Thứ Hai, 3 tháng 8, 2026

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng - Niềm đam mê ngôn ngữ

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng
Niềm đam mê ngôn ngữ

(Tiểu luận này được viết từ quan điểm của một độc giả đã đọc và theo bước chân sáng tạo của nhà văn Nguyễn thị Hoàng từ 50 năm).

«Tất cả những bí mật trong tâm hồn, tất cả những trải nghiệm, tất cả những phẩm chất trí tuệ của một tác giả được ghi tạc trong những tác phẩm của            họ. »          Virginia Woolf  (1882 – 1941)

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, người đàn bà tài sắc và trí thức đã chấm ngòi bút vào lọ mực « thực tại cuộc đời » để nền văn chương miền Nam Việt Nam trước 1975  đã có được cả ba mươi quyển tiểu thuyết, một hình tượng văn học cụ thể.

Văn chương của bà chủ yếu là do sự thúc đẩy từ tinh thần sáng tạo, có phản ánh một phần trải nghiệm  sống và tâm tư mình. Điều lạ lùng  nhất về nữ sĩ là sáng tạo của bà tự phát từ sự trưởng thành của tâm lý và  ý  thức ( Psychological  Maturity and Spiritual Maturity ), và không cần phải đọc nhiều để có thể viết.  Trong một số tác phẩm, ta thấy được dấu ấn của điện ảnh, bà yêu thích nghệ thuật này rất gần với văn chương, nhưng trên hết, tâm hồn bà có nguồn thông minh cảm xúc ( Emotional  Intelligence ) ngoại hạng cộng với sự quan sát tinh nhuệ, với tư tưởng mãnh liệt cùng khả năng sáng tác phi thường qua ngôn ngữ tiểu thuyết riêng để tạo thành một văn phong (Style) linh động uyển chuyển được dẫn dắt bởi cảm xúc và đam mê của vô thức và được kiểm soát từ phần tiềm thức cùng phần ý thức.

 

    Chừng đó tiểu thuyết, kể cả rất nhiều truyện ngắn, gần như mọi chủ đề của đời sống, thời đại, chiến tranh đều được đề cập và khai thác bởi một kiến thức sâu rộng trong từng bối cảnh hoàn toàn khác nhau. Bước tiến của bà theo một hướng sáng tạo hoàn toàn độc lập đã để lại dấu ấn riêng trong sự nghiệp văn chương rực rỡ.

    Ngoài ra, bà còn sáng tác nhiều thơ trước khi viết văn và cho đến sau này, luôn với một tâm thức mới lạ và phần ngôn ngữ đặc sắc.

     Sơ lược tiểu sử : Nguyễn thị Hoàng cũng là tên thật, nguyên quán Quảng Trị, sinh năm 1939 tại Huế, đã học trung học Đồng Khánh, sống tại Nha Trang sau bậc trung học, học đại học Văn Khoa và Luật Khoa tại Sài Gòn, và làm việc một thời gian trước khi lên Đà Lạt để dạy học khoảng một năm rồi về lại Sài Gòn bắt đầu viết văn từ năm 1964 cho đến 1974. Bà đã luôn sống tại Việt Nam cho đến nay. Gần đây, năm 2020, một số tác phẩm của bà được in lại và phổ biến ở quê nhà và xuất hiện trong những thư viện ở ngoại quốc, ở kệ sách tiếng Việt. Ngoài Vòng Tay Học Trò là quyển tiểu thuyết đầu tiên rất nổi tiếng, có bốn quyển đặc sắc khác là : Cuộc Tình Trong Ngục Thất, Tuần Trăng Mật Màu Xanh, Một Ngày Rồi Thôi, Tiếng Chuông Gọi Người Tình Trở Về. Ngoài ra, tập truyện ngắn Trên Thiên Đường Ký Ức đã xuất bản vào năm 1990 và sau đó là tập thơ Mây Bay Qua Trời Xưa.

                    Phần 1.   Sáng tạo và văn phong.

    « Cuộc đời thật, cuộc đời được khám phá và khai sáng, cuộc đời được sống một cách tràn đầy, đó là văn chương ».   Marcel Proust (1871- 1922)

    « Và nếu tôi không chắc chắn về sự mãnh liệt của trí tuệ, tôi hoàn toàn biết chắc về sự mãnh liệt của trái tim tôi. »     Virginia Woolf (1882 - 1942)

    Trước khi đọc Nguyễn thị Hoàng, độc giả không hề chuẩn bị cho mình một tâm thế nào nhưng sau khi gấp lại một tác phẩm, chúng ta cảm thấy một điều gì lạ lùng trong con người mình, một đổi khác âm ỉ, như sóng ngầm trong lòng biển sâu … Trong khuynh hướng phát triển văn học nghệ thuật siêu thực của thời đại, sáng tạo của bà đầy tính phá cách, mới lạ từ sự phát triển tư duy của mô hình văn hoá giáo dục Pháp và Việt đều có hệ thống ý thức tốt như một thế quân bình phải có. Phía sau những trang chữ sang trọng lãng mạn là những suy tưởng truy vấn về cuộc đời ; phía trong tâm hồn và thể xác của từng nhân vật là những phức tạp cũng như chân thực của bản thể con người. Nhà văn luôn để lại trong hồn người đọc chút dư vị của một cuộc tình lỡ, cho người đọc cảm nhận được nỗi khắc khoải của tuổi trẻ và cô đơn, nỗi đau phận người trong thời chiến, hoặc ta sẽ có cái nhìn khác về một khía cạnh nào đó của đời sống, khát vọng được chạm tay vào hạnh phúc, được sống trạng thái tâm hồn của một nhân vật … Văn chương của bà, khuấy động bởi xúc cảm để tỏ lộ từng nét đẹp, từ cảnh sắc cho đến tâm tư hoặc cách sống, cho đến tình yêu, mối quan hệ giữa người và đời, gợi cho chúng ta nỗi suy tưởng về cuộc đời và phận người cũng như những bất an của thời đại điêu linh … như nhận định của bà rằng : « Qua tiểu thuyết, người đọc sống lấy mình bằng xúc động và đồng cảm với tác giả ».

 

    Đi vào văn chương của Nguyễn thị Hoàng, thể loại văn chương thể hiện một hàm lượng tri thức, một hiện thể tinh thần, là bước vào thế giới tâm tưởng bí ẩn của người đàn bà đài các thanh lịch, với sự tinh tế của từng trạng thái tâm hồn được bộc lộ bởi sự rung cảm tột độ. Nhà văn nắm bắt chiều sâu nội giới từ những truy vấn nội tâm lặng thầm âm ỉ và khốc liệt trong sự tồn tại của con người khát vọng sống với đam mê,  với mọi tâm thức và mọi kiểu sống.

 

   « Tôi muốn đóng một lúc tất cả những vai trò của con người, bất kể đàn ông hay đàn bà, có thể thực hiện và đóng góp vào đời sống. Và vì vậy, không bao giờ cảm thấy được sống đủ nếu thiếu một trong ba sinh hoạt : gia đình, xã hội, nghệ thuật. Điều khó khăn là làm thế nào cho một công việc của mình lại có kết quả tốt đẹp cho cả ba phía đó : tài chánh đầy đủ cho gia đình, ảnh hưởng tốt đẹp cho xã hội, giá trị lâu dài cho văn chương ». (Buổi Nói Chuyện của Nhà Văn Nguyễn thị Hoàng, trích từ Tạp chí Nghiên cứu Văn học, tháng 7 năm 1971, nguồn Blog Liễu Trương- Viết và Đọc).

 

     Với bản thân và đối diện với cuộc đời, nhà văn có sự báo động thường trực của ý thức,  ý thức về chuyển động của thời gian và những hiện thể trong không gian sống. Từ khả năng quan sát tinh nhuệ, mọi chủ đề của đời sống muôn mặt, lớn rộng và phức tạp đều được bà đề cập đến, mọi tình huống đều được nói đến, mọi chi tiết về những tâm trạng đều được khảo sát, phân tích, diễn tả một cách khéo léo nghệ thuật, bằng quan điểm thẩm mỹ riêng, trạng thái nào cũng được bà khoác lên một màu sắc lãng mạn, đẹp, đớn đau, ray rứt, như từng phút giây sống đều có giá trị riêng và được sống một lần duy nhất. Một cách nhận thức sâu sắc và chân thực về ý nghĩa của sự tồn tại mong manh phận người.

    Từ chủ đề tình yêu trong hoàn cảnh nghiệt ngã  (Vòng Tay Học Trò, Bóng Người Thiên Thu ) cho đến tình yêu, những cảnh ngộ của hôn nhân trong bối cảnh chiến tranh (Đất Hứa, Tuần Trăng Mật Màu Xanh, Cuộc Tình Trong Ngục Thất, Ngày Tháng Đầu Đời ) từ các mặt của cuộc sống giới trí thức trưởng giả, tài tử điện ảnh  ( Tình Yêu Địa Ngục, Bây Giờ Và Mãi Mãi ) cho đến lựa chọn trong dằn vặt của người tu nữ giữa đời thường và tu hành  ( Cho Những Mùa Xuân Phai ), ẩn ức không thành lời ( Bọt Biển ), uẩn khúc, nung nấu của hiện hữu cô đơn và dửng dưng ( Tiếng Gọi ) hoặc người hoạ sĩ trong khắc khoải tình yêu và sáng tạo,  ẩn dụ  về  tình yêu và  cõi chết ( Cánh Cửa Đen, Tan Theo Sương Mù ), tâm hồn ngây thơ của người con gái mất trí ( Miền Trú Ẩn ) cho đến vấn đề đồng tính nữ, bà là nhà văn đầu tiên đã đề cập đến chủ đề này ở thời  đại mà xã hội Việt Nam chưa biết đến một Virginia Woolf của Anh quốc : truyện ngắn  Mùa Xuân Lá Vàng đặc biệt được diễn tả với ngòi bút cực kỳ tinh tế và gợi cảm.  Cho đến sau này, bà có thiên về chủ đề tâm linh (Tình Yêu Của Đấng Trời, Hồn Muối) …

   Nguyễn thị Hoàng dùng ngòi bút để tả chân những tâm trạng mẫu đời và đời sống tâm thức và vô thức là chủ yếu. Bắt đầu nuôi nấng một ý tưởng, là một ánh sáng loé lên, theo bà, đây là điều quan trọng hơn là độ dày của quyển truyện ; ý tưởng đó lớn dần cho đến lúc phải bắt đầu viết. Nếu là truyện ngắn, nhà văn viết từ đầu đến cuối cho xong không ngưng nghỉ nhưng truyện dài thì viết bất cứ lúc nào, có khi ngừng một thời gian rồi viết tiếp. Xong một truyện ngắn, tâm trí nhà văn  nhẹ nhõm hơn là lúc kết thúc một truyện dài. Bà say mê làm việc trong sự bận rộn không ngừng nghỉ : « Không kịp nhìn lại để phân đoạn, cắt xén, thêm bớt bất cứ chỗ nào thì làm sao có thể sửa ý và lời, nhận định lại dù chỉ một lần những gì vừa viết để có thể đổi thay … Cứ như thế, truyện này rồi đến truyện khác, lúc nào cũng tấp nập, hối hả, quay cuồng. » (Phỏng vấn của tạp chí Văn, 1973) (Nguồn Blog Liễu Trương, Viết và Đọc).

    Nhà phê bình Thụy Khuê chia các sáng tác của Nguyễn thị Hoàng làm hai khuynh hướng :  Hiện Thực Huyền Ảo và Hiện Thực Hiện Sinh ( Réalisme Fantastique và Existentialisme ). « Hiện Sinh hiểu theo nghĩa đơn thuần nhất là  triết học tìm hiểu con người, con người Đang Sống ».

    Khuynh hướng Hiện Thực Hiện Sinh : Vòng Tay Học Trò, Vào Nơi Gió Cát, Cuộc Tình Trong Ngục Thất, Đất Hứa …

    Khuynh hướng Hiện Thực Huyền Ảo : Tan Theo Sương Mù, Mê Lộ, Dấu Chân Bãi Cát, Ngày Qua Bóng Tối, Trời Xanh Trên Mái Cao …

    Tuy nhiên Thụy Khuê nhận định rằng  « khuynh hướng sáng tác của nhà văn Nguyễn thị Hoàng là Tự Nhiên vì không có gì chứng minh rằng nhà văn đã chịu ảnh hưởng trực tiếp hay tiếp xúc với những giòng văn học này. »  ( Nguồn : Bài viết Nguyễn thị Hoàng người yêu muôn thuở. Blog Thụy Khuê. thuykhue.free.fr )

    Điểm nổi bật và giá trị nhất trong văn chương của Nguyễn thị Hoàng cách xử dụng ngôn ngữ tiểu thuyết, tiếng Việt đương nhiên, nhưng ngôn ngữ Việt qua bút pháp của bà là nét độc đáo và là một sáng tạo nghệ thuật hoàn toàn riêng biệt khác thường. « Cung cách thể hiện một hiện thể » có tính trừu tượng, mơ hồ là sự khởi đầu của nhận thức.

    Dù rất sát với thời cuộc, từ những diễn biến của thực tế, tác giả với thiên tài sáng tạo,  từ ngôn ngữ hiện thực dẫn dắt người đọc vào những tình huống và cảnh sắc thực hòa lẫn với mộng, đầy hình tượng và âm thanh từ bút pháp văn phong kỳ lạ, uyển chuyển và linh động, và ngôn ngữ trừu tượng được áp dụng khi diễn tả những nghịch lý của hiện thể vô thường khiến người đọc luôn ngỡ ngàng, bị lôi cuốn vào những thế giới nửa thực nửa ảo.

    Sự sáng tạo của bà  nhanh và vô cùng linh động từ cảm nhận, vẽ ra một bức tranh tổng hòa về vũ trụ của riêng mình với cách kể chuyện không cho người đọc có cảm giác đó chỉ là câu chuyện mà khiến cho ta thấy mình như tham dự vào  bối cảnh đó. Văn phong của bà khai thác tận cùng sự phong phú độc đáo là nét đẹp của tiếng Việt. Một tư tưởng, một hình ảnh dù rất đơn sơ, rất thật cũng được thẩm mỹ hoá một cách tự nhiên đến tài tình.

    Với bà, « Văn chương phải là yếu tố tiên quyết cho một tác phẩm văn chương. Ngôn ngữ, âm điệu, cách xử dụng như kiếm báu, dẫu rèn đúc hay lưu truyền thì hiệu lực vẫn không do chính nó mà từ kiếm khí, cách khác, là cung cách thể hiện một hiện thể. »  (Phỏng vấn của Mai Ninh, Hợp Lưu, 2003).

    Từ ngữ trong các tác phẩm văn xuôi của bà là một kho chứa cả một gia sản cực kỳ phong phú luôn gây kinh ngạc với những thuật ngữ, những cụm từ cho đến cấu trúc câu lạ lùng, đa dạng, tiếp nối không ngừng; tất cả tạo nên một văn phong độc đáo mới lạ và thật linh động, lãng mạn, đầy hình tượng trong cách tả, cách kể chuyện vô cùng uyển chuyển lôi cuốn người đọc vào tác phẩm với cảnh ngộ và cảm thức của nhân vật từ tâm thế của người viết.

    « Tất cả đã rụng tàn rồi có phải? Như mùa hè đã phai màu và không còn tới nữa một lần. Như tuổi thắm tôi cũng vút bay theo, những gót chân vui mừng cuống quýt trên lối yêu mê khờ dại ngẩn ngơ, bay theo những tảng nắng ngất ngây thơm, những tiếng cười giọng nói, những gặp gỡ xa lìa, những bất ngờ và chấm hết. Có phải. » (Một Ngày Rồi Thôi).

   « Nhưng mà những người ấy, trong xe tang kia, đã già cỗi và mỏi mê có lẽ, không muốn nhìn mặt mùa xuân nữa, không muốn nhìn thấy những xâu xé tan hoang của thành phố tủi hờn này nữa … Bây giờ thì Đông sống lại đó. Như mùa xuân cũng vừa tới trong vườn phơi phới lộc non. Sống lại và ngẩn ngơ trong trái tim nàng cũng vừa mới lớn rộn ràng thao thức … » (Tuần Trăng Mật Màu Xanh).

   « Những phút giây vừa rồi choáng đến như một làn chớp sáng, bây giờ đã mất tăm dấu tích, không còn gì ngoài những cảm xúc lặng lẽ buồn rầu còn vương vất trên tóc da, những cảm xúc mỗi lúc một phai mờ dần và Chiêm lắng nghe nỗi buồn nào tan vào cõi không nào trống lốc … Có thật không … Ánh sáng xanh ngát của trăng thanh lồng nắng lụa nào long lanh chập chờn qua từng làn kính thủy tinh óng ả. Và bốn bề hoa lá xanh ngắt thời gian buông rèm hư không. Không ai trên đó. Nơi yên tĩnh và mênh mông ngự trị. » (Đất Hứa).

    « Chập choạng đâu đây là bóng hoàng hôn chụp xuống hoang tàn. Đâu đây là tiếng vỗ cánh của loài dơi khát thèm bóng tối. Đâu đây là hình hài xương tủy trắng xóa dưới trăng mờ … Nằm chờ đêm qua. Nằm ru khoảng cách. Nằm ru mộng buồn. »  (Cuộc Tình Trong Ngục Thất).

    Và khi người lính khóc : « Em cũng đã từng nhìn thấy anh khóc, cách khác, trong hai tay em, trong mắt nhìn em, trong đời sống em bỗng dưng diễm lệ huy hoàng với những giọt buồn thánh thiện. » (Vết Sương Trên Ghế Đá Hồng).

    Một style độc đáo với năng lực ngôn ngữ thần thánh vừa mãnh liệt vừa êm dịu, vừa đằm thắm nồng nàn, được dẫn dắt cùng một lúc bởi cả lý trí lẫn xúc cảm.

    « Nhưng trong vẻ ngẩn ngơ của anh, Nhung tìm thấy vẻ bừng tỉnh kỳ diệu. Vẻ bừng tỉnh của lá non dưới vầng trời nắng mới đã dâng đầy, hơi xuân đã pha lên bầu trời rạng rỡ, và anh đang tắm ngất ngây trong thinh không cao vút đó, với hai con mắt nhìn mình chiếu lại, lau khô cho khắp những dấu vết, những thương tích mỏi mê tàn lụi cũ. » ( Tuần Trăng Mật Màu Xanh).

     Văn phong riêng, hoàn toàn độc lập một nhà văn tài năng thiên bẩm, một style hoàn toàn mới lạ so với thời đại 1960, chính điều này đã làm cho văn chương của bà, nếu không áp thời gian vào, trở thành một dạng kinh điển hiện đại mà giá trị của nó được xác định bằng năm tháng, thêm vào đó là sự đi trước thời đại trong tư tưởng của một thiên tài có tính prophecy, mà người ta chỉ có thể thưởng ngoạn, không thể noi theo, kiểu giống style của Antoine de Saint-Exupéry (1900 - 1944) luôn gây kinh ngạc với tư tưởng tế nhị cao thượng, và Romain Gary (1914 – 1980) sắc sảo, không thiếu phần độc đáo. Trong văn chương Pháp cũng có những style phong phú như của Victor Hugo ( 1802- 1885) hoặc lạ thường của một nhà văn nữ khác là Marguerite Duras ( 1914- 1996) mà người ta cũng có thể bắt chước (pasticher, parodier).

     Là người rất trân trọng tính thẩm mỹ, từ đó, qua văn chương, từ những đồ vật, cách phục sức, cảnh sắc, tả về người cho đến mọi thể loại tâm trạng, hành động, cách ẩm thực, cử chỉ, sự kiện hay tình huống … Tất cả đều đẹp một cách sinh động và lôi cuốn nhờ tài năng vận dụng từ ngữ để miêu tả theo cách nửa thực nửa hư khi hơi thở và suy tưởng là hai trường khúc sống cùng nhau. Với sự tinh tế ngoạn mục để quan sát và miêu tả, tình yêu, hạnh phúc cho đến đổ vỡ chia lìa, nỗi buồn chán hay tuyệt vọng, nỗi cô đơn và khoảng trống đều mang những sắc màu long lanh quyến rũ, mờ ảo huyền bí. Nhà văn buông mình vào vòng tay của đam mê, để mặc cho nhịp tim rung động như từng hồi chuông ngân, làm vỡ ra, tuôn trào từng dòng chữ triền miên, liên tục, đứt quãng, kết nối, buông rời … Nhân vật của bà sống những thực tại ngồn ngộn chồng chất, từ đó, rạn nứt từng lớp vỏ hiện thực, phơi bày từng ý thức về tự do và bản ngã, phận người và cô đơn dưới nét đẹp duy trì của ngòi bút được dẫn dắt bởi cảm tính vô thức mãnh liệt nhưng song song đó là với lý tính của ý thức và từ tiềm thức luôn có chức năng kiểm soát để mang đến sự hình thành một tác phẩm không bao giờ thiếu tính logic.   

 

   Văn chương của Nguyễn thị Hoàng tiêu biểu cho giá trị nghệ thuật sáng tạo văn chương đa dạng trong tinh thần tự do sáng tạo nghệ thuật của miền Nam Việt Nam trước 1975, thời đại mà mỗi nhà văn sở hữu một khu đất riêng để khai thác, trồng trọt, gặt hái, trong hoàn cảnh xã hội nhiều sắc màu đối lập nhau. Bà đã dấn thân một cách toàn vẹn cho văn chương, một nghệ thuật tiêu biểu tối thượng. Sáng tạo của bà duy trì ánh sáng của nghệ thuật đó và bà đã hoàn tất xuất sắc thiên chức của một nhà văn bằng thiên tài và sự làm việc của mình từ xúc cảm và niềm đam mê ngôn ngữ, từ sự trưởng thành ý thức và tâm linh cho đến hôm nay, những trang giấy, những giòng chữ dù vương màu thời gian, dù được khoác lên một chiếc áo mới, dù bà đã từng muốn định hướng lại cho tất cả với ý thức của trách nhiệm, muốn viết khác với những gì đã viết … Văn vẫn là Người. Người đàn bà trong Nguyễn thị Hoàng cũng như văn bà viết, thanh nhã và trang trọng, với trái tim dạt dào tình cảm, sâu sắc trong suy tưởng với tinh thần sống hơn bao giờ mãnh liệt, trân quý định mệnh, yêu thương con người, nâng niu cuộc đời, mang ơn cả những khổ nạn vì trong cuộc bể dâu này, sự thắng bại hơn thua không mang một ý nghĩa nào, nhất là trong lãnh vực nghệ thuật, chỉ có sự khác biệt giữa điều này và điều khác, sự khác biệt giữa người nọ và người kia, sự khác biệt giữa một nhà văn đã can đảm vạch cho mình lối sáng tạo riêng và đứng vững một mình với những nhà văn chưa đủ liều lĩnh để «sống như không bao giờ chết».

Phần 2.  Điều kiện sáng tạo.

        a)  « Người đàn bà viết văn phải có tiền và một căn phòng riêng ».

     Nhà văn Virginia Woolf của Anh quốc chừng như hiểu hơn ai khi nói về một trong những điều kiện thiết yếu và lý tưởng để sáng tạo văn chương của nữ giới nhưng điều này đã không bao giờ dễ dàng cho nhiều nữ sĩ, ngoại quốc cũng như Việt Nam. Trường hợp của Nguyễn thị Hoàng cũng thế. Ở vào thời điểm bà viết được nhiều nhất, đó là giai đoạn bà đã viết để sống chứ không phải sống để viết. Nhưng thật lạ lùng và phi thường khi bà nói về điều kiện sống thực tế và cách viết của mình hoàn toàn đối lập với những điều kiện của bất cứ nhà văn nào khác :

 


 

 

    « Nếu mọi người quan niệm khi viết bất cứ về tình cảm tư tưởng đều đòi hỏi những điều kiện như khung cảnh thích hợp với trạng thái tâm hồn lúc viết … phải được rảnh rang yên tĩnh, ngoài khung cảnh cũng như trong tâm hồn. Tôi viết trong những điều kiện trái ngược trên. Nếu bị giam giữ trong ngôi nhà xinh đẹp hay khung cảnh nên thơ tách rời khỏi đời sống gia đình và sinh kế, tôi sẽ không viết được nổi một trang nào. Tôi chỉ viết được nếu bị thúc bách và có nhiều việc phải làm cùng một lúc. Càng có nhiều việc để làm cùng một lúc, càng viết được nhiều, thiếu không khí làm việc náo nhiệt, rộn ràng, thúc đẩy nhất định là tôi không viết được. Những việc song song với viết lách lại tương phản nhau, và khó chấp nhận nổi nhau : một trang tiểu thuyết lãng mạn, một món ăn đang nấu dở trên bếp, một đứa con đang khóc đòi bế, một đứa đòi ăn đang níu quanh chân ; trẻ con vẫn thường la khóc cùng lúc với những nhân vật tiểu thuyết đang lên tiếng mắng nhiếc hay tự tình với nhau. Hai đám, một ngoài đời, một trong tiểu thuyết, đánh lộn thường xuyên như thế. Khi nào cuộc giao tranh giữa hai đám người trong truyện và ngoài đời cùng đòi tôi kịch liệt chừng nào tôi lại càng bị dồn đuổi thiêu đốt, càng viết mạnh, nhanh và nhiều chừng đó, và như vậy cuộc hòa giải đôi bên sẽ chóng kết thúc. »

     (Trích từ “ Buổi Nói Chuyện Của Nhà Văn Nguyễn thị Hoàng ” tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn năm 1971 - Người ghi Nhuệ Hương, nguồn Blog Liễu Trương, Viết và Đọc).

   Tuy nhiên điểm son của sự kiện này là bà luôn có trách nhiệm với những sáng tạo, luôn vững vàng ở vị trí của người viết hết sức chân tình, có lương tâm, hoàn toàn làm chủ ngòi bút của mình, cách viết của bà thường được dẫn dắt bởi những xúc cảm tràn bờ, không hạn chế và ngòi bút luôn tuôn chảy từ nguồn đam mê mãnh liệt mà cấu trúc tư tưởng vẫn chặt chẽ.  « Tôi như mê đi khi viết nên không nhận ra mình đang nghĩ gì, đang viết gì … Kinh hoảng vì mình đã làm việc với tốc độ dữ dội quá mà kết quả lại thật bất ngờ …  Lối viết bừa bãi vội vàng tuy nhiên nhờ thế được phần nào nóng bỏng, nguyên vẹn của cảm xúc và ý tưởng. »  Có điều gì thật và sống động hơn là cảm xúc? Có điều gì đẹp và đáng quý hơn là ý tưởng? Vài tác phẩm kém hay hơn có thể đã được sáng tác trong những lúc nhà văn có ít cảm xúc hơn và không tìm được nhiều ý tưởng?

    Nhưng viết đối với Nguyễn thị Hoàng không phải là một việc phải làm mà là « viết như thở và khó đếm được những nhịp thở của mình » một cách thể hiện hoàn toàn tự do mọi nỗi niềm, để tự nhiên tiếp nhận những trạng thái tâm hồn phải sống, một cách khẳng định sự hiện hữu hoàn toàn thật với suy tưởng là hơi thở. Viết là một cách sống trong hạnh phúc, đối diện với những thử thách khúc mắc tinh thần, một cách nhìn lại mình, soi rọi tâm tư của từng nhân vật, với tất cả sự chân thành và không trong trường hợp nào chối bỏ chính mình nên sự viết của bà để sống trọn vẹn con người mình từ sự màu nhiệm của sáng tạo.         

          b)  Trải nghiệm sống, một cái vốn của nhà văn để có thể viết.

     Jorge Luis Borges (1899 - 1986), nhà văn người Á Căn Đình, vô cùng thầm lặng và sâu sắc khi nói về sự mù lòa của ông : « Một nhà văn, cũng như mọi người, phải xem mọi chuyện xảy đến cho mình như một vốn liếng ».

    Nhà văn Mai Thảo (1927- 1998) : « Vốn sống là sự trưởng thành của ý thức - theo nhận thức nghệ thuật tiến bộ cách mạng - nó nằm trong chủ quan mãnh liệt của người làm nghệ thuật mà ý thức đã trưởng thành là ngọn lửa tỏa chiếu và bao trùm thấu suốt mọi hiện tượng đời sống … Vốn sống thiết yếu phải được cấu thành từ một ý thức cách mạng, vốn sống không được cấu thành từ một ý thức cách mạng là một vốn sống Chết, vô giá trị, nó không bao giờ được là nguyên liệu quý giá để tạo thành tác phẩm, nó chỉ là cái khối nặng chồng chất vô ích cho tác phẩm.»  (Nghệ Thuật, Sự Báo Động Khẩn Thiết và Thường Trực của Ý Thức - Tạp chí Sáng Tạo, tháng 9-1961. Nguồn Talawas, 2008).

    Với Nguyễn thị Hoàng, nhà văn có một cuộc đời dài với bao biến động của cuộc sống, đã có viết về điều này : « Chết lần này vẫn chưa phải là lần cuối cùng, chỉ là khởi sự những khổ hình cam chịu trong cuộc thách đấu lạnh lẽo với đời mình và mệnh số » (Cuộc Tình Trong Ngục Thất).

    Bà nói : « Nếu hiểu chết theo nghĩa lớn thì mỗi đời trong Cõi Khổ này đã phải chết đi sống lại biết bao lần, mỗi thể loại chết vì một nguyên nhân hay động lực khác nhau ». (Phỏng vấn Mai Ninh, Hợp Lưu, 2003)

    Những nỗi khổ, hạnh phúc hay suy tư trong mọi bối cảnh lại được sống thêm một lần khi nhà văn ngồi một mình để viết, dù không là tự truyện, những gì đã chứng kiến, đã trải qua, giờ đây hiển hiện một phần lớn trong những sáng tác của bà, những dữ diệu đó trở thành tư duy cho nguồn sáng tạo, một khi được trải trên mặt giấy, diễn đạt với tất cả cảm xúc sâu xa, hồn nhiên và chân thật, trở thành sống động và lôi cuốn người đọc, truyền tải đến người đọc từng rung động của mọi loại tình cảm, giúp người đọc thấy được biết bao gương mặt khác, bao tâm tư khác của con người và cuộc đời từ tầm nhìn xa thấy rộng hiểu sâu của bà.

               c)  Vốn đọc, ảnh hưởng của sáng tạo.

      Cuộc sống và văn chương miền Nam trước 1975 có ảnh hưởng ít nhiều từ trào lưu tư tưởng hiện sinh tây phương từ sự tiếp cận trực tiếp với văn hóa nước ngoài, chính xác hơn qua ngôn ngữ Pháp và Anh, cơn gió mang mùi vị “ sống một cách khác ” từ những quốc gia này đã len lỏi vào nguồn mạch văn học Việt Nam thời gian đó.

    Tuy nhiên, văn chương của Nguyễn thị Hoàng rất rõ ràng là sáng tạo riêng, mới lạ và độc nhất, đã bộc lộ từ những cảm xúc và từ một phần đời sống thật cùng sự tưởng tượng, từ sự Trưởng Thành Ý Thức và Tâm Sinh Lý cá nhân hơn là từ vốn đọc hay nghiên cứu. Bà đã tự tạo cho mình một thế giới riêng tư dù văn phong mang sắc màu tây phương hiện đại, tư tưởng tự do phóng khoáng mà ta không thể học hỏi mà chỉ thưởng ngoạn, cách sáng tạo cực kỳ độc lập và mới lạ của sự tận dụng ngôn ngữ Việt đã không hề do ảnh hưởng nào mà rõ ràng là xuất phát từ tài năng thiên phú. Người nghệ sĩ «sống» nghệ thuật của mình như mỗi sinh vật sống với những chức năng riêng của nó.

    Bối cảnh văn hoá trong một tác phẩm văn học chủ yếu là cách sống, thái độ sống của nhân vật trong xã hội qua ý tưởng tín ngưỡng, đạo đức, giáo dục, học vấn, ngôn ngữ, nghề nghiệp, giới tính, tình cảm, tính dục … của mỗi tầng lớp người dân. Từ bối cảnh văn hoá, độc giả thấy được hoàn cảnh sống và sáng tạo của tác giả trong một thời đại.

     Dù cá nhân cũng rành rẽ cả hai thứ tiếng Pháp và Anh, bà đã xác minh rằng khi viết quyển đầu tay là Vòng Tay Học Trò, bà chỉ viết trong tâm thức cần được giải tỏa, cần được cứu rỗi từ những biến động của đời sống. Sáng tác này của bà cùng vài tác phẩm khác đã hình thành từ tính độc lập trong tư duy và trải nghiệm sống nhưng không do một động lực nào bên ngoài xã hội hay ảnh hưởng từ văn chương ngoại quốc.  Chỉ có thể hiểu rằng tầng lớp trí thức người Việt đã luôn có cách sống ảnh hưởng từ một nền văn hoá Pháp mọc rễ từ đời cha ông chúng ta, trên một nền tảng giáo dục văn minh, tư tưởng và lối sống đã được tự nhiên hình thành. Thí dụ điển hình : Trong tác phẩm Vòng Tay Học Trò, một cách cụ thể và chi tiết : qua cách sống tự do và suy nghĩ rất « Tây học » mang sắc màu « rất Pháp » trong bối cảnh Đà Lạt buốt lạnh mù sương với tiếng chuông nhà thờ, căn biệt thự kiểu Pháp, cách phục sức của các nhân vật, cách sinh hoạt, cư xử, cách chêm từ ngữ Pháp vào trong câu nói, về điện ảnh và nhạc Pháp, ẩm thực, rượu và thuốc lá, khuynh hướng yêu đương lãng mạn, khuynh hướng nhục cảm (sensualité, érotisme) với nhận thức và sự trưởng thành của người nghệ sĩ đương đại về cách sáng tạo một giòng văn chương trong sự chuyển động văn học nghệ thuật của thế kỷ như một định luật.

    « Tôi không sống trong suy ngẫm về các vấn đề khác của văn học hay các vấn đề khác trong xã hội. Vì tôi mải đắm chìm trong một khúc đoạn của cuộc sống thực … Mọi chuyện đều từ mình mà ra. »

   Bà không cho cảm giác là đã đọc nhiều và rõ ràng là sáng tạo văn chương của bà không ảnh hưởng từ những văn chương khác.

  “ Đôi khi tôi vẫn nghĩ, chính chất thơ thuở trước trong hồn còn vương vất đã làm cho tiểu thuyết của tôi, đúng hơn là những nhân vật, đối thoại hay khung cảnh trong tiểu thuyết tôi nhuốm tính chất không thực, xa vời, tìm cái đẹp hay không.” (Tạp chí Văn, 1973 - Nguồn Blog Liễu Trương, Viết và Đọc).

     Qua một style độc đáo riêng biệt, hiện thực, kỳ ảo và thi hóa, luôn sắc sảo, diễm lệ, đầy nhạc tính như những hòa điệu với muôn ngàn cung bậc cao thấp, bằng phương ngữ mới lạ với vẻ đẹp đài các, thanh lịch đến quyến rũ mê đắm để diễn tả từ những nỗi niềm sâu thẳm, những huyễn tưởng mơ hồ trong tâm hồn cho đến từng sự kiện thực tế, diễn biến của đời người và cuộc sống, của thời chiến trong vòng vây định mệnh. Là thi sĩ trước khi trở thành văn sĩ, cái nhìn của bà cũng thường là cái nhìn của một thi nhân về mọi bình diện của cuộc đời dâu bể, về phận người đối diện với ảo ảnh và hư không. Mỗi tác phẩm tích tụ hun đúc từ những suy tưởng về cuộc đời và những nỗi niềm u uẩn của tâm linh mà không hy vọng gì ngoài những mong mỏi nhắn gửi với cuộc đời bằng văn chương với tính cách huyền hoặc vô biên của nó.

                  d )  Cảm thức cô đơn.

      « Trong nỗi cô đơn của một nhà văn, có sự tự vẫn ». 

                                                                    Marguerite Duras (1914-1996)

    Nhà văn Nguyễn thị Hoàng nói về cô đơn với tính triết học phảng phất, một cách suy tưởng về định mệnh văn chương để chấp nhận nó. Một hành trình sáng tạo miệt mài với chiếc bóng của riêng mình, từng ngày tích lũy vào nguồn suy tưởng là gia sản tinh thần. Đối với một nghệ sĩ, nghệ thuật, một điều thuộc về phạm trù tâm linh thì cô đơn là thực tại, là một điều kiện thiết yếu và lý tưởng cho khởi điểm sáng tạo của nghệ sĩ, và cô đơn cùng nghĩa với tự do. Họ cần ẩn trú trong cô đơn để có sự tự do tuyệt đối của cõi nội giới vô biên. Dù cô đơn là một trạng thái phức tạp cho người viết, từ sự cần thiết im lặng để suy tưởng, về cuộc đời và vũ trụ, sự sống và cõi chết, đó là một nghệ thuật sống dẫn dắt người nghệ sĩ về nguồn sáng tạo. Bà nói : « Chỉ khi nghe lắng được Mình, một Mình vắng lặng, riêng tư mà chan chứa mới có thể viết, đúng hơn là chép ra những nghe lắng ấy. Đó là bi kịch lớn của một loài mãi hoài đơn độc, như sơn dương đầu ngàn uống bóng mình dưới suối trăng tan ». (Phỏng vấn của Mai Ninh, Hợp Lưu 2003)

     Nhà văn không chờ đợi, không mong mỏi gì từ ai khác, từ bất cứ điều gì và không từ bỏ những gì thuộc về mình, tự tìm đến cô đơn dù đó không là một tháp ngà để ẩn trú, tâm hồn phức tạp của một nhà văn vô cùng nhọc nhằn hiếm khi có được sự thanh thản bình an.

    Rồi thời cuộc, đời sống tiếp tục, những xáo trộn bên trong, một thời gian rất dài, bà đã chìm vào im lặng và bóng tối, vẫn trong cô đơn, nhưng quyển nhật ký như giòng sông ngày tháng lặng lờ trôi, vẫn âm thầm được viết, hình thành mọi tâm trạng rạn vỡ, tái tạo đắp xây lại những sụp đổ đồng thời trầm mặc suy tưởng mà tiếp tục quan sát, ngắm nhìn từng diễn biến của thời đại.

    Một người viết như Nguyễn thị Hoàng, từ bước đầu đã rời bỏ quỹ đạo chung của văn chương, bước đi một mình trên lối đi riêng tự tạo với niềm đam mê, với những dụ ngôn ẩn núp phía sau rừng chữ, khiến ngôn ngữ trở thành một vùng bí mật để khám phá. Bà đã không bao giờ buông bỏ những giấc mơ, không bao giờ hờ hững với những bí ẩn của cuộc đời để cuối cùng sau khi chấp nhận chính mình và tất cả, đã tìm được một ý nghĩa đẹp nhất, ý nghĩa tối thượng cho một nhà văn chân chính là nhìn nhận và trách nhiệm sáng tạo của mình trong quá khứ để trong hiện tại, thấy con người văn sĩ của mình trong một tâm thế khác, càng yêu say mê hơn, yêu độ lượng và hiểu sâu sắc cõi sống này dù hơn ai hết, từ khởi đầu cuộc hành trình chinh phục tâm linh quan hệ với bản ngã, nhà văn luôn biết rằng : « Tất cả chỉ là trừu tượng, chỉ niềm đau không cùng tận là có thật. Niềm đau hơn cả sự chết. Sự chết chỉ là một hơi thở, niềm đau thì không cùng tận. » (Phỏng vấn của Mai Ninh, Hợp Lưu - 2003).

    Cuộc đời bà là một trường thiên tiểu thuyết.  Rồi một ngày, “ Toàn thể tâm thức của một người nín sống từ lâu tỉnh dậy. Chỉ là tỉnh dậy trong chiêm bao để nương tựa và phóng hoá tương đối thành tuyệt đối, để tìm lại mình, để níu lại đời. Cho đến khi đêm dài đứt nẻo, ngày trở về nguyên sơ thể tính bình minh …   Để chỉ còn lại Tĩnh Lặng. Hoàn toàn tĩnh lặng sau những ngàn năm gió bão tơi bời …” ( Trích lời tựa của nhà văn Nguyễn thị Hoàng cho tập thơ Mây Bay Qua Trời Xưa – 2019, nguồn Văn Học Sài Gòn).

Phần 3. Ý Thức Nữ Quyền từ giá trị của người phụ nữ, cá tính nhân vật, bối cảnh của sáng tạo trong văn xuôi của Nguyễn thị Hoàng.

    

     Theo học giả Phạm Quỳnh, sau một thời gian dài là 50 năm, tác phẩm văn chương nào vẫn còn được đọc thì đó mới là tác phẩm thật sự có giá trị văn học. Thời gian là thước đo giá trị của tác phẩm văn chương bởi qua từng thời đại, người ta mới được thấy rõ dần tính tư tưởng của một sáng tạo từ những chuyển động của văn học nghệ thuật và những đổi khác, tiến bộ của đời sống xã hội. 

     

    « Nguyễn thị Hoàng là một tác giả của Văn Học Nữ Quyền, Vòng Tay Học Trò rất xứng đáng để được liệt kê là một tác phẩm cực kỳ quan trọng của văn học đương đại là văn học của nữ quyền Việt Nam. »

      (TS Trần Ngọc Hiếu, Đại Học Sư Phạm Hà Nội - Việt Nam. VN, Cộng Đồng Thông Tin Đối Ngoại – tháng 6, năm 2021)

     Nhà văn Trịnh Thanh Thủy : « Tác phẩm Vòng Tay Học Trò ra đời như một cuộc nổi loạn, đạp đổ hàng rào luân lý, đạo đức truyền thống.  Câu chuyện xoay quanh  những suy tư giằng xé giữa tình yêu, tình dục và đạo đức của một cô giáo và một anh học trò. »

     (Ý Thức Nữ Quyền Trong Tác Phẩm Của Các Nhà Văn Nữ 1954-1975. Nguồn Tiền Vệ, 2014).

 

    Từ  nửa trước thế kỷ 20,  ở Việt Nam, trong sự phát triển văn học nghệ thuật, người phụ nữ viết văn không có một thế mạnh nào của thời đại khi mà tại các nước phát triển, những nhà văn nữ đã được nhìn nhận sự làm việc và xây dựng tư tưởng với khuynh hướng tiến bộ với sự tranh đấu mạnh mẽ của họ.

     Có thể bắt đầu từ Anh quốc bởi nhà văn nữ cũng là nhà phê bình văn học Mary Wollstonecraff  (1759-1797) là người đã khởi công một cách can đảm khi kêu gọi : “ Thời điểm đã đến cho một cuộc cách mạng trong đặc tính của phụ nữ.  Đã đến lúc người ta phải trả lại cho phụ nữ phẩm giá của họ và để cho họ, như một thành phần của nhân loại, đóng góp vào sự cách tân thế giới.”  (A Vindication of Rights of Women, 1792 ).

    Sau đó, cũng ở Anh là Jane Austens (1775- 1817), chị em Brontë, Charlotte, Emily và Anne vào đầu thế kỷ 19 cho đến Virginia Woolf (1882- 1941) khi bắt đầu viết đã phải ký tên của nam giới.

    Tại Pháp, những gương mặt nữ sĩ quan trọng có thể kể là Georges Sand (1804-1876), Colette ( 1873-1954), nữ triết gia văn sĩ  Simone Weil (1909-1943), Marguerite Duras (1914-1996), Simone de Beauvoir  (1908- 1986)…

Ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đã có như một phác thảo, thức tỉnh, mang tính xã hội, khách thể, chưa hoàn toàn định hướng nhưng những nữ thi sĩ của ta từ khuynh hướng lãng mạn như Tương Phố, Vân Đài, Ngân Giang, Mộng Tuyết, Anh Thơ … đã mang đến cho thi ca một thanh sắc khác lạ và đẹp dịu trong văn học từ sáng tạo của họ, với ít nhiều bản lãnh cho đến Thụy An (1916- 1987) với tiểu thuyết Một Linh Hồn, Nguyễn thị Vinh ( 1924 – 2020) của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, rồi sự có mặt thật sự của những nhà văn nữ trong một tâm thế mới, trên văn đàn của miền Nam là Nguyễn thị Hoàng cùng Tuý Hồng, Nhã Ca, Nguyễn thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng. Họ đã vào cuộc, mang đến cho diện mạo văn học sự hoàn hảo bằng bản sắc giới tính của họ, viết với tính chủ thể từ quan điểm tự nhận thức và tìm hiểu khám phá con người mình và cuộc sống, xã hội. Cho đến nay, trong văn chương Việt Nam đã chỉ có sự phát triển ý thức đơn điệu của nam giới và tính thống trị tư tưởng của họ.

    Thời đại biến động và chiến tranh là một trong những nguyên nhân dữ dội đã lôi thốc người phụ nữ ra khỏi môi trường sống tinh thần cũ. Những nhà văn nữ này đã khẳng định được vị trí quan trọng của họ qua cách sáng tạo bạo dạn, mỗi người một cách diễn tả về tình yêu và đời sống tình dục trong bối cảnh xã hội phức tạp và thời chiến.  Họ được độc giả mọi tầng lớp đón nhận với thái độ tích cực, nơi miền Nam, phần địa lý mà người dân dần được khai phóng tư tưởng trong quá trình hiện đại hoá văn học nghệ thuật.  Đặc biệt đông đảo độc giả nam giới, khá tiến bộ và phóng khoáng trong tư tưởng,  đã  “ đánh hơi ” thấy ngay mùi lạ, có cái nhìn tò mò hí hửng và thưởng thức một cách thú vị thể loại văn chương đột phá này như được chiêm ngưỡng những bức tranh khoả thân, mặc cho những phản bác của phe bảo thủ.

     Trong cuộc truy vấn với bản thể từ lúc bắt đầu được định hình nhân cách cho đến lúc bước vào đời sống, bằng trí tuệ, nội tâm, khát vọng; một người phụ nữ thông minh, sắc sảo và tinh tế, với hướng sống cách mạng tư tưởng, có đủ ý thức không thể không biết và không hề nhầm lẫn về những giá trị của con người mình. Từ những chuyển biến trong thế giới nội tâm và cảnh ngộ đến lúc đương đầu cuộc truy lùng rượt đuổi dồn dập của định mệnh, Nguyễn thị Hoàng đã giúp chúng ta thấu hiểu một quan điểm mới về sự hiện hữu của người phụ nữ và cải thiện chỗ đứng cũng như vai trò của phụ nữ trên bậc thang giá trị thật sự của họ trong xã hội cho đến sau này, đó là chứng tích tâm thức của bệ phóng cho hướng tư duy của người phụ nữ.

   

     Nguyễn thị Hoàng đã sống tuổi trẻ ở thời đại người phụ nữ cần được giải phóng khỏi áp lực của xã hội và khẳng định cá tính, có quan điểm về thời cuộc và văn học nghệ thuật theo tính đương đại, hướng về chủ nghĩa siêu thực, giòng nghệ thuật ý thức cách mạng, khai thác những ẩn giấu trong sâu xa của vùng tiềm thức để sáng tạo văn chương, thể hiện một cách nguyên vẹn những hiện thể từ sự trưởng thành trí tuệ và tâm hồn. « Phải cảm thấy mình đang sống cuộc đời chính mình lựa chọn và điều khiển ».

    Từ đây, người phụ nữ cầm bút đối phó với mọi tình huống, mọi vấn đề của thời đại và cuộc đời đã dần tạo được một thế đứng quan trọng trong lãnh vực văn chương, bắt đầu xây dựng được lịch sử tư tưởng độc lập trên nền tảng tri thức hiện đại. Từ ý thức sáng tạo, với sức mạnh trí tuệ biểu lộ qua ngôn ngữ, văn chương của bà mang tính nữ quyền ẩn chứa trong cá tính của các nhân vật nữ, dù cho lúc sáng tác, nhà văn không hề nhìn đó như một dự tính hay mục đích. Bà  không hề nghĩ đến điều này. Theo Goethe, thi hào người Đức (1749-1832) thì trong sáng tạo nghệ thuật, một toan tính nào dù nhỏ cũng là một cách giết chết nghệ thuật và làm hại tác phẩm.

     Không chỉ trong Vòng Tay Học Trò mà cả trong nhiều tác phẩm khác, tính cách của từng nhân vật nữ ở một thời điểm mà người công dân nữ còn ở trong tâm thức giới hạn về giới tính, người nữ sĩ chưa được có chỗ đứng vững vàng của người nghệ sĩ sáng tạo trong một xã hội còn nhiều định kiến, bất bình đẳng … nhà văn đã có cái nhìn phóng khoáng và trải nghiệm sống phong phú, vào thời điểm xã hội Việt Nam còn nặng về đạo lý Khổng Mạnh. Trong khi tại những quốc gia tây phương, từ  ý thức triết học hiện sinh, sự nhận diện và khảo sát tìm hiểu cá nhân và thể xác con người trong đời sống hiện thực, ý thức nữ quyền đã khởi phát và được hình thành dần một hệ tư tưởng.

   

     Khuynh hướng văn học nghệ thuật của thế kỷ 20 là Siêu Thực - Surréalisme và Hiện Sinh -  Existentialisme.

    Trong bài viết về Chủ Nghĩa Siêu Thực trong Văn Học ( Paris, tháng 10- 1999), nhà phê bình Thụy Khuê giải thích theo nghĩa của sáng tạo văn học nghệ thuật :

   “ Siêu Thực đến từ triết học phân tâm của Freud, coi Vô Thức như chủ thể của sáng tạo, Siêu Thực là hiện thân của Mộng, đề cao vai trò của Mộng. Hiện Sinh, trong quan điểm của Jean Paul Sartre, bác bỏ Vô Thức của Freud, coi Ý Thức mới là chủ thể của sáng tạo.  Hiện Sinh là Hiện Thân của Ý Thức, của Thực.

    Siêu Thực và Hiện Sinh vừa đối lập, vừa bổ sung cho nhau. Cả hai tìm đến tự do như cứu cánh của sáng tạo, cùng chi phối sáng tác văn học nghệ thuật, không những ở Pháp mà còn ảnh hưởng đến văn học nghệ thuật toàn cầu. ”

     Chủ thuyết Siêu Thực được sáng lập và duy trì bởi André Breton (1896 - 1966) văn thi sĩ người Pháp, trong thập kỷ này, cũng tại Pháp, một cách sáng tạo khác đã thật sự hình thành : Hiện Thực Huyền Ảo (Thần Kỳ), tức Réalisme Fantastique - Magical Realism, nhưng trước đó, khuynh hướng này đã được viết bởi Frank Kafka, nhà văn người Áo- Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc ( 1883- 1924) và Georges Luis Borges, nhà văn người Á Căn Đình (1899-1986).

    Vào năm 1970, Nguyễn thị Hoàng là nhà văn Việt Nam đầu tiên đã sáng tạo sản phẩm tinh thần đặc sắc Tan Theo Sương Mù ( viết tại Osaka, Nhật) theo  cách Hiện Thực Huyền Ảo.

    Nhưng Nguyễn thị Hoàng đã xác định sáng tạo của bà Tự Phát và Độc Lập vì không hề được đọc nhiều do sự khắt khe của gia đình, (chính bà cũng không hưởng ứng giòng sách dịch thuật của văn chương ngoại quốc). Bà  cũng không được am tường thật sự về những khái niệm của các bước chuyển động văn học nghệ thuật : “ Tôi chẳng hiểu hiện sinh là cái quái gì! ”

    Vậy chỉ có thể hiểu rằng một cách gián tiếp, từ nền tảng văn hoá giáo dục là Pháp và Việt, có sự trưởng thành một cách đương nhiên về ý thức và tâm sinh lý của người nghệ sĩ, bắt đầu tất cả từ nhận thức về cách thay đổi tư tưởng ít nhiều của tầng lớp trí thức theo sự tiến bộ tất yếu của phát triển tri thức toàn cầu qua văn học nghệ thuật.

    Dù sáng tạo phù hợp với thời đại, bà đã tự bứt nhổ gốc rễ của thời đại để mặc nhiên bước tới bằng thiên tài cô đơn của mình. Thời đại chưa bước kịp theo trên con đường nghệ thuật của người nghệ sĩ từ khởi điểm của sự hình thành một giòng nghệ thuật cách mạng ý thức, tư tưởng của bà đã tự trưởng thành một cách độc lập tự do rồi tự động vượt thoát khỏi hệ tư tưởng của nền văn học bảo thủ, để viết về những nhân vật nữ với  khuynh hướng tự lập trong cuộc sống, chủ động trong tình yêu, trong những quyết định táo bạo về đời thường, ngay cả việc bất cần dư luận để sống một cách vũ bão, đương đầu với định mệnh, chọn lựa phương thức tồn tại như một số người trẻ cùng thế hệ.  « Một đời sống tự trách nhiệm lấy chính đời mình trước lương tâm và định mệnh. »

     

     Mức  độ độc đáo của một tác phẩm được xác định bởi sự mãnh liệt của cá tính các nhân vật. Một tác phẩm tồn tại lâu dài phải có một giá trị tâm linh khẳng  định  phẩm chất nội tâm nhân vật. 

     Nguyễn thị Hoàng góp phần cách tân văn hoá từ một quan điểm riêng và khác biệt đến một hướng đi mới, với một tâm thức lạ và thẳm sâu, với vốn liếng tri thức, trải nghiệm sống tự do và bản lãnh sáng tạo đã mở đường hình thành khuynh hướng nữ quyền. Vô tình, bà đã  xây dựng một lịch sử tư tưởng qua những nhân vật nữ thể hiện sức mạnh tinh thần tự giải phóng cá tính và phơi bày mọi chiều kích của nhân cách, tự vượt thoát thân phận khỏi những hạn chế, đè nén, giả tạo của xã hội mà họ không thoả thuận.

     Nhân vật nữ trong văn xuôi của bà sống cuộc đời mình và trách nhiệm với tương quan người tình hay người chồng, vong thân trong nghịch cảnh để duy trì sự tồn tại của cuộc sống chung, ngay cả vào những lúc đời sống và sự chết không còn biên giới. Họ là những người làm chủ tư tưởng dù trong thể chất phụ nữ, là sức chịu đựng vượt bực của tinh thần, sự kiên trường của đá kim cương, là ánh sáng của pha lê, âm thầm, sáng tỏa và đau đớn. Sức sống mãnh liệt và sự vận dụng chức năng tư tưởng của nhà văn để viết về nhân vật nữ đã luôn là biểu tượng của nỗi cô đơn và niềm kiêu hãnh dù có những lúc gục ngã vì ảo tưởng vỡ tan, có lúc quằn quại trong suy tưởng về sự phi lý của hiện hữu, có lúc bế tắc tuyệt vọng trước những hữu hạn của phận người, của cảnh ngộ, hoặc có lúc phải nuốt lệ chìu lụy một người đàn ông mà họ yêu.

    « Đào thêm đường hầm, thoát ra bằng những lối thoát không thể có, và gọi lên thân phận, ngoi lên đọa đày, bất khuất. », « … như Kiều đã nhận chịu, như Kiều đã khóc than. Ta làm ra định mệnh. Hay định mệnh làm ra ta? » ( Cuộc Tình Trong Ngục Thất ).

    Tâm trạng người đàn bà trẻ khát vọng tình yêu tuyệt đối, vẻ đẹp toàn bích ngoài tầm tay trong những cuộc độc thoại nội tâm giằng xé chính là những truy vấn trong ý thức về sự hiện hữu và mối tương quan của « cái tôi » và tình yêu trong cảm thức cô đơn của con người.

    « Trâm nhận ra mình say mê ảo ảnh đó, và nàng có ảo giác là đang hóa thân, đã hoàn toàn biến thành hai trong cùng một xác thân một số kiếp. Trong những giây  phút kỳ ảo đó, Trâm nhận ra mình thích cô đơn vì chỉ yêu mình, yêu chính mình. Tình  yêu như một huyền nhiệm không thể hiểu được … Tôi tự đầy đủ cho tôi và tôi là đối tượng tuyệt đối của chính mình. » (Vòng Tay Học Trò)

     Người đàn bà đi tìm chồng trong chiến tranh, để biết người quân nhân vừa tử trận, cùng lúc gặp một người lính khác cùng tâm trạng tuyệt vọng, người đàn bà tưởng còn được sống tình yêu. Đó là sự khát vọng sống của con người mãnh liệt hơn tuyệt vọng và cái chết.

     “ Một thế giới mông lung, ngoài cả sự sống và sự chết, tỏa ra từ hai ánh mắt giao nhau, siêu lạc, mất hướng. Con đò bây giờ hình như tới một khúc sông khác, vắng lặng buồn tẻ hơn … Bến cũ đã xa rồi. Bờ nào mới không trông thấy trong  tương lai, dù chỉ là ước mong và nghĩ tưởng.”  (Tuần Trăng Mật Màu Xanh)

     Và người đàn bà muốn cứu rỗi người lính bằng tình yêu của mình : « Nàng kéo Đông lại, khuất sau cánh cửa dưới bóng xanh rợp của những tán lá khế giao nhau ngoài trời chiếu vào, choàng hai tay qua lưng Đông, trìu mến, ân cần, dịu dàng, quen thuộc, như một người vợ ôm chồng từ xa xôi mưa gió tìm về với mình, và kiễng chân cho cao bằng Đông, nàng ghé hôn lên môi Đông một nụ tình đầu tiên đằm thắm, gắn bó. »  ( Tuần Trăng Mật Màu Xanh )

     Người đàn bà đau khổ vẫn không mất lòng tự trọng, khi đối diện với sự phản bội của người tình trẻ, trong tận cùng nỗi đau, vẫn có bản lãnh, tỏ ra yêu chiều, chăm sóc, chỉnh sửa áo quần, đưa thêm tiền cho anh ta đi chơi với cô gái nào khác. (Vòng Tay học Trò)

     Nguyễn thị Hoàng nhìn thấy, chạm đến, nhận xét, quan sát và sống cảm xúc của mình, bằng cách thưởng thức sâu sắc từng trạng thái tâm hồn của mình, tiêu cực cũng như tích cực, để diễn tả bởi văn chương, tất cả đều được khoác lên một vẻ đẹp của nghệ thuật, của thi ca và biến đổi tất cả tình huống thành những sắc màu và âm thanh làm phong phú cuộc đời.

    Cho đến người đàn bà đi tìm cái chết từ những ẩn ức không thể biểu lộ vẫn trong một tâm thế đầy tự chủ và lôi cuốn : « Tôi thả tôi về với biển … Sóng tấp bờ lớp lớp mênh mang, Ngà khoan thai bước vào giải nước đen, nghe tiếng bọt sóng tan lao xao xa mãi trên bờ. » ( Bọt Biển )

     

    Sáng tạo của Nguyễn thị Hoàng không phải là sự vận chuyển trọn một đời tư vào tác phẩm để xây dựng một thế giới cá nhân. Hình bóng và tư tưởng của nhà văn chỉ ẩn hiện qua nhiều nhân vật nữ, rất khác biệt và đầy chất nghệ sĩ, vừa ngọt ngào vừa gai góc, vừa trầm lặng vừa sôi nổi với một chút ngang tàng thách thức từ lòng tự trọng và kiêu hãnh, thể loại phụ nữ cá tính mãnh liệt, đam mê nhưng không hề bạc nhược dù bản chất họ yếu đuối, đa tình đa cảm pha lẫn nét trẻ thơ vì là phụ nữ, và thông minh, có trình độ, có đời sống nội tâm sâu sắc, đồng thời là phụ nữ hiện đại và đầy lôi cuốn trong tự tính hồn nhiên.

     Một nhà văn trước tiên là một con người đã sống những bi kịch và những nỗi đau riêng trong thảm kịch vĩ đại của cuộc đời, cùng với con người phụ nữ của họ chừng như còn trải qua bao thống khổ trong luyện ngục để ngộ được những khổ nạn của cuộc hành trình miệt mài, bất chấp thách thức đùa cợt của định mệnh, đối phó với mọi tình huống mà vũ khí duy nhất là sức mạnh nội tâm.

     Điều giá trị nhất về bình diện nữ quyền trong văn chương của Nguyễn thị Hoàng là mỗi nhân vật nữ với cá tính riêng biệt dù được miêu tả trong một nội dung với từng bối cảnh khác nhau nhưng phải hiểu một nhân vật nữ trong văn chương của bà không còn ở trong một chiều kích hạn hẹp cá nhân là « cái tôi » với những vấn đề riêng tư mà họ là biểu hiện cho cuộc đời và thân phận người nữ trong một xã hội, một thời đại, từ ánh sáng của trí tuệ, từ ý thức tiến bộ trong quá trình tiến triển của giòng nghệ thuật ý thức cách mạng, qua đó để thể hiện sự dũng cảm của tinh thần đòi quyền chủ động đời sống.

     Người phụ nữ trong Trâm ( Vòng Tay Học Trò ) có một sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, với một cõi hồn khao khát yêu thương, « thèm sống thèm yêu tột cùng » đến đã được « thay đổi sau cách mạng cuộc đời và nổi loạn tâm hồn » cùng lòng kiêu hãnh và tính tự lập để tự gầy dựng cho bản thân một cách sống riêng, không bước vào lối sống tầm thường, con đường mòn của thiên hạ, vận dụng khả năng để khai thác mạch sống, phải tự tìm cho mình một lối thoát : « Phải đập vỡ tất cả để xây dựng lại … phải sống với bản chất đam mê của loài thú rừng thức giấc …»

    Và  Nguyện của Một Ngày Rồi Thôi  « … vừa kiêu hãnh, vừa tủi hờn vô cớ là đời sống bên ngoài, vòng vây quen thuộc eo hẹp và tầm thường không đủ dung chứa mình. »

      Người vợ trong Ngày Tháng Đầu Đời : « Em không quản ngại bổn phận và nhiệm vụ của mẹ cho con, của vợ cho chồng, của đàn bà với gia đình mình »

    « Cướp lấy từng phút giây sống, cướp lấy từng trăm năm chết, cướp lấy nước mắt và nụ cười, cướp lấy hạnh phúc và thương đau, trong vòng quay vô tình của con tụ tôm cua rùa cá ». ( Cuộc Tình Trong Ngục Thất ).

     Giữa thời cuộc đau thương, người đàn bà vẫn khát khao cứu rỗi người lính chết mòn trong tuyệt vọng, còn tưởng sẽ tìm được lại màu xanh cho tương lai : « Và nàng đã về giữa lúc anh đang chết. Đang chết. Ngày mai, trong căn nhà cổ im vắng này, dưới vòm trời còn xanh dịu này, tuần trăng mật sẽ bắt đầu cùng với mùa xuân. » ( Nhung trong Tuần Trăng Mật Màu Xanh ).

    Trong chiến tranh, tình yêu và sự sống vượt lên tất cả. Đó là điều chân tình và bi thảm cho con người và riêng cho người đàn bà, « Mầm mống và bản thể cuộc đời này là gầy dựng và sinh tồn trong bất khuất … Bây giờ nàng đã đến chân vạn lý trường thành. Và nàng đã tìm thấy xương da hạnh phúc đời mình nguyên vẹn.»  (Cuộc tình trong Ngục Thất).     

 

 

      Điểm quan trọng khác về nhà văn là trong ý thức nữ quyền, về mặt chủ thể (subject ), Nguyễn thị Hoàng đã thể hiện cả chủ thể sáng tạo lưỡng tính (androgynous). Trong nhiều tác phẩm, dù tiểu thuyết hay truyện ngắn, bà đã vượt ranh giới, đặt mình vào vị trí của nhân vật nam, thái độ nhập thân (embodiment)  một cách hoàn toàn ý thức như sự cải trang  ( masquerade) để phân tích, diễn giải tâm sinh lý và hoàn cảnh sống của người nam, dẫn đến trạng thái hoà hợp cân bằng, toàn thể, thích ứng với nhân vật nữ như một điều phải có từ bản thể uyên nguyên. Đó là một phức thể rất khó để diễn đạt khi nhà văn phải “sống” tận cùng con người của từng nhân vật nhưng bà đã thực hiện văn chương với tài năng và bằng việc làm đầy tính nhân bản, như Nguyễn Du đã vay mượn nước mắt và thân phận nàng Kiều để biểu hiện những thống khổ của mình. Hiện tượng này tuy lạ nhưng phát xuất từ nhiều yếu tố như lịch sử, chính trị, xã hội, văn hoá …

        

     Một nhà văn là một người đa nhân cách, có cái nhìn đa chiều và nhìn về mọi hữu thể đa dạng một cách sắc sảo. Họ tạo nên những nhân vật với từng cá tính riêng phù hợp với vai trò nhân vật đó. Trong văn chương của Nguyễn thị Hoàng, có mọi nhân vật với mọi cá tính và nhà văn sống tận tụy thiết tha trong mỗi nhân vật của mình, bởi những xúc cảm sâu xa và chân thật để tỏ lộ tường tận mọi chi tiết nội tâm cho đến hành động trong từng bối cảnh.

    Những bối cảnh trong các tác phẩm của bà được diễn tả bởi ngữ cảnh tuyệt vời, vẽ ra những bức tranh chân thực của tác phẩm văn chương và nhất là cảnh sắc, nét mỹ miều để lại ấn tượng cho độc giả.

    Thông qua một tác phẩm văn học, độc giả có thể dựa vào những bối cảnh xây dựng về mặt xã hội được định hình bởi văn hoá, những bối cảnh được xây dựng về mặt thời đại được định hình bởi lịch sử. Lịch sử luôn được tái hiện dưới hình thức văn học nghệ thuật.  Nguyễn thị Hoàng là nhà văn góp phần không nhỏ giúp độc giả nhìn lại dấu vết của chiến tranh một thời.

    Bối cảnh xã hội và văn hoá là điểm quan trọng vì ảnh hưởng đến giá trị của tác phẩm mà tác giả mong muốn độc giả tiếp nhận. Độc giả có thể hiểu được nhân vật sống với nền văn hoá nào và những giá trị của xã hội đó.

     Cảnh sắc trong văn chương của Nguyễn thị Hoàng là nét đẹp đa dạng, từ phong cảnh lãng mạn u trầm của một Đà Lạt núi rừng cho đến một Huế lặng thầm, một Sài Gòn nồng nàn huyên náo đến sóng biển Nha Trang cho đến bối cảnh huyền ảo của nước Nhật, nét đẹp ngọt dịu của Đài Loan … Chưa một nhà văn nào có thể viết hay đến thế về bối cảnh là nền cho tình yêu và những trạng thái tâm hồn. Bà thổi hồn vào nhân vật cũng như rót tình cảnh sắc bằng ngôn ngữ gợi cảm và tinh tế của riêng mình.

   “ Con đường rừng và một buổi hoàng hôn nào đó. Rặng hoa đào và bóng dáng mùa xuân. Mười ngón tay em và những chiếc áo len màu. Miệng em cười và lời yêu thương ngọt ngào không nói …”  (Vòng Tay Học Trò).

   “ Làn nước lấp lánh trắng xoá trôi giạt bàng hoàng dưới bãi. Mặt biển mềm và óng ả như những tấm kim tuyến bạc thêu chỉ hồng dưới mặt trời chiều. Màu xanh phơi phới của nền trời ngẩn ngơ cúi xuống. Những hòn đảo mờ mịt xa xanh. Những cánh buồm trắng ngoài khơi như bướm trắng im lìm trên nền kim tuyến bạc.” ( Vùng Trời Trên Biển ).

    “ Những sợi khói mong manh xám nhạt vươn lên từ những mái nhà nâu thẫm gờn gợn từng vết rêu mốc lâu đời. Nắng chiều vàng thắm trải dài mênh mông từ thung lũng lên đồi cao. Cỏ cây rực rỡ như những tấm thảm nhung dắt kim tuyến. Tiếng một con chim cu văng vẳng từ sau rừng vọng lại như từng nốt đàn mơ hồ thánh thót đệm vào ca khúc vi vu mơn trớn của gió chiều trong rừng thông.” 

    “ Nắng vàng đã nhạt. Vòm trời thấp xuống âm u và nàng bỗng dưng cảm thấy tất cả nỗi lạnh lùng tê dại của đời cô quạnh chụp xuống hai bờ vai yếu đuối.”

     “ Đêm nay. Có thể nào đêm nay là đêm cuối cùng của một thời gian huyền thoại. Trăng ngà ngà khỏa thân giữa đỉnh trời khói xám. Bụi bờ u uất chìm sâu như vực thẳm quanh lầu. Khoảng cách mở rộng trong đêm sâu trũng giữa hai người. Trâm nhìn nét đồi mờ ảo dưới ánh trăng và bỗng thèm bỏ đi xa.” (Vòng Tay Học Trò)

    Với cách tả linh động du dương qua ngòi bút trang trọng diễm lệ về một phụ nữ thanh lịch đài các :

    “ Người đàn bà ngồi đó, một tay nâng tách trà, một tay tì nhẹ lên thành trường kỳ cẩn xà cừ, hai chân khép nép xếp vào nhau, tà áo đen dài ẻo lả buông xuống tận mũi hài thêu hoàng hạc lượn, mái tóc nhung đen vén cao từng lọn nhỏ và thanh trên đỉnh đầu, để hé một nét cổ trắng ngần chảy xuống khung ngực áo rộng hình vuông lấp lánh một cành huyết ngọc bên phía trái.” (Tan Theo Sương Mù).

    

    Ẩm thực cũng là nét đặc thù của một bối cảnh văn hoá. Qua cách tả những món ăn thức uống và cách thưởng thức, nhà văn đưa người đọc thưởng thức vẻ đẹp vào những trạng thái tích cực.

    “ Bữa cơm thanh đạm nhưng ngon lành, gồm một chén canh cải nấu với cá, một dĩa tôm nhỏ lột vỏ chiên bột ăn kèm với khoai chiên, một dĩa nhỏ dưa gang ướp mật rượu và đường màu mã não, những khoanh trứng gà luộc trên một dĩa xà lách thật tươi ghim từng trái táo đen, hạnh nhân và hạnh đào màu đỏ. Tất cả được trình bày trong bát dĩa bằng thứ gỗ đen, cẩn hoa và chim hạc, bướm và những cánh tùng già, những hạt cơm trắng dẻo vít lên đầu mút đũa nhẹ tênh màu đỏ thắm. ” (Tan Theo Sương Mù).

    “ Những lát cá rải ra từng giải mỏng và dài như quai nón, ướp tất cả đồ gia vị như tai đinh, tai hồi, xả, lá thơm, ớt, tỏi, hành, băng sa. Trải cá lên một cái vỉ mỏng bằng tre đan, đặt vỉ trên một chậu nước giếng thật mát, có nắp thông hơi đậy bên trên, để một đêm. Ngày thứ hai là ngày làm phần nhân của món cá bằng cua gạch, tôm hùm quết nhuyễn trộn với táo tàu hột sen, vi cá, nấm hương cắt nhỏ, tất cả được vo tròn từng viên và được cuốn vào trong những lát cá mỏng đã ướp đêm qua. Cả miếng cá cuốn nhân được phết bơ và bỏ vào lò nướng. Cá đút xong là được sấy bằng nước sâm chưng  đường phèn tán nhỏ suốt một đêm, và qua ngày thứ ba là thời gian cuối cùng để làm nước sốt. Nước sốt nấu bằng thịt bò, tôm cua, cà chua, hành tây trong nửa ngày, lọc lấy nước nấu lại lần nữa cho đến khi được gần đặc quánh, và đến giờ khách ăn, nước sốt được rưới lên cá đã được nướng lại lần thứ hai trong lò, và lần này khác với lần trước, lò được tráng một lớp mỏng quế bột …” ( Bọt Biển ).

     

     Sáng tạo nghệ thuật luôn thích hợp với thời đại nhà văn sống, và tư tưởng của họ để lại ảnh hưởng cho những thế hệ sau. Các nhân vật nữ trong văn chương của Nguyễn thị Hoàng, trong dằn vặt và chao đảo sự nhận diện thể xác cùng sự khai phá tâm linh, sống ở một thời đại đầy biến động, trong một xã hội nhiều hữu hạn cho phụ nữ từ mặt đạo đức, thiếu tính nhân quyền. Và qua cách sáng tạo mới lạ của văn chương, với trách nhiệm công việc, bà đã khẳng định sự hiện hữu của người phụ nữ trong toàn bộ ý nghiã của giá trị con người và con người phụ nữ ở vào thời đại 1960 và những thời đại tiếp nối.


                  Tình Yêu và tính Nhục Cảm trong văn xuôi.

                

      « Chúng ta phải yêu đàn ông rất nhiều, rất rất nhiều, phải thật gần gũi với họ để yêu họ vì nếu khác thế, họ sẽ trở nên vô cùng khó chịu ». 

    Marguerite Duras (1914-1996).           

 

    

     Trong văn xuôi của Nguyễn thị Hoàng, chủ yếu là những nhân vật nữ, nhưng cả nhân vật nam, dù trong vai trò nào, trong hoàn cảnh sống nào, từ Trâm của Vòng Tay Học Trò đến người vợ trong Cuộc Tình Trong Ngục Thất hoặc một Nhung trong Tuần Trăng Mật Màu Xanh, Chiêm của Đất Hứa … vẫn là những người phụ nữ sống tận cùng cho tình yêu, yêu độ lượng trong tâm trạng khắc khoải dày vò, với những suy nghĩ điên đảo triền miên bởi nghịch cảnh đầy oan trái mà con người phụ nữ của họ vẫn quyết liệt, mạnh mẽ, độc lập, cao thượng, chân tình và thảm khốc;  họ vong thân trong tình yêu và cũng được cứu rỗi từ chính sự vong thân đó. Giá trị một tác phẩm văn chương là sự hài hoà giữa văn phong độc đáo và tư tưởng mãnh liệt diễn đạt những trạng thái tâm hồn và thể xác của nhân vật, hai điều cùng có tác động tích cực và để lại dấu ấn sâu đậm và bền lâu trong lòng độc giả.

   

    Nhà thơ dịch giả Đỗ Tư Nghĩa (1947-1921), đã dịch rất nhiều thơ của những nữ thi sĩ như Emily Dickinson, Chistina Rosetti, Bargriana Elisaveta … đã từng nói về sự chọn lựa làm công việc này của ông : « Bởi tình cảm của phụ nữ là thật ». Nhà văn Guy De Maupassant (1850- 1893) của Pháp đã có cùng tư tưởng : «  Chỉ có phụ nữ mới biết yêu là gì ».

   

    Cho đến thời gian đó, một số ít nhà văn nữ Á đông có viết về tình yêu và nhục cảm của người phụ nữ một cách sâu sắc và tinh tế như nữ sĩ Ayako Miura (1922-1999)  người Nhật mà chúng ta có biết ít nhất qua tiểu thuyết Hyõten, xuất bản năm 1964, (Freezing Point) được dịch giả Liêu Quốc Nhĩ chuyển ngữ là Băng Điểm.

     

 

 

 

Ayako Miura                              Nguyễn Thị Hoàng

 

 

  

     Nhà văn Nguyễn thị Hoàng của chúng ta, với tất cả sự nhạy cảm phong phú, khác biệt trong quan sát và nhận xét cảnh, việc, người, tình, đời … cũng như cái nhìn, cách diễn tả về tình yêu sâu đậm trong quan hệ vợ chồng chung thủy thật chuẩn xác và đẹp, cảm động, trích từ  Cuộc Tình Trong Ngục Thất :

   «  Em muốn anh ăn, em muốn anh sống! Lạy trời, con chỉ cầu xin còn lại mỗi một điều này thôi, là cả hai người còn sống … với chút hy vọng mỏng manh nguôi ngoai là một ngày kia, một trăm một ngàn năm sau, còn tìm thấy nhau trong đống xương trắng hếu của vạn lý trường thành cay nghiệt. »

   « Người đàn bà là mẹ chỉ đem đến những gì cho người đàn ông trong cung mệnh, nhưng người đàn bà là vợ làm thêm những phần sáng tạo và tham dự của cung thân hòa nhập vào cung mệnh trong bản tử vi người chồng … Cho nên chỉ cách nhau có mấy bước mà có cái gì không xong, cái gì sai lỡ. Cho nên chỉ cách nhau có một phiến cửa kính trong suốt đàng này đàng kia của phòng mà đã thấy chênh vênh heo hút nhớ nhung. »

    Cùng với cảm xúc được diễn tả đẹp một cách tinh tế khi bắt được nguồn hy vọng thoát hiểm để về với đời sống : « Tóc bay. Chiều bay. Hồn bay. Những mảnh vỡ mịt mù trí não rạc rời cũng cuốn bay theo … Bay lên. Xa lìa quá khứ. Xa lìa ngục tù. Xa lìa ám ảnh mịt mờ trận địa … Một thoáng, nàng nhận ra, thật xao động nhưng cũng thật lặng lẽ, mùi tóc da và vai áo của người đàn ông ngồi gần lan chuyển vào tâm hồn và thể phách mình, như một hoà điệu kỳ diệu và lặng thầm giữa lá và hoa, giữa cây và cành, giữa sương và khói … Rồi bằng tất cả tâm hồn diễm tuyệt, bằng tất cả ý chí siêu phàm, bằng tất cả say đắm của lòng ta, đánh cướp lại đời, gắn hàn lại hạnh phúc. »

     « Em đã yên nghỉ hoàn toàn trên bến bờ tình yêu anh. Không còn miền thiên đường nào yên tĩnh và vĩnh cửu vô biên hơn nữa. » ( Ngày Tháng Đầu Đời )

    

     Tình yêu của người con gái cho người lính chết trận :

     « Còn mang theo khắp trên quần áo mỏng manh mùi vương vất của mồ hôi, cát bụi, hơi nóng và những thứ mùi không tên của đời lính. Và hình ảnh chàng, như một tượng tạc giữa công trường nào, yên tĩnh và bất biến … Tôi khóc bằng nước mắt một đời ước vọng không nguôi, những mộng mơ dạt dào, những thiết tha ngưỡng vọng, những hấp hối van xin … Khóc những giọt nước mắt tình yêu và sự chết, mừng tủi và khát khao cái gì không có trong tay không có trong đời không có ở nơi đâu. »  ( Đất Hứa).

   Tình yêu ngọt ngào, đằm thắm và đau đớn, cao thượng của một người nữ với một người nữ : « Thương như một đọt sao xanh trong vắt dẫn dắt cho Tịnh đây đó lạc đường vẫn còn về đây thấy hồn mình yên tĩnh một thứ tình dịu dàng và kỳ diệu vượt ra ngoài tất cả mọi quy ước và biên giới của lòng người, tình yêu và sự tầm thường. » (Mùa Xuân Lá Vàng).

    

     Khi viết về nhân vật nam, người lính rơi vào cảnh bế tắc tuyệt vọng của thời chiến, còn mong mỏi, nuôi hy vọng sống từ tình yêu của người đàn bà, Nguyễn thị Hoàng cũng diễn tả một cách chân thực và đầy tình người :

    “ Trong vườn cây, dưới tàn cây khế, người đàn ông ngồi tẩn mẩn xếp từng chiếc lá khô với nhau thành những hình ảnh rời rạc vô nghĩa. Nghe tiếng chân, anh nhìn lên. Hai tay buông, hai mắt không chớp, toàn thân như bất động thành tượng đá rong rêu đã nghìn năm ở đó … Có thật Nhung đó không? Nhung từ xưa trở về hay Nhung từ lần đầu tiên, trong mộng mơ tiền kiếp nào long lanh như nắng?

     Đông nhìn đăm đăm những xe tang chầm chậm đi qua và mặc cho hàng loạt mắt nhìn tò mò vây bủa xung quanh, anh quàng hai tay thân yêu quanh vai cổ Nhung, miệng trên tóc nàng thơm mùi hoa dạ hợp, ôm ấp lấy đời sống mong manh và dấu yêu tưởng như vừa tìm gặp lại sau trăm năm im ngủ dưới mồ. ”

(Tuần Trăng Mật Màu Xanh)

  

     Tính nhục cảm, là một trong những yếu tố của một tác phẩm văn chương, cần thiết ít nhiều, tùy vào chủ đề và nội dung. Trong văn chương của Nguyễn thị Hoàng, đây là điều được diễn tả một cách đẹp nhất, tự nhiên và tế nhị nhất, đến có thể hiểu rằng tác giả không hề cần đề cập, không hề tìm kiếm mà chỉ viết về con người và tình yêu với một ngôn ngữ đầy cảm xúc, giàu hình tượng và từ đó, người ta có thể cảm được những rung động xuất phát từ trái tim, từ tâm hồn và một cách đương nhiên, những rung động này sẽ dẫn dắt đến nỗi khát khao sống niềm xúc cảm bí ẩn nhất của tình yêu xuất phát từ ngũ giác quan trên thân thể con người. Nói khác đi, con người có những cảm giác về thể xác, những rung động trong tâm hồn và tình cảm trong trái tim là ba điều không bao giờ có thể tách rời nhau được. Xúc cảm là mạch nguồn của khát khao dục vọng và con người cần được sống nó vì người ta không thể phi thường hóa cảm xúc hay sống giả tạo nó. Nguồn xúc cảm là điều tự nhiên và thật nhất được nhà văn đề cập một cách vô tư.

     “ Cô đong đưa trên những đỉnh hoa hồng. Cô vừa sợ vừa muốn những cái gai dưới lá. Tại sao?

Thật giản dị, có gì đâu, tại sao lại tránh cả những việc rất “người”?  Đó là những gốc rễ mọc sâu trong vui thú khoái lạc của con người.

Chính cô, cô vừa muốn giữ mức độ đó, vừa muốn vọng tưởng tới những hình ảnh tăm tối và lôi cuốn khác để hâm nóng cuộc vui thầm kín trong tưởng tượng.”   (Tuần Trăng Mật Màu Xanh).

   

    Từ bản thể nhà văn có nguồn xúc cảm tràn đầy lai láng như giòng sông lớn đã tạo thành sự quyến rũ gợi cảm khơi tình từ ý tưởng diễn đạt qua văn phong. Các nhân vật của bà sống động, quyến rũ và sống bình thường, sống tự nhiên con người và tình yêu của họ với khối cảm xúc thật. Từ cách dùng cảnh sắc làm nền cho tính nhục cảm, cho đến sự diễn tả từng suy nghĩ, từng cử động, ánh mắt, cách biểu lộ và đối thoại. Tất cả được diễn tả bằng một cách tinh vi, dịu nồng, nhiều rung động nên những lời văn hình thành đoạn viết thật cảm động và gợi cảm, vô cùng ấn tượng và đầy hình tượng lãng mạn trong nền văn chương đương đại chưa từng có.

     « Cho em hôn khắp người anh, từ đầu vầng tráng phẳng cho đến cuối gót chân thon, cho môi em xóa hết bụi đường trên thân thể anh khi trở về. » (Ngày Tháng Đầu Đời)

     « Những ngón tay tê cóng run rẩy, những sợi giây thần kinh bé bỏng đầu ngón tay chuyền cảm giác đi khắp thân thể Trâm như những đoàn quân nồng nhiệt đi chiếm đóng một quê hương dần hàng phục bị trị …

    « Từng ngón tay Trâm đột nhiên run rẩy bám vào chéo gối … », « Mùi thơm phảng phất, hơi khói nồng nồng quen thuộc từ phía Minh len lén bay qua phả lên mặt nàng như một gửi trao liều lĩnh. »  (Vòng Tay Học Trò).

     

     Nhà phê bình Thụy Khuê giải thích : « Thi pháp của tình yêu và đam mê đã dẫn ta tới nguồn cội của cảm giác ».

  

     « Hậu vùi đầu tóc Chiêm vào khoảng ngực áo chưa cài … Lửa trút qua môi, hương nồng tẩm áo, họ nhắm mắt dìu nhau lên cao, chơi vơi trên đỉnh trời ngập tràn màu đỏ chót vót của cảm giác. Thoáng ru ngủ say nồng bay vút qua mau cho tay rời tay môi rời môi »  (Đất Hứa).

   « Đêm cựa mình giữa lời nàng thở nhẹ. Và nàng còn nhớ răng Minh nở đều trong tóc mình vướng rối. Nàng còn nhớ má Minh thơm và ấm mùi rượu nho ngày hội lớn nào. » (Vòng Tay Học Trò).  

    « Thôi thì đời còn chị để thương em. Một người con gái thương một người con gái cũng đành, và cho chị hôn em, cho chị ôm em, cho chị nhắm mắt lắng nghe những bước tình lỡ làng thoảng qua trí nhớ. Chỉ còn có em thôi phải không Thương? Và rồi một ngày kia em cũng đi về đời sống khác. Còn chị ở lại một mình … Thương gục đầu vào giữa hai hạt nút áo mở của Tịnh. Tịnh giữ đầu Thương rất lâu trong ngực mình và nước mắt bỗng dưng chảy dài ràn rụa. Từ đó đêm nào vắng mái tóc thơm của Thương trong ngực mình, Tịnh nghe trong lòng hao hụt mênh mông và thức trắng đêm. » ( Mùa Xuân Lá Vàng).

   

     Nhục cảm cũng được sống một cách dày xéo giữa nỗi khổ của linh hồn và thân xác, giữa tội lỗi và hạnh phúc một cách u trầm như tư tưởng nhà thơ Pháp Charles  Baudelaire (1821- 1867), mà người phụ nữ của thời chiến đã chỉ kiếm tìm mong mỏi một hạnh phúc thuần khiết, thanh thoát trong những đọa đày của tù ngục chiến tranh.

   « Một đôi môi chết đuối trên môi, một cánh hồn chập chờn theo hồn và vòng tay chằng chịt muôn đời vây bủa rừng tình thăm thẳm. »  (Đất Hứa)

   

     Từ những ẩn ức về tinh thần, từ những tình cảm tiêu cực cho đến những đòi hỏi dục vọng từ yêu đương và khao khát sống của từng nhân vật, nhục cảm trong một số tác phẩm của Nguyễn thị Hoàng được thi vị hóa bởi những ẩn dụ qua văn phong luôn uyển chuyển và sắc sảo.

   « Với nỗi đớn đau không cùng thầm lặng trong say mê nghiến ngấu, nỗi linh cảm dấy lên từ ngọn cây xanh hạnh phúc nắng tràn về chia xa trong đoàn tụ, giây phút giữa dài lâu, tang thương trong bất biến, bất an trong êm đềm. Cảm giác đó vẫn chen lấn, thôi thúc, dồn đuổi Chiêm lăn mình vào cơn say ngất ngây mê sảng của những lần tới đó. » (Đất Hứa)

    « Nàng nhìn Minh. Đăm đăm quấn quýt dại khờ. Một thoáng Minh cũng nhìn lại nàng như thế, và cả hai cùng cảm thấy có con sóng lớn luồn khắp thân thể mình. Hoặc : «  Trâm nhìn khoảng cườm chân trắng nõn của Minh hé lên giữa ống quần và tất đen. » (Vòng Tay Học Trò).

  

     Bằng sự nhạy cảm tột độ cùng với cách thấu hiểu cực chính xác và tinh nhuệ về tâm sinh lý, Nguyễn thị Hoàng là một nhà văn hiếm hoi đã đề cập đến và phân tích nhục cảm mang tính phức cảm của một người đàn bà yêu một người đàn ông từ cảm nhận và qua một người đàn bà khác :        

   « Mùi thơm từ ngực áo Ý Lan phảng phất trong vầng tóc Nhung mù rối. Một cảm giác kỳ dị, tức tối pha lẫn bực tức không đâu vấn lên khắp người Nhung. Nàng nhìn ngấn cổ trắng ngần của người đàn bà kẻ một đường trũng xuống ngực áo quên cài. Loáng trong hai mắt khép che một ảnh hình choáng váng tới gần. Nhung nghĩ thầm, hình như mình thích bà ta, có phải không, từ lần đầu nhìn thấy, vẫn tưởng tượng bà ta với Đông đã như thế nào, mấy hôm nay, đầu tiên mình tưởng vì sự ganh tức, hờn lẫy. Không phải! Mình thích người đàn bà, vô lý, tại sao lại như vậy, hình như nghĩ đến người đàn bà, mình cảm thấy muốn đến với Đông. Lần đầu tiên trong đời Nhung nhận ra một điều kỳ dị mà có thật. »  (Tuần Trăng Mật Màu Xanh, tiểu thuyết, xuất bản năm 1973)

    Nhà văn Marguerite Duras của Pháp, tác giả tiểu thuyết Người Tình (L’Amant), trong tác phẩm, có đề cập đến trạng thái này. Nhưng quyển Người Tình được sáng tác sau, vào năm 1984.

   

    Hoặc trong một lúc nào đó, người đàn ông quân nhân trong cơn thống khổ tuyệt vọng, sống trạng thái hụt hẫng từ suy sụp tâm sinh lý. Điều này cũng được Nguyễn thị Hoàng phân tích một cách chuẩn xác với tất cả niềm cảm thấu và tình người.

    « Rồi thì một nỗi xót xa, thương thân không đâu làm lòng anh chùng héo xuống và trái tim như chìm lặng đi trong lồng ngực phẳng lặng như tờ. Nỗi vui thú đã không tới như mong muốn. Trái lại là một nỗi lạnh lẽo, nhàm nhạt, làm buồn chán ủ ê cả tâm hồn thể xác. Người anh như chìm tan đi trong một nỗi thất vọng tận cùng. 

    _ Em đáng yêu vô cùng, nhưng mà không còn gì trong lòng tôi cả, thật uổng phí cho em.

     Đông nói, tiếng nói như ở hẳn ngoài anh, không can dự vào phần hồn xác lười biếng. Rồi thì, theo nhịp đò trôi những ngón tay người đàn bà dịu dàng vờn trong tóc Đông, dỗ dành. Hồn Đông rưng rức buồn như cơn mưa không dứt bên ngoài, tan loãng dần cho đến khi tất cả thiếp mê trong giấc ngủ. »

     Người ta có thể thấy cả tính gợi dục trong cách tả tinh tế một phụ nữ quyến rũ đài các bởi văn phong bay bướm như sau :

     « Trong khung mắt vương buồn, người đối diện vẫn tìm thấy lấp lánh một ánh sắc tươi vui, hân hoan như ánh đèn lồng hò hẹn trong vườn cây tăm tối sao mờ, dấu hiệu của một giờ tự tình đằm thắm. Nét mày cong thỉnh thoảng cau lại như hỏi han ân cần, như giận hờn nũng nịu, như vòi vĩnh van lơn làm nõn nà đôi gó má cao phơn phớt một thoáng hồng man mác toả xuống đôi môi san hô non mấp máy giấu che hai hàm răng màu lựu non he hé từng lời nói tiếng cười. Giọng nàng nhỏ, thanh, nhưng rõ như tiếng vang xa được lọc qua những tầng thanh khí trong vắt vắng im, nghe xa vời, như từ cõi nào vọng vang, mà gần gũi như thủ thỉ gần kề bên gối. » (Tan Theo Sương Mù)

   « Quần tay bó sát vào cặp đùi dài thuôn lẳn, áo len đen cổ hình trái tim khoét rộng xuống một phần ngực đầy, tấm khăn lụa buộc mớ tóc ngắn bồng bềnh cũng màu đen chạy một đường viền cong từ chân tóc trước trán đến nét gáy trắng lơ thơ tóc măng dâng lên phía trước nét mũi đều thanh tú và đường môi cong vẽ xuống góc miệng duyên dáng gọi mời. Ngà đi thoăn thoắt từ bàn này sang bàn khác, những né tránh nhảy nhót vươn đường cong mềm mại của thân hình, những vẫy tay những nhún chân gợi lên trong mắt nhìn tò mò ngạc nhiên của một đám khách ăn đông đảo hình ảnh của một vũ nữ luống tuổi trình bày những khúc điệu cám dỗ nhất một lần cuối cùng trước khi gục xuống sau màn sân khấu âm u … » (Bọt Biển)

  

     Nhà văn có cách miêu tả và so sánh một cách thông minh tinh tế kỳ lạ khi viết về khuynh hướng nhục cảm kín đáo với những hình tượng đẹp và tự nhiên.

    « Cái cuống tím màu hồng nhạt và mềm yếu của cây nho, mảnh mai và dịu dàng như một thứ dây trang điểm kín đáo của đàn bà. Những trái xanh tròn nuốt và láng màu cẩm thạch gợi nhớ hàng răng ngời sáng cắn sâu rợn lên trên môi người mường tượng thứ nước chua thơm ngát và lạnh ngắt đến rùng mình nghe lắng …

     Giải mây biến thành chiếc khăn lụa thơm nức mùi nước hoa là đà bay xuống cổ tôi. Và khi đưa tay lên mân mê, chiếc khăn đã là cánh tay nuột nà mát dịu vòng quanh hai vai mình chết ngất. »

   

    Tình yêu và nhục cảm là tự do cá nhân phải được sống thật với bản thể. Con người phụ nữ cần chối bỏ định kiến luân lý, trốn chạy sự giả tạo và ngộ nhận của thế lực xã hội, đương đầu số mệnh trong cô đơn mà vũ khí duy nhất là bằng năng lực nội tâm để che chở cuộc sống và thế giới riêng tư, tìm tòi khát khao giải phóng nhân tính  mà vẫn gìn giữ nguyên vẹn bản thể của cá nhân và trách nhiệm với cuộc đời. Nguyễn thị Hoàng đã viết và làm sống động những điều thuộc về nhân bản một cách hoàn toàn sáng suốt và nhạy cảm.

Phần 5.  Nhà văn Nguyễn thị Hoàng và những nhà phê bình văn học.

Thi hào Goethe (1749-1832) người Đức, ngày nào đã phải kêu khổ và căm phẫn đến nỗi : « muốn giết chết hết cái lũ phê bình văn học kia! ».

Thâm thúy hơn, nhà văn François Rabelais, thời Phục Hưng (1483- 1553) của Pháp đã tuyên bố : « Có rất ít chó hút được chất tủy, chúng chỉ thích gặm xương … », ngài cho rằng có một cách đọc riêng để cảm nhận và hiểu sâu sắc tác phẩm Gargantua, vì trước khi làm công việc phê bình, đương nhiên phải là độc giả.    

 

    Nhà phê bình Thụy Khuê : « Một dân tộc (Việt Nam) chú ý nhiều đến cái vỏ mà bỏ qua cái lõi, biếng nghĩ, thích phê phán và đầy nghị kiến. »

 

    Nhà văn Mai Thảo : « Từ trước đến nay, nhất là ở xã hội chúng ta, một xã hội đắm chìm trong một trạng thái phân hoá và dao động trầm trọng bởi sự quay cuồng của nhiều dòng ý thức tư tưởng đối nghịch dị biệt (một trạng thái xã hội chưa hình thành trọn vẹn thì những giá trị cũng chưa được xác định, những vai trò cũng chưa được sáng tạo). Người ta đã có những định kiến rất sai lầm, những ngộ nhận rất nguy hiểm của tác dụng nghệ thuật cách mạng tiến bộ, về vai trò của người làm nghệ thuật cách mạng tiến bộ … Một trong những ngộ nhận lớn lao tố cáo tất cả những sự thật thảm thương của một trình độ hiểu biết sơ đẳng hiện diện hỗn xược và ngạo nghễ trên diễn đàn văn học nghệ thuật hiện tại là sự nhận định hoàn toàn sai lầm, bằng những điểm đồng nhất và trùng hợp của bọn dốt nát về triết học Tây phương với những khởi điểm của giòng nghệ thuật cách mạng ý thức ở đây ; những đầu óc thiếu vắng một liêm khiết tri thức tối thiểu không bao giờ dám tìm hiểu những khởi điểm tiến bộ ấy trong một tương quan xã hội hiện hữu, những kẻ bất tài không tìm được luận điệu nào hơn là gán ghép một số danh từ công thức máy móc (vô thần, hiện sinh, nổi loạn) lên sự hình thành tất yếu của một giòng nghệ thuật chính thống đã trở lại, duy trì sự có mặt rạng rỡ của nó giữa đời sống, sự có mặt không do một phiêu lưu, ngẫu hứng hay một tình cờ nào hết, sự có mặt chỉ là kết quả một giác ngộ và trưởng thành nơi người làm nghệ thuật và khởi hành từ nhận thức đó.»

   ( Trích từ tiểu luận « Nghệ Thuật, Sự Báo Động Khẩn Thiết và Thường Trực của Ý Thức ». Tạp chí Sáng Tạo, tháng 9- 1961.) Trong bài viết này, ông nói về tính ưu việt của chủ nghĩa Siêu Thực và chủ thuyết Hiện Sinh trong văn học.

    « Với một nền báo chí tương đối tự do và sự hỗ trợ của giới độc giả cùng sinh hoạt xuất bản ngày một tăng trưởng, giới cầm bút phái nữ đã tiến một bước dài trong việc góp mặt trong sinh hoạt văn học. Qua một nỗ lực chung - và một số nhỏ thành công - họ đã được công nhận khả năng sáng tạo, không chỉ ở số ấn bản sách bán được, mà quan trọng hơn cả là ở nội dung và văn phong mới mà họ đã đóng góp cho văn học. Vì đến trễ trong sinh hoạt văn hoá do phái nam thống trị từ nhiều thế kỷ qua, họ phải nỗ lực gấp đôi để cống hiến cho đời cái độc đáo riêng của họ, nâng các tác phẩm của họ từ một thứ gợi óc tò mò lên hàng một nghệ thuật. »

    ( Trích từ Biên khảo về Các Nhà Văn Nữ Miền Nam Việt Nam 1954-1975 của tiến sĩ Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang, dịch từ tiếng Anh « Women Writers of South VietNam 1954-1975 » bởi Trùng Dương nguồn : báo Người Việt, tháng 02, 2022.)

 

     Khuynh hướng sáng tạo văn học nghệ thuật của thế kỷ hai mươi tại Pháp là chủ nghĩa Siêu Thực (Surréalisme) và chủ thuyết Hiện Sinh (Existentialisme) phải được hiểu rằng :

     «  Siêu Thực đi từ triết học phân tâm của Freud, coi Vô Thức như chủ thể của sáng tạo. Siêu Thực là hiện thân của Mộng.

    Hiện Sinh, trong quan điểm của Sartre, bác bỏ ý niệm Vô Thức của Freud, coi ý thức mới là chủ thể của sáng tạo. Hiện sinh là hiện thân của Ý Thức, của Thực. Siêu Thực và Hiện Sinh vừa Đối Lập, vừa Bổ Xung cho nhau. Cả hai tìm đến tự do như cứu cánh của sáng tạo, cùng chi phối sáng tác văn học nghệ thuật, không những ở Pháp mà còn ảnh hưởng đến văn học nghệ thuật toàn cầu. » 

    (Thụy Khuê, Chủ nghĩa Siêu Thực trong văn học, Paris, tháng 10 -1999).

   

     Nhà phê bình Thụy Khuê, bằng một sự nghiên cứu kỹ lưỡng đã có cái nhìn trung thực và tổng thể về văn chương của Nguyễn thị Hoàng, xác định : Sáng tạo của Nguyễn thị Hoàng có thể chia làm hai khuynh hướng là Hiện Thực Hiện Sinh và Hiện Thực Huyền Ảo nhưng đó là sự Tự Phát chứ không có gì chứng minh là nhà văn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dòng văn học này.

    Thụy Khuê giải thích rõ ràng : « Hiện Sinh là hiện thân của Ý Thức, của Thực. Triết học Hiện Sinh trong nghĩa đơn thuần nhất chính là khuynh hướng triết học  « Tìm Hiểu Con Người », con người « Đang Sống ». Tác phẩm của Nguyễn thị Hoàng, vô tình hay hữu ý, luôn chiếu ống kính về mình, khảo sát mình. Riêng về Vòng Tay  Học Trò, bà có phân tích một cách ngắn gọn, rõ ràng và sâu sắc như sau để giúp độc giả cảm nhận và hiểu thêm rất nhiều về tác phẩm này :

   « Tác giả chiếu ống kính vào khắp các ngõ ngách khác nhau của hiện tượng tình yêu để vẽ lại bằng một bút pháp đam mê, lôi cuốn đầy nghệ thuật. Tình yêu là nội dung sáng tác và đam mê hướng dẫn ngòi bút. Tình yêu ở đây trở thành đối tượng nghệ thuật, một bức tranh, một bài thơ, tức là tình yêu đã trở thành một vật thể. Vật thể tình yêu này được soi rọi trên mọi khía cạnh, mọi tình huống, được nhìn bằng trăm mặt khác nhau và viết nên bằng một thứ bút pháp đam mê không ngừng nghỉ như một hơi thở bất tận.

   « Vòng Tay Học Trò đã đào sâu tình yêu qua ngả Nhận Thức và Cảm Giác. Mỗi yếu tố nhỏ nhất đều có thể là động tác của tình yêu : một hơi thở, một tính cựa mình, một làn khói … Tất cả đều có chất Yêu ở trong và nhà văn đã « chắt » nó ra, và như thế, tác giả đã tìm tới tất cả những nguồn cội dẫn đến nhục cảm có thể tưởng tượng được ».

    « Thi pháp của tình yêu và đam mê đã dẫn ta tới nguồn cội của cảm giác. Giá trị của tác phẩm nằm ở chỗ đó. »

           ( Thụy Khuê, Paris, 30 tháng 10, 2018 - Nguồn thuykhue.free.fr)

  

     Ông Nguyễn Vy Khanh, một nhà phê bình văn học, cho rằng : « Vòng Tay Học Trò, tiểu thuyết chỉ gợi tò mò nơi người đọc tìm kiếm tiểu sử tác giả của nó, tiểu thuyết làm dáng hiện sinh … » (Bài viết Văn Học Miền Nam tự do 1954-1975, nguồn Học Xá  05 -2012)

   

     Nhà văn nhà báo Uyên Thao ( báo Sóng Thần của thời gian 1971 - 1975), đã có nhận định chuẩn xác từ một cái nhìn tổng thể : « Ngôn ngữ của Nguyễn thị Hoàng là ngôn ngữ chuốt lọc nhuốm đầy màu sắc của trí thức. Mỗi tác phẩm là đường hướng dẫn người đọc tới đối diện với những khúc mắc muôn thuở của con người. Người đọc bước vào đó với ý thức thắp lên một ngọn đèn, một bó đuốc của óc thông minh, một khả năng tri thức ».

  

     « Nhà văn Nguyễn Nhật Duật chỉ trích : « Ảnh hưởng rơi rớt mơ hồ của nền hiện sinh cũ, trước và sau 62 đã góp phần vào sự hình thành tác phẩm của các nhà văn nữ này … Những nội dung táo bạo không phải là tự do mà là buông thả. Kẻ nào dám sống với kinh nghiệm đời sống, họ sẽ là nhà văn. 

   

     Mai Thảo có cái nhìn bao quát hơn, thông cảm và ôn hòa hơn : « Khả năng văn chương nữ bây giờ cho phép họ đề cập đến mọi chủ đề. Có điều bất cứ cuộc giải thoát nào trước hết là giải thoát thân xác, nhất là cho đàn bà. Rồi họ sẽ đề cập đến những chủ đề khác. Nhưng bây giờ họ đang nói đến thân xác, dù không phải nói như vô luân. Thân xác là chủ đề lớn nhất hiện nay. » (Tạp chí Văn, số 206, trang 9 - Nguyễn thị Hoàng và Vấn Đề Sáng Tạo, nguồn Blog Liễu Trương, Viết và Đọc.)

  

     « Các nhà phê bình thời ấy không tiếc những lời cay nghiệt nhất cho Vòng Tay Học Trò : «  Phi luân, sự buôn lậu tư tưởng trong một con bệnh dâm thành phố … Trường hợp ngoại lệ, mất thăng bằng, bệnh hoạn. Khi nhà văn Dương Nghiễm Mậu so sánh văn chương của Nguyễn thị Hoàng với Quỳnh Dao, cây bút diễm tình nổi tiếng của Đài Loan thì nhà văn Viên Linh đã phản đối ngay : Quỳnh Dao viết về cái trong sáng, không viết về cái nhầy nhụa. »

     ( Nhà văn Hiền Trang, bài viết một 9X nghĩ gì về Vòng Tay Học Trò, nguồn Công Anh Nhân Dân online).

  

    « Trừ Nhật Tiến trong bài Sinh Hoạt Tiểu Thuyết Trong Một Năm Qua, Bách Khoa số 265 – 266, 15 tháng Giêng 1968 đã nhận định đúng giá trị văn chương của Vòng Tay Học Trò và của những tác phẩm văn học phái nữ xuất hiện trong hai năm 1966- 1967.»

      ( Thụy Khuê : Nguyễn thị Hoàng Người Yêu Muôn Thuở. Nguồn   thuykhue.free.fr, Paris, tháng 10-2018).

    

     Và thời này, gần đây nhất, ông Nguyễn văn Lục, một nhà phê bình đưa ý kiến từ phân tâm học của riêng ông : « Tôi chỉ có thể giúp bạn đọc tóm gọn vài dòng về cuốn Vòng Tay Học Trò :  Nó chỉ là một thứ Độc Thoại của Âm Hộ (Monologue Vaginal) … Cuốn sách tự nó chỉ là một cuộc tình ngang trái có gửi một thông điệp tư tưởng gì không? Tôi khẳng định là không! Nội dung là rỗng ruột. Không là không! »

( Nguồn báo mạng Đàn Chim Việt, 16-11-2021, Cuốn Vòng Tay Học Trò của Nguyễn thị Hoàng Dưới Góc Nhìn Phân Tâm Học. Tác giả Nguyễn văn Lục.)

  

     « Sau Nguyễn thị Hoàng, đến nay đã hơn nửa thế kỷ, theo chúng tôi biết, vẫn chưa có tác giả nào trở lại với vấn đề gai góc nhức nhối này ở cấp độ như Nguyễn thị Hoàng. Tuy nhiên, khoa lý luận phê bình văn học hiện đại, từ lý thuyết tiếp nhận, cho phép khảo sát sự tồn tại của tác phẩm văn học nghệ thuật từ nhiều góc nhìn khác nhau, trong các loại người đọc khác nhau, từ những thế giới quan, nhân sinh quan khác nhau. Tác phẩm văn học nghệ thuật không chỉ có độc nhất một sự cảm nhận, mà nhiều và rất nhiều. Vòng Tay Học Trò là một tác phẩm quan trọng trong văn học miền Nam Việt Nam (1954- 1975). Nó quan trọng không phải vì việc làm xôn xao dư luận, mà còn là vì giá trị đặc biệt nghệ thuật của nó … » 

     Nhà phê bình Minh Thạnh (Vấn đề tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò của Nguyễn thị Hoàng, 2010 - nguồn Wikipedia ).

   

     Ông Nguyễn Vy Khanh, một nhà nghiên cứu phê bình nhận định về toàn bộ tác phẩm của nhà văn Nguyễn thị Hoàng :

    « Tiểu thuyết của Nguyễn thị Hoàng trình bày những mẫu người và đời sống bi quan, nổi loạn không cần tương lai mục đích, sống cho đã cái bản năng và thân xác, đến bội thực. Nguyễn thị Hoàng là bà hoàng của khuynh hướng này, bắt đầu với Vòng Tay Học Trò, hiện sinh hóa tình yêu, không giới hạn, không ngưng nghỉ trong những điên loạn bản năng tình dục. » ( Bài viết Nguyễn thị Hoàng, Ý thức và Bản Năng Nữ Phận  - Văn học miền Nam 1954- 1975 ) Nguồn Văn chương Việt, ngày đăng 20.06.2021.)

      

     Nhà văn Hiền Trang : « Có lẽ 50 năm là quãng thời gian đủ dài để ta có thể nhìn lại Vòng Tay Học Trò cùng các tác phẩm khác của bà với sự khách quan và sự « lạnh » cần thiết, triệt tiêu được những đúng sai không đáng có gây ra bởi sức nóng hầm hập của những vụ ồn ào, của vòng kim cô mà cái gọi là « thuần phong mỹ tục » đội lên đầu chúng ta hay những lời phán xét được buông ra một cách  cẩu thả như trong quá khứ. » ( và cả hiện tại). (Nguồn Báo Phụ Nữ, 2021)

   

     Nhà phê bình Liễu Trương nhận định về tác phẩm Cuộc Tình Trong Ngục Thất : « Nguyễn thị Hoàng là nhà văn cũng là nhà thơ, đã từng làm thơ từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường, và đã có những tập thơ xuất bản. Đối với tác giả, sáng tác truyện đến sau sáng tác thơ, và kể chuyện với một tâm hồn thơ là điều tự nhiên. Vả chăng một ngôn ngữ giàu chất thơ thích hợp với tâm trạng của nhân vật trong truyện muốn trải lòng mình trong một độc thoại. »

   ( Bài viết Tình Yêu Thời Chiến Dưới Ngòi Bút Nguyễn thị Hoàng – blog Liêu Trương, Viết và Đọc, tháng 08-2021.)

   

     Leonardo Di Vinci (1452- 1519), nghệ sĩ thiên tài toàn năng của nước Ý, khi vẽ bức họa La Joconde, chỉ tập trung hết tâm hồn, tư tưởng và tài nghệ để diễn tả một bức tranh sơn dầu nhưng rồi sau đó, nụ cười của người phụ nữ làm mẫu tên Mona Lisa trong tranh đã gây tranh cãi cho đến hôm nay, chỉ vì không ai đồng ý với ai về ý nghĩa của nụ cười lạ lùng đầy bí ẩn  đó ( tiết lộ bí mật lịch sử về người ngoài hành tinh, nụ cười châm biếm, hạnh phúc, cười buồn, cười đau khổ, cười nhạt, nụ cười tính cách trầm cảm …)

    Sự cảm nhận (Feeling) của mỗi người chúng ta thật khác biệt khi cùng đứng trước một tác phẩm nghệ thuật ; từ trình độ tri thức, van hoá, khả năng xúc cảm, tuổi tác và cả giới tính, chưa kể đến yếu tố thời đại, xã hội, bối cảnh sống …

     Công việc phê bình văn học là một thiên chức khi người phê bình thật sự khám phá được những nét đẹp và giá trị tinh thần cũng như nghệ thuật của tác phẩm, bên cạnh đó còn có yếu tố thời gian, thời đại, xã hội … Nữ sĩ Hồ Xuân Hương sinh năm 1772  (cùng khoảng thời gian với nhạc sĩ Beethoven của Đức), cụ nữ sĩ của chúng ta năm nay cũng khoảng 250 tuổi, nhưng phải đến bây giờ, thế kỷ này, có lẽ cụ mới mãn nguyện với công việc nghiêm túc của nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy, một công trình nghiên cứu công phu thật giá trị về thơ của nữ sĩ thiên tài độc nhất vô nhị, tầm cỡ ngoại hạng quốc tế. Sự phê bình của ông về hiện tượng đặc dị này thật là hoàn chỉnh, thấu triệt, phong phú, chi tiết, và sâu sắc.

    Viết về một nhà văn luôn là một liều lĩnh vì chúng ta có thể hiểu nội dung tác phẩm, thấy được tính cách nhân vật nhưng không bao giờ nắm bắt và cảm nhận được thấu đáo tư tưởng và trạng thái tâm hồn của họ lúc sáng tác. Viết về một nhà văn như Nguyễn thị Hoàng thì gần như là một nguy hiểm. Tại sao nguy hiểm? Vì nếu có một bước đi sai lạc hay dù có là cách hiểu đúng theo ý độc giả diễn đạt, ta có thể rơi vào một cái bẫy nào đó mà một người viết tầm cỡ bà không hề cố ý giăng ra. Một nhà văn chân chính không cần đặt ra một mục đích nào khi cầm bút, không cần tỏ bày hay giảng giải để thuyết phục hoặc phân trần. Những cạm bẫy vô tình và vô tư trong sáng tạo của Nguyễn thị Hoàng chính là những cạm bẫy tư tưởng và cách xử dụng năng lực ngôn ngữ. Thông thường, người đọc không biết sẽ được dẫn dắt đi đâu, sẽ phải đối diện với những biến cố nào của tác phẩm, và con đường có vẻ mang tính bất tận. Người đọc thấy mình chìm dưới những ngồn ngộn chi tiết, lạc vào một khu rừng từ ngữ, hoang mang vì những ước chừng, loay hoay với những phỏng đoán liên tục về tư tưởng.

     

       Bà giải thích :

      « Dù cuốn truyện dày hay mỏng, điều mong muốn là vẫn diễn tả đủ và đúng phần ý tưởng chính yếu với những nhân vật mà khung cảnh là nền tảng sân khấu. Phần ý tưởng chính yếu đó là tia ánh sáng duy nhất chiếu rọi lên toàn thể phần sân khấu kia, vì tia sáng đó quá mong manh nên ít người tìm thấy. Người ta chỉ nhìn thấy ở tác phẩm của tôi phần sân khấu, gồm nhân vật và khung cảnh, và ít khi nhận ra chút  ánh sáng le lói ấy. Trong khi chính tôi, nếu không có chút ánh sáng kia le lói chiếu lên sân khấu, tôi không thể nào tạo dựng nổi toàn bộ một sân khấu tiểu thuyết. » 

   

     Và trong một buổi nói chuyện tại Đại học Văn Khoa, Sài Gòn vào năm 1971, Nguyễn thị Hoàng đã đưa ý kiến về việc phê bình văn học :

    « Một nhà phê bình có đủ kiến thức, lương tâm là điều kiện làm việc phê bình đúng mức. Nhưng loại đó không có ở xứ ta. Dù nếu có, vì lẽ này hay lẽ khác, họ không hề đặt bút phê bình một ai trên giấy. »

     Từ lập trường vững vàng, Nguyễn thị Hoàng phân loại rõ ràng về các nhà phê bình như sau :

    «  _  Nhà phê bình Già Trầu : Người mang kiến thức và thành kiến của thời đại trước, đúc lấy một khuôn mẫu duy nhất cho phê bình, nhìn bất cứ tác phẩm cũng như tác giả nào cũng dưới cặp kính cũ kỹ của mình. Những tiêu chuẩn và mục đích của bài phê bình do đó, tất nhiên theo khuôn thước của họ, của thời đại đã qua, không ăn nhập gì với những biến tính và biến thể của tâm hồn hay đời sống không luân lưu trước mặt.

    _ Nhà phê bình theo lập trường của đảng phái hay chính sách : Họ là những người đứng trong đoàn thể, công việc phê bình của họ là « đập » một ai, không phải vì cá nhân đó, mà vì cá nhân đó đứng vào thành phần của đối phương.

    _ Nhà phê bình mang tinh thần đồng đội : Họ phê phán, khen hay chê, tùy theo người đó có ở trong băng nhóm mình hay không ; nghĩa là « bốc » hay « đập » một người nào, mục đích là duy trì những cây bút trong băng nhóm mình, và tìm cách triệt hạ đối thủ, nếu cảm thấy đối thủ đó cơ bay lên, làm lu mờ tên tuổi giá trị trong băng nhóm mình.

    _ Loại cuối cùng thì không vì đảng phái, lập trường phe nhóm, tiêu chuẩn đạo đức hay nhân danh một cái gì cả, ngoài những thúc đẩy giản dị và hồn nhiên là nhu cầu một tô phở, một chút tiền để đi chơi, hút sách, hay gì gì đó ; tóm lại, ai thuê viết thì viết, đúng như ý muốn của người ra chủ đề, bốc hay đập người này người nọ, đó là anh phê bình ba phải.»

                                    ( Nguồn Blog Liễu Trương - Viết và Đọc )

     

 

 

    Nguyễn thị Hoàng đã kết luận rằng « Giữa những người viết và những người phê bình luôn là khoảng cách mênh mông, tôi không thể nào đọc và hiểu họ cũng như họ không đọc và hiểu tôi. »

     Bà ngỏ ý thêm về việc này : « Phê bình là phải hiểu, phải tương thông với nhau, không cần lý thuyết hay triết lý nào, là cảm nhận được chút gì đó, do tiếp xúc, do gần gũi, do nhìn ngắm được nhau. Gọi là quan niệm về phê bình hay cũng là mơ ước, mong muốn những đồng cảm khách quan  khi nhìn nhận đánh giá bất kỳ tác phẩm, tác giả nào, thân hay sơ, không phải tiếng nói một chiều mà đa chiều kích. Và người viết có thể vượt qua những định kiến khen chê có thể có, không chờ đợi cũng không hy vọng hay thất vọng. Viết như mình cảm nhận và mong muốn nhắn gửi với cuộc đời.

      Bởi các vị được xem là những « nhà phê bình » không nhiều lắm, có nhiều trường hợp không đọc hết, thậm chí là không hề đọc qua tác phẩm, không soi rọi, thẩm thấu về những điều mà nhà văn cưu mang trăn trở, gửi gấm qua trang viết, song họ ( nhà phê bình ) vẫn viết tràn lan theo định kiến cá nhân, thậm chí còn những áp đặt, võ đoán đầy ác ý … không nghiên cứu, không tìm hiểu, không tiếp xúc, không có gì là vô tư hay khách quan, phần nhiều là định kiến chủ quan, áp đặt ; may ra có vài ba ý kiến gọi là khen nhưng lại trượt ra ngoài tác phẩm của tôi, tôi thì không cảm nhận được gì và tác phẩm của tôi chẳng liên can gì đến những lời khen chê mà trượt ra bên ngoài tác phẩm ấy. Sau này, cũng có những người phê bình chân chính, ví dụ như học giả Nguyễn Hiến Lê, chỉ biết ông qua hoạt động tạp chí Bách Khoa, thì « phang » hay « phán » : Nguyễn thị Hoàng là một tiểu thuyết gia có tư tưởng. Có lẽ ông cũng nhận ra điều gì đó, một tia sáng le lói nào đó trong tác phẩm của tôi, nhưng chỉ thế thôi rồi tắt ngấm » 

    (Nguồn Văn Chương Việt, Hoàng Kim Oanh, tiểu luận  « Đâu Biết Đời Kia Vẫn Đợi Chờ », tháng 08-2021 ).

   

     Ngoài những yêu cầu với tính cách « tình cảm », là tất cả xuất phát từ cảm và nhận, hiểu và thấu ; phê bình văn học, công việc rất khó khăn này đòi hỏi người thực hiện phải xác định được đối tượng của mình là gì từ một tác phẩm nếu không là tính nghệ thuật, tính tư tưởng và nét đẹp của văn chương? Thêm một khó khăn nữa là tác giả, người nghệ sĩ, luôn sáng tạo nghệ thuật bởi nhiều cảm tính, trong khi người phê bình nghiêng nhiều về lý tính, lý thuyết văn học và công việc của họ còn mang tính khoa học. Nhưng công việc phê bình là thật sự cần thiết vì không có nó, sân chơi văn học sẽ buồn tẻ, thiếu sức sống và nếu làm tốt thì đây là một thiên chức trong lãnh vực này.

   

     Nếu nhà phê bình có cùng một nền tảng tri thức, cùng một căn bản văn hóa với nhà văn để có thể tìm hiểu, phê bình trong một tâm thức vô tư và công minh, không hề bị áp đặt bởi định kiến xã hội, không hề theo tôn chỉ, mục đích, không chỉ có cái nhìn chỉ từ một góc cạnh mà phải đa chiều kích, không đứng trên lập trường của chính trị, của giới tính, từ bỏ quan điểm của những thời đại cũ, không trường phái không đảng phái.

    Nhà phê bình, đương nhiên, có quyền đưa ý kiến chủ quan thỏa hiệp với tính khách quan để có thể so sánh, kiểm định những gì đúng và sai, hay và dở, không thể hiểu và xét đoán một khía cạnh bằng lý trí theo một chiều mà phải len lỏi vào nguồn mạch của một tác phẩm văn chương. Phải có cảm nhận ( Feeling ) gần như người viết.  

      Nhưng từ bao giờ một người phê bình văn học có được tư tưởng « sống lại » cảm xúc của người viết để có thể cảm nhận, xác định từng trạng thái tâm hồn của người viết? Để có thể hiểu được nguyên nhân tâm lý nào đã thúc đẩy nhà văn đến việc sáng tạo tác phẩm?  Đến bao giờ một người phê bình văn học dám mon men đặt mình vào vị trí của người viết để đương đầu với từng vấn đề mà từng nhân vật trong một tác phẩm văn chương phải đối diện? Hay ít ra, người phê bình phải soi chiếu được ánh đèn vào từng ngõ ngách tâm trí của người viết để cảm nhận tối thiểu và thấy rõ mọi yếu tố đã hình thành tư tưởng để họ sáng tác, để phơi bày một cách chân thực từng bản thể phức tạp cũng như về sự thật của tâm hồn và thân xác nhân vật, thế giới nội tâm sâu xa, phức tạp đầy bí ẩn với những thái cực hoàn toàn đối lập của nó.

   

    Vì cảm nhận (Feeling) là sự liên kết ( Association) giữa nhận thức (Cognition) và xúc cảm ( Emotion ) nên đó là điều quan trọng nhất để ta có thể hiểu được sâu sắc tác phẩm, đánh giá đúng mức tác phẩm, khám phá nhà văn và theo dõi con đường dài sáng tác của họ. Nhà phê bình (sau khi đã là độc giả thật sự tốt)  không có sự cảm nhận, thông hiểu, không cùng một cấp độ cảm xúc, mà chỉ xét đoán bằng lý trí và chủ quan, chỉ nhìn một khía cạnh của một tác phẩm, hoặc chỉ  từ một tác phẩm lấy đó làm nền cho toàn bộ sáng tạo của nhà văn thì không thể nhận được trái tim nhà văn trao tặng. Những cách phê bình này sẽ nhận chịu sự đào thải của thời gian là thước đo giá trị của sáng tạo nghệ thuật.

   

    « Một độc giả thật sự tốt » là một người nhạy cảm ( Sensitive), bằng khả năng thông minh của cảm xúc ( Emotional  Intelligence ) bắt được ngay những tín hiệu nhắn gửi từ tác giả qua cách diễn đạt bởi ngôn ngữ văn chương, dù hiện thực hay trừu tượng, chứa đựng những bí ẩn trong sâu thẳm tâm hồn tác giả, « thấy được ánh sáng le lói là phần ý tưởng chính yếu », theo Nguyễn thị Hoàng. Do đó, một nhà văn luôn có một số độc giả của riêng họ, những độc giả này cảm và nhận, như một phần nào con người và tâm tư của họ đã có sự đồng cảm của nhà văn diễn tả giùm họ bằng sáng tạo.

   

     Một nhà phê bình thật sự giỏi và có lương tâm là người có cái nhìn trung thực, sắc bén, tinh tế, biết cách soi rọi, bươi đào bới móc được thêm phần ẩn núp trong sâu xa của tác phẩm, trình bày cho bằng được những bí ẩn, giải mã được ngay cả cách diễn tả những nghịch lý của hiện thể vô thường, mà từ tiềm thức tác giả có thể cũng không nhận biết trong lúc sáng tạo, thấy rõ được chất thi ca trong những hình ảnh có tính phi lý cực độ, tính hiện thực huyền ảo và hiện thực hiện sinh hiểu đúng nghĩa trong sáng tạo nghệ thuật.

   

    Lúc thiên chức của người phê bình được nhìn nhận là lúc tác giả cảm thấy có được một cuộc « đối thoại ngầm », tương đắc với anh ta, và đã dẫn dắt, phân tích, tạo được sự thông hiểu cho những độc giả khác về nội dung tác phẩm để sự thưởng ngoạn được sâu rộng và thú vị hơn, làm sống được một cách hài mãn những « complicités spirituelles » ( tính đồng lõa, thỏa hiệp, thích hợp của  tâm linh ) của cả ba phía thì đó chính là sự hậu đãi của nghệ thuật văn chương trong toàn bộ giá trị tinh thần của nó cũng như ý nghĩa đích thực của sáng tạo nghệ thuật trong đời sống được biểu hiện như ánh sáng. Vì nghệ thuật ý thức chính là đời sống trước mặt, trong tay và văn chương là tiêu biểu của nghệ thuật tối thượng và là tài sản tinh thần (biens spirituels) của dân tộc.

   

     Người phê bình, ngoài một trình độ tri thức sâu sắc, bài bản, thiết yếu, đương đại, ít nhất là ngang tầm với người viết ; và ngoài một nền tảng lý luận vững chắc, còn phải trang bị cho mình một kiến thức sâu rộng từ nguồn văn học thế giới cũng như phân tâm học và lịch sử, triết học, thần học để có tầm nhìn rộng tối đa, từ đó mới có thể so sánh, đào sâu, nới rộng, nâng cao tính tư tưởng và nghệ thuật từ tác phẩm mà họ phê bình và giúp thêm cho độc giả thấu hiểu mọi chiều kích sâu rộng của sự sáng tạo, bởi vì phía sau một tác phẩm luôn tiềm ẩn chất chứa bao điều còn để khám phá mà có khi với thời gian và những biến động của cuộc sống, qua vài thời đại, chúng ta mới thấy thêm được chiều sâu tâm hồn của tác phẩm từ tính tư tưởng, những ý thức về giá trị nhân bản từ cuộc sống cho đến văn hoá, lịch sử và có thể mang cả tính Prophecy ( dự cảm về tương lai từ những cảm nhận của thực tại ) cũng như có ảnh hưởng sáng tạo cho những thế hệ sau. Thi sĩ Arthur Rimbaud (1854- 1891) của Pháp là một trường hợp huyền thoại như thế. Người ta có thể đọc nhiều lần thi ca của ông, và mỗi lần đều có cảm giác như đọc lần đầu tiên với những khám phá mới về ý tưởng cũng như tính nhục cảm ẩn trong phương ngữ lạ lùng.

   Hãy thử tìm hiểu về văn chương của Nguyễn thị Hoàng để thấy những chất lượng này trong sáng tạo của bà.  

         

        Riêng về tác phẩm  Tan Theo Sương Mù  của Nguyễn thị Hoàng.    

    

      Sau này, vào năm 2018, khi phân tích tác phẩm Tan Theo Sương Mù, một truyện ngắn được viết theo khuynh hướng Hiện Thực Huyền Ảo (Réalisme Fantastique ) mà nhà phê bình Thụy Khuê nhìn nhận là một tuyệt tác (sáng tác vào năm 1970) theo bà thì đó là tác phẩm « đạt đỉnh cao của tế nhị và hư ảo » : « Tình Yêu được đặt trong một không gian mới lạ, diệu kỳ. Không hiểu tại sao chỉ một chuyến qua Kyoto mà tác giả có thể nhập vào nhiều thứ đến thế : không khí mê hoặc của những gia trang huyền bí Nhật Bản, của vườn cảnh, của những bình phong, của những bông hoa lạ, của hương thơm, của ảo giác, của bức tranh bí mật dị kỳ và nhất là tâm hồn Nhật Bản. Bút pháp trong Tan Theo Sương Mù không thua bất cứ loại bút pháp nào trong tác phẩm của Kawabata* Tình yêu ở đây là sự sống chung giữa mộng và thực, giữa trần gian và âm cảnh của người đàn ông và người vợ đã chết, ẩn thêm bóng dáng của « người lạ » trong Ngày Qua Bóng Tối nhưng Nhật Bản hơn, thanh khiết và cao đạo hơn. » (Bài viết Nguyễn thị Hoàng, Người Yêu Muôn Thuở)

   

     Về truyện ngắn đặc sắc này của Nguyễn thị Hoàng, nhà văn Hồ Trường An cũng đánh giá rất cao nội dung cũng như văn phong và ý tưởng của truyện. Ông phân tích chiều sâu của tác phẩm có tính tư tưởng ẩn dụ này đã phải chịu « số phậm hẩm hiu thiệt thòi » chỉ vì các nhà phê bình văn học của ta « có cái nhìn mắc cạn ở mặt chữ, không thể xuyên qua mặt chữ nên họ không tìm được tư tưởng ẩn dụ trong văn chương cho nên Tan Theo Sương Mù từ bấy lâu nay như « kẻ mặc áo gấm lộng lẫy đi đêm ».

    Nói rộng hơn, các nhà phê bình Việt Nam vốn chưa quen tìm ẩn dụ trong nhiều tác phẩm của văn chương quốc tế để hướng dẫn người đọc … Nếu gặp một quyển truyện dịch nào có tư tưởng triết học hay tâm linh thì bèn lờ đi ( Dostoïvsky, Hermann Hess …) vì  họ « không có kinh nghiệm về việc đọc lối văn thoát khỏi cái vòng cương tỏa của hiện thực và tân hiện thực » nên không nắm bắt được then chốt tâm linh để phân tích chiều sâu của tác phẩm, hoặc có lẽ « họ bị thành kiến ác nghiệt ám ảnh họ, rằng Nguyễn thị Hoàng chỉ biết làm dáng trong văn chương », cho dù tác giả có giải thích về cái ẩn dụ đó ghi trong phần tiểu sử của bà, đó là lý do tại sao bà chọn truyện ngắn này cho tuyển tập Những Truyện Ngắn Hay Nhất Trên Quê Hương Chúng Ta ( của Sóng xuất bản) »  (Nguồn Blog Học Xá).

  

     Hồ Trường An bồi thêm : « Còn tệ hơn nữa, những nhà biên khảo, những nhà phê bình chỉ quen quan sát và nhận định văn chương tâm lý ái tình, văn chương phong tục, văn chương hiện thực và văn chương tân hiện thực mà không ngó ngàng gì tới văn chương sâu rộng hơn, nghiêng về ẩn dụ, tư tưởng triết học, tâm linh … Họ chỉ đi theo lối phê bình thuở tiền chiến mà thời tiền chiến không có những tác giả kiêm tư tưởng gia như Vũ Khắc Khoan, Thanh Tâm Tuyền, Võ Phiến … hoặc họ lần mò theo dấu vết của Cao Huy Khanh miền Nam trước 1975. »

 

*Kawabata :  Yasunari Kawabata  (1899 – 1972) , văn hào Nhật, một trong những nhà văn quan trọng của thế kỷ 20, với đỉnh cao Mỹ Học của ông, giải Nobel văn chương 1968, mà chúng ta đã được biết ít nhất qua tuyệt phẩm Xứ Tuyết (dịch giả Chu Việt, năm 1969) được đánh giá là quốc bảo của nền văn học Nhật Bản.

Phần 6.   Nguyễn thị Hoàng và độc giả.

Nhà văn Nguyễn thị Hoàng có nhận định rằng chính độc giả đã định giá một cách chuẩn  xác văn chương của bà : « Có lẽ nó thắm thiết,  nồng nàn và chuẩn xác hơn là qua những nhà phê bình, hay sự nhìn ngắm của báo chí, dư luận. »

    ( Tiểu luận  Đâu Biết Đời Kia Vẫn Đợi Chờ của Hoàng Kim Oanh - Diễn Đàn Thế Kỷ, tháng 01/2021).

    « Vì quen sống rất yên và rất riêng trong góc đời mình, tôi xa lạ và ái ngại với sự biểu lộ ân cần của những độc giả. Dù vô cùng cảm kích những người yêu mến nồng hậu ấy, tôi băn khoăn không biết đền đáp lại cách nào đúng đủ ... Điều duy nhất có thể đền đáp lại những ân tình như gió mây từ bốn phương trời ấy là tôi phải viết nhanh viết nhiều với phần thời gian sẽ còn quá ít từ đây. »

       (Phỏng vấn của Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, tháng 04/ 2021 nguồn Tuổi Trẻ online)

     Qua từng thế hệ, chúng tôi, những độc giả của nhà văn Nguyễn thị Hoàng, vẫn yêu thích và theo dõi, mang ơn bà rất nhiều đã viết và cho thưởng ngoạn nét đẹp của văn chương, là tài sản tinh thần vì từ văn chương của bà, người đọc có thể khám phá, tìm thấy bản thể và hiểu thêm về chiều sâu tâm hồn mình và học hỏi rất nhiều, biết rõ thêm về cuộc sống cũng như về con người của xã hội và thời đại đó, nhất là mọi trạng thái của con người trẻ trong cuộc chiến. Dù với khuynh hướng tự truyện, bà từng khẳng định không viết từ những ẩn tình riêng tư hay để giải toả mà bà cần viết như thúc đẩy của tinh thần sáng tạo. Nhà văn viết và độc giả cảm nhận. Điều thành công nhất là bà luôn để mặc cho độc giả loay loay vướng mắc trong tác phẩm với những cảm nhận và suy tưởng về mọi chiều kích, tìm bắt được những tín hiệu qua ngôn ngữ và ý tưởng theo cách diễn đạt từ thế giới tưởng tượng của tác giả.

    Ý nghĩ của bà về độc giả mới đây, sau khi đồng ý với nhà xuất bản Nhã Nam cho in lại năm quyển tiểu thuyết :

    « Biết đâu, đọc lại những hàng chữ xưa, ai đó sẽ bâng khuâng hoài cảm với thoáng hiện về của bóng thời gian đã khuất.» 

              

                 Trước 1975, độc giả của Nguyễn thị Hoàng là ai?

    Thành phần trí thức đương đại. Giới trẻ cấp tiến. Họ là những giảng viên đại học, thầy cô giáo, quân nhân, sinh viên và các văn nghệ sĩ. Trong mọi thời đại, đội ngũ này là nền tảng của tiến bộ xã hội, là nòng cốt của sáng tạo nghệ thuật, vai trò của họ là truyền đạt tri thức, hiện đại hóa một đất nước.

    Theo nhà phê bình Thụy Khuê thì « Những độc giả thầm lặng mới là đối tượng của văn chương ».

    Một cách khác, những độc giả có tâm thức kết nối với tâm thức của tác giả, cảm và nhận được giá trị văn chương mà tác giả viết về thời cuộc và phận người, trong thời điểm văn học Việt Nam được xây dựng từ sáng tạo cách tân với khuynh hướng Siêu Thực và Hiện Sinh hiểu đúng nghĩa, trong nghệ thuật văn chương, thêm vào đó là khuynh hướng Hiện Thực Huyền Ảo xuất hiện ở Pháp các nước Tây phương từ 1961.

    Nguyễn thị  Hoàng và sáng tạo văn chương theo dòng chuyển động văn học nghệ thuật của thế kỷ của bà để lại một giá trị nghệ thuật đặc biệt và dấu ấn thời đại cho đời sống tinh thần của độc giả.

    Những biến động của đất nước và thời chiến là nguyên nhân chính khiến đời sống nội tâm của con người đổi khác trong những xung đột một cách trầm trọng và sâu sắc và đó cũng chính là nền tảng cho sự cách tân một nền văn học phong phú năng động, trẻ trung. Dù còn mang ảnh hưởng của văn học Pháp, các nhà văn miền Nam trăn trở nhiều trong khuynh hướng sáng tạo mới lạ với những chất liệu sáng tạo hoàn toàn khác, mỗi nhà văn có cảm nhận và quan điểm của họ từ thực tại cuộc đời. Ở thời ấy, những độc giả chờ đợi từ những nhà văn sự truyền tải tư tưởng hơn là cốt truyện, kết cuộc như thế nào … Tính tự truyện là cách viết được độc giả hưởng ứng rất nhiều vì họ tìm thấy, khám phá thêm ít nhiều tâm tư và ý thức của mình qua suy tưởng của tác giả.

         Có thể chia làm hai loại độc giả :

    Loại thứ nhất : Là những độc giả trí thức và có trình độ văn hoá, nam lẫn nữ với một sự trưởng thành đúng đắn về ý thức và phát triển tâm sinh lý cũng như xã hội. Họ là những người muốn biết rõ về sự hiện hữu của chính mình, quan trọng cách trau dồi tâm thức và có cái gu thưởng thức nên rất chọn lọc (sélectif ) thể loại văn chương, cũng có khuynh hướng về giòng văn học dịch thuật do nhu cầu muốn tìm hiểu, có tầm nhìn ra thế giới, muốn khảo sát thêm về con người và cuộc đời qua các nhà văn ngoại quốc. Họ thường nhìn nhận mình là  « độc giả khó tính » và đó cũng là những « độc giả thầm lặng ».

     Và sau năm 1975 ?

     Loại độc giả thầm lặng này trở thành « độc giả thầm lặng trong bóng tối », nhất là ở Đà Lạt, một môi trường sống rất kín đáo, trong các trường đại học và một số người trí thức « bất đắc chí » tiếp tục đọc và chuyền tay nhau những tác phẩm của Nguyễn thị Hoàng cùng nhiều tác giả khác cũng như sách truyện dịch thuật bị ngăn cấm đã được gìn giữ cất giấu được một cách kỹ lưỡng và một số sách cũng được âm thầm chuyển ra miền Bắc. Người dân vẫn mua bán một cách « bất hợp pháp » nguồn văn học quý báu này. Như trong thời chiến tranh lạnh, có những sáng tạo nghệ thuật luôn được bí mật chuyển đi từ những nơi không có tự do tư tưởng như trường hợp của tác phẩm Bác sĩ Jivago của Boris Pasternak (1890-1960).

    Loại thứ hai : Những người đặc biệt có máu « ghiền » văn chương và có óc tò mò lạ thường, ham đọc hơn ham sống, hoặc với họ, đọc đồng nghĩa với thở. Và họ đọc tất cả mọi thể loại, mọi tác giả các thời đại, lúc nào cũng kè kè bên mình một quyển sách, vui thích khi nói đến văn chương, luôn muốn phân tích các nhân vật và tình huống một tác phẩm nào đó, muốn mở rộng kiến thức về nghệ thuật này. Đó là những người có khuynh hướng viết văn hoặc đã (hay sẽ) là nhà văn, chuyên viên nghiên cứu phê bình văn học. Nếu không sáng tạo, có người trở thành bị « tẩu hỏa nhập ma ».

    Quan điểm của nhà văn Nguyễn thị Hoàng về việc đọc : « Văn hoá đọc sách và tiểu thuyết là một trong những yếu tố tinh thần, còn có thể giải tỏa những căng thẳng của thần kinh, chống đỡ những áp lực bức bách mệt mỏi ngoài đời, người đọc tìm lại những xúc động hồn nhiên từ tự tính chôn vùi hay quên lãng. Từ đó cảm sống trọn vẹn hơn với tổng hợp ngoại giới nội tâm, thăng hoa giá trị sống nơi con người trong bất cứ tình thế biến động nào từ xã hội. Nếu còn tìm thấy trong tác phẩm những ý nghĩa ẩn dụ, những ký hiệu bí mật diễn tả qua ngôn từ đối thoại … người đọc có thể giải mã những băn khoăn tâm lý, khám phá những cung cách đối đãi, những phản ứng tinh tế trong tương giao, vốn là những nguyên tắc tinh thần thời nào cũng còn tác dụng và hiệu lực đẹp. ».

    Miền Nam Việt Nam, trước 1975, dù trong bối cảnh chiến tranh, văn chương báo chí được phát triển muôn màu ngàn vẻ, cực kỳ phong phú với nhiều tác giả và cách viết đa dạng phục vụ lực lượng độc giả hùng hậu trong không khí sôi động, có nhu cầu rất lớn ; trình độ tri thức, tuổi tác, tầng lớp nào cũng có thể tìm cho họ những sách báo thích hợp. Người ta không ngạc nhiên khi thấy các em nhỏ hay tuổi vừa lớn say mê đọc và sáng tác, giới phụ nữ có những sách báo và tiết mục riêng, giới quân nhân có tác giả và tác phẩm, những người tài xế taxi hay các bác xích lô thường đọc văn chương bình dân. Họ có thể mua hoặc trao đổi với nhau hay mượn sách rất dễ dàng.

    Người Việt đặc biệt yêu thích âm nhạc cũng như thơ văn và mỗi thể loại âm nhạc, văn chương đáp ứng yêu cầu của một thể loại độc giả, từ bình dân đến cao cấp. Những nhà văn miền Nam thời kỳ này (1954- 1975) đã khoác lên một sắc thái mới lạ và sinh động cho văn chương trong những sáng tạo tự do của họ. Điểm ghi nhận khác là giòng văn học ngoại quốc đã có một chỗ đứng quan trọng với vô số sách truyện được dịch do sự tiếp cận của ta với tiếng Anh, tiếng Pháp, với trình độ ngoại ngữ cũng như tiếng Việt rất giỏi và đáng tin cậy của các dịch giả đã chú ý đặc biệt đến chất lượng của văn học các nước khác. Trình độ hiểu biết của độc giả được nâng cao dần nhờ văn học nước nhà từ nền tảng văn hoá Hán Việt, Pháp và Việt, tư tưởng con người được phát triển và trưởng thành theo đà văn minh thế giới.

    Nước Pháp, một tổ quốc của văn chương, cái nôi của sự chuyển động tất cả các chủ nghĩa văn học nghệ thuật cho ảnh hưởng toàn cầu, từ thế kỷ thứ 16, đã không có được sức đọc cũng như không khí văn chương hào hứng như miền Nam Việt Nam trước 1975.

    Đọc Nguyễn thị Hoàng, nếu chỉ muốn biết nội dung tác phẩm, cốt truyện và nhân vật, bối cảnh … thì đã bỏ qua phần quan trọng là tính tư tưởng mà những người thật sự yêu văn chương, tìm được nơi trú ẩn trong đó, có khuynh hướng sống nội tâm, thích tìm hiểu ý nghĩa của tình yêu, phận người và cuộc đời trong toàn bộ suy tưởng một cách thâm trầm sâu sắc và tìm thấy trong văn chương của bà những bí ẩn chôn giấu ở trong tận cùng và độc giả vừa khám phá, thấy được những gì có trong thẳm sâu con người mình mà nhà văn đã diễn tả hộ.

     Những độc giả trẻ hôm nay nhận định thế nào về văn chương của Nguyễn thị Hoàng?

     Bà là một hiện tượng, một cây bút đương đại của thời thế chiến tranh, đã làm được một dời chuyển đích thực của văn chương ngày đó, một cánh cửa mở rộng trong một xã hội khép kín bởi những bức tường luân lý đạo đức mà trong đó quan điểm của con người xã hội còn nặng nề định kiến … Cho đến nay, sau nhiều biến động, sau chuỗi thời gian dài, người trẻ Việt Nam được tiếp cận với văn chương đương đại một cách khác, rộng rãi hơn, phong phú hơn về số lượng, nhưng chất lượng của văn học mọi quốc gia trên thế giới đều xuống cấp thảm hại. Người ta đã từng nói đến cái chết của nghệ thuật và sự biến dạng của thể loại văn chương ở thời đại này.

     Nguyễn thị Hoàng nói về người trẻ hôm nay : « thông thái rất nhiều vấn đề cũng nhờ vào công nghệ thông tin và một phần từ sinh hoạt xã hội. Nhưng những hiểu biết đó chỉ thuộc vào phần ngoại thân của con người và cuộc sống. Thế giới nội tâm, tâm hồn, cảm tính tâm lý, bao nhiêu khúc chiết phức tạp của thế giới bên trong con người và nơi đời thì tuổi trẻ không hề biết đến … »

      Theo bà, nếu đọc sách và tiểu thuyết « người trẻ dần khám phá nhờ soi bóng được bản thân mình, và thế giới con người bên trong lẫn những vấn đề phức tạp lẫn bi hoan của cõi đời, để thấy trước biết trước, nhận ra được cái giá trị sống đích thực không chỉ là cân đo phần trị giá như thời nay ». 

     ( Phỏng vấn của Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, nguồn Tạp chí Da Màu, tháng 02/ 2021).

     Riêng về tác phẩm Vòng Tay Học Trò, có những độc giả trẻ, họ ra đời sau tác phẩm khoảng 30 năm. Hôm nay, cảm quan tiếp nhận của độc giả cho thấy được rõ về cuộc hành trình của tác phẩm qua sự gặp gỡ giữa nguồn tư tưởng và xúc cảm, tất cả đã được bắt đầu từ sự mẫn tiệp của dự cảm mà nhà văn đã sống và đã viết.

     Với cái nhìn tổng thể khá trung thực và chính xác nhưng vì không phải là người làm công việc phê bình văn học, họ không mổ xẻ đào sâu hơn mọi khía cạnh ngoài việc có ý kiến khá chung chung nhưng rất đáng ghi nhận cách tư duy của người trẻ của xã hội hôm nay hoàn toàn khác với thời đại của tác phẩm lúc ra đời, khi mọi chủ đề về tình yêu đã được khai thác.

    Vậy một tiểu thuyết như Vòng Tay Học Trò liệu có mang phẩm chất vượt thời đại để trở thành một tác phẩm kinh điển?

    Nhận định của Hiền Trang, một nhà văn trẻ ở Hà Nội : « So với những dâm thư khác thì khó có thể hiểu tại sao Vòng Tay Học Trò lại bị xem là một văn hoá phẩm nguy hiểm và đồi bại? Nội dung tác phẩm không nói đến tình dục … Khi tôi tìm đến Vòng Tay Học Trò, tôi hoàn toàn không phải muốn biết về một lịch sử nào mà tôi muốn thưởng thức nó theo đúng nghĩa thưởng thức một cuốn truyện. Tôi đọc theo cách đọc một khát vọng kể chuyện, như nhìn một cây lớn lên, rất tự nhiên. Tôi thưởng thức toàn bộ ngôn từ, vần điệu của nó một cách rất văn chương. Như thế thôi. Tôi đọc và tìm được sự đồng cảm với chính mình thay vì cố gắng giải nghĩa nó hay gán ghép cho nó một ý nghĩa nào khác, hay cố tìm kiếm những thông điệp lớn lao hơn. Tôi đọc nó như một người bạn của mình. Tôi tìm thấy trong đấy những điều trùng hợp với cuộc sống của tôi. »

    Đã có những nhận định cẩu thả và nông cạn đến tắc trách, phi lý, vô lương tâm từ cách cố ý cho đến ngờ vực, ngộ nhận, lầm lạc, ngược đãi … từ cái nhìn thiển cận đầy định kiến về một sáng tạo nghệ thuật của một nghệ sĩ là phụ nữ mà từ đó, người ta có thể còn thấy được bao vẻ đẹp và ý nghĩa của văn chương ngoài việc người ta chỉ hiểu rằng đó là một chuyện tình để nhắm vào việc khai thác một vài khía cạnh. Và có lần bà đã khẳng định : « Khi viết, không phải là viết cái gì đã sống, mà trên khung cảnh, sự kiện, nhân vật của khoảnh khắc thoáng qua trong vai « cô giáo » ấy, tăng giảm biến đổi để đúng vóc dáng một câu chuyện. Đã không tính đến chuyện viết tiểu thuyết hay hình thành một tác phẩm có dụng ý, mục đích nào mà chỉ góp nhặt lại những mảnh vụn của một khúc đời đã vỡ. » 

                       (Phỏng vấn của Mai Ninh, Hợp Lưu, năm 2003).

     Hiền Trang cho rằng : « Ở mặt nào đó cuốn Vòng Tay Học Trò đã lỗi thời … chỉ được tìm lại như được tìm lại một đứt gãy lãng quên trong lịch sử văn chương hiện đại hay như tìm lại một toàn cảnh văn chương đầy đủ hơn về văn học nước nhà ». 

     Điều này không sai nhưng thời đại làm ra nhà văn hay nhà văn làm ra thời đại? Nhà văn lớn sống thời đại lớn, trong môi trường sống đầy biến động lịch sử.

     Nhà văn Nguyễn thị Hoàng :

    « Tuy nhiên, một dòng văn học đích thực sẽ không bao giờ chìu theo tâm thức của quần chúng mỗi thời. Và mỗi tác phẩm sẽ tự định vị để vùi lấp tồn tại trên dòng chảy biến cố lẫn thời gian. Tác phẩm không đi tìm người đọc. Mà người đọc đi tìm tác phẩm. Khi đôi bên tìm thấy nhau, một hấp lực tương tác xảy ra. Hiệu ứng là xúc động tâm hồn hoặc cao hơn, là tâm linh, sẽ đánh thức căn tính nguồn cội của mỗi con người. Một tác phẩm văn học nghệ thuật đích thực có thể khơi gợi tiềm năng suy tư và sáng tạo, nuôi dưỡng phẩm tính của tâm hồn, bảo toàn sự sống chan hòa của tinh thần tình cảm. Cuộc hòa hợp nội tâm và ngoại giới hình thành một phẩm chất và nhân cách người trọn vẹn. »

    Những nhà văn sống và viết cách đây hơn nửa thế kỷ trong bối cảnh đất nước chiến tranh, ngày hôm nay, tác phẩm của họ được in lại để phổ biến nhưng vẫn trong một số điều kiện giới hạn, không thể có thế mạnh của thời đại công nghệ trong những xã hội cơ giới, vào thời đại mà tiểu thuyết chỉ còn là công cụ để phục vụ một cách đại chúng, để người viết khẳng định sự thành công trong xã hội. Đương nhiên, dòng thiểu thuyết với khuynh hướng thời thượng có một giá trị nào đó và có độc giả riêng.

     Ở Nhật, nhà văn nữ Ayako Miura (1922-1999), sống qua thời điểm lịch sử bi thảm của đất nước, thế chiến thứ hai, sau tác phẩm lớn Hyõten (Băng Điểm, bản dịch Liêu Quốc Nhĩ) và kho tiểu thuyết đồ sộ giá trị của bà, giờ đây cũng được xem như « lỗi thời », so với phong cách viết « mới » của các nhà văn hiện giờ, được tung hô vạn tuế, được ngưỡng mộ, một cách nào đó làm nhạt mờ giá trị những tác giả một thời xưa cũ.

    Biên tập viên Nguyễn Hoàng Diệu Thủy có sự mẫn cảm trong cái nhìn chủ quan lẫn khách quan : « Đã tình cờ ngã vào một thoáng Vòng Tay học Trò  trong ngỡ ngàng rung động … Nguyễn thị Hoàng đã khai thác chuyện tình yêu ở nhiều góc độ đa dạng mà thường là những mối tình lỡ làng, khác biệt và thách thức các ranh giới. Thứ cấm kỵ bao giờ cũng hấp dẫn. Ở đó các nhân vật bộc lộ mọi trạng thái yêu, niềm đam mê, sự giằng xé, nỗi ngất ngây, khát vọng vẻ đẹp tuyệt bích  … và những người trẻ tìm thấy mình trong đó … Chúng ta luôn tìm hiểu quá khứ để cắt nghĩa cho hiện tại. »

    Thưởng ngoạn văn chương của Nguyễn thị Hoàng là điều không dễ dàng vì văn chương của bà đòi hỏi một trình độ kiến thức cao và chiều sâu tâm hồn để có thể thẩm thấu. Cảm nhận được cũng như đánh giá đúng văn chương của Nguyễn thị Hoàng là quá trình từ khởi điểm của sự đọc nghiền ngẫm, với tất cả đam mê, cho tới lúc thấy mình đến gần, dần phá được bức tường ngăn cách giữa tác giả và độc giả, cho đến lúc thấy bóng mình thấp thoáng trước vùng tâm thức rồi xâm nhập được vào đó, vào vùng tâm thức là vũ trụ của một tác giả đã biết nâng cao tầm cảm thụ nghệ thuật, làm thăng hoa tư tưởng và ý thức cũng như mang lại sự trầm lắng vào tiềm thức những nét đẹp của nghệ thuật văn chương. Bà nói :

   « Viết không phải là một sự nghiệp ở trường hợp tôi mà là một ước nguyện, một hành trình tâm tưởng không thể hiện, vì thế chẳng biết đến bao giờ thành tựu. Mấy mươi năm nếu viết là sự nghiệp, tôi đã đeo đuổi đến cùng những cơ hội, những thành tựu thường tình, với chút tên tuổi phù du, để đạt tới một mục đích hay một vị trí nhỏ nhoi nào đó trên văn đàn. Ngược lại, tôi đứng mãi hay đi hoài cũng một mình bên lề đời, không phe nhóm, không hội hè, không lễ lạc, không kết giao …

    Con đường đôi khi chỉ bắt đầu ở đoạn cuối. Nhưng sau khoảng vắng mấy mươi năm, tôi vẫn là người đi qua và bây giờ đang đi, chút tên tuổi chẳng qua là mảnh vé đi vào cõi tạm. Đời hiện tại cũng như đời sau trước, chỉ là những cây số trên đại lộ kiếp … »

     ( Phỏng vấn của Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, nguồn Tuổi Trẻ online).

    Với nhà văn Nguyễn thị Hoàng, cuộc hành trình trên con đường văn học nghệ thuật ý thức mà hướng đi của nó là từ sự khởi động phản ứng quyết liệt của con người đòi hỏi quyền sống và chủ động đời sống qua nghệ thuật văn chương và từ nghệ thuật văn chương, nhà văn có thái độ phản tỉnh với ý thức đối kháng mà hình thái xây dựng đích thực là tự giải phóng tư tưởng và đời sống con người..   

    « Nhưng sau cuộc trải qua, người viết không còn thản nhiên yên vui trong cuộc đoàn viên với người đọc. Cần ý thức và trách nhiệm đối với văn hoá nói chung và văn học nói riêng, hiện tại và mai sau những thời kỳ phát triển và toàn vẹn. »

    « Biết đâu, những giọt chữ rơi rớt từ quá khứ sẽ là những giọt nước lung linh tín hiệu của một cơn mưa muộn cho êm dịu lại mùa màng tâm hồn cho bao nhiêu năm rồi hạn hán hanh hao. »

      ( Bài phỏng vấn của Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, nguồn Tạp chí Da Màu, tháng 02/2021).

     Sự sáng tạo trong ngôn ngữ độc lập của bà đã làm nên tính cách văn chương đặc sắc,  khẳng định sự hiện hữu của nghệ thuật văn chương trong mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Thời gian và sự trung thực trong lòng độc giả cũng như sự trưởng thành của ý thức xác định được giá trị văn chương và vinh danh tài năng cũng như sự làm việc của bà đã cống hiến cho nền văn học Việt Nam vẻ đẹp phong phú của niềm đam mê tiếng Việt.

Chân thành cảm tạ các nhà văn, các nhà phê bình và các nguồn sách báo đã cung cấp tài liệu  để Đỗ Nguyễn thực hiện được tiểu luận này.

23/3/2022

Đỗ Nguyễn

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nhạc Pháp trong hồn người Việt

Nhạc Pháp trong hồn người Việt Âm nhạc của nước Pháp là một nghệ thuật đa dạng không ngừng phát triển với thể nhạc nguyên sơ được hình thành...