Thứ Năm, 24 tháng 9, 2026

Miền yêu

Miền yêu

TIẾNG TRÀM
Xa Đất Mũi đã lâu nhưng không sao quên được mùi hương ngai ngái của sa bồi. Cả một vùng nước non nồng nàn hương đất. Phù sa non ngút ngát tươi rực vừa rười rượi vừa chan chứa như da thịt của ai. Và tiếng tràm rộn rã trong đêm.
Khi đó đang mùa xuân chiếc vỏ lãi chạy dọc theo những con kinh hai bờ được đan bện bằng rễ đước như thể muôn ngàn chú trăn quấn quýt như thể muôn ngàn cánh tay thiếu nữ thánh thiện vươn lên. Chúng tôi đi trong cảm xúc vô cùng mới mẻ. khí xuân dương thịnh thấm nhuần trời đất. Đất đai nồng ấm cá tôm tung tăng hào hứng cây cối đâm chồi nảy lộc tốt tươi. Quả là đất mới sức trẻ dồi dào.
Chưa khi nào tôi cảm nhận cái tình bờ cõi chơi vơi mà sâu lắng như ở nơi đây. Tổ quốc như thực như mơ như hiện hữu như bảng lảng hơi sương. Đêm ấy ngủ lại Đất Mũi suốt đêm nghe đất đai rạo rực sinh sôi nảy nở nghe cây cối kết nụ đâm chồi nghe nhịp điệu châu thổ hào hứng như vô vàn cánh tay thiếu nữ phơi phới vươn lên.
Trong nhịp điệu truyền giống thiêng liêng ấy chốc chốc lại ken két vang lên tiếng tràm. Vâng đó là tiếng kêu rộn rã và thắc thỏm của những thân tràm sàn nhà. Sáng dậy, chị chủ nhà - trẻ trung tràn trề, mẹ của hai cháu bé khác cha - hồn nhiên phân trần: đã lâu không có hơi đàn ông trong nhà đêm rồi nghe hơi mấy ảnh không sao ngủ được. 
Bao năm rồi mỗi khi chạnh nhớ phương nam nhớ vùng đất mang mang sa bồi chẳng hiểu sao tâm trí lại vang động tiếng tràm. Lại rạo rực và tưng bừng tiếng tràm. Và cũng chẳng hiểu sao tự dưng lại bồi hồi phấn chấn và hào hứng.
SÔNG ĐÁY
Chẳng hiểu vì lẽ gì thỉnh thoảng tôi lại trôi dạt về bên sông Đáy. Nơi bờ đê mướt xanh cỏ may. Nơi thấp thoáng thâm thẫm những Hoa Sơn, Vân Đình, Sơn Công và Cao Thành... Nơi rưng rưng những khóm trinh nữ ẩn hiện trong hoàng hôn buồn và đẹp đến... rớt nước mắt. Nơi định mệnh chỉ còn lại tôi và nàng trong cõi nhân gian bé tẹo.
Đấy là tôi trôi về trong mơ hay trong hiện thực ảo. Thực ra tôi mới chỉ một lần tới đó trong hoàng hôn lam thẫm và lộng lẫy cành trinh nữ tím ngát một xa xôi ngoài cõi người. Đấy là sông Đáy của tôi sông Đáy của ai tốt tươi buồn và ngân nga: “anh đã hứa với em rồi đấy nhá”.
Đấy là tôi đã bồng bềnh trôi dạt về theo một nẻo xa xăm đầy hân hoan và vô vọng. Nước non trù mật vĩnh hằng đời người hắt hiu thoáng chốc. Gặp gỡ như nợ duyên chia ly như định trước. Bông trinh nữ mỏng manh ám ảnh thổn thức trong sóng nước ráng chiều. Tôi và nàng trong cõi nhân gian và sông Đáy bao giờ cũng dào dạt phả lên hơi thở nồng ấm vừa sắt son vừa mong manh: “anh đã hứa với em rồi đấy nhá”.
THÀNH TUYÊN
Tôi đang đứng trước thành cổ Tuyên Quang. Cây gạo cổ thụ bên bờ thành như thể linh hồn cha ông hiển hiện và sống động. Ai đã một lần ở Hà Nội nói với tôi về cây hoa gạo này. Lần ấy hình như ai thiếu nữ hình như tôi trai trẻ. Và hình như đã lâu lắm rồi.
Thành cổ dây leo quấn quýt. Ngỡ núi rừng vương vấn đâu đây. Ngày ấy nghe ai kể về thành cổ cứ tưởng thành cao hào sâu lẫm liệt hùng vĩ giặc đến chỉ đứng ngoài nhìn vào mà khóc. Hoá ra thành cũng vừa phải. Nhìn thành cổ chiều núi non sương khói lãng đãng tự dưng xót xa chạnh lòng man mác.
Lần theo câu chuyện xưa tôi ra bến sông Lô. Sông đang mùa nước cạn. Lơ thơ nước sông trong vắt. Đôi bờ heo hút. Lau trắng phau. Mấy con thuyền không buồm lững thững xuôi dòng. Sao cứ ngỡ những con thuyền mỏng mảnh kia đang trễ nải chở tâm tư của mình vật vờ trôi vô định trong cõi nhân gian.
Thành Tuyên trong câu chuyện thời thiếu nữ của ai trong rung động thời trai trẻ của ai hương hoa rừng ngào ngạt. Đồi núi bạt ngàn xanh mướt. Những bông hoa gạo nóng hổi. Những dây leo lộng lẫy. Những viên gạch cổ rêu phong thiêng liêng... và sông Lô tưng bừng. Sông Lô dào dạt sóng nước. Thành Tuyên chắc hẳn vẫn thế thôi. Có phải chỉ vì tôi một mình mà tìm không ra cái thành Tuyên ấy. Hay còn vì một lẽ nào.
SƯƠNG
Lần nào qua Kinh Bắc tôi cũng nấn ná tìm ngôi nhà ngói thấp lè tè cũ kỹ nơi phố xưa. Lần nào cũng không thấy ngôi nhà có cây phượng già nua trước cửa, có mái ngói xệ xuống rêu phong cổ kính. Và, lần nào cũng bất thần gặp sương chiều. Sương xanh vô cùng dịu dàng vô cùng và chẳng hiểu sao bao giờ cũng lành lạnh hiu hắt.
Người con gái ấy về Hà Nội thăm tôi vài lần. Nàng đến thoáng chốc tự nhiên và bí hiểm. Tôi không hề có một chút rung động nào về nàng, không hề có một chút cảm xúc nào về nàng. Nàng là sinh viên. Tôi là nhà khoa học. So với tôi, nàng chỉ là trẻ con. Nàng tự do hồn nhiên và vô tư. Tôi phải đạo mạo và đứng đắn. Nàng là thiếu nữ. Tôi đã có vợ có con. Tôi càng phải đạo mạo và đứng đắn hơn. Nàng đến nhà tôi gọi con tôi bằng em và xưng chị. Nàng gần gũi như người nhà. Rõ ràng tôi phải nghiêm túc.
Nàng muốn trở thành nhà báo. Tôi định giúp. Nhưng bố mẹ nàng không muốn con gái đi xa, muốn nàng làm giáo viên gần nhà. Là con nhà gia giáo, nàng phải nghe bố mẹ. Nàng làm giáo viên của trường phổ thông trung học nơi phố núi gần nhà. Sau khi làm xong thủ tục ở nơi công tác, nàng gọi điện cho tôi, nàng nói hồi hộp toàn những chuyện đâu đâu, tôi chẳng hiểu gì chỉ nhớ một câu: “Em không bao giờ quên anh“. Tôi chột dạ, băn khăn. Từ đó nàng không về thăm gia đình tôi nữa.
Thực tâm tôi cũng không nhớ nàng. Đời con người ta có biết bao gặp gỡ. Nhưng chẳng hiểu sao mỗi lần qua Kinh Bắc, tôi lại nấn cấn tìm ngôi nhà núp xúp phố cổ xưa, cây phượng già xưa, nấn cấn nhớ bóng dáng dịu dàng mềm mại và kín đáo, nhớ mắt đen huyền lay láy bất chợt nhìn mình lúng túng, nhớ giọng nói khẽ khàng trong trẻo và rụt rè, nhớ những bãi ngô non những vạt dâu xanh mươn mướt, nhớ dòng sông nước chảy lơ thơ rười rượi và không hiểu sao lần nào cũng gặp sương chiều dịu dàng xanh mướt và lành lạnh.
DÃ QUỲ
Cao nguyên vừa hết mùa dã quỳ. Xao xác những ngọn gió khô đang về. Loáng thoáng đâu đó trong những vạt rừng hoang mấy cánh hoa vàng rớt. Chắc hẳn dã quỳ không chờ tôi. Mấy cánh vàng kia có lẽ sót lại của một mối tình nào của những ai đó thật xa xôi.
Tôi đến Đức Trọng lần đầu. Ở nhà khách huyện. Suốt đêm nghe gió cao nguyên mênh mông hú vang vọng ngỡ muôn ngàn muông thú của núi rừng Tây Nguyên đại ngàn gào thét. Sáng dậy thấy một vòm trời lộng lẫy vút cao. Gió lồng lộng vô cùng. Tâm thần bỗng dưng buâng khuâng vô định khoáng hoạt hào hứng và thôi thúc.
Chẳng có nợ nần gì giữa tôi và Đức Trọng nếu tôi không có tâm hồn thi sỹ. Nếu  không phải là một nhà khoa học đi khảo sát thực địa. Có lẽ tôi cũng chẳng bao giờ đến đây làm gì. Nhưng đến rồi dã quỳ, gió lộng và vòm trời cao vút náo động tâm tư.
Thực tình là náo động. Đức Trọng. mười bốn năm trước có một cô giáo trẻ người Hà Nội dạy học ở đây. Mười mấy năm trước chắc đất này hoang vu khác xa bây giờ. trong cái hoang dã ấy chắc rừng núi âm u. Sương chiều nghi ngút. Đất đỏ bazan mù mịt. dã quỳ bạt ngàn lộng lẫy. Vòm trời cao xanh vô định và gió cao nguyên lồng lộng khôn cùng.
Người con gái ấy bây giờ là vợ tôi. Mười mấy năm trước chưa có tôi nhưng dã quỳ Đức Trọng đã bạt ngàn lộng lẫy. Về Đức Trọng gặp dã quỳ bỗng nhiên cảm động mà lăn tăn chia xẻ mà buâng khuâng xa xót. Chợt nghe tiếng gió cao nguyên ngỡ như tiếng ai trong trẻo xa xôi gọi dã quỳ dã quỳ ơi.
TAM DƯƠNG
Ngày ấy tôi là sinh viên về nghỉ hè ở nhà bạn học. Ba bạn là giám đốc nông trường. Trại gà gống nông trường có nhiều nam công nhân kỹ thuật đi tu nghiệp ở nước ngoài về phong cách sống rất hiện đại. Sàn sàn tuổi chúng tôi, họ lại độc thân sống chung trong dãy nhà tập thể. Buổi tối miền đồi buồn, chúng tôi đến chỗ họ cùng đàn hát và uống rượu. Đến khuya đám thanh niên đi trực ca đêm, chúng tôi lên giường của họ ngủ đến sáng. Khi họ về lại kéo nhau ra chợ mua thực phẩm về cùng nấu cơm ăn. Chiều tối lại kéo nhau ra đường núi tụ bạ ca hát tưng bừng.
Cuộc sống người thợ ngày ấy tuy eo hẹp nhưng thật tuyệt vời. Họ hồn nhiên, vô tư, nhiệt tình và chân thành. Họ hết sức nghiêm túc với công việc. Đúng là phong cách công nghiệp. Chính những đêm trăng trong vắt của đồi núi ấy đã làm tôi rung động. Tôi viết bài thơ Đêm Tam Dương. Bài thơ viết về những người công nhân ở trại gà giống. Lạ thay, đây chính là bài thơ đầu tiên của tôi được in báo. Bài thơ đầu đời ấy đã khích lệ tôi trở thành nhà thơ.    
Gần 20 năm tôi mới trở lại Tam Dương. Một mình trên con đường đồi vắng trong đêm trăng xanh ngắt. Tôi tìm nông trường Bộ, tìm ngôi nhà của ba má bạn, tìm khu tập thể của trại gà giống năm xưa, tìm những nhân vật thơ của mình. Trăng xanh quá, người vắng vẻ, núi đồi bảng lảng hơi sương. Gia đình bạn đã trở về quê Nam, những người bạn công nhân xưa không biết bây giờ ở đâu. Bao năm rồi chúng tôi không tin tức. Chẳng biết vì sao lại thế. Đêm Tam Dương trăng xanh ngắt, màu xanh lộng lẫy buồn. Có phải tôi đi tìm chính cái cảm hứng đầu đời của nhà thơ?
KHU VƯỜN
Mồng hai tết, ngày tốt tôi ra vườn trồng mấy cây khế gọi là động thổ đầu xuân. Đó là giống khế ngọt tôi mang hạt từ Hà Nội về ươm. Mẹ tôi cùng mấy người họ hàng đứng xem.
Mẹ tôi nói: Cái anh cu này sống ở Hà nội mấy chục năm rồi mà vẫn mê trông cây. Cây cối vườn này đa đa là anh ấy trồng. Còn mấy anh bạn trồng mít trồng bưởi ngày nào cứ dặn khi nào có quả bu phải gọi chúng con về ăn. Rồi chả thấy về, bây giờ các anh ấy ở đâu?
Tôi chợt nhìn khu vườn cây cối đương xuân tươi tốt chợt nhớ những người bạn của mình mấy mươi năm trước. Ngày ấy chúng tôi là sinh viên, khi nghỉ hè thường về chơi nhà nhau. Những người bạn của tôi quê ở nhiều nơi đã về thăm nhà tôi và cùng tôi trồng cây trong khu vườn này. Ngày ấy tôi có câu thơ ngây ngô rằng: khóm hồng hoa đỏ góc sân/ mọc lên từ những vết chân bạn về.
Thời gian trôi vùn vụt nó hiện hữu bằng những khoảnh khắc và biến mất. Mới hôm nào thế mà đã mấy chục năm. Những cái cây non nớt ngày ấy được chúng tôi vun trồng nay vóc dáng đã xum xuê cổ thụ. Chợt nhớ những người bạn thời trai trẻ của mình mà chạnh buồn. Bây giờ tan tác ở đâu. Cây trồng xuống rồi thì cứ đứng mãi ở một chỗ mà tốt tươi mà đâm chồi nảy lộc mà đơm hoa kết trái bên nhau còn con người thì nay đây mai đó rồi kẻ còn người mất kẻ thân người sơ trong gian truân đời người. Con người ta làm sao mà như cây được nhỉ.
Khu vườn tốt tươi cây cối tụ tập quây quần bên nhau suốt mấy chục năm rồi và sẽ còn mãi, thế mà những người bạn muôn quê về chơi nhà tôi, cùng tôi trồng cây ngày tuổi trẻ đã lâu rồi không gặp lại, liệu có phép màu nào cho chúng tôi quây quần gặp lại nhau trong đời một lần nữa không.
PHƯỢNG TÍM
Tôi đang loanh quanh những quầy hàng áo len trước cửa chợ Đà Lạt. Áo len đan tay thật tuyệt vời. Khắp cả nước, chưa có nơi nào áo len đan lại tuyệt vời như nơi đây. Tôi chọn và mua. Thực ra chỉ là mua một kỷ niệm. Bất chợt tôi thấy những sắc tím vương vãi vỉa hè. Bất giác ngước lên. Trời ơi! một vòm tím lộng lẫy.
Đó là hoa phượng. Tím một cách không thể hình dung được ở xứ sở mình lại có sắc màu phượng như thế. Vâng, tôi mới biết phượng đỏ, phượng hồng tuổi ấu thơ sân trường. Tôi mới biết phượng vàng nơi miền Trung nắng lửa. Nhưng phượng tím thì chưa bao giờ. Phượng tím thật bất ngờ.
Bất ngờ không phải do màu hoa mà bất ngờ do sắc đẹp và sự quyến rũ. Bất ngờ hơn nữa lại chính là sự kỳ diệu của thế giới ta đang sống. Sắc màu hiện hữu và sự nhận biết và sự chứng ngộ sắc màu thực là huyền bí. Hình như thế giới bao giờ cũng hoàn thiện chỉ có con người là chưa hoàn thiện chăng?
Nhưng phượng tím đã đột ngột xuất hiện trong đời tôi một chiều Đàt Lạt vấn vương len dạ. Hơi cao nguyên se se. Hương Đà Lạt ngát tím. Những quán cà phê lẳng lặng mờ ảo mù chiều. Màu tím phượng rải khắp nẻo lành lạnh khói sương và se sắt buồn. Tôi chợt hiểu ra rằng mình là một thi sĩ một lãng tử bao giờ cũng loạng choạng những bước thập thững trong sương.
PHÚC KHÁNH
Năm ấy tôi 17 tuổi vào học cao đẳng sư phạm tỉnh. Vào muộn nên tôi được xếp học cùng lớp các bạn ở huyện khác. Trường sư phạm, giáo sinh chủ yếu là nữ. Cái tuổi trai gái mới lớn, xa nhà ở nội trú - tập thể nên rất nhiều cảm xúc, rất nhậy cảm và nhiều rung động.
Tôi thuộc loại mải chơi, nhưng được cái sáng dạ nên thầy và các bạn rất quí. Ở lớp, tôi thân với một nhóm bạn, dĩ nhiên trong nhóm có một người bạn gái có cảm tình riêng đối với tôi và thú thực tôi cũng rất có thiện cảm với bạn. Hình như các bạn trong lớp đều biết chuyện. Họ đều có ý vun vào.
Đang học dở năm thứ nhất chẳng hiểu ân sủng nào đã cho tôi làm hồ sơ, tự luyện thi đại học và rồi thật may tôi đã đỗ vào đại học Tổng hợp. Ngày chia tay, nhiều bạn khóc. Người bạn gái mới bắt đầu thân của tôi cũng khóc. Nhưng tôi đi học đại học ở thủ đô vinh dự và hãnh diện lắm - ngày ấy hai chữ “đại học” và “thủ đô” nghe thiêng liêng và ghê gớm lắm. Cứ như thể người ta thành vĩ nhân, thành thần tiên ngay được.
Vâng, chắc thế nên tình cảm của tôi và người bạn gái ấy chỉ được gần một năm qua những lá thư. Chắc là những lá thư cứ thưa dần. Rồi một ngày nào đó chúng tôi không viết thư cho nhau nữa. Bây giờ - sau mấy chục năm trở về trường cũ, tần ngần bên dòng Phúc Khánh nước trong văn vắt lững lờ trôi như xưa, bóng dáng tôi và các bạn hồn nhiên thời mới lớn như còn long lanh nơi đáy nước, như còn phảng phất đâu đây trong buổi hoàng hôn cánh đồng. Tôi vắng vẻ chợt hiểu ra rằng...  
HOA ĐÀO
Buổi sớm đầu xuân anh và em lên vườn đào Phú Thượng. Đã nhiều năm, xuân này mình mới có chút thảnh thơi đi mua đào thưởng tết. Hai vợ chồng đi hết khu vườn này đến khu vườn khác. Hoa đào lạ lùng thật, khu vườn sau bao giờ cũng đẹp hơn khu vườn trước. Những thế, những cành, những cánh hoa sau bao giờ cũng đẹp hơn, tươi thắm hơn. Cứ thế, chúng mình chạy từ khu vườn này sang khu vườn khác, từ cánh đồng hoa này sang cánh đồng hoa khác, từ miền hoa này sang miền hoa khác...
Bất chợt, chúng mình dừng lại. Trời lạnh mà mồ hôi chảy ròng, mặt trời đã ngả sang chiều và quả thực là đói. Thế mới biết hoa đào có sức mạnh mê hoặc con người ta ghê gớm. Thế mới biết cái đẹp có ma lực như thế nào. Thế mới biết đất thiêng Thăng Long mỗi xuân về có những cánh đồng hoa mê cuốn những người yêu cái đẹp đến nỗi họ ngơ ngẩn lạc trong xứ hoa đào. Chuyện ai đó gặp tiên xưa hình như cũng bắt đầu từ xứ sở hoa đào.
Gần trọn một ngày trên cánh đồng mà chưa chọn được cành nào. Những cánh đồng hoa trước mặt, những miền đào chưa tới, những cành đào ở phía trước còn đẹp hơn, rực rỡ hơn...Người yêu “cái đẹp” hình như không khi nào bằng lòng với cái đẹp đã thấy. Hay cái đẹp chưa thấy mới là cái đẹp đích thực? Đó là bài học từ hoa đào chăng. Nhưng chúng mình vẫn mua một cành đào về thưởng xuân. Cành đào này chỉ sau một đêm từ những nụ sẽ nở ra những bông đào chưa bao giờ có trong cõi nhân gian. Đó là điều kỳ diệu, em thấy chưa, chỉ một cành đào nhỏ thế mà sáng bừng cả ngôi nhà đơn sơ của chúng mình khi xuân về.
CÂY ROI
Mười năm trước tôi về đây công tác. Ngày đầu tiên lên phòng làm việc ra ban công gặp cây roi cổ thụ đang mùa hoa xanh biếc hương thoang thoảng và bầy ong tưng bừng rộn rã. Lúc ấy chắc tôi cao hứng nghĩ đây là một căn phòng làm việc lý tưởng và mừng thầm vì mình đã chọn được một nơi làm việc tuyệt vời.
Có lẽ do màu xanh của vòm roi cổ thụ chở che và nâng đỡ, có lẽ do những mùa lộc nõn lá non khích lệ và thôi thúc, có lẽ do những đoá hoa xanh biếc mong manh và mùi hương dịu dàng làm cho hưng phấn, có lẽ do những chùm quả đỏ rực và thơm ngát dâng tràn cảm hứng no đủ, có lẽ do các nữ đồng nghiệp đằm thắm gợi cảm và tận tình, có lẽ do không khí gia đình đầm ấm của cơ quan tạo cảm giác yên tâm, có lẽ do... nên chỉ với thời gian ngắn tôi đã đạt được những mơ ước nho nhỏ của mình.
Nhưng rồi một chiều kia tôi chợt nhận ra trong ánh mắt người đồng sự thân thiết một ánh nhìn bất trắc. Từ buổi chiều nhậy cảm ấy tôi nhận ra không phải chỉ có một ánh mắt kia mà hơn nửa ánh nhìn đồng nghiệp dưới quyền mình đều như thế. Họ lảng tránh tôi và đang ngấm ngầm một âm mưu.
Khi tôi rơi vào trạng thái hoang vu, một người đồng nghiệp nói với tôi rằng mọi người như thế không phải do tôi và thực ra họ cũng không muốn thế nhưng vì miếng cơm manh áo. Họ phải thế để được lòng thủ trưởng mới. Đúng là tôi đã mắc sai lầm nghiêm trọng là đã trót làm quản lý ở đây.
Dẫu thế nào thì tôi đã sai lầm. Cây roi làm tôi phấn chấn, các nữ đồng nghiệp làm tôi hào hứng, không khí cơ quan đầm ấm cho tôi hoàn toàn yên tâm... đã là quá khứ. Một quá khứ vừa đằm thắm chân thành vừa đắng đót bất trắc. Tôi nhìn lên vòm lá mùa đông và biết một ngày kia mùa xuân sẽ về, nhưng đến lúc ấy thì còn quá nhiều ngày đông băng giá. Thôi đành lỡ hẹn với lộc nõn và hoa xanh.
MIỀN YÊU
Chị cùng đoàn vốn là giáo viên Đại học nông nghiệp. Tuổi hồi xuân, sáng nào chị cũng chạy một vòng thị xã. Tôi vốn cầu thủ bóng đá giải nghệ, thấy cái nghề ngắn ngủi chán không tập tành gì. Nhưng thói quen dậy sớm của cầu thủ không bỏ được. Khi chị chạy, tôi lững thững đi ra quán gọi một chai bia ngồi điểm tâm.
Khi ăn sáng, chị hào hứng kể cho cả đoàn về buổi sáng của thị xã biên giới. Về không khí, sương và dĩ nhiên là hoa của cây me vàng. Nghe chị nói, cái thị xã vùng biên heo hút, buồn lặng quả là một thiên đường. Con người toàn thần tiên cả. Cây me buổi sớm hoa dát vàng quanh gốc, hương thơm xa ngái như từ cõi trời thổi về và vòm cây xanh mướt như một chiếc lọng xanh đài các và quí phái.
Nghe chị kể, cả đoàn liếc nhau ngơ ngác. Giời ạ, hay là chị kể về những ngày tu nghiệp ở Tây Âu. Không ai hiểu chị nói gì. Nhưng chị là trưởng đoàn, các thành viên đều ngước mắt hóng hớt tấm tắc phù hoạ và ăn. Khi uống nước, cô gái trẻ ngồi bên tôi hỏi: Anh có thấy cái thị xã này đẹp không?. Tôi ậm ừ. Cô rên rẩm: Khỉ ho cò gáy, có quái gì mà bà ta ca thế. Tôi ngạc nhiên, cô gái ghé sát: Điên.
Nhưng chị ấy không điên. Tối tối một người đàn ông trung niên mập mạp đón chị ấy đi chơi. Đích thị một đôi tình nhân. Buổi cơm chiều kia tôi bóng gió. Chị hồn nhiên kể mối tình trong sáng thời sinh viên cách đây mấy chục năm ở cái thị xã này khi chị về thực tập tốt nghiệp.
Hình như khi yêu, dù ở tuổi nào, con người ta lạ lắm, họ ở một miền khác. Và cái thị xã biên giới mà chị kể với chúng tôi nó ở miền ấy. Nó thần tiên và phi phàm chứ không như người trần mắt thịt chúng tôi nhìn thấy. Mới hay cái đẹp không ở má hồng người đẹp.
Tôi đang đi trên đường Cổ Ngư ngược chiều gió sông Hồng. Những ngọn xuân nồng ấm mưa xuân li ti yểu điệu và ấm áp vô cùng. Ngày xưa tôi và ai hay đạp xe trên con đường này trong ấm áp mưa bụi. Những giọt nước mỏng manh trong suốt và sực nức hơi xuân đậu long lanh trên mi mắt trên tóc chúng mình. Có lẽ không ở đâu mưa xuân tuyệt vời như ở Hà Nội. Và có lẽ ở Hà Nội không nơi nào mưa xuân tuyệt vời như trên con đường Cổ Ngư.
Nhưng tôi đang đi trên con đường ấy một mình. Ngày xưa, thực ra chưa xưa mấy. Tôi và ai cùng là cán bộ nghèo. Hết 8 giờ vàng ngọc hồn nhiên dạo dọc con đường mưa xuân. Ngày ấy chúng mình theo những ngọn xuân đi vô định trong hơi xuân nồng ấm khôn cùng. Nay tôi vẫn là cán bộ nhưng được gọi là công chức còn ai đã thành điều phối viên một tổ chức quốc tế. Hình như ai đã nhiều tiền nhưng thật bận. Còn tôi dẫu đã đổi tên gọi nhưng vẫn nghèo.
Ngày xuân. Như một thói quen thanh nhã. Sau giờ làm việc tôi một mình ngược chiều gió sông Hồng trên đường Cổ Ngư. Những ngọn xuân vô cùng ấm áp mưa xuân li ti yểu điệu hơi xuân sực nức tinh khôi và nồng ấm. Tôi đi mãi trong xúc cảm tuyệt vời của mưa xuân Hà Nội. Nhưng chẳng biết từ khi nào những giọt nước xuân trong suốt và ấm áp đã ướt đẫm mái tóc. Nước xuân thế mà bỗng nhiên tôi chợt rùng mình thấm thía hơi lạnh
MẠCH NHA
Tôi hỏi: Quảng Ngãi có đặc sản gì?. Người bạn đồng hương vong niên của tôi - một kỹ sư nông nghiệp - lập nghiệp ở đây nói: Kẹo nha, ở đây có đặc sản kẹo nha. Thấy tôi ngơ ngơ anh giải thích: Kẹo kéo ở quê mình ấy.
Vâng, kẹo kéo. Tôi nhớ chứ, mỗi lần vào dịp giỗ tết giết gà giết vịt, lũ trẻ chúng tôi gom nhặt nâng niu phơi phóng lông gà lông vịt và cất giấu thật kỹ. Lũ trẻ quê nghèo khổ phấp phỏng chờ đợi. Rồi ngày đẹp trời cũng đến. Đó là tiếng rao lanh lảnh như chuông khánh từ xa khuất đầu làng: Ai lông gà lông vịt đổi kẹo kéo đi. Tiếng rao mới tuyệt vời làm sao. Chỉ nghe lõm bõm tiếng rao lũ trẻ quê đã nhất tề ứa nước miếng tràn trề và chảy ròng ròng bên mép. Giời ạ, nghe tiếng rao sự thèm ngọt kinh niên đã dâng trào tột đỉnh. Những đôi mắt hau háu những đôi tay tê tái nào khào múa may.
Người đổi kẹo như từ thiên đường xuống. Anh ta bê ra một cái nồi đất da lươn bé tẹo đầy ăm ắp kẹo kéo. Chỉ cái nồi đất bé tẹo ấy cũng có thể làm sống động hàng trăm thôn làng nghèo khổ, bởi có hàng ngàn đứa trẻ đói khát và thèm thuồng như tôi. Cái màu nâu vàng sánh ngọt lịm được kéo dài mỏng tang và quấn lồng xồng ở đầu que tre như những chiếc tăm lớn. Cái màu nâu vàng sánh ngọt lịm kia là cả một thế giới vàng khủng khiếp mỗi năm chỉ vinh hạnh xuất hiện một đôi lần nơi thôn dã heo hút này. Trong khi lũ trẻ mắt dựng ngược long lanh và hau háu chuyền tay nhau chùn chụt mút kẹo thì người chủ trút tất cả lông gà lông vịt vào ró cói và bắt đầu cất tiếng rao thiên đường: Ai lông gà lông vịt đổi kẹo kéo đi.
Kẹo kéo. Tôi nhớ chứ, nhưng đã mấy chục năm rồi từ ngày rời quê lên thành phố tôi không được nếm mùi hương mạch nha nữa. Anh bạn dẫn tôi đến một cửa hiệu và hỏi mua kẹo nha. Cháu gái bán hàng: Hai chú lấy bao hộp. Tôi ngơ ngác. Người bạn nói: cho chú xem thử một hộp. Cháu bé đưa ra một hộp sữa bò cũ đã được cải tạo thành hộp chứa kẹo. Tôi nhìn vào. Ôi cái màu nâu vàng sánh ngọt lịm mấy chục năm trước kia. Đúng nó đây. Tôi tự dưng hồi hộp ứa nước miếng. Và, nghe lanh lảnh đâu đó tiếng rao thiên đường: Ai lông gà lông vịt đổi kẹo kéo đi.  Tôi bất chợt: Cho chú mua 5 hộp. Cháu bé bán hàng: Cho con xin chú 15 ngàn đồng. 15 ngàn - tôi ngạc nhiên. Anh bạn cười: chưa bằng một bao thuốc mình hút hỉ. Đúng vậy, 5 hộp là 5 cái nồi đất da lươn bé tẹo ngày xưa chưa bằng một bao thuốc lá chúng tôi hút. Thế mà ngày xưa với 5 cái hộp nay thì chắc chắn sẽ làm náo nhiệt hàng trăm thôn làng nghèo khổ quê tôi và chắc chắn sẽ làm cho cả huyện trẻ em nhà quê hạnh phúc biết nhường nào. 
RAU NGỔ
Ngược đường rừng lên Nghĩa Lộ, xe chúng tôi dừng lại ở một quán nằm trong một thung lũng bốn bề núi non. Con đường hoang vu núi rừng âm u lam chướng. Chủ quán là một người tuổi trẻ đến bên khách lơ ngơ thật thà: cô chú ăn món gì? Sau khi khách chọn món ăn. Cậu chủ có vẻ bẽn lẽn rồi bỗng liến thoắng: Cháu mời các cô các chú món thịt trâu xào ngổ, món này ngon lắm, ngon nhất đấy. Chúng tôi nhìn nhau cười. Có người hỏi: Sao không xào thịt bò lại xào thịt trâu?. Cậu ta nhanh nhảu: Có thịt bò nhưng thịt bò ăn nhạt lắm. Cháu làm món thịt trâu xào ngổ nhá, cô chú ăn không ngon cháu không lấy tiền. Thương vẻ nhiệt tình chất phác của cậu chủ miền rừng chúng tôi đồng ý hai đĩa thịt trâu xào ngổ.
Khi cậu ta quay vào bếp làm món ăn tôi cam đoan với mọi người rằng chắc chắn cậu ta gốc gác người Thái Bình. Rồi món thịt trâu xào ngổ cũng được mang lên, thơm phức, chúng tôi nhắm rượu. Mấy chị “quýt sờ tộc” rụt rè đưa đũa. Trông điệu bộ rõ ra cái sự đài các của người “tràng an”. Chắc chắn ở Hà Nội không bao giờ các chị đụng đũa vào món thịt trâu, chứ đừng nói là thịt trâu xào ngổ vừa thâm vừa hôi. Đám trung niên đang tuổi bia rượu chúng tôi sau gần một ngày đường bỗng nhiên thấy món thịt trâu xào ngổ quả là có tính dẫn xuất bia rượu. Hai đĩa đầy ăm ắp mặc dù gần một nửa số người không ăn nhưng cũng đã hết veo trước tiên.
Khi ăn xong ngồi uống nước. Cậu chủ trẻ lại đon đả đến hỏi: Các cô các chú thấy món thịt trâu xào ngổ ăn có sướng không. Đặc sản quán cháu đấy, ai cũng đều thích cả. Cháu nói rồi mà, không ngon cháu không lấy tiền. Tất cả chúng tôi đều cười ồ vì sự hồn nhiên của cậu ta. Có người chỉ tôi nói: Chú này nói cháu quê Thái Bình có đúng không?. Cậu ta chần chừ: Cháu... cháu quê gốc Thái Bình nhưng theo thầy bu cháu lên đây khi cháu còn bé tí chả nhớ gì. Lại hỏi: Ai dạy cháu món thịt trâu xào ngổ mà ngon thế?. Trả lời: Thầy cháu đấy, thầy cháu mê món này lắm, người quê cháu ai cũng thích món này. Quê cháu lên đây đông lắm, ai qua đây cũng bảo cháu làm món này nhắm rượu. Các cô các chú thấy ngon chưa, món ngon nhất ở miền rừng này đấy.
Chúng tôi lên xe đi tiếp về Văn Chấn. Con đường rừng bắt đầu nhoà trong sương. Nhưng dải rừng rậm âm u sương khói. Lờ mờ trong cây trong sương những ngôi nhà sơn cước. Đó là bản của người Dao, người Thái, người H’mông hay làng của người Thái Bình (mà chung tôi gọi đùa là Thái nâu) lên xây dựng kinh tế mới từ những năm 60 của thế kỷ trước. Đó là những người đồng hương bà con của tôi. Trong sương chiều rừng núi, tôi vơ vẫn mãi với món thịt trâu xào ngổ. Đó chắc là món ăn sang trọng và ngon nhất của tổ tiên tôi.
Tôi chợt nhớ hình bóng ông nội tôi trải rơm ở một góc sân rồi lấy hết sức thái những miếng thịt trâu già còn nguyên da. Đó là thịt con trâu của hợp tác xã, do quá già đã đổ kềnh càng ở đầu làng không dậy được. Người ta mổ con trâu già sắp chết chia nhau mỗi nhà một ít như một ngày hội của làng. Da trâu chắc dai lắm nên ông tôi thỉnh thoảng lại liếc xiên xiết lưỡi dao đã mài kỹ vào trôn cái bát chiết yêu. Còn các chú, các cô tôi thì hớn hở nhặt rau ngổ. Rồi nồi thịt được bưng từ bếp ra mùi thịt ngọt ngào và mùi rau ngổ thơm nức làm cho ai cũng luống cuống ứa nước bọt. Tôi cam đoan là dù mỗi người chỉ được một hai miếng bì lẫn thịt là cùng nhưng đó là những miếng thịt hiếm có. Nếu tôi không nhầm thì ở quê tôi sau những miếng thịt lợn được ăn vào dịp tết thì đây là miếng thịt thứ hai mà chúng tôi may mắn được ăn trong năm. Nhưng đâu phải năm nào cũng gặp may như vậy.
Tôi còn nhớ mỗi lần thầy tôi đi công tác mua được ở đâu đó mấy lạng thịt trâu mang về. Cũng như xưa, thầy tôi lại đi mài dao, trải rơm ra góc sân và không quên để cái bát chiết yêu thỉnh thoảng giống ông tôi gại gại lưỡi dao vào trôn bát cho sắc. Khi đó mấy anh em tôi phấn khởi ra mặt người bóc tỏi, người ra bờ ao hái ngổ. Chả hiểu sao lúc đó chúng tôi vô cùng xốn xang. Thực tình khi đó kinh tế đã đỡ hơn nhưng thịt vẫn là một thứ quí hiếm ở quê tôi. Rồi mùi thịt trâu mùi ngổ lại nghi ngút thơm phức bay lên. Tất cả chúng tôi đều ứa nước bọt. Thiếu đói và nghèo khổ tạo cho chúng tôi cái phản xạ thèm khát kinh niên ấy.
Ở cái mảnh đất nơi mép nước cửa biển, thịt các loài động vật bốn chân quả là quí hiếm vô cùng. Nhất là thịt trâu, thịt cái thứ “đầu cơ nghiệp” của nhà nông ấy có lẽ là thứ thịt thiêng của cư dân lúa nước hàng ngàn đời nay. Có phải vì thế mà thịt trâu xào ngổ - cái thứ rau mọc hoang nơi bờ nước trở thành bản sắc ẩm thực của người quê tôi, của những con người truyền đời khát thèm lưng cơm miếng thịt. Tôi bay trong những ý nghĩ cố hương xa xôi của mình, chiếc xe của chúng tôi lầm lũi theo con đường rừng heo hút. Sương khói chập choạng tối nhập nhoà mù mịt bất giác tôi ngỡ ngàng tưởng khói nghi ngút bốc lên từ nồi thịt trâu xào ngổ thơm phưng phức thơ ấu.
HOA ĐÀO NỞ TRƯỚC SÂN
(Tặng TS. Vịnh - Điện Biên)
Hành nghề nhà báo, tôi có dịp đi hầu như mọi miền đất nước. Thế nhưng có một vùng đất rất nổi tiếng và cũng rất gần nơi sinh sống nhưng tôi lại chưa một lần đặt chân tới - đó là vùng Điện Biên, Sơn La thuộc Tây Bắc. Nhân đầu xuân, một người bạn lâu năm rủ tôi về quê anh, thị xã Điện Biên. Biết tôi chưa bao giờ lên Điện Biên, anh bố trí một tuyến đường mang tính chất du khảo lãng mạn: Hà Nội - Trung Hà - Văn Chấn - Nghĩa Lộ - Lai Châu - Ma Thà Lùng - Điện Biên - Sơn La - Mộc Châu - Hòa Bình - Xuân Mai - Hà Nội. Chuyến du xuân ngoài tôi và anh còn có một khách VIP và mấy nhà doanh nghiệp đi thực hiện các hợp đồng đầu tư tại tỉnh mới Lai Châu.
Tôi gặp người bạn này cách nay đã gần 30 năm. Đó là khi tôi và anh cùng vào học khoa Triết trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ngày đó, tôi chỉ là một cậu bé vừa học hết phổ thông từ một làng biển lên Hà Nội, còn anh - bạn học của tôi từ Điện Biên xuống Hà Nội. Mặc dù chỉ hơn tôi vài tuổi nhưng anh đã là một người từng trải, lọc lõi và trong con mắt chúng tôi là rất quái.
Năm năm học đại học, anh hầu như không chơi với bạn học cùng lớp. Kể cả tôi, anh cũng không thân thiết gì, sau này có lần anh nói anh quý bọn tôi vì mấy đứa học sinh phổ thông đều đặc biệt thông minh. Tôi nhớ, loáng thoáng, ngày học đại học anh rất hay bỏ học đi đâu đó dài ngày. Có người nói, anh đi chơi bời, đàn đúm bạn bè ở các trường đại học, cũng có người nói, anh đi buôn hàng cấm từ Điện Biên về Hà Nội... Chỉ gần đến ngày thi anh mới về lớp và nghe mấy đứa học sinh phổ thông chúng tôi đọc cho nghe đáp án môn thi, thế là hôm sau vào thi anh thường đỗ loại khá. Sau mỗi kỳ thi như thế, để thưởng công bọn trẻ anh thường rủ cả lũ ra quán làm chầu nước thuốc và không quên bôi vào mỗi điếu thuốc cuốn một chút nhựa cây đen thơm phức của núi rừng Tây Bắc. Cứ thế, theo một cách rất lãng tử - anh đã tốt nghiệp đại học - tuy là sau tôi một năm.
Rồi cũng do tình cờ, sau khi ra trường tôi và anh cùng ở lại Hà Nội - anh dạy đại học còn tôi ở viện nghiên cứu; đặc biệt, nhà tôi và nhà anh lại gần nhau. Thế là chúng tôi thường xuyên gặp gỡ và bia rượu với nhau. Tôi và anh trở thành những người bạn hằng ngày gần gũi. Cũng qua giao du tôi biết gia đình anh là một gia đình phiêu bạt. Một lần qua điện thoại anh hồ hởi kể rằng anh vừa tìm được mộ ông nội ở Thanh Thủy - Phú Thọ và rủ tôi lên đó khánh thành ngôi mộ mới xây. Việc hiếu quan trọng lắm tôi đồng ý ngay. Chủ nhật hai anh em chở nhau đi xe máy lên Thủy Trạm - Thanh Thủy. Dọc đường anh kể lại câu chuyện ly kỳ anh tìm thấy mộ ông nội.
Một đêm, anh đang ngủ thì ông nội về báo mộng rằng người ta vừa đào mộ của ông, hài cốt ông bị người ta xẻ ra làm hai và một nửa bị mang đi chôn ở nơi khác. Ông mong người cháu giúp ông để được mồ yên mả đẹp và đã dẫn đường cho cháu đi đến nơi họ vừa đào và di chuyển một phần xương cốt của ông. Sáng dậy, hai anh em anh đi xe máy chở nhau theo con đường ông chỉ dẫn trong mơ: từ Hà Nội theo đường Láng - Hòa Lạc lên Sơn Tây đi thẳng tới Đá Chông rồi rẽ xuống phà Đồng Luận sang bên kia đi theo con đường đất đỏ chạy trên cánh đồng lúa xanh mướt và gặp một con đường đất với những hàng gạo cổ thụ hoa nở đỏ rực, đến một làng trung du nghèo cứ theo con đường làng trong mơ đến một xóm đạo có ngôi nhà thờ uy nghi cổ kính, từ nhà thờ đi men theo một con ngõ nhỏ một bên là ruộng một bên là ao và đến một khu ruộng ngô đang mùa kết trái tại một góc ruộng ngô người ta mới đào một hố nhỏ tôi vôi. Hai anh em đi đến khu ruộng ngô ấy thì hết con đường ông nội chỉ dẫn trong mơ.
Hai anh em tìm được chủ khu ruộng và hỏi họ rằng khi đào hố tôi vôi họ có thấy gì không? Chủ nhân là một nông dân nghèo chân thật. Ông ta kể rằng vừa mới đào hố tôi vôi hôm qua và khi đào đã thấy một phần hài cốt chìm sâu vô thừa nhận và gia đình đã cẩn thận hương khói và đưa cụ ra chôn ở ngoài bờ ruộng nơi cánh đồng. Anh kể lại giấc mơ cho gia chủ nghe và tin rằng đó chính là hài cốt của ông nội mình và khẳng định đó chỉ là một phần, phần còn lại vẫn nằm bên hố vôi. Gia chủ nói rằng khu ruộng ngô và khu nhà ông đang ở trước đây chính là nghĩa địa chôn tập thể những người chết đói năm 1945, khi đào xới canh tác thỉnh thoảng ông lại gặp một “cụ”.
Theo anh, toàn bộ hành trình dẫn đến ngôi mộ của ông nội tất cả đều chính xác như con đường ông dẫn anh trong mơ duy chỉ có một chi tiết không chuẩn là trên con phà qua sông Đà thay vì có một người ngồi bán cá trong mơ thì chỉ thấy có một người đàn ông đi chợ về có treo mấy con cá to trên ghi đông xe đạp. Điều đặc biệt là, bắt đầu từ Đá Chông trở đi là con phà và vùng đất anh chưa bao giờ đặt chân đến trong đời.
Để yên tâm, về Hà Nội anh tìm gặp một người bạn vong niên giỏi phong thủy. Ông bạn già phán rằng, không chỉ nửa trên bộ hài cốt còn ở đó mà bên cạnh còn có bộ hài cốt của một người phụ nữ cùng huyết tộc. Anh càng đâm hoảng. Anh kể rằng, bố anh có lần nói, quê anh đúng là ở Phú Thọ, nhưng ở đâu đó rất xa chứ không phải huyện Thanh Thủy. Nhưng từ đời ông nội đã bỏ quê đi lang thang, phiêu bạt kỳ hồ, rồi đến đời bố anh do tham gia hoạt động cách mạng nên bị thực dân Pháp bắt giam tù đày tận Điện Biên, ra tù ông không tìm được cơ sở cách mạng và đành lấy vợ sinh con lập nghiệp ở miền rừng. Bố anh chưa bao giờ đưa mấy anh em anh về quê và cũng chưa bao giờ nói gì về tung tích ông bà nội.
Trở về xóm đạo, anh tìm gặp những người cao tuổi trong xóm và được người già ở đây kể rành rẽ. Thậm chí, một vài người bà con xa bên ngoại vẫn sinh sống ở đây biết tin đã tìm đến gặp anh. Chuyện rằng, trước cách mạng ông nội anh từ đâu đó giang hồ phiêu dạt đến đây. Ông thực sự là một hảo hán giang hồ ngông cuồng và quái đản. Chẳng biết bằng cách nào, ông nhanh chóng trở nên thân thiết với ông Trùm xứ đạo và dù không theo đạo Thiên chúa ông cũng sớm kết hôn với người em gái xinh đẹp nổi tiếng của ông Trùm. Từ đó ông kết hợp với Trùm xứ trở thành một thế lực khuynh đảo cả một vùng rộng lớn. Ông tham gia vào những cuộc tranh dành mua quan bán tước tại địa phương. Chính những cuộc đấu đá tranh dành mua quan bán tước này đã đẩy ông đến vinh quang giầu có và rồi cũng chính nó lại đẩy ông đến lụn bại, khánh kiệt và máu giang hồ sẵn có trong người ông ngày càng nổi lên. Ông càng ngày càng bị vây bủa, cô lập bởi ông là dân ngụ cư và cũng bởi ông Trùm xứ bị các thế lực tôn giáo không chế. Trong hoàn cảnh đó, nạn đói khủng khiếp xẩy ra và gia đình ông tan đàn xẻ nghé, vợ con ông theo những người Thiên chúa di cư vào Nam còn ông trở thành nạn nhân của nạn đói. Sau khi ông chết, những người bà con chưa chết đói đã đưa xác chôn ở khu đất rìa làng bên cạnh ngôi mô em gái ông đã chết trước đây. Một giấc mơ kỳ lạ đã dẫn anh tìm được ngôi mộ của ông nội và hơn thế còn tìm được căn nguyên tính cách giang hồ liều lĩnh của bản thân mình.
Tôi đã đi hầu như cả nước và cũng đã đi một vài nước nhưng thành thật chưa bao giờ tôi thấy ở đâu núi non lộng lẫy và hùng vĩ như vùng Tây Bắc mùa xuân. Núi rừng muôn sắc ngàn hương. Lộc non, chồi biếc, hoa đào, hoa ban, hoa mận và ngàn hoa rừng tưng bừng, rực rỡ. Thiên nhiên trong mùa phát dục phô trương biết bao năng lượng phồn sinh quyến rũ diệu kỳ. Những vách núi dựng đứng, những thung lũng sâu thẳm, những đỉnh đèo lộng gió, những dòng suối hun hút mùa cạn, những ruộng bậc thang, những cánh rừng bạt ngàn cổ thụ, bạt ngàn lau sậy tre nứa... tất cả tạo nên bản sắc một vùng đất hào hùng chan chứa những năng lượng bí truyền và dồi dào những động lực huyền hoặc.
Dọc tuyến đường, chúng tôi tranh thủ ngủ lại những khách sạn miền sơn cước với những đặc sản của núi rừng Tây Bắc. Ôi những động dược, thảo dược, thổ dược, sơn dược, lâm dược thủy táng trong rượu nếp Mường Lò ngất ngây sinh lực. Sự trù phú lâm thổ sản núi rừng chắc không còn được như xưa nhưng bóng dáng những thời đại hoàng kim của núi rừng Tây Bắc vang bóng một thời vẫn phảng phất đâu đây nơi dáng hình núi non và gương mặt người sơn nữ.
Những mật gấu, cao hổ, sừng tê, ngà voi, óc khỉ, tay vượn...; những sừng bò tót, sừng bò xám, sừng trâu, gạc hươu, sừng sơn dương...; những thịt tê tê, kỳ đà, nai, hoẵng, lợn rừng, cầy hương, don, chồn, sóc, dúi, rùa, ba ba...; những trăn, hổ chúa, hổ mang, rắn lục, cạp nia, cạp nong, sọc dừa...; những ong đất, ong chúa, ong muỗi, ong mật, bầu vẽ, ong khoái, kiến đen, kiến vàng, kiến đỏ, sâu chít...; những cỏ đắng, tầm gửi nghiến, đỗ trọng, táo mèo, kỳ tử,...; những nấm hương, mộc nhĩ, linh chi, sa nhân, quế, thả quả, tam thất, nghệ, gừng, măng...; những khèn, sáo, đàn, nhị, mõ,.. những thổ cẩm, xà tích, vòng vàng, vòng bạc, nhẫn, khuyên, lắc, hồng ngọc, bích ngọc, đồ gốm cổ, đồ sứ cổ, đồ đồng cổ... hình như trên những nẻo rừng âm u huyền bí Tây Bắc không thiếu một thứ gì quý hiến cấm đoán ở trên đời vào thời điểm hiện nay. Cố nhiên, chỉ có trời mới biết những thứ quý hiến đắt tiền đó thứ nào là thật và thứ nào là giả. Hầu như nó không được bày bán công khai giữa thiên thanh bạch nhật mà thường được chào hàng một cách bất ngờ, ý nhị, bí hiểm trong lãng đãng sương khói lam chiều. Từ cung cách tiếp thị bán các đồ đặc sản quý hiếm quốc cấm tôi chợt nhận ra hình như cung cách bán hàng này đã rất thịnh hành một thời lừng danh khi nơi đây là thánh địa sản xuất và trung chuyển thuốc phiện của tam giác vàng.
Sau một vòng thăm thú phong cảnh chúng tôi không quên giành thời gian thăm chiến trường Điện Biên lừng lẫy năm châu trấn động địa cầu. Những đồi A 1, C1, cánh đồng Mương Thanh, hầm Đờ cát tơ ri, đại bản danh của tướng Giáp - vị tướng mà do công việc tôi đã nhiều lần đến nhà ông ở phố Hoàng Diệu - khi đứng trước căn hầm chỉ huy ở rừng Mường Phăng của ông chẳng hiểu sao tôi lại chạnh lòng nhớ câu chuyện: hầm của viên tướng bại trận thì được bảo tồn nổi danh còn hầm của viên tướng thắng trận lại bị lãng quên mục nát trong rừng thẳm. Mới hay thắng thua nơi chiến trường, trận mạc và thắng thua hậu chiến thực đáng suy ngẫm. Chiến tranh đã lùi quá xa, không còn gây xúc động nhiều đối với tôi, có điều so với sự tưởng tượng của một nhà văn cũng như tầm vóc của chiến thắng Điện Biên Phủ thì hiện trường chiến trường và những dấu tích còn lại sao mà quá sơ sài, nhỏ bé và bơ vơ. Duy có nghĩa trang Điện Biên Phủ thực sự gây xúc động cho tôi bởi lẽ trừ 2 vị anh hùng có bia mộ tên tuổi còn lại toàn bộ hàng nghìn liệt sĩ nằm đây đều vô danh do lũ lụt đã vô tình xóa hết tên các anh trên bia mộ tạm thời một thuở.
Đến Điện Biên chúng tôi không về ăn nghỉ ở nhà anh mà thuê khách sạn bởi đoàn đông người. Rồi cả đoàn kéo đến nhà thăm mẹ anh. Nhà anh tọa lạc giữa trung tâm thị xã với hai mặt phố rộng thênh thang. Nghe anh kể, ngày xưa nhà anh có một ngôi nhà dài và đây chính là một trong những trung tâm trung chuyển hàng hóa Việt - Lào, là đại bản danh của những đoàn xe tải quá cảnh thuộc bộ đôi Việt Nam ở khu Bắc Lào. Những lái xe tải chở hàng hóa từ Hà Nội sang Lào và từ Lào về Hà Nội đều dừng lại nghỉ ngơi lấy lại sức nhiều ngày ở tại nhà anh. Bố anh trở thành bố nuôi không không biết bao nhiêu bộ đội tình nguyên, bao nhiêu người buôn bán, bao nhiêu lữ khách giang hồ. Nhiều người giầu có do buôn bán hàng hóa theo đường biên giới đã qua lại nhà anh, đã ăn chực nằm chờ mòn chăn gối và bát đĩa. Tuy nhiên, trong đó cũng có cả một số người bị tử hình trong những vụ buôn bán hê rô in sau này.
Về thăm nhà bạn mùa xuân ngôi nhà xưa của tuổi thơ bạn - cái đại bản doanh của những chuyến quá cảnh với những thương vụ bí hiểm và lảng bảng nhiều thần chết không còn. Có lẽ từ khi bố anh mất, những phi vụ làm ăn động trời không diễn ra ở đây nữa mà đã chuyển đi đâu đó trong khung cảnh núi non trập trùng hùng vĩ miền Tây. Anh bạn tôi mặc dù là một tiến sỹ giảng dạy đại học nhưng tôi vẫn có cảm giác hình như anh vẫn là một nhật vật rất bí mật.
Mẹ anh, một người đàn bà có nguồn gốc ngoại quốc nhỏ nhắn, trắng trẻo, phúc hậu dụt dè rót nước mời khách. Bà tuy người nhỏ nhưng thanh ngữ âm vang, tiếng nói rành rẽ, rõ ràng, vuông vắn. Bà nói với chúng tôi nhiều chuyện, những lo lắng về những đứa con đi làm ăn xa của bà, kể cả bạn tôi - một người đàn ông học cao biết rộng, từng trải, lọc lõi và bí ẩn đã ở cái tuổi tri thiên mệnh vẫn đau đáu trong nỗi lo của mẹ. Bà nói: Các bác ạ, nhà em có 8 đứa con đến nay đều đã khôn lớn thành người may mà không đứa nào mắc nghiện. Ở giữa cái trung tâm trung chuyển thuốc phiện và hê rô in của tam giác vàng này mà cả 8 đứa con của bà đều học hành thành đạt không ai mắc nghiện thì quả là một kỳ tích, một sự may mắn trời cho hay chỉ vì có một người mẹ suốt cả đời chỉ một niềm lo lắng cho những đứa con. Thực ra, có được người mẹ tảo tần, khiêm cung, nhất mực hy sinh luôn lo lắng cho con như bà thì các con bà khó mà mắc nghiện được. Đó chính là sự kỳ diệu của các bà mẹ trên cái thẻo đất Việt nóng bỏng và huyền bí  này.
Chiều Tây Bắc ngày đầu xuân mưa xuân ấm áp rơi nhẹ ngoài hiên. Ngồi trong ngôi nhà nơi mảnh đất chôn nhau cắt rốn bạn, nhìn ra sân chợt tôi nhận ra quanh sân là những cây đào già đang nở hoa hồng rực. Những cây đào kia có tự bao giờ. Đã đứng đó nở hoa lộng lẫy mỗi độ xuân về từ khi nào. Đã lộng lẫy trong mắt biết bao lữ khách đã tá túc ở nhà anh. Hoa đào nở rực rỡ trước sân đó là biểu tượng của thành công, biểu tương của thịnh vượng. Đó cũng chính là thông điệp may mắn của đất trời mang đến với mỗi cuộc đời khi xuân về.
21/1/2008
Nguyễn Linh Khiếu
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

"Ánh sáng và Bóng tối trên châu Âu": Giải mã nỗi thất vọng của một nhà nhân văn

"Ánh sáng và Bóng tối trên châu Âu": Giải mã nỗi thất vọng của một nhà nhân văn Liên tục trong những năm gần đây, tên tuổi Stefa...