Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Một cõi đi về

Một cõi đi về

Năm 1966, Nhà Xuất Bản An Tiêm ấn hành ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn: “Thần Thoại Quê Hương - Tình Yêu Và Thân Phận“, những ca khúc trong tác phẩm nầy được anh ôm đàn hát ở Viện Đại Học - Huế.

Thủa ấy Nguyễn Văn Phương [Phương Xích Lô] và tôi đã là đôi bạn sớm có máu lãng đãng trong người. Một hôm Phương rủ tôi:

  • T. tối nay đi nghe Trịnh Công Sơn hát ở Viện Đại Học với tao không?
  • Ừ !

Đêm Trịnh Công Sơn một mình ôm đàn hát ở Đại Học Văn Khoa năm 1967, tôi còn nhớ trong thính phòng có khoảng bảy tám mươi khán thính giả, hầu hết là sinh viên và giáo sư, có lẽ chỉ có Phương và tôi là hai cậu thiếu niên học sinh. Hình ảnh Trịnh Công Sơn, phong cách, trang phục giống những người thầy dạy trung học thời ấy.

Sau Mậu Thân [1968] ba mẹ tôi mua căn nhà 1 - Hồ-Xuân-Hương - Huế để ở, vì quê hương thời loạn không thể sinh sống được. Nhà của Phương nằm trong hẽm kiệt 1 - Chi-Lăng nên chúng tôi thường gặp nhau, hơn nữa hai đứa có chung căn bệnh. Đó là bệnh “mộng làm thi sĩ“.

Vào một buổi sáng chủ nhật Phương đến nhà tôi rất sớm rủ tôi:

- T. mi đi với tau qua mời anh Trịnh Công Sơn uống cà phê không?

- Tôi chẳng cần hỏi mi quen anh TCS bao giờ!“, vì tính Phương thế gian mọi sự cứ tự nhiên, nhưng bạn rủ thì tôi cứ đi.

Tuổi trẻ, cố đô Huế, mỗi con đường, hàng cây, cảnh sinh hoạt còn dấu nỗi đau sau tết Mậu Thân oan nghiệt với bài ca “Chiều Đi Qua Bãi Dâu Hát Trên Những Xác Người“ của Trịnh Công Sơn.

Phương và tôi qua cầu Trường Tiền. Ôi! Chiếc cầu trước 1968 biểu tượng tà áo trắng yêu kiều của nữ sinh Đồng Khánh và dòng Hương ngày ấy chẳng khác nào mái tóc thề của những người đẹp Huế mộng mơ. Sau Mậu Thân chúng tôi đi qua cầu, hai đứa ngắm nhìn cảnh sinh hoạt của Huế ngày ấy mà ngậm ngùi, chiếc cầu đã gãy hai nhịp chúi xuống nước, tôi và Phương đi qua nhịp cầu bằng gỗ thẳng băng nối lại bốn vài tám nhịp của hai bờ.

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, một tài năng rất mực của Quảng Nam - Đà-Nẵng đã thay người Huê` nói lên nỗi đau của cầu Trường Tiền qua ca khúc “ Chuyện Chiếc Cầu Đã Gãy “ :

 

Một ngày vào thủa xa xưa . . .

   trên đất Thần Kinh

    người bỏ công lao

    xây chiếc cầu xinh.

   . . . . . . . . . . . . . . . .

   Nước dưới cầu nước vẫn trong xanh

  như lòng người dân lành

  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

 Vì sao không thương lấy nhau

          còn gây khổ đau

         làm gãy nhịp cầu  . . . .

 

      Trịnh-Công-Sơn hồi ấy ở trong appartement [ chung cư ] Nguyễn-Trường-Tộ, phòng số 11/3, bây giờ là Cà Phê Gác Trịnh do chủ bút Tạp Chí Tinh Văn là nhà thơ Lê-Huỳnh-Lâm làm chủ để đón mời khách thập phương muốn thăm thấy nơi Trịnh-Công-Sơn và gia đình nhà văn Hoàng-Phủ Ngọc-Tường từng lưu trú dài năm . Tôi theo Phương bước lên cầu thang đến một căn phòng, Phương đưa tay đẩy cửa, hình ảnh đầu tiên tôi thấy là chiếc xe đạp, một cái bàn gỗ, mấy cái ghế mây và phía trong là bức màng phủ xuống, Phương chẳng ngại ngần  đi thẳng vào kéo màng đánh thức người đang ngủ :

      -  Anh Sơn ! Dậy đi uống cà phê với bọn em ?

      Tôi thấy Trịnh-Công-Sơn nằm trên ghế bố đắp chăn, đầu hướng lên phía nhà thờ Phủ Cam, giọng anh Sơn còn ngái ngủ đáp

      -  Hôm qua anh say quá, hai em đi đi . . .     :

      Trên đường đến quán cà phê ở Bến Ngự, Phương hỏi tôi :

      -  Mi có muốn làm với bác Trần-Như-Hy kiếm tiền tiêu không ?                                                

                          -  Làm chi ?

           -  In lụa, đúc mấy mẫu hàng mỹ thuật, tau đang làm nhưng tay chân tau không chú tâm nên hàng hay bị hỏng.

           Thời điểm ấy là ba tháng hè nên tôi đồng ý.

      Gia tộc bác Trần-Như-Hy ở đường Phan-Đình-Phùng, bên cạnh là nhà in Thánh-Tâm, cách chợ Bến Ngự khoảng năm trăm mét. Đó là một gia tộc lớn với căn nhà rường, sân trước vườn sau rộng thênh thang. Hồi ấy bác Hy làm thư ký ở Viện Đại Học - Huế, ngoài công việc của ngành giáo dục, bác còn năng khiếu về nghệ thuật nên bác mở xưởng in lụa, làm những mẫu hàng mỹ thuật cung cấp cho thị trường. Khi Phương giới thiệu tôi, qua một vài hôm thử việc, bác bằng lòng nhận tôi làm chính thức.

      Ngày ấy bác sĩ Bửu-Châu và Bửu-Tôn, em vợ bác Hy đều ở trong căn nhà rường quý tộc ấy. Tôi làm công với bác Hy trong ba tháng hè, đến kỳ đi học buổi nào rảnh tôi có thể lên phụ việc với bác. Kỷ niệm ngày xưa, mỗi lần nhớ lại thì lòng xao xuyến như mây trời tụ tán. Làm sao quên được anh Trần-Như-Hùng, con trai trưởng, là bạn học chung lớp với anh tôi ở trường Nguyễn-Tri-Phương, anh thay bác Hy điều hành mọi việc, thường chở tôi lên Long-Thọ để đổ đồng những mẫu hàng tôi đúc.                       Trai gái của vợ chồng bác Hy đều là tài sắc của Huế. Làm sao tôi quên được năm tháng tôi in lụa ở Bến Ngự. Khánh-Trang, em gái của anh Hùng, ngày ấy nàng học trường Đồng-Khánh, đôi má ửng hồng như hoa đào Đà-Lạt, những chiều nghỉ học nàng hay nấu chè bắp, khi tôi đang siêng năng làm hàng ở phòng sau ngó ra vườn, nàng thắm tươi bưng chén chè bắp vào phòng cho tôi nhẹ nhàng nói :

  • Anh, anh nghỉ tay ăn chè em nấu đó.

Trời ạ ! Làm sao tôi không cảm xúc cho được.

      Có một buổi trưa tôi đang cặm cụi đổ khuôn đúc, nàng đi học về vô phòng tôi, giọng nàng hớt hãi nói :

  • Anh T. biết không, Trang đi học về, chút nữa thì Trang té xuống bến sông mà anh hay rửa tay chân đó.

      Trước mặt nhà nàng có một bến sông, thường buổi chiều khi xong công việc, tôi xuống đó rửa tay chân. Dòng sông Bến Ngự, cỏ cây, hoa lá đẹp như một ca khúc và ca khúc bội phần hay hơn khi trong tim thầm yêu một bóng hình.

      Những lời nàng nói đến bây giờ tôi vẫn mãi nhớ như niệm khúc đẹp nhất trong đời người, có hôm nàng đi học về chưa thay áo quần nữ sinh, vô phòng tôi làm việc, nàng nói :

     -  Hồi sáng Trang đi học đang đứng trong sân trương thì Trang thấy anh đi ngang cổng trường đó.

 

 

 

      Khánh-Trang đã để lại trong lòng tôi nhiều thanh sắc mơ ước và tôi làm thơ . . . đến nay chỉ còn nhớ lại bốn câu :

 

                                                                     Khánh-Trang ! Khánh-Trang

                                                                     tim ta gọi nàng

                                                                    khắp trời Bến Ngự

                                                                    gió chiều mêng mang.

                                                                   . . . . . . . . . . . . . . . . . .

 

      Rồi khói lửa chiến chinh cuốn đời tôi đi qua chín khúc đoạn trường, tôi không còn gặp lại Khánh-Trang nữa. Năm 1985 tôi về Huế tìm Phương, anh chàng tự nhiên như nhiên ấy bây giờ là bác xích lô thứ thiệt, Phương có nói với tôi :

  • Bữa nớ tau chở Khánh-Trang và bác gái từ ga về nhà, tau có nói thằng T. ngày ấy thầm yêu nhớ trộm Khánh-Trang.

Ừ ! Thằng bạn mình thay mình chuyển lời yêu đến với Khánh-Trang như vậy là tốt rồi, bởi lẽ tuổi trẻ thời học sinh yêu ai chẳng bao giờ dám hé nửa lời.

            Sau nầy Phương còn thông tin cho tôi nhiều diễn biến trong gia đình bác Trần-Như-Hy nữa.

  • Trần-Như-Hiển lấy em ruột Trịnh-Công-Sơn !!!
  • Khánh-Trang có người yêu du học ở Nhật, nàng ở vậy chờ mong !!!

      Năm 1992 tôi đang điều hành văn phòng du lịch VYC 8 tại 183 - Võ-Văn-Tần - Q.3 - Sài-Gòn, có lẽ văn phòng tôi là một trong những đường dây đầu tiên đón khách Tây, khách Mỹ đến Việt-Nam. Thời ấy Cao-Hữu-Điền là Trưởng Phòng hướng dẫn, Điền bậc thầy đàm thoại cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Khi tôi đón đoàn khách Pháp tại phi trường Tân-Sơn-Nhất, Điền nói với tôi :

-    Ngày mai mi nên đặt tiệc tại nhà hàng “ Quán Trịnh !!!” ở đường Hai-Bà-Trưng, đó là nhà hàng của anh em Trịnh-Công-Sơn.

      Trưa hôm sau tôi đưa đoàn khách Tây đến nhà hàng ấy. Sau bữa tiệc đãi khách, tôi ra quầy thanh toán. Trời ạ ! Lạ lùng thay, caissière [thủ quỷ] là Khánh-Trang, tôi ngỡ ngàng không tin vào mắt mình nữa, chưa dám mở lời, chỉ nhìn nàng với trang phục màu đen, nàng ngước mắt lên rồi cúi mặt xuống, tôi nói :

  • Trang ! Trang ! Nhớ anh không ?
  • Nhớ ! Anh T.   
  • Sao Trang mặc áo quần màu đen buồn vậy ?

      Tôi nhớ mãi ngấn lệ rưng rưng trong mắt nàng trưa hôm ấy.

      Tết Canh Tý [2020] tôi về Huế, một buổi sáng dừng chân ở Bến-Ngự đi tới căn nhà rường của gia đình Khánh-Trang, cửa cổng vòng cung đóng kín, một tấm bảng nhũ vàng có hàng chữ “ Phủ . . .” tôi nhìn vào, bên trong không một bóng người, chỉ có những bông hoa hải đường ngày trước vẫn thắm tươi trước sân nhà quý tộc.

      Năm 1984 sau một thời gian về sống với ba mẹ, anh em ở quê nhà không được bao lâu thì máu lang thang nổi dậy, tôi lại tìm về xứ anh đào tạm cư trong nhà vợ chồng nhạc sĩ Phan-Bá-Chức, làm đủ ngón nghề kiếm sống, quấn thuốc lá, in lụa, phụ thợ hồ . . .1985 thì về Sài-Gòn sống lây lất nơi nầy nơi kia. Nơi tôi trú ngụ thường xuyên là kho tăm nhang của chị Sáu Phương, chị người Bến-Tre, nhan sắc mặn mà, lòng chị như mùa xuân, bốn mùa tươi tốt rộng mở. Ngày ấy Đoàn-Đại-Oanh là cán bộ to của thành ủy Hồ-Chí-Minh, anh Oanh sinh trưởng ở Bãi-Dâu - Huế, tốt nghiệp sư phạm Qui-Nhơn sau anh Trịnh-Công-Sơn, ra trường anh dạy ở Tuy-Hòa rồi đổi lên Đà-Lạt. Năm tháng kỳ hồ ở Sài-Gòn thỉnh thoảng tôi ngủ lại ở nhà anh tại 40 - Cư Xá Tự-Do - Tân-Bình, chị Tâm, vợ anh người Huế có bàn tay nấu bún bò và làm nem ché, thỉnh thoảng tôi phụ giúp chị giã thịt làm ché, chị thường nói :

  • Trịnh-Công-Sơn thích ăn ché chị làm.

      Mỗi một hai tuần Trịnh-Công-Sơn đến nhà chơi và lấy ché, nhưng thường là anh Oanh đem ché cho Trịnh-Công-Sơn.

      Năm 1986 tôi làm thủ kho cho cơ sở tăm nhang của chị Sáu Phượng. Tôi đã lăn lóc qua mười một quận Đô Thành nhưng chưa có nơi nào cây cao bóng cả như rừng lục ở kho tăm nhang của chị Sáu. Trước 1975 đó là doanh trại của tiểu đoàn lính nhảy dù Trần-Trung-Hiếu thuộc QLVNCH, chị Sáu Phượng thuê mặt bằng lớn rộng kinh doanh tăm nhang xuất khẩu qua Singapore và Hồng-Kông. Những năm tháng tôi làm thủ kho, có lẽ là quảng thời gian yên vui, cảm xúc nhất giữa thời áo cơm là nỗi khổ của con người.

      Chị Sáu Phượng đẹp, tấm lòng rộng lượng, hơn nữa cơ sở ấy còn có vợ chồng Tập – Kiều-Huệ sẵn lòng đón gió bạn bè khắp nơi, bạn bè tôi từ Huế vào đến kho tăm nhang tìm tôi, có bạn xin lưu trú dài hạn như Hoàng-Công-Song, Nguyễn-Kiên-Định, Thu tóc bạc ở Bãi Dâu . . .hằng tháng chị Sáu chở cho tôi một tạ gạo để công nhân nam nữ nấu ăn trong những buổi làm tăng ca, tôi lấy gạo của chị nuôi bạn bè tá túc, chị biết nhưng không hề có lời nặng nhẹ.

      Vào một buổi trưa tháng 6/1986 tôi đang coi sóc công nhân chẻ nhang thì anh Đoàn-Đại-Oanh đi vào, theo sau là nhạc sĩ Ưng-Lang, tác giả “ Mưa Rơi “, nhà văn Lữ-Quỳnh và anh Trịnh-Công-Sơn. Tôi ngạc nhiên vội vã trải chiếu mời các anh ngồi, rồi vội vã đạp xe ra ngã ba Ông Tạ mua thịt chó, đậu phụng và mấy lít rượu Gò Đen. Tôi bày biện ly cốc, mồi nhắm. Trịnh-Công-Sơn nhìn xuộng dĩa thịt chó nhẹ nhàng nói :

  • Moi không ăn được thịt chó.

      Đoàn-Đại-Oanh nói :

  • Mình cũng không ăn được.

 

      Chúng tôi đang cụng ly nâng cốc trò chuyện thì có công nhân vào gặp tôi nói :

      -  Anh T. chị Sáu gọi anh.

      Tôi đi ra gặp chị, chị nói :

      -  Chú ! Chú quen anh Trinh-Công-Sơn à ! Chị mê nhạc của anh lắm nhưng sao chú đãi anh Sơn tội nghiệp vậy, chú mời anh Sơn tối nay lên nhà chị, chị có rượu Ararat . . .

      Tôi nói :

     -  Chị vào với em mời anh.

      Chiều tối hôm ấy Đoàn-Đại-Oanh dẫn Trịnh-Công-Sơn và nhà thơ Lê-Nhược-Thủy đến nhà chị Sáu ở đường Cao-Thắng. Chưa bao giờ tôi thấy chị Phượng hân hoan đến thế, rượu Ararat và mồi nhắm chẳng khác nào một bữa tiệc sang trọng. Rượu uống một vài chung, Trịnh-Công-Sơn hỏi chị Sáu :

  • Cô Phượng có cây đàn không ?
  • Dạ ! Có ạ !

      Rồi chị lên lầu trên lấy cây đàn.

      Trịnh-Công-Sơn so giây rồi nói :

  • Bài nầy moi mới làm cách đây ba hôm.

      Anh cất tiếng hát : “  Đêm chong đèn ngồi nhớ mẹ và câu chuyện ngày xưa, mẹ về đứng dưới mưa che đàn con không ngủ . . . 

      Những ca khúc trước năm 1975 đã tạo nên thiên tài Trịnh-Công-Sơn, những ca khúc ấy cảm xúc từ “ Một Tâm Thức Sáng Tạo “ nên đi rất mau vào lòng người của mọi tầng lớp, còn những bản nhạc sau 1975, Trịnh-Công-Sơn cho ra đời từ “ Một Ý Thức Sáng Tác “ nên hai phương trời thật khác nhau . 

 

{ Trích từ hồi ký “ Chuyện Đời Tôi “ }

. . .Thập niên 1960 tên tuổi Trịnh-Công-Sơn đã là hiện tượng kỳ lạ trong nền âm nhạc Việt-Nam. Nhạc của ông là một cõi riêng, không ảnh hưởng bất cứ nhạc sĩ tài hoa nào trong nước cũng như trên thế giới, nhất là ca từ, là cả hồn thơ ẩn hiện triết lý nhân sinh.

      Thủa ấy trong thành nội - Huế có quán cà phê “ VĂN “ chủ nhân là nhà thơ Huyền-Kỳ, ngồi ở quán bên ly cà phê đen với khói thuốc Bastos, Capstan . . .để thưởng thức nhạc Trịnh-Công-Sơn qua hồn ca Khánh-Ly thì bao nhiêu lo âu, khói lửa chiến chinh như có một bàn tay ấm nồng vỗ về an ủi.

 

      Phương-Xích-Lô và tôi mỗi khi túi có năm đồng ba trự thường vào “ Quán VĂN “ ngồi suốt buổi. Có thể nói bằng hữu của Trịnh-Công-Sơn thời ấy là thế hệ vàng của non nước “ Thần Kinh “. Cõi thơ có thi sĩ Ngô-Kha, Trần-Vàng-Sao, Lê-Văn-Ngăn, Thái-Ngọc-San . . .Hội họa có Đinh-Cường, Bửu-Chỉ, Lê-Văn-Tài, Hoàng-Đăng-Nhuận . . .Tất cả những bậc tài hoa ấy đều là bạn thân của nhau được người xứ Huế cũng như khắp nơi yêu mến, kính trọng, bởi suốt đời họ hiến dâng cho nghệ thuật chẳng màng gì khác.

 

Năm 1988 sau thời gian làm thủ kho thì tôi xin chị Sáu Phượng nghỉ việc để mở cơ sở sản xuất tăm nhang qua tham mưu của Đoàn-Đại-Oanh, tôi thuê mặt bằng ở Phương Linh-Xuân, Quận Thủ-Đức. Tôi thường lên Tỉnh Bình-Phước thuê người Thượng chặt lồ ô chở về Sài-Gòn vừa sản xuất vừa bán. Tỉnh Bình-Phước nơi có núi Bà-Rá mà năm 1968 trong tạp chí “ Mã Thương “ có đăng bài thơ “ Một Thế Kỷ Mấy Vần Thơ “ của T-P, sau nầy tôi mới biết đó là bút hiệu của nhà thơ Truy-Phong, hồi ấy tôi thuộc gần hết cả bài thơ dài hơn cả trăm câu :

                                           . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

                                          Anh đày Bà-Rá Côn-Sơn

                                         Anh dọa Sơn-La Lao-Bảo

                                         Anh đoạt hết cơm hết áo

                                        Anh giựt hết bạc hết vàng

                                       chặt đầu ông lão treo hàng thịt

                          mổ mật thanh niên giữa chiến trường

                                      . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

      Bà-Rá là ngọn núi cao duy nhất trên núi rừng tỉnh Bình-Phước, ở nơi ấy giặc Pháp đã xây dựng nhà tù đày đọa những người yêu nước.

      Một ngày tôi thả bộ ở thị trấn Phước-Bình thấy một quầy sách báo bên đường, tôi ghé vào mua mấy tờ báo. Trời ạ ! Chủ quầy báo là nhà thơ Huyền-Kỳ, tôi sửng sốt hỏi :

  • Anh Huyền-Kỳ ! Sao anh lưu lạc vào đây ?

Anh cười cười, tính tình vẫn hiền lành như ngày trước :

  • Ừ ! Thì anh rời khỏi Huế đi kinh tế mới, sách báo ở bến xe miền Đông trưa trưa chở lên, vợ con hằng ngày đi làm nương rẫy.. .

Nhà thơ Huyền-Kỳ thời nào cũng thân thiện, những bài thơ của anh tôi chỉ còn nhớ hai câu :

Tiếng gà đã rộn trong thôn

con thuyền còn buộc đợi chờ ai đây ?

      Cơ sở tăm nhang của tôi chỉ tồn tại hơn một năm thì phá sản, ngày ấy thủ kho là Lê-Văn-Chương, bạn tôi người ở Truồi lưu lạc vào Sài-Gòn kiếm sống. Giải quyết xong công nợ, Chương và tôi về tạm trú ở chùa Châu-Long, Bà-Chiều, Q. Bình-Thạnh của nhà báo Hồ-Đề, ngày ngày bữa đói bữa no, hai đứa đi chung một đôi dép và cũng thời gian ấy tôi đã dịch tác phẩm Sea-Wolf [Sói Biển] của Jack-London thành The Ghost-Ship [Con Tàu Ma] mà năm 2011 Nhà Xuất Bản Thuận-Hóa đã cấp phép để in và phát hành.

      Thời gian tôi điều hành Văn-Phòng Du-Lịch VYC 8 ở Võ-Văn-Tần – Q.3 – Sài-Gòn từnăm 1991 – 1995, bạn bè khắp nơi thường tìm đến. Anh Trịnh-Xuân-Hà, sĩ quan QLVNCH, em ruột Trịnh-Công-Sơn, là một võ sư cao cường, tam đẳng, nhị đẳng, thỉnh thoảng đến rủ tôi đi ăn sáng, uống cà phê . .anh thích hút thuốc Dunhill, nhiều lần anh ngỏ ý tôi đến nhà chơi thăm anh Trịnh-Công-Sơn.

      Vào một buổi sáng tôi và Lê-Hữu-Khanh [Trung Tá PA, cố vấn của tôi] đến 47c – Phạm-Ngọc-Thạch. Trịnh-Xuân-Hà vui vẻ đón chào, sáng ấy Dương-Đình-Vinh, anh ruột của họa sĩ Dương-Đình-Sang cũng đã có mặt, anh Trịnh-Xuân-Hà nói :

  • Anh Sơn còn ngủ để mình vào xem anh dậy chưa. Lúc ấy là gần 9g sáng, một lát sau anh Sơn đi ra nhẹ nhàng chào hỏi. Trà, cà phê anh Hà tiếp khách đầy đủ. Tôi ngồi cạnh anh Trịnh-Công-Sơn, chiếc quần tôi mặc mà vợ tôi may giống màu sắc PA của Lê-Hữu-Khanh, anh Sơn hỏi nhỏ tôi :
  • Toi ! Toi ! cũng ở bên đó à ?

Không hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà tôi gật đầu, tự nhiên giọng anh Sơn có phần tỉnh táo hơn, có lẽ anh không ngờ một thằng lang thang bất biết như tôi mà cũng là PA.

      Thời nhà thơ Lê-Văn-Ngăn [1943 – 2015] còn tại thế, nhiều khi chúng tôi ngồi ở quán bên đường với một vài chai rung rinh, Lê-Văn-Ngăn thường kể cho tôi nghe nhiều giai thoại về Ngô-Kha, Thái-Ngọc-San . . .riêng Trịnh-Công-Sơn thì có những câu chuyện thú vị như thế nầy thời Trịnh-Công-Sơn ở Qui-Nhơn theo học Trường Sư-Phạm.

Qui-Nhơn, cõi đất của hồn thiêng sông núi, bao nhiêu bậc tài hoa, anh kiệt đều tìm đến và để lại tác phẩm lưu danh cho hậu thế. Giọng của Ngăn lúc nào cũng chậm rãi, thiệt lời, Ngăn kể :

«  Ở Qui-Nhơn thời ấy có một Đại Ca Thay [ Thành Đầu Bò ] bảo kê cho những quán bar, quán cà phê . . .rất mê nhạc Trịnh-Công-Sơn thường khoe với đàn em rằng : « Tụi bây biết không ! Trịnh-Công-Sơn sáng tac` bài «  Diễm Xưa «  . . .mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ . . .là hình ảnh mưa rơi trên tháp Chàm của Qui-Nhơn đó. »

      Thủa ấy Trịnh-Công-Sơn thích lặng lẽ một mình tìm đến quán cà phê Tuyết - Nhung, Phi-Điệp ngồi bến ly cà phê đen với khói thuốc, ông thường vào quán không chào ai, hỏi ai, chỉ tìm một bàn vắng nhìn trời, nhìn đất, cảm xúc với cuộc đời. Về lâu, về lâu, Thành Đầu Bò thấy ông nầy cứ một mình xuất hiện mãi đâm gai mắt. Bữa nọ Đại Ca Thay của đất Bình-Định sai đàn em đến lột cặp kính ông đang đeo, không biết ông Sơn khi ấy phản ứng thế nào, có lẽ ông lặng lẽ bỏ ly cà phê còn bốc khói bước ra khỏi quán.

      Không biết sau nầy có ai nói với Thành Đầu Bò con người lặng lẽ uống cà phê một mình đó là nhạc sĩ Trịnh-Công-Sơn. Thành Đầu Bò rụng rời tay chân vội vã sai đàn em đi khắp Qui-Nhơn hỏi cho ra nơi ở của Trịnh-Công-Sơn, rồi vội vã tìm đến vô cùng tạ lỗi để trao lại cặp kính. « 

Ở miền biển quê tôi có anh Lê-Đức-Liêm, hiện nay ở Phú-Diên, H. Phú-Vang/TT-Huế, anh yêu thích văn học, kiến thức rộng. Mỗi năm tôi về thăm quê, thỉnh thoảng ngồi với anh bên dòng phá Tam-Giang, uống vài chai bia, mặn mà với cá mực của biển. Anh kể cho tôi những kỷ niệm với Trịnh-Công-Sơn thời anh vào Qui-Nhơn trọ học. Anh nói :

«  Từ năm 1963 anh đã vào Qui-Nhơn trọ học ở nhà sách Đại-Chúng - Đường Gia-Long, những lúc nghỉ học anh thường ra bán sách, Trịnh-Công-Sơn hay đến nhà sách tìm mua những tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm viết về hai thiên tài Mozart và Beethoven. Anh thấy cậu bé đồng hương hiếu học nên rất mến thương. « 

Theo lời anh Liêm thì trước khi rời Qui-Nhơn Trịnh-Công-Sơn có tặng cho anh một tập nhạc in Ti-Pô được anh sáng tác ở Qui-Nhơn trong ấy có bài «  Biển Nhớ «  nổi tiếng sau nầy

      Trong hồi ký của anh Lê-Đức-Liêm, anh nhớ lại :

      «  Hồi ấy ở Qui-Nhơn có Trường Sư-Phạm đào tạo giáo viên dạy lớp nhì, lớp nhất bậc tiểu học Theo học trường nầy có nhiều anh chị ở Huế vào.

      Thời điểm ấy rất ít người Huế vào làm ăn sinh sống, có thể chỉ đếm được trên đầu ngón tay, vả lại Qui-Nhơn còn là một thị trấn nhỏ cho nên chúng tôi dễ quen biết nhau mà chẳng cần quan tâm xuất thân từ thành phần xã hội.

      Trong số giáo sinh [ sinh viên sư phạm hồi ấy ] thường đi lại hiệu sách rồi từ đó quen thân với chúng tôi có hai anh là Trịnh-Công-Sơn và Thân-Trọng-Thầm, đặc biệt là anh Sơn, anh vừa là giáo sinh vừa phụ đạo âm nhạc cho trường. Vì vậy anh rất cần nhiều sách âm nhac cả trong và ngoài nước để nghiên cứu giảng dạy [ phần nhiều là mượn xem tại chỗ, chứ ít khi mua, mà tiền đâu các anh ấy có nhiều mà mua ] đa số các sách anh yêu cầu nếu có tôi đều tìm cách đáp ứng, kể cả tìm cách cho anh mượn mang về. Đổi lại chiều thứ bảy, ngày chủ nhật anh thường đến chơi dạy kèm tôi và nhận thư từ của nhà nếu có. Sau nầy khi anh ra trường và tôi cũng về Huế. Thỉnh thoảng anh đi bát phố với nhóm bạn của anh như họa sĩ Đinh-Cường, họa sĩ Lê-Văn-Tài, Tôn-Thất-Văn . . .mỗi lần gặp anh, anh chào hỏi rất ân cần, niềm nở.

      Anh xuất bản tập mười bài du ca có đề tặng tôi một tập. Tuy chẳng hiểu gì về âm nhạc song tôi rất trân trọng gìn giữ. Đáng tiếc sau nầy cậu bạn tôi hỏi mượn mà không hoàn lại.

      Sau giải phóng, khoảng đầu năm 1976, tôi tình cờ gặp anh một cách chớp nhoáng tại bến tàu Đá Bạc, H. Phú-Lộc/TT-Huế, anh giương hai mắt sau cặp kính cận to quá khổ nhìn trân trân vào tôi, hình như anh cố lục tìm trong ký ức về tôi. Sau một thoáng ngỡ ngàng chúng tôi đã nhận ra nhau qua vài câu hỏi thăm không đầu không cuối, hai chúng tôi phải vội vã giã từ vì tàu sắp rời bến . . .

      Tôi không ngờ đó là lần gặp anh cuối cùng. »

 

      Tôi may mắn được gặp anh lần cuối khi văn phòng du lịch của tôi đóng cửa đã lâu, Cao-Hữu-Điền làm hướng dẫn viên ở công-ty lữ hành khác. Sáng hôm ấy Điền rũ tôi đi uống cà phê ở Givral đường Đồng-Khởi [ Tự-Do xưa ]. Mới vào quán thì tôi thấy Trịnh-Công-Sơn và họa sĩ Hoàng-Đăng-Nhuận đang thân tình trò chuyện bên khói thuốc. . .

      Còn Phương-Xích-Lô tôi gặp lần sau cùng là vào năm 2000. Võ-Văn-Nhân người đạp xích lô thường chở Bùi-Giáng rong rêu khắp đô thành đã chở Phương đến thăm tôi ở Q.Tân-Bình. Bên cốc bia tôi nói với Phương rằng :

  •  Thiên hạ nói Phương điên nhưng mi điên gì mà điên, cái điên của mi là bệnh làm thi sĩ.

Phương trả lời:

  • Thằng T. nói đúng.

Còn họa sĩ Bửu Chỉ, vào đầu năm 2002 tôi về thăm Huế, buổi sáng hôm ấy tôi chở con tôi vào hoàng thành Huế thì gặp Bửu-Chỉ ở cửa Ngăn, họa sĩ đi xe Cha-lie, Chỉ ngạc nhiên hỏi:

  • Mi ra khi mô?
  • Ra Huế bốn năm hôm rồi!
  • Ra thì ghé liền chớ! thôi qua Thiên Đường uống cà phê.

Ngồi ở quán tôi nhìn Bửu Chỉ thầm nghĩ «Mập quá, cái cổ căng ra đỏ hồng...»

Và tháng 6/2002 sau cơn lưu linh Phương-Xích-Lô đã nhảy xuống dòng sông ở Quảng-Trị tìm trăng giữa ban ngày. Cùng tháng 12 năm ấy, Bửu Chỉ cũng đã «Một Cõi Đi Về» sau Trịnh Công Sơn hơn một năm.

Viết về nhạc của Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Văn Cao đã lưu lại cho hậu thế những lời vàng ngọc nầy:

«... Bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ... trong âm nhạc của Sơn ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc học Phương Tây, Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra...»

Ngày Trịnh Công Sơn giã từ cõi tạm, Bửu Chỉ đã từ Huế bay vào Sài-Gòn tiễn biệt, sau nầy ông đã để lại những dòng cảm xúc nầy :

«   . . . Tôi lặng lẽ đi vào phòng khách ở tầng dưới, thấy Sơn vẫn nằm đó. Một tấm mền Quang-Minh phủ kín hình hài Sơn từ đầu đến chân. Khoảng ở nơi mặt có một đóa hoa sen, ở giữa hoa sen có chữ "A U M" [chữ Phạn} mang ý nghĩa của sức mạnh tâm linh và sự giải thoát. Sơn nằm trong sự che chở của Phật A Di Đà.

... tôi ngồi xuống chân cầu thang, nhìn Sơn nằm đó, đầu óc tôi trống rỗng, đôi khi muốn khóc nhưng chẳng khóc được. Nhiều lần tôi định lật tấm mền để nhìn mặt Sơn lần cuối, ngại người trong nhà nên lại thôi.

Mãi đến gần tối khi những người em của Sơn ở Canada từ phi trường về, lật tấm mền Quang Minh ra xem rồi lăn ra khóc, khi ấy tôi mới thấy được mặt Sơn. Tôi cầm bàn tay tài hoa nay đã giá lạnh và thầm nói mình đến với Sơn đây...

Hình hài Sơn như Chúa vừa mới được bế từ Thánh Giá xuống và đặt trong tấm vải liệm. Sơn như thanh thản ngủ nhưng trán có hơi cau lại một chút...

Hôm sau tôi đến viếng Sơn một vòng hoa rồi ngồi lẫn với đám bình dân vô danh mến mộ Sơn. Đám người nầy trung thực, chất phác và thủy chung. Tôi thấy có cả những người hát xẩm ăn mày mù, hôm ấy áo quần cố gắng tươm tất, mang theo một cây guitare đến viếng rồi xin hát một bài của anh Sơn để đưa anh Sơn đi. Đông lắm, đông lắm, có thể nói là không kể xiết, đủ mọi tầng lớp nhân dân...».

[Trích từ Hồi Ký – Chuyện Đời Tôi]

29/4/2021

Vương Kiều

Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Một cõi đi về

Một cõi đi về Năm 1966, Nhà Xuất Bản An Tiêm ấn hành ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn: “Thần Thoại Quê Hương - Tình Yêu Và Thân Phận“, nh...