Một cõi đi về
Năm 1966, Nhà Xuất Bản
An Tiêm ấn hành ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn: “Thần Thoại Quê Hương -
Tình Yêu Và Thân Phận“, những ca khúc trong tác phẩm nầy được anh ôm đàn hát ở
Viện Đại Học - Huế.
Thủa ấy Nguyễn Văn Phương [Phương Xích Lô] và tôi đã là đôi bạn sớm có máu
lãng đãng trong người. Một hôm Phương rủ tôi:
- T. tối nay đi nghe Trịnh Công Sơn hát
ở Viện Đại Học với tao không?
- Ừ !
Đêm Trịnh Công Sơn một mình ôm đàn hát ở Đại Học Văn Khoa năm 1967, tôi
còn nhớ trong thính phòng có khoảng bảy tám mươi khán thính giả, hầu hết là
sinh viên và giáo sư, có lẽ chỉ có Phương và tôi là hai cậu thiếu niên học
sinh. Hình ảnh Trịnh Công Sơn, phong cách, trang phục giống những người thầy dạy
trung học thời ấy.
Sau Mậu Thân [1968] ba mẹ tôi mua căn nhà 1 - Hồ-Xuân-Hương - Huế để ở, vì quê
hương thời loạn không thể sinh sống được. Nhà của Phương nằm trong hẽm kiệt 1 -
Chi-Lăng nên chúng tôi thường gặp nhau, hơn nữa hai đứa có chung căn bệnh. Đó
là bệnh “mộng làm thi sĩ“.
Vào một buổi sáng chủ nhật Phương đến nhà tôi rất sớm rủ tôi:
- T. mi đi với tau qua mời anh Trịnh Công Sơn uống cà phê không?
- Tôi chẳng cần hỏi mi quen anh TCS bao giờ!“, vì tính Phương thế
gian mọi sự cứ tự nhiên, nhưng bạn rủ thì tôi cứ đi.
Tuổi trẻ, cố đô Huế, mỗi con đường, hàng cây, cảnh sinh hoạt còn dấu nỗi đau
sau tết Mậu Thân oan nghiệt với bài ca “Chiều Đi Qua Bãi Dâu Hát Trên Những
Xác Người“ của Trịnh Công Sơn.
Phương và tôi qua cầu Trường Tiền. Ôi! Chiếc cầu trước 1968 biểu tượng tà áo
trắng yêu kiều của nữ sinh Đồng Khánh và dòng Hương ngày ấy chẳng khác nào mái
tóc thề của những người đẹp Huế mộng mơ. Sau Mậu Thân chúng tôi đi qua cầu, hai
đứa ngắm nhìn cảnh sinh hoạt của Huế ngày ấy mà ngậm ngùi, chiếc cầu đã gãy hai
nhịp chúi xuống nước, tôi và Phương đi qua nhịp cầu bằng gỗ thẳng băng nối lại
bốn vài tám nhịp của hai bờ.
Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, một tài năng rất mực của Quảng Nam - Đà-Nẵng đã thay
người Huê` nói lên nỗi đau của cầu Trường Tiền qua ca khúc “ Chuyện Chiếc Cầu
Đã Gãy “ :
Một ngày vào thủa xa xưa
. . .
trên đất Thần
Kinh
người bỏ
công lao
xây chiếc cầu
xinh.
. . . . . .
. . . . . . . . . .
Nước dưới cầu
nước vẫn trong xanh
như lòng người dân
lành
. . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . .
Vì sao không thương
lấy nhau
còn gây khổ đau
làm gãy nhịp cầu . . . .
Trịnh-Công-Sơn hồi ấy ở trong appartement [ chung cư ] Nguyễn-Trường-Tộ, phòng
số 11/3, bây giờ là Cà Phê Gác Trịnh do chủ bút Tạp Chí Tinh Văn là nhà thơ
Lê-Huỳnh-Lâm làm chủ để đón mời khách thập phương muốn thăm thấy nơi Trịnh-Công-Sơn
và gia đình nhà văn Hoàng-Phủ Ngọc-Tường từng lưu trú dài năm . Tôi theo Phương
bước lên cầu thang đến một căn phòng, Phương đưa tay đẩy cửa, hình ảnh đầu tiên
tôi thấy là chiếc xe đạp, một cái bàn gỗ, mấy cái ghế mây và phía trong là bức
màng phủ xuống, Phương chẳng ngại ngần đi thẳng vào kéo màng đánh thức
người đang ngủ :
- Anh Sơn ! Dậy đi uống cà phê với bọn em ?
Tôi thấy Trịnh-Công-Sơn nằm trên ghế bố đắp chăn, đầu hướng lên phía nhà
thờ Phủ Cam, giọng anh Sơn còn ngái ngủ đáp
- Hôm qua anh say quá, hai em đi đi . . . :
Trên đường đến quán cà phê ở Bến Ngự, Phương hỏi tôi :
- Mi có muốn làm với bác Trần-Như-Hy kiếm tiền tiêu không
?
- Làm chi ?
- In lụa, đúc mấy mẫu hàng mỹ thuật, tau đang làm nhưng tay chân tau
không chú tâm nên hàng hay bị hỏng.
Thời điểm ấy là ba tháng hè nên tôi đồng ý.
Gia tộc bác Trần-Như-Hy ở đường Phan-Đình-Phùng, bên cạnh là nhà in Thánh-Tâm,
cách chợ Bến Ngự khoảng năm trăm mét. Đó là một gia tộc lớn với căn nhà rường,
sân trước vườn sau rộng thênh thang. Hồi ấy bác Hy làm thư ký ở Viện Đại Học -
Huế, ngoài công việc của ngành giáo dục, bác còn năng khiếu về nghệ thuật nên
bác mở xưởng in lụa, làm những mẫu hàng mỹ thuật cung cấp cho thị trường. Khi
Phương giới thiệu tôi, qua một vài hôm thử việc, bác bằng lòng nhận tôi làm
chính thức.
Ngày ấy bác sĩ Bửu-Châu và Bửu-Tôn, em vợ bác Hy đều ở
trong căn nhà rường quý tộc ấy. Tôi làm công với bác Hy trong ba tháng hè, đến
kỳ đi học buổi nào rảnh tôi có thể lên phụ việc với bác. Kỷ niệm ngày xưa, mỗi
lần nhớ lại thì lòng xao xuyến như mây trời tụ tán. Làm sao quên được anh Trần-Như-Hùng,
con trai trưởng, là bạn học chung lớp với anh tôi ở trường Nguyễn-Tri-Phương,
anh thay bác Hy điều hành mọi việc, thường chở tôi lên Long-Thọ để đổ đồng những
mẫu hàng tôi đúc.
Trai
gái của vợ chồng bác Hy đều là tài sắc của Huế. Làm sao tôi quên được năm tháng
tôi in lụa ở Bến Ngự. Khánh-Trang, em gái của anh Hùng, ngày ấy nàng học trường
Đồng-Khánh, đôi má ửng hồng như hoa đào Đà-Lạt, những chiều nghỉ học nàng hay nấu
chè bắp, khi tôi đang siêng năng làm hàng ở phòng sau ngó ra vườn, nàng thắm
tươi bưng chén chè bắp vào phòng cho tôi nhẹ nhàng nói :
- Anh, anh nghỉ tay ăn chè em nấu đó.
Trời ạ ! Làm sao tôi
không cảm xúc cho được.
Có một buổi trưa tôi đang cặm cụi đổ khuôn đúc, nàng đi học về vô phòng tôi, giọng
nàng hớt hãi nói :
- Anh T. biết không, Trang đi học về,
chút nữa thì Trang té xuống bến sông mà anh hay rửa tay chân đó.
Trước mặt nhà nàng có một bến sông, thường buổi chiều khi xong công việc, tôi
xuống đó rửa tay chân. Dòng sông Bến Ngự, cỏ cây, hoa lá đẹp như một ca khúc và
ca khúc bội phần hay hơn khi trong tim thầm yêu một bóng hình.
Những lời nàng nói đến bây giờ tôi vẫn mãi nhớ như niệm khúc đẹp nhất trong đời
người, có hôm nàng đi học về chưa thay áo quần nữ sinh, vô phòng tôi làm việc,
nàng nói :
- Hồi sáng Trang đi học đang đứng trong sân trương thì Trang thấy anh đi
ngang cổng trường đó.
Khánh-Trang đã để lại trong lòng tôi nhiều thanh sắc mơ ước và tôi
làm thơ . . . đến nay chỉ còn nhớ lại bốn câu :
Khánh-Trang
! Khánh-Trang
tim ta gọi nàng
khắp
trời Bến Ngự
gió chiều mêng mang.
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
Rồi khói lửa chiến chinh cuốn đời tôi đi qua chín khúc đoạn trường,
tôi không còn gặp lại Khánh-Trang nữa. Năm 1985 tôi về Huế tìm Phương, anh
chàng tự nhiên như nhiên ấy bây giờ là bác xích lô thứ thiệt, Phương có nói với
tôi :
- Bữa nớ tau chở Khánh-Trang và bác gái
từ ga về nhà, tau có nói thằng T. ngày ấy thầm yêu nhớ trộm Khánh-Trang.
Ừ ! Thằng bạn mình thay
mình chuyển lời yêu đến với Khánh-Trang như vậy là tốt rồi, bởi lẽ tuổi trẻ thời
học sinh yêu ai chẳng bao giờ dám hé nửa lời.
Sau nầy Phương còn thông tin cho tôi nhiều diễn
biến trong gia đình bác Trần-Như-Hy nữa.
- Trần-Như-Hiển lấy em ruột Trịnh-Công-Sơn
!!!
- Khánh-Trang có người yêu du học ở Nhật,
nàng ở vậy chờ mong !!!
Năm 1992 tôi đang điều hành văn phòng du lịch VYC 8 tại 183 - Võ-Văn-Tần - Q.3
- Sài-Gòn, có lẽ văn phòng tôi là một trong những đường dây đầu tiên đón khách
Tây, khách Mỹ đến Việt-Nam. Thời ấy Cao-Hữu-Điền là Trưởng Phòng hướng dẫn, Điền
bậc thầy đàm thoại cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Khi tôi đón đoàn khách Pháp tại
phi trường Tân-Sơn-Nhất, Điền nói với tôi :
- Ngày
mai mi nên đặt tiệc tại nhà hàng “ Quán Trịnh !!!” ở đường Hai-Bà-Trưng, đó là
nhà hàng của anh em Trịnh-Công-Sơn.
Trưa hôm sau tôi đưa đoàn khách Tây đến nhà hàng ấy. Sau bữa tiệc đãi khách,
tôi ra quầy thanh toán. Trời ạ ! Lạ lùng thay, caissière [thủ quỷ] là
Khánh-Trang, tôi ngỡ ngàng không tin vào mắt mình nữa, chưa dám mở lời, chỉ
nhìn nàng với trang phục màu đen, nàng ngước mắt lên rồi cúi mặt xuống, tôi nói
:
- Trang ! Trang ! Nhớ anh không ?
- Nhớ ! Anh T.
- Sao Trang mặc áo quần màu đen buồn vậy
?
Tôi nhớ mãi ngấn lệ rưng rưng trong mắt nàng trưa hôm ấy.
Tết Canh Tý [2020] tôi về Huế, một buổi sáng dừng chân ở Bến-Ngự đi tới căn nhà
rường của gia đình Khánh-Trang, cửa cổng vòng cung đóng kín, một tấm bảng nhũ
vàng có hàng chữ “ Phủ . . .” tôi nhìn vào, bên trong không một bóng người, chỉ
có những bông hoa hải đường ngày trước vẫn thắm tươi trước sân nhà quý tộc.
Năm 1984 sau một thời gian về sống với ba mẹ, anh em ở quê nhà không được bao
lâu thì máu lang thang nổi dậy, tôi lại tìm về xứ anh đào tạm cư trong nhà vợ
chồng nhạc sĩ Phan-Bá-Chức, làm đủ ngón nghề kiếm sống, quấn thuốc lá, in lụa,
phụ thợ hồ . . .1985 thì về Sài-Gòn sống lây lất nơi nầy nơi kia. Nơi tôi trú
ngụ thường xuyên là kho tăm nhang của chị Sáu Phương, chị người Bến-Tre, nhan sắc
mặn mà, lòng chị như mùa xuân, bốn mùa tươi tốt rộng mở. Ngày ấy Đoàn-Đại-Oanh
là cán bộ to của thành ủy Hồ-Chí-Minh, anh Oanh sinh trưởng ở Bãi-Dâu - Huế, tốt
nghiệp sư phạm Qui-Nhơn sau anh Trịnh-Công-Sơn, ra trường anh dạy ở Tuy-Hòa rồi
đổi lên Đà-Lạt. Năm tháng kỳ hồ ở Sài-Gòn thỉnh thoảng tôi ngủ lại ở nhà anh tại
40 - Cư Xá Tự-Do - Tân-Bình, chị Tâm, vợ anh người Huế có bàn tay nấu bún bò và
làm nem ché, thỉnh thoảng tôi phụ giúp chị giã thịt làm ché, chị thường nói :
- Trịnh-Công-Sơn thích ăn ché chị làm.
Mỗi một hai tuần Trịnh-Công-Sơn đến nhà chơi và lấy ché, nhưng thường là anh
Oanh đem ché cho Trịnh-Công-Sơn.
Năm 1986 tôi làm thủ kho cho cơ sở tăm nhang của chị Sáu Phượng. Tôi đã lăn lóc
qua mười một quận Đô Thành nhưng chưa có nơi nào cây cao bóng cả như rừng lục ở
kho tăm nhang của chị Sáu. Trước 1975 đó là doanh trại của tiểu đoàn lính nhảy
dù Trần-Trung-Hiếu thuộc QLVNCH, chị Sáu Phượng thuê mặt bằng lớn rộng kinh
doanh tăm nhang xuất khẩu qua Singapore và Hồng-Kông. Những năm tháng tôi làm
thủ kho, có lẽ là quảng thời gian yên vui, cảm xúc nhất giữa thời áo cơm là nỗi
khổ của con người.
Chị Sáu Phượng đẹp, tấm lòng rộng lượng, hơn nữa cơ sở ấy còn có vợ chồng Tập –
Kiều-Huệ sẵn lòng đón gió bạn bè khắp nơi, bạn bè tôi từ Huế vào đến kho tăm
nhang tìm tôi, có bạn xin lưu trú dài hạn như Hoàng-Công-Song, Nguyễn-Kiên-Định,
Thu tóc bạc ở Bãi Dâu . . .hằng tháng chị Sáu chở cho tôi một tạ gạo để công
nhân nam nữ nấu ăn trong những buổi làm tăng ca, tôi lấy gạo của chị nuôi bạn
bè tá túc, chị biết nhưng không hề có lời nặng nhẹ.
Vào một buổi trưa tháng 6/1986 tôi đang coi sóc công nhân chẻ nhang thì anh
Đoàn-Đại-Oanh đi vào, theo sau là nhạc sĩ Ưng-Lang, tác giả “ Mưa Rơi “, nhà
văn Lữ-Quỳnh và anh Trịnh-Công-Sơn. Tôi ngạc nhiên vội vã trải chiếu mời các
anh ngồi, rồi vội vã đạp xe ra ngã ba Ông Tạ mua thịt chó, đậu phụng và mấy lít
rượu Gò Đen. Tôi bày biện ly cốc, mồi nhắm. Trịnh-Công-Sơn nhìn xuộng dĩa thịt
chó nhẹ nhàng nói :
- Moi không ăn được thịt chó.
Đoàn-Đại-Oanh nói :
- Mình cũng không ăn được.
Chúng tôi đang cụng ly nâng cốc trò chuyện thì có công nhân vào gặp tôi nói :
- Anh T. chị Sáu gọi anh.
Tôi đi ra gặp chị, chị nói :
- Chú ! Chú quen anh Trinh-Công-Sơn à ! Chị mê nhạc của anh lắm nhưng sao
chú đãi anh Sơn tội nghiệp vậy, chú mời anh Sơn tối nay lên nhà chị, chị có rượu
Ararat . . .
Tôi nói :
- Chị vào với em mời anh.
Chiều tối hôm ấy Đoàn-Đại-Oanh dẫn Trịnh-Công-Sơn và nhà thơ Lê-Nhược-Thủy đến
nhà chị Sáu ở đường Cao-Thắng. Chưa bao giờ tôi thấy chị Phượng hân hoan đến thế,
rượu Ararat và mồi nhắm chẳng khác nào một bữa tiệc sang trọng. Rượu uống một
vài chung, Trịnh-Công-Sơn hỏi chị Sáu :
- Cô Phượng có cây đàn không ?
- Dạ ! Có ạ !
Rồi chị lên lầu trên lấy cây đàn.
Trịnh-Công-Sơn so giây rồi nói :
- Bài nầy moi mới làm cách đây ba hôm.
Anh cất tiếng hát : “ Đêm chong đèn ngồi nhớ mẹ và câu chuyện
ngày xưa, mẹ về đứng dưới mưa che đàn con không ngủ . . . “
Những ca khúc trước năm 1975 đã tạo nên thiên tài Trịnh-Công-Sơn, những ca khúc
ấy cảm xúc từ “ Một Tâm Thức Sáng Tạo “ nên đi rất mau vào lòng người của mọi tầng
lớp, còn những bản nhạc sau 1975, Trịnh-Công-Sơn cho ra đời từ “ Một Ý Thức
Sáng Tác “ nên hai phương trời thật khác nhau .
{ Trích từ hồi ký “ Chuyện
Đời Tôi “ }
. . .Thập niên 1960 tên
tuổi Trịnh-Công-Sơn đã là hiện tượng kỳ lạ trong nền âm nhạc Việt-Nam. Nhạc của
ông là một cõi riêng, không ảnh hưởng bất cứ nhạc sĩ tài hoa nào trong nước
cũng như trên thế giới, nhất là ca từ, là cả hồn thơ ẩn hiện triết lý nhân
sinh.
Thủa ấy trong thành nội - Huế có quán cà phê “ VĂN “ chủ nhân là nhà thơ Huyền-Kỳ,
ngồi ở quán bên ly cà phê đen với khói thuốc Bastos, Capstan . . .để thưởng thức
nhạc Trịnh-Công-Sơn qua hồn ca Khánh-Ly thì bao nhiêu lo âu, khói lửa chiến
chinh như có một bàn tay ấm nồng vỗ về an ủi.
Phương-Xích-Lô và tôi mỗi khi túi có năm đồng ba trự thường vào “ Quán VĂN “ ngồi
suốt buổi. Có thể nói bằng hữu của Trịnh-Công-Sơn thời ấy là thế hệ vàng của
non nước “ Thần Kinh “. Cõi thơ có thi sĩ Ngô-Kha, Trần-Vàng-Sao, Lê-Văn-Ngăn,
Thái-Ngọc-San . . .Hội họa có Đinh-Cường, Bửu-Chỉ, Lê-Văn-Tài, Hoàng-Đăng-Nhuận
. . .Tất cả những bậc tài hoa ấy đều là bạn thân của nhau được người xứ Huế
cũng như khắp nơi yêu mến, kính trọng, bởi suốt đời họ hiến dâng cho nghệ thuật
chẳng màng gì khác.
Năm 1988 sau thời gian
làm thủ kho thì tôi xin chị Sáu Phượng nghỉ việc để mở cơ sở sản xuất tăm nhang
qua tham mưu của Đoàn-Đại-Oanh, tôi thuê mặt bằng ở Phương Linh-Xuân, Quận Thủ-Đức.
Tôi thường lên Tỉnh Bình-Phước thuê người Thượng chặt lồ ô chở về Sài-Gòn vừa sản
xuất vừa bán. Tỉnh Bình-Phước nơi có núi Bà-Rá mà năm 1968 trong tạp chí “ Mã
Thương “ có đăng bài thơ “ Một Thế Kỷ Mấy Vần Thơ “ của T-P, sau nầy tôi mới biết
đó là bút hiệu của nhà thơ Truy-Phong, hồi ấy tôi thuộc gần hết cả bài thơ dài
hơn cả trăm câu :
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Anh đày Bà-Rá Côn-Sơn
Anh dọa Sơn-La Lao-Bảo
Anh đoạt hết cơm hết áo
Anh giựt hết bạc hết vàng
chặt đầu ông lão treo hàng thịt
mổ mật
thanh niên giữa chiến trường
.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Bà-Rá là ngọn núi cao duy nhất trên núi rừng tỉnh Bình-Phước, ở nơi ấy giặc
Pháp đã xây dựng nhà tù đày đọa những người yêu nước.
Một ngày tôi thả bộ ở thị trấn Phước-Bình thấy một quầy sách báo bên đường, tôi
ghé vào mua mấy tờ báo. Trời ạ ! Chủ quầy báo là nhà thơ Huyền-Kỳ, tôi sửng
sốt hỏi :
- Anh Huyền-Kỳ ! Sao anh lưu lạc
vào đây ?
Anh cười cười, tính tình
vẫn hiền lành như ngày trước :
- Ừ ! Thì anh rời khỏi Huế đi kinh
tế mới, sách báo ở bến xe miền Đông trưa trưa chở lên, vợ con hằng ngày đi
làm nương rẫy.. .
Nhà thơ Huyền-Kỳ thời nào
cũng thân thiện, những bài thơ của anh tôi chỉ còn nhớ hai câu :
Tiếng gà đã rộn trong
thôn
con thuyền còn buộc đợi
chờ ai đây ?
Cơ sở tăm nhang của tôi chỉ tồn tại hơn một năm thì phá sản, ngày ấy thủ kho là
Lê-Văn-Chương, bạn tôi người ở Truồi lưu lạc vào Sài-Gòn kiếm sống. Giải quyết
xong công nợ, Chương và tôi về tạm trú ở chùa Châu-Long, Bà-Chiều, Q. Bình-Thạnh
của nhà báo Hồ-Đề, ngày ngày bữa đói bữa no, hai đứa đi chung một đôi dép và
cũng thời gian ấy tôi đã dịch tác phẩm Sea-Wolf [Sói Biển] của Jack-London
thành The Ghost-Ship [Con Tàu Ma] mà năm 2011 Nhà Xuất Bản Thuận-Hóa đã cấp
phép để in và phát hành.
Thời gian tôi điều hành Văn-Phòng Du-Lịch VYC 8 ở Võ-Văn-Tần – Q.3 – Sài-Gòn từnăm
1991 – 1995, bạn bè khắp nơi thường tìm đến. Anh Trịnh-Xuân-Hà, sĩ quan QLVNCH,
em ruột Trịnh-Công-Sơn, là một võ sư cao cường, tam đẳng, nhị đẳng, thỉnh thoảng
đến rủ tôi đi ăn sáng, uống cà phê . .anh thích hút thuốc Dunhill, nhiều lần
anh ngỏ ý tôi đến nhà chơi thăm anh Trịnh-Công-Sơn.
Vào một buổi sáng tôi và Lê-Hữu-Khanh [Trung Tá PA, cố vấn của tôi] đến 47c –
Phạm-Ngọc-Thạch. Trịnh-Xuân-Hà vui vẻ đón chào, sáng ấy Dương-Đình-Vinh, anh ruột
của họa sĩ Dương-Đình-Sang cũng đã có mặt, anh Trịnh-Xuân-Hà nói :
- Anh Sơn còn ngủ để mình vào xem anh dậy
chưa. Lúc ấy là gần 9g sáng, một lát sau anh Sơn đi ra nhẹ nhàng chào hỏi.
Trà, cà phê anh Hà tiếp khách đầy đủ. Tôi ngồi cạnh anh Trịnh-Công-Sơn,
chiếc quần tôi mặc mà vợ tôi may giống màu sắc PA của Lê-Hữu-Khanh, anh
Sơn hỏi nhỏ tôi :
- Toi ! Toi ! cũng ở bên đó à ?
Không hiểu ma xui quỷ khiến
thế nào mà tôi gật đầu, tự nhiên giọng anh Sơn có phần tỉnh táo hơn, có lẽ anh
không ngờ một thằng lang thang bất biết như tôi mà cũng là PA.
Thời nhà thơ Lê-Văn-Ngăn [1943 – 2015] còn tại thế, nhiều khi chúng tôi ngồi ở
quán bên đường với một vài chai rung rinh, Lê-Văn-Ngăn thường kể cho tôi nghe
nhiều giai thoại về Ngô-Kha, Thái-Ngọc-San . . .riêng Trịnh-Công-Sơn thì có những
câu chuyện thú vị như thế nầy thời Trịnh-Công-Sơn ở Qui-Nhơn theo học Trường
Sư-Phạm.
Qui-Nhơn, cõi đất của hồn
thiêng sông núi, bao nhiêu bậc tài hoa, anh kiệt đều tìm đến và để lại tác phẩm
lưu danh cho hậu thế. Giọng của Ngăn lúc nào cũng chậm rãi, thiệt lời, Ngăn kể :
« Ở Qui-Nhơn thời ấy
có một Đại Ca Thay [ Thành Đầu Bò ] bảo kê cho những quán bar, quán cà phê . .
.rất mê nhạc Trịnh-Công-Sơn thường khoe với đàn em rằng : « Tụi bây
biết không ! Trịnh-Công-Sơn sáng tac` bài « Diễm Xưa « . .
.mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ . . .là hình ảnh mưa rơi trên tháp Chàm của
Qui-Nhơn đó. »
Thủa ấy Trịnh-Công-Sơn thích lặng lẽ một mình tìm đến quán cà phê Tuyết -
Nhung, Phi-Điệp ngồi bến ly cà phê đen với khói thuốc, ông thường vào quán
không chào ai, hỏi ai, chỉ tìm một bàn vắng nhìn trời, nhìn đất, cảm xúc với cuộc
đời. Về lâu, về lâu, Thành Đầu Bò thấy ông nầy cứ một mình xuất hiện mãi đâm
gai mắt. Bữa nọ Đại Ca Thay của đất Bình-Định sai đàn em đến lột cặp kính ông
đang đeo, không biết ông Sơn khi ấy phản ứng thế nào, có lẽ ông lặng lẽ bỏ ly
cà phê còn bốc khói bước ra khỏi quán.
Không biết sau nầy có ai nói với Thành Đầu Bò con người lặng lẽ uống cà phê một
mình đó là nhạc sĩ Trịnh-Công-Sơn. Thành Đầu Bò rụng rời tay chân vội vã sai
đàn em đi khắp Qui-Nhơn hỏi cho ra nơi ở của Trịnh-Công-Sơn, rồi vội vã tìm đến
vô cùng tạ lỗi để trao lại cặp kính. «
Ở miền biển quê tôi có
anh Lê-Đức-Liêm, hiện nay ở Phú-Diên, H. Phú-Vang/TT-Huế, anh yêu thích văn học,
kiến thức rộng. Mỗi năm tôi về thăm quê, thỉnh thoảng ngồi với anh bên dòng phá
Tam-Giang, uống vài chai bia, mặn mà với cá mực của biển. Anh kể cho tôi những
kỷ niệm với Trịnh-Công-Sơn thời anh vào Qui-Nhơn trọ học. Anh nói :
« Từ năm 1963 anh
đã vào Qui-Nhơn trọ học ở nhà sách Đại-Chúng - Đường Gia-Long, những lúc nghỉ học
anh thường ra bán sách, Trịnh-Công-Sơn hay đến nhà sách tìm mua những tác phẩm
văn học, đặc biệt là những tác phẩm viết về hai thiên tài Mozart và Beethoven.
Anh thấy cậu bé đồng hương hiếu học nên rất mến thương. «
Theo lời anh Liêm thì trước
khi rời Qui-Nhơn Trịnh-Công-Sơn có tặng cho anh một tập nhạc in Ti-Pô được anh
sáng tác ở Qui-Nhơn trong ấy có bài « Biển Nhớ « nổi tiếng sau nầy
Trong hồi ký của anh Lê-Đức-Liêm, anh nhớ lại :
« Hồi ấy ở Qui-Nhơn có Trường Sư-Phạm đào tạo giáo viên dạy lớp
nhì, lớp nhất bậc tiểu học Theo học trường nầy có nhiều anh chị ở Huế vào.
Thời điểm ấy rất ít người Huế vào làm ăn sinh sống, có thể chỉ đếm được trên đầu
ngón tay, vả lại Qui-Nhơn còn là một thị trấn nhỏ cho nên chúng tôi dễ quen biết
nhau mà chẳng cần quan tâm xuất thân từ thành phần xã hội.
Trong số giáo sinh [ sinh viên sư phạm hồi ấy ] thường đi lại hiệu sách rồi từ
đó quen thân với chúng tôi có hai anh là Trịnh-Công-Sơn và Thân-Trọng-Thầm, đặc
biệt là anh Sơn, anh vừa là giáo sinh vừa phụ đạo âm nhạc cho trường. Vì vậy
anh rất cần nhiều sách âm nhac cả trong và ngoài nước để nghiên cứu giảng dạy [
phần nhiều là mượn xem tại chỗ, chứ ít khi mua, mà tiền đâu các anh ấy có nhiều
mà mua ] đa số các sách anh yêu cầu nếu có tôi đều tìm cách đáp ứng, kể cả tìm
cách cho anh mượn mang về. Đổi lại chiều thứ bảy, ngày chủ nhật anh thường đến
chơi dạy kèm tôi và nhận thư từ của nhà nếu có. Sau nầy khi anh ra trường và
tôi cũng về Huế. Thỉnh thoảng anh đi bát phố với nhóm bạn của anh như họa sĩ
Đinh-Cường, họa sĩ Lê-Văn-Tài, Tôn-Thất-Văn . . .mỗi lần gặp anh, anh chào hỏi
rất ân cần, niềm nở.
Anh xuất bản tập mười bài du ca có đề tặng tôi một tập. Tuy chẳng hiểu gì về âm
nhạc song tôi rất trân trọng gìn giữ. Đáng tiếc sau nầy cậu bạn tôi hỏi mượn mà
không hoàn lại.
Sau giải phóng, khoảng đầu năm 1976, tôi tình cờ gặp anh một cách chớp nhoáng tại
bến tàu Đá Bạc, H. Phú-Lộc/TT-Huế, anh giương hai mắt sau cặp kính cận to quá
khổ nhìn trân trân vào tôi, hình như anh cố lục tìm trong ký ức về tôi. Sau một
thoáng ngỡ ngàng chúng tôi đã nhận ra nhau qua vài câu hỏi thăm không đầu không
cuối, hai chúng tôi phải vội vã giã từ vì tàu sắp rời bến . . .
Tôi không ngờ đó là lần gặp anh cuối cùng. »
Tôi may mắn được gặp anh lần cuối khi văn phòng du lịch của tôi đóng cửa đã
lâu, Cao-Hữu-Điền làm hướng dẫn viên ở công-ty lữ hành khác. Sáng hôm ấy Điền
rũ tôi đi uống cà phê ở Givral đường Đồng-Khởi [ Tự-Do xưa ]. Mới vào quán thì
tôi thấy Trịnh-Công-Sơn và họa sĩ Hoàng-Đăng-Nhuận đang thân tình trò chuyện
bên khói thuốc. . .
Còn Phương-Xích-Lô tôi gặp lần sau cùng là vào năm 2000. Võ-Văn-Nhân người đạp
xích lô thường chở Bùi-Giáng rong rêu khắp đô thành đã chở Phương đến thăm tôi ở
Q.Tân-Bình. Bên cốc bia tôi nói với Phương rằng :
- Thiên hạ nói Phương điên nhưng
mi điên gì mà điên, cái điên của mi là bệnh làm thi sĩ.
Phương trả lời:
- Thằng T. nói đúng.
Còn họa sĩ Bửu Chỉ, vào đầu
năm 2002 tôi về thăm Huế, buổi sáng hôm ấy tôi chở con tôi vào hoàng thành Huế
thì gặp Bửu-Chỉ ở cửa Ngăn, họa sĩ đi xe Cha-lie, Chỉ ngạc nhiên hỏi:
- Mi ra khi mô?
- Ra Huế bốn năm hôm rồi!
- Ra thì ghé liền chớ! thôi qua
Thiên Đường uống cà phê.
Ngồi ở quán tôi nhìn Bửu Chỉ
thầm nghĩ «Mập quá, cái cổ căng ra đỏ hồng...»
Và tháng 6/2002 sau cơn lưu linh Phương-Xích-Lô đã nhảy xuống dòng sông ở Quảng-Trị tìm trăng giữa ban ngày. Cùng tháng 12 năm ấy, Bửu Chỉ cũng đã «Một Cõi Đi Về» sau Trịnh Công Sơn hơn một năm.
Viết về nhạc của Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Văn Cao đã lưu lại cho hậu thế những lời
vàng ngọc nầy:
«... Bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ... trong âm nhạc của Sơn ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc học Phương Tây, Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra...»
Ngày Trịnh Công Sơn giã từ cõi tạm, Bửu Chỉ đã từ Huế bay vào Sài-Gòn tiễn biệt,
sau nầy ông đã để lại những dòng cảm xúc nầy :
« . . . Tôi lặng
lẽ đi vào phòng khách ở tầng dưới, thấy Sơn vẫn nằm đó. Một tấm mền Quang-Minh
phủ kín hình hài Sơn từ đầu đến chân. Khoảng ở nơi mặt có một đóa hoa sen, ở giữa
hoa sen có chữ "A U M" [chữ Phạn} mang ý nghĩa của sức mạnh tâm
linh và sự giải thoát. Sơn nằm trong sự che chở của Phật A Di Đà.
... tôi ngồi xuống chân
cầu thang, nhìn Sơn nằm đó, đầu óc tôi trống rỗng, đôi khi muốn khóc nhưng chẳng
khóc được. Nhiều lần tôi định lật tấm mền để nhìn mặt Sơn lần cuối, ngại người
trong nhà nên lại thôi.
Mãi đến gần tối khi những người em của Sơn ở Canada từ phi trường về, lật tấm mền
Quang Minh ra xem rồi lăn ra khóc, khi ấy tôi mới thấy được mặt Sơn. Tôi cầm
bàn tay tài hoa nay đã giá lạnh và thầm nói mình đến với Sơn đây...
Hình hài Sơn như Chúa vừa mới được bế từ Thánh Giá xuống và đặt trong tấm vải
liệm. Sơn như thanh thản ngủ nhưng trán có hơi cau lại một chút...
Hôm sau tôi đến viếng Sơn một vòng hoa rồi ngồi lẫn với đám bình dân vô danh mến mộ Sơn. Đám người nầy trung thực, chất phác và thủy chung. Tôi thấy có cả những người hát xẩm ăn mày mù, hôm ấy áo quần cố gắng tươm tất, mang theo một cây guitare đến viếng rồi xin hát một bài của anh Sơn để đưa anh Sơn đi. Đông lắm, đông lắm, có thể nói là không kể xiết, đủ mọi tầng lớp nhân dân...».
[Trích từ Hồi Ký – Chuyện
Đời Tôi]
29/4/2021
Vương Kiều
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét