Không ăn cũng không uống mà vẫn biết ngon hay dở
Cái ăn (và cả cái mặc),
một giai đoạn dài là nỗi lo canh cánh của hàng triệu triệu gia đình Việt Nam.
Không phải ngẫu nhiên trong tiếng Việt, từ ăn lại nhiều nghĩa
đến vậy (ăn ảnh, ăn cánh, ăn thề, ăn hối lộ…) Thông qua biểu tượng chất lượng
thực phẩm, trong giao tiếp, người Việt Nam có thể nhận xét, đánh giá mọi
sự vật, hiện tượng, trong đó, nổi bật nhất cách dùng từ ngon và dở.
1. Trí não của con người,
thông qua những trải nghiệm hoặc có tính cá nhân hoặc dựa vào hệ thống ý niệm của
cộng đồng diễn ngôn, dung nạp, xử lý, lưu trữ, phục hồi và cả truy xuất tri thức
không hoàn toàn thụ động mà có tính tương tác theo những phương
thức tri nhận nhất định.
Về khía cạnh thứ nhất, tương
tác dễ quan sát nhất là với chính cơ thể của con người mà ngôn ngữ học
gọi là những trải nghiệm nghiệm thân. Trước hết, xuất phát từ thân xác con người (nghiệm
thân sinh lý).Thứ đến, là tương tác với môi trường vật chất xung quanh (nghiệm
thân (với) tự nhiên). Tiếp theo, là tương tác với người khác (nghiệm
thân xã hội)[ Trịnh Sâm, 2019].
Về khía cạnh thứ hai, đó
là quá trình và cũng là kết quả của các bình diện tương tác, tập hợp một số phương
thức tạo thành một chỉnh thể, quyết định bản chất trí não của con người,
đó chính là những mô hình tri nhận, mà về nguyên tắc là một hệ thống mở có tác
dụng kích hoạt, giúp con người quy loại, hình thành và lý giải, nội suy những ý
niệm trực tiếp hoặc gián tiếp.
2. Nhìn một cách tổng
quan, mô hình tri nhận thường có tính phổ quát, nhất là những trải nghiệm đơn
giản kiểu như: Tình thương là hơi ấm, Nhiều thì hướng lên, Không biết
thì hướng lên, bởi qua kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày, con người
có thể nhận hiểu và hoạt hoá (enactment) dễ dàng các ẩn dụ ý niệm ấy.
Nhà nghiên cứu Trịnh Sâm
Sự khác biệt, trước đây
trong một số bài viết, chúng tôi thường lý giải và căn cứ vào sự biểu hiện đậm/nhạt
của một số phương thức tri nhận nào đấy, chẳng hạn như vai trò sông nước,
cây trái, thực phẩm trong phóng chiếu, hiểu là những miền nguồn trong
tương tác với chủ thể kinh nghiệm, hầu như ngôn ngữ nào cũng có, nhưng rõ ràng
đây là những trường ý niệm rất quen thuộc trong tâm thức của người Việt và bên
cạnh tính phổ quát còn có sự đa dạng trong tương tác văn hoá.
Cụ thể hơn, xin được minh
họa, như ẩn dụ Cuộc đời là một cuộc hành trình rất
phổ biến trong nhiều ngôn ngữ, nhưng nếu như trong tiếng Anh, tiếng Pháp, hành
trình ấy thường liên hội giữa đường bộ – đường đời thì trong
tiếng Việt lại là đường thuỷ – dòng đời.
Nhiều ẩn dụ cho thấy,
theo quan niệm của người Việt: con người sinh ra từ nước
(nước nguồn, nước ối), đời người là dòng sông, và khi nhắm mắt xuôi tay là trở
về với nước, cái chết, cách kết thúc hành trình là suối vàng, nơi chín
suối, nước tiên, nước phật; nghi thức chèo thuyền đưa linh, tục đóng tiền đò bằng
cách bỏ vàng, bạc vào miệng người chết.
Ngược lại, trong văn hóa
phương Tây, con người sinh ra từ cát bụi, chết là trở về với cát bụi, hình
ảnh tiễn đưa người chết thường gắn liền với cỗ xe ngựa (carriage, char), tức khởi
đầu và kết thúc hành trình đời người đều diễn ra trên đường bộ [Trịnh Sâm 2011
vả 2012].
Cách tiếp cận này, cho
phép chúng ta nhận ra những nét khu biệt hãn hữu nhưng lại rất khó biện giải
trong các trường hợp có xung đột giá trị liên quan đến những xung đột ẩn dụ hoặc
khi tính đặc thù mờ nhạt, khi nhận thức văn hoá chỉ cho thấy một xu hướng tri
nhận thiên về một góc độ nào đó.
Để giải quyết vấn đề này,
G. Lakoff và M. Johnson [1980 và 2003] thường nhắc đến thuật ngữ ưu tiên hay
thang độ ưu tiên (priority scale), sau này được Z. Kövecses [ 2002 và 2010] triển
khai rõ ràng hơn, chẳng hạn, các ẩn dụ định vị trong tiếng Anh: Nhiều
hơn thì tốt hơn (More is better), Nhiều hơn thì hướng
lên (More is up) và Tốt thì hướng lên (Good is up),
thoạt nhìn dễ tưởng chúng bình đẳng như nhau. Thế nhưng không ít biểu đạt liên
quan đến hướng lên, hình như đi ngược lại hay mâu thuẫn với ẩn dụ Tốt
thì hướng lên, như Lạm phát đang lên cao (Inflation is rising), Tỉ lệ tội
phạm đang gia tăng (The crime rate is going up), tức trong trường hợp này, lạm
phát, tội phạm là những hiện tượng xấu và như thế hướng lên chưa hẳn là tốt, thế
nhưng ẩn dụ Nhiều hơn thì hướng lên thì vẫn tỏ ra bao quát và
đó là sự lựa chọn ưu tiên trong tiếng Anh.
3. Trong tiếng Anh, hai ẩn
dụ ý niệm sau đây là rất quen thuộc Ý tưởng là thực phẩm (Ideas
are food), nghĩ là đun nấu (Thinking is cooking). Và một ẩn dụ
khác cũng rất phổ biến trong tiếng Anh và tiếng Việt: Mùi vị cuộc đời
là mùi vị của thực phẩm với cả một hệ thống ngữ liệu rất giống nhau
trong hai ngôn ngữ, ngoại trừ cách dùng hai phẩm chất đối nghịch cay đắng – ngọt
ngào trong một ngữ đoạn nối như tiếng Anh (But he′ s got bitter – sweet
memories of his first appearance there) [A. Deignan, 1995], so với ngọt ngào,
cay đắng, ngọt bùi được miêu tả riêng trong tiếng Việt.
Bên cạnh đó, ngôn từ về
thực phẩm, nhất là về ăn uống xuất hiện khá đa dạng trong tiếng Việt. Thế nhưng
độ nổi trội và thang độ ưu tiện lại không hoàn toàn giống nhau.
Hãy chú ý đến sự phong
phú trong từ đa nghĩa một cách hệ thống của ăn và sự chuyển
nghĩa của nó trong giao tiếp mới thấy hết nỗi ám ảnh của cộng đồng diễn ngôn. Về
mặt ngôn ngữ học, lần theo những nét tương đồng nhận thức của từ đa nghĩa trong
hành chức, chúng ta sẽ tìm thấy hệ thống ẩn dụ ý niệm tương ứng. Nói khác, hệ
thống từ đa nghĩa chính là những ngữ liệu minh hoạ cho các ẩn dụ, nhất là ẩn dụ
phức và ẩn dụ bậc trên.
Có thể kể đến các ẩn dụ
trong tiếng Việt: Con người là thực phẩm, Năng lực, ứng xử của con người
là thực phẩm, Vị thế xã hội là thực phẩm, Địa thế là thực phẩm, Công cụ (phương
tiện) là thực phẩm, Tài năng là thực phẩm. Từ cách hình
dung bên trên, chúng tôi chỉ tập trung phân tích cách ý niệm hoá về ngon/ dở, kết
quả của một sự lượng giá, xuất phát từ miền ý niệm thực phẩm, một hiện tượng
ngôn ngữ gợi mở nhiều điều thú vị, chứ không đơn giản chỉ là hiện tượng chuyển
đổi cảm giác.
3.1.
Chúng ta hãy quan sát các cách diễn đạt sau:
(i) Thân hình của
cô ấy rất ngon, Giới chân dài thường có cái dáng ngon, Một đường bóng rất ngon,
Bộ vó ông ấy ngon lành, Anh ta ứng xử với bà con lối xóm dở quá, Học lực của thằng
nhỏ nhà tôi dở tệ, Tao cũng ngon chứ bộ! Mày có ngon thì đi kiện đi, tao sẽ hầu
toà, Ngon thì nhào vô, biết liền hà.
(ii) Cái ghế đó
ngon quá, bao nhiêu người thèm muốn, Thời buổi bây giờ ghế ngon giá cả triệu
đô, Chỗ đứng ngon.
(iii) Nhà hai mặt
tiền ngon ơi là ngon, còn đòi hỏi gì nữa, Xe ngon, Xe chạy ngon, Xe chạy còn
ngon, Thuyền ngon, Miếng đất ngon, Điện thoại lắp ráp ở Trung Quốc dở lắm, Phim
dở ẹc, sách dở òm, Máy phun thuốc sâu đời mới ngon thiệt, Đang trò chuyện ngon
trớn thì nó đến phá đám.
(iv) Ký được hợp
đồng béo bở, Không nuốt nổi thương vụ này, Chưa tiêu hóa hết nội dung, Không giảm
tải, học sinh rất dễ bội thực kiến thức, Các thầy cô giáo không cần thiết lúc
nào cũng mớm kiến thức cho sinh viên, Ngủ ngon, ngủ nướng.
(v) Ngon ăn, ngon
cơm (mỏng cơm, dày cơm), ngon mắt.
Có thể thấy, các diễn ngữ
liệt kê bên trên trực tiếp hay gián tiếp đều là những ẩn dụ bản thể, tức đều được
hình thành từ những trải nghiệm dưới dạng vật thể và chất liệu.

3.2.
Ở (i), ngon/dở liên quan đến vóc dáng, sức sống, cách thức ứng xử, năng lực, ở
(ii) và (iii) là vị thế xã hội, vị trí địa lý, chất lượng, đặc điểm, ở (iv) là
sự kiện, hoạt động, trạng thái, ở (v) là đặc trưng, phẩm chất, tất cả được nhào
nặn thành thức ăn, thành thực phẩm.
Như vậy, vị từ ngon/ dở
trong tiếng Việt có phạm vi sử dụng rất rộng, tuỳ theo ngữ cảnh có thể tương
đương với nhiều ý niệm hoạt động, đặc trưng, trạng thái, tính chất trong nhiều
ngôn ngữ.
Và có thể nói, hầu như tất
cả các từ ngữ chỉ hoạt động liên quan đến nấu nướng, bếp núc trong
tiếng Việt đều có thể dùng với nghĩa ẩn dụ: lập luận sống sít, độ chín
của nhà quản lý, xào sách, xào bài, xào khô, xào ướt (tình yêu), con gái nhà
này khê rồi, hâm nóng tình yêu, tình cảm nguội lạnh, thêm mắm, thêm muối vào
cho câu chuyện đỡ nhạt; vồ vập quá rồi cũng có ngày cháy khét; thiu rồi, em gái
ơi; con gái con đứa bếp núc vụng thối vụng nát, nấu cháo điện thoại, phụ tùng
xe máy bị luộc rồi.
Liên quan đến vấn đề đang
bàn, trong tiếng Anh với miền ý niệm Cooking and food, thỉnh thoảng chúng ta
cũng gặp một số ẩn dụ nguyên cấp có hình thức biểu đạt hơi khác với tiếng Việt,
như từ công thức nấu ăn (recipe) liên tưởng đến bí quyết hạnh phúc, bí quyết
thành công (recipe for happiness, recipe for success), từ một vật phẩm để chế
biến món ăn (ingredient) trở thành thành phần trong đầu tư an toàn (the
ingredient of safe investment), thành phần của bộ phim (The meeting had all the
ingredients of high political drama). Hay, từ một mẩu, miếng thực phẩm (a
slice) thành một khoảnh khắc trong ngày (a slice of day), một thời đoạn
trong đời (a slice of life), hoặc từ pha loãng (dilute) trong chế biến thực phẩm
trở thành pha loãng niềm tin (dilute a belief), pha loãng giá trị (dilute a
value), pha loãng chất lượng (dilute a quality), từ hương vị thực phẩm
(flavour) liên tưởng đến hương vị của một lãnh thổ, một đất nước (flavour of
Hong Kong, flavour of France), thậm chí hương vị của một thời đoạn (flavour of
the month). Nghĩa là, tuy tiếng Việt và tiếng Anh cùng xuất phát từ miền ý niệm
nguồn thực phẩm nhưng cách kiến tạo lên miền đích là khác nhau. Với những gì vừa
phân tích, trong tiếng Anh có thể nghĩ đến các các ẩn dụ: Bí quyết là
công thức nấu ăn, Yếu tố cốt lõi của một hệ thống là thành phần chính của món
ăn, Hạ thấp giá trị là pha loãng, Hương vị của một đất nước là hương vị của các
món ăn.
3.3.
Cần lưu ý, liên quan đến ẩn dụ, Thân thể phụ nữ là thực phẩm ở
(i), trong tiếng Anh có: Women are sweet food, đây là những ẩn
dụ đặc thù thuộc về ngôn ngữ giới, trong một nghiên cứu về cách nam giới nói về
nữ giới và ngược lại, thiên về chiều kích xã hội (the social dimension) [ Z.
Kövecses, 2005] rất khác với trường ý niệm được thực phẩm hoá đang phân tích ở
đây. Nói rõ hơn, trong tiếng Anh, phẩm chất ngọt ngào (Sweetly) nhìn chung thường
được dùng để miêu tả phái nữ, đàn bà kiểu như She smiled at him sweetly, “Go to
sleep”, she said sweetly, chứ ít dùng để chỉ cánh đàn ông [ A. Deignan, 1995]. Ở
(ii) là những hoán dụ, phương tiện, vị trí, chức năng thay cho người, còn (iii)
với chức năng thu hẹp trường nghĩa vật chất thông qua một số ẩn dụ bậc dưới: Phương
tiện là thực phẩm, vì là thực phẩm nên hoàn toàn có thể đánh giá chất
lượng ngon /dở. Các cách diễn đạt ở (iv), ngủ ngon, ngủ nướng, tuy
chưa phải là lựa chọn ưu tiên trong tiếng Việt, so với ẩn dụ Giấc ngủ
là vật chứa và vật chứa nước (ngủ sâu, chìm vào giấc ngủ, trôi vào giấc
ngủ, trong giấc ngủ, đi vào giấc ngủ) nhưng cách thức ý niệm hóa cũng nằm
trong xu hướng vừa phân tích, các diễn ngữ còn lại trong mục này về hợp đồng,
thương vụ, kiến thức nhìn chung là không khác gì trong tiếng Anh. Ở (v), là những
phẩm chất dương tính có phạm vi sử dụng khá rộng.
3.4. Hiển
nhiên trong một số trường hợp khi áp đặt một hiện tượng phi vật thể, phi chất
liệu thành một vật thể thực thụ, với những chất liệu thực thụ, thậm chí có thể
ăn được, có thể nêm nếm được, chẳng qua là người Việt muốn nhận thức về chúng với
những mục đích khác nhau. Ở đây các vật thể được cụ thể hóa bằng chất liệu thực
phẩm nhằm mục đích đánh giá: ngon, là tích cực, thuận lợi, hướng
lên, nằm ở phần dương tính của thang độ, còn dở thì ngược lại.
Có điều, nếu như trong tiếng
Anh các hoạt động, thuộc tính, hình dáng liên quan đến thực phẩm từ qui trình
chế biến, thành phần, hình dáng chất liệu đến mùi vị đều có thể là miền nguồn
trong phóng chiếu lên miền đích một cách đều đặn, thì trong tiếng Việt bên cạnh,
một số đặc điểm giống với nhiều ngôn ngữ khác, thang độ ưu tiên thiên về việc lựa
chọn phẩm chất ngon/dở, từ đấy, thông qua cái nhìn của chủ thể tri nhận để đánh
giá nhiều phương diện của con người về vật thể, cũng như sự kiện.
4. Việc ý niệm hoá ngon/dở, xuất phát từ miền ý niệm thực phẩm bằng các ẩn dụ bản thể, một mặt cho thấy cách tư duy phổ biến của nhân loại, đó là thông qua miền nguồn cụ thể, hữu hình, vật chất, dễ quan sát, nhiều trải nghiệm để tri nhận các ý niệm trừu tượng, vô hình, phi vật chất, khó hình dung, ít trải nghiệm hơn, mặt khác còn thể hiện cách nhận thức rất riêng của người Việt, đó là các thuộc tính thuộc chủ đề quen thuộc, thể hiện sự quan tâm thường xuyên của cả cồng đồng diễn ngôn. Ngon/ dở là một trường hợp như thế. Chúng liên quan đến cái ăn, một giai đoạn dài là nỗi lo canh cánh của hàng triệu người Việt Nam chúng ta.
17/11/2020
Trịnh Sâm
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét