Người nữ và con đường
tình yêu trong Đối thoại đêm
(Đọc Đối thoại đêm của Triệu Kim Loan, NXB Hội Nhà văn, 2023)
Tôi không biết sẽ bắt đầu
từ đâu, viết gì trước, khi ngôn từ líu ríu và những tứ thơ, những vần thơ đẹp của
nữ sĩ Triệu Kim Loan đang chảy trong suy ngẫm?
Chỉ là một độc giả bình
thường, yêu thơ ca và trân quí, nâng niu những tài hoa sáng tạo, còn để phẩm
bình về thi ca lại là câu chuyện khác.
Tuy vậy, tôi cứ mạo muội
nhờ chút câu chữ nói hộ cảm xúc chân thành, những tri nhận cá nhân tôi khi đọc Đối
thoại đêm.
Phía trước tôi đã có
“công trình” đầy đặn, giới thiệu tập thơ này. Đó là bài “tựa” công phu ở đầu tập
của nhà thơ Bùi Phan Thảo. Cuối tập có “lời bạt” của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã về
chùm thơ Đà Lạt. Họ đều sành thơ, tri âm, tri kỷ của chị Loan, họ viết về chị ắt
là chí tình, chí thơ!
Đối thoại đêm, như
tôi luôn hình dung đâu đó, gần xa, một người nữ thanh xuân, tươi trẻ, lá đang
biếc mùa xanh; lại như hiện hữu một cây đời trải qua dông gió dập vùi, những buồn
vui, khắc khoải, những nghiệm sinh còn mất; dang dở và khao khát vươn về phía
thiện mỹ trần gian. Chân dung người nữ trong thơ đậm sắc màu văn hóa cội nguồn.
Người nữ ấy đi trên con
đường tình yêu. Chị yêu thiên nhiên, yêu quê hương xứ sở, chị yêu người,…
Quê hương nơi chị sinh ra
và lớn lên, trong xa cách, tha phương, nỗi đau đáu không cùng. Niềm yêu quê
chưa bao giờ vơi cạn, ngủ yên. Nó thao thức, luôn đâm chồi nụ tái sinh, như
rong “rêu nảy mầm lối cũ”. Nó xót xa trong thiên họa dập vùi, hình hài quê dấu
yêu biến dạng, phận người trồi sụt, nổi nênh, sinh tử, nghèo đói: Nắng
òa khóc núi chơ vơ/ Rừng loang lổ cháy suối trơ cạn dòng; Đầu nguồn con sóng mồ
côi/ Đục ngầu cuối bãi, phận người lênh đênh (Thương quê). Và dĩ
nhiên cả những trong trẻo, yên bình như quê hương nguyên sơ bao đời nay vẫn vậy.
Đó là một “trung du lấp lánh” trong thương xa của một người con sống xa quê
luôn vọng niệm. Đây là một phố núi thời đèn dầu mà tối “chẳng thắp đèn”;
là hình ảnh cái “ngõ hun hút”; là ngọt ngào giọng mẹ ầu ơ theo nhịp võng
“nhặt thưa dịu nồng”; là hương hoa cau ngan ngát “đợi nắng thắp sao
hôm”: là âm thanh đồng quê quen thuộc bao đời trong “sáo diều cao vút”.
Đặc biệt, một miền quê đất cằn sỏi đá vẫn thầm gieo những hạt mầm khỏe khoắn,
khao khát hiến dâng, khao khát vươn lên, để một ngày cây trổ hoa, kết trái ngọt
ngào cho đời: Khát vọng xanh em giấu dưới cọ mềm / Đồi đá sỏi nghiêng
em – ngày trổ biếc (Khát vọng xanh).
Trái tim nghệ sĩ luôn nhạy
cảm, vọng động trước những éo le, bất trắc của phận người. Người thơ
trong Đối thoại đêm luôn là như thế. Tôi ấn tượng với các thi
phẩm chị viết về thân phận người nữ trong tập này: Gánh đàn
bà, Khỏa sóng đời, Đừng gió, Mẹ chồng tôi, Bóng mẹ, Nhang khói dẫn đường con…
Phải chăng nẻo nữ nhân, đàn bà xưa nay, luôn là những thăm thẳm đa đoan? Họ
ngoài đời và trong nghệ thuật nói chung, trong văn chương luôn ám ảnh nghệ sĩ.
Tôi trân quí, sẻ chia cảm
thông cái mong manh của người nữ trong Đừng gió. Những chênh chao,
xao lòng từ những kỷ niệm đẹp xưa cũ dội về, hay một bóng hình nào đó gặp gỡ giữa
đường đời là chuyện không hiếm. Ranh giới giữa đôi bờ hạnh phúc và bất hạnh
cũng mong manh yếu ớt như tâm hồn người nữ. Con thuyền chòng chành rồi chìm
trong sóng gió hay bình yên quay về bến bờ? Tự cật vấn, tự tình khúc gọi đò,
sang đò, người nữ đã bỏ lại những mê dụ khoảnh khắc để con thuyền quay về bến
quen, vun trồng cây trái xum xuê vườn nhà. Nghe thì ngỡ như nhẹ tênh mà người
trong cuộc vật vã, khắc khoải vượt thoát góc u uẩn, đa đoan chính mình: Em
lựa chiều sóng đổ/ Vỗ tròn bờ đa đoan/ Phù sa em ngút ngàn/ Bồi đắp miền chồng
vợ/ Hạnh phúc ngàn hoa nở/ Trái chín đầy tay thơm (Đừng
gió).
Thơ Triệu Kim Loan luôn
là những người nữ lấy vị tha, lấy hy sinh những niềm vui vị kỷ để đổi lấy hạnh
phúc cho mọi người. Dù họ là tình nhân, là người vợ hay người mẹ. Nết hạnh truyền
thống đó khiến người nữ trong thơ chị nghiêng về chân dung nữ nhân thời xưa, vừa
u buồn vừa tội tình, xa xót, vừa cảm phục: Những mùa dài buốt lạnh/ Chị
và đêm lưu đày/…, Đêm trăng tàn giã gạo/ Cố quên mình đang xanh…, Vùi đau vào nốt
nhớ/ Gió thốc miền trống không (Khỏa sóng đời).
Chị viết về Gánh
đàn bà Những người nữ cứ thương khó, tần tảo lặng lẽ trên đời như chẳng
sống. Họ như cây mọc lên từ sỏi đá cỗi cằn, không tưới tắm mà tự tươi tốt lạ
thường, phi thường. Sức sống ấy được nuôi dưỡng từ đức hy sinh vị tha, tự suối
nguồn đạo hạnh trong trẻo nơi dân tộc ngàn đời. Không kỳ vĩ, không trời cao biển
rộng, không từ bình yên nhung lụa, người đàn bà trần gian lặn ngập trong những
nhọc nhằn gánh nặng mưu sinh cơm áo; họ gánh chồng con trong gắng gỏi tạo dựng
đời sống tinh thần, quên thân để đổi nụ cười êm ấm gia đình; họ tự nhuộm đắng
đót mình cho ngọt bùi thơm thảo phía người thân; họ quên sống hôm nay vì một đời
sống tốt đẹp phía tương lai … Họ tồn tại trong nghĩa lý quên sống. Họ chỉ như
cát bụi vô hình. Họ chỉ luôn hao khuyết. Như đôi bờ sông bên lở, bên bồi, phía
nữ nhân luôn nhận về bên lở. Bờ bãi bồi tròn đầy, mỡ màu, họ dành tặng chồng
con. Viết về giới mình như vậy, thơ chị có nhức nhối những bất nhẫn và những phận
bạc dưới trời? Trong nỗi lặng thầm nhẫn nhịn bao dung, ắt chứa những sầu đau cô
lẻ! Hóa ra, nước mắt lặn vào trong thì muôn đời vẫn thế. Hồ Xuân Hương xưa,
“khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt”, “cô Kiều khóc trên bốn dây ly biệt” khi bán
mình chuộc cha. Dù cho nàng dứt tình và “hạ tình” như thế, song đêm trao duyên,
chữ tình nức nở, thật bi ai… Gánh đàn bà thời nào cũng vậy! Họ gánh đa đoan
trên mảnh thân gầy, đi con đường dằng dặc buồn, xuyên suốt ngàn năm lễ giáo ngặt
nghèo. Vẫn một sắc màu thủy chung, lam làm, thương khó, nhẫn nhịn, vị tha mà bước
qua vị kỷ: Cơn lốc cuộc đời cuộn xoáy những trái ngang. Người đàn bà tất
tả trong khó nhọc mưu sinh…Họ giấu nỗi đau sau những nụ cười… đối diện đêm hàn
đón ánh bình minh (Gánh đàn bà).
Viết đến Gánh đàn
bà thì dường như, những dáng hình nữ khác trong thơ Triệu Kim Loan giống
chồi nhánh chung một gốc. Bởi suy cho cùng, vì một sắc màu yêu thương vị tha vô
hạn mà người đàn bà đã quên đi bản thân ở trên đời. Những run rẩy, nồng nàn yêu
đương, nỗi nhớ thương đầy vơi hay niềm đau vẫn chỉ nghiêng về phía trống vắng bản
thân mình: Em nồng nàn - một ngăn nhớ - riêng anh (Mưa
thơm ngày cũ); Cố quên mình đang xanh…/ Vì các con -
thôi đành (Khỏa sóng đời).
Người nữ tự tình, tự vui
buồn, tự vụn vỡ, tự thấy bẽ bàng, tự đắng đót: Em thương mình buốt gió/
Ngọn nến tàn buốt lệ suốt quanh năm (Dấu chấm hỏi), Dẫu
ngày mai trắng tay câu duyên nợ/ Em vẫn mình xa xót. Một hoang xưa (Ngược
gió) Xa xót quá/ ngày tình yêu góa bụa/ Tự ru mình sao
chua chát / cứ lên ngôi… Một ngày - anh thành
khách trọ/ Một ngày đau/ Em vụn vỡ/dưới chân đền (Ngày
tình yêu góa bụa).
Và rồi, họ tự chữa lành vết
đau, tự đứng lên và tiếp tục kiếm tìm trong đợi chờ hy vọng, khát khao vẫn xanh
ngời: Hoa đợi ngày biếc tím/ Bến đợi cánh buồm nâu (Chợ
tình), Giữa dòng đời xô lệch / Lòng vẫn nguyên ánh rằm (Ngược mùa), Em
qua mùa tuổi chín/ Bão đời trôi phũ phàng/ Hình như còn ủ kín / Nỗi khát tìm
mênh mang (Ríu ran mùa).
Tôi đã gặp những người nữ
vừa u sầu, vừa khao khát sống như thế trong Đối thoại đêm. Tôi cứ
liên tưởng, trong cuộc người giữa trần ai này, những sự tình như thế có gọi tên
là mảnh cô đơn trong nhu mềm và cứng cỏi ? Người nữ mềm như cỏ, người nữ vi diệu
như nước nhưng trong họ vẫn cất giữ phẩm chất tùng bách để chống chọi, không quị
ngã giữa đời, để giữ lửa tình yêu cuộc sống. Âm và dương, mặt trời và mặt
trăng, sao hôm và sao mai… tưởng như cơ hồ đối lập mà không thể thiếu khuyết
làm nên chân dung thế giới và cuộc sống.
Đối thoại đêm có
50 thi phẩm. Dòng chảy tràn là tình yêu thương con người. Tình yêu lứa đôi nhiều
“sóng ở đáy sông”. Thân phận tình yêu gắn với nụ cười và nước mắt, những day trở
kiếm tìm cái đẹp và hạnh phúc.
Tôi yêu một hồn thơ nữ nhạy
cảm, dịu dàng, tinh tế trước thiên nhiên, gọi ngôn từ họa những hình ảnh đẹp;
bông “hoa nắng”, “sắc phượng bung lửa”, “hạt chiều bay”, “vệt
nắng tím”, “Sông như võng”, “cải dịu dàng gối ngực triền
đê”…“lá trở mình”, “mùi đất trời nồng nã”…
Tôi cũng sẻ chia lối suy
tư sâu sắc trong một số liên tưởng so sánh ám ảnh, ấn tượng. Chị ví phận mồ côi
như “lá héo bên đường” (Mồ côi); ví vạt hoa cải vàng triền đê như người
nữ dịu dàng mềm mại, chút nũng nịu “Cải dịu dàng gối ngực triền đê” (Bùa
mê hoa cải); chiếc lá rụng về đất mà vui niềm vui tái sinh
trong lặng thầm tận hiến; “Mắt lá hướng lên trời hát khẽ/ Tận hiến mình cho
chồi biếc mai sau”… (Mắt lá )…
Những cảnh sắc thiên
nhiên luôn được thi sĩ thổi vào đó những đa điệu “tâm hồn” nhờ nhân hóa: “nắng
khóc”, “vạt nắng đùa”, “sóng phân vân”, “lá trở mình”,
“nắng thương mưa”, “nén nhang trầm thương nhớ đầy vơi”, “Hoa đợi
ngày biếc tím”…
Tôi nâng niu những thi phẩm
đẹp giản dị mà sâu sắc, tứ thơ sáng, dù có khi không hẳn mới, hay sáng tạo. Bởi
nó thật rưng rưng, chạm đến nỗi người nhân bản, nhân văn; Gánh đàn bà,
Khỏa sóng đời, Mồ côi, Thương quê, Ngày tình yêu góa bụa, Rêu nảy mầm lối cũ, Đừng
gió, Chợ tình… Có lẽ, tôi thiên vị cái đẹp cổ điển, giản dị mà
sâu sắc thi điệu khúc ca dao quê kiểng!
Độc thoại đêm sẽ thật thú vị, hoàn hảo, giá như một số thi phẩm đã tinh tế, ngôn từ đẹp, song, độc giả muốn nhận diện tứ thơ sáng hơn, cách viết bớt đi chút cầu kỳ, tập trung hơn. Mặc dù, ở những sáng tác đó, nhan đề mách bảo khá rõ: (Ngày em đến, Chiều xanh gió, Giấc mơ em,..). Nhưng, mơ ước luôn là cái đẹp để ta vươn tới hoàn thiện. Từ Khoảng lặng, Suy tư chiều, Khát vọng xanh đến Đối thoại đêm, nhà thơ Triệu Kim Loan đã đi qua chính mình, suy tư sâu lắng hơn, ngày càng tinh tế. Chúng ta mong qua Đối thoại đêm, người thơ Triệu Kim Loan luôn đến được, có được những bình minh, đam mê sáng tạo trên con đường chị đang đi tới nhiều ánh sáng.
5/11/2023
Nguyễn Thị Nhàn
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét