Nỗi niềm suy tư, trăn trở
về con người
và thế sự trong Sóng đời
(Nhân đọc tập thơ Sóng đời của Trần Ngọc Phượng, Nhà xuất
bản Hội Nhà văn, 2023)
Sóng đời là tập thơ thứ 5 của nhà thơ Trần Ngọc Phượng. Tập thơ tập hợp hầu hết những bài thơ của anh viết từ những năm tháng tuổi trẻ, tham gia chiến đấu ở chiến trường cho đến những bài thơ sáng tác rải rác sau đó và cả những bài thơ anh viết trong thời gian gần đây. Có thể xem Sóng đời như bản nhật ký về hành trình sống, hành trình cuộc đời vô cùng phong phú, đa sắc màu của Trần Ngọc Phượng. Ở đó mọi ký ức, niềm vui, nỗi buồn được nhà thơ giãi bày một cách chân thành, hồn hậu. Bản lĩnh, cốt cách của một người lính đã hun đúc nên một con người sống có tình cảm, có tinh thần ý thức trách nhiệm công dân. Điều này được thể hiện rõ nét và xuyên suốt trong cả tập thơ.
Sóng đời gồm 156 bài
thơ và chia làm 3 phần:
Phần 1: Dòng sông quê
hương (48 bài).
Phần 2: Ký ức (48
bài).
Phần 3: Dốc chiều (60
bài).
Việc chia bố cục tập thơ
làm 3 phần như thế là có dụng ý của nhà thơ Trần Ngọc Phượng. Đó là sự sắp xếp
theo lôgic và theo dòng hoài niệm, sự liên tưởng trong cái nhìn đa chiều của
nhà thơ.
Dòng sông quê hương, nơi
Trần Ngọc Phượng đã một thời tuổi thơ tắm mát, nơi cất giữ nhiều kỷ niệm đẹp của
thuở thiếu thời. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Trần Ngọc Phượng phải
chào tạm biệt “dòng sông” để vào Nam làm nhiệm vụ. Con sông chảy qua một
thời gian khó/ Ấm áp tình thương ngôi nhà đầu phố/ Sóng nào dìu tôi qua sông vượt
lũ/ Đò nào đưa tôi ra đi từ đó.
Từ biệt dòng sông quê
hương vào Nam chiến đấu với bao nhiêu ký ức về quê hương và cả những tháng ngày
gian khó, cam go ở chiến trường miền Đông. Đất nước hòa bình, ở vào tuổi xế chiều
(theo cách nói đầy ám gợi của Trần Ngọc Phượng là ở “dốc chiều”) của đời
mình, nhà thơ lại “trở về dòng sông xưa” để “tìm lại quãng
đường trai trẻ”. Lòng lại rưng rưng nhớ một thời đã qua, ngẫm ngợi về cái
được mất của quá khứ và cả hiện tại trong nỗi niềm day dứt, trăn trở, suy tư.Bến
bờ neo cuối đời/ Cũng bên bồi bên lở/ Cay đắng và ngọt bùi/ Là tình đời muôn thủa.
Nam Định là nơi mà Trần
Ngọc Phượng có những năm tháng tuổi thơ, lớn lên và học hành ở đó. Vì thế, hình
ảnh của đất và người quê hương Thành Nam luôn hiện diện trong tâm thức của nhà
thơ. Chính mảnh đất này đã trở thành cội nguồn sinh dưỡng, chỗ dựa tinh thần vững
chắc để cho Trần Ngọc Phượng vững tâm sống, chiến đấu, làm việc cho đến ngày
hôm nay. Vì thế dù có đi đâu, làm gì, dù có rời xa “chốn cũ” nhưng tận trong
sâu thẳm tâm can anh vẫn luôn hướng về nơi đóbằng một tình cảm thân thương đến
lạ. Nhà thơ nhớ tất cả hình ảnh quê nhà với từng con người, cảnh vật, góc phố,
con sông, cánh đồng...
Nam Định những phố xưa/
Trải dài theo nỗi nhớ/ Len lỏi vào giấc mơ/ Nỗi lòng người xa xứ// Hàng Nâu liền
Hàng Bát/ Hàng Mâm nối Hàng Song/ Đi học qua Hàng Cót/ Vào chợ qua Hàng Đồng/...
Tuổi trẻ sống vô tư/ Thả diều nơi Gốc Mít/ Tập bơi hồ La Két/ Đá bóng sân Khoái
Đồng// Thành phố như bàn tay/ Ta ấp vào lồng ngực/ Đường phố như chỉ tay/ Dọc
ngang trong ký ức (Nam Định những phố xưa).
Chính vì lẽ đó mà Trần Ngọc
Phượng có nhiều bài thơ nhắc đến tên đất, tên làng và những gì có liên quan đến
Thành Nam:Sông Đào, Chiều đông phố quê, Viếng mộ cụ Tú, Ký ức sông Đào, Bến
xưa, Bên hồ Vị Xuyên, Trở lại trường xưa, Tiếng vọng Thành Nam, Dệt xưa, Đâu chỉ
có thế thôi, Đêm tháng Bảy...
Đặc biệt là những người
thân yêu của anh, nhất là hình ảnh người bà, người cha, người mẹ, người chị,
người em... Trong hành trình làm người, khi đã ý thức được sự yêu thương, mối
quan hệ ruột rà, máu mủ thì nhà thơ chưa bao giờ nguôi quên đến họ. Để rồi, khi
đã đi qua bao dâu bể, sương gió của cõi người Trần Ngọc Phượng lại càng trân
quý, càng yêu thương hơn gấp bội phần. Tiếc rằng, tuổi thanh xuân phải đi chiến
đấu, nên anh không có thời gian, không có điều kiện để chăm sóc cho Cha và những
người ruột thịt của mình. Để giờ đây anh cảm thấy như mình có lỗi, cảm thấy hụt
hẫng, ăn năn. Hình ảnh “Nơi bậu cửa Cha ngồi” đã ăn sâu vào tiềm
thức của đứa con xa quê như anh. Vì thế, khi trở về quê cũ, việc đầu tiên là Trần
Ngọc Phượng “tìm lại” ngôi nhà xưa với bao nhiêu ký ức của cả gia đình gắn liền
ở đó.Con về quê/ Tìm lại ngôi nhà xưa/ Nơi bậu cửa/ Cha ngồi/ Chờ đàn con trốn
nhà, đi bơi, đá bóng/ Ba ngồi lặng yên/ Trong buổi chiều ảm đạm/ Chúng con về/
Len lét sợ đòn roi/ Bữa cơm nghèo/ Cha chống đũa nhìn/ Những đứa con vô tư/
Khua nồi vét đĩa/ Mẹ ra đi khi ba còn trẻ/ Một mình ba gà trống nuôi con/ Ăn học
nên người/ Ba nhìn đâu, về phía chân trời/ Nơi ấy một thời khá giả/ Nơi ấy con
ra đi/ mười năm trời,/ Ba ngồi chờ đợi/ Đón con về/ Mấy tấm huân chương/ Ba lô
rỗng tuếch/ Ba thắp nén nhang lên bàn thờ Mẹ/ Mừng đứa con từ cõi chết trở về/
Ba nói cứ vui đi/ Mặc đời đói nghèo tem phiếu thiếu ăn/ Chúng con ăn năn/ Chưa
lo cho Ba được phút giây thanh thản/ Cả đời người chìm nổi trầm luân/ Trong xã
hội một thời binh đao khói lửa/ Người ra đi/ Nước nhà vẫn còn nghèo khổ/ Nhưng
an lòng/ Với bốn đứa con/ Nên người tử tế/ Trong đất nước cựa mình đổi thịt
thay da/ Nén nhang này/ Con xin tạ lỗi/ Với đất trời/ Với cả Mẹ con/ Mâm cúng đủ
đầy/ Cháu con đủ mặt/ Mà lòng sao quặn thắt vô cùng/ Cha Mẹ hãy về phù hộ cháu
con.
Biểu tượng quê hương,
dòng sông, con đường, thời gian, đêm, ngày, tháng... trong Sóng
đời của Trần Ngọc Phượng được dùng với tần số dày đặc. Đó cũng là
cách để nhà thơ chuyển tải được hết những cung bậc cảm xúc, ký gửi tất cả những
nỗi niềm của bản thân về con người, cuộc đời và thời cuộc.
10 năm trực tiếp tham gia
chiến đấu ở chiến trường, tham gia nhiều trận chiến, đi đến nhiều nơi, gặp rất
nhiều người, qua nhiều vùng đất, chứng kiến không biết bao cảnh tượng bi
hùng... Nhưng có lẽ ám ảnh nhất đối với Trần Ngọc Phượng là sự hy sinh của những
người đồng chí, đồng đội.
Trần Ngọc Phượng nhớ tất
cả từ khi mình bước chân vào Nam cho đến lúc đất nước hoàn toàn độc lập: anh đi
những đâu, làm những gì, gặp những ai... và cả những băn khoăn, trăn trở, day dứt,
xót thương về những điều đã xảy ra, những thứ đang hiện hữu ở hiện tại. Tất cả
được anh ghi lại rất cụ thể, chi tiết bằng những lời tâm tình rất đỗi tự nhiên,
lối nói nhẹ nhàng, chững chạc nhưng cũng rất dứt khoát, chân tình.
Ký ức Mậu Thân,
Ngã ba Cây Cầy, Bên nấm mộ vô danh, Mười cô gái ngã ba Đồng Lộc, Cái
ba lô con cóc, Chiều núi Ông, Sốt rét, Đêm mưa, Tiền phương, Anh báo vụ, Đứng
gác đêm trăng, Tháng Tư Long Khánh, Họp mặt sư đoàn, Bến không chồng, Chiều
nghĩa trang Trường Sơn, Gió tháng Tư, Trận địa bến sông, Bà Rịa thân
thương, Cảm xúc tháng Tư, Dọc đường miền
Trung, Lời thề ấy đi cả đời chưa trọn...
Là người sinh ra và lớn
lên trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, từng là một người lính trực tiếp tham
gia chiến đấu ở chiến trường nên nhà thơ càng thấu rõ những gian khó, vất vả,
thiệt thòi. Trong những lúc khó khăn nhất, nguy hiểm nhất, cái chết cận kề
nhưng không thể làm cho anh chùn bước. Niềm tin và ý thức của một người lính bộ
đội cụ Hồ đã tiếp cho anh sức mạnh. Giữa mưa bom, bão đạn những đồng chí, đồng
đội của anh có người đã hy sinh không kịp nói lời từ biệt. Chứng kiến những cảnh
bi thương ấy làm cho Trần Ngọc Phượng không khỏi day dứt, nghẹn ngào.Có những
bài thơ anh chép vào nhật ký mà cho đến tận bây giờ anh vẫn còn cất giữ. Nhà
thơ xem đó là những kỉ vật của đời mình.
Khóc bạn là
bài thơ Trần Ngọc Phượng viết cho Dũng, người bạn, người đồng chí thân yêu đã
hy sinh cạnh mình trong trận chống càn vào tháng 6/1968 tại Bảo Bình, Long
Khánh bằng tiếng khóc nấc nghẹn.
Dũng chết rồi, Dũng không
còn nữa/ Tim không đập và ngực không còn thở/ Dũng chết rồi
có phải thật không?/ Nét mặt đây máu vẫn tươi hồng/ Mắt nhắm lại
hiền lành như giấc ngủ/ Ta bàng hoàng không sao tin được/ Dũng
bỏ mình đi không nói đến một lời/ Hỡi bạn quê hương thương mến ơi/ Ta
sống với nhau mấy mùa mưa nắng/ Bom đạn quanh mình sống chết
vào ra/ Mà nay đành phải cách xa/ Quân thù đã giết bạn ta mất rồi/ Máu
xương đồng chí ta ơi!/ Xót xa căm giận sục sôi trong lòng...
// Chỉ còn đây nấm mộ đắp cao/ Chỉ còn đây mảnh đất
này Long Khánh/ Mà năm tháng là tình sâu nghĩa nặng/ In dấu
chân ta sương gió mấy mùa/ Thấm máu anh em mình vì độc lập tự do/ Ta
lao tới quân thù/ Đuổi không còn tên xâm lược/ Đất nâng
chân ta đất nóng bỏng căm hờn/ Đau thương không làm ta rơi nước mắt/ Món
nợ này không thể nào quên...
Khóc bạn là
một trong số những bài thơ cảm động viết về người đồng chí, đồng đội của của Trần
Ngọc Phượng đã đi qua bao gian khó, vất vả và cả những hy sinh mất mát. Đây là
những tình cảm thật, được viết ra bởi một con người đã từng đi qua hoàn cảnh khốc
liệt của chiến tranh. Nỗi đau ấy vẫn dai dẳng, đau đáu khôn nguôi cho đến thời
hậu chiến. Bởi chiến tranh là đi kèm với đau thương và chết chóc. Cái chết
không từ một ai, mới vừa gặp nhau nói cười đó thì cũng có thể ra đi vĩnh viễn.
Đọc bài Lời mẹ,
bất giác tim tôi lại nhói đau, cay cay nơi khóe mắt vì xúc động.
Cha con/ Hy
sinh ở Điện Biên/ Lịch sử đã kết thành hoa đỏ// Anh con/ Bỏ
mình nơi Thành Cổ/ Thạch Hãn/ Hè về/ Hoa
phượng rãi đầy sông// Con ngã xuống/ Nơi
biên cương/ Đánh bọn giặc ác như thú dữ/ Chúng lẻn vào nửa đêm/ Lúc
cụ già trẻ con đang ngủ/ Giết người cướp của dã man/ Khi đất nước/ Ngàn
cân treo sợi tóc/ Máu xương con/ Gìn giữ nươc
non này!// Đừng buồn con ơi/ Nếu kỷ niệm
hôm nay/ Đất trời còn im ắng/ Hương
khói bay/ Trong lòng người im lặng/ Lịch sử công bằng không
thể nào quên/ Dòng chảy bốn ngàn năm/ Không bao giờ tắc nghẽn!
Nhưng chính nhờ những hy
sinh lớn lao của nhiều đồng chí, đồng đội ở khắp các chiến trường đã tạo nên bước
ngoặt cho cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 và đi đến đại thắng mùa
xuân 1975, mở ra một trang sử mới đầy vẻ vang cho lịch sử nước nhà.
Đất nước hòa bình, người
cựu binh năm nào may mắn trở về vỡ òa trong niềm hạnh phúc tột cùng. Được gặp lại
bạn bè, người thân, đồng chí, đồng đội của mình sau bao nhiêu năm xa cách. Gặp
lại người đồng đội cũ sau 50 năm xa cách, Trần Ngọc Phượng không giấu được sự
vui mừng, xúc động: Năm mươi năm, mới gặp nhau/ Chúng mình giờ đã bạc đầu
gió sương/ Bên nhau ôn chuyện chiến trường/ Một thời gian khó, bão giông hiện về/.../
Dấu chân trên đất Thủ Biên/ Vượt qua Sông Bé đường lên Cây Cầy/ Dốc Năm Cua tựa
khuỷu tay/ Bao nhiêu đồng đội đến nay không về// Em cười đôi mắt đỏ hoe/ Cảm ơn
trời đất chở che đến giờ/ Cứ an nhiên sống như xưa/ Mặc nhìn chiếc lá vật vờ cuối
thu (Gặp em vào buổi thu tàn).
Với một người lính như Trần
Ngọc Phượng, anh cho rằng những năm tháng ở chiến trường đó là những năm tháng
không thể nào quên. Bởi ở đó gắn liền với bao kỷ niệm, mà mỗi lần nhắc đến lòng
lại rưng rưng:
Có thể nào anh lại quên em/ Như quên đi một thời trai trẻ/ Kỷ niệm xưa như bông hoa mới hé/ Cả đời ta chưa khép lại bao giờ/ Em nhớ không buổi tối mùa mưa/ Anh lội qua những hố bom chi chít/ Để được nghe giọng em tha thiết/ Tiếng quê hương giữa đất miền Đông/ Anh thương em giữa chiến trường ác liệt/ Mong manh sao phận gái thân gầy/ Giữa muỗi vắt bom mìn sốt rét/ Em làm sao trụ nổi nơi này/ Mới gặp nhau đã vội chia tay/ Anh xa em đi về phía trước/ Em ở lại nơi đầy quân Mỹ Úc/ Bám trụ ngày đêm chăm sóc thương binh/ Thư gửi nhau thấm máu giao liên/ Vượt lộ băng rừng qua sông qua suối/ Lá thư nào gửi anh em cũng hỏi/ Anh còn sống không ráng đợi ngày về/ Giải phóng rồi không tìm thấy em tôi/ Thư anh gửi như lời hẹn ước/ Khi gặp nhau mái đầu tóc bạc/ Mắt lệ rơi trên trang giấy nhạt nhòa... (Có thể nào quên).
Trở về sau chiến tranh, sống
trong những năm tháng đất nước hòa bình, độc lập nhà thơ có điều kiện đi đến
nhiều nơi trên dải đất cong cong như hình chữ S này. Dấu chân Trần Ngọc Phượng
đã in dấu trên mọi miền đất nước, từ địa đầu phía Bắc - Lũng Cú đến cực Nam
- Mũi Cà Mau. Là người tinh tế, nhạy cảm nên nơi nào anh đi qua cũng đều
để lại những dấu ấn riêng. Điều này được Trần Ngọc Phượng ghi lại bằng những
bài thơ cụ thể ở từng vùng đất mà anh đã đến như: Lũng Cú, Từ tận
cùng chữ S, Nụ cười Thành Cổ, Hòn Chồng, Du lịch Đắc Lắk, Tết Đà Lạt, Hải Đăng
Kê Gà, Cà Ná, Về quê em, Cà Mau...
Sau Đại thắng mùa xuân
1975 cho đến hôm nay, trong các dịp lễ, tết, các ngày kỷ niệm lớn Trần Ngọc Phượng
có dịp “về nguồn” và gặp lại những người đồng đội, đồng chí của mình. Về thăm
nghĩa trang Trường Sơn, về Thành Cổ Quảng Trị, về Ngã ba Đồng Lộc, Long Khánh,
Bà Rịa...Rồi những buổi họp mặt Sư đoàn, họp mặt cuối năm, những buổi cà phê,
trà lá... Niềm vui xen lẫn nỗi buồn, vui vì thấy mình may mắn còn sống, được sống
hạnh phúc bên gia đình, vợ con, cháu chắt; vui vì được gặp mặt những người bạn
một thời vào sinh ra tử để hàn huyên trò chuyện; nhưng bên cạnh đó còn rất nhiều
nỗi buồn len lỏi tạo nên những nỗi day dứt khôn nguôi. Những người đồng chí đồng
đội, sau mấy mươi năm vẫn chưa tìm được hài cốt; những người may mắn còn sống
trở về có người lại sống trong bệnh tật do di chứng của chiến tranh và khó khăn
vào tuổi xế chiều; họp mặt mỗi năm điểm danh lại thiếu vắng... Bên cạnh đó, nhà
thơ còn mang một nỗi buồn lớn đó là phải đối mặt với nhiều bất trắc của thời hiện
tại mà anh đang sống.
Quá khứ đồng hiện cùng với
hiện tại và cả những dự cảm về tương lai trở thành thủ
pháp nghệ thuật chủ đạo trong thơ Trần Ngọc Phượng. Đó không chỉ là sự nhắc
nhớ, lòng biết ơn sâu sắc với quá khứ, biết quý trọng hiện tại và sống có lý tưởng,
trách nhiệm với tương lai.
Sài Gòn chính là mảnh đất
chôn nhau cắt rốn của nhà thơ Trần Ngọc Phượng và sau chiến tranh nhà thơ đã sống
và gắn bó sâu nặng với thành phố này. Vì thế, trong Cõi đời,
Trần Ngọc Phượng dành những vần thơ da diết nhất để “tâm tình” với Sài
Gòn: Em là Sài Gòn đấy anh ơi, Đêm Sài Gòn, Cà
phê Sài Gòn, Hẻm nhỏ phố tôi, Bên dòng kênh Nhiêu Lộc, Thơ phố, Cà phê Dinh, Đường
hoa, Tháng Tư chống Covid...
Với Trần Ngọc Phượng, Sài
Gòn là mảnh đất giàu nghĩa tình và bao dung, người Sài Gòn hào sảng, luôn mở rộng
vòng tay chào đón tất cả bằng tình thương mến, sẻ chia. Vì thế, tận trong sâu
thẳm con tim mình anh tự hào mình là người Sài Gòn, được làm người Sài
Gòn. Sài Gòn đây/ Đất lành chim đậu/ Anh sinh ra/ Biền biệt bốn phương
trời/ Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ/ Gọi anh về nơi cắt rốn chôn nhau/ Đến
bây giờ tóc trắng bạc đầu/ Vẫn muốn hỏi/ Mình Sài Gòn chưa nhỉ? (Em là Sài
Gòn đấy anh ơi!).
Yêu Sài Gòn, tự hào về
Sài Gòn nên nhà thơ luôn dõi theo và quan tâm đến những đổi thay của thành phố
thân yêu. Ấn tượng và thiết thực nhất là việc giải tỏa những ngôi nhà ổ chuột,
cải tạo dòng kênh ô nhiễm, đem lại môi trường trong lành cho thành phố: Hơn
bốn mươi năm rồi/ Em ơi còn nhớ/ Con kênh đen giữa lòng thành phố/ Bạt ngàn những túp
lều khốn khổ/ Chông chênh mấy cột cây/ Ngập tràn rác rưởi/ Anh ngỏ lời đến
thăm/ thương mắt em bối rối/ Cái “ổ chuột” này đây sao dám gọi là nhà/.../
Tháng năm nào quên/ Một thời ngụp lặn/ Tuổi trẻ ta ngâm mình nạo vét/ Con cái
ta/ Thiết kế dựng xây./ Con kênh giờ in bóng hàng cây/ Đàn cá về tung tăng bơi
lội (Bên dòng kênh Nhiêu Lộc); Chiều nay bên dòng kênh Nhiêu Lộc/ Dòng
nước xanh in bóng hàng cây (Gió tháng Tư).
Gia đình là chỗ dựa vững
chắc nhất đối với nhà thơ Trần Ngọc Phượng. Vì thế lúc còn nhỏ, đến khi trưởng
thành, lập gia đình và cả khi về già nhà thơ vẫn luôn dành tình cảm đặc biệt với
tất cả những người ruột thịt. Ngoài tình cảm thiêng liêng dành cho ông bà, cha
mẹ, anh, chị, em thì Trần Ngọc Phượng vẫn dành tình cảm ấm áp, sự quan tâm chở
che dành cho vợ và con cháu của mình (Tặng vợ, Gửi con, Nắng và Gió,
Thiên thần bé nhỏ...).
Nhà thơ tự ý thức được
chính mình, khi đã ở vào cái tuổi gần về “cuối dốc”.Rồi đây về cuối con đường/
Nắng chiều sắp tắt, khói hương sắp nhòa/ Rồi đây còn chót tuổi già/ Cứ mơ trăng
gió như là còn xuân/ Rồi đây rệu rã bước chân/ Cứ vui những lúc quây quần bên
nhau/ Rồi đây sóng cả, sông sâu/ Cứ thơ lục bát bắc cầu mà đi/ Rồi đây đời lắm
thị phi/ Cứ quên như chẳng cần gì mang theo/ Tháng năm còn được bao nhiêu? Xin
đừng hiu hắt liêu xiêu cuối đời (Rồi đây).
Gặp lại người đồng đội cũ với những mảnh đời khác nhau. Có người may mắn có cuộc sống hạnh phúc bên gia đình, con cháu. Nhưng cũng có những đồng đội có hoàn cảnh khó khăn, cảnh ngộ đáng buồn như câu chuyện mà nhà thơ chuyển tải trong bài thơ Chuyện của Dè: Mười năm là chiến sĩ thông tin/ Quen trèo dừa nên giỏi mắc ăng ten/ Lo đánh giặc đâm ra ít học/ Chữ nghĩa không qua lớp đánh vần.// Sau giải phóng trở về làm dân/ Huân chương dũng sĩ cất trong hòm/ Không nghề, không chữ, không ruộng đất/ Lại đi làm mướn để nuôi thân.// Chê nghèo vợ bỏ con nheo nhóc/ Không đứa nào học đến cấp hai/ Biết vậy nên đành xin ra Đảng/ Đã dốt lại nghèo lãnh đạo ai?
Lời thề ấy đi cả đời chưa trọn là bài thơ bộc lộ thành thật nhất những suy nghĩ của Trần Ngọc Phượng từ khi tuyên thệ vào Đảng cho đến tận hôm nay. Buổi lễ kết nạp được mô tả chân thực và xúc động. Hồi đó vào Đảng là phải tiên phong đi trước, sẵn sàng hy sinh trên những con đường rập rình cái chết. Tôi tuyên thệ vào Đảng/ trong buổi lễ đơn sơ/ Không có hoa, có cờ/ Không có băng khẩu hiệu/ Ngay cả bạn tôi người giới thiệu/ Cũng hy sinh trong trận đánh chiều qua/ tôi đọc lời thề trong tiếng pháo tầm xa/ Trong thét rú bầy máy bay phản lực/ Vẫn ráng chiều hoàng hôn đỏ rực/ Trười quê hương không một phút bình yên/ Vẫn đồng đội sốt rét ngồi bên/ Vẫn con đường chiến tranh rập rình cái chết/ Mà sao nghe thiêng liêng giây phút/ Nghe gọi tên mình hai tiếng Đảng viên. Lời thề ấy, đã ăn sâu trong huyết mạch trở thành niềm tin, niềm tự hào của bản thân anh để sống, làm việc có ích cho đời.
Hiện thực cuộc sống sau
chiến tranh, đặc biệt là ở thời kỳ hội nhập vô cùng bộn bề, phức tạp; các giá
trị bị đảo lộn. Ý thức trách nhiệm công dân, bản lĩnh của người cựu chiến binh
đôi lúc làm cho Trần Ngọc Phượng cảm thấy chạnh lòng với bao nỗi trăn trở, suy
tư. Bởi bao bất cập của đời sống vẫn đang tồn tại và diễn ra trước mắt.
Đường Trường Sơn cheo leo
ghềnh thác/ Bước chân rung đòn gánh trĩu hai đầu/ Những đoàn quân xưa đi đánh
giặc/ Máu xương còn để lại rừng sâu// Anh đi vào tận cùng khúc ruột/ Trẻ đến
trường còn lội suối, đu dây/ Nắng thì hạn, đồng khô đất nứt/ Mưa lũ về trắng ruộng
dân cày// Người miền Trung kiên cường chịu đựng/ Những buồn vui cũng đến tột
cùng/ Tiếng nói át gió mưa giông bão/ Sức người như nén bật dây cung (Đường
miền Trung).
Không chỉ có bất công,
đói nghèo mà còn bao mối nguy khác luôn thường trực và trở thành nỗi lo canh
cánh:
Đất nước hòa bình/ Nhưng
nào đã bình yên/ Giặc ngoại xâm, nội xâm đe dọa/ Biển trước mặt phơi đầy xác
cá/ Rừng sau lưng trơ trọi gốc cây/ Trẻ đến trường/ Phải lội suối, leo dây/ Tàu
ngư dân/ Bị đâm từ tàu lạ... (Chiều Nghĩa trang Trường Sơn).
Đồng tiền với sức mạnh
ghê gớm của nó đã làm chao đảo nhiều thang bậc giá trị. Đồng tiền có thể mua
quan, bán tước; đồng tiền có thể thay trắng đổi đen; lương tâm con người trở
thành món hàng trao đổi...
Bây giờ lắm của nhiều tiền/ Lương
tâm đổi chác, chức quyền bán mua/ Nhớ không? Còn nợ
ngày xưa/ Cốt xương liệt sĩ vẫn chưa tìm về (Ngày xưa).
Câu hỏi đầy nhức nhối,
đánh thức lương tri và trách nhiệm của những người đang sống hôm nay, nhất là
những người đang giữ những vị trí, chức vụ chủ chốt của các cấp, các
ngành...
Cái hay ở thơ Trần Ngọc
Phượng là dù anh nói nhiều, nhắc nhiều đến nỗi buồn, sự nhớ thương, nuối tiếc...
nhưng vẫn không có sự bi lụy, não nề, bế tắc, tiêu cực. Ở đó là những trăn trở,
suy tư đầy tinh thần trách nhiệm công dân. Sống có trách nhiệm với gia đình,
nghĩa tình với đồng chí, đồng đội, chan hòa với bạn bè và mọi người xung quanh.
Thơ Trần Ngọc Phượng với
ngôn ngữ trong sáng, giản dị, đi thẳng vào lòng người đọc nhưng cũng không kém
phần tinh tế và sâu lắng, gợi lên nhiều suy ngẫm cho bạn đọc: Đời
đâu phải lập trình/ Nên chợt này chợt nọ/ Đủ cho ta giật mình/ Còn bao điều mắc
nợ (Chợt); Ta đi suốt cuộc đời/ Đuổi theo miền sáng tối/ Rồi cũng về nghỉ
ngơi/ Trong bóng đêm vời vợi (Bóng đêm); Ngã
lưng trên thảm cỏ mềm / Chia nhau chú ánh lưỡi liềm trăng non (Chơi
vơi) Anh về trở lại bến sông/ Em đi lấy chồng vọng tiếng ầu ơ/
Hắt hiu chiều vắng con đò/ Lục bình hoa tím như vừa qua đây (Hoa tím lục
bình) Và ở vào tuổi tám mươi, Trần Ngọc Phượng vẫn viết những câu
thơ ấm áp tình đời: Trăm năm trong cõi Ta Bà/ Mượn vay ai trả phúc
quà ai cho...
3/11/2023
Nguyễn Văn Hòa
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét