Du ký qua đèo Ngang
Nếu có ai đó bảo điểm
danh top 10 con đèo đẹp nhất Việt Nam, tôi dám chắc phải có tên của Đèo Ngang
trong danh sách đó. Và trong top 10 ấy, nếu bảo đèo nào nổi tiếng nhất tôi cũng
dám chắc: Đèo Ngang. Tôi dám chắc vậy! Ai đó không tin thì cứ thử khảo sát xem
tên đèo nào ở đất nước này được lưu truyền sử sách và được nhiều người biết đến
nhất từ xưa đến nay (chắc chắn sẽ là đèo Ngang). Vậy thì cái gì làm nên sự nổi
tiếng kỳ diệu đó: độ cao, chiều dài hay sự hiểm trở nào chăng? Có lẽ, tất cả những
thứ đó không phải. Tôi nghĩ chính cảnh đẹp thơ mộng và những yếu tố địa lý - lịch
sử đắc hiểm đã làm nên sự nổi tiếng của con đèo chạy dọc nhưng cứ gọi là ngang
(ý thơ của Phạm Tiến Duật).
1. Con đèo trữ tình thơ mộng. Phải
nói, dải đất hình chữ S thân yêu này có rất nhiều đèo, trong đó có nhiều con
đèo được truyền tụng về độ cao, chiều dài, cảnh đẹp và cùng cả sự nguy hiểm nữa,
ví như đèo Mã Pì Lèng ở Hà Giang (cao khoảng 1200m, dài khoảng 20 km), đèo Ô
Qui Hồ nối Lao Cai với Lai Châu (cao khoảng 2000m, dài khoảng 50 km), đèo Khau
Phạ ở Yên Bái (cao khoảng 1500 m, dài khoảng 30 km), đèo Pha Đin nối Sơn La với
Lai Châu (cao khoảng 1650 m, dài khoảng 32 km), đèo Hải Vân nối Thừa Thiên Huế
với Đà Nẵng (cao khoảng 500 m, dài khoảng 20 Km, đèo Ngoạn Mục nối Ninh Thuận với
Lâm Đồng (cao ngót 1000 m, dài 20 km), đèo Hòn Giao nối Khánh Hòa với Lâm Đồng
(cao khoảng 1700 m, dài 33 km) ... Nếu tính về độ cao, chiều dài hay sự hiểm trở,
gian nguy thì đèo Ngang không thể so sánh. Đèo Ngang chỉ cao trên 250 m và dài
chỉ hơn 6 km. Nhưng so với tất cả những con đèo trên, đèo Ngang nổi tiếng về sự
thơ mộng, trữ tình và vị thế đắc hiểm trong chiều dài lịch sử.
Đèo Ngang nằm trên con đường
thiên lý Bắc - Nam, ở phần đầu của khúc ruột miền Trung, chính cái nơi hẹp nhất,
chỗ non xanh xích lại bên biển biếc. Nguyên bản, đèo nằm trên một dãy núi tách
khỏi dải Trường Sơn hùng vĩ đâm thẳng ra biển, theo chiều từ Tây xuống Đông,
nhìn tựa như mũi kiếm. Núi ấy cao trên 1000m. Từ xưa, để đi được từ bên này
sang bên kia núi người ta đã phải tạo thành ba con đường đèo, trong đó đường
đèo Ngang là chính (hai đèo khác, một gọi là đèo Nhỏ và một gọi là đèo Mũi
Dao). Đường đèo Ngang uốn lượn từ sườn đồi này vắt nối sang sườn đồi khác như một
dải lụa mà điểm bắt đầu từ bên mạn Bắc là chân núi Kỳ Nam (thuộc huyện Kỳ Anh tỉnh
Hà Tĩnh) và điểm kết thúc thuộc chân núi Quảng Đông (thuộc huyện Quảng Trạch tỉnh
Quảng Bình) bên phía mạn Nam. Theo hành trình vượt đèo ấy người đi hẳn là sẽ
mãn nhãn bởi được chiêm ngưỡng một bức tranh thiên nhiên với đầy đủ mây trời
non nước hiện lên rất đỗi hữu tình. Thong thả trên đèo bên rừng thông vi vu gió
lộng, tản bộ trên con đường mòn rợp bóng cây xanh trên đỉnh đèo Ngang, ta sẽ được
tha hồ mở toang lồng ngực đón làn gió biển ngọt ngào mặc cho tâm hồn sảng
khoái, khiến bao mệt mỏi cũng phải nhanh chóng tiêu tan. Cái nắng, cái nóng của
tiết trời tháng sáu ở miền Trung bỗng nhiên tan biến ta chỉ còn thấy bao trùm
lên cả là một bầu không khí mát lành mới mẻ trong một không gian núi non hùng
vĩ cùng mây giăng la đà giữa bốn bề chim hót cùng thông reo khiến cho cõi lòng
trở nên thư thái đến vô cùng.
Trên đỉnh đèo Ngang, ngoảnh
lại, nhìn về phương Bắc nơi cửa biển Xích Mộ một thời thủa xưa (nay đã bị bồi đắp)
trên đất Hà Tĩnh hiện lên với những núi đồi trập trùng ngọn cao ngọn thấp như
thể bức rèm xám kéo dài ra tận biển cùng những ghềnh đá lô nhô xen lẫn những
bãi tắm cát trẳng phẳng mịn và cung đường vượt đèo uốn lượn quanh co trên những
sườn đồi khiến ta lại nhớ đến câu thơ của Dương Thúc Hạp: “Sơn tòng Vọng Liệu
tằng loan hạ/ Địa thị Kỳ Anh lục thụ đa/ Phiếu Diếu cao
phong lâm cự hải/ Sà nga liệt bích chướng trường sa” - Bàn Độ Sơn –
Nghệ Tĩnh Sơn Thủy vịnh (Tạm dịch: Núi non tầng tầng lớp lớp từ Vọng Liệu đi xuống/ Đất
Kỳ Anh cây rừng rợp bóng xanh um/ Những ngọn núi cao chất ngất kéo
ra tận biển lớn/ Như những bức thành chót vót dăng bủa trên bãi cát
dài). Hướng về phương Nam, phía xa là hồ nước Quảng Đông trong xanh ăm ắp; nhìn
gần, trên đường qua đèo là những dòng suối nhỏ quanh co nước chảy róc rách từ
những núi đá đổ về trong văn vắt xen lẫn những ruộng lúa, xóm làng lại làm ta
nhớ vần thơ của Bà Huyện Thanh Quan: “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà/ Cỏ
cây chen đá, lá chen hoa/ Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ
mấy nhà”. Nhìn về phía Tây, những vách núi dựng đứng hơn 1000 m sừng sững hòa
trong mây xanh quấn quện tựa như bức bình phong vững trãi làm cho con đèo như
thể tựa sơn đạp thủy. Trông về phía Đông là biển cả bao la ngàn năm sóng vỗ con
nước xanh rờn. Phía dưới chân đèo có con hầm xuyên sơn hiện đại dài ngót 500 m
nối gần hai miền Nam - Bắc. Xa xa là Mũi Ròn, Hòn La và Vũng Chùa - Đảo Yến,
nơi yên giấc vĩnh hằng của vị tướng huyền thoại cùng với biết bao đảo nhỏ nhấp
nhô xôn xao trên sóng nước.
Có đến đèo Ngang, dừng
chân trên Cổng Trời để ngắm cái cảnh “trời non nước” ta mới thấy con đèo quả là
một tuyệt tác của tạo hóa đã ban tặng cho xứ sở này. Cái cảnh sắc nước mây trời
của non nước Hoành Sơn ấy hiện lên trong tầm mắt làm cho ta thấy sao mà lại trữ
tình mơ mộng đến thế. Hóa ra, đến đây ta mới ngộ ra một điều, không phải ngẫu
nhiễn, bao đời nay, vẻ đẹp trứ danh của con đèo này đã làm nên sức hút lạ kỳ với
biết bao tao nhân mặc khách cùng muôn đời thi sĩ đất Việt thương yêu.
2. Địa hiểm nơi khúc ruột
miền Trung. So với những con đèo nổi tiếng khác trên đất
Việt, đèo Ngang được cả huyền sử lẫn chính sử nhiều lần nhắc đến. Có lẽ là do cảnh
đẹp và cái thế đắc địa của con đèo này chăng. Tôi thì vẫn luôn nghĩ vậy. Theo
dòng lịch sử, ngay từ hồi thế kỷ thứ II, khi người Chămpa lập quốc đèo này đã
trở thành biên giới tự nhiên của hai quốc gia Đại Việt và Lâm Ấp. Để bảo vệ quốc
gia của mình, người Chiêm Thành đã không ngừng đắp đồn lũy dọc theo đỉnh núi, từ
Xuân Sơn (Kỳ Lạc) qua Thần Đầu đến Ngưu Sơn (Kỳ Nam), dài khoảng 30 km. Kể từ
thời đó cho đến các triều đại phong kiến sau này “Lũy cổ Lâm Ấp” không ngừng được
các thế lực chính trị của người Chăm và người Việt gia tăng củng cố. Dấu tích của
một vùng biên ải ngày ấy bây giờ vẫn còn được hiển hiện qua những bức tường
thành chỗ còn chỗ mất rêu phong còn sót lại trên đèo mặc cho nắng gió, phong trần
nơi đầu non góc bể.
Vương quốc Lâm Ấp một thời thịnh trị với biết bao dấu tích vàng son đã không ngừng
đem quân xâm chiếm, cướp phá Đại Việt. Khi ấy, đèo Ngang chắc chắc là một nơi
giao tranh đầy máu lửa. Thế rồi, thế gian biến cải. Để bảo vệ sự bình yên của Đại
Việt, để tăng cường mối quan hệ bang giao của hai quốc gia mà những cuộc
Nam chinh và cả những cuộc hôn nhân chính trị (thời Trần) đã không ngừng diễn
ra. Theo đó, biên giới phương Nam của người Việt cũng đã được mở rộng dần xuống
dải đất phương Nam, bằng chứng là châu Ô và châu Lý đã được vua Chiêm là Chế
Mân dâng cho nhà Trần vào hồi thế kỷ XIII, khi được vua Trần gả con gái Trần
Huyền Trân.
Chưa hết, thời Trịnh -
Nguyễn phân tranh, để tránh mưu sát của chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng đã nghe theo lời
dạy của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”,
nghĩa là: “Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được” mà đã nhờ chị xin
với Trịnh Kiểm cho mình được vượt đèo Ngang vào trấn thủ ở Thuận Hóa. Không biết
thực hư của giai thoại vừa kể ra sao nhưng quả thực Nguyễn Hoàng vào trấn thủ ở
Thuận Hóa đã tránh được sự tận diệt của nhà Trịnh, đồng thời cũng bắt đầu mở ra
một trang sử mới cho nhà Nguyễn. Kể từ đây, nếu như sông Gianh trở thành ranh
giới của Đàng Trong và Đàng Ngoài thì đèo Ngang đã trở thành vùng đất tiền đồn
của nhà Trịnh. Và gần đây nhất, thời chiến tranh chống Mỹ, vùng đất đèo Ngang
cũng đã trở thành một trong những phòng tuyến bị kẻ thù đánh phá ác liệt. Một lần
nữa mảnh đấy hữu tình ấy đã trở thành chiến địa của quân dân ta. Cái chiến địa ấy
cũng đã một thời làm cho nhà thơ Lê Anh Xuân phải khắc khoải, lo lắng: “Tôi đau
đớn Mỹ dội bom tàn phá/ Tất cả những gì tôi quí, tôi yêu/ Dù đèo Ngang tôi chưa
từng đến/ Thơ bà huyện Thanh Quan tôi đã thuộc lòng/ Hoa lá cỏ cây có bị bom
cháy xém?/ Mái nhà kia dưới núi có còn chăng?” …
Thế đấy, cái địa thế hiểm yếu của đèo Ngang đã khiến cho vùng đất này bao đời
nay là một địa bàn chiến lược quan trọng của đất nước, từ các triều đại phong
kiến cho đến tận ngày nay. Chẳng thế mà ngay từ thời xa xưa, các thế lực chính
trị của người Chăm hay người Việt đều rất quan tâm, coi trọng cái vị trí chiến
lược này. Họ đã từng cho xây đắp những chiến lũy và bày đặt đồn binh trên đỉnh
đèo để kiểm soát và ngăn chặn binh biến. Có lẽ vậy, năm 1842, khi ngự giá Bắc
tuần, vua Thiệu Trị đã khắc thơ vào đá ca ngợi Hoành Sơn Quan: “Gìn Nam giữ Bắc
chia nghiêm cửa/ Suốt cổ về kim chốt chặt đàng”. Và rồi đến năm 1838, vua Minh
Mạng cho đúc chín đỉnh đồng để đặt trong nội thành Huế, nhà vua vẫn không quên
cho khắc cảnh vật của Hoành Sơn – Đèo Ngang vào Huyền đỉnh. Bây giờ núi sông đã
liền một dải từ địa đầu Lũng Cú cho tới chót mũi Cà Mau nhưng chiến lũy và
Hoành Sơn Quan vẫn còn đó trên đèo như thể là một minh chứng cho cái vị thế địa
hiểm của con đèo trong suốt một trường kỳ khói lửa binh đao. Bây giờ, cái vai
trò vùng biên ải hay tiền đồn của đèo Ngang không còn nữa. Nó đã được hoán đổi
thành vai trò cầu nối. Đèo Ngang (hay hầm đường bộ xuyên đèo Ngang) đã trở
thành một chiếc cầu nối giữa hai vùng đất Bắc - Nam. Chiếc cầu nối ấy có người
ví như chiếc đòn gánh để gánh hai đầu đất nước. Một bên nạm Bắc là “Hà Tĩnh
mình thương” - vùng đất địa linh quê hương của Nguyễn Du và một bên mạn Nam là
“Quảng Bình quê ta ơi” có biển Vũng Chùa đang an giấc ngàn thu của Đại tướng Võ
Nguyên Giáp khi trăm tuổi trở về với đất mẹ.
Chỉ lược qua vậy thôi, cũng đủ để cho ta thấy giá trị của cái vị trí chiến lược
hiểm yếu mà đèo Ngang đã từng đảm đương trong suốt trường kỳ của dân tộc: hôm
qua, hôm nay và cả ngày mai.
3. Nét cổ kính rêu phong
và cảm hứng của muôn đời thi sĩ. Trên đỉnh đèo Ngang, dấu
vết lịch sử của một thời binh lửa vẫn còn hiện hữu trong từng cảnh vật và đang
được thời gian lưu giữ bằng những nét rêu phong. Sách sử còn ghi, năm 1833 vua
Minh Mạng cho làm Hoành Sơn Quan cao hơn 4 m và hai bên là thành đăng dài chừng
30 m cùng gần 2000 bậc đá đi về hai phía trước và sau, mỗi bên có ngót ngàn bậc
đá uốn lượn theo sườn đồi (phía Bắc có 980 bậc, phía Nam có 900 bậc). Và sau đó
17 năm vua Thiệu Trị cũng tiếp tục cho dựng văn bia cách Hoành Sơn Quan khoảng
20 m làm cho con đèo không chỉ có sơn kỳ thủy tú mà chứa đầy linh khí của đất
trời sông núi. Dưới chân Hoành Sơn Quan, cách khoảng chừng 500 m về phía Nam là
đền thờ bà chúa Liễu. Công trình kiến trúc tuy khiêm tốn nhưng được bố trí hài
hòa cân xứng và giữ được những đường nét mỹ thuật của Á Đông với các chạm khắc,
đắp vẽ tinh xảo vừa diễn tả được cái đẹp vừa thể hiện được sự trang nghiêm, tôn
kính. Với trên 460 năm tồn tại cùng với những huyền tích về bà chúa linh
thiêng, ngôi đền đã góp phần tôn thêm cái thâm u, trầm mặc, huyền bí, cổ tích
cho con đèo.
Thả hồn trên đèo ngang,
ngắm nhìn cảnh vật núi, đồi, cây cối cùng trời, mây, biển cả mênh mông xanh biếc
tao nhân, thi sĩ bao đời nay đã không khỏi dạt dào cảm xúc. Nhớ lại, hồi thế kỷ
XV, vua Lê Thánh Tông khi “Qua đèo Ngang” đã viết: “Bãi thẳm ngàn xa,
cảnh vắng teo/ Đèo Ngang lợi bể, nước trong veo/ Thà là cúi xuống, cây đòi sụt/
Xô xát trông lên, sóng muốn trèo/ Lảnh chảnh đầu mầm, chim vững tổ/ Lanh
chanh cuối vũng cá ngong triều/ Cuộc cờ kim cổ chừng bao nả/ Non nước
trông qua vẫn bấy nhiêu”. Rồi đến thế kỷ XVIII, Ngô Thì Nhậm từng “Lên đèo
Ngang ngắm biển” mà có thơ: “Bày đặt khen thay thợ hóa công/ Khéo đem hang cọp
áp cung rồng/ Bóng cờ Trần đế dường bay đó/ Cõi đất Hoàn vương thảy biến không/
Chim đậu lùm xanh, xanh đã lão/ Ngạc đùa sóng bạc, bạc nên ông/ Việc đời bọt nổi,
xưa nay thế/ Phân họp giành trong giấc hạc nồng”. Lời thơ ấy có phần bi tráng
mang sắc thái thiền như để phê phán những cuộc tranh giành của hai nhà Lê - Trịnh.
Đến đầu thế kỷ XIX, Vũ Tông Phan khi đi qua lũy Ninh Công tức cảnh mà cất bút:
“Đất này ví thử phân Nam, Bắc/ Hà cớ năm dài động kiếm dao/ Trời tạo Hoành Sơn
còn chẳng hiểm/ Người xây chiến lũy tổn công lao/ Thắng, thua rốt cuộc phơi
hoang mộ/ Thù hận dư âm rợn sóng đào/ Thiên hạ nay đà quy một mối/ Non sông
muôn thuở vẫn thanh cao”. Đó cũng là cảm hứng phê phán chiến tranh. Cùng thời với
Vũ Tông Phan, Chu Thần - Cao Bá Quát lên “Ải Hoành Sơn” đã cảm khái mà viết những
lời thơ ẩn chứa đầy tâm sự giằng co tâm trí: “Non cao nêu đất nước/ Liền một dẫy
ra khơi/ Thành cũ trăm năm vững/ Ải xa nghìn dặm dài/ Chim về rừng lác đác/ Mây
bám núi chơi vơi/ Chàng Tô nấn ná mãi/ Tấm áo rách tơi rồi”. Trong chuyến Bắc
hành, vua Thiệu Trị xúc cảm trước cảnh vật đèo Ngang mà đã viết: “Một dãy giăng
dài đứng chắn ngang/ Nhô nhê lởm chởm giữa vùng Loan/ Khéo ngăn Nam Bắc hai khu
vực/ Tầng trải xưa nay một hiểm quan”. Và vẫn con đèo ấy, vẫn cảnh ấy nhưng khi
nữ sĩ Thanh Quan đi qua để vào Huế nhận chức Cung Trung Giáo Tập thì lại thốt
lên: “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà/ Cỏ cây chen đá, lá chen hoa/ Lom khom dưới
núi, tiều vài chú/ Lác đác bên sông, chợ mấy nhà/ Nhớ nước đau lòng, con quốc
quốc/ Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia/ Dừng chân đứng lại trời, non, nước/ Một
mảnh tình riêng, ta với ta”. Có lẽ đây không phải là cảnh thực. Nó là bức tranh
tâm cảnh. Phải chăng, nữ sĩ mang nặng nỗi niềm hoài Lê, lại xa quê nhớ nhà nên
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Sau này, trong những năm đánh Mỹ, nhà thơ
Văn Lợi cũng đã tả thực con đèo rất sinh động như cái vốn có của nó mà chất chứa
đầy cảm xúc: "Nối mây với sóng là đèo/ Ngang đây ngỡ biển cuộn theo chân
người/ Trầm ngâm tạc dáng giữa trời/ Nghìn năm cần mẫn chọn lời cho thơ … Triền
đèo trăm hố bom phơi/ Đá xô nên bậc, lá rơi nên tầng/ Mặt đèo nghiêng nỗi bâng
khuâng/ Nghiêng vào khoảng nhớ một lần ai qua...".
Rồi đây, năm tháng sẽ đi qua, chỉ có con đèo ngàn năm vẫn vậy. Sừng sững hiên
ngang bên bờ biển Đông mà che gió bấc cho sườn Nam xứ Quảng và tiếp tục thổi hồn
vào muôn đời thi sĩ để gọi về trong ta những niềm thương nỗi nhớ vô bờ. Bây giờ,
cùng với khu mộ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở dưới chân đèo nơi Vũng Chùa - Đảo
Yến bên núi Thọ Sơn, chắc chắn đèo Ngang sẽ mãi là điểm đến của biết bao người
đất Việt.
26/6/2018
Giang Hiền Sơn
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét