Ngẫu tượng
“Câu chuyện là tự
thuật của một cá nhân về những ngày tháng 3 và tháng 4 năm 1975 ở Huế, Đà Nẵng…
Cuộc “triệt thoái” hay tháo chạy của quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) khỏi
Vùng 1 trước sức tấn công của Quân Giải phóng miền Nam, mở đầu cho cuộc sụp đổ
hoàn toàn của quân lực Sài Gòn, đi đến hoàn tất cuộc chiến tranh, thống nhất Việt
Nam ngày 30.4.1975.
Dựa vào các diễn tiến của
lịch sử nhưng tình tiết câu chuyện cũng như nhân vật trong truyện đều là hư cấu”.
Đó là những dòng trong Lời
phi lộ, mở đầu cho cuốn tiểu thuyết chiến tranh Ngẫu tượng của tác giả
Lưu Vĩ Lân.
Lời phi lộ này, tuy ngắn
gọn, nhưng đưa ra hai thông tin cần thiết cho người đọc. Thứ nhất, đây là cuốn
sách viết về sự kiện lịch sử 30.4.1975, nhưng không phải từ Sài Gòn, mà từ Huế
– Đà Nẵng. Thứ hai đây là một cuốn sách hư cấu (fiction) dựa trên những diễn tiến
có thật của cuộc chiến (non – fiction)
Như vậy, tác giả không phải
rào đón mà muốn dọn sẵn tâm thế cho người đọc, như cách mà mỗi người lính chuẩn
bị gì cho một cuộc hành quân, cho một trận đánh lớn. Nhưng đây không phải là một
trận đánh. Đây chính xác hơn là một cuộc tháo chạy. Mà, trước cuộc tháo chạy lịch
sử, trước cơn sóng thần, mọi thứ bỗng trở nên yên bình đến không ngờ.
Nhân vật chính trong tiểu thuyết là Dũng – một chuẩn tướng của Việt Nam Cộng hòa, người từng tốt nghiệp sĩ quan Đà Lạt. Sau tốt nghiệp thì về Nha Trang học hải hành, và chọn hải quân làm binh nghiệp. Dũng từng tham gia vào nhóm biệt kích biển, nhưng sau đó lại tăng cường cho biệt kích dù nhảy toán vào các vùng rừng núi từ Quảng Nam tới Thừa Thiên, Quảng Trị. Rồi Dũng được đưa sang Mỹ học trường sĩ quan cao cấp hải quân, chuyên về tình báo biển. Dũng là thế hệ lính thứ 3 của VNCH. Một người thị dân nhưng mê đời hải hồ. Cách dựng nhân vật như vật, có thể nói là một lựa chọn thông minh, dù không kém phần mạo hiểm.
Câu chuyện tiểu thuyết
cũng được kể từ chuẩn tướng Dũng, với cách xưng hô nhẹ nhàng kiểu miền Nam là
“Mình” (có một chút liên tưởng tới Mình & họ của Nguyễn Bình Phương)
Nhịp điệu của tiểu thuyết rất hối hả, nhanh dồn như phim hành động (action),
khiến người đọc bị cuốn hút một cách vô thức. Những giữa những cú máy nhanh, những
cú chuyển cảnh đột ngột, thỉnh thoảng tác giả lại lia ra những cú ngoài lề, khiến
từ thót tim chuyển sang bâng khuâng, day dứt. Cứ như thế, tác giả dẫn người đọc
đi, như giữa hai bờ hư thực, giữa sắt thép của súng ống tàu thuyền và giữa bao
la thẳm sâu nhưng êm dịu của biển cả. Và, lúc ấy, không chỉ có chuẩn tướng
Dũng, mà người đọc cũng thầm kêu lên: “Giá như đừng có chiến tranh”.
Chọn cái nhìn từ một sĩ
quan cao cấp của VNCH, tức là chọn cái nhìn từ “Bên thua cuộc”, cuốn tiểu thuyết
cung cấp cho người đọc những tư liệu quý báu về cuộc chiến 1975. Nhưng vượt lên
cái gọi là hiện thực chiến tranh, đó chính là thân phận con người, thân phận
người Việt Nam. Những dư chấn về chiến tranh, có thể nói là vẫn còn kinh hoàng
cho tới tận ngày hôm nay.
Lưu Vĩ Lân, với tư cách của
một nhà báo thâm niên, đã công phu nghiêm cẩn trong việc làm tư liệu. Bên cạnh
đó, anh còn như một nghệ sĩ trầm lặng, dường như không cố ý nhưng lại viết nên
những trang văn sâu sắc và ấm áp.
Lưu Vĩ Lân là nhà báo, từng
làm tổng thư ký tòa soạn nhiều tờ báo nổi tiếng ở Sài Gòn. Mấy năm nay anh tập
trung viết tiểu thuyết. Đã in Mật đạo (NXB HNV 2018).
VHSG xin trích đăng một số
chương tiểu thuyết của tác giả Lưu Vĩ Lân.
Trần Nhã Thụy giới thiệu
CHƯƠNG 1
Người đàn ông châu Á
phong trần, ngơ ngác, tóc bạc phơ trông như đã ngoài lục tuần, đứng bơ vơ ngoài
chốt gác trước cổng căn cứ không quân Dawson, thuộc Camp Dawson, quận Preston,
bang West Virginia, Hoa Kỳ. Bốn giờ chiều mùa thu Bắc Mỹ, con đường phía trước
căn cứ, chạy dài ven sông Cheat River, hoang vắng không bóng người. Chiếc túi vải
quân đội dơ bẩn, dường như là thứ hành lý duy nhất của ông, nằm chỏng chơ bên vệ
đường. Con người này trông lạc lõng như từ một hành tinh khác rơi tõm xuống
vùng đất hiu quạnh nhất của nước Mỹ – vốn nằm sâu trong dãy đại hùng sơn
Appalachian. Nhưng dường như ông ta không phải là kẻ lạc lối. Ông ta đứng thẳng
nhìn trừng trừng phía trước, không dáo dác, không tìm kiếm, không ngóng đợi.
Ông ta có cái dáng dấp của một kẻ không cần đường, không cần lối đi, không cần
phương hướng, không cần đường về. Dường như ông ta không thuộc về bất cứ nơi
nào. Và cũng không có điều gì thuộc về ông.
Đó là loại hình nhân vô hình giữa dòng đời. Người ta thoáng thấy và quên mất ông ta ngay dù ông ta vẫn ở đó. Các chuyển động của ông ta chầm chậm và giật khúc như một đoạn phim bị hư, đi một bước rồi đứng buồn như phổng đá, rồi lại đi để rồi lại hóa phổng đá. Ông ta là loại sinh vật hóa đá trong từng cử động. Con người đó như một file đã bị delete, vẫn tồn tại đâu đó trên ổ đĩa cứng nhưng các đường dẫn, các manh mối đã bị hủy, chỉ còn lẩn khuất giữa mông lung trước khi bị những dữ liệu mới dập lên và xóa hẳn mọi dấu tích. Ông ta là lãng quên.
Một chiếc xe xuất hiện từ
xa tít tắp trên con lộ, nó lớn dần lên. Nó chạy tới vội vã nhưng đột ngột giảm
ga và chỉ còn từ từ trờ tới khi nhận ra cái hình nhân của lãng quên ấy. Xe như
không dám tiến đến quá gần. Dừng lại. Rất lâu, rất lâu… mà không thấy ai mở cửa
bước xuống. Có cái gì đó nặng trĩu đè nặng khoảng cách giữa chiếc xe và người đứng.
Sau cùng, khá khó khăn mới nghe được tiếng cửa xe bật mở. Ở cửa tay lái là một
người Mỹ trung niên sang trọng khỏe mạnh chừng hơn 50. Còn ở cửa bên cạnh xuất
hiện một phụ nữ châu Á dáng dấp mệnh phụ, nét xinh đẹp còn bàng bạc trong từng
ánh nhìn, khuôn mặt và đường nét của cơ thể. Chỉ một mình nàng tiến lại phía
người đàn ông với những bước đi không giấu được run rẩy.
Họ đối diện nhau.
“Em đến đón anh!”
“Đây là đâu?”
“Nước Mỹ. Anh đang ở nước
Mỹ!”
“Bây giờ là… lúc nào?”
“Lúc nào? Lúc nào… là
sao? Anh muốn hỏi cái gì?”
“Ừ, ừm… năm nào? Năm mấy…
mấy năm?”
“Anh không còn biết năm
tháng sao!”. Giọng nói như nghẹn đi.
“Bây giờ là năm 1996!”.
Nàng như khó khăn lắm mới dám thốt lên con số ấy. Nước mắt kinh hoàng và đau buồn
đã hoen trên mắt.
“Trời, đã hai mươi mốt
năm rồi sao!”.
Câu thốt lên của người
đàn ông làm đau xé lòng cả hai người, nhưng chỉ có mỗi nàng khóc, khóc một
mình, người đàn ông thì vẫn trơ ra.
“Kia là John phải
không?”.
“Ôi, lạy Chúa tôi, anh
không mất trí nhớ!”. Nàng nhoẻn miệng cười trong nước mắt. Nụ cười long lanh nước
mắt thật đẹp.
“Em vẫn còn đẹp, Nụ à!”
Nàng chồm tới ôm chầm lấy
ông sau khi nghe câu nói, bật thét lên: “Ôi, ôi, anh không quên em, không quên
em!”.
Nàng nói thầm qua tai
ông: “Tụi em bảo lãnh anh về đây. Máy bay quân sự vừa đưa anh từ căn cứ
Guantanamo(1) đến đây đó. Anh được trả tự do rồi, nhưng sẽ bị quản
thúc một thời gian. Anh không được tiếp xúc với người Việt hiện rất đông ở Mỹ
và không được đi ra khỏi tiểu bang này. Em và John sẽ chăm sóc cho anh, bù đắp
cho anh. Anh đã mất mát cả cuộc đời rồi!”.
Chú thích:
(1)
Căn cứ hải quân của Mỹ tại vịnh Caribe.
CHƯƠNG 2
Tiếng mặt biển bị
xé toạc dưới mũi của chiếc hors-bord(1) tốc độ cao nghe như tiếng lụa
yêu kiều bị chiếc dao găm Ka-Bar(2) ngọt lịm xuyên qua. Cái thứ tiếng
xoèn xoẹt nhè nhẹ và sắc lẻm này luôn giữ cho mình niềm say đắm đời hải hồ. Nước
biển là lụa của thinh không, mũi thuyền của người thủy thủ như nhát kéo cắt
những tấm lụa thinh không để may vá một cuộc đời trôi dạt. Lạ nhất là, dù đang ở
trên tháp chỉ huy của một chiến hạm hay đang cỡi trên chiếc ca nô gầm rú lao tới
này, mình vẫn luôn cảm nhận được tiếng động đó. Nó có một tần số rung động
riêng, cao hơn, nên dù cường độ nhỏ vẫn không bị tiếng động cơ ồn ào che lấp.
“Tháng 3 bà già đi biển”,
túi khôn dân gian về biển quả đúng thật. Năm giờ sáng biển khơi Đà Nẵng êm như
một mặt hồ. Mười hải lý nối cực bắc Cù lao Chàm với bán đảo Sơn Trà, nơi có căn
cứ hải quân Tiên Sa, chỉ mất hơn 30 phút hải hành, nhưng sợ nàng say sóng nên
mình không đẩy lút ga được. Thôi đành mất thêm 10 phút để nàng không tả tơi khi
vào xem lễ. Lễ sáng chủ nhật ở nhà thờ chánh tòa diễn ra lúc 5 giờ 30. Hôm nay
là ngày 16 tháng 3 năm 1975, trong đất liền kia, những cuộc đụng độ mùa khô đã
bắt đầu.
Nàng ngồi đó im lìm, cơ
thể giật nhẹ theo nhịp của ca nô dằn sóng biển. Tóc rối nhẹ quanh chiếc băng đô
màu đen kìm giữ. Chiếc áo dài cũng màu đen cổ lỗ lụng thụng của một tín đồ cũ
xưa miền Bắc làm cho sự im lìm ấy càng nặng trĩu hơn. Đã bảo bây giờ tín đồ đi
xem lễ không còn mặc thế nữa nhưng nàng vẫn không chịu nghe. Chẳng bao giờ cãi,
nhưng cứ thủng thỉnh làm theo ý riêng, làm như chỉ cần ngước mắt cười hiền với
mình một cái là xong. Đúng là ma soeur, “hiền như ma sơ”.
“Em lạnh không?”
“Dạ không!”, chỉ đáp có
thế rồi lại nghiêng mặt nhoẻn miệng cười. Giọng Quảng Bình pha chút Bắc lẫn
chút Nam nghe hay hay. Sau lưng ánh mặt trời hừng đông trên biển ướm nhẹ bờ vai
và làn tóc của nàng, phía trước gương mặt chưa được chiếu sáng nên vẫn còn chìm
trong bóng tối, nàng như bị kẹt giữa cuộc tranh chấp của phương Đông và phương
Tây. Nàng là nơi tiếp giáp giữa mặt trời và cái bóng của nó. Mỗi con người tạo
một vùng nhật thực phía sau mình, đó là cái bóng của mình hay vùng chết của vầng
mặt trời, hay chính chúng ta tạo cho mặt trời có bóng?
Phía trước, biển Mỹ Khê
phẳng lì vạch một đường dài mỏng và thẳng tắp nối cụm núi Non Nước và ngọn Sơn
Trà hùng vĩ. Sáng tinh mơ cỡi trên những nhịp sóng biển còn thẫm màu từ đại
dương tiếp cận đất liền luôn tạo ra một cảm giác hào sảng ấm áp của người chinh
phu trở về. Núi Sơn Trà lớn dần lên chiếm hết tầm mắt, chiếc cầu cảng bí mật của
căn cứ Biệt Hải thuộc cụm căn cứ Tiên Sa hiện rõ dần lên. Thủy triều buổi sáng
của biển Đà Nẵng dâng trào, gió thường thổi ngược từ đất liền ra nên biển rất
êm. Một chiếc tiểu đỉnh tuần tiễu vòng ngoài căn cứ chạy xa xa đánh tín hiệu
đèn chào chỉ huy, Nam, Hải quân Đại úy là thuyền trưởng chiếc này, thỉnh thoảng
cũng vào xin ý kiến mình về an ninh. Có tiếng của một chiếc ca nô tuần tiễu của
Biệt hải tiến gần, chắc nhận ra chỉ huy nên ca nô dừng máy, cả ba lính đứng
nghiêm chào nhường đường cho ca nô của chỉ huy tiến vào cầu cảng. Quân lịnh,
quân kỷ của hải quân nghiêm trang thật, nhưng tiếc là… Thôi thở dài một cái cho
xong đi!
Tắt động cơ khi còn cách
cầu tàu hàng chục mét, dựa vào đà chạy của hors-bord và thủy triều lên, đánh một
vòng tay lái để ca nô im lìm xoay mình nằm ngang khi tiếp cận bến, rồi để cho
nó nhẹ nhàng bập bềnh theo con sóng nhỏ áp sát cầu tàu, là cách mình ưa thích
nhất khi vào bến. Nó lịch sự, thanh thoát và dịu êm. Nó là phong cách của một
người thủy thủ chiến binh về bến, nhẹ nhõm như hơi thở của biển sau bao nhiêu
là phong ba.
Anh binh nhì tuần tra cầu
tàu đứng nghiêm chào sau khi bắt dây và buộc ca nô vào trụ, nét mặt căng thẳng
đến tội nghiệp. Chắc anh ta chưa hết giật mình vì người tự lái ca nô cập cầu
tàu lúc tờ mờ sáng này lại là một Chuẩn tướng, nói theo cấp bậc của hải quân là
“Phó Đề đốc”. Bộ quân phục trắng tinh thẳng nếp, nón kê pi trắng viền cành
dương liễu, cầu vai một sao với chiếc mỏ neo trên vai Phó Đề đốc quả có một uy
lực mạnh đến không ngờ. Ba ngày trước, khi trên cầu vai chỉ mới là hải quân đại
tá thôi cũng đã làm khối người gập mình, nhưng chỉ sau một ngày, khi sao đậu
vào cầu vai, mình mới thấy hết sức mạnh của từ TƯỚNG.
“Nghỉ!”. Anh binh nhì như
giật mình sau lệnh của chuẩn tướng, hạ tay xuống nhưng tư thế thì không… nghỉ,
vẫn căng cứng trong tư thế nghiêm.
“Em hút điếu thuốc đi!”.
“Dạ, xin Chuẩn tướng!”. Ừ,
điếu thuốc, cái bật lửa Zippo chịu gió, tiếng bật nắp lách cách, che gió, đánh
lửa, chụm đầu khom người đốt thuốc, ánh lửa bập bùng trong lòng tay, lập lòe
trên khuôn mặt người lính trong cái tờ mờ của một bình minh trên biển đẹp quá,
thân tình và gần gũi quá. Nó cũng làm cho người lính giãn cả người ra. Tất cả
òa ra thân thiện khi hơi bập đầu tiên của điếu thuốc vừa cháy làm khói thuốc
xõa trùm vào không gian. Không gian đượm nồng mùi thơm của lá thuốc cháy giữa
biển cả ẩm lạnh.
Ánh mắt của anh ta dễ
thương và bắt đầu thoáng láu lỉnh sau vài hơi thuốc.
“Quê ở đâu?”
“Dạ, thưa Chuẩn tướng, em
dân Sài Gòn!”
“Sao vào hải quân?”
“Thưa, em đậu tú tài 1
vào Thủ Đức, đúng ra phải mang lon chuẩn úy, nhưng ba em bảo vào hải quân, em
nghe lời và thành lính… thôi!”.
Hắn vừa nói vừa cười cười
ý không che giấu việc gia đình chạy vào hải quân để khỏi đánh nhau. Một phần ba
quân số đào ngũ, trốn lính, chạy vào lính kiểng hoặc các lực lượng không chiến
đấu. Đó là chân dung của một quân đội mà mình đang làm… tướng đây!“Thôi giữ gói
thuốc luôn đi nhé!”. Nàng đang đợi mình phía xa xa chỗ cầu tàu nối với bến cảng
kìa. Quay đi mà còn nghe tiếng bốt-đờ-sô(3) của anh lính láu lỉnh dậm
gót chào sau lưng. Quân phong, quân kỷ tuyệt hảo, nhưng quân đội đâu phải là
hình thức hào nhoáng.
“Thưa, Chuẩn tướng đi
đâu?” Tiếng của Tuệ, người trung sĩ lái xe.
“Cậu để tôi tự lái, sáng
nay chủ nhật cho nghỉ một bữa!”
“Em chạy về nhà chút được
không, Phó Đề đốc!”. Nhà anh này ở gần Cẩm Lệ, khu vực ngoại thành gần giáp
ranh với vùng núi phía tây Đà Nẵng. Chắc đang lo lắng về tình hình chiến sự
đây!
“Em đi đi, nhớ đội nón sắt
kẻo không thì Quân cảnh tóm, phiền tôi đi lãnh nữa đó!”
“Dạ, em nhớ! Mà cái nón sắt
của Phó Đề đốc em để ở băng ghế sau xe đó!”
“Ok, đi đi! Chiều trình
diện nhé!”
“Tuân lệnh!”
Bàn tay của nàng ấm và êm
quá khi nàng chộp tay mình trên cần số chiếc jeep vừa vào số một để leo dốc.
Chiếc cầu tàu bí mật này nằm ở phía nam cụm núi Sơn Trà hướng thẳng ra biển để
tiện cho các chuyến đi thị sát căn cứ Phượng Hoàng nằm ở Cù lao Chàm, còn căn cứ
của Sở Phòng vệ Duyên hải tọa lạc ở phía bắc, tức bên trong vịnh Đà Nẵng ngay cửa
sông Hàn mở ra đại dương. Xe đang leo lên con đường mòn ở chân núi, được ngụy
trang để đi lên một con dốc vượt từ phía nam vào phía bắc núi Sơn Trà. Ở đỉnh của
con dốc lúc nào mình cũng thích dừng lại một chút để nhìn xuống căn cứ: trên nền
của vịnh Đà Nẵng mênh mông, bên trái là cửa sông Hàn, có con đường men theo
chân núi Sơn Trà đi sâu vào căn cứ hải quân Tiên Sa tuyệt mật. Không có bóng
thường dân lai vãng. Bộ Chỉ huy Sở Phòng vệ Duyên hải nằm sát mặt đường, kế đó
gần mép nước là 4 cầu tàu bí mật nơi có 14 chiếc PTF(4) đa
năng chuyên dùng để xâm nhập vùng biển phía bắc vĩ tuyến 17, 3 chiếc PCF(5)
đời cũ và 2 chiếc tàu ủi bờ LCM(6) đang neo đậu. Xa xa là cảng sâu
Đà Nẵng mà lúc chiến tranh cao trào luôn rộn rịp vào ra các con tàu chở
container của hãng tàu Sealand chở tiếp vận cho quân đội Hoa Kỳ, kế đó là bãi
biển tuyệt đẹp Tiên Sa, bãi tắm của các sĩ quan cao cấp, đồng thời là bãi tập của
lực lượng Biệt hải.
“Anh nhìn ngắm đủ chưa?
Trễ giờ lễ của em rồi!”. Tiếng nhắc của nàng dịu dàng và nũng nịu. Sao cái gì
toát ra từ con người này cũng đều dịu, xốp, mềm nhưng căng bật như mousse thế
nhỉ. Không chỉ da thịt, cơ thể, mà hơi thở, âm thanh rên xiết, nụ cười, tiếng
khóc, lời điêu ngoa… đều thế cả. Có một cái gì đó nén lại thật chặt bên trong
nàng, lực nén rất lớn nhưng được đưa ra từ từ, bật ra nhè nhẹ, chứ không bùng nổ
như chiếc lò xo hay viên đạn thoát từ nòng súng. Nó như mặt căng của sóng biển
ngày không bão táp, vuốt ve, quăng quật, đẩy ta trồi ra khỏi nó, nhưng lại sẵn
sàng nuốt chửng, nhận chìm ta ngay. Nó mạnh mẽ nhưng làm ra vẻ hiền hòa.
“Dạ rồi, xin tuân lệnh, làm ơn bám chặt vào nhé để anh nhấn hết ga”. Chiếc xe nuốt chửng con đường đi xuyên căn cứ ra đến trạm gác ở Cầu Trắng thì phải chậm lại. Người lính quân cảnh đứng chào thật nghiêm nhưng cũng bật nói: “Xin Chuẩn tướng nhớ đội mũ sắt!”. Bật cười vì lời nhắc nhở vừa xong thì đã thấy nàng nhoài người ra băng ghế sau lấy nón sắt thay chiếc kê pi, vừa buộc quai nón vừa cười: “Ông Tư lệnh của anh rắc rối thật!”. Ừ mấy tháng nay Tư lệnh quân đoàn ra nghiêm lệnh binh lính, sĩ quan phải luôn đội nón sắt ngay cả khi xuống phố. Chắc để nâng cao tinh thần chiến đấu.
Vị linh mục đang thánh
thiêng cúi người trên bàn thờ đọc lời khấn ban phép để thánh hóa bánh và rượu,
chuẩn bị cho nghi thức rước Mình Thánh bỗng dừng lại ngước nhìn. Chắc bóng dáng
của người sĩ quan cấp hàm tướng trong bộ lễ phục hải quân trắng toát, đơn độc vội
vã đi vào thánh đường trong thời khắc trang nghiêm nhất này làm ông giật mình.
Tiếng gót giày dù mình có cố gắng nhẹ bước đến mấy cũng gõ vội vã trên lối vào
giữa hai hàng ghế, ánh sáng dịu êm an bình của thánh đường giữa thánh lễ dường
như cũng không ngăn nổi cảm giác xáo động của nó, tiếng gót giày như tiếng mõ
báo nguy ngày xưa ở làng quê dự cảm một tai họa. Hình ảnh người sĩ quan xông
vào giữa thánh đường vừa đẹp, lạ, vừa đầy lo âu. Ai mà không biết tình hình chiến
sự đang căng thẳng và buổi lễ sáng chủ nhật để tìm chút bình an này chắc cũng
không dễ hoàn tất. Khụy gối thi lễ, mình luôn thích động tác này vì nó giống
như tư thế tốt nghiệp sĩ quan khi người thủ khoa khụy gối nhận kiếm lệnh, khẽ gật
đầu chào linh mục chủ lễ và cúi sát hàng ghế Nụ đang ngồi, mình cố gắng thì thầm:
“Em, mình phải về ngay!”.
“Anh, em chưa rước lễ!”,
nàng thảng thốt.
Xốc vai nàng đứng dậy chẳng
cần đồng ý hay không, cái cô này không biết lúc này là lúc nào sao. “Em biết
anh đang nói đến chuyện gì rồi!”.
Nàng miễn cưỡng đứng lên,
quay đầu cúi chào cung thánh rồi tất tả bước theo. Cả thánh đường thoáng xao động,
mọi người ngoái đầu nhìn theo. Ai cũng biết tin Buôn Mê Thuột thất thủ vài ngày
trước và tự hỏi về số phận của Đà Nẵng.
Vừa đẩy nàng lên xe xong
là phải rồ ga vọt từ sân nhà thờ ra đường Độc Lập(7), ừ, quẹo phải về
nhà cho nàng xuống trước đã rồi hãy chạy thẳng về hướng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1.
“Chuyện gì vậy anh?”,
nàng ôn tồn hỏi.
“Khởi động chiến dịch Sóng Thần em!”. Mình dường như nghe tiếng tim nàng giật thót lên sau câu nói. Tiếng máy truyền tin Motorola đặc hiệu từ xe jeep của Phó Đề đốc vang lên: “Đại Dương gọi, Đại Dương gọi. Biển Động cấp 7, Biển Động cấp 7”. Sau đó là giọng Lệ Thu vang lên trong ca khúc “Thuyền Viễn Xứ”: Mịt mờ sương khói lên hương/Lũ thùy dương rủ bóng ven sông/Chiều nay trên bến muôn phương/Có thuyền viễn xứ, nhổ neo lên đường…”. Ám hiệu khởi động chiến dịch “Thuyền Viễn Xứ” của Hải quân Vùng 1 Duyên hải đã bắt đầu. Nhưng, liền theo đó là câu chuyện của riêng mình và Nụ, nó mang tên Sóng Thần.
Nàng vội vã xuống xe dáng
đi như bị vướng bởi những băn khoăn, còn ngoái đầu len lén nhìn lại. Chết đến
nơi mà vẫn… đáng yêu. Căn biệt thự nhỏ nhà mình ở cuối đường Độc Lập dường như
chưa thức giấc vì ánh đèn ở hiên nhà vẫn hắt thứ ánh sáng vàng lên chiếc cửa lá
sách màu xanh lá úa, giống như một gắng gượng sau cùng của tồn tại. Trong tiếng
gọi cửa khe khẽ của nàng và tiếng mở cửa rào lạch cạch của gia nhân sao vẫn
chen vào được tiếng xe jeep gầm lên khi mình nhấn ga. Chắc tại mình đã bắt đầu
nhớ nàng và nhớ ngôi nhà bình yên. Nhưng thôi phải nhanh nhanh hướng đến Bộ Tư
lệnh Quân đoàn 1, khu doanh trại có cái không khí êm đềm tọa lạc ở đầu cầu Trịnh
Minh Thế thuộc vùng rìa của nội ô Đà Nẵng luôn mang lại cảm giác yên tĩnh khi đến
đó.
Viên sĩ quan tùy viên vội
vã đón và đưa mình theo hành lang bên phải thế này tức là vào thẳng phòng làm
việc của tư lệnh thay vì phòng hành quân. Đây là một cuộc họp có chỉ thị riêng
không phổ biến rộng. Tư lệnh quân đoàn ngồi đơn độc trầm tư sau chiếc bàn làm
việc rộng ngập khói thuốc. Ít khi thấy ông tướng gốc dù này có dáng vẻ bối rối
như vậy. Thôi, đúng quân lệnh dập chân chào rồi im lặng chờ đợi thôi. Biết gì
mà thưa vào lúc này.
“Chuẩn tướng đã nhận được
mật lệnh Thuyền Viễn Xứ?”, ông trung tướng ngẩng đầu mất một lát lựa lời rồi mới
bật hỏi. Ba ngôi sao trên cầu vai hơi bắt nắng lấp lánh. Chiếc huy hiệu dù với
cánh bay và chiếc dù bung gió trên ngực luôn là niềm tự hào của tất cả các chiến
binh giờ trông hơi phập phù trên ngực áo, có lẽ do hơi thở nhanh của ông hay do
cái nhìn căng thẳng của mình nhỉ? Ông ngập ngừng vì đang lo âu hay có lẽ ông
chưa kịp quen với cấp bậc mới của viên sĩ quan trẻ Hải quân Biệt hải mà ông vừa
yêu mến, vừa khâm phục. Chuẩn tướng là cách gọi chung mà các binh chủng vẫn gọi,
nhưng nếu đó là hải quân và viên tướng gốc hải quân thì phải gọi là Hải quân
Chuẩn tướng hay Phó Đề đốc. Cũng không rối rắm gì lắm, nhưng khi cái bụng đang
rối thì cũng phải có chút ngập ngừng để nhớ.
“Thưa tư lệnh, đã nhận được
cấp báo toàn quân đoàn về Biển Động và mật lệnh Thuyền Viễn Xứ của Bộ Tư lệnh
Quân đoàn!”, giọng đáp của mình như đang cố gắng bình thản và rành mạch. Nên phải
xác định rõ hai quân lệnh từ hai lãnh vực khác nhau.
“Ừ, cái quan trọng giờ
đây không phải là cấp báo Biển Động mà là mật lệnh Thuyền Viễn Xứ!”, ông tướng
đàn anh nói nhát gừng: “Chuẩn tướng là sĩ quan đặc biệt tinh nhuệ của một lực
lượng đặc biệt quan trọng vào lúc này nên chúng ta mới có cuộc gặp riêng này!”.
Lại ngập ngừng lựa lời sau khi rít hai hơi thuốc dài nhả khói dày đặc ngụy
trang cho ánh mắt bối rối. “Biển đã động từ… lâu rồi!”. Ông như nhắn nhủ với
chính bản thân hơn là với đối tượng.
Thưa tướng quân, chúng ta
đã biết Biển Động từ lâu rồi, người Mỹ cuốn gói hồi năm 1972 là đỉnh cao nhất của
đợt… động này. Chúng ta thiếu đủ thứ súng, đạn, quân trang, quân dụng, dầu nhớt,
phụ tùng cho máy bay, tàu thủy… Nhưng cái thiếu quan trọng nhất là thiếu tinh
thần, thâm hụt lòng can đảm, dư thừa thu vén cá nhân và tâm thế tháo lui có
nguy cơ dẫn đến…tháo chạy. Ai trong tầng lớp chỉ huy của quân ngũ đều biết về sự
thâm hụt này. Bây giờ xin ngài ra một mệnh lệnh thật đi thôi. Ừ! sao một nỗi giận
dữ lại dâng tràn lên trong mình thế nhỉ. Thôi cứ trân mình lên như vậy để khỏi
phải nói gì thêm.
“Ông đã nắm rõ tinh thần
của chiến dịch Thuyền Viễn Xứ. Ông phải bắt đầu đi. Tuyệt mật. Tuyệt mật! Xin
nhớ cho. Ngay cả ngày mai, trong cuộc họp đầu tuần giữa tư lệnh với tướng lãnh,
họ cũng không hề biết rõ về Thuyền Viễn Xứ!”. Ông ta nói một mạch thế tức là
ông muốn cho mệnh lệnh đau lòng đó không phải lặp đi lặp lại. Tướng mà ra lệnh
rút quân thì sao không đau lòng. “Này, này chuẩn tướng!” à, ông còn muốn nói tiếp
sao, “Nhớ là chỉ giữ lại 3 enclaves(8): Chu Lai, Đà Nẵng, Huế!”, rồi
ông cúi đầu nói như lầm bầm: “Bỏ hết, rút tất cả về Nam!”. Im lặng, im lặng. Một
sự im lặng nặng ngàn cân, im lặng nổ bùng như sấm động. Thế là hết! Chúng ta bắt
đầu tháo chạy.
Chú thích:
(1)
Loại ca nô gắn máy bên ngoài.
(2)
Loại dao của lính biệt kích.
(3) Botte
De Sault: Giày da được dùng trong quân lực VNCH.
(4)
Patrol Torpedo Fast: Khinh Tốc Đỉnh.
(5)
Patrol Craft Fast: Duyên Tốc Đỉnh.
(6)
Landing Craft Mechanized: Tàu Đổ Bộ.
(7) Đại
lộ chính của thành phố Đà Nẵng, nay là đường Trần Phú.
(8)
Vùng đất cần phải giữ như một đầu cầu chiến lược.
CHƯƠNG 3
Có hai ông đại tá
trẻ được gắn sao ngay trên chiến trường bốn ngày trước, sau khi Buôn Mê Thuột
thất thủ. Người đầu tiên là một đại tá Biệt động quân ở chiến trường Kontum và
người thứ hai là mình, một đại tá Hải quân. Và cay đắng thay, cả hai có cùng một
nhiệm vụ chiến lược: tổ chức những cuộc rút quân.
Tướng là gì? Ba chữ này
luôn gợi lên trong mình lời nhắn nhủ của vị tướng Mỹ hồi hưu đến dạy tại Trường
US Naval Academy tại Annapolis mà mình theo học hồi 1968. Ông là một tướng ba
sao của thủy quân lục chiến từng trôi nổi khắp Thái Bình Dương, tham gia hầu hết
trận chiến với Nhật Bản, rồi chiến trận Triều Tiên sau đó… Mình nhớ sau khi đặt
ra câu hỏi, người quân nhân già đứng thẳng người nhìn vào các sĩ quan trẻ dày dạn
trận mạc đang ngồi bên dưới và nhấn mạnh từng lời: “Tướng là bạn thân của tử thần.
Quân nhân là người ôm cái chết vào lòng. Người có thể ôm cây súng – lưỡi hái tử
thần – ngủ say, mân mê quả lựu đạn như một quả cam nhỏ mà khi bật nổ sẽ băm nát
con người, tính toán chiến thuật để bao vây, nã pháo sát hại đối phương càng
nhiều càng tốt… Và, không một quân nhân nào lên đến cấp tướng mà không nhiều lần
mặt đối mặt với cái chết. Khi kết bạn được với cái chết, thì tất cả tầm thường
của sự sống đều vô nghĩa. Họ sống trong sự cao thượng, danh dự và nghĩa khí. Tướng
vì vậy là sự tôn quý không có gì đánh đổi được, kể cả cái chết”.
Ngôi sao được gắn vào cầu
vai mình vào ngày thứ năm 13 tháng 3 năm 1975. Mình trở thành tướng cách nay bốn
ngày lúc vừa tròn 34 tuổi, cùng tuổi với ông Nguyễn Cao Kỳ khi được phong thiếu
tướng hồi 1964, thiếu tướng Lâm Văn Phát lúc 35 tuổi hồi 1963, tư lệnh không
quân Trần Văn Minh được phong chuẩn tướng lúc 35 tuổi hồi 1967… Một cuộc chiến
thôi thúc, một quân đội vội vã hình thành… nên tướng tá đều quá trẻ. Mình là thế
hệ tướng thứ ba của VNCH, sinh quanh năm 1940, mà vào ngày chia đôi đất nước chỉ
ở lứa tuổi 15, 16, 17. Mình nhớ hôm ấy, chiếc trực thăng của Tư lệnh quân đoàn
đáp vội vã xuống Bộ Chỉ huy Sở Phòng vệ Duyên hải trong căn cứ Hải quân Tiên
Sa, bước xuống trực thăng cạnh trung tướng tư lệnh còn có cả phó đề đốc chỉ huy
trưởng Hải quân Vùng 1. Cả hai như bị ma đuổi đi thẳng vào phòng hành quân. Trước
quân kỳ Hải quân và tấm bản đồ hành quân với những điểm đỏ rực cháy của chiến
trận, Tư lệnh quân đoàn dõng dạc: “Đại tá, thừa lệnh của Tổng thống – Tổng
tư lệnh, tôi mang đến một ngôi sao và quân lệnh thăng cấp cho ông!”. Khi ngôi
sao vừa được gắn vào cầu vai, ông dõng dạc tiếp: “Chuẩn tướng, từ giờ phút này
ông là một tướng lãnh trẻ nhất của quân đội, và ông phải tiếp nhận một sứ mệnh
mà ông có trách nhiệm hoàn thành dù có phải đổi bằng sinh mạng của mình!”. Tư lệnh
ra lệnh tất cả quân nhân rời khỏi phòng để ba viên tướng ở lại. Ông quay qua bản
đồ hành quân nói từng chữ: “Chuẩn tướng nghe cho rõ: chúng ta có thể sẽ bỏ lãnh
thổ Vùng 1 này, sau khi đã có lệnh bỏ Vùng 2 cao nguyên để rút quân lực về Nam tử
thủ Vùng 3 và Vùng 4. Vùng 1 chỉ giữ lại ba đầu cầu gắn với đại dương để dễ
phòng vệ là căn cứ Chu Lai, Đà Nẵng và cửa Thuận An – Huế. Đặc biệt là Đà Nẵng.
Ba đầu cầu đó chỉ sống còn được nhờ vào hải quân. Ông là một chỉ huy hải quân lại
từng tốt nghiệp sĩ quan Đà Lạt, tham gia biệt kích nhảy toán, rồi sau đó chỉ
huy lực lượng Biệt hải. Ông có nhiệm vụ giúp Tư lệnh Hải quân Vùng 1 trong chiến
dịch tái phối trí này, đặc biệt kết nối giữa hải quân và bộ binh, và bảo đảm di
chuyển các cơ sở tình báo quân đội an toàn trong triệt thoái!”.
Sao nhiều mỹ từ quá: tái
phối trí lực lượng, triệt thoái, rút quân lực, bảo toàn lực lượng… Sao toàn là
những mỹ từ hàm nghĩa… “rút chạy” không thế nhỉ, sao không có một động từ nào
liên quan đến… “đánh” vậy. Đúng là mình đã ngẩn cả người lên vì sốc. Một loại
“sốc doublement(1)”. Sốc vì thành tướng chưa xong, thì bị cú sốc nặng
hơn nữa: sốc vì có thể thành… “bại tướng”.
“Trình Tư lệnh. Ngay bây giờ sao?”, giọng mình không giấu được thảng thốt của cú “doubler(2) sốc” đó đến mức ông tướng vội vã đứng dậy vừa quay mình vừa trả lời: “Hãy chờ mật lệnh Thuyền Viễn Xứ!”.
Ủa, sao đường phố có vẻ
chật chội và vô trật tự thế nhỉ. Cảnh sát và quân cảnh xuất hiện khắp mọi ngả
đường. Từ Bộ Tư lệnh Quân đoàn mình đi về phía Chợ Mới, qua đường Trưng Nữ
Vương, quẹo vào đường Hoàng Diệu ra Ngả Năm, khu trung tâm của thị xã Đà Nẵng,
khắp nơi người ở đâu mà xuất hiện nhiều thế, dường như có cả “tay xách nách
mang” thì phải. Thôi rồi, người tản cư từ Huế đã bắt đầu xuất hiện ở Đà Nẵng.
Lính tráng bị quân cảnh chận xét hỏi tại mọi ngả đường. Đào ngũ, bỏ ngũ đang là
mối đe dọa của quân đội. Đang có lệnh cắm trại một trăm phần trăm mà áo lính xuất
hiện ngoài đường là bị hốt ngay. Đàng kia một quán cà phê máy lạnh, nhạc tình
đang réo rắc bỗng vụt tắt. Hai xe quân cảnh ập vào xét giấy tờ tất cả các thanh
niên có mặt. Yêu cầu bổ sung lính cho các sư đoàn đang rất căng thẳng. Thanh
niên tìm đủ mọi cách trốn quân dịch mà các quán cà phê là nơi dễ hốt lại họ nhất…
Tiếng súng còn ở tận xa xăm mà tình thế đã bấn loạn đến thế rồi sao. Tin về cuộc
tháo chạy khỏi cao nguyên sau thất thủ Buôn Mê Thuột bắt đầu ngấm vào dân
chúng, và củng cố một tin đồn râm ran từ lâu về việc bỏ miền Trung và cao
nguyên. Họ chỉ nghe vậy thôi, còn mình thì được thông tin đầy đủ rằng, trong một
cuộc họp tuyệt mật, Tổng thống đã huơ tay vạch một đường cung từ Buôn Mê Thuột
xuống Nha Trang và nói: lãnh thổ mới của VNCH chỉ tính từ đây. Đó là vĩ tuyến
13. Một cuộc thụt lùi bốn vĩ tuyến.
Dừng ở cửa nhà bấm chuông
mãi mà không thấy nàng xuất hiện, trong lúc tiếng máy truyền tin cứ lặp đi lặp
lại vừa nhàm chán vừa nóng ruột khúc hát: Chiều nay trên bến muôn phương/Có
thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường… xen lẫn với lời réo gọi của trung tâm hành
quân: Chim non đang đói. Mời Đại Bàng về gấp. Chim non đang đói. Mời Đại Bàng…
Nhấn kèn xe đến lần thứ năm cửa mới xịch mở mà lại là ông gia nhân xuất hiện chứ
không phải nàng. “Sao lâu thế!”, giọng mình gắt nghe cũng khiếp thật, ông lão lập
cập chạy vừa phân bua: “Dạ, dạ, thưa ông tôi ở dưới bếp…!” vừa trao một tờ giấy
nhỏ. Nét chữ của nàng: “Em ra biển. Sợ sóng lớn đã vào bờ! Chiều anh ra nhé, em
cần anh!”. Có nét gạch bên dưới chữ sóng lớn. Chuyện này mới là chuyện lớn chứ
không phải cuộc tháo chạy Thuyền Viễn Xứ kia đâu.
“Này chú!”, mình cố gắng
giảm cường độ giọng nói xuống dù còn bực lắm: “Chú bỏ cái radio đi nhé. Trong
đó toàn là tin nhảm không à!”.
“Dạ, dạ, tui, tui…”. Ông
không dám nhận đang chúi đầu vào cái radio nghe ngóng tình hình nên không nghe
tiếng tôi gọi ngoài này chứ gì! “Chú nì, gia đình mình đang yên lành ngoài Huế
hỉ?”.
“Dạ, cả tháng ni tui có
liên lạc chi mô!”.
“Chú muốn đón gia đình vô
trong ni hay cứ ở ngoài nớ!”. Đây là những người mình có nghĩa vụ Thuyền Viễn Xứ
trước tiên đây chứ nào đâu xa xôi.
“Dạ, ông ơi, ông biết phải
làm chi chứ tui biết chi mô!”. Trời đất, tôi còn không biết số phận tôi sẽ ra
sao nữa đây. Ông tin tôi vậy tôi đau lòng lắm, ông ơi. Bỗng nhiên mọi sốt ruột
vội vã như tan biến mất. Đưa tay tắt cái máy truyền tin. Sau tiếng phụp của
công tắc “turn off”, con đường Độc Lập đoạn cuối trở lại sự yên lặng của một thời
yên bình xưa cũ.
“Chú lên xe ngồi cạnh tôi
đi!”, mình phải vỗ vào ghế mấy lần ông già mới dám rón rén ghé người ngồi lên.
Mình nói gì với ổng bây giờ đây. Nói rằng chúng tôi sắp bỏ rơi ông lại đây để
chạy tuốt vào Nam. Nói rằng, tướng nhỏ như tôi cũng như tướng lớn đàn anh trên
kia cũng đang chạy tới chạy lui và không biết tình hình đang diễn tiến thế nào.
Hay nói rằng sẽ tử thủ ba cái đầu cầu này để chiến trận ập tới nghiền nát cái
thị xã nhỏ bé, yên bình này. Hay nói rằng, thôi ông cứ để gia đình lại ngoài Huế
còn tôi đưa ông chạy vào Nam và ông sẽ chia lìa khỏi họ thêm hai mươi năm nữa.
Mà ông làm gì còn hai mươi năm nữa mà đợi.
“Chiến tranh lâu quá rồi
chú hì!”.
Ông già gục gặc: “Lâu thiệt,
ông ơi!”
“Chừ chú muốn kết thúc
hay tiếp tục hắn?”
“Tui mà biết chi mô!!!”. Ừ,
mình cần phải bổ sung cho vị tướng già đã định nghĩa về Tướng. Tướng là dẫn đường,
đưa lối. Chứ đám tùy tùng, người dân có biết chi mô thiệt! Vậy thì mình phải
quyết giúp ổng, chứ ổng làm sao nói được mà hỏi.
“Vậy được rồi, chú cứ ở
yên trong nhà hỉ. Tích trữ lương thực đầy đủ, đừng nghe lời ai chạy bậy. Tui sẽ
đưa gia đình chú vô đây. Sống chết có nhau còn chuyện mai sau để trời tính hỉ!”
“Dạ, lạy ông. Ông tính cho rứa phước đức quá. Tui có biết chi mô, biết chi mô!”. Nét mặt ông già như từ khoảng tối ló ra ánh sáng. Đúng thật, họ cần mình, Tướng, quyết định cho họ.
Sở Phòng vệ Duyên hải, trực
thuộc Nha Kỹ thuật, Bộ Tổng Tham mưu, một cái tên hiền lành như một cơ quan
hành chánh kỹ thuật, thực chất là vỏ bọc cho một bộ máy hành động quyết liệt nhất
mà quân lực miền Nam đã tiến hành: gởi người xâm nhập miền Bắc bằng đường biển
từ những năm 1962 để phá hoại, thu thập tin tình báo, thâm nhập, gây kích động
bạo loạn, bắt cóc người để đưa về Nam huấn luyện. Nó là cơ cấu tinh nhuệ chuẩn
bị cho Bắc tiến khi cần.
Thoạt đầu đây chỉ là một
chiến dịch tình báo đơn lẻ do Trung ương Tình báo Hoa Kỳ(3) chỉ đạo
ngầm, chỉ đến năm 1964, mới hình thành cơ cấu hỗn hợp Việt Mỹ chính thức và lấy
tên là Sở Phòng vệ Duyên hải. Sở có hai bộ phận chính là lực lượng Hải tuần,
nơi tập hợp những kẻ lì đòn nhất, khả năng hải hành giỏi nhất của hải quân, và
lực lượng Biệt hải, gồm những biệt kích hàng đầu từ khắp nơi tụ họp lại, dĩ
nhiên phải được huấn luyện biển để trở thành biệt kích biển. Xuất qủy nhập thần
từ đại dương, lực lượng Hải tuần âm thầm đưa những con thuyền đủ loại từ thô sơ
như ghe Nautilus(4) đến các loại tiểu đỉnh hiện đại như PCF, rồi
PTF… vượt qua vĩ tuyến 17 tiến đến vĩ tuyến 18 – khoảng bờ biển Hà Tĩnh – và xa
hơn có lúc đến vĩ tuyến 20 – vùng biển giữa Thanh Hóa và Nam Định – để tiến
hành các vụ đổ bộ thâm nhập, có lúc là đánh phá các cơ sở hạ tầng như cầu cống,
bến cảng, các đài radar ven biển; có lúc là bắt cóc người dân hoặc cán bộ chuyển
về Nam khai thác tin tức tình báo, rồi huấn luyện cài trở lại miền Bắc; có lúc
là quấy nhiễu các hoạt động của tàu bè ven biển để gây tâm lý bất an, hoặc các
hoạt động của chiến tranh tâm lý như rải truyền đơn, gởi quà cáp để kích động
các thành phần bất mãn trong đất liền, điều hành đài phát thanh “Gươm Thiêng Ái
Quốc” phát sóng ra miền Bắc trong cuộc chiến tranh tâm lý… Nếu quân miền Bắc
thâm nhập vào Nam bằng đường rừng thì Sở là cuộc thâm nhập của miền Nam ra miền
Bắc bằng đường biển.
Người Mỹ đã kết thúc việc
trực tiếp dính líu vào công tác này từ năm 1970 khi họ xuống thang chiến tranh
và chuẩn bị rút khỏi Việt Nam, nhưng hoạt động của Sở vẫn được duy trì, về mặt
chính thức là thuộc quân lực VNCH, nhưng bên trong vẫn được sự ủng hộ ngầm của
tình báo Mỹ. Họ không dại gì buông tay khỏi một công cụ mật hữu hiệu mà họ đã
dày công vun đắp.
Và lúc này đây, khi chiến
cuộc đang đi vào chung cuộc, khi một giai đoạn lịch sử mới đang ló dạng kèm
theo tính vô định của tương lai thì chính là lúc các công cụ mật ấy được sử dụng.
Trong chính trị không có công cụ nào hữu hiệu hơn công tác tình báo để đối phó
với những bất định đó. Mình quá hiểu chuyện này nên ngay từ khi dong xe từ Đà Nẵng
về căn cứ Tiên Sa đã phải phát mật hiệu họp nhóm công tác tình huống đặc biệt
này. Mười hạm trưởng tài giỏi nhất của các khinh tốc đỉnh đã có mặt, viên trung
úy chỉ huy liên đội người nhái hải quân biệt phái vạm vỡ đen như cột nhà cháy
im lặng ngồi vào bàn, viên đại úy dáng dấp thư sinh nhưng rắn rỏi xuất thân từ
sĩ quan Đà Lạt chỉ huy nhóm Thủy quân Lục chiến biệt phái theo sau dập chân
chào và một trung úy khác người gốc Huế chỉ huy nhóm biệt kích xuất thân từ nhảy
dù, lực lượng đặc biệt và bộ binh lặng lẽ ngồi vào bàn sau khi chào chỉ huy.
Bên trái bàn họp đã ngồi sẵn từ đầu một người đàn ông trạc ngũ tuần mặc đồ dân
sự nhưng đều nhận được cái gật đầu chào tôn trọng của các sĩ quan trẻ. Ông ta
là chỉ huy nhóm dân sự chiến đấu, một loại du kích quân có mặt từ đầu trong các
cuộc thâm nhập miền Bắc hồi đầu những năm 60. Họ là dân hoạt động tình báo thứ
thiệt chứ không phải là quân nhân biệt phái như các thế hệ sau. Họ hầu hết là
người gốc Bắc di cư vào Nam và khao khát trở lại miền Bắc.
“Chào anh em, Tư lệnh
quân đoàn đã ra lệnh bắt đầu chiến dịch Thuyền Viễn Xứ. Tôi với tư cách chỉ huy
tác chiến của Sở sẽ trực tiếp chỉ đạo chiến dịch! Anh em đã có bản kế hoạch
trong tay. Bước một, chúng ta sẽ chỉ phòng thủ ba đầu cầu là cửa Thuận An, Đà Nẵng
và Chu Lai. Chúng ta phải di tản các cơ sở tình báo nằm ngoài ba khu vực này
vào nơi an toàn, phá bỏ các thiết bị liên lạc, đưa người thoát ra! Vì đường bộ
không còn an toàn nữa và đã bị cắt đứt vài nơi, nên trong ba ngày tới, chúng ta
sẽ dùng các khinh tốc đỉnh tiếp cận các bờ biển là điểm cầu từ Quảng Trị, Huế,
Quảng Nam, Quảng Ngãi. Biệt hải sẽ đổ bộ di chuyển nhanh ra các vùng ven đô thực
hiện công tác triệt thoái này!”. Mình đang nói về điều gì mà giọng vẫn dõng dạc
thế nhỉ! Mình đang nói về chuyện chạy, đúng rồi… chạy! “Chạy” mà sao hùng hồn
thế, phải điều chỉnh giọng lại thôi!
“Sau bước một từ nay đến
ngày 20 tháng 3 phải hoàn tất, chúng ta sẽ đi vào bước hai: thu gọn các cơ sở
ngay trong lòng thành phố Huế, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, tập trung họ đến gần
các nơi có thể di tản được như Tiên Sa, Thuận An, Chu Lai… rồi dọn một “hành
lang an toàn” dùng các khinh tốc đỉnh của ta để giúp di tản các sĩ quan cao cấp,
các sĩ quan còn ở lại chỉ huy bọc hậu giúp các đơn vị di tản trước. Tất cả để
chuẩn bị cả khả năng bỏ Huế, Đà Nẵng và toàn bộ Vùng 1!”. Tiếng ồ của cả phòng
họp mật được cách âm gần như đồng loạt vang lên làm mình cũng giật bắn cả người.
“Bỏ toàn bộ quân khu sao, chuẩn tướng!”, có người cao giọng. “Chạy hết sao?”, một
giọng khác nối tiếp. Rồi hai ba người cùng chồm lên bật ra: “Đâu đến nỗi thế hả
trời!”…
“Không được mất tập
trung!”, giọng mình hét lớn đến ù cả tai, đập bàn đứng phắt dậy, giọng mình gằn
lên nghe phát khiếp. Đây là những chiến binh cực đoan nhất của quân lực chứ
không phải đa số đám lính kiểng gà mờ của quân đội. Họ gia nhập binh chủng để sống
chết theo tinh thần “Lương Sơn Bạc”, chất giang hồ đậm nét trong cách sống này,
quân kỷ, cấp bậc chả là gì, họ chỉ tuân lệnh và chấp nhận đi vào chỗ chết với một
“đàn anh” mà họ phục chứ không phải quân hàm mà người đó mang. Chính tính chất
này mà mình mới được chỉ định chỉ huy lực lượng này. Anh em phục cái thành tích
lì lợm của mình.
“Kỷ luật số một của binh
chủng này là gì? Tôi hỏi lại mấy anh đó? Đang nhảy toán vào rừng hay đêm hôm lặn
vào bờ biển Nghệ Tĩnh mà mạnh ai nấy có ý kiến thì có còn là biệt kích không? Kỷ
luật là sống! Vô kỷ luật là chết!”. Với tay mở ngăn kéo buya-rô lôi ra khẩu
browning(5) thân thuộc, mình buộc phải làm điều mình ghét nhất – dập
khẩu súng lên bàn – mình cố gắng nói thật nhẹ nhưng dứt khoát: “Khi nhận chỉ
huy nhóm công tác đặc biệt này, tôi đã được giao khẩu súng danh dự này. Nó được
dùng để bắn bất cứ ai bất tuân thượng lệnh hoặc làm lộ bí mật và đồng thời để…
bắn vào đầu tôi khi rơi vào tình thế bị lộ!”. Không nhìn vào mặt bất cứ ai
trong phòng, mình đành ngước nhìn lên trần nhà thở dài: “Các chiến hữu, đừng để
tôi phải làm việc này!”. Sợ mọi người chưa rõ quyết tâm của “quân lệnh như
sơn”, mình phải gằn rõ từng chữ: “Lúc này tôi chỉ muốn sự yên lặng và thực hành
nhiệm vụ!”.
Một im lặng nặng nề chụp
xuống căn phòng. Độ cách âm tuyệt đối của nó càng làm cho sự yên lặng không còn
là vo ve mà như tiếng ong ong trong màng tai. Nếu mình không phải là một sĩ
quan tốt nghiệp hàng đầu của Đà Lạt chuyển qua hải quân thực tập điều hành các
khinh tốc đỉnh đổ bộ thâm nhập, rồi xung phong nhảy toán ở Trường Sơn suốt bốn
năm liền, rồi du học ở trường hải quân và tình báo Hoa Kỳ, sau đó gắn bó với
nhiệm vụ ở Sở này suốt năm năm qua thì chắc là các chiến binh vào sinh ra tử,
lì lợm đối diện với cái chết dưới kia không dễ gì nuốt trôi những lời lẽ nặng nề
như thế. Họ khâm phục, nể trọng và sợ viên chuẩn tướng trẻ tuổi trải cả tuổi
thanh xuân của mình ở những binh chủng kiêu hùng nhất. Một thứ sĩ quan chiến
binh đùa giỡn với tử thần thật sự chứ không phải đám tướng tá sa lông đang lục
đục tháo chạy ngoài kia.
“Trước khi giải tán để
thi hành nhiệm vụ, anh em đưa danh sách những người thân của mình đang ở trong
Vùng 1 này cho tôi, tôi sẽ đích thân lo việc di tản họ thay cho anh em. Một gia
đình không quá 5 người!”. Gia đình binh sĩ luôn là một gánh nặng tâm lý đè lên
các quân nhân. Nếu mình thương anh em thì phải thương gia đình họ trước. Các
ánh mắt của họ dường như thoáng biết ơn khi chào chỉ huy.
“Thưa Đại Bàng”, giọng Huế
của trung úy Hùng chỉ huy nhóm nhảy dù biệt phái tiến đến và ghé sát tai mình:
“Gia đình em ở tận Hải Lăng làm răng chuyển vô kịp!”.
“Ngày mai, tôi nhảy vào
Trường Sơn để quan sát tình hình đây! Thì Hải Lăng là bao xa?”, mình nửa đùa nửa
thật với Hùng. Phải cao bồi và đậm chất “anh hùng Lương Sơn Bạc” một chút với
anh em.
“Dạ, rứa đón được hả Đại
Bàng? Mà cả nhà có đến 7 người lận Đại Bàng!”, Hùng tươi hẳn ra và có ý nài nỉ.
“Thi hành nhiệm vụ đi!”,
giọng mình thật lòng ân cần: “Chuyện gia đình để anh lo. Lúc đó cứ chen đại lên
7 người ai trách móc!”. Quân lệnh cũng phải có… du di, mình cũng thấy tức cười
và nói ra lời dặn dò khó nhất: “Quân lệnh của binh chủng là không để lộ bất cứ
hành tung nào ngay cả với vợ con, nhưng trong tình hình này thì… cố gắng nhắn
nhủ khéo để cả nhà tập hợp lại. Đừng di tản lung tung, chờ người đến đón!”.
Tiếng dập chân chào thật
mạnh và sốt sắng: “Tuân lệnh Đại Bàng, em đi thi hành nhiệm vụ ngay đây!”.
Huynh đệ chi binh là vậy. Sống chết có nhau họ mới liều mình thế. Vậy là Tướng
còn cần phải Chết Sống cùng binh sĩ nữa!
Chú thích:
(1) Tiếng
Pháp, hàm nghĩa “Sốc hai lần hay sốc gấp đôi”.
(2)
Nghĩa như trên.
(3)
CIA.
(4)
Mật danh loại ghe thô sơ để xâm nhập miền Bắc.
(5)
Tên một loại súng.
CHƯƠNG 4
Biển chiều trở gió.
Gió chiều hè từ biển táp vào bờ thật hỗn tạo nên những đợt sóng vỗ bờ tung bọt
trắng xóa. Nước biển bị mặt trời đun nóng suốt một ngày, giờ đang dội nhiệt lượng
lên hâm nóng không khí ngay trên nó. Lớp khí đầy năng lượng này tuôn chảy vào
nơi nguội hơn, đó là đất liền dọc bãi biển. Những cơn gió hình thành như thế
cho đến đêm khuya, khi nước biển nguội dần sau lúc mặt trời tắt bóng. Lúc này,
gió sẽ thổi theo chiều ngược lại, từ đất liền ra biển. Mặt đất giờ mới tỏa nhiệt
và khí nóng sẽ từ bờ tuồn ra đại dương đang nguội.
Đưa một chiếc ca nô nhỏ rời
cầu tàu đầy sóng dập vào buổi chiều thế này là cả một kỳ công. Phải gần như
chĩa thẳng mũi ca nô nhảy lên từng con sóng mà thoát ra. Ca nô và người lái
không khác mấy với các chàng chăn bò vùng Viễn Tây Hoa Kỳ trong trò chơi cỡi bò
đầy mạo hiểm, chỉ khác là thay vì bò tìm cách hất mình xuống thì lúc này là biển.
Biển không hất mà chỉ là búng tay để lật úp con thuyền. Ừ chỉ là mấy cái búng
tay thôi chứ người hải hồ quá biết sức mạnh của đại dương, nên các cú tách bờ
vượt sóng thế này đúng chỉ là những cái búng nhẹ.
Sau cú nẩy đánh ầm thật mạnh
của lần nhảy sóng sau cùng, con thuyền bỗng như bị hỏng máy, nó lặng thinh lướt
êm trên mặt biển chiều. Thế là đã vượt ra khỏi vành đai sóng rồi. Trước mặt,
tám hòn đảo của Cù lao Chàm nằm thật buồn giữa biển chiều. Một chuyên gia khảo
cổ biển người Mỹ sau khi được mình cung cấp thuyền bè để thực hiện mấy cuộc khảo
sát đã bật ra với mình một phát hiện: “Có một trục thần thánh ở đây!”, anh ta
đưa tay chỉ vào bản đồ và vạch một đường thẳng. Đúng là một trục thẳng nối liền
bốn điểm linh: Cù lao Chàm – Cửa Hội – Trà Kiệu và Thánh địa Mỹ Sơn. Trước năm
1967, khi còn ở biệt kích mình đã nhảy toán vào vùng bán sơn địa vốn là chân của
dãy Trường Sơn này và đã thấy các phế tích ở vùng Mỹ Sơn. Bây giờ cả vùng này nằm
lọt trong tầm kiểm soát của phía bên kia rồi. Tay nghiên cứu Mỹ nọ tiếc hùi hụi
khi nghe mình kể về các thánh tích ở Mỹ Sơn mà hắn chẳng kịp đến để hoàn tất
nghiên cứu trục thần thánh của mình.
Ừ, mà chẳng có gì kịp
hoàn tất ở đất nước này cả. Một quốc gia vội vã. Chẳng có gì đủ lâu đủ chín. Mọi
cái như được nặn ra, dựng ra vậy. Mình thi đậu vào Trường Sĩ quan Đà Lạt năm
1958 thì cơ sở vẫn còn tạm bợ vì ngôi trường chỉ mới ra đời được vài năm. Tiền
thân của trường là Trường Võ Bị Đập Đá ở Huế thì chỉ là dáng dấp thời Pháp thuộc,
chẳng có gì để tự hào. Chả bì với các trường võ bị Mỹ mà mình theo học, truyền
thống cả trăm năm và quan trọng hơn nó được sinh ra từ một truyền thống hào
hùng.
Không chỉ có quân đội, quốc
gia này được nhào nặn ra từ một quan điểm địa chính trị gọi là chiến lược
nation-building(1). Các cường quốc phương Tây cho rằng các nước non
nớt nhược tiểu cần được cấp tốc xây dựng các định chế vững mạnh giống với một
quốc gia phát triển phương Tây để nó có thể vận hành được, từ đó chống sự xâm
nhập của chủ nghĩa Cộng sản. Họ lập tức tạo ra một “West Point”(2)
Việt Nam, rồi một trường chính trị kinh doanh như một Havard Business School, một
trường Quốc gia Hành chánh… Xây gấp một Dinh Độc Lập như tòa Bạch Ốc, tạo ra
thượng viện, hạ viện, tối cao pháp viện…Ý tưởng thì không tồi, nhưng điều buồn
cười là đáng ra, tất cả những định chế ấy phải hình thành từ từ trong thực tiễn
cả vài trăm năm như ở phương Tây, thì đùng một cái mọc ra ở Việt Nam sau
1954, mà trước đó dân tộc này chẳng biết mô tê gì về những điều này ngoài sự
tài phán, giám hộ của người Pháp.
Và lúc này, cái quốc gia vội vã ấy đang… vội vã tiến về đâu đây. Mình là “Tướng” của cái quốc gia ấy, là người “dẫn đường”, là thuyền trưởng, mà sao như đi trong bóng đêm, như kẻ mù lòa thế này. Tướng mất phương hướng thế thì làm sao đưa đường chỉ lối cho quân.
Biển Đà Nẵng chập choạng
chiều tối tháng 3 như nhộn nhịp hẳn lên. Các hải vận hạm, tuần dương hạm, khu
trục hạm của hải quân được điều động về vùng nước này ngày càng nhiều. Các con
tàu lớn thả neo xa bờ và hạ nhỏ đèn chiếu sáng để tránh tầm quan sát của trinh
sát đối phương đang đặt ống nhòm từ bờ để đếm tàu và dự đoán tình hình di chuyển
của quân đội. Bây giờ là lúc người ta moi tìm thông tin để dự đoán các nước đi
của đối phương trên bàn cờ. Biết trước được một nước đi có thể giúp giải quyết
ván cờ nhanh gọn hơn. Gần bờ một chút là vùng hoạt động của các tiểu đỉnh, di
chuyển dày đặc để tuần tiễu, bảo vệ vùng nước và kết nối với đất liền.
Nhiều tàu buôn của tư nhân từ Sài Gòn cũng đang kéo ra đây nằm chờ, họ chờ biến
động của tình hình để kịp thời di tản tài sản hay nhân viên và gia đình đang
làm việc tại đây. Một vài tàu buôn nước ngoài cũng vội vã cập bến cảng sâu ở
Tiên Sa để vận chuyển những đợt hàng hóa sau cùng. Chủ tàu nằm ở Hương Cảng,
Tân Gia Ba không muốn họ lưu lại quá lâu trong vùng đất đang vướng những lời
nguyền này. Có một sự thiếu vắng gây buồn nhất chính là sự biến mất của các con
tàu container của hãng tàu Sealand. Suốt cuộc dính líu trực tiếp của Mỹ vào cuộc
chiến Việt Nam từ 1965 đến 1973, hãng tàu này ngày đêm cập cảng Tiên Sa để chở
tiếp liệu quân trang, quân dụng cho mấy sư đoàn Mỹ trải dài từ Quảng Ngãi ra đến
vĩ tuyến 17. Cái bến cảng container sầm uất nhất nhì Việt Nam này đúng vào đầu
năm 1973 bỗng chỉ trong một đêm biến mất khỏi tầm nhìn của người đi biển. Người
Mỹ đã rút đi. Và toàn bộ hãng tàu Sealand rút hết về Tân Cảng Sài Gòn. Từ căn cứ
của Sở cạnh bến cảng Tiên Sa, khi quan sát các dấu hiệu về “chỉ số container”
này, mình gần như đã biết tiến trình cuộc chiến sẽ đi về đâu.
May quá mình vẫn còn có đại
dương. Cuộc sống này cần có một chỗ nấp, và chỗ nấp của mình là biển cả. Ba
mươi bốn năm tuổi đời, mười bảy năm tuổi quân. Một trí thức trẻ quốc gia không
vướng vấp quá khứ phức tạp của một lịch sử phức tạp. Chưa đủ lớn để theo Việt
Minh hồi 1945 hay đi lính cho Pháp. Chưa kịp tuổi để tham gia một quân đội nửa
nạc nửa mỡ do Pháp và cựu hoàng Bảo Đại thỏa thuận hồi 1951. Lớn lên toàn vẹn
trong chủ nghĩa quốc gia của nền Đệ Nhất Cộng hòa. Là người miền Nam từ gốc.
Mình là thành phần ưu tú của chế độ và của Mỹ. Tiếng Anh là ngoại ngữ chính chứ
không phải tiếng Pháp như lớp đàn anh. Người Sài Gòn chứ không phải người Bắc
như lớp sĩ quan di cư hay lớp tướng tá gốc miền Trung vương vấn dấu ấn thời ông
Diệm. Cuộc cách mạng 1963 và những năm kế tiếp là một khẳng định rất rõ của những
phân biệt này: ưu tiên cho lớp sĩ quan trẻ không vương vấn chuyện thỏa hiệp với
miền Bắc mà người Mỹ gọi là chống trung lập, đẩy người miền Nam lên để chống lại
sự xâm nhập của dân miền Trung và miền Bắc di cư. Ông Kỳ là thiếu tướng lúc 34
tuổi, dân Bắc: dẹp. Ông Nguyễn Chánh Thi… dân Huế: dẹp. Ông Đỗ Mậu, dân Quảng
Bình: dẹp. Ông Big Minh, ông Trần Văn Đôn… giới tướng già: dẹp…
Mình là lớp thị dân yêu mến
đời hải hồ và những cuộc phiêu lưu. Dân hướng đạo sinh nào cũng thế, huống hồ
mình đã leo lên đến tráng sinh(3) với đầy đủ các bằng Rừng, bằng Biển(4).
Binh nghiệp là một chọn lựa. Lý tưởng ư, có thể có một thứ mơ hồ về lý tưởng tự
do, dân chủ nhưng thấm đẫm rất nhiều là nỗi ám ảnh mang tên “Chủ nghĩa Cộng sản”.
Chưa biết đúng sai thế nào, nhưng cách mà truyền thông phương Tây nói về nó thì
quả thật đáng sợ.
Ngày mình đậu vào Trường
Sĩ quan Đà Lạt, chiến tranh chưa bùng nổ và binh nghiệp thật là đẹp và hào
hùng. Hai năm đào tạo sĩ quan chỉ huy tốt nghiệp xong mình chọn hải quân và được
đưa về học hải hành tại Nha Trang thêm hai năm. Mình đã sẵn sàng để chọn cuộc đời
một hạm trưởng thì bước ngoặt chiến tranh đã lên tiếng quyết định. Cuộc chiến
tranh bí mật đã bắt đầu hồi năm 1963, người ta không ngồi yên để đợi miền Bắc
xâm nhập, người ta cần gởi người ra xâm nhập miền Bắc để đáp trả và con đường
xâm nhập có thể là đường rừng để vào các chiến khu hay nhảy ra Bắc, hoặc bằng
đường biển. Lực lượng đặc biệt ra đời dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương
Tình báo Hoa Kỳ. Mình được điều động vào lực lượng tinh nhuệ này, chỉ huy những
nhóm Biệt hải hay còn gọi là Biệt kích biển.
Năm 1964 sau khi ông Diệm
bị lật đổ, chiến dịch xâm nhập miền Bắc gặp lúng túng trong một giai đoạn đảo
chánh liên hồi tại Sài Gòn, trong khi mức độ xâm nhập của quân miền Bắc ngày
càng tăng mà lực lượng biệt kích nhảy toán vào chiến khu chưa mấy tinh nhuệ. Thế
là thay vì ở biển mình được điều động tham gia lực lượng nhảy toán vào các chiến
khu dọc theo dãy Trường Sơn thuộc Quân khu 1. Mình đã ở đây bốn năm và thâm nhập
hầu hết các vùng rừng núi từ Quảng Nam đến Thừa Thiên và Quảng Trị, có lúc vượt
qua vĩ tuyến 17 ở vùng núi đầu nguồn sông Bến Hải.
Ở sự cố Mậu Thân 1968, một
đại tá tình báo chiến lược Mỹ được mình cứu trong một cuộc vây hãm ở đường 9 đã
nhận mình làm con nuôi và ông đã yêu cầu chính phủ VNCH đưa mình qua học tại
trường sĩ quan cao cấp của Hải quân Hoa Kỳ chuyên về tình báo biển. Chính hai
năm sống và học tập ở các học viện quân sự Hoa Kỳ mà mình dần nhận ra bản chất
của cuộc chiến tranh Đông Dương này. Quả thật phải đi ra ngoài bàn cờ mới thấy
rõ được thế cờ. Mọi lý tưởng minh bạch trước đây nay bỗng trở nên rối rắm, mọi
cái không đơn giản như cách nghĩ non nớt của một thanh niên mang lý tưởng quốc
gia chỉ biết loay hoay trong đất nước nhỏ bé, lạc hậu. Bàn cờ lớn ngoài kia và
các đại kỳ thủ thế giới đang tính nước cờ khác hẳn với mấy con chốt đang hào
hùng tiến từng nấc bên trong ô cờ. Choáng váng vì những hiểu biết mới, mình giật
mình nhận ra: may quá mình còn có đại dương. Mình nấp vào vòng tay của biển mỗi
khi quá bối rối trước những thế sự kinh hoàng đang được sắp đặt.
Chiều nay cũng vậy, sau
những sắp xếp cho hành quân Thuyền Viễn Xứ, mình băng núi Sơn Trà xuống cầu cảng
lúc sáng, lấy ca nô chạy vội ra biển. Đêm nay phải tránh xa thành phố Đà Nẵng
đang hừng hực nóng, chẳng có mấy người Đà Nẵng yên giấc giữa cái nóng tháng 3,
và tháng 3 này lại càng khó ngủ hơn vì bao nhiêu những tính toán đi, ở đang lảng
vảng trong mọi gia đình.
Mặt biển lúc chiều sắp tàn lấp lánh màu hổ phách. Sóng nhẹ nhấp nhô phản chiếu ánh sáng đỏ cạch của chiều tà dưới muôn vàn góc phản quang, tạo ra bất tận những sắc độ đỏ, cam khác nhau. Ca nô như lướt đi trên một khối vật chất làm từ thủy tinh đổi màu. Tiếng lụp bụp của động cơ giữa biển trời mênh mông không có gì để dội lại nên như tan biến đâu mất. Mọi âm thanh như bị biển nuốt chửng để nhả ra một sự thinh lặng. Một thinh lặng không phăng phắc lặng mà có một chút gầm gừ, rên rỉ. Biển dù có ngủ sâu cũng thở phì phò.
“Ông Tướng, cuối cùng thì
ông muốn gì ở tôi?”, cái giọng nằng nặng vùng Móng Cái sặc mùi biển của Bắc
nghe mãi mà sao mình vẫn không quen được. Nhất là lần này còn gằn danh xưng
“ông Tướng” đầy chất mỉa mai nữa. Tuần trước gã còn gọi mình là “ông sĩ quan”,
mấy ngày nay khi thấy lính tráng thưa “chuẩn tướng” thì gã cứ nhếch mép cười khẩy
mãi.
“Tôi vừa từ Đà Nẵng “bơi”
ra đây, tính lên núi, tạt qua uống chén rượu với anh thôi!”, giọng mình cũng tỉnh
queo, cố gắng không để gã này bắt nọn, hắn không chỉ là con “sói biển” mà còn
là thứ đại ma giáo trên “thương trường” nữa.
“Vậy uống đi rồi lên núi
với… người đẹp. Khà! Khà!”. Ông đừng ra vẻ thế ông bạn. Ông nắm thóp của tôi
thì tôi cũng nắm tẩy của ông đấy. Năm năm dọc ngang vùng biển này với Bắc mình
quá hiểu về gã. Gọi gã là dân thương hồ cũng được, dân thuyền chài cũng xong,
dân đi biển cũng ổn… Nhưng trước hết gã là dân tha phương, không tổ quốc, không
quê quán. Gã là một kẻ lang thang trên đại dương. Cha ông gã nhiều đời trước
sinh thành từ sự hợp huyết của nhiều sắc dân thiểu số lang thang bằng thuyền
trong vùng biển Móng Cái, Trà Cổ… giữa Việt Nam và Trung Hoa. Họ có thể
là một thành phần trong đám giặc tàu ô từng quấy phá và thống trị vùng biển vịnh
Bắc Bộ từ Bắc Việt qua vùng biển Quảng Đông đến đảo Hải Nam thời vua Tự Đức.
Khi người Pháp chiếm Đông Dương đã đưa tàu ra tiểu trừ họ nhưng mãi không xong
đành vỗ về, cho họ chút không gian sinh tồn trên biển và sử dụng họ trong những
công việc dơ bẩn, hắc ám. Khi Việt Nam độc lập dù còn chia đôi, đám người này mất
dần đất sống, nhưng họ không biến mất. Họ thay đổi bộ dạng một chút, biến thành
những ngư phủ bình thường, nhưng biển vẫn thuộc về họ và họ dong thuyền lang
thang khắp các vùng biển khuất, các hòn đảo hoang. Họ nói được tiếng Việt, tiếng
Quảng Đông, nhiều thổ ngữ địa phương,… nên họ dễ dàng tan biến vào dân cư trong
vùng biển vốn còn rất hoang sơ, thưa thớt.
Họ là hải tặc. Nói trắng
ra thế. Vùng đất giáp ranh nào cũng dễ thành vô chính phủ, huống hồ vùng giáp
ranh ấy lại là những vùng biển dữ, hoang vắng, dày đặc những quần đảo như
vùng biển Móng Cái ấy. Kẻ lang thang không gốc tích dong thuyền ở những vùng biển
giáp ranh, cộng với tình hình tranh tối tranh sáng từ những tranh chấp chính trị,
quân sự; đó là công thức hoàn hảo để tạo ra hải tặc.
Chính vì gã là hải tặc mà
mình mới giao du với gã suốt năm năm qua. Còn các “ông chủ” của mình thì đã làm
việc với họ còn lâu hơn nữa.
“Anh cho tôi uống thứ rượu
gì mà hăng thế?”, mình muốn giảm độ thách thức của câu chuyện, nhưng hình như Bắc
chưa chịu buông, hắn đớp ngay: “Ông Tướng sắp sửa phải uống cả… thuốc độc nữa
chứ đâu chỉ rượu đắng!”. Ừ, Bắc vừa nói đến điều cốt lõi của một… bại tướng. Hắn
nói đúng, thuyền trưởng thì phải chết theo tàu, vậy thất trận thì tướng có phải
tự sát không?
“Sao im lặng thế “tướng
quân”, sao thế!”, hắn lại cười khà khà. Mà sao mình không thấy giận vì sự khích
bác này nhỉ, mình lại cảm thấy hơi nhột nhạt khi nhớ về bộ lễ phục trắng tinh từ
sáng giờ chưa kịp thay. Đúng rồi, gã chuyên “ăn sóng nói gió” này đang nói về một
sự thật. Sự thật, dù là sự thật chát chúa, đối với kẻ hải hồ luôn là điều dễ
nghe nhất, vì ở chốn biển dữ không có chỗ cho những uyển ngữ của sa lông. Nó là
sống hay chết, thế thôi.
“Anh nghĩ, tôi…, tôi… có
đáng là… tướng không?”. Mình buông một câu hỏi và thấy Bắc thoáng giật mình. À,
hắn biết là mình cũng thẳng thắn không thua gì hắn, chỉ lịch sự hơn thôi. Và Bắc
cũng nể trọng sự thật.
Nhìn hắn yên lặng kìa. Lại
còn trầm ngâm rót rượu đưa lên môi nữa chứ. Giữa bộ ria mép dày nối tròn vành
râu quai nón, đôi môi như thô hơn toát lên chất dục tình chắp chắp rượu chẳng mấy
thanh tao, nhưng ánh mắt nhìn xa vào đại dương thì lại trông thật hiền lành, thậm
chí có chút xa xăm. Đây là nét hào sảng vương vấn chút lương tâm, dù kiểu rừng
rú của Bắc đã giúp cho cuộc hợp tác giữa mình và gã duy trì đến giờ.
“Ông sĩ quan”, hắn đổi lại
cách xưng hô cũ rồi, “Tôi đầu đội trời, chân quẫy sóng biển, tôi không chơi với
ai mà tôi coi khinh!”. Cảm ơn anh. Còn gì nữa nào.
“Ông đích thị là Tướng!”,
gã nói rất rõ chữ tướng. “Ông xứng đáng là Tướng hơn rất nhiều gã đeo sao trong
bờ kia!”.
Câu chuyện gợi nhớ về một
buổi tối tháng 7 năm 1970 trên vùng biển Quảng Bình. Đúng rồi. Một đêm không
trăng tối như mực. Chiếc PTF số 3 lặng lẽ rời cảng Tiên Sa lúc mười giờ đêm hướng
ra biển Bắc. Vượt vĩ tuyến 17 lúc mười một giờ đêm và tiến sát vùng biển Quảng
Bình đúng giữa đêm. Đại úy hạm trưởng Vũ Văn Vũ, mình còn nhớ như in chàng sĩ
quan hải quân hào hoa nhưng gan dạ có cái tên đọc nhanh giống như tên của tài tử
võ thuật Hồng Kông Vương Vũ nức tiếng màn bạc, cẩn thận dùng ống nhòm hồng ngoại
tuyến quan sát bờ biển trước khi ra lệnh đỗ bãi. Chiếc khinh tốc đỉnh tắt máy bập
bềnh nhẹ theo sóng biển êm. Năm trăm mét phía trước là quê hương “nghìn trùng
xa cách”. Tim của một thiếu tá biệt kích rừng, biệt kích biển từng trải như
mình mà cũng đập như sai nhịp. Bãi biển đó cũng là tổ quốc của cha ông mà sao
mình lại như rình mò, như e sợ, như ngượng ngùng trước nó. Vùng đất mà thời còn
học sinh ai cũng mơ màng khi nghe câu thơ “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà/ Cỏ
cây chen lá đá chen hoa” của Bà Huyện Thanh Quan, hay câu dân ca hào sảng và lẳng
lơ: “Thương anh em cũng muốn vô/ Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”, nay chỉ
còn cách vài trăm mét vậy mà không dám chạy vội đến ôm chầm lấy nó, ngược lại
phải vỗ về trái tim đang co thắt vì căng thẳng. Ở đó có thể là một cái bẫy mà đối
phương đang đón lõng mình, những kẻ xâm nhập.
“Thiếu tá nghĩ sao, tôi
thấy tình hình có vẻ… sao sao ấy!”, Vũ hạ ống nhòm trao cho mình và đưa ý kiến.
Dưới ánh sáng xanh ma quái của ống kính hồng ngoại hiện ra một bãi cát trắng
tuyệt đẹp ôm theo một vạt rừng thấp. Bên trái có một núi đá nhỏ đâm thẳng ra biển.
Tất cả tuyệt đối yên ắng.
“Vũ, ông có chắc đây là vị
trí đỗ bãi để “trả hàng” không?”. Trước tiên phải xác định vị trí cái đã rồi
đánh giá tình hình sau.
“Thưa thiếu tá, đúng tọa
độ lưu trong lần “bốc hàng”, đúng chỉ dẫn “hàng” đã nói: bãi biển, cánh rừng và
ngọn núi đá bên trái và đúng với linh cảm hải hành của tôi!”. Giọng của chàng hạm
trưởng tài ba này tự tin thế tức là tin được. Trong chiến đấu phải đặt niềm tin
vào đồng đội, nhất là đồng đội giỏi, chẳng có chỉ huy nào tự mình kiểm chứng được
hết mọi việc.
“Ông cho người đưa “hàng”
lên đây giúp tôi!”, mình bảo nhỏ, mắt không rời ống nhòm. Tiếng thỏ thẻ của Nụ
vang lên bên tai: “Dạ ông sĩ quan muốn chi ạ?”. Mình đã nghe giọng nhiều người
Quảng Bình sống ở Huế hay Quảng Trị suốt nhiều năm chiến đấu ở vùng đất này. Tất
cả dường như bị “Huế hóa” hết, nó không còn nguyên bản như giọng của nàng. Một
kiểu giọng tròn âm, khá rõ, tạo cảm giác dứt khoát, cứng cỏi, nhưng khi các từ
nối kết với nhau thành câu thì cách nhấn nhá, nhả từ và cách vuốt cuối câu lại
như tạo ra một cung bậc mới, khác hẳn. Nó như đưa đẩy, như níu kéo, như âu yếm,
như dỗi hờn, như xa vắng. Lạ và làm giật bắn mình khi nó thì thầm ngay bên tai
đúng vào lúc trái tim đang loạn nhịp vì căng thẳng quan sát trận địa.
“Cô xem thử có đúng là
bãi biển làng cô không?”, khuôn mặt trắng như ánh trăng ngà của nàng bị chiếc ống
nhòm to đùng che gần hết, dường như chỉ để lộ đôi môi cắn chặt nhưng vẫn không
kìm được những run rẩy, tất cả như nhạt nhòe trong bóng đêm trông vừa tội nghiệp,
vừa siêu thực, vừa liêu trai. Người thôn nữ tinh tuyền như một bông bưởi, run rẩy
cầm một dụng cụ kỹ thuật hầm hố của biệt kích, nhạt nhòa trong bóng đêm trước một
cuộc giết chóc. Tất cả là một sự pha trộn tàn nhẫn nhưng phi thường.
“Dạ, dạ… chắc rứa!”. Nàng
nhìn lâu thế mà kết luận lại mơ hồ. Không quen đâu biết cách phân định bằng ống
nhòm kỹ thuật này. “Xem hình dáng ngọn núi đi, đừng nhìn bãi biển!”, mình hơi gắt
nhẹ để giúp cô ta cách định vị một cảnh quan.
“Dạ, ông sĩ quan giỏi thiệt,
nhìn dáng núi em thấy quen liền!”. Giọng nàng tươi tỉnh hẳn lên, xác quyết của
hạm trưởng và giọng nói này nữa là hội đủ điều kiện để kết luận rồi. “Cô trở về
vị trí chuẩn bị đi!”. Ánh mắt Vũ cũng đỡ căng thẳng hơn sau xác định của Nụ.
Bây giờ là vấn đề an ninh: “Ok một chuyện. Giờ chuyện an toàn ông thấy sao?”.
“Thưa thiếu tá, tôi thấy,
tôi… cảm giác…”, tay này mà ngập ngừng là phải tin đấy. “Đại úy nói dứt khoát ý
kiến giùm đi!”. Mình phải gắt lên, dân hải quân còn có thời gian để “thì, là,
mà…” chứ dân biệt kích thì không. Nói liền, vì đó là sống – chết.
“Tôi có linh cảm không ổn!”.
Tim mình bỗng như thôi nhảy loạn nhịp, nó bình thản trở lại, bản năng chiến
binh là thế: chỉ căng thẳng vì cái chưa rõ, trở nên bình thản ngay khi đã biết,
đi thẳng vào cái chết dễ tính hơn cái chết nhảy chụp vào mình. Khác với hồi trước
1970, hiện nay miền Bắc đã cảnh giác cao độ với việc xâm nhập từ biển vào này.
Họ đã từng gài bẫy dưới dạng một thuyền chài của ngư dân, một khi các khinh tốc
đỉnh tiếp cận để thăm dò thì đặc công từ dưới hầm tàu xông lên bắn thẳng và bắn
gần trực diện luôn. Với cách tiếp cận đó thì ưu thế về tàu bè hay hỏa lực của lực
lượng Hải tuần VNCH không còn phát huy được nữa. Cũng thế, cái bãi biển êm ắng
lúc nửa đêm kia có thể đang được phục sẵn bởi vài chục dân quân với súng trường
đơn sơ thôi là đủ dập tắt và bắt gọn toán đổ bộ, còn nếu họ có một khẩu DKZ(5)
chống tăng loại thường thôi thì chiếc PTF hiện đại đắt tiền này có thể bị đánh
chìm ngay tại chỗ khi tấp vào bãi cát ấy. Ngày mai nó sẽ được trưng lên các
phương tiện thông tin toàn cầu và cuộc chiến bí mật xem như hỏng bét.
“Đại úy Vũ nghe rõ mệnh lệnh!”,
giọng mình đanh lại, phải dứt khoát thế khi ra lệnh, phải lạnh và đanh để thuộc
cấp sợ và tin, phải gọn để họ chỉ thi hành không cần suy nghĩ gì thêm: “Hủy lệnh
đỗ bãi. Cho chiến đỉnh ở yên tại đây, tình trạng nổ máy chờ. Hỏa lực vào nhiệm
sở tác chiến(6), nếu bị tấn công thì bắn trả và thoát ra. Tuyệt đối
không để bị thiệt hại và để chiến đỉnh lọt vào tay đối phương!”. “Tuân lệnh!”,
giọng Vũ còn thoáng chút băn khoăn nhưng chấp hành ngay. “Thiếu úy Tâm đâu!”, đội
trưởng Biệt hải nhoài người lên từ phía sau gọn gàng chờ lệnh. “Cho “hàng” mặc
áo phao vào, tôi sẽ đích thân đưa “hàng” vào bờ. Anh và toàn nhóm đổ bộ vào vị
trí chuẩn bị tiếp cứu. Các anh không cần lên bờ!”. “Tuân lệnh, nhưng…!”, cái quắc
mắt của mình làm Tâm thụt lại, một tay biệt kích giỏi nhưng chưa phải chuyên
nghiệp. “Tình hình trên kia không “clear”, nên tôi quyết định chỉ thực hiện nhiệm
vụ 1, nhiệm vụ 2: bãi bỏ!”. “Thiếu tá cho em trình bày?”, Tâm bối rối nói như
rên. “Nói đi!”, mình thấy nó tội tội nên cũng nhỏ giọng dù có hơi gắt. “Để em
thi hành nhiệm vụ được không? Em đã đổ bộ ba lần rồi!”. Nó thương và lo cho
mình, huynh đệ chi binh là vậy, nhưng chỉ huy biệt kích khác với binh chủng
khác ở chỗ: biệt kích là phải thâm nhập. Đây là loại chiến tranh đặc biệt. Các
chỉ huy ở binh chủng khác, muốn có bằng dù thì chỉ lên máy bay nhảy dù xuống
quân trường là xong. Nhưng muốn mang ensigne(7) biệt kích thì phải đặt chân vào
lòng địch. Mình về nhận chỉ huy tác chiến ở Sở đã sáu tháng mà vẫn chưa đặt
chân lên bờ biển miền Bắc lần nào thì nói ai nghe.
“Tâm, anh biết em lo cho
anh”, mình nói thật nhẹ với chàng thiếu úy mặt còn non choẹt nhưng khá lì lợm
này, nó hào sảng y như mình hồi mới nhảy toán vào chiến khu. “Nhưng, lo tốt nhất
lúc này là back up thật tốt cho anh. Rõ chưa! Từ lúc anh đỗ bãi, quyền chỉ huy
thuộc về đại úy Vũ, phải tuân lệnh nhé!”
Tâm vừa thụt lui xuống hầm
tàu để triển khai đội hình là mình quay qua Vũ liền: “Đại úy, nếu có động, ưu
tiên một là bảo toàn lực lượng nhé. Không để cho anh em biệt kích vọng động!”.
Lúc mình nhẹ nhàng nhoài xuống mặt biển đen ngòm một tay ôm chiếc phao nhỏ có
gác khẩu Stoner 63(8), một tay cắp ngang hông nàng mình đã thoáng giật
mình vì cái ấm áp ngạc nhiên của nước biển đêm Quảng Bình. Dường như có một
thoáng mình quên mất nỗi sợ, quên mất thực tại của chiến trường, nước biển ấm
ôm lấy mình, nhẹ nhàng nâng mình lên, vuốt ve mình, bên tai tiếng lõm bõm của
nước va đập vào phao, vào cơ thể mình, vào guồng chân mình đang bơi êm như một
lời ru, tất cả như đưa mình về lại ký ức tuổi học trò với những đêm ngông cuồng
trần truồng bơi ở biển Vũng Tàu. “Ui, ông sĩ quan xiết em đau quá!”, tiếng rên
khẽ của nàng lôi mình về thực tại, nhưng chưa phải thực tại của chết chóc mà là
thực tại của một cơ thể căng tròn mà mình đang cặp trong vòng tay. “Quên, xin lỗi,
sao cô không nói! Giờ, tôi buông cô ra, cô cứ nằm ngửa, đã có áo phao, tôi vừa
bơi vừa kéo, đừng sợ, càng thư giãn càng nổi, càng vùng vẫy càng chìm đấy!”.
Chưa kịp dứt lời đã nghe nàng thì thầm: “Em là dân biển, em biết bơi!”. Ừ quên
làng cô trong kia mà.
Cát biển vừa lạo xạo dưới
chân, mình đã buông tay nàng ra, khoác chiếc phao bơi nhỏ ra sau lưng, đưa tay
bật chốt an toàn khẩu tiểu liên, đứng thẳng không động đậy khi nước biển còn ngập
đến cổ. Nàng thấp hơn còn bám vào vai mình thở hổn hển. Gần năm trăm mét bơi biển
trong tình trạng căng thẳng là một thử thách không nhỏ. Bãi cát biển chỉ còn
cách vài bước chân vẫn trống trơn khi nhìn ở cự ly gần, nhưng cánh rừng sau nó
có vẻ không yên tĩnh. Mai phục, ngụy trang là cả một nghệ thuật, đặc biệt là
nghệ thuật bất động, con rắn bò qua người cũng trân mình không động đậy. Rặng
cây của cánh rừng thưa đàng kia không phải thế, nó động đậy, cái động đậy không
tự nhiên của cây đong đưa theo chiều gió. Có một vài chuyển động nhỏ không thuận
chiều trong các lùm cây. Nhưng quan trọng hơn nữa là mùi. Mình đang ở cuối chiều
gió vì gió từ bờ thổi ra. Thôi chết rồi trong một thoáng mình nghe thấy mùi thuốc
lào. Trong rặng cây kia có phục kích của dân quân, du kích địa phương. Họ không
đủ chuyên nghiệp để xóa hết mọi dấu tích. Mình choàng hai tay sau lưng ôm lấy
nàng, ngã người ra và nói nhỏ: “Lộ rồi, nằm ngửa ra bơi ngửa để lùi lại!”. Khi
cả hai vừa đạp được vài cú búng chân thì đạn bắt đầu nổ, một đám đông tràn ra từ
cánh rừng, vừa chạy băng bãi cát vừa la hét vừa vãi đạn ra biển. Với lưới lửa
và tầm bắn này mình biết là không thể bơi thoát ra năm trăm mét nữa mà còn toàn
mạng! Hét vào tai Nụ: “Cởi áo phao vất đi, lặn sâu xuống theo tôi!”. Mình kéo
nàng lặn sâu xuống thoát khỏi vị trí đã bị phát hiện, không theo hướng trở ra biển
mà lệch về bên trái tiến về hướng mỏm núi đá quan sát ban nãy. Khi cả hai nổi
lên để lấy hơi mình nhận ra đã thoát khỏi vị trí của tầm đạn giao tranh giữa bờ
biển và chiến đỉnh bên ngoài. Nương vào bóng đêm, mình kéo nàng lặng lẽ bơi về
các ghềnh đá ở chân núi. Phía sau, chiến đỉnh đã chấm dứt giao tranh lặng lẽ biến
mất trong màn đêm, trên bờ vài phát đạn lác đác bắn vu vơ. Vậy là Tâm đã tuân lệnh
hạm trưởng. Bây giờ chỉ còn cầu cho các du kích này không đủ kinh nghiệm để nhận
ra có hai kẻ xâm nhập còn mắc kẹt lại trên bờ này.
“Năm năm rồi nhưng tôi
chưa quên món nợ với anh đâu, anh Bắc!”, mình nói và nhớ như in hai ngày đêm
trân mình trong những hốc đá bên bờ biển Quảng Bình đó. Cả vùng bờ biển đã được
báo động vì biệt kích thâm nhập nên đêm nào du kích cũng tổ chức đi tuần. Họ
cũng có tổ canh gác ngay trên đỉnh ngọn núi đá nữa. Không có nhiệm vụ giải cứu
nào dám thực hiện cho đến khi tình báo Mỹ nhờ đến Bắc. Bằng một chiếc mảng nhỏ (9)
dong buồm y như của ngư dân vùng biển này, Bắc từ tốn đi bủa lưới cận bờ và giữa
thanh thiên bạch nhật đưa chiếc mảng đến sát ghềnh đá, lợi dụng du kích không
tuần tiễu ban ngày để đón và vớt mình và Nụ trở ra.
“Tôi không cứu ông, tôi cứu một người lính can đảm và một người đẹp. Khà, khà… Tôi cũng thích ông từ sau vụ đó đó, ông sĩ quan, ông tướng”. Hắn lại cười hềnh hệch…
Chú thích:
(1)
Một chiến lược xây dựng cấp tốc các quốc gia nhỏ vừa ra khỏi tình trạng thuộc địa
do phương Tây đề xuất để chống lại khối Cộng sản.
(2)
1 Học viện quân sự hàng đầu của Mỹ chuyên đào tạo các sĩ quan ưu tú.
(3)
Một bậc của Hướng Đạo sinh cũ gồm: Sói, Thiếu, Tráng .
(4)
Các loại thử thách kỹ năng trên rừng, biển, cứu thương… mà Hướng Đạo sinh phải
trải qua.
(5)
Súng chống tăng do Liên Xô sản xuất từ năm 1954.
(6)
Thuật ngữ vào vị trí chiến đấu của hải quân VNCH.
(7)
Tiếng Pháp: huy hiệu.
(8)
Súng tiểu liên chuyên dùng của biệt kích.
(9) Một
loại thuyền ghép bằng tre ngư dân miền Bắc thường dùng vào giai đoạn đó.
8/7/2020
Lưu Vĩ Lân
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét