn Thế Trung làm Tham hiệp ;
9.Nguyễn Hữu Đạo làm Trấn
thủ Yên Quảng, Nguyễn Viết Cơ là Hiệp trấn, Nguyễn Văn Kim làm Tham hiệp.
10.Lê Văn Tiến làm Trấn
thủ Cao Bằng, Lê Văn Chính làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Nghi làm Tham hiệp.
11.Lê Văn Thái làm Trấn
thủ Tuyên Quang, Nguyễn Trí Hòa làm Hiệp trấn, Nguyễn Văn Triển làm Tham hiệp.
Vua gọi họ đến trước mặt,
dụ rằng :
“Hiện nay nước mới được
yên, dân đương ngửa trông đức mới. Bọn ngươi đều nên tuyên dương đức hóa, vỗ
yên nhân dân điêu hao (3), khiến dân ta đều được yên nghiệp, để cho xứng sự
ủy thác”.
Ngoài ra lấy Ngô Văn Sở
làm Trấn thủ Thanh Hoa ngoại [Ninh Bình], Nguyễn Danh Xán làm Tham hiệp.
Mỗi trấn có Trấn Thủ, Hiệp
trấn, Tham hiệp, coi 1.000 quân; mỗi phủ có Tri phủ, Đốc phủ, coi 500 quân; huyện
có Tri huyện, huyện nào gần phủ thì do phủ kiêm lý.
Vương lo xếp đặt công việc
ở Bắc Thành, bèn triệu Nguyễn Văn Thành đến. Trong hàng các tướng hiệu, Thành
là người có học thức và biết thể thức chính trị, nên đặc biệt triệu đến.
Người dòng dõi nhà Lê là
Lê Duy Đạt cùng 400 bộ thuộc đem khí giới nộp ở trấn Thanh Hoa nội [Thanh Hóa].
Trấn thủ Nguyễn Đức Xuyên đem sự việc tâu lên; bèn triệu Duy Đạt đến hành tại,
còn bộ thuộc thì cho về.
Các Thượng thư Tây Sơn là
Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Gia Phan, Phan Huy ích đến hành tại chịu tội. Vua cho là sắp
có cuộc bang giao, mà bọn Nhậm vốn là bầy tôi cũ của triều Lê đã quen công việc,
Huy Ích lại từng làm sứ thần đi sang nhà Thanh, bèn hạ lệnh cho ở ngoài để
phòng hỏi đến.
Vua nước Nam Chưởng là
Chiêu Ôn Mãnh đến mừng. Ôn Mãnh năm mới lên 3 tuổi bị người bác là Chiêu Xà
Vinh chiếm giữ nước, đến khi lớn chạy sang Vân Nam, tố cáo với nhà Thanh, vua
Thanh ban cho sắc và ấn, phong làm vua nước Nam Chưởng. Ôn Mãnh đương lúc bôn
bá, không có viện trợ, chưa dám về nước, cùng với bộ thuộc đi lại ở khoảng Mường
Mân, Mường Lự [tỉnh Vân Nam], không có nơi ở nhất định. Sau lại tự mang sắc ấn
dời ngụ ở châu Chiêu Tấn [phủ An Tây, Hưng Hóa]. Đến nay nghe đại binh đã lấy
thành Thăng Long, bèn do trấn mục Hưng Hóa dẫn tới hành tại lạy mừng. Vua cho rằng
trong nước mới yên chưa rỗi xử trí, lại khiến cho về ngụ ở châu Chiêu Tấn.
Nước Chân Lạp sai Ốc Nha
Thư Triệu Bồn Nha Diệt đến hiến phẩm vật địa phương; Vua cho tiền gạo rồi sai về.
Sai Binh bộ Phạm Ngọc Uẩn
kiêm bộ Hộ. Vua thấy nước mới yên định, sổ sách tản mát, tô dung thuế khóa chưa
có định chuẩn; biết viên Tư mã Tây Sơn là Nguyễn Văn Dạng từng coi việc Hộ, bèn
sai tường kê các ngạch thuế, do bộ Hộ tâu lên từng điều để tham chước thi hành.
Sai Nguyễn Văn Trương điều
khiển thủy binh chở tiền kho ở hai trấn Hải Dương và Sơn Nam Hạ [Nam Định] đến
Bắc thành để chi phát.
Chú thích:
1.Ấp Thang mộc: Thang là
nước nóng, mộc là tắm; ấp thang mộc chỉ nơi được ban nhiều ơn phước, tắm gội ơn
mưa móc.
2.Khổn thần: Quan lại tại
cửa khổn, tức nơi biên giới.
3.Điêu hao: Điêu linh,
hao tổn.
Tháng 7 năm Nhâm Tuất Gia
Long thứ 1 [29/7-27/8/1802] Vua ban ấn đồng cho các trấn từ Nghệ An ra Bắc. Sai
Đô thống chế Hậu dinh Hoàng Viết Toản lãnh chức Trấn thủ Nghệ An, Tham tri Hộ bộ
Hồ Thế Học lãnh chức Hiệp trấn; Đô thống chế Hữu dinh Tôn Thất Chương
lãnh chức Đốc trấn Thanh Hoa, Phó đô thống chế Tả dinh là Võ Doãn Văn lãnh chức
Phó trấn, Tả tham tri bộ Binh là Lê Viết Nghĩa lãnh chức Hiệp trấn.
Ban chiếu dụ cho cựu thần
nhà Lê và khoa bảng sĩ tử Bắc Hà như sau:
“Mới đây giặc Tây Sơn can
phạm đạo thường, làm cho trời đất tối đen, trong lúc ấy có nhiều người ẩn
náu, không muốn làm quan cho giặc, mà ôm đức giữ tài là để chờ thời. Nay đảng
giặc dẹp yên, võ công cả định, chính là buổi chấn hưng văn hóa, xây dựng trị
bình. Nhân tài trong đời há chịu cùng với cỏ cây mục nát sao ? Vậy nên báo cáo
cho nhau, đều đến hành tại để cho bọn Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành, Lễ bộ
Đặng Đức Siêu, Tán lý Đặng Trần Thường, Tham tri Phạm Như Đăng, Học sĩ Nguyễn
Viên, lần lượt dẫn vào yết kiến. Ta sẽ nghe lời nói, thử việc làm, tùy tài
bổ dụng, cho người hiền được có vị, người tài được có chức, họp lòng nghĩ, chia
mưu làm, để cùng nên đạo trị nước”.
Do đó những người ẩn dật ở
Bắc Hà tranh nhau ra giúp.
Sai chọn người dòng dõi họ
Trịnh để giữ việc thờ cúng. Trước kia khi đại quân Bắc phạt, người họ Trịnh ai
ai cũng sợ bị giết; Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng :
“Tiên thế ta với họ Trịnh
vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là
việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay trong ngoài một nhà,
nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất,
nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người
trưởng họ giữ việc thờ cúng, để giữ tình nghĩa đời đời”.
Một số cựu thần nhà Lê, ở
ẩn trong dân gian, không ra làm quan với Tây Sơn; đến nay vào yết kiến, Vua yên
ủi hỏi thăm, hậu đãi. Rồi ban mệnh lấy các Tiến sĩ Nguyễn Duy Hợp làm Thị trung
trực học sĩ, lãnh chức Hiệp trấn Kinh Bắc; Lê Duy Đản làm Kim hoa điện trực học
sĩ, lãnh chức Hiệp trấn Lạng Sơn; Lê Huy Trầm, Ngô Xiêm và Nguyễn Đình Tứ làm
Thái hòa điện học sĩ; Nguyễn Đường làm Kim hoa điện học sĩ; Phạm Thích làm Thị
trung học sĩ; Vũ Đình Tử, Nguyễn Huy Thảng làm Cần chính điện học sĩ; Cử nhân
Võ Trinh làm Thị trung học sĩ.
Thưởng cho dân có công bắt
giặc: Dân Kinh Bắc bắt được Nguyễn Quang Toản, thưởng 200 mẫu ruộng, dân Thanh
Hoa bắt được Võ Văn Dũng, thưởng 30 mẫu ruộng; đều được tha dao dịch.
Tống Phước Lương và Nguyễn
Văn Vân đánh phá được giặc biển ở châu Vạn Ninh [Quảng Ninh]. Trước kia giặc biển
Tề Ngôi là Trương Á Lộc ngụy xưng là Thống binh, tụ đảng ở ngoài khơi, cướp bóc
thuyền buôn; Tây Sơn dùng để chống cự quan quân. Từ khi thua ở cửa biển Nhật Lệ,
chúng ngầm trốn ra ngoài biển Vạn Ninh, hoành hành cướp bóc. Trấn thủ Yên Quảng
đem sự việc báo lên; Vua sai Phước Lương và Văn Vân đem thủy quân đánh. Quân đến
cửa biển Vân Đồn [Quảng Ninh], gặp 15 chiếc thuyền giặc, đánh phá được, chém được
tướng giặc là Trịnh Thất và bè đảng rất nhiều, bắt được bọn Trương Á Lộc 11 người;
dư đảng chạy trốn.
Vua cho rằng giặc Tây Sơn
đã diệt, bèn gửi thư sang Tổng đốc Lưỡng Quảng nhà Thanh hỏi về việc bang giao
nên làm thế nào ; sai Thiêm sự Lại bộ là Lê Chính Lộ, Thiêm sự Binh bộ là Trần
Minh Nghĩa đợi mệnh ở Nam Quan. Lại cho rằng nước nhà mới lập, muốn tiếp sứ nhà
Thanh ở cửa ải, để làm lễ tuyên phong cho đỡ phiền phí; nên đem việc ấy hỏi Ngô
Thì Nhậm và Phan Huy ích; hai người đều nói việc như thế từ trước chưa từng
nghe bao giờ, bèn thôi.
Hạ lệnh cho Bình Định và
Phú Yên dựng miếu công thần, gồm:
-Một miếu ở trước lầu Bát
giác trong thành Bình Định, thờ Võ Tánh, Ngô Tòng Chu và những người chết trận,
chết bệnh ở trong thành, cả thảy 260 người.
-Một miếu ở núi Độc Sơn,
cửa Thị Nại [thành phố Qui Nhơn, Bình Định], thờ Võ Di Nguy, Tống Viết Phước và
những người chết bệnh, chết trận từ Quảng Ngãi đến Thị Nại, cả thảy 619 người.
-Trấn Phú Yên dựng miếu ở
Hòn Nan, núi Cù Mông [Qui Nhơn, giáp Phú Yên] để thờ Mai Đức Nghị và những người
chết trận và chết bệnh, từ Thị Dã đến Phú Yên, cả thảy 526 người
Trấn thủ Yên Quảng Nguyễn
Hữu Đạo bắt được Tư lệ Tây Sơn là Đinh Công Tuyết ở châu Vân Đồn [Quảng Ninh],
đóng cũi đưa về ; Vua không nỡ giết bèn tha cho.
Thông thường sự việc xãy
ra tại An Nam, kinh qua Tuần phủ Quảng Tây nhận được tin, rồi theo đường trạm dịch
gửi về Bắc Kinh, thời gian phải mất khoảng 2 tháng. Bởi vậy trong đạo dụ đề
ngày 18 tháng 7 dưới đây, Vua Gia Khánh vẫn chưa hay biết việc Vua Tây Sơn Nguyễn
Quang Toản đã bị bắt vào tháng 6, nên dự liệu rằng nếu Nguyễn Quang Toản đưa
thuộc hạ đến quan ải đầu thuận, thì nên chiếu theo lệ đối với Vua Lê Chiêu Thống
trước kia, đem an trí:
“Ngày 18 tháng 7 năm Gia
Khánh thứ 7 [15/8/1802]. Dụ các Quân cơ đại thần:
Thanh An Thái tâu:
‘ Họ Nguyễn An Nam
bị Nông Nại xâm bức, muốn gõ cửa quan ải xin thu nạp.’
Tưởng Cát Khánh nhận được
lời bẩm này, tất phải đến gấp trấn Nam Quan để liệu biện sự việc. Hiện tại
Thanh An Thái đã tâu rõ trên đường đi, lại dụ cho Tôn Ngọc Ðình đến Quảng Tây
ngay, cùng hội ý để liệu biện cho ỗn thỏa. Nếu như Nguyễn Quang Toản đưa thuộc
hạ đến đầu thuận, thì nên chiếu theo lệ đối với Lê Duy Kỳ trước kia, an trí ỗn
thỏa. Nếu cầu xin giúp quân, Cát Khánh cần đem sự thực tâu lên rồi đợi chiếu chỉ.
Nếu Nông Nại biết Nguyễn Quang Toản đã vào quan ải, bèn đòi hỏi đích danh, hoặc
mang quân đến biên cảnh, thì không thể dung thứ chút nào; trường hợp lời nói và
tấm lòng cung thuận, thì nên chuyển tâu, Trẫm sẽ xem xét lại. Cát Khánh cần trù
tính kỹ, liệu biện ỗn thỏa; lại thông sức thuộc hạ nghiêm phòng tại các quan ải,
không thể coi thường Di nước ngoài yếu đuối. Nếu như Tôn Ngọc Ðình đến, hãy ra
lệnh Thanh An Thái trở về tỉnh lo công việc. Nay truyền dụ để hay biết.”
( Nhân Tông Thực Lục quyển 101, trang 2-3)
Mấy ngày sau lại nhận lời
tâu từ Quảng Tây rằng Nguyễn Quang Toản đã bị bắt, Nguyễn Ánh lên ngôi; Vua Gia
Khánh ra lệnh bất can thiệp, tăng cường phòng thủ tại biên giới:
“Ngày 27 Ất Mùi tháng 7
năm Gia Khánh 7 [24/8/1802]. Lại dụ:
Thanh An Thái tâu:
‘ Cứ theo lời bẩm của
Tri phủ Thái Bình Vương Phủ Ðường rằng Nguyễn Chủng [Nguyễn Phúc Ánh] tại
Nông Nại đánh phá thành Thăng Long, Nguyễn Quang Toản thua chạy, bị bắt; rồi
Nguyễn Chủng vào thành tự lên ngôi.’
Việc biên giới khẩn yếu,
Cát Khánh, Tôn Ngọc Ðường cần tra xét tình hình; đốc suất các viên văn võ cẩn
thận phòng thủ; còn việc Di nước ngoài thôn tính lẫn nhau, không can thiệp đến
nội địa, không cần hỏi han nhiều. Nếu như Nguyễn Chủng xin nạp cống, hoặc có ý
kiến khác, thì hãy tâu lên để xin chiếu chỉ. Mang dụ này truyền để hay biết.”
( Nhân Tông Thực Lục quyển 101, trang 16-17)
Như đã trình bày trong
trong bài trước, vào tháng 5 phái đoàn Trịnh Hoài Đức đến Trung Quốc giải giao
bọn cướp biển Mạc Quan Phù, cùng sắc ấn Vua Thanh ban cho Tây Sơn. Tháng 8
[2/9/1802], Vua Gia Khánh biết rõ sự việc, hài tội Vua Tây Sơn Nguyễn
Quang Toản, và cho biết nếu y chạy đến quan ải hoặc bị nhà Nguyễn giải giao đến,
sẽ bắt giam; không còn chiếu theo lệ cho an trí như đối với Vua Lê Chiêu Thống
trước.
Tháng 8 [28/8-26/9/1802],
đặt Thủ hiệu các ải ở Lạng Sơn. Thời Lê đặt các Thủ hiệu tại ải Nam Quan
và Du Thôn; phàm sứ bộ qua lại thì do ải Nam Quan đưa đi, người phạm tội và dân
bị bão xiêu dạt thì do ải Du Thôn, cả hai đều thuộc châu Văn Uyên. Đến nay Trấn
thần Lạng Sơn xin dùng người giữ ải cũ là Nguyễn Đình Minh và Nguyễn Đình Giáp,
bèn cho Đình Minh làm Thủ hiệu giữ ải Nam Quan, Đình Giáp làm Phó thủ hiệu giữ ải
Du Thôn, cấp cho ấn đồng khắc chữ triện “Văn Uyên châu Thủ hiệu chi chương”.
Đặt phủ huyện ở Bắc Hà. Đời
Lê các trấn đều đặt phủ huyện, đến đời Tây Sơn không đặt phủ, chỉ đặt Phân chi
coi việc văn, Phân suất coi việc võ, chia làm việc ở huyện; nay Vua cho trở lại
qui chế thời Lê.
Các nước Xiêm La, Chân Lạp,
Vạn Tượng đều sai sứ đem quốc thư đến mừng.
Họ Lê, họ Trịnh cùng các
cựu thần văn võ nhà Lê dâng biểu xin Vua lên ngôi Hoàng đế. Vua khiêm nhường
không nhận và nghĩ rằng nước nhà mới xây dựng, kẻ thương tật chưa dậy được, người
bệnh khổ chưa lại hồn, phong tục kiêu ngoa chưa thay đổi hết, ngược chính tệ
đoan chưa sửa chữa hết, mọi việc dân tình quốc kế trù hoạch đương bận, nên phải
hoãn.
Định điều lệ kiện tụng;
sai đình thần tham chước hình luật đời Hồng Đức Lê Thánh Tông, định làm 15 điều.
Tháng 9
[27/9-26/10/1802], phong cho dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Hoán làm Diên Tự công.
Trước kia trong thời Tây Sơn, Duy Hoán theo cha là Lê Duy Chi chạy đến Bảo Lạc
[Cao Bằng], Duy Chi bị Tây Sơn giết, Duy Hoán lẩn nấp nương nhờ bọn phiên thần
Thái Nguyên là Ma Thế Cố. Đến nay Thế Cố đem việc ấy tâu lên; Vua bèn triệu Lê
Duy Hoán đến phong cho và ban chiếu rằng:
“Vương giả dựng nước, suy
tôn dòng dõi đời trước là giữ hậu đạo. Nhà Lê từ khi mở nước đến lúc trung
hưng, đời đời nối nhau hơn 300 năm, trước sau 25 vua. Quãng giữa tuy là không
quyền những vẫn là vua chung cả nước. Kịp khi Tây Sơn nổi loạn, miếu thờ bỏ
nát. Nay ta vâng đem uy trời, thống nhất bờ cõi, nghĩ tôn điển lễ để giữ thờ
cúng cho họ Lê. Lê Duy Kỳ tuy là dòng đích phái của Hiển tông, mà không giữ được
nước, chạy sang nước Thanh, mà cha ngươi là Duy Chi trong khi điên bái đã bỏ
mình vì nước, tỏ rằng con cháu nhà Lê còn có người, trẫm rất khen ngợi. Vậy đặc
phong cho ngươi làm Diên Tự công, cho thế tập tước vị, để vâng giữ việc thờ
cúng ở miếu nhà Lê, cấp cho tự dân 1.016 người, tư điền 10.000 mẫu. Ngươi nên
kính sửa lễ tiết, thờ cúng lâu đời để giữ phước chung”.
Cấp ruộng thờ cho họ Trịnh,
sai Trịnh Tư coi giữ việc thờ cúng. Chiếu rằng :
“Tiên tổ nhà ngươi vốn là
người thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi bờ cõi, đều là công việc đã qua. Từ
khi nhà Lê mất ngôi, nơi thờ họ Trịnh bỏ nát. Nay ta một trận dẹp yên, bốn biển
trong lặng, nói đến tình thân qua cát (1). nghĩ cũng nên thương. Vậy cho
ngươi coi giữ việc thờ tự họ Trịnh, cấp cho ruộng 500 mẫu để thờ cúng”.
Vua cho sưu lục đời Lê,
33 công thần khai quốc, và 15 công thần trung hưng; mỗi công thần cho một người
thuộc hàng con cháu miễn phu dịch, đời đời giữ việc thờ tự ; công thần bực nhất
thì thêm cho 2 người trong họ làm sái phu (2), miễn cho dao dịch. Công thần
bình Ngô khai quốc, bực nhất là Thái úy Phước quốc công Lê Lai, Thái phó Đạt quốc
công Lê Văn Linh, Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí, Thái bảo Khuê quốc công
Nguyễn Trãi.
Lấy Nguyễn Văn Thành làm
Tổng trấn Bắc Thành, ban cho sắc ấn, 11 trấn đều lệ thuộc. Phàm những việc cất
bãi quan lại, xử quyết kiện tụng, đều được tùy tiện làm, rồi sau mới tâu. Lại đặt
ba tào Hộ, Binh, Hình ở Bắc Thành; tào Hộ Nguyễn Văn Khiêm, tào Binh Đặng Trần
Thường, tào Hình Phạm Như Đăng đảm trách; phụ giúp quan Tổng trấn để xét biện
công việc.
Ngày Bính Thân 28
[24/10/1802], xa giá rời thành Thăng Long; bảo Nguyễn Văn Thành rằng :
“Công việc Bắc
Thành, ủy hết cho khanh, khanh nên cố gắng”.
Văn Thành lạy xin vâng mệnh,
nhân đó tâu rằng :
“Việc binh việc dân và việc
lý tài ở Bắc Thành ba điều ấy rất quan trọng, phải xếp đặt rất nhiều, thần xin
ngày ghi từng việc, mỗi tháng đóng thành tập đệ tâu một lần”.
Vua cho là phải.
Sai Nguyễn Văn Trương, Lê
Văn Duyệt, Lê Chất, Tống Phước Lương đều đem thủy quân bộ quân đi trước, bọn
Nguyễn Đức Xuyên và Trần Văn Tín đi theo hầu.
Ngày mồng 1 tháng 10
[27/10/1802] xa giá nhà Vua đến Thanh Hoa yết lăng miếu ở núi Thiên Tôn.
Ngày Nhâm Tý 14
[9/11/1802], xa giá đến Hành cung Thượng Lập [huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị], ra lệnh
đi đường sông. Ngày Quý Sửu 15 [10/11/1802] đến kinh sư. Ngày Đinh mão 29
[24/11/1802], vua thân yết Thái miếu rồi đến thăm sức khỏe của Từ cung, cùng đặt
yến tiệc lớn đãi bầy tôi.
Nước Vạn Tượng sai sứ đến
cống; ban cho 100 quan tiền rồi cho về.
Gia Định bị đói, chiếu
sai Lưu trấn phát một vạn hộc thóc cho dân nghèo vay. Những nhân viên hưu dưỡng
và các quan tại kinh đô có vợ con tại quê quán, cũng được vay.
Vua thấy trấn Hà Tiên sau
khi binh loạn, dân chưa trở về đủ, bèn sai Trấn thủ Mạc Tử Thiêm chiêu phủ về,
khiến dân yên họp, các loại thuế đều miễn cả.
Khai mỏ vàng, bạc, đồng,
kẽm ở Tuyên Quang và Hưng Hóa, do bọn Thổ mục Ma Doãn Điền, Hoàng Phong Bút và
Cầm Nhân Nguyên lãnh trưng. Ma Doãn Điền khai mỏ chì Kim Tương; Hoàng Phong Bút
khai mỏ đồng Tụ Long, mỏ bạc Nam Đương, mỏ vàng Tú Sơn; Cầm Nhân Nguyên khai mỏ
vàng Mẫn Tuyền, mỏ chì Tú Dung, định sang năm bắt đầu trưng thuế.
Ngày Giáp Tuất mồng 7
tháng 11 [1/12/1802] làm lễ hiến phù (3) ở Thái miếu. Sai Đô thống chế dinh Túc
trực Nguyễn Văn Khiêm, Tham tri Hình bộ Nguyễn Đăng Hựu áp dẫn Nguyễn Quang Toản
và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì
cho 5 voi xé xác (Dùng 5 con voi chia buộc vào đầu và hai tay hai chân, rồi cho
voi xé, đó là một thứ cực hình), đem hài cốt của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ giã
nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị người
chết] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại (sau đổi là Vũ khổ); còn đồ
đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử tử, bêu đầu cho mọi người biết.
Xuống chiếu bố cáo như sau:
“Trẫm nghe, vì chín đời
mà trả thù (4) là nghĩa lớn kinh Xuân Thu ; thương muôn dân
mà đánh giặc là lòng nhân của vương giả. Truân hanh [khó nhọc nên công] mới
rõ công to ; hoán hãn [lệnh Vua] để ban hiệu lệnh. Nhà nước ta, Tống
Sơn đúc khí thiêng, Gia Miêu gây điềm tốt. Từ Tiên vương cả gây nền lớn, nhân hậu
một mạch cùng truyền. Đến Liệt thánh vâng nối công to, thái bình hai trăm năm lẻ.
Chợt nửa chừng gặp lúc gian truân, để ngoan dân gây nên biến loạn. Chiếm giữ
thành ấp ta ; tàn ngược sinh dân ta. Từ Nhạc, Huệ về sau, đến Quang Toản về trước,
chứa tội ác không phải một ngày ; Từ Thuận Quảng vào Nam, đến Linh Giang ra Bắc,
gây tai họa khắp cả mọi phương. Trẫm nghiến răng vì thù nước, đau ruột bởi ách
dân. Dời đổi không thường há như Thiếu Khang nhà Hạ ở Hữu Nhưng (5) ; lo lắng
phục hồi, còn hơn Quang Vũ nhà Hán ở Bạch Thủy (6). Bởi trời muốn thử
thách để trao mệnh lớn, nên Trẫm phải ẩn nhẫn để chờ thời cơ. Vận hội lúc đã đến
trung hưng, quân đánh dẹp ngày càng chỉnh đốn. Năm Mậu Thân [1788] mới
từ Xiêm La trở về Gia Định. Năm Kỷ Mùi [1799] tiến lấy Quy Nhơn ; năm
Tân Dậu [1801] đánh được Phú Xuân. Bọn giặc vội vàng ; một ngựa bỏ chạy.
Từ đó, Hoành Sơn một giải, cõi xưa thu về. Duy còn giặc Diệu quân cô, lũy cũ vẫn
đóng. Nghĩ trừ ác trước nên trừ mống, mà căm thù ta phải mài gươm. Quân giáp
đánh vừa qua lũy mạnh, giặc trốn đi bỏ mất thành Bàn. Nó đã nhụt khí phải chạy
đêm, ta bèn đem quân đánh ra Bắc. Tháng 5 năm nay ta đem đại chúng thẳng vượt
sông Gianh. Theo gió phóng lửa, mạnh tựa đốt lông ; hẹn ngày thành công, dễ như
chẻ trúc. Các đạo Hoan Ái, chốc đã phá tan. Giặc Diệu giặc Dũng, cùng đường sa
hố. Thẳng một lối sấm vang chớp giật ; khắp mọi thành ngói lốc tro bay. Bọn giặc
bắt xong ; tội nhân được hết. Mây tối quét sạch, cả gầm trời bờ cõi sáng trong
; ngựa bay khải hoàn, bao sông núi đầy đường tươi đẹp. Đó thực là nhờ được Trời
cao giúp đỡ, chín miếu (7) thiêng liêng, các tướng gắng công, ba quân
đua sức, nên mới được thế. Ngày mồng 6 [30/11/1802] tháng này, tế cáo
Trời Đất ; ngày mồng 7 [1/12/1802] yết tế Thái miếu, làm lễ hiến phù,
bọn Nguyễn Quang Toản và ngụy thái tể Quang Duy, Nguyên súy Quang Thiệu, Đốc
trấn Quang Bàn, Thiếu phó Trần Quang Diệu, Tư đồ Võ Văn Dũng, Tư mã Nguyễn Văn
Tứ ; Đổng lý Nguyễn Văn Thận, Đô ngu Nguyễn Văn Giáp, Thống tướng Lê Văn Hưng,
cùng với bè lũ đầu sỏ đều đã bắt giam, đều đem giết cả, bêu đầu bảo cho dân
chúng. Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho
Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân. Ôi ! Tàn tặc dẹp yên, đã thành công đại định ;
xa thư (8) một mối, hưởng chung phước thái bình”.
Ưu cấp cho các công thần
về hưu. Vua bảo bầy tôi rằng :
“Trẫm từ khi vận nước
suy vi, bôn ba nhiều chỗ, các tướng sĩ đi theo giúp đỡ, khi trú ngụ ở thành Vọng
Các, nếm đủ gian khổ, hoặc năm Mậu Thân [1788] mới lấy Gia Định, ứng
nghĩa cần vương. Sau có người nhân đánh giặc bị thương hoặc già ốm mà phải về
quê quán nghỉ ngơi. Hiện nay nước nhà đã yên, trẫm nhớ lại công trước, nên bàn
việc đáp đền”.
Bèn chuẩn định những
người theo đi Vọng Các, hàng tháng được cấp tiền lương, những người đầu quân từ
sau năm Mậu Thân [1788] trước năm Canh Thân [1800], cho lập thuộc
binh, đều chia làm ba hạng, ban cấp theo bực khác nhau.
Nguyễn Văn Tồn người Chân
Lạp theo việc binh nhung đã lâu. Vua thương tình khó nhọc, bèn cho về; sai đặt
đồn Trà Ôn ở Trấn Giang [Cần Thơ] cho Tồn kiêm quản cả hai phủ Trà Vinh và Mân
Thít [Vĩnh Long], lệ vào dinh Vĩnh Trấn [Vĩnh Long].
Quan Bắc Thành tâu về
chính sách ruộng đất như sau:
“Ruộng đất công tư ở Bắc
Thành nhà Lê trước có đặt làm ruộng ngụ lộc, ruộng thưởng lộc, ruộng chế lộc (Ruộng
ngụ lộc, cấp cho quan văn; thưởng lộc, cấp cho quan hưu trí; chế lộc, cấp cho
quan võ). Tây Sơn lấy những ruộng ấy làm ruộng biệt cấp. Nay xin trả hết cho
dân. Còn ruộng đất tư của ngụy quan [quan Tây Sơn] và những quan điền
quan trại quan thổ của Lê Trịnh mà bị bá chiếm đều phải sung vào nhà nước”. Vua
y theo lời tâu.
Tha giảm thuế cho Gia Định,
Vua ban chiếu rằng:
“Trẫm nghĩ Gia Định
là đất dấy nghiệp, từ khi dấy quân tới nay, binh lương đều lấy ở đấy, một
phương các ngươi riêng chịu nặng nề đã lâu. Vậy cho tha giảm thuế lệ theo thứ bậc
khác nhau.”
Trả lại tiền cho các dân
nhà giàu ở các dinh Gia Định, Bình Thuận cho vay. Trước kia dấy binh, tiêu dùng
mỗi ngày phí đến nghìn vàng, dân giàu có nhiều người bỏ của ra để giúp việc
quân; Vua sai đem trả hết.
Dùng Tham tri bộ Binh bộ
Lê Quang Định làm Thượng thư bộ Binh bộ sung Chánh sứ sang nhà Thanh, Thiêm sự
bộ Lại Lê Chính Lộ và Đông các học sĩ Nguyễn Gia Cát sung Giáp, Ất Phó sứ. Trước
đây khi lấy được Bắc Thành, Vua sai gửi thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng đem việc ấy
chuyển đạt lên vua Thanh, vua Thanh sai phục thư nói nước ta đã vỗ yên được
toàn cõi An Nam thì nên làm biểu văn sai sứ xin phong. Còn sứ bộ trước là bọn
Trịnh Hoài Đức thì cho chuyển đến Quảng Tây, đợi sứ bộ xin phong đến, thì đều đến
Bắc Kinh đợi lệnh. Bọn Chính Lộ đem việc tâu lên. Vua hạ lệnh cho bọn Quang Định
đem quốc thư và phẩm vật kỳ nam 2 cân, ngà voi 2 cặp, sừng tê 4 tòa, trầm hương
100 cân, tốc hương 200 cân và trừu, the, vải mỗi thứ 200 tấm, để xin phong và
xin đổi quốc hiệu là Nam Việt.
Chuẩn bị đón tiếp Sứ thần
nhà Thanh sang thăm trong tương lai, Vua hạ lệnh các quan Bắc Thành noi theo lệ
cũ của triều Lê, xây thêm điện Cần chánh và nhà tiếp sứ ở Gia Lâm bên kia sông.
Lại hạ lệnh cho Lạng Sơn sửa đài Ngưỡng Đức tại Nam Quan. Từ sông Nhị Hà đến Lạng
Sơn tính đường đặt bảy sở nhà trạm và công quán tại Gia Quất [huyện
Gia Lâm, Bắc Ninh], Cầu Lim [huyện Tiên Du, Bắc Ninh], Mỹ Cầu [huyện Yên Dũng,
Bắc Giang], Cần Dinh [huyện Lạng Giang, Bắc Giang], Hòa Lạc [huyện Hữu Lũng, Lạng
Sơn], Nhân Lý [huyện Chi Lăng, Lạng Sơn], Mai Pha [huyện Cao Lộc, Lạng Sơn].
Phái đoàn Lê Quang Định
trên đường đi, gửi biểu văn cho Tổng đốc Lưỡng Quảng báo trước xin nạp cống, thỉnh
phong và ban cho danh hiệu nước. Vào tháng sau, Vua Gia Khánh nhận được bèn
thông tri cho toàn quốc hay biết; riêng việc đặt danh hiệu nước sẽ giao cho hội
đồng với sáu bộ bàn thảo:
“Ngày 19 Bính Thìn tháng
12 năm Gia Khánh thứ 7 [12/1/1803]. Dụ Nội các:
........Nguyễn Phúc Ánh
vì Thiên triều mà đánh bắt bọn cướp trốn tránh, rồi trói giải đến để xin
chiếu chỉ định đoạt; lại đem sắc ấn cũ của An Nam dâng nạp, lòng cung thuận sâu
dày. Lại dâng biểu trần tình đầu đuôi việc dụng binh, liên quan đến việc phục
thù cho các đời trước; tuy lấy được nước nhưng không dám tự chuyên, sai Bồi thần
xin nạp cống, thỉnh phong. Trừ biểu văn xin ban cho danh hiệu nước đã lập,
sẽ giao cho Ðại học sĩ hội đồng với sáu bộ bàn tâu; riêng việc Nguyễn Quang Toản
tại An Nam hoạch tội và sụp đổ, cùng duyên do đầu đuôi việc Nguyễn Phúc Ánh
nỗ lực cùng cung thuận, thì đem thông tri trước để trong triều
ngoài nội hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 106, trang 22-23)
Việc nhà Nguyễn đề nghị
tên nước là Nam Việt, giống như thời Triệu Đà với lãnh thổ vùng Lãnh ngoại gồm
cả hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc, là một phép thử uy lực nước ta đối
với Trung Quốc. Quả vậy, chỉ một cái tên vừa nêu lên, triều Thanh báo động,Vua
Gia Khánh phải lập tức ra lệnh hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây phải lưu tâm
phòng bị vùng biển cùng biên giới:
“Ngày 20 tháng Chạp năm
Gia Khánh thứ 7 [13/1/1803]. Dụ các Quân Cơ Đại Thần:
Hôm qua Tôn Ngọc Đình tấu
dâng biểu văn thỉnh phong của Nguyễn Phúc Ánh, Trẫm đã duyệt đọc kỹ, việc xin
phong tên nước hai chữ “Nam Việt” không thể chấp nhận được. Địa danh “Nam Việt”
bao hàm rất lớn, khảo sử xưa hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây đều nằm ở trong đó.
Nguyễn Phúc Ánh là tiểu Di nơi biên giới, tuy hiện nay có được toàn đất An Nam,
bất quá lãnh thổ bằng đất Giao Chỉ xưa là cùng, làm sao lại được xưng là “Nam
Việt”. Biết đâu đây không phải là ý muốn khoe khoang tự thị của ngoại Di, xin
thay đổi quốc hiệu, để thử bụng [thiên triều] trước, đương nhiên đáng
bác đi. Đã ra lệnh cho Quân Cơ Đại thần soạn thay một tờ hịch dụ, cùng mang
nguyên biểu giao cho Tôn Ngọc Đình trả lại; để xem sau khi nhận được chúng sẽ bẩm
báo phúc đáp ra sao, rồi đợi chiếu chỉ mà liệu biện. Ngoài ra Nguyễn Phúc Ánh cầu
phong quốc hiệu “Nam Việt”, rõ ràng tự thị võ công muốn đòi xin thêm đất. Sợ bọn
chúng âm mưu bất trắc, nên lệnh truyền các quan địa phương tại hai tỉnh Quảng
Đông, Quảng Tây lưu tâm phòng bị vùng biển cùng biên giới, quan ải; không được
trể nãi lơ là. Nay truyền dụ các nơi để hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục quyển
106, trang 428)
Tháng chạp
[25/12/1802-22/1/1803] sai làm thế phả tôn thất; ban cấp lương bổng hằng năm
cho cung tần, hoàng tử, hoàng nữ, theo thứ bậc.
Sai hai bộ Hộ, Binh; kê số
đinh điền, châm chước ngạch thuế đời trước định thuế công bằng hơn; vua Dụ rằng
:
“Trị nước không lo ít, mà
lo không đều. Giặc Tây Sơn lấy của dân không có nhất định, trăm họ khổ sở. Nay
nên đổi định lại để khỏi đau khổ cho dân. Bọn ngươi nên nghĩ kỹ mà bàn định”.
Nước Chân Lạp sai Trần
Quang Quỳnh đem hiến phẩm vật địa phương. Quang Quỳnh là người Việt ở La Bích
[Longvek, Campuchia], biết nói tiếng Miên, nên Vua cho làm Thông ngôn sứ ty ở
Chân Lạp.
Vua cùng bầy tôi bàn về sửa
đổi phong tục, nói rằng:
“Dân Nam Hà vốn
thói tằn tiện, từ thời Ngụy Tây quen chuộng xa xỉ, tiêu dùng không có tiết độ,
nhiều người bắt chước, lưu tệ từ đấy sinh ra. Dân Bắc Hà thì kiểu quần áo cũng
không đẹp. Phải nên một phen sửa định mới có thể đồng nhất phong tục. Nhưng sửa
đổi phong tục cũng phải dần dần”.
Ra lệnh dân cấm đúc tiền;
kẻ nào phạm cấm thì bắt sung tượng phường [phường nuôi voi], tài sản bị tịch
thu; người nào cáo giác đúng sự thực thì thưởng 100 quan tiền.
Các quan Bắc Thành tâu rằng:
“Bắc Hà trải qua loạn lạc,
dân nhiều người xiêu tán. Binh có thiếu ngạch thì quản quan thường thường bắt
làng lân cận cấp thế. Vì thế ruộng đất của dân xiêu tán bị làng lân cận chiếm lấy
để bù lại. Xin sửa đổi thói tệ ấy”.
Vua bèn hạ lệnh cho các địa
phương từ Nghệ An ra Bắc, phàm ruộng đất của dân xiêu tán, quan sở tại phải lập
giới hạn rõ ràng, chia cấp cho quan quân cày cấy mà được tha thuế, làng lân cận
không được cày cấy. Đợi khi dân xiêu tán trở về thì đem những ruộng đất ấy cấp
trả và thu thuế như lệ.
Ngày 25 tháng chạp
[18/1/1803] làm lễ phong ấn [gói ấn], sang năm chọn ngày tốt vào thượng tuần
tháng giêng khai ấn [mở ấn].
Vua đến Thái miếu, dâng lịch Vạn
Toàn [tên lịch thời Nguyễn] năm Quý hợi [23/1/1803-10/2/1804]; làm lễ
xong, vua ngự điện ban lịch mới cho các nơi.
Chú thích:
1.Qua cát : Cây dưa cây sắn,
loài leo, cây nọ quấn quýt cây kia; ý chỉ hai họ Trịnh, Nguyễn có tình thông
gia.
2.Sái phu: Người quét dọn,
chăm sóc nơi thờ tự.
3.Hiến phù : Dâng những
tù nhân bắt được trong chiến tranh.
4. Xuân Thu, Công
Dương truyện, Trang công năm thứ 4 chép : Tề Tướng công giết nước Kỷ,
vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, gọi là mối thù chín đời.
5.Hữu Nhưng: Vua nhà Hạ
là Thiếu Khang sinh ở Hữu Nhưng, rồi sau dẹp yên loạn Hậu Nghệ mà trung hưng được
nhà Hạ.
6.Bạch Thủy: Hán Quang Vũ
dấy quân ở quận Bạch Thủy, đánh Vương Mãng mà dựng nghiệp trung hưng.
7.Chín miếu: Chỉ miếu thờ
chín đời chúa Nguyễn trước Gia Long.
8.Xa thư: Thư đồng văn,
xa đồng quỹ, tức cùng chung chữ viết, cùng một trục xe; chỉ sự thống nhất.
Ngày mồng một tháng giêng
năm Gia Long thứ 2 [23/1/1803], vua thân đến Thái miếu làm lễ. Lễ xong, ngự tại
điện, nhận lễ chầu mừng của các quan.
Ngày mồng 3 [25/1/1803],
sai thủy quân thao diễn phép chèo thuyền; Vua ngự xem, thưởng tiền cho các
quân, mỗi thuyền 80 quan.
Ngày mồng 9 [31/1/1803]
duyệt binh; bộ binh, thủy binh, tượng mã binh đều theo hướng mà bày dàn. Vua mặc
áo trận, đeo gươm, ban phát hiệu lệnh. Bắt đầu duyệt bộ binh, thứ đến duyệt thủy
binh; rồi kế đến quân voi, ngựa.
Đúc chín khẩu súng lớn bằng
đồng; đúc xong, làm bài minh ghi như sau:
“Năm Giáp Ngọ [1774] sang
miền Đông, năm Mậu Thân [1788] đem quân về Gia Định, năm Tân Dậu [1801] tháng
trọng hạ, lấy lại kinh đô, năm Nhâm Tuất [1802], tháng trọng hạ, đại quân
ra miền Bắc, đến tháng bảy thắng trận, năm ấy đem quân về, cáo yết Thái miếu,
làm lễ hiến phù, giặc nước quét thanh. Mùa xuân năm Quý Hợi [1803] sai
nấu những thứ đồng đã thu bắt được đúc chín khẩu súng lớn, đó là từ khẩu thứ nhất
đến khẩu thứ chín này, tháng chạp công thợ hoàn thành, đặc mệnh khắc minh văn
này để ghi”.
Các tướng có người cho rằng
Lê Chất là tướng đầu hàng mà danh vị lại ở trên mình, nên tỏ ra thắc mắc; Chất
không được yên lòng, bèn dâng sớ rằng :
“Thần là người bất tài, mới
theo về, so với các bề tôi khó nhọc muôn phần chưa kịp một. Nay đã được phong
tước Quận công, lại được chưởng Hậu quân, lạm ở ngôi cao sang, không dám đương
nổi. Xin cho xuống cùng hàng với Đô thống chế”.
Vua không nghe, đặc biệt
khiến giữ chức như cũ.
Duyệt tuyển ở các dinh Quảng
Bình trở về Nam. Khi mới lấy lại được Gia Định đã thi hành ngay phép duyệt tuyển
quân, thải người già, chọn người trẻ. Sau vì liên miên chinh chiến nên phải
hoãn lại; đến nay bàn định cho các dinh từ Quảng Bình đến Gia Định thi
hành phép duyệt tuyển; Vua có lời dụ rằng :
“Phép duyệt tuyển là để
thải người già điền người tráng, phân biệt nơi đông đúc nơi thưa thớt. Nhà nước
đã có phép thường. Nay võ công đã xong, đặc biệt sai cử hành việc duyệt tuyển,
bọn ngươi đều nên theo lẽ công, giữ phép nước, cốt sao cho được quân bình, để xứng
với sự ủy thác”.
Ngày 19 tháng giêng
[10/2/1803] đặt đàn ở đồng An Ninh [huyện Hương Trà, Thừa Thiên] hợp tế trời đất.
Vua sai các quan Lễ bộ khảo kỹ lễ tế Giao [tế trời đất], châm chước bàn định để
thi hành.
Bãi lễ tế chay. Lệ cũ
hàng năm cứ đầu xuân đặt đàn làm lễ tế chay; Vua bảo học sĩ Nguyễn Viên rằng :
“Việc tế chay rất là vô vị,
nên đổi thói hủ ấy đi”.
Tế Giao theo truyền thống
Nho giáo, tế chay theo truyền thống Phật giáo; sự kiện nêu trên chứng tỏ nhà
Vua chịu ảnh hưởng Nho nhiều hơn Phật.
Xây thành Thăng Long; Vua
thấy thành cũ chật hẹp, muốn mở rộng thêm. Sai quan tại kinh đô vẽ bản đồ dâng
lên, sai các dinh quân đắp, những vật liệu cần dùng thì do quan trả tiền theo
giá. Kẻ nào sách nhiễu tiền của dân thì bị tội, truy tang trả lại cho dân.
Người thiểu số Thạch Bích
giáp giới đầu nguồn Quảng Ngãi [Kon Tum], thường xuống quấy nhiễu; sai Lê Văn
Duyệt mang quân đi đánh; cho Hàn lâm thị thư Trần Văn Lộc theo đi, để làm việc
từ chương ở trong quân.
Bắc Thành đóng gông giải
sứ thần của Tây Sơn là bọn Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi về kinh
đô Huế. Trước kia Nguyễn Quang Toản sai bọn Đức Thận đi sứ sang nhà Thanh, khi
chưa tới Bắc Kinh, người Thanh nghe tin Quang Toản bị diệt; bèn cho sứ trở về.
Lúc giải đến kinh đô, Vua tha tội và cho về. Vợ lẽ của Nguyễn Nhạc và người
trong họ tên Đại, tên Vạn cũng bị bắt đến bộ Hình. Tâu xin định đoạt, Vua
nói:
“Vợ lẽ Nhạc là một người
đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc
chết rồi, giết đi thì có ích gì ?”
Đều tha cả.
Tháng giêng nhuần
[22/2-22/3/1803], sai thống lãnh thượng đạo Thanh Hóa là Hà Công Thái trông coi
quế hộ [hộ tìm quế]; sau hạ lệnh ủy người đốc suất. Người bóc quế một nửa phải
nộp quan, một nửa trả cho công bóc; ai bóc trộm quế là bị tội.
Khai mỏ bạc ở Tuyên
Quang; cho bọn Đàm Kỳ Trân, Vi Chuyển Ba người Trung Quốc lãnh khai, mỗi năm nộp
80 lạng bạc.
Ngày 6 tháng 2
[28/3/1803] Vua rước mẹ [Từ cung] về chơi quê cũ tại làng An Du [huyện Vĩnh
Linh, Quảng Trị]. Dân Quảng Bình, Quảng Trị có người dâng lễ mừng, vua cho tiền,
bảo đừng dâng nữa. Ai có sự gì oan khuất thì cho đến nơi Vua ở tâu bày; Vua
đích thân xét định; nhân dân đều vui mừng.
Ngày 15 [6/4/1803] đóng
gông giải bọn Thượng thư Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích và Nguyễn Gia
Phan đến Bắc Thành. Trước đó bọn Nhậm thú tội, Vua không nỡ giết, đặc biệt hạ lệnh
cho giải về kinh. Đặng Trần Thường dâng biểu rằng:
“Bọn Nhậm thân làm
tôi nhà Lê mà cam tâm theo giặc, bày lời nói dối để lừa nhà Thanh, hãm đồng loại
vào chỗ bất nghĩa, xét tội ác chẻ hết tre cũng khó biên hết, thực là kẻ có tội
nhất trong danh giáo. Nếu kẻ này mà không giết, thì răn bảo người sau sao
được ?”
Vua bèn hạ lệnh đưa ra Bắc
Thành để nghị tội. Các quan tại đây bàn cho là tội bọn Nhậm đáng phải giết,
nhưng đã có chiếu nói rõ ngụy quan ra thú thì đều miễn tội, vậy xin tha bọn Nhậm
tội chết, chỉ đánh để làm nhục. Vua y cho; hạ lệnh kể tội ở Quốc tử giám nhà Lê
cũ rồi đánh đau, Nhậm bị đánh chết.
Vua thấy trong trận đánh
Thị Nại ngày trước, súng đạn hai bên bị chìm đắm nhiều, bèn sai Phó đô thống chế
binh dinh Tả thủy là Đào Văn Lương đốc suất binh dân lặn mò, lấy được 160 cỗ
súng và hơn 500 hòn đạn, đưa về Kinh.
Người Thiều Châu, Trung
Quốc là Lý Hòa Nguyên tụ tập đánh cướp mỏ Phước Tinh ở Thái Nguyên. Tổng trấn Bắc
Thành Nguyễn Văn Thành đem quân đánh dẹp. Lý Hòa Nguyên trốn; bắt được đồ đảng
là Trâu Tôn, Lý A Tứ và Trần A Nhị đều đem chém.
Sai bọn Cai cơ Nguyễn Văn
Huấn và Cai đội Mai Văn Hiến sang nước Xiêm tặng cho vua Xiêm và vua thứ hai
cùng bề tôi là bọn Phi Nhã, theo thứ bậc khác nhau. Lại cho vợ vua Xiêm là Ngọc
Thông 100 lạng bạc; Ngọc Thông là con gái Tôn Thất Xuân, trước đây theo Xuân
sang Xiêm, rồi lấy vua nước ấy.
Tháng 3 [21/4/20/5/1803],
qui định thời gian cho người chạy trạm từ Gia Định đến kinh đô, lấy nhanh chậm
để thưởng phạt; đi 12 ngày là nhanh bậc nhất.
Ngày mồng 8 [28/4/1803],
Vua cùng bầy tôi dâng kim sách tôn mẹ [Quốc mẫu] Vương Thái phi làm Vương Thái
hậu. Lời sách có đoạn như sau :
“Mảng nghe đức lớn đạo
chính của đế vương, không gì bằng hiếu. Cho nên ở trong nhà mà yêu kính thì
phong hóa tràn khắp cả nước, thế gọi là đạt hiếu. Kính nghĩ Thánh mẫu bệ hạ, cửa
đức sáng tươi, buồng thơm tốt đẹp. Thờ đức Nhân khảo, sửa sang việc nhà, dẫu
lúc gian nguy, cũng không trễ nải. Nuôi nấng con nhỏ, cho đến trưởng thành. Kế
gặp nạn nước, gắng sức siêng năng, ngoài cõi quan hà, không từng ở rỗi. Tấm
lòng lo nhà lo nước, sớm khuya canh cánh, nên mới có được ngày nay. Ngửa đội uy
thiêng của liệt thánh trên trời giúp đỡ mới nên, mà cũng nhờ Thánh mẫu sinh đẻ
dạy nuôi nên mới được thế....”
Ngày 11[1/5/1803] xây dựng
kinh đô; Vua cho rằng thiên hạ đã định, muốn mở rộng đô thành để làm nơi bốn
phương chầu hội. Bèn sai Giám thành là Nguyễn Văn Yến ra bốn mặt ngoài đô thành
cũ Phú Xuân đo cắm để mở rộng thêm. Vua thân định cách thức xây thành, sắc cho
bộ Lễ chọn ngày lành tế trời đất, cáo việc khởi công, phái các quân mở đường
sá, làm đất cát; sai bọn Phạm Văn Nhân, Lê Chất và Nguyễn Văn Khiêm trông coi
công việc. Quân nhân mỗi tháng cấp tiền một quan, gạo một phương. Dân cư tám xã
Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, An Bảo, Thế Lại, có ruộng
đất bị mở vào thì theo giá văn tự trả lại tiền, nhà cửa thì mỗi hộ cấp 3 quan,
mộ thì mỗi ngôi 2 quan, còn nhân dân thì được miễn dịch. Lại thấy rằng xã Phú
Xuân, ruộng đất lấy gần hết, bèn dời dân xã ấy sang xã Vạn Xuân, cấp ruộng công
đất công cho ở, lại cho vay tiền 1.000 quan để giúp việc chuyển dời.
Ngày 22 [12/5/1803], lập
Nguyên phi Tống thị, mẹ Đông cung Cảnh, làm Vương hậu. Vua trước ở Gia Định, Hậu
thờ Thái hậu đủ mọi gian khổ, hiếu kính cần kiệm, hiền hậu yêu người, thường tự
tay kéo dệt và may cắt quần áo để cấp cho các tướng sĩ. Một hôm đi thuyền gặp
giặc, vua liền đốc quân ra sức chiến đấu, hậu cũng cầm dùi thúc trống. Quân sĩ
nức lòng, tranh nhau phấn đấu, bèn đánh được giặc. Trước đã tiến phong làm
Vương phi, nay sách lập làm Vương hậu.
Hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá,
sai sứ đến quy phục, sứ giả đến Phú Yên. Quan tại dinh này tâu lên, vua sai ban
áo gấm và xuyến ngà, rồi cho về.
Tháng 4 [21/5-18/6/1803],
sai các dinh phủ ở Gia Định cấm dân gian không được chứa riêng đồ binh khí. Các
nhà dân trong hạt và đến cả những người Hoa, người Tây và người Cao Miên, ai có
súng tay và khí giới phải đem hết nộp quan. Những khí giới ở trại các đồn điền
cũng bắt tiêu hủy để rèn đúc đồ điền khí. Quân nhân không giữ nhiệm vụ đi bắt
trộm cướp và đi công sai, thì khi đi đường không được mang binh khí; làm trái đều
bị tội.
Lê Văn Duyệt đánh dân thiểu
số Thạch Bích nỗi dậy tại miền thượng đạo Quảng Ngãi; phá được, đuổi đến Tử
Khê, Nhiêu Thủy. Nghe tin thắng trận, Vua hạ chiếu khen ngợi; phát 5.000 quan
tiền, chiếu theo công trạng mà thưởng cấp, lại cho những người đầu hàng, gấm,
đoạn, nhiễu.
Nước Nam Chưởng xin nội
phụ. Trước kia trấn Hưng Hóa dịch thư bằng lá của nước Nam Chưởng nói rằng Nam
Chưởng với Vạn Tượng ước nhau cùng cử binh đánh Mường Then, yêu cầu Hưng
Hóa cùng hiệp lực. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên:
“Nam Chưởng thì cách ở
cõi xa, Vạn Tượng thì làm tôi thờ bản triều, cho nên chưa có thể toàn tin vào lời
dịch mà vội gây hấn khích ngoài biên. Xin hạ lệnh cho Trấn thần Hưng Hóa, ủy
người dò xét và gửi thư cho Nam Chưởng bày tỏ uy đức của triều đình để xem tình
hình động tĩnh”.
Vua theo lời. Đến nay Nam
Chưởng sai bọn Nại Khai dâng thư xin theo đường châu Ninh Biên [Điện Biên] vào
cống. Xuống chiếu cho quan Bắc Thành tiếp đãi sứ giả trọng thể, và viết thư thuận
cho vào cống.
Vào tháng chạp năm ngoái,
sau khi nhận biểu văn của Vua Gia Long xin đổi tên nước là Nam Việt; Vua
Gia Khánh bàn với Quân cơ đại thần cho rằng nước ta muốn dùng quốc hiệu thời
Triệu Đà, đương nhiên phải bác đi. Nay được Vua Gia Long giải thích rằng trước
kia có đất Việt Thường, nay lấy thêm đất An Nam của Tây Sơn bèn
dùng tên cũ Nam Việt. Vua Gia Khánh thể theo ý đó cho dùng hai chữ “Việt
Nam”; lấy chữ “Việt” để đằng trước tượng trưng cương vực thời xưa; dùng chữ “Nam”
để đằng sau, biểu tượng đất mới chiếm được:
“Ngày 6 tháng 4 năm Gia
Khánh thứ 8 [26/5/1803]. Dụ các Quân Cơ Đại thần:
Tôn Ngọc Đình dâng tấu
triệp xin chiếu chỉ để tuân hành về việc tờ bẩm phúc đáp của Nguyễn Phúc Ánh.
Trẫm đã đọc kỹ, Nguyễn Phúc Ánh cho rằng lời dụ lần trước là ý kiến riêng của
Tôn Ngọc Đình, biểu văn của y chưa tấu lên trên để được nghe quyết định [của
Hoàng đế], nên lần này vẫn thỉnh phong quốc hiệu Nam Việt và khẩn xin tấu thay.
Trẫm duyệt biểu văn, lời và ý rất mềm dẻo, hết sức cung thuận. Xưng rằng nước y
trước kia có đất Việt Thường, nay lấy thêm đất An Nam [của Tây Sơn]; không
dám quên gốc đã giữ đời nối đời, bèn dùng tên cũ Nam Việt, đấy là tình thực.
Tôn Ngọc Đình hãy truyền hịch cho viên Quốc trưởng rằng:
“Lần trước đến xin thỉnh
phong quốc hiệu, danh nghĩa chưa hợp, nên không dám mạo muội tấu đầy đủ. Nay nhận
được biểu phúc đáp, tường thuật đầu đuôi việc dựng nước, xin được phong tên mới,
đã thể theo thực tình tâu lên đại Hoàng đế. Nay nhận được chỉ dụ rằng:
“Viên Quốc trưởng có lòng
thành, lần trước cung kính giao nạp sắc ấn trước đây ban cho [An Nam] bị
Nguyễn Quang Toản bỏ lại, cùng trói giải bọn giặc cướp ngoài biển; lại cung
kính thỉnh mệnh, nên được soi xét kỹ tấm lòng thành. Việc cầu phong và dâng biểu
cống; đặc dụ chấp thuận. Đến việc xin đặt tên nước là Nam Việt, thì nước này
trước đây có đất cũ Việt Thường, sau lại được toàn lãnh thổ An Nam; vậy Thiên
triều phong quốc hiệu cho dùng hai chữ “Việt Nam”; lấy chữ “Việt” để đằng trước
tượng trưng cương vực thời xưa; dùng chữ “Nam” để đằng sau, biểu tượng đất mới
được phong. Lại còn có nghĩa là phía nam của Bách Việt; không lẫn lộn với tên
nước cũ “Nam Việt”. Một khi tên nước đã chính, nghĩa của chữ cũng tốt lành;
vĩnh viễn thừa hưởng ân trạch của Thiên triều. Hiện đã ra lệnh Bồi thần đến
kinh khuyết xin thỉnh phong, sắc ấn ban cho sẽ lấy hai chữ đó làm tên. Nước
ngươi được ban tên đẹp, xếp vào nước ngoại phiên thần phục, càng đầy đủ sự vinh
hiển.”
Tôn Ngọc Đình tiếp nhận
chiếu chỉ này, một mặt truyền hịch dụ Nguyễn Phúc Ánh, một mặt sai Ủy viên bồi
bạn tống tiễn Sứ thần nước này đến kinh đô dâng biểu tiến cống. Lưu ý tiết trời
nắng nóng, nên cho đi từ từ để tỏ lòng thể tuất. Vào khoảng cuối tháng 7 đến
kinh đô, lúc này Trẫm tránh nóng tại sơn trang, gặp dịp Cáp Tát Khắc vào triều
cận, lệnh cùng dự yến luôn một thể. Vẫn để viên Sứ thần khởi trình từ Quảng
Tây, nhật kỳ nhớ báo trước khi đi. Đem dụ này truyền để hay biết.”(Nhân Tông Thực
Lục quyển 111, trang 480 481)
Vua Gia Long tỏ ra vui
lòng với tên nước Việt Nam, nên Vua Gia Khánh bèn sai Án sát Quảng Tây Tể Bố
Sâm mang ấn mới đến sách phong:
“Ngày 26 tháng 6 năm Gia
Khánh thứ 8 [13/8/1803]. Cải tên nước An Nam thành Việt Nam, phong
Nguyễn Phúc Ánh là Quốc vương. Dụ Nội các:
Trước đây Quốc trưởng
Nông Nại Nguyễn Phúc Ánh dâng biểu trần tình đầu đuôi việc dụng binh tại An Nam
do phục thù cho các đời trước. Cung kính sai sứ giả nạp sắc ấn cũ do Nguyễn
Quang Toản bỏ lại, cùng bắt trói giặc cướp biển giải đến, xin kính nhận mệnh.
Trẫm xét đến lòng thành vượt biển đến, vui vẻ chấp nhận; từng giáng chỉ dụ
tuyên bố cho trong ngoài triều biết rõ việc Nguyễn Quang Toản đất An Nam hoạch
tội rồi bị phúc diệt, cùng Nguyễn Phúc Ánh cung thuận và đầu đuôi việc ra sức
phấn đấu. Rồi cứ theo viên Quốc trưởng thỉnh ban phong , trình bày rõ nước này
trước có đất Việt Thường, nay lấy được An Nam, vì không muốn quên đất trước đây
cha ông giữ, nên xin lấy tên nước là Nam Việt. Qua quan lại tại biên giới
đem sự tình tâu lên, các quan tại bộ bác bỏ vì cho rằng tên Nam Việt không hợp
cho việc phong cương đất cõi ngoài. Ðặc cách nghĩ đến sự gõ cửa quan xin nội phụ,
cung kính từ trong đáy lòng, cho dùng 2 chữ Việt Nam; dùng chữ Việt để bên
trên chỉ cương vực các đời trước, dùng chữ Nam ở dưới để biểu thị đất mới được
phong; lại ra lệnh cho Tuần phủ Quảng Tây Tôn Ngọc Ðình, một mặt gửi hịch thông
tri cho Nguyễn Phúc Ánh, một mặt sai Ủy viên bạn tống Cống sứ đến kinh đô tiến
dâng biểu. Dụ Cống sứ đến kinh đô đi thong thả, để thể hiện chính sách nhu viễn
của Thiên triều. Nay lại nhận được lời tâu của Tôn Ngọc Ðình rằng:
‘Nguyễn Phúc Ánh nhận
được ân mệnh ban cho tên Việt Nam thì rất lấy làm cảm khích, lời lẽ
hoan hỷ phát xuất từ tấm lòng thành; viên Sứ thần đã khởi hành, có thể vào hạ
tuần tháng 7 thì đến kinh đô.’
Ðáng gia thêm ân sủng,
phong chức Việt Nam Quốc vương, điều đáng làm là ban cấp các vật kiện như ấn
tín, sắc thư. Lệnh các nha môn tra xét định lệ rồi chuẩn bị trước. Lệnh Khâm
Thiên Giám khi ban hành lịch Thời Hiến, đổi hai chữ An Nam thành Việt
Nam, vĩnh viễn tuân theo lịch Chính Sóc. Tương lai khi sách phong, phái Tể Bố
Sâm, ty niết (1) Quảng Tây mang ấn mới đến sách phong, sẽ cùng với Cống
sứ ra khỏi quan ải đến [Việt Nam] tuyên thị chiếu chỉ để viên Quốc
vương hưởng ân quyến lâu dài, đời đời giữ nước không thay thế. Ðem dụ này truyền
mọi nơi hay biết.” ( Nhân Tông thực Lục quyển 115, trang 14-15)
Tháng 5 [19/6/18/7/1803],
đắp bảy đoạn đê mới ở Bắc Thành. Một đoạn ở xã Nại Tử Châu huyện Yên Lạc trấn
Sơn Tây, dài hơn 220 trượng [1 trượng=4 mét]; một đoạn ở xã Kim Xà, huyện Yên
Lãng [Vĩnh Phúc], dài hơn 298 trượng; một đoạn ở xã Thổ Khối huyện Gia Lâm trấn
Kinh Bắc, dài hơn 400 trượng; một đoạn ở xã Tào Nha huyện Nam Xang trấn Sơn Nam
thượng, dài hơn 513 trượng; một đoạn ở thôn Ngọ Xá huyện Sơn Minh [huyện Ứng
Hòa, Hà Tây], dài hơn 178 trượng; một đoạn ở xã Mễ Trường huyện Thanh Liêm [Hà
Nam], dài 53 trượng; một đoạn ở xã Lại Trì huyện Thư Trì [huyện Vũ Thư, Thái
Bình], dài hơn 42 trượng ; lại bồi đắp một đoạn đê cũ ở xã Vĩnh Thái huyện Phú
Xuyên [Hà Tây], dài hơn 65 trượng; chi tiền hơn 80.400 quan.
Tháng 6 [19/7-16/8/1803],
bắt đầu đúc tiền Gia Long thông bảo; sai Cai đội Cáp Văn Cẩn trông coi
công việc. Đúc xong đưa 1.000 đồng ra Bắc Thành để đúc theo cho có quy thức nhất
định. Mẫu tiền, mỗi đồng đường kính 5 phân 5 ly, mỗi quan tiền nặng 2 cân 4 lạng.
Sai các dinh ở Gia Định
chiêu tập quân dân xiêu tán trốn tránh trong thời chiến tranh; Vua ban dụ rằng
:
“Gia Định từ khi dấy
binh, hằng năm chinh chiến, đi phải mang theo, ở thì phải đưa tiễn, dân cũng mệt
nhọc. Trong lúc nhiều việc, hoặc có kẻ chạy đông chạy tây, trốn tránh vào rừng
núi để tạm lánh phu dịch. Nay nghịch tặc đã trừ, binh cách đã dứt, nên dụ bảo rộng
rãi, khiến cho người ta vui vẻ quay về. Nếu có kẻ tình nguyện đầu quân, cho
quan sở tại tâu lên; nếu không thì cũng được trở về hương lý [làng
xóm] để cùng hưởng phước thái bình”.
Sai quan Lưu trấn
đưa thư sang Chân Lạp bảo rằng phàm có dân Việt ngụ cư tại đó, thì đưa trả
về hết.
Quan Bắc Thành tâu rằng
các động Tây Nghiễn, Ngưu Đầu, Bạch Sa và Ngư Châu thuộc châu Vĩnh An [huyện
Mông Cái, Quảng Ninh] trước kia chưa kiểm soát được. Nay quan trấn Yên Quảng
[Quảng Ninh] chiêu dụ vỗ về, nhân dân đều vui vẻ quy phụ. Xin hạ lệnh cho làm sổ
sách ruộng đất để tương lai bàn định thuế khóa; Vua chấp nhận.
Nước Hồng Mao [Anh] sai sứ
là Robert đến hiến phương vật và dâng biểu xin lập phố buôn ở Trà Sơn [huyện
Sơn Trà, Đà Nẵng] dinh Quảng Nam. Vua nói rằng :
“Hải cương là nơi
quan yếu, sao lại cho người ngoài được !”
Quyết định không cho, sai
trả lại hiến vật, rồi bảo về.
Tháng 7 [17/8-15/9/1803],
lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ [huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi],
sai mộ dân lập đội Hoàng Sa.
Mười ba năm về trước
[1800], Lê Quýnh một cựu thần nhà Lê tại Trung Quốc đòi trở về nước để mưu đồ
phục quốc, lại khăng khăng chịu chết, quyết không thay đổi mũ áo, cạo đầu dóc
tóc theo phong tục Mãn Thanh; nên bị Vua Càn Long bắt giam vào ngục. Đến đời
Vua sau, năm Gia Khánh thứ 5 [1800] được phóng thích, nhưng bị quản chế tại
doanh Hỏa Khí.
Lúc Vua Gia Long sai Sứ
sang Trung Quốc xin cầu phong, dùng Lê Doãn Trác là con Lê Quýnh làm nhân viên
sứ bộ, giữ chức Hành nhân. Khi sứ bộ đến Trác Châu, cách Bắc Kinh khoảng 50 cây
số về phía nam; Lê Quýnh từ lặn lội xuống thăm con, sự việc phát giác, nên Lê
Quýnh bị nhà Thanh hạch tội:
“Ngày 30 tháng 7 năm Gia
Khánh thứ 8 [15/9/1803]. Dụ Nội Các: Bọn Miên Chí tâu:
‘Người An Nam tên Lê
Quýnh ngầm đến Trác Châu [zhuozhou, Hà Bắc] tìm gặp con y, nay xin
giao cho phủ Thuận Thiên chiếu theo lệ xét xử.’
Lê Quýnh là viên quan của
của phiên bang nơi biên giới, phạm tội nên bị giam. Vào năm Gia Khánh thứ
5 [1800] được Trẫm đặc cách phóng thích, mệnh an sáp tại ngoài doanh
hỏa khí, cấp lương tiền như lính Bát Kỳ; vẫn giao cho quan phụ trách trông coi,
không được tự ý đi ra ngoài. Nay Lê Quýnh cùng Lý Bỉnh Đạo nói dối xin đi thăm
mộ Lê Duy Kỳ, được doanh này cho hai người lính hộ tống. Đi đến khoảng phụ cận
cầu Lư Cấu, Lê Quýnh thừa lúc sơ hở bỏ đi, quân hộ tống chỉ đưa được Lý Bỉnh Đạo
trở về, riêng Lê Quýnh thì đi thẳng đến Trác Châu. Qua viên Tri châu này thẩm vấn,
y khai rằng:
‘Nhân nghe tin
trong số Cống sứ Việt Nam có con y là Lê Doãn Trác giữ chức Hành nhân, trên đường
đến kinh đô; nên y đi thăm hỏi sự tình.’
Bọn Lê Quýnh trú tại
xưởng Lam Điện, làm sao biết được Lê Doãn Trác theo phái đoàn Cống sứ Việt Nam
đến kinh đô? Huống Sứ thần nước này đến Trác Châu vào ngày 25, Lê Quýnh đến
ngay vào ngày hôm sau, cớ sao được tin nhanh như vậy? Vả lại bọn Lê Quýnh muốn
đi ra ngoài để thăm gặp, thì cứ bẩm lên viên Đại thần cai quản, để được tâu lên
đợi chiếu chỉ chấp thuận mới có thể đi được. Sao y chưa trình rõ ràng lại ngầm
đi [đi không xin phép], quả thực không tuân lệnh quản thúc. Ngoại trừ việc
giáng chỉ đem các quan viên trong doanh phân biệt xét xử; nay truyền lệnh doanh
phụ trách cùng phủ Thuận Thiên giải giao bọn Lê Quýnh, Lý Bỉnh Đạo hai người đến
bộ Hình để thẩm vấn.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 117, trang 563 564)
Sự việc giao cho bộ Hình,
lệnh đem Lê Quýnh đối chất với viên Tham Lãnh Bảo Thiện chuyên trách quản lý.
Viên Tham lãnh này phải thú nhận rằng đã tự tiện cho phép Lê Quýnh đi gặp con,
do đó Lê Quýnh được miễn tội:
“Ngày 15 tháng 8 năm Gia
Khánh thứ 8 [30/9/1803]. Lại dụ Nội Các:
Bộ Hình đã đem viên Tham
lãnh Bảo Thiện đối chất xác minh với Lê Quýnh rồi soạn tấu triệp trình lên nội
dung:
‘Bọn người An Nam Lê
Quýnh cư trú tại xưởng Lam Điện, do Tham Lãnh Bảo Thiện chuyên trách quản lý.
Nhân Lê Quýnh xin phép đi thăm Cống sứ, Bảo Thiện không bẩm lên quan Đại thần
cai quản, bèn tự chấp thuận cho đi, hành động thuộc loại chuyên quyền tự ý. Khi
Lê Quýnh cung khai việc này, viên Đại thần cai quản đích thân hỏi viên Tham
lãnh, y không thừa nhận; rồi Quân Cơ Đại thần chuyển chiếu chỉ hỏi tường tận,
sau ba bốn lần cung khai y vẫn không nói rõ sự thực. Đến khi giải giao Bảo Thiện
đến bộ Hình đối chất với Lê Quýnh, y không còn bao che được, rốt cuộc phải thừa
nhận.’
Y thuộc loại giảo hoạt, nếu
chỉ giao về bộ nghị xử thì e quá nhẹ; nay truyền lệnh cách chức Bảo Thiện, phát
vãng đến Ô Lỗ Mộc Tề hiệu lực, để chuộc tội. Còn bọn Lê Quýnh, Lý Bỉnh Đạo đã
được hỏi rõ và cũng không phải ngầm đi, mọi việc đều hợp lẽ; nay lại giao cho
doanh Hỏa Khí an sáp tại xưởng Lam Điện, hãy lưu tâm quản thúc, không được tự ý
đi ra ngoài sinh chuyện. Điều cung khai rằng Lê Quýnh trên đường đi tình cờ gặp
viên quan Mông Cổ họ A, còn đơn vị hiệu cờ cùng tên thì không nhớ rõ; cũng
không cần tra cứu thêm nữa.” (Nhân Tông Thực Lục quyển 118, trang 586)
Cùng trong tháng, sứ bộ
nhà Nguyễn lần đầu tiên đến cống triều Thanh, được Vua Gia Khánh khen ngợi:
“Ngày 5 Ðinh Mão tháng 8
năm Gia Khánh thứ 8 [20/9/1803]. Quốc vương Việt Nam Nguyễn Phúc Ánh
sai Bồi thần đến cống sản vật địa phương. Giáng sắc khen ngợi, ban yến, thưởng
như thường lệ.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 118, trang 20 ).
Nhân dịp này người Thanh
đưa thư báo tin sứ thần ta đến Yên Kinh, vua Thanh sẽ sai án sát sứ Quảng Tây Tế
Bố Sâm sang tuyên phong; nên vào tháng 8 [16/9-15/10/1803] Vua Gia Long bàn việc
ra Bắc thành, để nhận sắc. Sai Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Khiêm và Trần Văn Thái
lưu giữ kinh thành, riêng Tống Phước Lương và Nguyễn Vĩnh Thị đem quân thủy bộ
đi trước.
Ngày mồng 4 tháng 8
[19/9/1803], xa giá từ kinh sư khởi hành; Nguyễn Văn Trương, Lê Chất, Nguyễn Đức
Xuyên đem quân đi theo hầu.
Ngày mồng 8 [23/9/1803] đến
Quảng Bình; dân phía bắc tỉnh này bị đói, sai phát 1.500 phương gạo kho để chẩn
cấp.
Ngày 11 [26/9/1803], xa
giá đến Nghệ An, đóng lại ở hành cung Hà Trung [huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh]. Trấn thủ
Hoàng Viết Toản và Hiệp trấn Hồ Thế Học ra mắt. Vua hỏi thăm dân tình, và sắc
sai dân sở tại sửa đắp đường quan mỗi 15.000 trượng [1 trượng=4 mét] thì cấp
cho 10.000 phương gạo, người cung ứng cỏ rơm cho voi ngựa thì mỗi ngày cấp 15
phương gạo ; cầu cống gãy nát thì dùng quân lính sửa chữa, không được điều động
sức dân.
Vua thấy dân Nghệ An đói,
sai phát chẩn; ban chiếu rằng :
“Trấn các ngươi sau cơn
binh lửa, mà gánh vác dao dịch chưa được nghỉ ngơi. Năm nay lại mất mùa, mặt
dân xanh như rau cả, lòng trẫm rất thương. Vậy phát gạo kho 35.000 phương gạo để
chẩn cấp, tổng trưởng, xã trưởng kẻ nào xén bớt thì xử tội chết”. Lại hoãn thu
một nữa thuế biệt nạp năm nay.
Người huyện Nghi Xuân [Hà
Tĩnh] là Nguyễn Công Trứ đến điều trần mười việc; sai bộ Lại duyệt kỹ để tâu.
Tháng 9
[16/10-13/11/1803], nước Chân Lạp sai sứ sang cống, quan tại kinh đô tâu lên
cho Vua hay. Sai các trấn từ Quảng Trị trở ra Bắc, tiếp đãi sứ giả nồng hậu, rồi
đưa đến hành tại [nơi Vua trú].
Hơn trăm chiếc thuyền của
giặc biển Tề Ngôi [bọn cướp biển Trung Quốc] ra vào vùng Tiên Yên [Quảng
Ninh]và Vân Đồn [Quảng Ninh], xâm bức đồn Cỗ Dũng, lại vào cả sông Bạch Đằng,
cướp bóc địa phương Kinh Môn [Hải Dương]. Nguyễn Văn Thành sai Chưởng dinh Nguyễn
Đình Đắc, Đô thống chế Phan Tiến Hoàng, Tán lý Đặng Trần Thường đem quân đánh dẹp.
Vua nghe báo, sai Nguyễn
Văn Trương lãnh quân thủy bộ cùng Văn Thành điều động biền binh phái thêm để
ngăn chặn những đường trọng yếu. Hương cống cũ triều Lê là Bùi Huy Ngọc và Nguyễn
Huy Khuê người Yên Quảng [Quảng Ninh] tập hợp thổ hào ở hai tổng Hà Nam [Quảng
Ninh] và Hà Bắc [Quảng Ninh] theo quan binh, đánh chém được 6 đầu giặc, bắt được
thiếu úy giặc là tên Vân. Thổ hào ba huyện Kim Thành [Hải Dương], Thủy Đường [Hải
Dương] và Giáp Sơn [Hải Dương] cũng đều họp quân đón đánh, chém được 2 đầu giặc,
bắt được hơn 60 người. Thuyền giặc chạy ra biển về phía đông. Văn Thành đem
tình trạng tâu lên; Vua cho Huy Ngọc làm Tham hiệp Yên Quảng, Huy Khuê làm Tri
huyện Hữu Lũng [huyện Lạng Giang, Bắc Giang]; các thổ hào đều được thưởng các
chức như: Cai đội, Đội trưởng, Cai thuộc, Ký thuộc, Cai tổng, Phó tổng.
Bấy giờ những di thần nhà
Lê tỵ nạn tại Trung Quốc đều muốn trở về nước và xin đem hài cốt cựu Hoàng Lê
Chiêu Thống cùng về. Vua Gia Khánh chấp nhận việc này, nên sai Tuần phủ Quảng
Tây Tôn Ngọc Đình bảo Án sát Tế Bố Sâm lúc ban sắc phong, hãy cáo tri cho Vua
Gia Long biết có hay không muốn lưu giữ những người này:
“Ngày 10 tháng 9 năm Gia
Khánh thứ 8 [25/10/1803]. Dụ các Quân cơ đại thần:
Trước đây những người An
Nam theo Lê Duy Kỳ lục tục đến đầu thuận nội địa, cho an sáp yên ỗn đã mấy năm
nay. Hiện tại Nguyễn Quang Toản tự dẫn đến sụp đổ, Nguyễn Phúc Ánh gõ cửa quan
xin nội phụ, mới được phong làm Quốc vương Việt Nam. Nhân nghĩ đến người An Nam
trước đây bị an sáp, tất phải nhớ đến cố hương; đã tra hỏi bọn Lê Quýnh bị an
sáp tại doanh hỏa khí, cùng những cựu thần họ Lê bị biên chế vào kỳ (2) thì
đều muốn trở về nước và xin đem hài cốt của Lê Duy Kỳ trở về. Lúc này Cống sứ
Việt Nam đã khởi hành từ kinh đô đến Quảng Tây, sau đó viên quan ty Niết Tề Bố
Sâm sẽ tuân theo chiếu chỉ trước mang sắc ấn ra quan ải đến ban phong. Lệnh
viên Tuần phủ truyền bảo Tề Bố Sâm lúc ban sắc phong, hãy cáo tri cho viên Quốc
vương biết rằng người An Nam đến đầu thuận trước đây, được đại Hoàng đế hỏi
đến, bọn y đều xin trở về cố hương. Vậy viên Quốc vương có hay không muốn thu
lưu những người này; hãy phúc đáp, để bẩm lên viên Tuần phủ, rồi tâu lên đầy đủ.
Ðem dụ này truyền cho Tôn Ngọc Ðình hay biết.” (Nhân Tông Thực Lục, quyển 120,
trang 14)
Ngày 12 tháng 10
[25/11/1803] Vua đi chơi núi Dục Thúy [Ninh Bình], xem ngắm hình thế. Sai lấy
hai huyện Đại An [huyện Nghĩa Hưng, Nam Định] và Vọng Doanh [ huyện Ý Yên, Nam
Định] thuộc trấn Sơn Nam hạ [Nam Định] cho lệ vào Thanh Hoa ngoại [Ninh Bình].
Ngày 16 [29/11/1803] xa
giá đến thành Thăng Long; sai Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường kinh lược
các trấn ở Bắc Thành, lấy Nguyễn Văn Trương tạm thời lãnh việc thành.
Hạ lệnh cho quan lại sĩ
thứ ở Bắc Thành điều trần về lợi hại của việc đắp hay bỏ đê, ban chiếu rằng :
“Làm lợi, bỏ hại
là việc trước tiên của chính trị. Xét xưa sánh nay, phải sao cho đúng lẽ. Những
huyện ở ven sông trong địa phương các ngươi từ trước đã lập đê điều để phòng nước
lụt. Song nhân tuần đã lâu, hễ đến mùa lụt thì đê điều vỡ lở, lúa ruộng bị ngập,
người và súc vật cũng bị hại. Bọn ngươi, người thì sinh ở nơi đó, người thì làm
việc ở nơi đó,
thế đất tình người đã từng
am thuộc. Vậy đắp đê và bỏ đê, cách nào lợi, cách nào hại, cho được tỏ bày ý kiến.
Lời nói mà có thể thực hành sẽ được nêu thưởng”.
Vua đi thăm xã Thanh Khúc
thuộc huyện Thanh Trì [Hà Nội], xem đường đê, quan dân đều dâng phong thư, có
người nói đắp đê thì lợi, có người nói bỏ đê thì lợi. Vua cho rằng dư luận phân
vân, chưa biết thế nào là đúng. Bèn sai Hộ bộ Nguyễn Văn Khiêm đi khắp các nơi
xem dòng sông uốn khúc, dòng nước phân hợp, vẽ thành bản đồ bản dâng lên.
Tháng 11
[14/12/1803-12/1/1804], nước Xiêm La sai bọn Sá Phất Ba Ni đến hiến phương vật.
Vua sai các dinh trấn từ Diên Khánh ra Bắc đón tiếp sứ giả nồng hậu, đưa gặp
nơi hành tại, rồi cho về.
Về phía nhà Thanh, ngoài
việc chấp thuận cho những cựu thần nhà Lê tại kinh đô được trở về nước, cũng
cho phép những người bị an sáp tại các tỉnh, như Bế Nguyễn Cung, được trở về:
“Ngày 8 tháng mười một
năm Gia Khánh thứ 8 [21/12/1803]. Chấp nhận Bế Nguyễn Cung, người An
Nam bị an sáp tại Giang Ninh (3) , trở về nước; cùng thưởng lộ phí có
sai biệt.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 123, trang 12 )
Tháng 12 [13/1-10/2/1804]
Chiêu Nội ở Trấn Ninh [Xiêng Khoáng, Lào] xin nội thuộc. Trước kia vua từ thành
Gia Định ra đánh miền Bắc, quốc trưởng nước Vạn Tượng là Chiêu Ấn nhiều lần cho
binh theo quan quân ở miền thượng đạo đi đánh giặc. Khi Bắc Hà đã bình định,
vua lấy đất Trấn Ninh ban cho. Đến nay tù trưởng Trấn Ninh là Chiêu Xanh chết,
Chiêu Ấn lập người anh họ là Xà Cương thay giữ dân chúng. Con Chiêu Xanh là
Chiêu Nội không phục, đem đồ đảng 600 người chạy đến Trà Lân [huyện Tương
Dương, Nghệ An]. Việc ấy báo lên. Vua sai quan trấn Nghệ An phát hơn 200
phương gạo cấp cho.
Trấn thủ Phú Yên báo thuyền
buôn của người Xiêm là Ngô Mân Quan bị bão, đậu vào cửa biển Cù Mông. Vua ban sắc
rằng :
“Từ nay người buôn Xiêm bị
nạn thì số gạo nhà nước bán chiếu theo nhân khẩu, vừa đủ thì thôi, không được
bán nhiều. Thuyền có hàng hóa cũng đánh thuế”.
Sứ bộ Lê Quang Định từ Bắc
Kinh trở về nước; Vua hỏi thăm công việc đi sứ, vui mừng ủy lạo.
Chú thích:
1.Ty niết: Ty Án sát.
2. Kỳ: Quân đội nhà Thanh
được chia thành 8 kỳ, tức 8 màu cờ; vậy biên chế vào kỳ có nghĩa là biên chế
vào quân đội.
3. Giang Ninh: xưa gọi Nam
Kinh là Giang Ninh; nay thuộc tỉnh Giang Tô.
7/8/2026
Hồ Bạch Thảo
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét