Giữa ảo ảnh và phù du
Matsuo Bashō qua đời rất
xa quê nhà. Nhà thơ haikai và nhà văn du kí vĩ đại này đã rời Edo vào mùa xuân
năm 1694 với mục đích đi đến tận cùng phía nam Nhật Bản. Đến tháng 11 năm đó, ở
tuổi 50, ông đã đến Osaka để thăm bạn bè, cùng các học trò sáng tác thơ ca để rồi
mắc kiết lị nặng.
Suy ngẫm về một chuyến đi đã từng thực hiện nhiều năm về trước, ông đã viết rằng: “Như một con sò/ bị tách khỏi vỏ cứng, ta chia lìa/ trong mùa thu tàn phai”. Giờ đây có thể nhìn nhận lời chia tay ấy như một điềm báo và sự tiên tri của một cuộc đời dành trọn cho việc du hành.
Trong góc nhìn hậu thế,
Bashō là người thật sự “cảm được sức hút của những đám mây bị gió cuốn đi”, do
đó cuộc đời của ông cũng đã dạt trôi từ nơi chốn này sang nơi chốn khác. Ông
sinh ra với tên Matsuo Kinsaku vào năm 1644 và lần đầu học làm thơ khi đang làm
thị vệ cho người thừa kế của một gia tộc giàu có. Mặc dù ngày nay chúng ta tôn
vinh thể thơ haiku 17 âm tiết vì sự ngắn gọn cũng như trong sáng, nhưng vào thời
của Bashō, dòng này được gọi là thơ haikai (hoặc nếu ba dòng thì là hokku).
Ngoài điều đó ra, chúng thường là những sản phẩm mang tính tập thể với nhiều “hồn
thơ cùng nhau sáng tạo, từ đó tạo nên một bài hoàn chỉnh với những liên tưởng
có phần vui tươi.
Năm 1672, ông đến kinh đô
Edo – nơi bản thân dần có những người theo dõi cũng như bảo trợ, và đã đổi tên
gần như liên tục. Cái tên Bashō được truyền cảm hứng từ một lùm chuối trồng
trong nhà mình bên sông Sumida. Ông từng viết rằng bản thân yêu thích loài thực
vật này “vì sự vô dụng của nó”, và mặc dù túp lều cùng những cây chuối đã bị
thiêu rụi trong trận hỏa hoạn lớn năm 1682, nhưng ông vẫn giữ tên này cho đến
cuối đời.
Sự kết hợp giữa tính hiện
diện và cái phù du, nơi những điều thoáng qua được lưu giữ mãi, đã định hình
nên hết thảy tác phẩm hay nhất của Bashō, bao gồm cả những nhật kí hành trình
và các phác thảo mà ông thực hiện trong những chuyến đi khắp miền trung Nhật Bản.
Nổi tiếng nhất trong số đó là Đường hẹp lên miền bắc thẳm gần đây được
Meredith McKinney chuyển ngữ, ghi lại chuyến đi kéo dài 5 tháng của ông và người
học trò Sora vào năm 1689. Bắt đầu từ năm 1682, Bashō đã nhiều lần đi về phía
tây dọc theo bờ biển phía nam của Honshu, thăm tu viện ở Koya-san, các kinh đô
cũ Nara và Kyoto, cũng như thành phố trung tâm Nagoya trước khi trở về Edo. Ông
đã viết về những chuyến đi của mình, ghi lại cảnh núi Phú Sĩ và hồ Biwa cũng
như việc bỏ rơi một đứa trẻ, sự ra đời của một con nai con, những dân làng
nghèo đánh cá bằng cung tên gần địa điểm của một trận chiến cổ xưa… và đã làm
điều đó bằng sự kết hợp giữa văn xuôi và thơ haikai, một thể loại gọi là
haibun.
Trong lịch sử văn chương, nhật kí hành trình của Bashō đã được dịch sang tiếng Anh ít nhất 8 lần, nổi tiếng bậc nhất là bản dịch của Nobuyuki Yuasa khi cách diễn đạt của vị dịch giả đã mang lại cho người đọc cảm nhận chân thực về hành trình của Basho. Theo đó ông đã đi bộ gần 1.500 dặm dọc theo bờ biển, trên những đường mòn giữa các cánh đồng và leo lên những con đường núi quanh co, mang theo áo choàng, mực, áo mưa và giày dự phòng (có lẽ học trò Sora trẻ tuổi đã giúp đỡ ông). Trong suốt hành trình, ông chú trọng tìm kiếm các di tích lịch sử, những cảnh quan nổi tiếng như quần đảo Matsushima, và đặc biệt là những địa danh được các nhà thơ thời trước nhắc đến, trong đó nổi bật hàng đầu là bậc thầy waka thế kỉ 12 Saigyō. Ông được nhiều người hâm mộ cho ở nhờ, cũng như cùng Sora và các nhà thơ địa phương khác sáng tác những bài thơ renga có tính liên kết.
Trong bản dịch mới, sát
nguyên tác hơn của Meredith McKinney, mỗi trải nghiệm được cấu trúc thành một
chuỗi các đoạn văn ngắn, kéo dài từ chỉ một câu cho đến vài trang, và luôn kết
thúc bằng ít nhất một bài thơ hokku ba dòng của Bashō hoặc các học trò. Những
bài thơ này nhằm mục đích chắt lọc trải nghiệm, loại bỏ những tạp âm cảm giác
và theo đuổi cái vĩnh hằng trong khoảnh khắc hiện tại. Đơn cử khi lang thang
trong khuôn viên của một lâu đài thế kỉ 12, Bashō đã dừng ở nơi “cỏ mùa hè um
tùm” mọc trên những gò đất đổ nát. Ông kết thúc chuyến thăm ngôi chùa trên núi
“đẹp đẽ, thanh bình” Ryūshakuji bằng cách ghi lại một khoảnh khắc của âm thanh
bùng nổ: “tiếng ve sầu / xuyên sâu vào đá”. Những bài thơ hokku này phá vỡ ảo
tưởng về sự tách biệt thời gian, cuốn người đọc vào khoảnh khắc sáng tác và của
những sự trải nghiệm. Trong đó lịch sử, nhân chủng học, thậm chí triết học dường
như tan biến, chỉ còn ta ở đó với nhà thơ và tiếng ve sầu. Và rồi họ lại tiếp tục
hành trình.
Cách tiếp cận này ghi lại
một hành trình được đánh dấu bởi kì vọng và biến cố, giữa điều ta hằng tìm kiếm
cũng như tìm thấy. Đôi khi, như ở vịnh Matsushima, nhà thơ thoáng thấy một “kì
quan của tạo hóa”. Lúc khác, ông than phiền về điều kiện khắc nghiệt của chuyến
đi với những cơn mưa lớn, các con đường quanh co và những đêm ngủ giữa “bọ
chét, chấy rận / và một con ngựa tè / ngay cạnh gối tôi”. Vài lần, ông thậm chí
còn không nói nên lời vì bệnh tật và kiệt sức. Thường thì ông tìm kiếm những
nơi được các nhà thơ trước đó nhắc đến nhưng rồi không thể tìm thấy như hằng
mong đợi. Chẳng hạn bên ngoài làng Shinobu, hai người đến thăm một tảng đá nổi
tiếng được biết đến trong thơ ca cổ điển bởi sẽ tạo nên họa tiết lá dương xỉ
khi tiếp xúc với bề mặt nào đó. Nhưng khi đến đó, họ lại thấy nó bị chôn nửa chừng
trong đất, bị dân làng đẩy úp xuống, cũng như là bị giẫm lên bởi cả người dân
cũng như du khách đến với nơi đây…
Tập thơ kết thúc vào ngày
6 tháng 9 năm 1689, khi tác giả bước lên con thuyền hướng đến ngôi đền Thần đạo
lớn ở Ise. Ông sẽ không trở lại Edo cho đến năm 1691, và trong lúc đó không ngừng
hoàn thiện tập thơ haibun cuối cùng này cho đến khi qua đời. Chúng ta biết từ
nhật kí của Sora rằng Bashō đã thay đổi nhiều tình tiết trong biên niên sử về
chuyến đi của họ, thậm chí có chỗ hoàn toàn hư cấu. Đơn cử ông đã thay đổi thứ
tự các cuộc gặp gỡ cũng như thay đổi bối cảnh, khiến chúng không còn chính xác.
Ông cũng chỉnh sửa các dấu chấm câu, thách thức niềm tin sẵn có về thơ haiku
như một ghi chép mang tính tự phát về các cảm xúc thoáng qua. Để đạt được sự ngắn
gọn, ông không ngừng sửa vào lúc cuối đời.
Bằng điều này, Bashō đã
cho ta thấy một chuỗi mâu thuẫn gần như hiển nhiên: một ghi chép được hư cấu về
một cuộc hành trình có thật, chứa đầy những phiên bản được chỉnh sửa của những
bài thơ tưởng chừng ngẫu hứng. Ở đó rời khỏi thềm nhà là bước vào thế giới của
sự diễn giải, nơi tất cả mọi thứ dẫu xa lạ hay (dường như) quen thuộc đều được
đặt trong khuôn khổ cố định. Vì lí do này, nhật kí du hành thường có xu hướng
thay thế những địa điểm và con người có thật mà chúng ghi lại. Herodotus, theo
đó, đã viết về những con rắn biết bay và những con kiến khổng lồ có thể giết
chết lạc đà; hay dẫu đến với Trung Quốc nhưng Marco Polo không hề để ý đến đũa
hay Vạn Lý Trường Thành; mà lại tái hiện những kẻ ăn thịt người và nhiều người
đàn ông có đầu găm thẳng vào ngực…
Nhưng sự “cải biên” này của
Bashō có phần khác biệt khi tương đối chân thành. Đó là một sự tổng hợp thi vị,
một nỗ lực để dung hòa tình yêu dành cho những tác phẩm kinh điển vĩnh cửu với
thế giới luôn luôn biến mất xung quanh chúng ta. Thay vì ghi chép về những nơi
đã đến hoặc những người đã gặp, Đường hẹp lên miền Bắc thẳm cho thấy ý
nghĩa của những cánh hoa cỏ ba lá, những mầm lúa xanh cùng tiếng ve sầu kêu
vang trong đá – từ những điều tầm thường xuất hiện trước mắt và rồi biến mất
mãi mãi. Sẽ là sai lầm nếu như mong đợi một ghi chép chính xác về những điều
như vậy, bởi Bashō biết niềm tin vào sự chính xác cũng như bất biến chính là ảo
tưởng. Có thể nói rằng chúng ta viết thơ, chúng ta du lịch, chúng ta tìm kiếm ý
nghĩa nào đó trong một thế giới luôn luôn thay đổi – một thế giới không có mục
đích nào khác ngoài việc đổi thay.
Bốn ngày trước khi qua đời, Bashō gọi một đệ tử đến bên giường và cất tiếng đọc bài thơ cuối cùng: “Ốm yếu trên đường đi, / giấc mơ của ta lang thang / trên đồng cỏ úa.” Giống như con sò bị tách khỏi vỏ, ông không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục hành trình của mình.
15/10/2026
Matsuo Bashō
Ngô Minh dịch
Nguồn: VNQĐ
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét