Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Dư Thị Hoàn ký tên vào bài thơ thần

Dư Thị Hoàn ký tên vào bài thơ thần

Tan vỡ
Mở ngăn kéo rồi anh bỏ ngỏ
Bút viết xong không đậy nắp bao giờ
Ôi anh yêu, lơ đãng đến là
Con nai rừng của em…
Tất cả rồi dễ qua đi, qua đi
Chúng mình sẽ thành chồng vợ
Nếu không có một lần
Một lần như đêm nay
Sau phút giây
Êm đềm trên ghế đá
Anh không cài lại khuy áo ngực cho em.
Dư Thị Hoàn
(In trong tập thơ Lối nhỏ - nxb Hải Phòng 1988)
Góc nhìn về nữ quyền
Tiếng nói nữ quyền trong thơ Việt đã đi cả chặng đường dài. Độc giả từng bắt gặp sự lắt léo, ý nhị trong ngôn ngữ thơ Đoàn Thị Điểm, vẻ quý phái, khuôn phép trong thơ Bà Huyện Thanh Quan và sự đanh đá, thách thức trong thơ Hồ Xuân Hương. Đến phong trào Thơ Mới, tiếng nói nữ như Anh Thơ, Hằng Phương, Ngân Giang mới dám thổ lộ về tình yêu, song cái "tôi" ấy, về căn bản vẫn chỉ là tiếng nói bổ sung, vận động trên cái nền chung của nam quyền.
Sang giai đoạn chiến tranh và sau chiến tranh, tiếng nói nữ đạt đến độ chín muồi, đậm đặc trong thơ Xuân Quỳnh. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào căn cốt, cái “tôi” vẫn trong quỹ đạo truyền thống của sự thủy chung, tôn thờ người đàn ông, gắn liền với những âu lo, phấp phỏng, nhẫn nại và chờ đợi.
Các nhà thơ nữ sau Đổi Mới đang khẳng định vị thế bằng tiếng nói của mình trong không gian tự do hơn so với thế hệ trước, ít chịu ràng buộc bởi lễ giáo. Tính nữ quyền càng ngày càng đa dạng. Trong dòng chảy đó, chúng tôi chọn Tan vỡ của Dư Thị Hoàn như một cột mốc về ý thức nữ quyền để phân tích.
Cơ chế nghệ thuật
Càng đi sâu vào Tan vỡ, chúng tôi càng bối rối, bởi bài thơ gần như không có gì để phân tích. Không niêm luật, không ẩn dụ, không hình ảnh ước lệ. Các câu thơ như câu văn xuôi, đi từ ngoại cảnh vào thẳng tâm cảnh.
Khổ thơ đầu tập trung vào nhân vật "anh" bằng những chi tiết đời thường chưa từng gặp trong thơ ca như: ngăn kéo bỏ ngỏ, bút không đậy nắp. Nhưng chính những thứ lặt vặt ấy lại khắc họa chính xác một đặc tính cố hữu của đàn ông là sự tuềnh toàng, cẩu thả.
Tuy nhiên, trước một người đàn ông như thế, nhân vật "em" vẫn yêu tha thiết. Chị sẵn sàng bỏ qua, thậm chí bao dung cho sự cẩu thả ấy như một nét đẹp nam tính của người mình yêu: “Ôi anh yêu, lơ đãng đến là ... / con nai rừng của em”. Rõ ràng, sự tuềnh toàng, cẩu thả của anh đã được chị thanh minh, rằng đó chỉ là sự “lơ đãng” và còn đáng yêu như “con nai rừng”. Một tình yêu đôi lứa rất đẹp. Nếu ở Thơ Mới, Lưu Trọng Lư thi vị hóa con nai thành “con nai vàng” thì ở đây, con nai thuần túy là con nai rừng. Toàn những chi tiết hình ảnh không thơ nhưng chính cái "không thơ" ấy bắt đầu có tiếng nói.
Tiếng nói ở khổ thơ thứ hai thấm vào độc giả bằng lý lẽ nhẹ nhàng: “Tất cả rồi dễ qua đi, qua đi/ Chúng mình sẽ thành chồng vợ”. Tức là nhân vật “em” đã ý thức được rằng mối tình này sẽ đi đến hôn nhân. Người đàn ông của chị dù có cẩu thả, tuềnh toàng hay vô tâm một chút cũng không sao, không phải là điều để cân nhắc, đắn đo.
Thế nhưng mọi sự nghẹn lại: “Nếu không có một lần / Một lần như đêm nay”. Cái “một lần” được lặp lại báo hiệu việc quan trọng sắp xảy ra. Đó là: “Sau phút giây/ Êm đềm trên ghế đá”, cái phút giây thiêng liêng nhất đối với người phụ nữ khi hiến dâng trọn vẹn cả thể xác lẫn tâm hồn cho người mình yêu. Thì hành động vô tâm của người đàn ông: “không cài lại khuy áo ngực cho em” đã thay đổi hoàn toàn cục diện. Đến đây, nhân vật “em” mới thực sự tan vỡ vì cách hành xử của người mình yêu.
Tác giả không diễn tả sự tan vỡ trong nội dung bài thơ, nhưng tan vỡ mới chính là cái kết của tác phẩm chứ không phải là câu thơ cuối. Khoảng trắng giữa câu thơ cuối với tên bài thơ tạo ra sự bùng nổ cho toàn bài, bởi nó kết lại thành một chủ đề, vì đó cũng là tên bài thơ.
Lúc này, các chi tiết ở khổ thơ đầu như ngăn kéo bỏ ngỏ, bút không đậy nắp mới bật lên ý nghĩa cùng với “không cài lại khuy áo ngực”. Độc giả mới nhận ra cách hành xử của nhân vật “anh” với nhân vật “em” giống như cách anh ta hành xử với đồ vật. Đó là lý do mà nhân vật "em" tan vỡ ngay sau giây phút lãng mạn của tình yêu và họ không thể “thành chồng vợ”.
Chúng tôi cho rằng người phụ nữ trong Tan vỡ đã chọn cách hành xử đúng đắn nhất đời mình. Bởi chỉ có sự trân trọng nhau thì tình yêu mới có thể đi xa, mới có thể vượt qua những giông bão cuộc đời. Khi thiếu đi sự trân trọng đó, tình yêu chỉ là cái cớ cho những ràng buộc tiếp theo đối với người phụ nữ.
Cực hạn thẩm mỹ
Cực hạn thẩm mỹ mà Tan vỡ đạt được đó là nó đã giúp phụ nữ giành lại hai quyền tự do căn bản nhất mà hàng thế kỷ qua bị tước đoạt: quyền tự quyết đối với cơ thể mình và quyền chủ động kết thúc một mối quan hệ để bảo vệ phẩm giá. Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu rộng của Nho giáo, người phụ nữ bị xếp sau người đàn ông, họ phải “công, dung, ngôn, hạnh”, phải chấp nhận tam tòng, tứ đức. Tan vỡ chính là tiếng nói nữ quyền chạm đến cực hạn thẩm mỹ ấy.
Khi phân tích thơ, chúng tôi thường chú ý đến sự dụng công của tác giả, nhưng Tan vỡ lại được kể theo lối tuyến tính, dung dị và dễ tiếp nhận, không có câu thơ nào trúc trắc cần phải giải mã. Dù khoảng trắng giữa câu cuối và tên bài thơ tạo ra một sự bùng nổ nghệ thuật, hay logic liên kết của các chi tiết như ngăn kéo bỏ ngỏ, bút không đậy nắp cùng với không cài lại khuy áo ngực có thể coi là dụng công, thì chúng vẫn hòa hợp một cách kỳ lạ với chất tuyến tính của toàn bài. Bởi vậy, chúng tôi gần như không thấy dấu vết của người thợ trong tác phẩm. Chính cái tự nhiên đến mức giản dị ấy làm nên khác biệt lớn. Thêm nữa, chúng tôi cũng không tìm thấy sự kế thừa về tư tưởng hay thi liệu từ thơ ca trước đó. Thậm chí, chúng tôi có cảm giác rằng vào một ngày đẹp trời, bỗng có một cơn gió ào qua, mang theo một tờ giấy đã ố vàng theo năm tháng bay đến tay Dư Thị Hoàn. Trên tờ giấy ấy đã viết sẵn bài thơ Tan vỡ. Bà chỉ việc cầm lên, đọc, ký tên mình rồi gửi đăng báo.
Với một tác phẩm hiếm hoi, đạt cực hạn thẩm mỹ mà không để lại dấu vết dụng công hay kế thừa, cho phép chúng tôi kết luận đây là một bài thơ thần. Kiệt tác thì thời nào cũng có, nhưng thơ thần là một trường hợp đặc biệt. Nó xuất hiện không phụ thuộc vào thời cuộc, không theo nhân - quả để có thể suy đoán. Sau Tan vỡ, chính tác giả cũng không thể vượt qua được cái bóng của nó, đồng thời còn làm khó những người đến sau. Điều này cho thấy Tan vỡ không đơn thuần là thành quả của lao động nghệ thuật, mà là một tác phẩm xuất thần, bùng nổ sau hàng thế kỷ bị áp đảo bởi nam quyền.
Nhà thơ Dư Thị Hoàn tên thật là Vương Oanh Nhi, sinh năm 1947 tại Hải Phòng, quê gốc ở Trung Quốc. Thông tin mà chúng tôi có được hiện bà đang sống tại Đà Lạt. Bài thơ Tan vỡ in trong tập thơ Lối nhỏ (1988) gây nhiều tranh cãi từ khi được bố.
Tp.HCM, 23/9/2026
Thy Sinh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

"Ánh sáng và Bóng tối trên châu Âu": Giải mã nỗi thất vọng của một nhà nhân văn

"Ánh sáng và Bóng tối trên châu Âu": Giải mã nỗi thất vọng của một nhà nhân văn Liên tục trong những năm gần đây, tên tuổi Stefa...