Cao Bá Quát - Xuất khẩu thành thơ để phê bình thơ
Cao Bá Quát được mệnh danh là Thần đồng Thơ. Ông tài chữ, tài thơ, nên người đời tôn vinh nhà thơ Cao Bá Quát là Cao Chu Thần. Ông sinh năm 1808, mất năm 1855. Ông sống cùng thời với Thần chữ Nguyễn Văn Siêu, người dùng chữ như của Trời, Phật, đã có chữ đề trên Đài Nghiên Tháp Bút nơi Hồ Gươm cùng nhiều nơi danh thắng, linh thiêng khác. Bởi thế, người đương thời tụng ca và đặt danh xưng cho hai ông là "Thần Siêu, Thánh Quát", đồng thời luôn thán phục, trân trọng, tôn vinh hai ông, với nhiều mỹ từ đặc biệt, như: "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán".
Thời gian Cao Thần ở Huế,
giữ chức quan Hành tẩu Bộ Lễ của Triều đình nhà Nguyễn. Tuy làm chức quan nhỏ,
nhưng ông được mọi người mến mộ, nể trọng, kính phục, bởi ông là tấm
gương sáng về nhân cách và tài năng, nhất là thơ. Vua các đời, đều kính nể
ông, kể cả ông Vua giàu trí thức, tài thơ nhất trong 13 đời Vua, như Tự Đức, với
việc Tự Đức cho ra đời hàng loạt tác phẩm thơ sáng giá, như "Ngự chế thi tập",
"Cơ dư tự tình thi tập", " Việt sử tổng vịnh thi tập"…, được
cả quan quân Triều đình hết lời ca ngợi. Suốt đời mình, Cao Bá Quát luôn thẳng
thắn, khách quan, khảng khái, quyết liệt, kiên định, coi khinh hám danh, trục lợi,
tầm thường, nịnh bợ, hèn nhát…
Trong thơ của Cao Thần
cũng vậy, nên nhiều người ghen ghét, bực tức, mà vẫn ngầm mến phục và ngậm đắng
nuốt cay. Trong giao lưu thơ ở chốn Cung đình, tính ông cũng thể hiện rõ, không
kiêng nể một ai, kể cả Vua, ông cứ nói toạc ra câu hay, câu dở những bài
thơ của Vua. Mà lại là những ý kiến phê bình thơ rất thẳng thắn, chính xác. Thế
mới lạ về tính khí Cao Thần.
Một lần, vua Tự Đức khoe
rằng: Đêm qua nằm mơ, bỗng nẩy ra câu thơ rất hay, nay trẫm đọc cho mọi người
nghe:
Viên
trung oanh chuyển khề khà ngữ
Dã
ngoại đào hoa lấm tấm khai…
Nghe Vua đọc xong, các
nhà thơ Cung đình hết lời ca ngợi thơ của ông Vua, họ khen đến xôn xao cả lên.
Ngược lại, Cao Bá Quát đứng lên trình tâu: "Thưa Bệ hạ! Đây là thứ thơ cũ,
mà hạ thần đã nghe và thuộc từ lúc còn trẻ… Nghe Cao Bá Quát nói, vua Tự Đức
chưa hết ngạc nhiên, và bực tức. Không những thế, Cao Bá Quát còn tức khí, xuất
khẩu ngay bài thơ phê bình thơ của Vua:
Bảo
mã tây phong huếch hoác lai
Huênh
hoang nhân tự thác đề hồi!
Viên
trung oanh chuyển khề khà ngữ
Dã
ngoại đào hoa lấm tấm khai
Xuân
nhật bất văn sương lộp bộp
Thiên
thu chi kiến vũ bài nhài
Khù
khờ thi tứ đa nhân thức
Khệnh
khạng tương lai vẫn tú tài…!
Bài
thơ được dịch ra là:
Huếch
hoác ngựa về theo gió đưa
Huênh
hoang người cũng tự đi về
Oanh
vườn học nói khề khà giọng
Đào
nội đưa cười lấm tấm hoa
- 2 -
Lộp bộp chẳng nghe xuân móc nặng
Bài
dài chỉ thấy hạt mưa thu
Khù
khờ cu cú ai chẳng biết
Khệnh khạng còn đem hỏi khách thơ!
Bình thơ thẳng thắn bằng
thơ của Cao Bá Quát. Đây là kiểu bình thơ có một không hai ở Việt Nam. Qua lời
bình, vua Tự Đức đã hiểu Cao Bá Quát đánh giá thơ của mình là ý cũ, tứ không có
gì mới và thơ sáo rỗng… Đó là, Cao Bá Quát đánh giá chính xác thơ của Tự Đức
không hay, một cách bộc trực, không kiêng nể, không sợ Tự Đức là Vua, mà đánh
giá bằng thơ về thơ của Vua, với sự lập tức nẩy ra bằng các ý thơ chính xác,
sâu sắc, chắc chắn… Thế mới thật kỳ tài. Nhưng, "Cái tài đi với cái tai một
vần", và "Thẳng thắn thật thà thì thua thiệt". Họ tức bực
Cao Bá Quát, coi ông như cái gai trong mắt của ông Vua hám danh, khoe tài-Tự Đức.
Ngay cả nhiều bài thơ của
những nhà thơ nổi tiếng trong Triều đình, và ở "Thi xã Mặc Vân" của
Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, với tài chữ, tài thơ, Cao Bá Quát đã không khách
khí, giữ ý, giữ nhẽ, mà phê bình thẳng thừng:
Ngán
thay, cái mũi vô duyên
Câu
thơ Thi xã con thuyền Nghệ An
Lại dùng thơ phê bình
thơ, mà lại so sánh những câu thơ của Thi xã với mũi của con thuyền buôn mắm Xứ
Nghệ, có mùi không thể ngửi được, thì là cách phê bình vừa tài, vừa chính xác,
mạnh mẽ, và ghê gớm.
Dù Tùng Thiện Vương không thích cách phê bình thẳng thừng, chính xác của Cao Bá Quát, nhưng cũng ngấm thấy ý đúng của Cao Thần, mà dần dần nhận ra điều là Cao Thần phê đúng, nói giỏi bằng thơ. Cho nên, dù có lúc Tùng Thiện Vương tức bực Cao Bá Quát, nhưng do phục tài, ông đã sớm biết hối, rồi từ trân trọng tài năng thực sự nức tiếng của Thánh Quát. Từ đó, tình thi hữu, tình bạn, tình thơ của hai thi sĩ lớn này càng hay, càng đẹp, thắm thiết, như hoa, như gấm, bền như thép, như gang.
7/1/2024
Nguyễn Tiến Bình
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét