Đinh Tiên Hoàng - Tiểu
thuyết
lịch sử của Vũ Xuân Tửu
Lời nói đầu
Câu chuyện này xảy
ra, cách đây nghìn năm có lẻ.
Tài liệu thành văn cũng
như huyền thoại, giai thoại về Đinh Tiên Hoàng và triều Vua Đinh, có rất nhiều;
thật giả lẫn lộn, khó phân biệt rạch ròi. Nhưng tiểu thuyết lịch sử là văn học,
hư cấu trên cơ sở chính sử, nên đấy lại là mảnh đất màu mỡ cho ngòi bút tung tẩy.
Nhân vật trung tâm số một
là Đinh Tiên Hoàng, khi nhỏ tuổi, bản danh Đinh Hoàn, mãi đến khi kết nghĩa với
sứ quân Trần Lãm, mới được phong chức Bộ lĩnh. Từ đó, mang tên Đinh Bộ lĩnh
(thường viết hoa Đinh Bộ Lĩnh), nổi danh ngàn đời. Khi dẹp loạn mười hai sứ
quân, xưng Vạn Thắng Vương, đến khi thống nhất đất nước được tôn là Đại Thắng
Minh Hoàng đế… Sau khi băng hà, thường được gọi là Đinh Tiên Hoàng, hoặc Đinh
Tiên Hoàng đế, không có tên thụy.
Đinh Tiên Hoàng có năm
người vợ; có thể thống kê, gồm: bà cả sinh ra Nam Việt Vương Đinh Liễn, thứ đến
Trần nương, rồi một bà nữa cũng chưa biết tên sinh ra công chúa Phất Kim, Ngô
Bà sinh ra Hạng Lang và cuối cùng là Dương thị sinh ra Vệ Vương Đinh Toàn. Cả
năm bà đều được phong hoàng hậu, nhưng không ai chính cung. (Ngoài ra, còn có
bà Đặng thị sinh ra công chúa Liên Hoa, nhưng các tài liệu thường ít nhắc đến
tên).
Dương thị, người con gái
họ Dương, được Đinh Tiên Hoàng lấy làm vợ, khi mới mười sáu tuổi và được lập
hoàng hậu. Theo giới sử học, thì cái tên Dương Vân Nga là do văn nghệ sĩ đặt
vào đời sau mà thôi. Khi Dương Hoàng hậu tái giá với Lê Đại Hành, được phong là
Đại Thắng Minh Hoàng hậu. Lê Đại Hành cũng theo lệ Đinh Tiên Hoàng, cả năm
hoàng hậu của mình đều không lập ai làm chính cung.
Ngoài ra, còn có những
câu chuyện lưu truyền trong dân gian: nào bố Đinh Hoàn là con rái cá, nào Dương
Thái hậu tư thông với Lê Đại Hành và đoạt ngôi của chủ, nào Đỗ Thích giết vua
Đinh để thỏa mộng thiên tử, khi mơ thấy sao rơi vào miệng, nhưng đời sau lại
suy đoán đó là âm mưu của tập đoàn Lê – Dương, vv…
Mỗi người viết về lịch sử
với phương pháp tiếp cận và thể hiện khác nhau. Có nhà văn dùng lịch sử như sợi
chỉ mành, để treo chiếc chuông sự kiện và tư tưởng của mình lên. Nhà văn
khác, lại coi lịch sử như cái đinh, để treo bức tranh văn chương của mình. Tiểu
thuyết này, tôi xây dựng ba nhân vật trung tâm là Đinh Hoàn (Bộ Lĩnh, Vạn Thắng
Vương, Đinh Tiên Hoàng), Lê Hoàn (Lê Đại Hành) và Dương thị (cái tên Dương
Hoàng hậu, tính từ lúc được lập hoàng hậu, tên Dương Thái hậu là khi Đinh Toàn
lên ngôi). Sở dĩ, gọi Dương Hoàng hậu để phân biệt với Dương Phương Lan, công
chúa của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, được Ngô Quyền lập hoàng hậu, sử sách thường
gọi Dương hậu. Bên cạnh đó, hơn chục nhân vật chính là các đại thần từ thuở Cờ
Lau tập trận (Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ, Phạm Hạp, Phạm Cự Lạng…),
cùng mười hai sứ quân (Trần Lãm, Kiều Công Thuận, Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh Thạc,
Phạm Bạch Hổ, Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu, Ngô Xương Xí, Ngô Nhật
Khánh, Lã Đường, Lý Khuê; trong đó, có năm sứ quân người Hán: Trần Lãm, Đỗ Cảnh
Thạc và ba anh em Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu. Các nhân vật đại
diện giới tăng đạo, nghệ nhân dân gian: nhà sư Ngô Chân Lưu (Khuông Việt đại
sư), Ưu bà Phạm Thị Trân (tổ nghề diễn chèo- lúc đó chưa có hát chèo). Và không
thể thiếu nhân vật Đỗ Thích, là một trong những cái bản lề dịch chuyển triều đại
lịch sử. Đỗ Thích có công cứu giá, nên được Đinh Tiên Hoàng đặt tên cho một quả
núi, ngay sau lăng phát tích nhà Đinh, ở Kỳ Lân nơi quê hương bản quán. Nghe
nói, khi Đỗ Thích can tội giết hai cha con Vua Đinh, thì dân chúng lập tức phá
tan quả núi ấy. Ngoài ra, còn có các nhân vật khác, trong gia đình Ngô vương
(Ngô Quyền, Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn và các con của Ngập), rồi Dương Tam
Kha là mầm mống dẫn đến loạn mười hai sứ quân. Các nhân vật sứ thần nhà Tống,
thầy địa lý người Hán, mục đồng, binh lính, nông dân, ngư phủ, lái buôn. Các
con vật liên quan cũng trở thành nhân vật, gồm: rái cá khổng lồ đã hóa thành
tinh, trâu đầu đàn… Tất thảy, ước chừng dăm chục nhân vật, đại biểu cho thời ấy.
Thời gian khảo sát lập
biên niên sự kiện liên quan, chừng hơn trăm năm, kể từ lúc Ngô Quyền ra đời vào
năm Mậu Ngọ (898), đến khi Phó vương Lưu Cơ qua đời, khoảng năm Quý Sửu (1013).
Trong dòng chảy lịch sử đó, các nhân vật hiện ra, nhưng chủ yếu là, từ
khi loạn sứ quân năm Ất Tỵ (945), cho tới kỳ đoạn Đinh- Tiền Lê, năm Canh Thìn
(980). Tập trung nhất chỉ từ khi Đinh Hoàn dấy binh dẹp loạn, rồi lập nước Đại
Cồ Việt, cho tới lúc Dương thị được Lê Đại Hành lập làm Đại Thắng Minh Hoàng hậu.
Vị chi, ba mươi năm có lẻ mà thôi.
Nhà Đinh, một triều đại
hiển hách trong lịch sử dân tộc, đứng đầu là Đinh Tiên Hoàng. Từ một trẻ chăn
trâu mà đứng lên thu phục anh tài, lập sứ quân cát cứ vùng đất Đại Hoàng, rồi dẹp
loạn mười hai sứ quân khác, giang sơn thu về một mối, thoát ách đô hộ phương Bắc,
xưng Hoàng đế, lập nước Đại Cồ Việt, định đô mới Hoa Lư, thống nhất tám đạo từ
Đèo Ngang trở ra Ải Bắc, quả là anh hùng cái thế. Đinh Tiên Hoàng là nhân vật
thông minh xuất chúng, bản lĩnh cao cường, nhưng cũng không tránh khỏi lẫm lỡ.
Đinh Hoàn làm tướng, rồi làm vua, tuy có học hành, tập ấm, nhưng mang tính cách
nông dân, tuy đa mưu túc kế, nhưng cũng chất phác, nhẹ dạ cả tin, nên Dương
Hoàng hậu tư thông với quan Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Đó cũng chính là một
cái bản lề nữa, mở cánh cửa chuyển Đinh sang Lê. Đinh Tiên Hoàng lại bỏ con trưởng
Đinh Liễn có nhiều công lao, lập con út Hạng Lang mới ba tuổi làm Thái tử, nên
Liễn nổi giận, giết em. Đó là đại họa trong triều. Thời ấy, chưa có bộ luật, chỉ
xử bằng qui chế, tập quán, nên thiên vị là điều không tránh khỏi. Và Đinh Tiên
Hoàng xuề xòa, mất cảnh giác, nên mới xảy ra nông nỗi bị đầu độc…
Đinh Hoàn ở ngôi Hoàng đế
mười hai năm, thọ năm mươi nhăm tuổi (tính tuổi dương, có nơi tính thọ năm mươi
sáu là cộng thêm tuổi mụ), nhưng sự nghiệp sáng chói muôn năm. Cuộc đời Đinh
Tiên Hoàng anh dũng phi thường và đầy bất hạnh. Khi lập nghiệp, Đinh Hoàn thường
dùng quan hệ kết nghĩa huynh đệ, cha con, hôn nhân gia đình để thu phục các sứ
quân. Nhưng chính điều đó, cũng khiến gia đình Hoàng đế trắc trở, triều đình hỗn
loạn, lại thêm các đám tàn quân gây nhiễu nhương, nên phải dùng hình phạt tàn bạo
như vạc dầu, chuồng hổ, ao giải để trừng trị kẻ phạm tội. Đinh Hoàn làm con
nuôi Trần Lãm, lại lấy con gái Lãm là Trần nương làm vợ, rồi lại gả hai con gái
của mình cho hai anh trai của Trần nương nữa. Hoặc, khi dẹp Đường Lâm, thu phục
sứ quân Ngô Nhật Khánh, Đinh Hoàn đã lấy mẹ Khánh làm vợ, lại cưới em gái Khánh
cho Liễn là con trai mình, và cũng gả con gái là Phất Kim cho Khánh. Sau này,
Khánh xẻo má vợ, chạy xuống Chiêm Thành cầu viện binh về đánh Đại Cồ Việt,
nhưng giấc mộng bị tan tành ở cửa biển Thần Phù. Trong thời gian dẹp loạn, bất
đắc dĩ Đinh Hoàn mới phải dụng binh đao, nhưng các sứ quân tử trận, đều cho lập
đền thờ cả. Đó là lòng nhân của Đinh Hoàn, hợp với lòng dân. Bởi các sứ quân đều
có công chống giặc ngoại xâm, chăn dân, giữ yên địa bàn cát cứ.
Có thể tóm tắt biên niên
lịch sử cuộc đời Đinh Hoàn, như sau:
– Năm 924 (Giáp Thân): ra
đời vào ngày rằm tháng hai, tại Kim Lư; lớn lên, theo bố là Đinh Công Trứ và mẹ
là Đàm thị cùng anh nuôi Đinh Điền vào Châu Hoan, nơi Đinh Công Trứ làm Thứ sử;
sau đó, lại theo ra Châu Ái.
– Năm 937 (Đinh Dậu): bố
chết, nên cùng mẹ, anh nuôi và bọn người hầu về quê.
– Năm 939 (Kỷ Hợi): lấy vợ
đầu.
– Năm 940 (Canh Tý): sinh
con cả Đinh Liễn.
– Từ năm 940 (Canh Tý)- đến
năm 944 (Giáp Thìn): 5 năm khi Ngô Quyền ở ngôi vua, thì Đinh Hoàn được học đòi
chức Nhiếp thứ sử, Ngự phiên đô đốc.
– Năm 944 (Giáp Thìn):
Hào trưởng sách Đào Áo.
– Năm 951 (Tân Hợi): dấy
binh Hoa Lư. (Có thể coi là sứ quân đầu tiên, trong mười ba sứ quân sau này).
Lúc thất thế, phải sang Bố Hải Khẩu nương nhờ Trần Lãm, được phong chức Bộ
lĩnh. Từ đó, mang tên Đinh Bộ Lĩnh, dẹp loạn mười hai sứ quân khác, lấy thêm
hai vợ là Trần nương- con gái Trần Lãm, rồi Ngô bà- mẹ Ngô Nhật Khánh.
– 968 (Mậu Thìn): Đinh
Hoàn được chư tướng coi như vua, tôn làm Vạn Thắng Vương; sau khi đánh dẹp xong
12 sứ quân, xưng Hoàng đế, đặt tên nước Đại Cồ Việt, định đô Hoa Lư, lấy Dương
thị và phong hoàng hậu.
– Năm 969 (Kỷ Tỵ): vào
tháng năm nhuận, phong con cả Đinh Liễn làm Nam Việt Vương.
– Năm 970 (Canh Ngọ): đặt
niên hiệu Thái bình, đúc tiền Hưng bảo (đồng tiền đầu tiên của nước ta).
– Năm 971 (Tân Mùi): định
cấp bậc văn, võ, tăng đạo, nghệ nhân…
– Năm 974 (Giáp Tuất):
Dương hậu sinh Đinh Toàn.
– Năm 975 (Ất Hợi): Ngô
Bà sinh Đinh Hạng Lang.
– Năm 978 (Mậu Dần):
phong Hạng Lang làm Thái tử, (ba tuổi); phong Đinh Toàn làm Vệ vương (bốn tuổi).
– Năm 979 (Kỷ Mão): đầu
năm, Đinh Liễn giết Hạng Lang, nhưng không bị trị tội. Mùa đông năm ấy, Đỗ
Thích mơ thấy sao rơi vào mồm, ngỡ điềm làm vua.
– Năm 980 (Canh Thìn):
vào đêm rằm tháng tám (Trung thu), Đinh Hoàn, Đinh Liễn bị Đỗ Thích đầu độc chết.
Đinh Toàn kế ngôi; tám tháng sau, bị Dương Thái hậu, Lê Hoàn, Phạm Cự Lạng phế
truất, lập triều Tiền Lê. Nhà Đinh bị triệt hạ.
Có thể nói, Đỗ Thích và
Dương thị là hai cái bản lề; Lê Hoàn chủ mưu, Phạm Cự Lạng trợ giúp đắc lực và
lại được Dương thị làm tay trong, là những người đẩy cánh cửa nhà Đinh sang Tiền
Lê. Như vậy, vai trò của Dương thị trong vụ đổi ngôi từ Đinh sang Tiền Lê là vô
cùng quan trọng; nếu không, Lê Hoàn khó bề ra tay.
Hoàn thành cuốn tiểu thuyết
này, tôi xin cám ơn các nhà sử học đã có nhiều công trình nghiên cứu về thời
Ngô, Đinh, Tiền Lê và Lý; cám ơn những người đã đưa in-tơ-nét vào Việt Nam và
các tác giả có bài vở liên quan trên mạng; cám ơn bà con, anh em ở các tỉnh,
thành phố: Phú Thọ, Việt Trì, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Ninh,
Ninh Bình, Thanh Hóa… đã giúp việc khảo sát điền dã trên bốn mươi điểm liên
quan nơi các sứ quân xưa cát cứ; cám ơn Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam, Bảo
tàng tỉnh Ninh Bình, Bảo tàng Cổ Loa đã tạo điều kiện cho việc khai thác tư liệu,
hiện vật, vv…
Mười năm trước, tôi đã
nghiên cứu, khảo sát vùng Tây Bắc và Nghệ An, Hải Dương, để viết tiểu thuyết
Chúa Bầu, nói về Gia Quốc Công Vũ Văn Mật. Nhân vật lịch sử này rất ít tài liệu
thành văn, thời Lê- Mạc cũng cách đây dăm trăm năm. Tiểu thuyết Chúa Bầu được
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cho ra đời năm 2006, được nhiều người quan tâm,
VTV1 phát trong chương trình Khám phá Việt Nam, đã góp phần nhỏ bé vào việc tôn
vinh khu di tích Thành Nhà Bầu ở bến Bình Ca (Tuyên Quang), được Bộ Văn hóa và
Thể thao và Du lịch công nhận di tích lịch sử quốc gia.
Đinh Tiên Hoàng là một
nhân vật lịch sử, tầm cỡ vượt trên thời đại, mà khả năng của tôi có hạn, nên
không tránh khỏi sơ xuất, dám mong bạn đọc chỉ giáo. Thiển nghĩ, đây là cuốn tiểu
thuyết văn học, viết về thân phận nhân vật Đinh Tiên Hoàng, nhưng thông qua bức
tranh lịch sử xa xưa, để cố gắng nói được điều gì đó với thời nay, thì may lắm
thay.
Tôi xin trân trọng cám ơn
Quỹ tài trợ sáng tác của Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam,
trong quá trình viết bản thảo này.
Tp. Tuyên Quang, năm 2015
VŨ XUÂN TỬU
Nhà văn Vũ Xuân Tửu
Phần thứ nhất
CỜ LAU TẬP TRẬN
Chương một
Anh em nhà Đinh
1.
Tuân lệnh triều đình,
Đinh Công Trứ dẫn quân đi thị sát phương nam, đôn đốc quan quân châu Hoan(1),
châu Ái(2) phải phòng bị cẩn mật, ngừa quân Chiêm Thành nống ra.
Trên đường về, Đinh Công Trứ và đám tùy tùng cưỡi ngựa đến chợ Điền Hộ, thì trời
đã xế chiều, bèn dừng chân.
Bọn lính dắt ngựa xuống bến
sông Càn(3) cho uống nước. Trứ cũng lững thững xuống theo, vốc nước
rửa mặt, khoan khoái nhìn về phía hạ lưu. Từ đây ra núi Nẹ, bên cửa Càn(4)
ngoài bể, rồi ngược lên phía bắc là cửa Thần Phù(5). Đó là ranh giới
châu Ái với Đại Hoàng(6), nhà mình. Trứ ngoái lại ngắm núi lã Vọng
và núi Mai An Tiêm bên sông, nhận thấy chốn địa linh, nghĩ bụng, ắt hẳn sinh
nhân kiệt… Về chuyến này, gặp lại người thiếp Đàm thị mặn mà, thế nhưng sao vẫn
hiếm muộn? Trứ thở dài, chợt nhìn thấy một chiếc thuyền nan đang cập bến. Một
thiếu phụ mặc váy đùm, áo cánh, tóc độn khăn xanh vấn quanh đầu, đang lẹ làng
buộc thuyền, rồi bế đứa con trai kháu khỉnh, toan bước lên bến. Bất chợt, gặp
cái nhìn của viên quan triều đình, khiến thiếu phụ sợ hãi, lùi vội lại khoang,
thèn lẹn ngồi xuống cái thuyền, ôm chặt đứa con vào lòng. Nhưng thằng bé cứ
nhoai ra, toét miệng cười với viên quan lạ.
Trứ sực nhận ra sự bất
nhã của mình, bèn lên tiếng, khỏa lấp:
– Thằng bé khôi ngô quá!
Trộm vía!
– Lạy quan lớn! Không dám
ạ!- thiếu phụ lí nhí đáp.
– Cu con mấy tháng tuổi rồi?
– Trứ bước lại gần, một chân giậm lên mũi thuyền, khẽ hỏi.
– Bẩm quan lớn, mới chín
tháng, đang cò dò biết đi. – Mặt thiếu phụ ửng hồng, mạnh bạo hỏi lại, – cậu ấm
nhà quan, còn bằng năm bằng mười cái rãi khoai này ấy chứ? – Thiếu phụ cười, để
lộ hàm răng đen hạt na, đều tăm tắp.
– Giời bắt ta hiếm muộn,
đến cả người thiếp cũng chưa thấy gì, – Trứ thở dài, chẳng giấu nỗi niềm tâm sự.
Bọn lính xúm lại bến sông
hóng chuyện. Mấy con ngựa thỏa cơn khát, hí vang trời, khiến đứa bé giật mình,
khóc váng cả lên. Trứ nghĩ bụng: “Tiếng nó khóc vang to và khỏe khoắn, hẳn có nội
lực từ ấu thơ, lớn lên ắt hẳn là anh hùng trong thiên hạ”. Bất giác, nhìn thấy
cái yếm sồi căng mẩy của thiếu phụ, Trứ ngượng ngùng quay đi, lẩm bẩm: “Rõ là,
lớn vú bụ con”.
– Hay là, cho ta làm con
nuôi đi!- giọng Trứ chắc nịch, vừa như xin lại, vừa như ra lệnh.
– Ối giời, mả nhà con có
táng hàm rồng đâu mà dám mong phúc ấy? – Thiếu phụ tươi cười đáp lại, nghĩ là
viên quan bông đùa.
Bọn lính thấy chủ tướng
có vẻ mến thằng bé con kia, bèn húm vào nói đỡ:
– Đây là quan lớn triều
đình, tuần du phương nam. Nay hồi Loa Thành, nhưng cũng một công đôi việc, ghé
quê…, – tên lính dừng lời, nheo mắt đầy vẻ ngụ ý. – Ví bằng nhà chị cho thằng
cu làm con nuôi quan lớn, có khi phu nhân lại sinh đông đàn dài lũ không chừng.
Nghe vậy, Trứ hởi lòng,
cười ha hả.
– Nhưng mà, nó chửa đi ngựa
bao giờ, – thiếu phụ thốt một câu, tưởng như chẳng đâu vào đâu, nếu tinh ý sẽ
nhận thấy, cô ta đã bằng lòng bảy tám phần rồi. – Vả, nhà con vẫn trong chợ, cảnh
neo người…
Vừa hay lúc đó, một thanh
niên lực lưỡng vác đòn gánh, xuống bến.
– Nhà, – thiếu phụ mừng rỡ,
reo lên. – Ạ bố đi cu, – thiếu phụ nhìn con, khẽ nhắc.
Chàng trai lặng lẽ tháo
dây buộc thuyền, toan cầm sào đẩy ra. Thiếu phụ níu tay chồng, khẽ nói điều gì
đó.
– Thế hả? – Anh chàng thốt
lên và nhìn viên quan, đon đả chào, – lạy quan lớn!
– Hẳn cô ả đã nhỏ to, tôi
muốn xin thằng cu làm con nuôi? – Trứ từ tốn hỏi.
– Nhà con vừa bẩu. – Anh
ta bẹo má cu con mà hỏi, – mày theo quan lớn nhá, thoát cảnh đầu tắt mặt tối,
chân lấm tay bùn?
Cu con lại toét miệng ra
cười.
– Thế này, phúc ta lớn lắm
thay, – Trứ nhìn thằng bé, gật đầu tâm đắc.
– Chẳng qua, nghe ngựa hí
bất đồ thì cu cậu giật mình mà khóc thôi. Nhưng nó chưa quen ngựa thì ta lại xuống
thuyền, ngược sông Càn, sang sông Bút, sông Vạc, rồi ngược sông Đáy, qua sông Đại
Hoàng là đến quê nhà quan lớn, ở như Đại Hữu. Còn đi Cổ Loa, thì đến sông Đáy,
rẽ nẻo sông Châu, ngược sông Hồng thôi, – tên lính hầu đỡ lời, nói làu làu như
thể sông nước khắp vùng đọng trong lòng bàn tay vậy.
Thấy câu chuyện rôm rả,
đám dân đi chợ chiều cũng đổ xô cả lại, ai cũng có ý vun vào cho viên quan:
– Cho quan lớn làm con
nuôi đi. Mai ngày, khô đầu khô sọ, hẳn nên người, mình cũng có phận nhờ.
– Để ở làng, lớn lên lại
đi đánh giậm thâm d., chứ nước non gì mà tiếc?
– Nom hơ hớ thế kia, còn
đẻ hàng đống. Thương người hiếm muộn, ông giời đoái trông.
– Quan lớn đã có nhời, biết
điều thì ăn cơm tám, trái ý thì cám cũng chẳng có mà ăn đâu.
Người mẹ trẻ nghe vậy,
lòng rối bời, gùn gắng hồi lâu, nhìn chồng dò ý tứ, thấy chồng gật đầu, thì
cũng rân rấn nước mắt mà thuận theo. Thằng bé lẫm chẫm bước trên sạp thuyền, Trứ
dang tay đón.
– Ở nhà đã đặt tên con
chưa? – Trứ trìu mến nhìn đứa con nuôi, nhưng lại hỏi vọng về phía người mẹ.
– Bẩm quan lớn, mới ướm gọi
là Trào, còn chờ người hay chữ, cho cái tên, nên thường gọi là thằng Cu thôi ạ!
– ông bố trẻ thật thà đáp thay.
– Thế thì ta đặt tên cho
con. Xứ này là Điền Hộ(7), – Trứ đưa mắt nhìn bao quát hình sông thế
núi, – ta đặt tên con là Điền, để nhớ về quê hương bản quán. Ta họ Đinh, con lấy
theo họ ta. Vậy là Đinh Điền! – Trứ xướng to cho mọi người cùng nghe(8).
– Phúc đức quá, – dân
chúng và binh lính reo lên.
– Chưa quen đi ngựa thì
ta đi thuyền, nhề? – Trứ âu yếm nhìn Điền, rồi sai bọn lính hầu mua một chiếc
thuyền, rồi bảo chúng đưa vàng bạc biếu bố mẹ đứa trẻ.
Điền đưa tay với cây cung
đang khoác chéo trên vai tên lính. Hắn reo lên:
– Như vầy, cậu nhà sẽ
theo nghiệp kiếm cung. Mai sau nối chí quan lớn.
Trứ thấy vậy, tươi nét mặt,
vẻ mãn nguyện; đoạn, sai bọn tùy tùng chia làm đôi, nửa cưỡi ngựa đi Cổ Loa, nửa
xuống thuyền cùng cha con Trứ ngược sông Càn.
Khi thuyền rời bến, cu Điền
không thấy mẹ, mới khóc toáng lên. Bọn lính, kẻ đẩy thuyền, người giương buồm,
đứa lóng ngóng dỗ trẻ. Bố mẹ cu Điền đứng chôn chân trên bến, nước mắt lã chã.
Dân chúng cũng lặng lẽ nhìn theo. Đám lính bộ lục tục lên đường.
– Con ơi!- Bất chợt, thiếu
phụ gào lên, nghẹn nấc.
Trứ vội nhìn núi Mai An
Tiêm và Lã Vọng, nói to để trấn an:
– Ta thề có núi kia, sông
này, sẽ hết lòng nuôi dạy Đinh Điền như con đẻ. Nếu ta trái lời, số phận sẽ như
mũi tên này!- Trứ bèn rút phắt mũi tên, bẻ làm đôi, ném xuống sông.
Trên bờ, mọi người chắp
tay cúi rạp, tiễn biệt.
2.
Thôn Kim Lư(9) nằm
dưới chân núi Kỳ Lân.
Mặt trời lên cao bằng ngọn
tre, nàng Đàm mới lững thững ra đồng.
Bấy lâu, nàng từ biệt An
Trai(10), về làm thiếp Đinh Công Trứ, mà vẫn chân son. Chàng theo
Hào trưởng Dương Đình Nghệ, bôn tẩu tứ phương, thỏa chí tang bồng, chẳng mấy
khi đáo về, khiến nàng ốm lửng. Lắm lúc, chân tay rã rời như thể đi mượn, nhàn
rỗi mãi cũng chán, nên nàng đành bẫy chẫy ra đồng nhặt cỏ, be bờ cho đỡ buồn.
Thôn Kim Lư nằm trong
lũng núi. Thường ngày, chỉ có người già lụ khụ và trẻ ẵm ngửa ở nhà, còn người
lớn ra đồng cấy lúa, xuống sông đánh cá, lũ trẻ nhầng nhầng lên núi chăn dê.
Kìa, có con dê cụ đứng trên mỏm đá, dáng vẻ chủ tướng. Xa xa, ven chân núi, thấp
thoáng giữa đám hoa lau, bọn trẻ chăn trâu đang nô đùa, tiếng núi vọng lại rộn
ràng. Ước gì mình có đứa con giai, sẽ cho theo đám trẻ kia, thỏa sức chạy nhảy.
Mới nghĩ vậy, mà nàng Đàm đã cảm thấy má nóng ran, chắc đã chín hồng như mặt giời
buổi sớm mai rồi. Nàng mỉm cười một mình, bước chân đưa ra bờ suối lúc nào
không hay. Khóm trúc xanh, bụi lau vàng phất phơ trong gió. Dòng suối rì rào từ
chân núi chảy ra. Nàng thong thả lội xuống suối, kẹp váy giữa hai bắp đùi trắng
mập như thân cây chuối. Nàng khỏa nước rửa mặt, thấy bóng mình run rẩy trong
làn nước xanh. Có tiếng đập nước thì thũm phía vực suối, khiến nàng giật thót,
gấu váy tuột xuống nước. Nàng định thần ngoái lại, có thấy gì đâu nhỉ, hay thần
hồn nát thần tính? Nàng kéo váy lên bờ, vắt nước, rồi nhìn trước ngó sau không
thấy người, bèn len lén cởi xống áo, yếm khăn vắt lên cành trúc, toan bước xuống
tắm, giải nồng.
Bỗng cảm thấy có cái gì ấm
mềm cụ cựa ở bắp chân, nàng vội nhìn xuống, giật nẩy mình, vội lấy tay vùng che
ngực và phần dưới rốn. Giời ơi, con rái cá! Thì ra, tiếng động dưới vực lúc nãy
là nó đây. Con rái cá khác thường, to như một chàng trai lực lưỡng. Nàng định
kêu lên, nhưng như có cái gì nghẹn ở cổ. Hình như, con rái cá hiểu được cảnh ngộ
ấy, nên rướn lên, dúi mõm vào tận đùi non của nàng. Lớp lông mịn mượt của nó
chà lên thân thể, làm cho nàng đê mê trong nỗi sợ hãi tột cùng và từ từ ngã khụy
xuống bãi cỏ…
Trong cơn mê cuồng, nàng
cảm thấy mình đang giao hoan cùng chồng. Bất chợt, có tiếng bọn trẻ chăn dê kêu
hoảng loạn lưng núi và tiếng đám trẻ chăn trâu la thất thanh cuối đồng, làm
nàng bừng tỉnh. Ngoảnh sang, không phải là phu quân đầu gối tay ấp, mà là con
rái cá khổng lồ, đang âu yếm liếm nhũ hoa. Nàng sợ hãi, thét lên một tiếng kinh
thiên động địa,
*
Nàng Đàm vừa kịp lủi vào
đền Sơn Thần, thì bọn mục đồng đã cưỡi trâu sầm sập phi tới, í ới hỏi nhau:
– Chả thấy con giao long
nào sất cả?
– Cỏ mới nát bấy đây
thôi.
Chúng lùng sục khắp bờ
cây, lối cỏ, nhưng tiu nghỉu trở ra.
Ngay lúc đó, bọn trẻ chăn
dê tất tả lao xuống, kêu to:
– Rõ ràng hai con giao
long quần nhau.
– Đâu?- Bọn chăn trâu cự
nự.
– Một con xam xám lao xuống
vực. Trên núi, chúng tao nhìn rõ mồn một, – đứa chăn dê vừa chạy ra phía vực, vừa
ong oang nói.
– Còn một con trăng trắng
nữa. Chúng quần nhau như thể chúng mình đấu vật. Hay là nó trốn vào đền?- Thằng
bé chăn dê toan mò vào đền.
Nàng ngồi co rúm như con
tê tê bị đập, tưởng chừng không dám thở nữa.
– Chớ làm càn, mù mắt đấy!
– Tiếng thằng mục đồng can ngăn.
Chúng lại bổ đi lùng soát
và cãi nhau chí chóe như đàn khỉ, bỏ mặc mấy con trâu đang nhẩn nha gặm cỏ
quanh đền. Bọn trẻ vã mồ hôi, lột phăng những bộ quần áo màu nâu non, vá chằng
vá đụp, ném lên bãi cỏ, nom như đàn bìm bịp đang xõa cánh nằm sưởi nắng. Chúng
nhảy xuống vực tắm táp và té nước đùa nghịch. Những cái đầu để trái đào hai bên
tai và món tóc trên thóp, ngoi ngóp trên mặt nước, trông tựa đàn rùa kỳ dị đang
quần thảo. Lợi dụng lúc bọn trẻ đang chơi trò đánh trận thủy chiến, dìm nhau dưới
nước, nàng Đàm len lén bò ra khỏi đền, căm cắm rảo bước về nhà.
*
Ngay chiều hôm đó, cả
làng đổ ra, quây kín vực suối. Cánh thanh niên mang theo dao quắm và lao phóng
bằng tre đực, hè nhau phát cỏ, chọc hang, làm cho vực nước sôi lên sùng sục. Những
cây tre bổ bả, được mang ra vực đập nước như thể giặt chiếu, khiến đàn cá lộng
óc, ngoi lên. Dân làng ùa xuống, bắt được không biết bao nhiêu là cá mà kể, cứ
hết giỏ này đến rổ khác bưng lên bờ.
Con rái cá to và khỏe làm
chúa tể cả vùng này, thế mà không chịu đựng nối, phải thò mũi lên để thở. Lập tức,
cả làng quây lại, con rái cá lao thục mạng qua những khe đùi; nhưng cuối cùng
kiệt sức, bị tóm sống. Đám người xúm đen xúm đỏ, hò nhau kéo lên bờ và kinh
hoàng nhận ra, một con rái cá khổng lồ, to như gốc chuối hột, dài như đòn gánh,
sức vóc không kém gì một chàng trai.
– Rái cá chứ không phải
giao long. Còn một con trắng nữa. – Tiếng bọn trẻ hồ hởi reo lên.
Dân làng lại nhao xuống vực
suối mà quần đảo, hồi lâu không thấy tăm hơi, bèn thu quân về, xả rái cá ra
chia nhau, mỗi nóc nhà trong thôn đều được một phần.
Nàng Đàm nhìn miếng thịt
rái cá, rùng mình, vội biếu lại hàng xóm, nói thác đi là đang phải kiêng chất
tanh, rồi đi xin từng mẩu xương rái cá, nhặt vài mảnh da nữa, bảo là để làm thuốc.
Nàng bồi hồi gói mớ xương vào tấm da của nó, treo lên gác bếp. Đoạn, nàng mang
trầu mời Yên Khê:
– Mời thím xơi khẩu giầu.
– Không dám!- Yên Khê
vươn tay nhón miếng trầu têm cánh phượng, vẻ ưng ý.
– Tôi có gói thuốc treo bếp,
thím để mắt giắng trông hộ nhá, – cố giấu nỗi lòng, nhưng giọng nàng Đàn vẫn
rưng rưng.
– Ừ, khéo mà thuốc nhà giời,
– Yên Khê vừa nhai trầu, vừa nghĩ bụng, rái cá có gì mà báu, nhưng lại hỏi, –
thế, bao giờ thì bác giai về đón lên Loa Thành.
– Thấy bảo nay mai; đâu
như, lại xin được con nuôi thì phải, chú lính mới đáo qua, bảo thế, – giọng Đàm
trở nên đăm chiêu.
– Thế hở, ôm rơm rặm bụng,
– Yên Khê thở dài, – ông Dự cũng bảo tôi mấy lần, nhưng nghĩ cái sự khác máu
tanh lòng…
*
Chú lính hầu mở liễn
cơm, toan xới vào bát, thì nàng Đàm ngửi thấy mùi, ọe khan một tiếng. Trứ giật
mình hỏi:
– Nhà, sao vậy?
– Không sao, – nàng Đàm
cười gượng, đáp.
– Có khi phu nhân sắp thấy
tin vui, – tên lính hầu tỏ vẻ từng trải. – Con đã nói ở chợ Điền Hộ, nuôi cậu
Điền thì mắn mà.
– Thế hử?- Trứ gật gù, cười
tủm tỉm, – giời mà cho con giai nữa, ta đặt là Hoàn, Đinh Hoàn.
– Cũng chưa biết thế nào,
có gì mà đã vội mừng.- Nàng Đàm chữa thẹn, nhưng trong lòng vui lâng lâng, đưa
bát cho chú lính hầu, – chú đơm miệng bát, chớ lèn chặt mà em cu chậm nhớn. –
Đoạn, nàng vẽ miếng cá kho và bón cho cu Điền.
– Hay ăn chóng nhớn nhá!
– Chú lính cười cười trêu đùa với cu Điền, – mai ngày, bằng sào bằng gậy mà tỏ
mặt với thiên hạ, thì bõ công cha sinh mẹ dưỡng.
– Chú kho cá với dưa cải
ngồng, rõ khéo, – nàng Đàm nhìn chú lính cười tươi.
– Dưa ngồng thì có gì mà
ngon, chẳng qua là đất Dương Xá(11) này vốn khô cằn, nhưng may nhờ
các quan dẹp giặc, nên ông giời mới cho hỏa cốc phong đăng, – chú lính được
khen nở mũi, nhưng vẫn lễ phép nói một thôi một hồi. – Chứ như châu Đại Hoàng
nhà quan, rừng vàng bể bạc, mùa nào thức nấy…
– Chú nói cho vui câu
chuyện thế chứ, đất Dương Xá có kém gì An Trai bên đằng ngoại tôi nào? – Đàm thị
nói như đi guốc trong bụng chú lính.
Chú lính bị bóc mẽ, đành
cười trừ cho qua cái chuyện nói nịnh nhà quan.
*
Nàng Đàm ăn rở khác thường.
Đàn bà nghén, thì ăn của chua, như là múi chanh, miếng khế; có khi, ăn cả đất
vách, bếp lò. Nhưng nàng Đàm lại thích ăn sống các loài thủy sản: nào cá, nào
tôm, nào cua, nào ốc…
– Thứ này sẵn, nhưng để
con làm gỏi, cho đỡ tanh, – chú lính đưa mắt, xem ý.
– Vẽ, – nàng Đàm bắt con
cá chép, to bằng ba đầu ngón tay, đang giãy đành đạch trong rổ, rồi chấm vào
đĩa muối sống.
– Ấy, – chú lính vội xua
tay. – Phu nhân phải ăn từ đằng đuôi; cắn đầu, nó quẫy thẳng vào cuống họng thì
khổ.
– Chú dạy phải, – nàng
Đàm ân cần đáp, vẻ hàm ơn sau khi đã nhai ngấu nghiến miếng đuôi cá.
– Khiếp! – Chú lính nhăn
mặt, – phu nhân ăn cứ như thể rái cá. – Chú lính vội vả vào mồm mình, – vô
phép, xin phu nhân bỏ quá cho.
Câu nói vô tình của chú
lính hầu, khiến nàng Đàm giật mình, đánh rơi con cá đang ăn dở, mặt tái dại. Đoạn,
nàng thẫn thờ đứng dậy, bước ra khỏi bếp. Nhớ đến miếng thịt rái cá chia phần ở
Kim Lư khi nào, chợt có cái gì đưa lên cổ, khiến nàng nôn thốc nôn tháo.
3.
Khi nàng Đàm đã ộ ệ, Đinh
công Trứ bèn xin với Dương Hào trưởng đưa vợ về lại Đại Hoàng, nhân chuyến tuyển
quân luôn thể. Một công đôi việc đều thuận cả công lẫn tư, nên được chuẩn y.
Điều làm Trứ và gia tộc
lo lắng là nàng Đàm lại thích ngâm mình dưới suối và bắt cá ăn, lỡ sinh con thì
đỡ sao cho kịp. Chú lính hầu bàn tính:
– Thưa quan lớn, hay là để
phu nhân ngâm mình trong thùng nước, khi nào sắp sinh thì bồng ra.
– Thùng nào cho thấu?- Trứ
đáp bâng quơ, tâm trạng để tận đẩu tận đâu.
– Con thấy người áo chàm,
vùng sơn trại, thường ngâm mình tắm lá thuốc trong bồn gỗ ngọc am.
– Thế hử? Nhưng làm sao
mà kiếm được bây giờ?
– Con biết, trong đền Sơn
Thần, trữ sẵn một cái, to bằng cái nia.
Thế là ngay tức khắc, cái
bồn gỗ ngọc am được bọn trẻ chăn trâu và chăn dê lôi ra khỏi đền, lau rửa sạch
sẽ, đưa xuống gian tả vu. Đoạn, chúng ra giữa sông Đại Hoàng, kín nước về.
Bà Đốc Khánh liền cho đun
nước nóng, pha thêm vào bồn cho ấm, rồi mới rước nàng Đàm vào ngâm mình.
Nàng Đàm bụng chửa vượt mặt,
lặc lè như nhện công trứng, mặt nhăn như bị, kìm cơn đau. Nhưng khi vào bồn nước,
lại cảm thấy thoải mái lạ thường. Bà Đốc Khánh xăng xái giúp nàng Đàm ngồi tựa
lưng vào thành bồn và lễ phép thưa:
– Phu nhân, khi nào trở dạ,
thì ới một tiếng, chúng con đỡ lên giường.
– Thấy cơn đau rồi đấy, –
nàng Đàm nói đứt đoạn.
– Thế thì lên giường là vừa.
Bà Đốc Khánh hô to một tiếng,
bọn con gái trong thôn xúm vào, toan bồng Đàm lên giường, nhưng nàng khoát tay,
ra hiệu cho chúng lui ra, khiến bà đỡ lo cuống cả lên.
– Ta đã cắt rốn cho hàng
trăm đứa trẻ sơ sinh khắp cái động này, nhưng chưa bao giờ thấy cái sự lạ… – bà
Đốc Khánh vội nín bặt, khi nhác thấy nàng Đàm chau mày. – Ra mau, kẻo nó ngạt
nước!
– Gượm đã, – nàng Đàm cố
nén cơn đau, như thể định phân bua điều gì đó, nhưng vội cắn răng, bám chặt tay
vào thành bồn mà rướn bụng lên.
– Cái đầu nó đã thò ra
kìa! Ra mau!
Không biết là bà Đốc
Khánh giục nàng Đàm ra khỏi bồn, hay khiến hài nhi thoát khỏi bụng mẹ. Nàng Đàm
bật cười. Hài nhi vọt ra, bơi nghều ngào trong bồn. Bà Đốc Khánh tá hỏa, vội vớt
lấy. Đứa bé khóc toáng lên.
– Con giai! – bà Đốc
Khánh cúi lom khom và kêu lên mừng rỡ.
Đám con gái liền xô lại,
ngó nghiêng. Bà Đốc Khánh luôn mồm sai khiến:
– Đưa cái khăn! Không,
cái mềm mềm để lau bé cơ mà, da còn non. Chúng bay vụng quá đi mất.
Bọn con gái bị mắng,
nhưng lại hớn hở chạy ra chạy vào. Mấy đứa nhìn vào bồn nước có lẫn màu máu
tươi hồng, thấy phần bụng dưới nàng Đàm dập dờn rau thai và “đám rêu đen”, bèn
bấm nhau cười.
– Rồi đến lượt chúng bay.
Đàn bà con gái, chửa thì phải đẻ, gọi là banh thây xẻ thịt, đau đớn bội phần,
nhưng lại vui đáo để. Cô nào sinh ra vua chúa cho thiên hạ, thì cửa mình đáng
dát vàng, bọc bạc. Các cụ chả dạy là cái ngàn vàng đấy thôi…
Nghe vậy, nàng Đàm và bọn
con gái cười rũ rượi.
Bà Đốc Khánh đặt bé con
vào ngực nàng Đàm và lẹ làng nâng rau thai, thắt cuống rốn và buột miệng thốt
lên:
– Y như thể rái cá! – Đoạn,
bà ra lệnh, – đứa nào đi ngắt cái cuống chiếu, đốt lấy gio, bôi vào cuống rốn
cho thằng bé.
Mấy đứa gái dạ ran, vẫn
còn buồn cười chuyện dát vàng, bọc bạc, vừa đỏ mặt liếc vào bụng dưới của nhau,
vừa ngúng nhuẩy chạy đi.
*
Đinh Công Trứ đang tư lự
nhìn lá số tử vi, ghi sẵn trên bàn độc: “Năm Giáp Thân (924), tháng hai, ngày rằm,
giờ… “. Giờ sinh thì còn để trống, chờ tiếng khóc lọt lòng.
Chú lính hầu đứng ngóng
ngoài sân, nghe bà Đốc Khánh xướng câu: “Con giai”, vội chạy lên nhà, khoanh
tay lễ phép, báo tin mừng:
– Bẩm, con giai rồi ạ!
– Lâu chưa? – Trứ như chợt
tỉnh cơn mê, vội hỏi.
– Dạ, vừa xong ạ!
Trứ nhìn đồng hồ cát, bấm
bấm đốt ngón tay, tính tính toán toán, rồi nở nụ cười rạng ngời gương mặt, thốt
lên:
– Cát tường! Nên cơ đồ!
Đinh Hoàn!
Chỉ chờ có thế, chú lính
hầu lại tất bật chạy sang gia tả vu, nói chõ vào:
– Ông bảo, làm nên cơ đồ,
đặt tên Đinh Hoàn.
Nàng Đàm và bà đỡ Đốc
Khánh cùng bọn con gái biết Đinh Công Trứ đã lấy lá số và đặt tên cho bé, nên
cùng à lên vui sướng.
Ngoài ngõ, bọn trẻ chăn
trâu, chăn dê reo hò ầm cả lên và phất cờ bông lau, chạy rông khắp xóm.
Núi đồi, đồng ruộng, sông
ngòi cũng như sáng lên trong ánh hào quang, đang được chiếu rọi bởi trời và tỏa
lên từ đất. Đêm ấy, trăng dường như sáng hơn và trong hơn lệ thường. Núi Kỳ Lân
cũng như thể vươn vai đứng dậy, giữa đồng đất Đại Hoàng.
*
Nàng Đàm tỷ mẩn xem bàn
tay, bàn chân của con, tịnh không thấy các ngón kéo màng, da cũng không có lông
như rái cá, mà mở cờ trong bụng. Nàng đã giấu Đinh lang quân, về chuyện bị rái
cá phủ. Nàng chỉ lo thím Yên Khê là người có thói tọc mạch mà thôi. Nhưng giờ
đây, Hoàn là đứa bé khôi ngô thế này, lại giống Đinh Công Trứ từ lúc lọt lòng,
thì còn sợ gì nữa. Mai ngày, dù đức ông chồng có năm thê bảy thiếp, con đàn
cháu đống đi chăng nữa, thì Hoàn vẫn đường đường là trưởng nam, không kẻ nào có
thể vượt mặt. Còn Điền, dù được quý như con đẻ, thì vẫn là con nuôi mà thôi.
Ôi, con vàng con bạc của mẹ. Mẹ sinh ra con, nhưng ông giời ban phúc cho họ
Đinh của bố và họ Đàm của mẹ. Ngõ hầu, con là của giời, mai ngày lớn khôn, đặng
gánh vác thiên hạ.
Đinh Hoàn ngủ say dưới
ánh đèn dầu lạc. Nàng Đàm vẫy tay gọi đứa hầu gái, chỉ đĩa đèn, ra hiệu cắt đoạn
bấc cháy khô và khêu to cho rạng. Nàng nhìn mặt con như phủ lớp phấn hồng, cái
miệng nhỏ xíu xinh xinh đang nún bú mơ, nom rất đáng yêu. Nàng cười rạng rỡ và
vạch yếm, định cho con bú, nhưng nghĩ thế nào, lại thôi. Nàng nhìn bầu vú căng
tròn dưới yếm thắm cổ xây, tự dưng cảm thấy nóng má, chợt nhớ chuyện rái cá liếm
nhũ hoa hôm xưa. Ừ, nó chẳng khác gì người, cũng biết âu yếm đấy thôi. Có lẽ,
đó là một chàng trai tuấn tú, bị ông giới hóa kiếp, đày xuống trần gian. Chứ
rái cá, dù là loại gì đi chăng nữa, làm sao biết chuyện phủ phả. Không, nhưng
Hoàn rõ ràng là con của họ Đinh. Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh.
Hoàn giống Trứ, người dưng cũng nhận thấy điều ấy, nói chi là mẹ. Còn chuyện
con rái cá thành tinh kia, chỉ làm mình sợ hãi ngất đi, rồi liếm láp, có khi
còn định ăn thịt không chừng? Nhưng xưa nay, rái cá chỉ ăn cá, tôm, cua mà
thôi, chứ đâu có ăn thịt người. Thôi, đừng nghĩ quẩn mà phải tội với giời. Như
có thần linh mách bảo, mình đã thu nhặt bộ xương rái cá, rồi lấy chính da của
nó bọc lại, treo gác bếp, nhưng không biết để cho ai và làm cái gì nữa? Linh
tính mách bảo, sẽ có lợi cho Hoàn. Ai mà biết mệnh giời? Không gì tiện lợi, an
toàn hơn là nói thác đi, chuyện gói thuốc treo gác bếp, để tránh tò mò của kẻ
phàm trần. Nếu đúng là giời sai khiến mình làm việc ấy, thì không ai dám đụng
vào. Nhưng tại sao, khi ăn rở, mình lại toàn xơi cá mú và khi chửa đẻ lại ngâm
nước không biết chán? Chính mình cũng không hiểu được điều đó. Bà Đốc Khánh bảo,
lần đầu tiên thấy người đẻ trong nước, thằng cu lọt lòng đã nghều ngào bơi như
rái cá vậy!
4.
Rằm tháng ba, năm Giáp
Thân (924), Đinh Công Trứ thửa mâm cỗ, mừng đầy tháng Đinh Hoàn. Trứ nâng chén
rượu, bảo em chú là Thúc Dự:
– Tôi làm anh, nhưng thời
buổi loạn lạc, phải xa nhà luôn, tòng chinh theo Hào trưởng Dương Đình Nghệ.
Nói để chú biết, dăm sáu năm trước, từ Mậu Dần (918), sau khi Khúc Hạo mất, thì
Khúc Thừa Mỹ lên thay. Nhưng do hèn yếu mà đã cầu cứu nhà Lương, nên quân Nam
Hán tiến vào Tĩnh Hải Quân(12). Tôi không thể khoanh tay ngồi nhìn.
Chú ở nhà, giữ hương khói, trông nom mồ mả tổ tiên, ông bà, bố mẹ cho chu tất,
thì tôi mới yên lòng mà rảnh tay lo bề công danh sự nghiệp.
Dự cũng nâng chén đáp lễ:
– Tôi chỉ quanh quẩn như
gà què nhặt nhạnh hạt rơi hạt vãi chân cối xay. Nhưng các cụ dạy, sống về mồ về
mả, chứ ai sống bằng cả bát cơm. Bác cứ thỏa sức bôn tẩu tung hoành thiên hạ,
chớ bận tâm việc nhà mà sao nhãng việc quan.
Hai anh em nâng chén
ngang mày, cùng uống. Đoạn, Trứ gọi bế hai anh em Đinh Điền, Đinh Hoàn đến cạnh
mâm, quệt cho mỗi đứa một ngón út rượu vào miệng, khiến chúng nhăn mặt mũi, cả
nhà cười hể hả.
– Hồng phúc nhà ta, mai
ngày, nhờ vào nó cả, – Trứ trỏ Đinh Hoàn nói, đầy vẻ hãnh diện; đoạn, lèo thêm,
– thằng Đinh Điền cũng rạng danh chứ chẳng chơi.
– Phải! – Dự cũng gật gù,
– biết đâu, nhờ phúc ấm mà chúng dựng nên cơ đồ.
– Tôi mà chẳng may có mệnh
hệ gì, thì nhờ cả ở như tay chú. Xảy cha còn chú mà lị, – Trứ cười cười nói
nói.
Bỗng Đinh Hoàn khóc thét
lên, khiến ai cũng giật mình kinh hãi. Nàng Đàm tái mét cả mặt, ấp vội con vào
lòng, ru nựng mà lòng dạ bồn chồn không yên. Đinh Điền cũng mếu máo, khóc không
thành tiếng.
– Bác đừng gở miệng. – Dự
nhíu mày, – con cháu là con cháu chung. Thế nào mà chẳng có ngày, hai bác cùng
gia tộc thấy các cháu đội giời đạp đất trong thiên hạ.
Nghe vậy, cả nhà lại cùng
cười nói vui vẻ. Đinh Hoàn cũng nhả vú mẹ, toét miệng cười như nghé con.
Ngẫm nghĩ hồi lâu, Dự khẽ
hỏi anh trai:
– Có điều này, tôi hỏi
bác. Bác là mệnh quan triều đình, lại đi nhiều biết lắm…
– Cái gì thì chú nói luôn
xem nào, cứ vòng vo như gõ thuyền đuổi cá mãi thế? – Trứ sốt ruột giục.
– Họ Đinh nhà ta, từ đâu
mà ra? – Dự độp luôn.
– Nghe nói, – Trứ ngẫm
nghĩ, đắn đo, – có người thì bảo, cháu chắt Khương Tử Nha, đời nhà Chu, lấy cái
tên thụy là Đinh Công làm họ, đến đời Đường, di từ phương Bắc xuống Đại Hoàng
này, sinh cơ lập nghiệp…
– Khương Tử Nha là cái
ông câu cá mà mắc lưỡi câu thẳng ấy à? – Dự ra vẻ hiểu biết, cắt ngang lời.
– Phải, tỷ như Triệu Việt
Vương, Lý Nam Đế cũng là người phương Bắc xuống cả, – Trứ nhìn độ lượng. – Lại
nói, cái sự họ Đinh, cũng có người thì cho là con cháu dân Mường. Đấy, chú xem:
Đinh, Quách, Bạch, Hà là bốn chi họ nổi tiếng của cái anh Mường ở đất này. Bây
giờ, người Mường, người Việt cũng khó phân định rạch ròi, tuy hai mà một, tuy một
mà hai. Nhưng truy căn nguyên, thì cũng từ phương Bắc xuống cả. Ngàn năm Bắc
thuộc, xứ mình bị coi như quận huyện, người phương Bắc, tục phương Bắc tràn ngập
như lũ lụt. Nhưng được cái hay, cõi trời Nam này vẫn riêng một khoảnh, dân Nam
vẫn cương cường, không khuất phục. Dù từ đâu tới, nhưng đã ở đất này, thì thành
con dân nước này, một sống một chết mà giữ nước, thì mới có chỗ dành cho con
cháu cắm dùi.
– Thế thì cũng là dân nước
Nam cả thôi, – Dự nói vậy, nhưng trong lòng không tin cho lắm.
– Thì cứ vầy vậy đã, nhề!
– Trứ chặc lưỡi, – Lúc này mà giở giói ra, đâm phiền phức không chừng, người đời
lại bảo mấy cái anh nhiễu sự, vẽ rắn thêm chân.
– Cứ bảo thế, nhưng rắn
có chân, thật đấy! – Dự hồ hởi khoe, – tôi đốt nương, thấy con rắn bị cháy, thò
ra hai cái chân bé xíu dưới bụng, chỗ hậu môn…
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
_____________________________________
(1) nay
thuộc tỉnh Nghệ An.
(2), (3), (4) nay
thuộc tỉnh Thanh Hóa.
(5) nay
thuộc xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình,
(6) nay
thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
(7) nay
thuộc xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
(8) Lê
Quang Chắn, Vũ Nguyên Lý- Một số nhân vật lịch sử được thờ tự trên đất Hưng
Yên. (Tài liệu hội thảo khoa học “Nhà Đinh với sự nghiệp thống nhất và phát triển
đất nước”, do Viện Sử học, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình/ Hội Khoa học Lịch sử
Việt Nam, tổ chức tháng 01/2012, tại Ninh Bình), trang 305, viết đại ý rằng,
trên đường về làng, Đinh Công Trứ thấy một hài nhi quấn trong mảnh áo cũ, liền
đưa về nhà nuôi, đặt tên Đinh Điền.
Khi tôi (VXT) đi khảo sát
điền dã, để viết tiểu thuyết Đinh Tiên Hoàng, ngày 14/8/2014, đến gặp ông Trần
Văn Mi, người trông coi đền Vua Đinh (phối thờ Đinh Điền, Nguyễn Bặc), tại làng
Văn Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, được biết: “Khi ông
Đinh Công Trứ qua Điền Hộ (Thanh Hóa), gặp người đàn bà chở thuyền, có đứa bé
khôi ngô, bèn xin làm con nuôi, đặt tên Đinh Điền”. (Điền, mang ý nghĩa kỷ niệm
quê hương bản quán Điền Hộ).
(9) nay
thuộc xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
(10) nay
thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thủ đô Hà Nội.
khiến con rái cá giật
mình, vùng căng lao xuống vực, nghe “tùm” một tiếng, như vọng về từ chốn thủy
cung. Nàng cuống cuồng mặc lại váy, yếm, áo, khăn và liếc nhìn đám cỏ nhàu nát.
Ôi, lưng nhặm, quờ tay thấy đầy lá cỏ; bụng nhớt, xoa bàn tay thấy đầy lông rái
cá. Chả nhẽ, rái cá cũng là người, nhưng bị đầu thai xuống thủy cung, đã hóa
thành tinh chăng?
(11) nay
thuộc ngoại thành Hà Nội.
(12)
tên nước ta, từ năm 866 đến 967.
Chương hai
Bôn tẩu theo cha
1.
VHSG- Năm Tân Mão (931),
khi Đinh Hoàn lên bảy, thì Đinh Công Trứ được phong làm Thứ sử Châu Hoan. Đinh
Thứ sử kéo cả bầu đoàn thê tử cùng đi nhậm chức.
Một hôm, Đinh Thứ sử bàn
với Đàm Phu nhân:
– Có dễ, phải cho hai thằng
đi học chữ?
– Nhưng, nhà có thuê thầy
về dạy trong phủ được không? – Đàm thị có ý lo cho con.
– Học chung trường phủ,
cho chúng nó hòa đồng với lũ trẻ trong này, càng mau nhớn, – chữ “nhớn”, được
Trứ nhấn mạnh, ngụ ý cho vợ hiểu rằng, không chỉ to xác mà còn rộng về đầu óc nữa.
– Thì ở như Kim Lư, chúng
vẫn thường chơi với lũ trẻ chăn trâu, chăn dê đấy thôi. Hai anh em chúng nó,
thân với thằng Bặc lắm, – Đàm thị nói vậy, cũng có ý thanh minh, lại thể hiện sự
tán đồng.
– Bặc nào? – Trứ nhíu
mày, không nhớ nổi kẻ ấy là ai.
– Con ông Thước đấy như,
– nàng Đàm nhướng mày nhìn chồng, vẻ ngạc nhiên.
– À, tôi nhớ ra rồi, Nguyễn
Thước. Ông Thước cùng gia tướng Dương Hào trưởng, – Trứ reo lên mừng rỡ, – được,
được đấy. Đi đâu cũng phải kết bạn, chọn bạn mà chơi.
Điền và Hoàn cùng đi học
với lũ trẻ quanh phủ. Biết hai anh em là con thứ sử, nên thầy nể, trò sợ. Nhưng
hai anh em không bắc bậc cành cao, lại sáng dạ, nên chẳng bao lâu được thầy
yêu, bạn mến.
Lớp học ở đình. Học trò rải
chiếu, khoanh chân ngồi nghe giảng và phủ phục xuống chiếu mà viết. Hằng ngày,
trò nào tới phiên mài mực thì phải đến sớm. Hoàn cầm thỏi mực dẹt như hai ngón
tay, mài vào đáy đĩa lấp xấp nước, như kiểu xay lúa, bụng bảo dạ, không được lơ
đễnh, lật đĩa là ăn đòn như chơi. Hoàn nhớ có lần, Điền bị phạt, đã biết cách đối
phó, độn mo nang vào trong lưng quần, thầy quật “bộp” một cái, biết ngay là trò
láu cá, thế là mức phạt nhân đôi. Có đứa viết xấu, chữ méo xệch, cũng bị đỏi
thước vào tay. Nghĩ đến chúng bạn, Đinh Hoàn bật cười. Dòng mực xoáy tròn như
chơi trò đèn kéo quân. A, quân ta đuổi quân địch, xông lên! Bất chợt, thỏi mực
trượt lên miệng đĩa, lật nhào. Mực đổ tung tóe ra chiếu và quần áo. Đinh Hoàn
choáng người, vội cuốn chiếu, toan mang đi giặt, thì cái đĩa tuột xuống nền
đình, trạt bằng vôi, cát, rơi đánh “choang” một tiếng, vỡ tan tành. Thầy đồ
nghe động chạy ra, với cái nhìn nghiêm khắc, khiến Hoàn sợ toát mồ hôi. Nếu
không phải con giai Đinh Thứ sử, chắc Hoàn đã phải ăn roi và chịu phạt quỳ cả
buổi.
Nàng Đàm thấy con đi học
về, áo quần lấm lem những mực là mực, mới hỏi sự tình. Hoàn thưa lại. Nàng Đàm
lại kể với chồng. Hôm sau, Đinh Thứ sử viết phong thư, bảo Hoàn chuyển đến thầy
đồ: “Thưa tiên sinh, trò Đinh Hoàn, trò Đinh Điền có lỗi, mong được xử như
những trò khác, cũng là để đặng nên người“.
Trứ tuy bận việc quan,
nhưng riết róng theo dõi việc học hành của hai con. Ngay từ những buổi đầu, đã
hỏi:
– Hai anh em học được mấy
nét rồi?
– Thưa, mới có một nét, –
cả hai anh em đồng thanh trả lời.
– Viết ta xem, – Trứ chỉ
vào tờ giấy và nghiên bút trên bàn.
Điền gạch một nét ngang
vào góc tờ giấy. Hoàn lại vẽ vào giữa giấy, nét cứng cỏi.
– Mày viết mà như vẽ như
vầy, tốn giấy? – Trứ xem, thấy lạ, nhíu mày, giằn giọng.
– Ta phải đứng giữa thiên
hạ! – Hoàn điềm nhiên đáp.
Nghe vậy, Trứ giật mình,
ngẩng phắt lên nhìn con, tuy hởi lòng, nhưng phải uốn nắn từ nhỏ, kẻo ngông cuồng,
hỏng việc lớn.
– Thôi, cất đi, chớ có ăn
nói luông tuồng ở lớp học. Nhất nhất phải nghe lời thầy, vui vẻ với chúng bạn,
nghe không, cả hai thằng? – Trứ nhìn cả hai con, nghiêm nét mặt, đoạn quay sang
Điền, – mày lớn, phải bảo ban em.
Điền thì trố mắt nhìn,
trong lòng phục thằng em, cái gì nó cũng ranh hơn, nhưng nghe bố nói vậy, đành
lí nhí vâng dạ cho qua chuyện.
– Con sẽ đưa cho bu giữ hộ,
– Hoàn cầm tờ giấy có chữ “Nhất” của hai anh em, tung tăng chạy.
– Không được, – Trứ gọi
giật giọng, – phàm chuyện chữ nghĩa, không được đưa cho đàn bà, kể cả bu mày.
Cho vào hòm sách, thỉnh thoảng hai anh em xem lại, nghe chửa?
Cứ dần dần như vậy, hai
anh em học hành ngày một tấn tới. Cuối năm, Trứ lại hỏi câu khó, bảo hai anh em
thích gì thì viết ấy. Điền vẽ con hổ rõ to. Trứ hỏi rằng sao? Điền bảo, lớn lên
muốn làm chúa sơn lâm. Hoàn viết chữ “Long”, những mười sáu nét. Trứ hỏi, long
là gì? Hoàn đáp, là con rồng, tượng trưng cho vua. Trứ tươi nét cười, gật gù lặng
lẽ. Hoàn khoe, con hỏi thầy đồ viết chữ “Bặc” thế nào? Thầy hỏi lại, để làm gì?
Con bảo, đấy là bạn con ở quê. Thầy khen, có nghĩa với bạn. Con hỏi, bặc, nghĩa
là gì? Thầy bảo, một nghĩa là củ cải, có khi đặt tên thế cho dễ nuôi cũng nên.
Nghe vậy, Trứ cười ngất. Hai đứa lại mang chữ và hình cất vào hòm sách. Cái hòm
gỗ thông đựng chữ, tưởng nhẹ mà hóa nặng, hai anh em phải lặc lè khiêng khiêng,
mở mở, đóng đóng, hằng ngày.
*
Có hôm, Điền và Hoàn cùng
đám học trò chơi đánh đáo hạt gấc. Hoàn để móng tay út mọc dài, nên quài được
vô khối. Điền phát hiện ra trò láu cá của thằng em, khoái chí, cười tít mắt.
Chán trò đánh đáo, cả bọn lại kéo nhau ra chơi sông Ngàn Cả(1), mà
chúng gọi là đi nhởi. Triều lên, dòng sông mênh mang, khiến chúng
choáng ngợp, không dám lội xuống nước. Nhưng anh em Điền, Hoàn thì lột phăng áo
quần, lao “tùm” xuống, lặn ngụp, vẫy vùng như rồng gặp mây, như cá gặp nước.
– Trộ tề, hấn bơi
lặn như rái cá.
– Chúng tao lặn mở mắt,
thấy cả thủy cung vua Thủy Tề, – Hoàn phơ lên.
– Xì, choa nghe
nói, thủy cung ngoài bể cơ mà?
– Tao lặn ra tận cửa Hội,
thấy Hòn Ngư đứng chân ngoài bể, to bằng mấy cái đình.
Nghe Hoàn nói vậy, cả bọn
lè lưỡi, Điền tủm tỉm cười.
Hoàn thấy cái đình ở phủ
này, cũng chẳng khác cái đình ngoài làng Đại Hữu, quê nội là mấy; cũng mái ngói
vẩy cong cong, cột gỗ lim hai đứa học trò ôm mới xuể và cũng có gian thờ thành
hoàng. Chỉ khác là chân cột ở đây, cái nào cũng đặt trên “gạc dai” là hai thanh
gỗ chéo hoa thị, kê trên mặt tảng đá.
Thầy bảo, qua dãy Hoành
Sơn là sang nước Chiêm Thành. Tiếng nói Châu Ái đã nghe nằng nặng, vào đây còn
líu ríu hơn. Câu nói cũng là lạ, nhìn là trộ, kìa là tề, chơi là nhởi,
chúng tao là choa, hắn là hấn, nước là nác, trâu là tru,
đầu thì gọi trôốc, thuyền là nôốc … Nhưng bu dặn, không được nhại,
chửi cha không bằng pha tiếng. Mình là con nhà quan, phải ý tứ giữ gìn, không
được buông tuồng, hỗn láo.
Không riêng gì Hoàn và Điền,
ở lớp cũng có mấy đứa con quan, đứa nào cũng đi dép da trâu, con dân đi chân đất.
Con quan béo và sạch, con dân gầy còm, nhếch nhác; nhưng sức học thì chẳng hơn
nhau là mấy.
Đồng đất xứ này không lầy
thụt như Đại Hoàng, mà đầy cát, giồng khoai lang thì tốt. Hoàn đến chơi nhà bạn,
thấy cơm độn khoai lang, nghĩ bụng, thảo nào, chúng gầy và xanh, vạt áo đứa nào
cũng dính đầy nhựa khoai, đen như quệt mực nho.
Xứ này cũng có trâu,
nhưng anh em nhà Hoàn nhớ trâu Kim Lư hơn. Nhớ khi hai em anh lũn cũn theo bọn
trẻ cởi truồng cưỡi trâu lội đầm. Đêm về, rôm trâu nổi đầy bẹn như hạt kê, rát
tựa phải bỏng. Đầm lầy đầy cỏ môi, lá bám vào bắp đùi xước đỏ và mưng mủ, rồi
tróc da từng mảng. Điền mau khỏi hơn Hoàn. Bu bảo, Điền lành máu, còn Hoàn độc
máu. Thế rồi khỏi là lại theo trâu ra đầm, chơi cả ngày cả buổi, quên ăn. Hoàn
để ý, thấy con trâu nào dưới cổ cũng có một nốt ruồi to, mà không hiểu tại sao,
để làm gì? Một hôm, Hoàn đánh bạo, hỏi chú Dự. Chú bảo, ngày xửa ngày xưa, trâu
cũng biết nói tiếng người, nhưng hay mách lẻo những trò ma quỷ của trẻ mục đồng,
nên chúng nhờ phù thủy châm que hương đang cháy vào cổ trâu, thành cái sẹo nốt
ruồi. Thế là từ đấy, trâu không nói được nữa, chỉ kêu “nghé ọ” mà thôi.
2.
Một hôm, thứ sử Đinh Công
Trứ mời thầy đồ dến tư dinh đàm đạo. Sau khi phân ngôi chủ khách, uống tuần
trà, vừa đối ẩm, vừa hỏi thăm gia cảnh, rồi Trứ dò ý bằng một câu hỏi:
– Dám hỏi, sao tiên sinh
học rộng tài cao, mà không ra làm quan giúp nước?
– Thưa quan Thứ sử, tôi
cũng chỉ biết dăm ba chữ bỏ bụng, gõ đầu trẻ còn chưa xong, đâu dám… – thầy đồ
có ý khiêm nhường.
– Bây giờ, thời buổi loạn
lạc, mấy người có chữ đều đau đáu cái sự an dân bình thiên hạ. Ngô Quyền cũng
đi làm Thứ sử Châu Ái với tôi cùng một lượt. Năm sau, được Hào trưởng Dương
Đình Nghệ cho làm con rể, rồi trao cả binh quyền, – Trứ dừng lời, lại trịnh trọng
giơ tay mời trà.
– Cái chuyện Ngô Thứ sử,
gặp nàng Dương Phương Lan, ái nữ của Dương Hào trưởng, vào năm Nhâm Thìn (932),
đâu như trên cầu Ba Trăng, thì đồn tự sông Đáy vào tận sông Lam. Âu cũng là ông
giời xe duyên cho bậc anh hùng, – thầy đồ đỡ lời cho vui câu chuyện.
– Ngoài kia, Phạm Bạch Hổ
cũng giúp Dương Hào trưởng, đánh đuổi bọn Lý Tiến, Thứ sử Giao châu của quân
Nam Hán, giải phóng Đại La(2), vào năm Tân Mão (931), rồi lại đánh bại
Trần Bảo, do Lưu Nguyễn cử sang cứu viện. Bảo bị chém chết tại trận. Hào trưởng
đã xưng Tiết độ sứ rồi, – Trứ xoay mình cụ cựa trên tràng kỷ, có vẻ nóng lòng.
– Tôi cũng nghe nói,
Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập sinh con giai, đặt tên Tỷ, điềm lạ lắm, – thầy
đồ cũng giãi bày, vẻ am hiểu chuyện cung đình.
– Tiên sinh thấy các cháu
nhà tôi thế nào? – Trứ hỏi độp một câu.
– Về Tỷ thì mới nghe đồn,
nhưng đáng lưu tâm. – Thầy đồ trả lời nước đôi, – còn trò Hoàn, Điền thì hẳn đại
quan cũng am tường. Chẳng ai hiểu con cái bằng cha mẹ. – Đắn đo hồi lâu, thầy đồ
lại nói, – thiển nghĩ, chúng có thể làm nên việc phi phàm.
– Không phải cái sự mèo
khen mèo dài đuôi, nhưng chúng nên người cũng là nhờ công lao của tiên sinh.
Thôi thì, đã thương thì thương cho chót, đã vót thì vót cho tròn, – Trứ nhìn thầy
đồ, vẻ cầu khẩn. – Bởi thế, muốn nhờ tiên sinh chỉ giáo thêm cho chúng mấy câu
Binh pháp. Biết đâu, lớn lên lại cần dùng. Dám mong được tiên sinh khai tâm
cho.
– Đại quan đã có ý vậy,
phúc phận tôi lớn lắm thay, chỉ e tài hèn sức mọn, chữ chưa đầy một đấu, nên lực
bất tòng tâm mà thôi, – giọng thầy đồ hồ hởi, nhưng lời lại tỏ ra khiêm nhường.
– Tôi cũng tính cả rồi,
Hoàn sinh năm Giáp Thân (924), Điền thì trước một năm, tuổi Quý Mùi. Nay là
Bính Thân (936), thì tuổi chúng cũng đặng giáp trên giáp dưới cả rồi. Vả, được
tiên sinh rèn cặp, trộm nghĩ, chúng có thể hiểu được tý chút về đời, về thời rồi.
Dám mong tiên sinh giúp thêm mới được, – Trứ hết lòng bày tỏ, nhờ cậy.
– Đầu năm nay, tôi nghe
chuyện chùa Minh Châu(3) có trồng cây gạo, – thầy đồ chắp tay chấp
thuận và lái câu chuyện. – Trưởng lão La Quý An đọc bài kệ, có câu rằng: “Đầu rồng
ở Đại Sơn, đuôi rồng giấu ở chùa Minh Châu”. Cứ điềm ấy mà suy, thì mai sau
thiên hạ sẽ thuộc về nhà Lý, – thầy đồ nghiêng mình trên tràng kỷ, gây sự chú ý
cho Trứ, để câu chuyện thêm phần quan trọng.
– Thiên hạ đang chuyển từ
họ Dương sang họ Ngô, ắt thế. Mai ngày, các cháu khô đầu khô sọ, được tiên sinh
chỉ giáo mà mang tấm thân hèn mạt đỡ bệ rồng, thì cũng là phúc lớn cho dòng tộc
rồi, chứ đâu dám viển vông… – Trứ bỏ lửng câu nói, nhướng mắt nhìn xa xăm.
– Ấy là chuyện bình thiên
hạ, nhưng người tính không bằng giời tính, biết đâu…, – thầy đồ nheo mắt tinh
quái, cười cười.
Cả hai nhìn nhau ý nhị,
điều thiêng liêng tận đáy lòng, không dám nói ra. Lính hầu dâng tiếp tuần trà.
Ngoài trời, cơn gió giải nồng, lay hàng cau xào xạc trước sân. Có tiếng sấm ì ầm
vọng lại, báo hiệu sắp mưa. Thầy đồ xỏ guốc gốc tre, chống hèo tre, cúi chào
quan Thứ sử ra về.
3.
Từ đó, cứ sáng sáng, anh
em nhà Đinh lên đình học chữ với chúng bạn; rồi chiều chiều lại sang nhà thầy đồ
học Binh pháp. Nhà thầy đồ cũng gần đình, mái lợp lá mía, ngoài hiên có tấm
phên che, nom như cái bình phong. Dưới chân cột nhà thầy cũng có cái “gạc dai”,
đặt trên mặt đá tảng. Ba thầy trò ngồi trên tấm phản gỗ lim, kê cạnh kệ sách và
đồ tứ bảo văn phòng.
– Thời bình, người có chí
cũng phải học Binh pháp; thời loạn, lại càng cần hơn. Nhưng không phải chờ đến
loạn mới học, mà phải sôi kinh nấu sử chờ thời. – Thầy đồ dừng lời, nhìn động
thái của mấy chú thiếu niên xem ra sao, mà lựa cách truyền thụ, thấy cả hai
chăm chú, mới giảng tiếp, – vậy, Binh pháp là gì mà cần cho quân tử đến độ? Đó
là câu chuyện dùng mưu kế trong chiến tranh, hơn nữa, không chỉ trong chiến
tranh và quân sự thôi đâu.
– Thưa thầy, Binh pháp
dài vắn ra sao, có dễ học không? – Điền bộp chộp hỏi.
Hoàn khẽ đá chân Điền, ra
hiệu không được cắt ngang.
– Cái này, không thể sốt
ruột được đâu trò ạ! – Thầy đồ ân cần khuyên, – căn bản, không phải là cái sự vắn
dài, dễ khó, mà là cái sự thấu hiểu và vận dụng linh hoạt vào từng tình huống.
– Vâng, – Hoàn dạ dịp, ngỏng
cổ chăm chú nghe.
– Binh pháp có mười ba
thiên: Thủy kế, Tác chiến, Mưu công, Quân hình, Bình thế, Hư thực, Quân tranh,
Cửu biến, Hành quân, Đại hình, Cửu địa, Hỏa công, Dụng gián.
– Người thông hiểu Binh
pháp có thể làm được vua không, hả thầy? – Điền lại hồn nhiên hỏi.
– Từ người lính cho tới
viên tướng, thậm chí cả vua cũng phải hiểu Binh pháp để chỉ huy và thực hành
cho thống nhất. Trò hiểu không? – Thầy đồ mìm cười ngó Điền. – Còn đối với người
có chí, thì được mọi việc, kể cả đứng giữa thiên hạ, nhất, – thầy đồ nheo mắt
nhìn Hoàn, nhấn mạnh chữ “Nhất”, có ý khích lệ.
Nghe vậy, mắt Hoàn sáng
lên, khuôn mặt rạng rỡ. Cậu sửa lại tư thế ngồi, bỗng cái cù quay trong túi rơi
ra phản, lăn qua lăn lại như cũng biết đùa nghịch, khiến Hoàn tái mặt, nhưng thầy
đồ ngơ đi.
– Nhưng không phải chỉ học
nhõn một Binh pháp Tôn Tử mà thành được đâu. Ta phải bổ túc: nào là học Luận ngữ
để biết cách trị thiên hạ; nào là, học Kinh Dịch để thông hiểu phép dùng chính
trị, kinh tế, nhân sinh, thế sự; nào là, học Kinh Thư để hiểu văn hóa. Phàm là
người
làm vua làm chúa thì phải
am hiểu văn hóa, giáo hóa dân chúng, trị thiên hạ; bằng cách thu phục nhân tâm,
biết dùng tình cảm vua- tôi, cha- con, chồng- vợ, anh em bằng hữu để quy tụ
lòng người.
Hằng ngày, Hoàn vẫn nghe
câu chuyện của bố các quan quân bàn về thế sự, cai trị, nên những lời thầy đồ
giảng giải cũng dễ nhập tâm. Cái khó là phép tắc, từ chỗ phép tắc vững vàng, mới
có thể ứng biến. Cái tài của tướng là ứng biến linh hoạt. Thầy bảo, cái này, ta
cũng học mà địch cũng học, nhưng ai có tài ứng biến thì thắng. Cổ nhân dạy rằng:
“Binh tất yếm trá”, nghĩ là, việc dụng binh thì tất nhiên phải dùng mưu mẹo, lừa
địch nhân.
Dần dà, thầy đồ còn dạy
cho hai anh em về thuật dự đoán theo bát quái, gọi là Bát quái thần toán tâm
thuật, gieo quẻ nhanh, đoán theo Kinh Dịch, để biết cát, hung của một việc
nào đó, mà cần ứng xử tức thời.
– Tỷ dụ, khi các trò dấy
binh phò vua giúp nước, cần xem điềm tốt hay xấu, thì bất chợt nhìn thấy một
hòn cuội chặn giấy như vầy, – thầy đồ chỉ lên bàn. – Ta lập quẻ thượng là một,
rồi nhìn thấy một tờ giấy này, lại lập quẻ hạ là một nữa. Thế là, thượng một,
trên hạ một sẽ ứng vào quẻ Càn. Càn nói rằng: trước mắt tuy tốt, nhưng vì nóng
vội, muốn đạt nhanh, dễ dẫn tới bại. Vậy, phải kiên nhẫn chờ thời cơ. Trò Điền
phải lưu tâm, có sự nhẫn, nghe!
Điền nghe vậy, chột dạ, lặng
thinh.
– Con nhìn thấy trên kệ
sách kia có những mười một quyển, thì tính sao? – Hoàn chợt hỏi.
– Nếu số lượng vật quá
tám, thì phải trừ bớt đi tám, cho tới khi còn ít hơn tám mới dừng, đấy là quẻ
thượng, – thầy đồ hài lòng về sự ham học hỏi của Hoàn. – Vậy, quẻ thượng của
trò sẽ còn mấy?
– Thưa, còn ba. Quẻ hạ,
con lấy luôn là một cái kệ sách.
– Thế thì ta được quẻ Đồng
nhân. Theo quẻ này, vận đang vượng, được người khác tín nhiệm, có danh tiếng tốt,
mọi việc dễ thành.
Nghe thầy giảng vanh vách
mà không cần mở sách, hai anh em thán phục vô cùng, ngước nhìn như ngắm vị
thánh sống.
– Nhưng gieo quẻ đã vậy,
cũng cần xem lại đúng, sai thế nào cho chắc, trước khi bắt tay vào làm, gọi là
xem quẻ biến, – thầy cẩn trọng giảng thêm.
– Quẻ biến là gì ạ? – Điền
mau miệng hỏi.
– Quẻ biến là lấy quẻ thượng,
cộng với quẻ hạ, cộng với thời khắc đang xem quẻ, rồi trừ bớt đi sáu. – Thầy nhắc
lại, – nhớ là trừ bớt đi sáu, chứ không phải tám như ban nãy nhá. Ta lấy kết quả
đó làm quẻ thượng.
– Bây giờ là giờ Tỵ, có
phải là sáu? – Hoàn bấm đốt ngón tay nhẩm đếm, hỏi lại thầy.
– Phải, Tý là một, Sửu là
hai, đến Tỵ đúng là sáu, cứ thế nhá, – thầy đồ khuyến khích.
– Vậy là ba cộng một, cộng
sáu nữa là mười; lấy mười trừ sáu, vị chi còn bốn. Vậy là…
– Nhưng quẻ biến phải đảo
âm thành dương, dương thành âm, – thầy dạy thêm.
– Vậy là bốn trên ba, –
Đinh Điền nhẩm tính ra.
– Đấy là quẻ Phong. Quẻ
này, nghĩa là vận thế đang rất thuận lợi, mọi việc đều trôi chảy, nhưng chớ chủ
quan.
– Vâng, – Hoàn đăm chiêu.
Ngoài vườn, có tiếng chim
sâu lích chích truyền cành trúc, nhưng Hoàn dường như không nghe thấy, chợt
nói:
– Ở quê, con có đứa bạn
tên Bặc, một lần đã nghe thầy giảng nghĩa về chữ “Bặc”. Chúng con hay theo bọn
lớn cưỡi trâu, đánh trận giả. Vậy, có thể gieo quẻ như vầy được không, hay chỉ
đánh nhau thật mới kiến hiệu?
Nghe vậy, thầy đồ cả cười,
khiến lũ chim đang nhảy nhót ngoài vườn, tưởng có động, bay vụt đi, trả lại sự
yên tĩnh. Hoàn ngồi ngay cán tàn, sợ thầy quở:
– Học một biết mười là
cái sự vậy, – thầy đồ có vẻ hài lòng, khen ngợi.
Hoàn vui như mở cờ trong
bụng, ngó nhìn đồng hồ cát, thầy đồ hiểu ý cho về sớm. Dưới bếp, bà đồ đang lịch
kịch làm cơm chiều. Hoàn nhác thấy đĩa nhút, làm bằng sơ mít muối chua. Món
này, chú lính hầu cũng đã biết làm, cả nhà ưa dùng.
4.
Một chiều, khi gà đã lên
chuồng, thì quan Thứ sử Đinh Công Trứ đột nhiên đến nhà thầy đồ, trong sự ngỡ
ngàng của cả gia đình. Biết có chuyện hệ trọng, thầy đồ khoát tay cho vợ con
lui ra, rồi rót bát nước chè xanh, mời.
– Có chuyện thế này, chẳng
giấu gì tiên sinh, xin cái sự lành nhà lành cửa, – Trứ lo lắng nhìn thầy đồ.
– Có điều chi hệ trọng
làm vậy? – thầy đồ cũng bồn chồn trong dạ, dò hỏi.
– Chẳng là, Kiều Công Tiễn
đã ám hại Dương Đình Nghệ rồi, – Trứ thở dốc.
– Vậy sao? Hấn làm
con nuôi mà dám nhẫn tâm với bố nuôi vậy sao?- thầy đồ hỏi dồn.
– Số là, kẻ thất phu đó,
phao tin trả thù cho Khúc Thừa Mỹ, – Trứ cố nén giận, nói.
Không gian như lắng lại.
Đàn muỗi bay vo ve trong các xó nhà. Thầy đồ gọi con châm đèn. Ba gian nhà chấp
chới trong ánh sáng vàng vọt.
– Rối loạn thế này, quân
Tống lại có cơ nhòm ngó, – thầy đồ tư lự. – Thời nào cũng phải giữ phương Bắc
làm trọng.
– Chính thế, tôi mới phải
đến thưa với tiên sinh, cho các cháu nghỉ học. Sáng mai, chúng tôi ra Châu Ái,
hợp sức với Ngô Quyền, để tiến binh trừ họa cho xã tắc. – Trứ vội đứng dậy, cầm
gói bạc, cúi đầu thi lễ, – mấy năm qua, nhờ tiên sinh dạy chữ, dạy Binh pháp, dạy
làm người, mà hai cháu khôn lớn. Công lao này, cha con tôi xin ghi xương khắc cốt.
Trước lúc chia tay, gọi là có chút lễ mọn, dám mong tiên sinh hạ cố…
Thầy đồ nhìn thấy đôi mắt
quan thứ sử rưng rưng lệ, cũng nghẹn ngào nói:
– Tôi được đại quan ủy
thác việc lớn, đấy là đại phúc. Cả đời dạy học, may ra mới có một vài học trò
làm nở mày nở mặt mà thôi. Tấm lòng của đại quan, tôi xin nhận, – thầy đồ đỡ
gói bạc, run tay. – Nhưng cũng xin gửi tặng trò Hoàn, mưu đại sự mai sau, coi
như tấm lòng của kẻ tiện dân Châu Hoan này.
Hai bên đùn đẩy mãi, Trứ
mới cầm lại một nửa gói bạc. Khi tiễn ra cổng, thầy đồ lưỡng lự hồi lâu, mới
nói:
– Năm nay, Đinh Dậu
(937), dám xin đại quan bảo trọng cho mới được.
Mãi đến khi bọn lính đến
đón, hai người mới bịn rịn chia tay. Cơn gió mạnh thổi từ sông vào, khiến bụi
tre cựa mình kèn kẹt như người khổng lồ nghiến răng giận dữ điều gì đó, nghe rợn
người.
*
Bất chợt, trong thành lửa
khói cuộn lên, tiếng la hét náo loạn. Trứ vào bọn lính hớt hải chạy về dinh,
thì mới hay kho lương và kho vũ khí đã bốc cháy. Quan, quân, dân chúng cùng lao
vào cứu hỏa, nhưng vô vọng.
Một mặt, Trứ cấp báo Ngô
Quyền về sự hỏa hoạn bất đồ xảy ra, và cũng nói chuyện cất quân hợp sức đánh bọn
phản tặc; một mặt, cho quan quân điều tra, khắc phục hậu quả vụ hỏa hoạn, rồi
giao cho tướng tâm phúc giữ châu Hoan, đề phòng bọn Chiêm Thành lợi dụng cơ hội
tràn ra cướp phá.
Bầu đoàn thê tử vừa kéo
nhau ra đến Châu Ái, Trứ vội dẫn vợ con vào thành, thắp hương bái vọng nhạc phụ
Ngô Quyền, rồi hai người bàn bạc việc cất quân đi hỏi tội họ Kiều.
Trong lúc chuẩn bị khởi
binh, Quyền và Trứ cho các đạo quân thủy, bộ cùng luyện tập. Thế là anh em nhà
Đinh cũng nhập bọn với đám lính, hết thủy lại bộ, đạo nào cũng ham.
Một hôm, hai anh em đang
luyện tập với lính kỵ binh, thì gia nhân hớt hải đến báo tin dữ: “Đinh Thứ sử
đã đột ngột lâm bệnh trọng”. Khi chúng về đến dinh, thì bố đã tắt thở mất rồi.
Nàng Đàm và hai con vật
vã, khóc không còn tiếng. Quan quân ai nấy đều thương cảm. Đích thân Ngô Quyền
đứng ra lo liệu tang lễ cho Thứ sử Đinh Công Trứ. Sau đó, hối hả cất quân đi
đánh Đại La, hỏi tội Kiều Công Tiễn.
Ba mẹ con Đàm thị cùng bọn
năm người hầu trở về Đại Hữu, nương nhờ chú Đinh Thúc Dự.
Nhà văn Vũ Xuân Tửu
Chương
ba
Trở lại cố hương
1.
Sau khi Đinh Công Trứ qua
đời, ba mẹ con Đàm thị cùng năm người hầu dắt díu nhau về quê hương bản quán,
nương nhờ người chú là Đinh Thúc Dự.
Trở lại thôn Kim Lư, hai
anh em Điền và Hoàn nhập bọn ngay với đám Bặc. Suốt ngày bơi sông Đại Hoàng,
trèo núi Kỳ Lân(4). Lưng chừng núi ấy có vạt đá, hõm xuống như cái
ngai đá khổng lồ. Hoàn thích ngồi trong cái ngai đó, nhìn xuống cánh đồng, ao hồ,
vẻ ưu tư. Bầy trâu ọ ẹ gọi nhau, thì thũm lội nước. Bóng trâu đen điểm xuyết
trâu lộc, lẩn khuất trong đám lau sậy.
– Gì vậy? – Bặc vỗ vai
Hoàn, khẽ hỏi.
– Tao nghĩ, mai ngày, lấy
trẻ mục đồng làm lính, lấy trâu thay ngựa, lấy núi làm ngai, chúng mình vùng vẫy
từ thôn Kim Lư, ra làng Đại Hữu, nống cả châu Đại Hoàng xem sao, – Hoàn phơ
lên, đầy vẻ hào hứng.
– Còn hơn thế nữa, Trường
Châu bỏ không à?
Cả hai giật mình, ngoảnh
lại xem ai, té ra là Điền. Hoàn cười cười, nói:
– Anh thì muốn bốc cả
thiên hạ.
– Thế chứ học hành Binh
pháp, với Kinh Dịch để làm mắm à? – Điền bỗ bã.
– Rồi chắc có ngày dùng đến,
– Bặc an ủi, có ý dàn hòa.
– Anh em ta như ba chân
kiềng, thiếu một chân là đổ, nên không bao giờ được xa nhau, – Hoàn nghiêm
trang nói.
– Tao cũng thích thế, ba
người như một, – Bặc gật gù tán thưởng.
– Tao cũng vậy, – Điền hồ
hởi nói.
Cả ba nhìn nhau khoái
chí, cười vang ngai đá, rồi cùng nhau xuống núi.
2.
Mấy hôm sau, Dự bảo anh
em Điền, Hoàn:
– Chúng bay lên động Hoa
Lư(5) chăn trâu cho chú, nhá!
– Ối giời, hàng trăm con
trâu, mà chỉ có hai anh em thì chăn làm sao cho xuể? – Điền ngần ngừ.
– Chăn được trâu thì mới
trông được người, – Dự ngoảnh sang Hoàn, nói đầy ngụ ý. – Hai thằng cứ lùa
chúng vào Thung Lau(6), tứ bề là núi, khác nào cái chuồng bằng đá.
Đàm thị ngồi khâu, cũng hỏi
góp:
– Quèn(7) vào
Thung Lau, cao dễ bằng dăm, ba cái nóc nhà chồng lên nhau. Trâu leo làm
sao mà vào chuồng đá được,
chúng bay?
– Đi kiểu chữ “chi”, bác
không phải lo bò trắng răng, – Dự vê mồi thuốc lào, nạp vào nõ điếu, thủng thẳng
châm lửa, vẻ mặt cau có, nói nhát gừng.
– Thì kệ chú cháu nhà chú
với bầy trâu, – Đàm thị có vẻ phật ý. – Nhưng mà từ đây lên đấy cũng mất nửa
ngày đường, rồi còn miếng ăn ngụm uống, rồi còn chỗ ngủ chỗ ngơi…
Tiếng điếu cày rít roanh
roách, kêu ran cả năm gian nhà bằng gỗ tứ thiết, được dựng lại từ khi Trứ làm
Thứ sử Châu Hoan. Dự khoan khoái, vêu mồm lên nhả khói, thấy câu chuyện đã hòm
hòm, bèn vẫy vẫy cái đóm, gọi hai anh em lại gần.
– Đường xa hơn hai chục dặm(8),
anh em chúng bay lùa trâu lên đấy, dựng lán mà ở. Cơm nước thì có mồm biết ăn,
cái tay phải biết thổi nấu. Tao bảo người nhà mang nồi, niêu, gạo, muối lên
cho. – Đoạn, chừng mắt nhìn xoáy vào hai đứa cháu đứng trước mặt, như thể xét kẻ
trộm, – chớ có được suy chuyển con nào, chỉ được phép trâu mẹ đẻ nghé con, nghe
chửa? Không ăn nhời thì roi kia, lằn đít. – Dự chỉ cái roi mây, treo góc nhà,
thường nọc bọn người ăn kẻ ở ra trị tội, – nhớ chăn con nái cho cẩn thận, nhất
là lúc có chửa. Cấm chơi trò chọi trâu mà hỏng đực của tao.
Điền lẽ lưỡi nhìn Hoàn.
Hoàn thì như đang nghĩ tận đẩu tận đâu. Tiếng sóng sông Đại Hoàng giọi vào vách
núi Kỳ Lân, nghe lúc xa lúc gần.
– Xem chừng nước lên, –
Hoàn buột miệng.
– Đúng là, cái đồ bắt chấy
mẹ chồng, trông bồ nông dưới bể, – Dự bực. – Thế, tao nói nãy giờ, ngang bằng
nước đổ đầu vịt à?
– Thì chú dậy, cấm hư hao
trâu đàn, rồi tự ăn tự thổi, vậy thôi, – Đinh Hoàn nói rẽ ràng.
– Ai chả biết thế, làm mới
ra chuyện, còn nói thì… thầy bu mày giỏi hơn. – Dự nhìn mái gianh, ngắt cái cọng
cỏ khô, xỉa miếng bã trầu giắt răng, nhớ tài biện bác của Trứ, chép miệng, – số
người sao vắn thế?
Nghe vậy, Đàm mủi lòng,
gài hờ mũi kim lên khăn độn tóc, lấy mu bàn tay quệt nước mắt.
– Anh chú chả may khuất
núi, âu cũng là số giời. Tôi thì phận đàn bà đàn bụi. Thôi thì, tất cả nhờ ở
tay chú dạy bảo cho các cháu nên người. Hồi nhỏ, tôi cũng được học đôi ba chữ,
nhưng loạn lạc đâm ra rơi rụng cả, chả dạy bảo được con cái…
– Thương thì cho roi cho
vọt, ghét thì cho ngọt cho bùi. Vả, chúng cũng có chữ nghĩa, chẳng đến nỗi nào.
– Dự nhìn chị dâu ái ngại, – được, tôi sẽ mời thầy Lưu Phúc văn võ toàn tài, dạy
thêm cho chúng nó chuyện binh pháp, kiếm pháp, thiên văn, địa lý…
Đàm thị nén tiếng thở
dài, nghe Dự nói, xem ra mông lung lắm. Bỗng cái kim rơi xuống, sợi chỉ rối bời
trong thúng khâu.
– Chúng bay mặc như phá,
nước nâu chưa phai mà áo đã bục nách, quần cũng xổ đũng, – Đàm thị phàn nàn. –
Chả như hồi trong Châu Hoan…
– Thế mới gọi là sa cơ lỡ
vận, – Điền buột miệng, nói như cụ non.
– Anh không được chõ vào
chuyện người lớn, – Hoàn bấm Điền, gằn giọng.
Dự nghe cả, nhưng không
chấp, liền đứng dậy, rời tràng kỷ, nói với Đàm thị:
– Bác giắng nhà, tôi đi đằng
này có tý việc. – Đoạn, quay sang Hoàn, – chúng bay rủ thêm bọn trẻ trâu lên đấy
cho vui bạn vui bè, nhưng tự lo lương ăn.
– Thế, chúng nó chăn trâu
không công à? – Điền bỗ bã hỏi.
– Thì, ở nhà cũng chạy
rông khắp làng, chứ nước non gì mà rộn, – Dự cười khẩy. – Vào đấy, ối chỗ chơi.
*
Dự nhờ Bặc dẫn đường, lại
sai Điền và Hoàn lùa đàn trâu rời làng lên Thung Lau. Lúc hợp quân dưới chân
núi Kỳ Lân, Bặc bảo:
– Hoàn đi đầu nhá! Con
trâu đầu đàn này, hiểu được tiếng người đấy.
– Tao mới giở về, nào có
thuộc đường đâu? – Hoàn nhíu mày nhìn Bặc, tỏ vẻ khó hiểu.
– Mày cứ dẫn đầu, cầm
bông lau làm cờ hiệu, coi như tiên phong. Tao vác sào đi kèm bên phải, coi như
cánh hữu. Thằng Điền cũng vác sào mà le bên kia, làm tả tướng quân.
Cả bọn cười vang, tiếng vọng
vào vách núi, nghe uôm uôm, khiến đàn dê trên núi cũng be lên, như đáp lễ. Gạo,
muối được Dự cho người nhà chất lên lưng trâu, đi sau, như thể đám lính tải
lương, làm hậu quân. Cả làng Đại Hữu cùng đổ ra xem cuộc lùa trâu chưa từng có.
Hàng trăm con hỗn loạn một
hồi, rồi nghểnh cổ bước theo con đầu đàn, do Hoàn cầm thừng, đứng trên lưng, phất
cao cờ bông lau, nom uy nghi như một vị chủ tướng. Hai bên sườn là Bặc và Điền,
quơ sào hóp có buộc túm dây phất phơ ngư như ngù cây thương, để lùa trâu. Sào của
Bặc buộc ngù đỏ, giả làm cây huyết đương thương. Còn sào của Điền đeo ngù đen,
giả làm cây tố anh thương. Những con trâu bướng bỉnh phá ngang, bị Điền và Bặc
giáng cho mấy đòn đau điếng, mới tuân phục bước theo đàn. Cái giống trâu cũng lạ,
con nào cũng tranh đi đầu, nên cố chạy gằn, nhưng lên đầu rồi lại đủng đà đỉnh
đỉnh. Hoàn phải ra roi, không cho con nào vượt mặt. Cả đàn trâu rùng rùng tiến
bước, nom như một đạo kỵ binh ra trận, nhằm hướng Thung Lau thẳng tiến. Những cặp
sừng cánh ná lấp lóa trong nắng sớm mai. Bụi cuốn theo bước chân trâu đi trên
ruộng cạn và nước té ào ào khi lội đầm lầy. Đàn trâu bước đi, dưới sự chỉ huy của
Hoàn và hộ tống của Bặc, Điền tạo nên một cảnh tượng hùng vĩ chưa từng có, ở chốn
thâm sơn cùng cốc này.
Ban đầu, Đàm thị chỉ cắt
cử lão Bộc theo hầu hai anh em, nhưng suy đi tính lại, chốn rừng xanh núi đỏ,
mà chúng lạ nước lạ cái, duy có Bặc là dân thổ công thôi, nên lại sai thêm hai
chú lính hầu nữa, chỉ để lại nhà hai cô hầu gái, lo việc nội trợ mà thôi.
– Rõ con quan thứ sử có
khác, nứt mắt đã biết điều binh khiển tướng như ai.
– Chuyện, tôi nghe là
chúng đã học võ, tập luyện quân thủy, bộ, kỵ mã ở Châu Ái rồi kia mà.
– Thảo nào…
– Có thêm mấy chú lính
kia, thế nào chúng cũng luyện quân ở Thung Lau cho mà xem.
– Có khi nên vương nên tướng
ấy chứ.
– Lúc bà Đàm “ngồi chỗ”,
ngoài núi thấy lá sen hiện chữ “Vương”.
– Đấy là miệng con ốc sên
bò quanh, nhả dãi mà thôi.
– Ý giời thì có. Giời xui
khiến muôn loài làm theo ý giời. Đấy, xem kìa, chúng lùa đàn trâu hàng trăm
con, mà cơ nào đội ấy, y như thể hành binh.
Dân làng bàn chuyện rối
tinh cả lên, mãi đến khi đàn trâu khuất nẻo xa, mới lục tục tỏa về những mái
tranh nghèo, ven chân núi đá.
*
Cả bọn đến Thung Lau thì
trời đã xế chiều, người và trâu đều mệt nhoài, cùng lăn ra ngủ. Trâu nằm giữa
bãi, người trèo lên hang. Nửa đêm, lão Bộc hoảng hốt gọi cả bọn:
– Có động, dậy mau!
Dưới thung, đàn trâu chạy
rình rịch. Tiếng hổ gầm lên man dại. Tiếng nghé kêu tuyệt vọng.
– Đốt lửa, mau! – lão Bộc
hô to.
Lập tức, đuốc thắp sáng
trưng cửa hang.
– Tất cả đồng thanh hô
hét, gõ cây đuổi hổ, mau! – lão Bộc hối hả ra lệnh.
Tức thì, cả bọn hò la, gõ
cây, đập đá vang động cả núi rừng. Dưới ánh trăng mờ, Hoàn thấy con hổ đang càm
con nghé. Nghé con khuỵu chân, chờ chết. Bỗng con trâu đầu đàn lao bổ đến, húc
con hổ ngã lăn cu chiêng. Thấy vậy, Hoàn dẫn cả bọn cầm đuốc, vác gậy hò la
xông ra trợ chiến. Con hổ hoảng sợ, cúp đuôi chạy vượt qua quèn.
Người và trâu lại quây quần
bên đống lửa. Hoàn ôm cổ con trâu đầu đàn, vẻ hãnh diện. Đầu trâu còn dính đầy
lông hổ.
*
Hai cô hầu gái cùng Đàm
thị trở về nhà.
Lần đầu tiên xa con, nàng
cảm thấy bâng khuâng và lo lắng lạ thường. Cả một đàn trâu khổng lồ như vậy, sức
thiếu niên sẽ lo liệu ra sao? Nàng đã dặn đi dặn lại lão Bộc và hai chú lính hầu,
phải để tâm đến hai cậu là chính, chuyện chăn trâu chỉ là việc phụ, còn người
còn của. Dù sao, cả ba cũng đều là lính tâm phúc của Đinh Thứ sử, lại võ nghệ
cao cường, nên nàng cũng vững dạ phần nào.
Nàng đã từng đến Thung
Lau rồi, nơi khỉ ho cò gáy, chỉ có chú Dự ma lanh mới nghĩ ra cách thả trâu
trên đó. Tứ bề những núi là núi, khác nào tường đá, bên ngoài lại có đầm Cút(9),
mênh mông những nước là nước. Nàng và bọn con gái Đại Hữu và Nga Mi(10),
Vân Lung(11) đã từng lên đấy chơi hội. Chúng bạn cùng chèo thuyền
hái sen, ngắt súng trên đầm ấy. Nghĩ đến Hoàn, bơi lội như rái cá, nên không lo
chuyện sông nước, ao hồ. Nhưng nhớ đến rái cá, nàng lại chạnh lòng…
Hoàn có trí, sáng dạ,
sinh ra đã ẩn chữ “vương”; không biết ông giời xui để bộ xương rái cá ấy để làm
gì nhỉ? Nghe Bặc kể, Hoàn hay ngồi trên ngai đá trên núi Kỳ Lân. Chẳng nhẽ, mai
ngày phát tích giữa chốn hoang vu này sao?
– Chúng con vào núi hái củi,
– hai cô hầu dừa nhau thưa.
– Hai cậu, trước khi vào
Thung Lau, đã lấy củi chất đầy chái bếp rồi. Vả, chú Dự cũng bảo, sẽ cho gia
nhân lo việc bổ củi, chẻ đuốc. – Đàm thị cân nhắc cắt đặt công việc, – chúng
bay thích vào núi, thì gọi dê mà vắt sữa.
Hai cô hầu rạ ran, quay
đi. Cô nhớn ôm liễn, cô bé xách dao quắm vào núi, tìm đàn dê nhà mình. Tiếng
con gái Châu Ái nghe líu ríu, lảnh lót như chim, nghe cũng vui tai. Mai mốt,
cũng phải lo chuyện tác thành cho chúng nó với hai chú lính kia là vừa khéo. Chả
gì, chúng cũng vùng Hoan – Ái với nhau, lại theo hầu nhà mình, lại dễ bảo ban.
Nàng chạnh lòng nghĩ đến phận mình, nén tiếng thở dài…
3.
Đinh Thúc Dự đứng chân
hào trưởng, cai quản cả vùng sách Bông(12) rộng lớn, dọc từ động Hoa
Lư đến Đại Hữu, ngang từ núi Mã Can tới Sơn Lai. Xứ này, đồng ruộng cò bay thẳng
cánh, núi đồi ngựa chạy chồn chân; bắc dựa núi cao, nam nhìn bể rộng, lại có
sông Đại Hoàng chảy dọc, hợp với sông Đáy, đổ ra cửa bể Non Nước.
Tuy không được bôn ba
chinh chiến như Trứ, nhưng Dự đã đi ngang dọc khắp vùng, Cổ Loa(13)
cũng từng, Ái, Hoan đã trải. Nay ngồi ngẫm lại, Dự cảm thấy thương anh giai và
lo nghĩ cho cháu ruột. Nhưng trong cái rủi, biết đâu lại có cái may. Xem chừng,
đám trẻ trâu do thằng Hoàn dẫn vào Thung Lau, có khi lại nổi đình nổi
đám. Tướng mạo, chí khí và tài tụ tập bạn bầy của nó cũng thấy khác thường. Chị
dâu từng kể, chuyện học hành chữ nghĩa, binh pháp của chúng ở Châu Hoan và luyện
võ, tập trận ở Châu Ái, thì mới thấy anh Trứ không dạy con trong cung, mà trộn
trong dân, hòa cùng lính, hẳn trông mong lập thân bình thiên hạ. Nhưng mình
cũng phải để mắt tới mới được, kẻo chúng làm loạn, thì tan nát cả đàn trâu,
quan trên mà hạch tội, có khi mình bị liên can, mất cả cơ nghiệp ấy chứ tưởng.
Nhưng nghĩ đi lại phải nghĩ lại, mai ngày, giời cho nó làm vương làm tướng, thì
mình cũng có phận nhờ, có khi đồng đất, núi đồi, cơ ngơi còn sang tận Trường
Châu. Biết đâu, mèo mù vớ cá rán, lại trúng mệnh quan triều đình nhà Đinh, xênh
xang áo mũ như ai. A, hà hà… Dự khoái chí, cười thành tiếng; đoạn, cầm ống điều,
nạp thuốc, rít một hơi rõ dài, phô cả hàm răng đen đã phai màu hạt nhót.
– Có chuyện gì mà ông vui
làm vậy? – Yên Khê cười cười, sán đến bên chồng.
– Đàn trâu! – nghe vợ hỏi,
Dự nhả khói, nói nhát gừng, lảng chuyện.
Vợ Dự người cùng châu Đại
Hoàng, cũng uống nước sông Đại Hoàng. Quê hương bản quán của nàng có suối Kênh
Gà(14). Một hôm, Dự xuôi thuyền qua Kênh Gà, thấy người con gái yếm
thắm cổ xẻ, ra suối kín nước, hình bóng ảo mờ trong làn khói nước nóng, nên phải
lòng, rồi hỏi cưới làm vợ, âu cũng là duyên giời. Chính nàng cũng được sinh ra
trong làn hương khói ấy, nên bố nàng đặt tên là Yên Khê. Yên Khê có nghĩa khói
nước trên suối, nhưng nàng không mộng mơ như cái tên, mà nóng bỏng như suối, gầm
gào như thác vậy.
Anh em nhà Dự là những
người có chí khí, nổi danh khắp vùng Đại Hoàng. Nay nghe chồng nói, cái sự thỏa
thê chỉ là đàn trâu đã được chăn dắt cẩn thận, thì trong lòng nàng lấy làm ngờ
lắm. Nàng vừa hơ bản dao lên khói bếp, lấy muội bồ hóng bôi lại hàm răng của
mình cho nhóng nhánh hơn, lại vừa dò ý chồng:
– Nghe nói, thằng Hoàn tụ
bạ trẻ trâu khắp động trong sách ngoài, còn đông hơn cả đàn trâu rồi. Suốt ngày
hò nhau tập trận, náo loạn cả Thung Lau, Thung Lá(15).
– Nói là Thung Lau còn có
lý. Bởi lòng thung ấy nó rộng, lại bằng phẳng, lắm cỏ nhiều cây. Chứ Thung Lá
chật hẹp như cái giếng nhà giời, thì đánh trận, chăn trâu cái nỗi gì? – Dự ra vẻ
am hiểu địa hình địa vật, không ai bắt bịp được mình. – Nhưng tôi cũng đã có ý
trông chừng cả rồi, – Dự lại nói vuốt, cho vợ khỏi phật lòng. – Vả lại, có lão
Bộc với mấy chú lính tâm phúc từ hồi mồ ma bác Trứ cùng theo, tôi đã dặn dò kỹ
lưỡng.
– Thì tôi nghe vậy nên
nói vậy, để nhà biết mà định liệu, – Yên Khê thẽ thọt. – Lại còn nghe, chúng
đóng bè chuối, bè tre, bè nứa mà tập thủy binh trên đầm Cút nữa đấy.
– Đầm Cút chó lội cụt
đuôi, – Dự đứng bật dậy, gài lại búi tóc sau gáy, xóng nếp áo, nhăm nhăm bước
ra cửa.
– Nhà định đi đâu đấy? –
Yên Khê giật mình hỏi.
– Đầm lạnh lắm. Nước từ
trong núi chảy ra mà, – Dự vẫn chưa dứt ý trong đầu về cái sự nguy hiểm của đầm
Cút.
– Gượm đã nào, vàng mặt
giời rồi, lên đấy về sao kịp, – Yên Khê ngăn chồng, – mà ngủ đêm Thung Lau, thì
nào khí núi, nào hơi đầm, độc lắm.
– Nó mà đánh trâu xuống đầm
tập trận, thì chết ốm cả, – Dự đăm chiêu, nhưng vợ gàn, nên không ra chuồng ngựa,
lại với điếu cày, nạp thuốc.
– Tôi nghe nói, thằng
Đinh Hoàn bơi lặn như rái cá. – Yên Khê lưỡng lự hồi lâu mới nói, – mà lúc bác
Đàm lâm bồn, vừa lọt lòng đã biết bơi.
– Hài nhi nghều ngào
trong bồn nước, cứ ngỡ biết bơi, lạ gì? – Dự nói, vẻ bất cần, không chấp.
– Khi xưa, tôi thấy áo xống
bác ấy có dính đầy lông rái cá, với lá cỏ. Cái đận trẻ con nhìn thấy đôi giao
long quần thảo trên bãi ven suối ấy mà, – Yên Khê lại ỏn thót.
– Thì đã làm sao? – Dự bực,
nói át đi, nhưng sợ mếch lòng vợ, thì cơ ngơi của ông nhạc bên Kênh Gà sẽ tuột
khỏi tay, nên vội xuống giọng, – nghĩ cho cùng, rái cá thì không đẻ ra người được.
Chớ có nghe đồn bậy. Mai sau, nó nên ông nên bà, còn được phận nhờ.
Tưởng là Yên Khê chỉ nói
riêng với chồng về chuyện Rái cá phủ Đàm thị, nhưng kỳ thực đã ỏn thót khắp
làng trong xóm ngoài, cuối cùng là đến tai Hoàn. Một hôm, Hoàn hỏi nhỏ Bặc:
– Mày có nghe chuyện đàn
bà bị rái cá phủ, mà sinh con người không?
– Trần đời, chưa thấy bao
giờ. Tao hỏi các cụ cũng bảo không thấy. Mày đừng có tin mấy cái chuyện tầm
phào ấy.
Thì ra, Hoàn cũng bán tín
bán nghi, mỗi khi có ai nói đến “rái cá” là lại giật mình. Người ta vô tình
khen: “Bơi lặn giởi như rái cá”, thì Hoàn không vui, lại bặm môi, vẻ tức giận…
4.
Ngoài việc chăn trâu,
Hoàn cùng bọn Điền, Bặc mò cua, bắt cá thì thũm suốt ngày, hết trong đồng lại
ra sông Đại Hoàng(16).
Một hôm, cả bọn đánh lưới
ở Giao Thủy(17), lớ ngớ thế nào, mà để lưới mắc dưới đáy sông, Hoàn
phải thân lội xuống gỡ. Bỗng nhiên, vụng nước xoáy như hút cả người xuống đáy
sông, khiến Hoàn cảm thấy chờn chợn, vội ngoi lên. Bặc thấy vậy, vội hỏi:
– Sao thế, mày?
– Y như thể có người túm
chân mà lôi xuống vậy, – Hoàn bàng hoàng đáp, rồi bơi vội vào bờ.
– Lên ngay! – Điền hớt hải
giục.
Cả ba đứng trên thuyền
dòm xuống, thấy vụng nước có ánh hào quang tỏa rạng.
– Hẳn là báu vật, giời
cho mày, – Bặc chắp tay say đít, gật gù, ra dáng cụ non.
– Ma dìm, chết mất ngáp!
– Điền lo sợ, gàn.
Chính câu Điền nói, lại
kích động tâm trí Hoàn. Kẻ nhát gan thì làm nên cơm cháo gì. Nghĩ vậy, Hoàn chụm
hai cánh tay trước ngực, lao bổ xuống vụng nước, như kiểu chim bói cá. Hoàn mở
mắt nhìn, thấy nước sông trong xanh, thỉnh thoảng lại có ánh hào quang tỏa ra.
Từng đàn cá bơi lội theo vòng nước xoáy, như đèn cù. Hoàn quờ quạng lặn sâu hơn
nữa, chợt thấy ở hốc đá ven bờ có miếng ngọc sáng chói, bèn cầm lấy và đạp chân
xuống bùn, trỗi ngược trở lên.
Chờ mãi không thấy tăm
hơi Hoàn đâu, Bặc đang thuỗn mặt lo sợ, Điền mếu máo tưởng chuyện chẳng lành.
Chợt thấy Hoàn giơ cánh tay lên khỏi mặt nước, cả hai xúm vào kéo vội lên thuyền.
Chẳng may, miếng ngọc va vào mũi thuyền, sứt mất một góc. Cả bọn cùng lật đi lật
lại miếng ngọc, không biết của ai đánh rơi và dùng vào việc gì. Nhìn lại vụng
nước, thì không thấy ánh hào quang nữa, nên cả bọn đoán già đoán non, ánh hòa
quang chính là ở như miếng ngọc này tỏa ra. Hoàn nhìn miếng ngọc sứt, bỏ tọt
vào cái giỏ đeo bên hông.
Trời nhá nhem tối, lại nổi
cơn giông, gió mưa tầm tã, khiến cả ba vội chèo thuyền vào bến sông, lên chùa
Giao Thủy, xin tá túc. Sãi chùa nhìn ba đứa trẻ khôi ngô, tuấn tú, lại thấy nói
là cháu ông Dự, hào trưởng sách Bông, bèn cho vào trai phòng và đãi bữa cơm
chay. Khi ba đứa ngủ say, sãi chùa tắt ngọn đèn dầu lạc. Chợt thấy ánh sáng từ
cái giỏ tỏa ra, sãi chùa tò mò mở ra xem, té ra là miếng ngọc. Sãi chùa vội gọi
cả ba đứa dậy, bảo lấy miếng ngọc cho xem. Miếng ngọc xoay đi xoay lại
trong bàn tay sãi chùa, ánh hào quang càng tỏa rạng. Hồi lâu, sãi chùa trỏ
Hoàn, bảo:
– Ngày sau, cậu này hưởng
vinh hoa phú quý không biết bao nhiêu mà kể, nhưng không bền.
– Sao vậy? – Điền lanh
chanh hỏi.
– Miếng ngọc này là cái hốt
của nhà vua, gọi là Ngọc khuê, nhưng hiềm nỗi, lại có vết sứt, đây này.
Sãi chùa thở dài tiếc rẻ,
khiến ba đứa thở dài theo. Hoàn cầm miếng Ngọc khuê, bảo sãi chùa:
– Tự tôi chểnh mảng mà
đánh vỡ đấy, – Hoàn thật thà thú nhận. – Vậy thì cho ông này!
– Ấy chết! – Sãi chùa
giãy nảy, – giời cho ai thì người ấy được. Kẻ khác động vào, bị quở phạt như bỡn.
Ta nói vậy thôi, chứ số vắn quân vương cũng hàng trăm năm ấy chứ…
– Vua nào lại đánh rơi hốt
vậy nhỉ? – Điền ngây thơ hỏi.
– Đấy là của giời. Giời
chỉ cho con giời, chứ vua nào lại đánh rơi hốt bao giờ? – Bặc ra vẻ hiểu biết.
– Quan có hốt không? – Bặc quay sang hỏi sãi chùa.
– Có chứ, nhưng là loại hốt
làm bằng ngà, hoặc xương. Khi tâu vua thì giơ lên, gọi là tấn
hốt.
– Mai ngày, tao có ngọc hốt
thì lột da bụng mà nhét vào, dẫu gươm có chém cũng không thể rơi, – Điền nói
như đinh đóng cột.
Cả ba đứa lại hớn hở cười,
rồi rí rủm trò chuyện, hồi lâu mới lăn ra ngủ.
5.
Thỉnh thoảng, cả ba lại
xuôi thuyền, lặn lội đến tận vùng đất Xám(18), rồi ngược Nho Quan(19).
Chuyện Ngọc khuê rồi cũng phai mờ trong ký ức tuổi thanh niên. Mỗi bận đi qua vụng
nước xoáy hôm nào mò được
ngọc khuê, mà lòng nguội dần đi, chẳng đoái hoài làm chi nữa.
Một bận, ba đứa đang bọc
bùn nướng cá bên sông, chợt thấy một ông già cao gầy, răng trắng nhởn, đang chống
gậy rảo bước, nhưng khi thấy vụng nước thì sững người, dừng lại. Hoàn tưởng ông
ta đói, bèn mời cá nướng. Nhưng ông ta lắc đầu, xua tay và hỏi:
– Có cậu nào dám lặn xuống
chỗ vụng nước xoáy kia không?
– Sao không dám? Đừng
thách bà già ăn cốm, nhá. Đây, lặn rồi, – Bặc cười cười, trêu lão.
– Có thấy gì không? – lão
hỏi dồn.
– Có, – Điền láu táu.
– Chỉ có cái hốc đá trống
không thôi mà, – Hoàn vội nói át đi, sợ Điền khoe miếng Ngọc khuê.
– Hốc đá hình dạng thế
nào? – lão già nhìn xoáy vào Hoàn.
– Hao hao giống cái đầu
ngựa. – Hoàn hờ hững nói, nhưng ngẫm nghĩ rồi nói lại cho chắc, – chỉ hao hao
thôi.
– Vậy hả? – Lão già hồ hởi
hỏi và dặn, – đừng cho ai léo hánh đến chỗ này. Bận sao, lão đến, mang vàng bạc
thưởng cho.
Lão đi rồi, bọn Hoàn cũng
cho là chuyện tầm phơ mà thôi. Nhưng không ngờ, năm sau, lão trở lại thật. Lão
cẩn trọng, mở tay nải, lấy ra một cái bình sứ bọc vải đỏ, bảo Hoàn:
– Mi hái nắm cỏ, bọc
quanh cái bình này, rồi lặn xuống, đặt vào mõm ngựa đá. Ta sẽ trọng thưởng, –
đoạn, lão lôi từ trong bọc ra mấy thỏi vàng, bạc sáng lấp lóa trong nắng.
Hoàn đưa mắt nhìn bọn Điền,
Bặc đầy ngụ ý, rồi lẳng lặng ôm bình sứ, lặn xuống nước; bụng bảo dạ, chắc là
huyệt quý, nên lão tao mới bươn bả qua lại như thế. Đến hốc đá, Hoàn lẳng bình
sứ vứt ra ngoài, rồi ngoi lên. Lão già vội hỏi:
– Đặt xong rồi chứ?
– Rồi!
– Mõm ngựa ngậm lại
không?
– Ngậm ngay tức thì. Tôi
mà không rút tay nhanh, có khi bị nó cắn cụt tay rồi.
Nghe vậy, lão cười rổn rảng,
thưởng vàng, bạc hậu hĩnh cho cả bọn và nói:
– Mõm ngựa đã ngậm lại,
không ai cậy ra được nữa. Bây giờ, ta nói cho bọn mi biết, đấy là huyệt Nhân
mã, ứng với chòm sao Thiên mã trên cao xanh kia. – Lão chỉ ngón tay lên trời, vẻ
đắc ý, – ban ngày, không nhìn thấy đâu. Mai sau, con cháu lão phát tài, sẽ thưởng
nữa. Bọn mi đừng cho ai mò mẫm ở đây nữa nhá, bảo là có ma, có dớp, sợ lắm.
Lão già ấy đi rồi, bọn trẻ
lấy làm ngờ lắm; nhớ lại miếng Ngọc khuê và lời sãi chùa, Hoàn vội chạy về nhà,
giật giọng hỏi Đàm thị:
– Bu ơi, xương cốt bố con
để đâu?
– Cái gói, treo gác bếp ấy.
– Đàm thị giật mình, hỏi lại, – mà lấy làm gì?
– Có lão già, hình dong
như thầy địa lý, răng trắng nhởn, hẳn là người Hán, nhờ đặt cái bình xuống huyệt
dưới đáy sông. Chắc là gio xương hài cốt, nhưng con lẳng ra ngoài, chạy về lấy
xương cốt nhà mình.
Đoạn, Hoàn ôm bọc xương
rái cá, ba chân bốn cẳng chạy vội ra bờ sông, rửa sạch bồ hóng bám trên bọc da
rái cá, nhìn bốn phương tám hướng, tịnh không bóng người, liền vội hái nắm cỏ,
quấn lấy bọc xương, rồi lặn xuống, đặt vào mõm ngựa đá. Khi Hoàn vừa kịp rút
tay ra, thì mõm ngựa đá đã ngậm ngay lại. Tự dưng, thấy nước sôi lên sùng sục
và tỏa hào quang chói lọi. Hoàn ngoi lên bờ, nhìn ánh sáng vẫn lan tỏa. Trên mặt
sông, lũ tôm, cá nhảy lên như thoi đưa. Lưng trời, từng đàn chim ríu rít bay về
núi Kỳ Lân, nơi sườn núi có hình cái ngai khổng lồ.
6.
Từ khi Hoàn nhặt được Ngọc
khuê, lại thêm lời phán của sãi chùa, thì danh tiếng nổi như cồn, khiến ai nấy
đều kính nể. Bọn mục đồng trong Thung Lau thì phục Hoàn sát đất. Một hôm, mấy
anh em tâm phúc ngồi bàn chuyện kín với nhau. Bặc bảo:
– Chớ có nói cái chuyện
miếng ngọc bị sứt nhá, rồi cũng cắt béng cái câu gở của sãi chùa đi, chỉ để đoạn
bùi tai thôi.
– Nói thì làm sao, nào? –
Điền ngây thơ hỏi lại.
– Đừng vạch áo cho người
xem lưng. Các cụ dạy, đẹp phô ra, xấu xa đậy lại, – Bặc lừ mắt.
Hoàn nghe vậy, tủm tỉm cười,
thầm phục cái sự nhìn xa trông rộng của người bạn đồng niên, lại đồng hương.
Bặc quay sang Hoàn, hỏi:
– Mày có biết hài cốt
thân phụ mai táng ở Châu Ái không?
– Hồi ấy, tao còn bé, mà
chuyện binh đao loạn cả lên. – Hoàn nghĩ, hẳn Bặc có dụng ý gì đó, nên hỏi lại,
– mà mày hỏi làm gì?
– Đấy, cái chuyện thầy địa
lý người Hán phán bảo đấy, – Bặc tỏ ra ưu tư.
– Nó cứ tưởng mình ham của,
lại khinh cánh ta ngu hay sao? – Hoàn cười cười.
– Thế, mày có đặt cái
bình hài cốt cho lão ấy không? – Điền thật thà hỏi.
– Hỏi thế mà cũng hỏi! –
Bặc tỏ ra lõi đời, nheo mắt nhìn Hoàn.
– A, thế là tao hiểu ý thằng
Bặc, hỏi về chuyện hài cốt bố tao rồi, – Hoàn ném cái nhìn ranh mãnh về phía Bặc.
– Tao hỏi các cụ trong
làng rồi, – Bặc tỏ ra thận trọng. – Huyệt Nhân mã chiếu sao Thiên mã là sinh đế
vương đấy. Nhưng giời chỉ cho con giời thôi. Thứ như tao với mày, – Bặc trỏ Điền,
– đừng có mơ hão.
Nghe vậy, Hoàn lấy làm đắc
chí, bởi thừa biết, Bặc ám chỉ ai rồi.
Bọn mục đồng chơi kéo co,
hàng dây người chia hai phe, bám thắt lưng nhau, vừa hò vừa kéo. Mỗi khi tuột
tay lại ngã bổ chửng, phủi quần đứng dậy, nhìn nhau cười hể hả. Tiếng mục đồng
trong trẻo, hò hét suốt ngày, làm cho vách núi già ngàn năm, cũng ngỡ như trẻ lại
tuổi thơ ngây, thung lũng lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười. Trẻ thơ là hoa núi.
Chợt ngoài quèn có tiếng
huyên náo. Một chốc, lão Bộc vào báo:
– Bẩm cậu chủ, có lão già
nom hình dong như thầy địa lý người Hán, bảo là muốn gặp chàng thanh niên năm
trước đã giúp việc đại sự.
– Quái lạ, sao lão biết
ta ở đây nhỉ? – Hoàn lẩm bẩm, – nhưng mà có việc gì thế?
– Lão ta cứ úp úp mở mở,
bảo gặp ân nhân mới nói ngọn ngành.
– Làm thế nào bây giờ? –
Hoàn hỏi cả bọn.
– Cứ cho nó vào, có khi
được thêm mấy thỏi vàng nữa, cũng nên. – Điền bỗ bã nói.
– Mày cứ lau chau, – Bặc
nẹt. – Phải hỏi lão Bộc xem có kế gì không?
– Phải, – Hoàn như sực tỉnh,
nhớ lời phó thác của bố và chú đối với lão Bộc.
– Theo ngu ý của lão, thì
cậu cứ ra gặp, nhưng ở ngoài quèn. Đừng cho nó vào bản doanh, phòng gian tế.
Hoàn nghe phải, bèn cùng
lão Bộc và Bặc, Điền kéo nhau ra ngoài chòi, bên đầm Cút, để gặp lão thầy địa
lý người Hán.
– Từ khi được Động chủ
giúp việc đại sự, con cháu nhà ngộ phát tài, phát lộc. Nay xin được tạ ơn như lời
ước hẹn, lão ta chắp tay, cúi đầu thi lễ, vẻ trịnh trọng.
– Hỏi khí không phải, sao
ông biết tôi ở đây? – Hoàn mạnh dạn, làm chủ tình huống.
– Danh tiếng quý nhân nổi
khắp chốn cùng nơi. – Lão ta nheo mắt cười tinh quái, – ai được Ngọc khuê nào?
– Chúng tôi bơi lặn trên
sông, trên đầm suốt ngày ấy mà, việc nhỏ ấy, có gì mà lão trượng phải khó nhọc
làm vậy? – Hoàn tránh câu hỏi về ngọc khuê, khiêm nhường nói chuyện đặt bình sứ
năm trước.
Lão thầy địa lý người
Hán, nhìn như xoáy vào Hoàn, nghĩ bụng, thằng này, tướng mạo phát đế vương, nom
vượng hơn năm trước, hẳn nó đã tráo đổi bình hài cốt của ta rồi. Nghĩ vậy, hắn
lựa lời:
– Ngộ nghe dân chúng nói,
phụ thân Động chủ đã quy tiên ở Châu Ái, những mấy thu rồi. Chẳng hay, Động chủ
có ý cải cát, thì ngộ xin tìm cho huyệt đế vương.
– Tôi chỉ là kẻ chăn
trâu, đâu mơ đến chuyện vương tướng. Vả, bố tôi mất từ khi tôi còn để chỏm, có
hay biết gì đâu, con trẻ thơ ngây mà, – Hoàn có ý khước từ.
Lão thầy địa lý người Hán
xin gặp riêng Hoàn và nói thầm vào tai:
– Vậy thì lại phiền Động
chủ, – lão ta lấy trong tay nải ra đôi đoản kiếm, ở chuôi có sợi xích sắt chằng
vào nhau. – Động chủ treo đôi kiếm này vào cổ thạch mã, để cho thần hộ vệ chống
kẻ phá huyệt, phòng cái sự yểm bùa phản lại, thì đời con cháu nhà ngộ mới được
hưởng phúc dài lộc lớn.
Nói đoạn, hắn lại dâng một
bọc đầy vàng bạc, rồi bái biệt. Hoàn chỉ nhận đôi đoản kiếm, từ chối vàng bạc.
Điền thấy hai bên đưa đẩy mãi, bèn nhanh tay thu nạp cả bọc.
*
Nghe tin thầy địa lý người
Hán sang tặng Động chủ hai thanh đoản kiếm, để trừ tà lập nghiệp, thì trẻ mục đồng
tìm đến Thung Lau ngày càng đông đàn dài lũ.
Lão Bộc và hai chú lính
phải giúp Hoàn chỉ huy đám trẻ chặt cây, cắt tranh, dựng lán tránh sương gió,
mưa nắng và rèn cặp cho chúng vào quy củ. Chuyện lo ăn lo uống cho đám trẻ cũng
là mối lo thường nhật. Lão Bộc tính với hai chú lính, về việc phá ruộng, phát
nương để cấy lúa, trồng rau, tự túc lương ăn. Bọn mục đồng nghe vậy, bảo nhau:
– Tưởng lên đây chỉ ăn với
tập trận, luyện võ; chứ cấy lúa, đánh cá thì về béng nhà mà làm.
– Thì vừa làm ruộng, vừa
tập tành, không thích à?
– Có mà nhọc gấp đôi, đứa
nào thích mệt nhọc, chứ tao không thích cái việc chân lấm tay bùn.
Mấy toán rục rịch bỏ về,
Hoàn biết chuyện, vội máy lão Bộc và hai chú lính, lờ chuyện phát nương, phá ruộng
đi, kẻo vãn quân thì hại về thực lực.
Trước khi bọn Hoàn đánh
trâu lên Thung Lau, Đàm thị đã bí mật trao cho lão Bộc túi vàng bạc, mà thầy đồ
Châu Hoan đã gửi lại Trứ, rồi dặn cách thức chi tiêu cẩn thận. Lương ăn, Thúc Dự
chỉ cấp cho năm người, gồm hai anh em nhà Đinh, Bặc, lão Bộc và hai chú lính,
còn bọn mục đồng phải tự túc. Nay bọn trẻ đến như trẩy hội, lão Bộc phải bàn với
bọn Hoàn, bảo bọn trẻ phải góp lương ăn và vật dụng. Thế là chúng về xin bố mẹ,
được cơ man nào là gạo, muối, rồi thì gà, vịt, cho đến chiêng, trống và đồ binh
khí giáo mác, cung tên… Mỡ nó rán nó thế mà hay, Hoàn nghĩ bụng.
Lão Bộc và hai chú lính lại
phải giúp Hoàn bày trận, luyện quân.
Bài học đầu tiên là mài
kiếm. Có đứa chỉ quèn quẹt mấy nhát đã nghênh ngáo, trực bỏ cuộc. Có đứa muốn sắc
nhanh nên mài vát, khi chém chối tay. Lão Bộc phải bảo chúng mài vát đều, cho
lưỡi kiếm sáng loáng, mà chém ngọt, mỗi khi cần vung lên là đầy uy dũng. Bọn trẻ
không chỉ học cách mài thanh kiếm, cho sắc, mà còn rèn tính kiên trì, nâng niu
yêu quý thanh kiếm của mình, có đứa kêu:
– Cái lá chắn chuôi kiếm
vướng lắm, mài cứ quệt vào đá mài.
– Cái đấy để chắn, khi
đâm, tay ta không bị tuột vào chính lưỡi kiếm của mình, – lão Bộc bảo. – Phàm
cái gì sinh ra trên đời, cũng đều có giời đất chứng giám cả.
Một dãy trẻ trâu ngồi dạng
chân bên bờ suối, vừa mãi kiếm, vừa trêu chọc lẫn nhau, nom rất vui mắt. Rồi
đây, chúng sẽ thành tráng sỹ, vung kiếm ra sa trường. Cuộc đời chinh chiến bất
ly đao kiếm, mài kiếm phải là việc thường ngày. Lão Bộc và hai chú lính đôn đốc,
hướng dẫn rất chi là tỉ mỉ, để rèn chúng biết cung cách, lại đưa vào khuôn khổ
kỷ cương.
– Kiếm non mài nhanh
nhưng chóng cùn, kiếm già tuy mài lâu nhưng sắc bền, – lão Bộc bảo.
– Làm sao mà biết được,
nom thấy lưỡi kiếm nào cũng giống nhau cả, – có đứa thắc mắc.
Đặt lưỡi kiếm lên móng
tay cái, kéo nhẹ, thấy mắc là non, thấy trơn là già; hoặc là, đặt lưỡi kiếm lên
mái tóc, kéo nhẹ, cũng cảm thấy như thế.
Lão Bộc vừa nói, vừa động
tác thị phạm, khi nhìn lưỡi kiếm kéo rê trên mái tóc, bọn trẻ trợn mắt, lè lưỡi,
vẻ kinh hãi.
– Làm đi! – Lão Bộc giục.
Bọn trẻ miễn cưỡng thực
hành cách nhận biết lưỡi kiếm của mình. Mấy lưỡi kiếm non, lão Bộc bảo bọn trẻ
chất củi, nung đỏ thanh kiếm, rồi tôi vào nước muối.
– Rồi đây, chúng bay phải
học cách làm bao kiếm nữa đấy nhá, – chú lính bảo.
– Làm chi cho vướng? –
Chúng thắc mắc.
– Đấy là cái thứ bảo vệ
lưỡi kiếm, cũng chính là bảo vệ chủ của nó. Chú lính lại giảng giải.
– Nguyên cái chuyện rút
ra đút vào cũng cùn lỷ cùn lì đi rồi, lại mất công mài.
– Hai thanh vỏ bao gắn bằng
hồ gạo, không hại lưỡi kiếm. Bên ngoài bao có dây đai cho chặt. Tuy chặt mà lỏng,
thì mới dễ rút và không bị gỉ; tuy lỏng mà chặt để khi ta chạy, thanh kiếm mới
không kêu lách cách.
– Khó xơi, chứ không phải
dễ như cưỡi trâu, – bọn chúng lại xôn xao bàn tán, vẻ lo lắng.
– Nhưng các chú lính nói
thế, để chúng bay hiểu về khí giới thôi. Chứ đến lúc bẫy chẫy chân tay làm được
ấy à? Còn tốn hàng bồ thóc, – lão bộc tỏ ra xuề xòa.
Mỗi buổi sớm, khi tan
sương, hai chú lính lại dẫn bọn trẻ lên rừng chặt hóp làm giáo, đẵn tre vót
tên, chặt gỗ làm nỏ. Rừng già, tre nứa rợp đất, nhưng phải tìm chọn những cây
tre già đã đóng hoa ở gốc, chặt lấy đoạn mau đốt, dài chừng xải tay, chẻ ra làm
cánh nỏ. Thân nỏ làm bằng gỗ hồng bì, chỗ đặt lẫy lên dây phải khảm miếng sừng
trâu cho bền chắc. Dây nỏ xe bằng sợi gai. Bọn trẻ xe ngược từ bàn chân lên đầu
gối, bị sợi gai cuốn vào lông chân đau ứa nước mắt. Lão Bộc cười bảo:
– Chúng bay phải xe từ
trên đầu gối xuống, kẻo rụng hết lông chân, con gái nó không mê.
– Chả nhẽ, con gái lại mê
lông chân à?
– Quân tử lông chân, hiểu
chưa?
Chúng cùng à lên vui vẻ.
Lão Bộc lại dạy chúng cách lấy sáp ong, chuốt dây nỏ cho săn, rồi mới buộc lên
hai đầu cánh nỏ.
– Ấy, cánh nỏ phải lắp bụng
quay ra phía trước, thì lên dây mới có sức bật mạnh.
Có đứa lên dây nỏ, mất
đà, ngã lăn ra bãi cỏ. Mấy chú lính lại phải bảo cách đạp chân vào gốc cánh cho
cân, rồi tì bụng, kép dây. Đoạn, bảo chúng chọn những ống tre dài và thẳng, chẻ
ra mà vót tên. Mỗi cái tên dài bằng cả cánh tay.
– Dài quá, ông ạ, – chúng
thắc mắc.
– Tên dài mới bay xa. Muốn
tên bay xa thì đầu tù, thân thót đều hai bên bụng, như thể hông trâu đói cỏ là
chuẩn, chứ không ai vót tên tròng trùng trục như ống trúc, – lão Bộc ôn tồn
nói.
– Giống như con cá đã bị
mổ bụng moi ruột, – Điền cười cười châu vào.
– Phải, cậu này nhọn việc,
– chú lính vỗ vai khen Điền.
– Cái này bị cong, mà nắn
mãi không thẳng ra được, – Bặc cầm cái tên cằn nhằn.
– Chúng bay đốt một đống
lửa, vừa sưởi cho tan giá, vừa lấy gio nóng lùi mũi tên bị cong vào đấy, như thể
nướng khoai. Thế, thế… rồi mang ra nắn, thì có cong như cái b. giời cũng thẳng
dẵng cho mà xem, – chú lính lại bảo.
– Chớ nói nhảm! – Lão Bộc
lừ mắt, nạt.
Nghe vậy chú lính nói bậy,
bọn mục đồng lại tỏ ra khoái chí, cười ngả ngớn.
Hai chú lính dạy bọn mục
đồng cách đứng bắn, quỳ bắn, nằm bắn. Lẫy nỏ “pựt” một phát, mũi tên lao vút
đi, cắm phập vào hồng tâm màu đỏ, vẽ trên tờ giấy dán vào thân cây chuối, cách
xa hàng trăm bước nhảy, khiến chúng nhảy cẫng lên hoan hô, reo hò vang cả thung
lũng.
Trong khi đó, Điền ngồi
dưới chân núi, kỳ cạch đẽo hòn đá to như quả bòng, để làm chùy. Xung quanh quả
bòng bằng đá ấy, Điền xẻ múi dứa chéo nhau để tạo mũ gai, rồi khoét lỗ tra cán
tre, dài cả xải tay. Ròng rã hàng tháng trời, quả trùy mới hoàn thành. Điền ngắm
nghĩa công trình của mình, đầy vẻ kiêu hãnh. Bọn trẻ tròn mắt thán phục và thèm
thuồng.
– Tôi phục cậu, tính nóng
như lửa mà kiên trì chế tác được chùy đá, quả là vô song! – Lão Bộc khen nắc nỏm.
Điền cầm chùy vung lên,
xoay vòng, đập “chát” một phát vào gốc cây nghiến khô. Gốc nghiến bị bay một mảng,
khói bốc khét lẹt, khiến ai nấy đều kinh sợ.
Có chùy đá rồi, Điền lại
chế thêm bộ côn tử mẫu, gồm một khúc côn cao tới nách, dùng dây xích sắt nối với
đoạn côn dài bằng cánh tay. Đinh Điền vung côn khỏa tít, che kín thân thể. Chú
lính trầm trồ:
– Múa côn thế kia, mưa
cũng chẳng sợ ướt áo.
Điền phơ lên, vung côn bổ
một phát vào thân cây chuối và giật mạnh, khiến cây chuối đứt lìa.
– Ối giời, thế mà bổ vào
người thì đứt cổ như bỡn, – bọn trẻ kinh hãi, thốt lên.
Từ đấy, lúc nào Điền cũng
vác chùy trên vai, giắt côn sau lưng, khệnh khệnh bước đi đến đâu, bọn trẻ dạt
ra đến đấy. Thỉnh thoảng, bọn trẻ lại chơi trò đấu vật, lần nào Điền cũng thắng.
Một tay, cầm dải khố đối phương nhấc bổng lên, khiến ai cũng vì nể Điền, bởi
sức vóc hơn người.
*
Hai chú lính cầm thương đứng
ra giữa bãi, làm mẫu từng động tác, bọn trẻ bắt chước làm theo.
– Đây là cây thương, – một
chú lính giơ cây thương lên lắc lắc cho cái ngù đung đưa.
– Sao mà giống cây giáo
búp đa thế nhỉ? – bọn trẻ thắc mắc.
– Tuy hao hao giống nhau
về hình dáng, nhưng khác kích cỡ. Thương lớn hơn, dài hơn. Loại thương dùng cho
bộ binh dài bảy bộ, nghĩa là cao một đầu một với, – chú lính dựng thương, với
tay lên đo. – Còn loại dùng cho kỵ binh dài gấp đôi. Có thế, ngồi trên lưng ngựa
mà thọc sang địch nhân mới thấu. Trong tay lão Bộc là cây giáo, – cả bọn hướng
về lão Bộc đang giơ cao ngọn giáo. – Mũi giáo hình búp đa, có khi làm bằng gốc
tre đực, có khi bằng đá, bằng đồng, nhưng phần đa làm bằng sắt. Mũi giáo nhọn,
thửa răng cưa hai bên cạnh, có cái thêm ngạnh nữa. Nhưng mũi thương thì khác,
nhìn đây, – bọn trẻ lại nhìn về chú lính. – Mũi thương hình hạt kiều mạch, sống
cao, đầu nhọn, có rãnh máu.
– Rãnh máu, – Bặc nhíu
mày, vẻ khó hiểu.
– Phải, rãnh máu có tác dụng,
khi ta đâm địch nhân, thì máu phun qua rãnh này, làm cho trơn rễ rút, bởi khi hồi
thương về cũng mạnh như dây kéo vậy, – chú lính làm động tác dứt khoát.
Cả bọn à lên, vẻ thú vị.
– Tua thương, có tác dụng
ngăn máu địch nhân, không chảy xuống tay ta được. Nếu tay dính máu, sẽ trơn nhẫy,
khó khiển thương theo ý mình.
– Cứ tưởng làm cho đẹp, –
Bặc lại nói.
– Cũng là đẹp nữa, nhưng
chủ yếu màu tua để phân biệt loại thương. Thương có tua đỏ, gọi là huyết đương
thương. Thương có tua đen là tố anh thương. Tay ta cầm là…
– Huyết đương thương, – bọn
trẻ đồng thanh.
– Còn chú kia cầm là…
– Tố anh thương, – bọn trẻ
lại cùng nói.
Hai chú lính xuống tấn và
giảng:
– Thế tứ bình là như vầy,
đỉnh bằng, – chú ta đưa bàn tay lên đầu, mắt nhìn thẳng. – Vai bằng, – lại vỗ
xuống vai. – Chân bằng, – chỉ đôi chân đang xuống tấn. – Và thương bằng, gốc
thương luôn dính sát vào hông. Kình lực mạnh khi đâm xuất phát từ hông. Nhớ
nhá!
– Phải, – bọn trẻ lại đế
theo.
Rồi hai chú lính, kẻ đâm
người gạt, kẻ nhử người đỡ cho chúng xem.
– Đâm thương như giao
long, có hư thực, có kỳ chính. Này, – chú lính vẫy Bặc. – Thử cái.
Bặc đỏ nhừ cả mặt vì xúc
động, nhảy vào, cầm cây huyết đương thương, đứng thế tứ bình. Chú lính vỗ tay,
khen ngợi.
Quân mục đồng chia làm mấy
toán, luôn phiên nhau, toán thì chăn trâu cắt cỏ, toán thì cưỡi trâu giao chiến
bằng giáo dài, toán thì bắn cung, bắn nỏ, toán thì tập cứu chữa bọn bị thương,
chôn cất kẻ tử trận, cứ y như thật vậy. Giao hẹn, cứ nghe hiệu lệnh mà giáp trận.
Nghe trống phải tiến lên. Nghe chiêng thì lui về. Đại quân Cờ Lau trú trong
Thung Lau. Địch quân ở Thung Lá. Hai bên bí mật hành quân leo núi, vượt đầm Cút
mà giao
tranh.
Trên đầm Cút, bọn chúng đóng bè làm thủy binh, cũng chia hai phe mà giao chiến.
Ngày ngày, tiếng trẻ hò la, tiếng chiêng, tiếng chống náo loạn cả một vùng. Bọn
lính đánh trống truyền lệnh tấn công đứng ở gò cao, gọi là Gò Trống. Chỗ đánh
chiêng thu quân gọi là Gò Chiêng. Nơi giấu cơm nắm tiếp tế cho lính tập trận, gọi
là Gò Nắm Cơm. Chốn dừng trâu, gọi là Đồi Họ. Lán trú quân, gọi là Nội Chòi. Ruộng
hội quân, gọi là Đồng Quân… Hoàn cứ đặt tên như thế, như thế cho quân lính dễ
tìm nhau.
Hai chú lính còn truyền dạy
cách thức chế ra loại cung bắn giáo, giàn ném đá và máng hất quả cầu lửa, để
dùng vào việc công thành. Trò này, khiến Hoàn và Bặc cũng mê tít. Bọn mục đồng
tham gia chế tác và luyện tập cũng rạo rực trong người, chỉ mong sao chóng có
chiến trận để trổ tài tác chiến, khoe vũ khí lợi hại của quân Cờ Lau.
Nhìn vào cái cung bắn
giáo khổng lồ, lắp trên giá đỡ, Điền bảo:
– Cũng y như cung bắn
tên, chẳng qua là thay tên bằng giáo, thay người bằng giá, thay cánh nỏ bằng nửa
cây tre mà thôi.
– Bắn thử mới khiếp chứ,
mũi giáo xuyên qua năm cây chuối, thay cho một ngũ địch nhân, – Bặc trầm trồ.
– Nhưng chúng có sắp hàng
chờ ta phóng lao đâu? – Điền hỏi kháy.
– Trong đám quân trăm vạn
như bầy gà, vịt, ta bắn phứa đi, cũng xuyên đủ, khác nào xiên chả nướng. – Bặc
tỏ ra thích thú, nhưng cũng lộ vẻ phân vân, – chỉ có điều, hơi cồng kềnh.
– Chính cái giàn ném đá,
hất cầu lửa kia mới cồng kềnh kìa. – Điền chỉ sang bên cạnh, – nào là giá đỡ
như tòa tháp, cần bật thì bằng cả cây tre đực, dây kéo thì rút gân cả đàn bò. Nặng
đấy, may sao có bốn bánh gỗ mà đẩy.
– Bắn xa không? – Bặc hỏi.
– Loại đá bằng củ chuối,
thì chỉ dùng một cần bật. Loại đá bằng cái thúng khảo thì phải ba cần bật ghép
lại với nhau. Chỉ nhọc bọn lính kéo cần mà thôi, – lão Bộc trình bày rành rẽ.
– Thế thì, phá cổng thành
ngon như đập trứng vậy, – Hoàn hồ hởi. – Khi thay đạn đá bằng cầu lửa, thì khác
gì sao băng, nhề?
– Cái này phải ém nhẹm,
không phô phang, để lúc lâm trận mới có lợi thế bất ngờ, – lão Bộc tỏ ra sành sỏi.
– Nhưng to quá, khiêng
gãy xương sống, – Bặc phân vân.
– Trâu kéo, – Hoàn ra vẻ
hiểu biết.
– Đường xá vừa bằng cái lỗ
mũi, kéo sao đặng? – Bặc lo lắng.
– Khi hành quân, ta tháo
ra, cho quân khiêng vác, trâu thồ, đến trận địa mới lắp ráp vào mà hành sự, –
chú lính trình bày. – Đây, toàn mộng thắt như lắp xà vào cột nhà, với lại chốt
tre, kiểu như con xỏ gá vì kèo thôi mà.
– Mấy chú cũng bợm ra phết!
– Hoàn khen.
– Trò này, bọn Hán đã
dùng từ đời tám hoánh, nhưng cũ người mới ta, – lão Bộc tâm đắc.
Đêm đêm, chúng cũng cắt đặt
canh gác trên các quèn và ngả đường vào thung, y như thể chiến binh. Từng đàn
trâu được dồn vào Thung Lau trú đêm. Những con trâu đực nằm vòng ngoài, bên
trong là trâu cái và nghé con. Hoàn thấy vậy, bèn chỉ cho Bặc về cách tự vệ của
loài cầm thú, mà phép dụng binh của quân Cờ Lau cũng không thể bỏ qua. Hoàn còn
truyền cho Bặc về Binh pháp đã được học, nào phép hành quân, nào phép quân
tranh… Bặc lại chỉ cho Hoàn về địa hình, địa vật quanh vùng Đại Hoàng,
sang tận Trường Châu(20), ra tới cửa bể Non Nước(21), xuống
tận cửa Thần Phù… Chẳng bao lâu, cả hai thông thạo binh pháp cũng như hình sông
thế núi, tỏ tường đường bộ, đường thủy, xem chỗ dựng thành, lập lũy, tính nước
tấn công, liệu bề phòng thủ. Lão Bộc và hai chú lính cũng hăng say luyện tập
cùng đám trẻ, trên dưới một lòng, chủ tớ hòa hợp.
*
Đại bản doanh đóng trong
Thung Lau, vách núi dựng thành, địch không công phá nổi. Đường vào thung phải
vượt qua quèn. Quèn là một cái đèo cao, lại có lính canh, động là khua chiêng,
đánh trống ầm ĩ, ai nhát gan yếu bóng vía là không dám qua lại.
Nhân một hôm, Điền lật
chiếu trên sạp Hoàn, thấy đôi song kiếm, chợt reo lên:
– A, báu vật của lão Hán!
Nhưng lại nối dây xích vào nhau thế này, thì chém làm sao được nhỉ?
– Ấy, chớ nghịch. – Hoàn
giật vội lại, – sắc lắm, đứt tay như bỡn.
– Nó buộc xích vào nhau để
làm gì nhỉ? Chắc hẳn chỉ để treo vào cái gì đấy thôi? – Điền thắc mắc.
– Thiên cơ bất khả lộ, –
Bặc cướp lời, có ý bênh che cho Hoàn.
Lúc này, Hoàn mới nhớ việc
phải treo đôi song kiếm vào cổ ngựa đá dưới sông, theo lời lão thầy đại lý người
Hán dặn. Chắc nó không biết mình đánh tráo, nên mới nhờ vả việc này chứ. Hoàn đắc
ý, nghĩ bụng, thôi thì tương kế tựu kế, ta sẽ treo đôi song kiếm này vào cổ ngựa
đá cho mà xem. Nó chắc mẩm bảo vệ phúc lộc cho nó, ai dè lại bảo vệ cho ta. A
hà hà… Việc đánh tráo bình hài cốt, Hoàn chỉ làm một mình, đến như Bặc và Điền
cũng không hay biết, còn lão Bộc và mấy chú lính lại càng không biết gì. Khi
quân mục đồng tụ họp về đông đàn dài lũ, luyện tập ngày một thành thục, không
kém gì lính trận, thì Hoàn mới tin chuyện Ngọc khuê và thạch mã.
Nhân lúc tối trời, Hoàn
giắt đôi song kiếm sau lưng, cưỡi trâu đầu đàn, lặng lẽ ra bến Thạch Mã. Con
trâu hục hặc, có vẻ miễn cưỡng cất bước. Bầu trời đầy sao như một chiếc bánh đa
vừng khổng lồ, gió hây hây thổi. Thế mà bỗng dưng, mây đen kéo về mù mịt, giông
bão nổi lên, sấm chớp đùng đùng. Hoàn tất tả lột áo, toan cầm đôi song kiếm, nhảy
xuống sông, thì con trâu cứ cắn lá tọa cạp quần lôi lại. Hoàn phải trừng mắt, gắt
lên: “Ngoan nào!”. Cố lặn xuống mấy lần mà không thành, tưởng như có quân hà bá
đẩy lên, Hoàn lấy làm lạ, hay bữa nay ta mệt quá chăng? Bởi vậy, lại lấy hơi,
quyết chí ngụp xuống. Làn nước tối mò, thỉnh thoảng mới có ánh chớp chiếu xuống,
nhưng Hoàn vẫn mò mẫm lần được tới nơi và treo đôi song kiếm vào cổ ngựa đá. Ô,
mà sao cu cậu như vùng vằng không chịu nhận. Dòng nước xoáy, khiến đôi thanh kiếm
cọ lách cách vào cổ ngựa. Lúc này, tưởng như tức thở, Hoàn vội ngoi lên. Một tiếng
sét kinh thiên động địa, con sóng dữ đẩy bật Hoàn lên bờ, nằm vật ra, kiệt sức
và kinh hãi.
Đêm lạnh. Bặc chợt tỉnh
giấc, ngó sang bên vẫn thấy lão Bộc ngồi trầm ngâm bên bếp lửa, quờ tay lại, chỉ
thấy Điền ngủ say như chết, mà không thấy bóng dáng Hoàn và đôi song kiếm đâu cả.
Hai chú lính ngáy rung cả lán. Bặc lò dò đến bên bếp lửa, khẽ hỏi lão Bộc:
– Ông ơi, Hoàn đi đâu, mà
từ chập tối đến giờ chưa về?
– Tao cũng đang lo cháy
ruột đây này.
Lão Bộc thở dài, bóng lão
chập chờn trên vách lán, được ken bằng thân cây lau. Hai chú lính nghe tiếng
nói chuyện lao xao, cũng chồm dậy. Phàm là người ngủ ngáy là tỉnh giấc nhanh lắm.
– Gì vậy? – hai chú gần
như đồng thanh hỏi.
– Hoàn cưỡi trâu đi từ chập
tối, giờ vẫn chưa về, – Bặc mau mồm đáp.
– Vậy hử, phải đi tìm
mau! – chú lính đáp, như ra lệnh.
– Giời mưa quá! – lão Bộc
khẽ khàng.
Đến lúc này, cả bọn mới dỏng
tai lắng nghe tiếng mưa.
– Phía ngoài sông, còn có
tiếng sấm vọng về, – lão Bộc bồn chồn.
Bỗng con trâu đầu đàn chạy
về, đứng trên quèn mà hộc lên. Bọn gác chạy ra thì không thấy chủ tướng đâu.
Hai chú lính bật đuốc nhựa trám. Các lán nghe thủng câu chuyện cũng đâm hồng, đội
mưa, đổ đi tìm động chủ. Điền tìm đầu sạp, không thấy đôi song kiếm đâu, kêu
toáng lên:
– Thằng này, mang đôi
song kiếm đi treo cố ngựa đá rồi!
Con trâu đầu đàn dẫn đường,
như mách bảo cho Bặc, dẫn một toán quân, chạy gấp đến bến Thạch Mã. Quả nhiên,
trong ánh đuốc, thấy Hoàn nằm ngất lịm trên mô đất ven bờ sông. Bọn chúng thất
kinh, khi thấy trời mưa gió, mà chỗ Hoàn nằm lại tạnh ráo, ngẩng lên, thấy có
đám mây phủ như cái lọng che. Anh em hốt hoảng, kẻ bảo đưa về Thung Lá, nhờ bà
lang chữa chạy, người bảo phải đưa về làng, nhỡ có mệnh hệ nào… Bặc quyết đưa về
làng, bởi trời mưa gió thế này, khí núi trong động độc lắm.
Nghe vậy, chúng bèn vực
Hoàn lên lưng trâu đầu đàn, đưa về Kim Lư.
Nửa đêm, chúng mới đưa
Hoàn về tới nhà. Xóm làng náo động. Đàm thị, Yên Khê và bọn hầu gái, khóc ầm cả
lên. Thúc Dự gạt mọi người ra, quờ tay vào trong đũng quần Hoàn thấy vẫn cộm
tay, bèn tươi nét mặt, bảo:
– Không sao! Cho nó uống
bát nước gừng, lấy tóc rối, quả trứng gà luộc mà đánh cảm, – đoạn, Dự bỏ
đi hút thuốc lào, bình thản như không.
Hồi lâu, Hoàn tỉnh dậy,
thấy xung quanh lố nhố những người là người, không rõ cơ sự làm sao. Bặc kể lại
sự tình. Hoàn tươi nét mặt, nhớ việc treo đôi song kiếm vào cổ ngựa đá, nhưng tịnh
không nói gì.
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
_____________________
(1)
tên cũ của sông Lam.
(2)
nay là Thủ đô Hà Nội.
(3)
xưa thuộc hương Thổ Lỗi, tổng Siêu Loại, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh;
nay thuộc xã Dương Xá,
huyện Gia Lâm, thủ đô Hà Nội.
(4)
nay thuộc xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, (khác với núi Kỳ Lân ở
thành phố Ninh Bình).
(5)
động Hoa Lư xưa gồm hai vùng Uy Tế, Uy Viễn; nay thuộc xã Gia Hưng, huyện Gia
Viễn, tỉnh Ninh Bình
(6)
nay thuộc thôn 13, xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
(7)
đường qua dốc núi (đèo).
(8)
độ dài 1 dặm bằng 135 trượng, khoảng 540 mét
(9)
nay thuộc xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
(10)
nay thuộc xã Gia Thủy, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh bình.
(11) nay
thuộc xã Gia Vân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
(12)
trung tâm nay thuộc thôn Vân Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh
Bình.
(13)
nay thuộc huyện Đông Anh, thủ đô Hà Nội.
(14)
nay thuộc xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
(15)
nay thuộc xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
(16)
nay là sông Hoàng Long.
(17)
nay thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
(18)
nay thuộc tỉnh Nam Định, giáp tỉnh Thái Bình.
(19)
nay thuộc tỉnh Ninh Bình.
(20)
nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
(21)
nay thuộc thành phố Ninh Bình.
Chương bốn
Mổ trâu khao quân
1.
Hoàn khỏe lại, muốn lên động
Hoa Lư, nhưng Đàm thị không nghe.
– Mới cảm nhập tâm, chân
lông chân da còn chưa liền, đi lạnh, gặp gió thì khốn. Nghe bu, có kiêng có
lành.
Chợt có tiếng người lao
xao ngoài ngõ, Hoàn nhìn ra, thấy một thanh niên, dáng quen quen. Người đó mau
mắn lên tiếng, ới vào:
– Hoàn à, Tú đây! Trịnh
Tú đây mà!
– A, Tú! Cánh Đại Hoàng
ta chứ đâu xa?
Hoàn hồ hởi bước vội ra
đón khách.
– Tưởng làm Động chủ rồi,
thì quên anh em bằng hữu? – Tú nheo mắt cười cười, đùa cợt.
Hoàn nghe vậy, bàng hoàng
chào lại, nói câu thanh minh:
– Tôi là kẻ mục đồng, ăn
lộc của chú, đi chăn trâu thôi mà, đâu dám mạo xưng động chủ động chiếc gì.
Tú nghe vậy thì nở nụ cười,
rạng ngời gương mặt. Cả hai cùng vào nhà, phân ngôi chủ khách, ngồi trên tràng
kỷ, trò chuyện.
– Tôi nghe thầy học kể,
Ngô Quyền đã giết Kiều Công Tiễn, báo thù cho nhạc phụ Dương Đình Nghệ rồi.
Cũng vào năm Mậu Tuất (938), lại đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.
Các tướng Phạm Bạch Hổ, Dương Tam Kha lập công lớn lắm, – Tú nhấp chén trà núi,
cảm thấy vị đăng đắng, ngòn ngọt trong miệng, lấy làm hài lòng.
– Quả tình, tôi ở Thung
Lau, cũng có nghe đồn, nhưng không tỏ tường cho lắm, – Hoàn đưa đẩy. – Hồi theo
phụ thân ra Châu Ái, tôi được gặp Ngô Thứ sử và cũng nghe danh các tướng Bạch Hổ,
Tam Kha, Cảnh Thạc, Kiều Thuận, với lại Kiều Hãn…
– Họ đều là anh hùng cả,
– Tú đáp. – Hổ thì được phong chức Phòng át, trấn giữ cõi Hải Đông(1),
nên từ đó, gọi là Phạm Phòng Át. Tam Kha là em ruột của Dương Hậu, từng chém Hoằng
Thao trong trận Bạch Đằng đó… Động chủ nên cầu thân với họ, thêm vây cánh, mới
mưu đại sự được.
– Tôi chỉ có đám mục đồng,
chăn trâu là chính. Thỉnh thoảng cũng bày trò đánh trận giả cho vui mà thôi, chứ
có ý gì đâu? – Hoàn chưa biết bụng dạ Tú thế nào, nên không dám vồ vập.
– Tôi nghe nói, giời đã
giao Ngọc khuê cho Động chủ, ắt không thể không linh ứng. Lại nghe, trẻ mục đồng,
toàn là thanh, thiếu niên tuấn tú đổ về, khác nào tụ nghĩa dưới Cờ Lau. Nếu chần
chừ, không ra tay sớm, thì e hỏng ăn, khác nào quả chín nẫu, cơm quá lửa, gái
quá thì, – Tú cũng dãi bày tình thực, cốt để Hoàn khỏi nghi hoặc. – Tôi cũng muốn
lên trên ấy, cầm thừng trâu một chuyến xem sao?
– Được thế thì còn gì bằng,
ngang giời giúp vậy. – Chợt Hoàn phân vân, – nhưng e, bỏ theo cánh chúng tôi,
thì phí. Mai sau, bằng hữu còn giúp triều đình Cổ Loa, chứ tình thực, động Hoa
Lư là chốn hoang vu, mà Cờ Lau thì còn trứng nước.
– Với người tài cao học rộng,
nhìn cái trứng biết sẽ nở ra rồng, thấy chốn hoang vu đã tính được chỗ định đô ấy
chứ, – Tú khoát tay nói. – Còn tôi, kẻ ngu hèn, chỉ mong được cắt cỏ, cầm thừng
là phúc lắm rồi. Coi như tôi cũng đầu quân theo bạn đồng tuế đây, – đoạn, Tú vỗ
vai Hoàn, cười rổn rảng.
Hôm sau, cả bọn cưỡi ngựa
lên Thung Lau. Đàm thị cho đám mục đồng khuân vác theo, nào gạo, nào muối, nào
lợn, nào rượu… Thúc Dự gửi cho lão Bộc và hai chú lính mấy phong thuốc lào. Dự
thấy cháu đã khôn lớn thì hởi dạ, nghĩ bụng: “Nó cũng bợm ra phế. Đúng là con
nhà tông, chẳng giống lông cũng giống cánh”.
2.
Lão Bộc và bọn mục đồng
nghe tin động chủ trở lại, thì mừng rỡ, kéo nhau ra ngoài tận
đầm Cút đón rước. Lại thấy
một toán gồng gánh đồ ăn thức uống, thì cùng xúm vào đỡ vai. Mấy đứa khiêng lợn
đến chân quèn, thì lấy que chọc cho kêu toáng cả lên. Thung Lau náo nhiệt như mở
hội.
Hoàn bàn với lão Bộc và bọn
Điền, Bặc, Tú làm lễ khao quân. Điền bảo:
– Hàng trăm con người, lại
đang sức ăn sức nhớn, mà chỉ nhõn con lợn, thì chả bõ dính răng.
– Thế thì mổ trâu, – Hoàn
phơ lên.
– Ấy chết! – Lão Bộc gàn,
– không được đâu. Ông Dự đã có ý nhờ lão coi sóc, lại còn gửi cả thuốc lào cho
hút đây này. Đấy là chữ” Nghĩa”, chữ “Tín”. Không mổ trâu trộm được đâu!
– Nhưng tôi đã nói rồi,
không rút lời được nữa, – Hoàn phân trần. – Vả, cũng hợp lòng quân.
Bọn mục đồng nghe vậy,
reo ầm cả lên. Chúng nhảy bổ vào, công kênh Hoàn lên như rước kiệu, chạy một
vòng quanh thung. Đàn trâu tưởng bị đuổi bắt, cũng lồng thếch cả lên.
– Mổ trâu khao quân!
– Mổ trâu khao quân!
– Mổ trâu khao quân!
Thấy tình thế như vậy, Bặc
lựa ý nói với lão Bộc:
– Thôi, việc đã thế này,
không cản được nữa, tùy cơ biến báo thôi. Mà bầy trâu cũng đông đàn dài lũ bao
nhiêu rồi, ông Dự cũng chẳng hay đâu.
– Ông Dự giao cho lão vào
sổ, báo về hằng tháng, chứ bỡn à? – lão Bộc vẫn không chuyển ý. – Vả, một người
thì kín, chín người thì hở, chỉ nội nhật ngày mai là chuyện mổ trâu khao quân sẽ
đồn ịch cả Đại Hoàng cho mà xem.
Cực chẳng đã, hai chú
lính phải rủ lão Bộc sang làng Vân Lung chơi, có ý lánh mặt, tránh phiền hà khi
hào trưởng kiểm trâu. Bọn Hoàn cũng cho là phải. Thế là đám mục đồng xông vào,
vật con trâu đực hung hãn nhất. Thấy vậy, Tú bảo:
– Hay là, ta làm lễ tế cờ
luôn.
– Cờ đâu mà tế? – Điền
láu táu hỏi.
– Cắm bông lau làm cờ.
Thung Lau ê hề, – Tú khoát tay chỉ lên sườn núi.
– Hỏi Động chủ, xem ý thế
nào đã? – Bặc tỏ ra thận trọng.
– Anh em thấy phải thì
làm, – Hoàn tỏ ra dễ dãi. – Từ nay, chúng ta là anh em một nhà.
Bặc sai bọn mục đồng, chặt
cây tre to, chôn giữa thung lũng. Những bông lau tết lại như dải phướn, treo
lên ngọn cột tre làm lá cờ; mấy giàn phóng lao, ném đá, hất cầu lửa cũng được
bày đặt nghếu nghện giữa thung. Bặc lại bảo Điền đốc thúc mục đồng bày lễ tế. Đầu
trâu đặt giữa nong với cặp sừng vênh lên ngạo nghễ. Thủ lợn ngậm đuôi có phủ lá
mỡ chài, đặt trên nia. Gà trống luộc cả con, ngậm bông hoa rừng, đặt trên mẹt.
Xung quanh bày la liệt thịt trâu luộc, thịt lợn nướng, rượu đong đầy ống trúc,
đặt khắp nơi.
Lễ tế bày đặt xong, bọn mục
đồng, đứa cầm giáo hóp, đứa vác đao, đeo cung, đứng vòng quanh cột cờ. Bặc cầm
tù và, thổi ba hồi dài, vang động Thung Lau. Tức thì, ngoài quèn, đám quân khua
chiêng, trống, mõ, sáo trúc cùng tấu lên rộn ràng, trẩy xuống thung. Đi đầu là
viên tướng mặc áo giáp trụ, cưỡi trâu đầu đàn, nom rất uy nghi lẫm liệt. Thoạt
nhìn, bọn mục đồng không biết là ai, đến khi Bặc bắc loa tay, hô to:
– Chủ tướng vạn tuế!
Cả bọn hô theo ầm ầm như
sấm động.
Đến lúc này, đám rước tới
gần, chúng mới nhận ra Đinh Hoàn, bèn reo ầm lên, chạy a cả lại, trầm trồ thán
phục. Hoàn khoát tay ra hiệu trật tự, rồi đứng trên mình trâu, dõng dọc nói:
– Bộ giáp trụ này, phụ
thân ta để lại và dặn, chỉ khi nào có việc trọng đại mới được dùng. Nay theo ý
anh em làm lễ tế cờ. Ta thấy dịp may hiếm có, nên cùng anh em chư tướng làm lễ
tế cờ.
Cả bọn lại reo hò ầm ĩ.
Bặc trịnh trọng hô to:
– Mời chủ tướng lên làm
chủ lễ tế cờ!
Hoàn nhảy xuống đất, chắp
tay trước ngực, đi vòng quanh cột cờ chào anh em mục đồng. Đoạn, hướng mặt
phương nam, vái cờ lau, cất giọng vỡ tiếng:
– Anh em ta là con một
nhà. Bấy lâu luyện quân vất vả. Nay ta tế cờ, mở tiệc khao quân. Thề rằng, đồng
cam cộng khổ, khó nhọc cùng lăn xả vào, phú quý cùng chung hưởng.
Hoàn quỳ xuống, cả bọn quỳ
theo. Hoàn ngoái nhìn, thấy con trâu đầu đàn quỳ xuống, cả đàn trâu trong thung
cũng quỳ theo; thảo nào, Bặc bảo, nó hiểu được tiếng người. Đoạn, Hoàn đứng
dậy, cả trâu và người cùng lục tục đứng theo. Hoàn cầm chén rượu giơ cao, bọn mục
đồng nhất loạt cùng giơ ống trúc rượu, nhìn nhau mời chào hoan hỷ. Thế rồi, đám
mục đồng như trâu phá đỗ, bò ăn mạ, hàng trăm hàm răng nhuộm đen cùng xô vào ăn
uống, hò reo vui vẻ. Đàn trâu cũng được ăn những bó cỏ tươi, cùng nhe răng trắng
nhởn ra cười.
Biết Hoàn khoái món tiết
canh lòng lợn, nên ai cũng có ý mời. Hoàn ăn mấy bát liền, cảm thấy mát lòng, hởi
dạ, lại uống thêm mấy bát rượu nữa. Cuộc vui kéo dài, tưởng như bất tận. Trò chọi
trâu được khơi ra, mua vui, không con nào thắng được trâu đầu đàn. Tiếng sừng
va chạm côm cốp. Tiếng chân đuổi nhau huỳnh huỵch. Tiếng reo hồ vổ vũ ầm ĩ. Hết
trâu chọi lại đến trò vật nhau, Điền vô địch. Trời tối mà chúng còn hăng rượu,
đốt đống lửa trại, vật nhau chán, rồi ôm nhau ngủ trong thung.
*
Yên Khê đang vấn khăn độn
tóc, nghe tiếng vó ngựa vào sân, vội lật đật chạy ra, báo Thúc Dự:
– Tôi nghe, bọn thằng
Hoàn khao quân, to lắm.
– Phải, bác Đàm cho chúng
gà, lợn mà, – Dự điềm nhiên, vắt cương lên lưng ngựa và toan nhảy xuống.
– Nó mổ cả trâu đấy, ông ạ!
Ăn uống suốt ngày hôm qua, – Yên Khê vấn khăn độn tóc một vòng quanh đầu. –
Không biết nó mổ mấy con?
Nghe vậy, Dự thất sắc, vội
cầm cương, ra roi, nhằm hướng Thung Lau, phi nước đại.
Bọn trẻ gác trên đỉnh
quèn không biết Dự là ai, cản lại. Dự bực mình, vung roi quất túi bụi, rồi xông
thẳng đến trước lán đại bản doanh của Hoàn, quát to:
– Thằng Hoàn đâu?
Hoàn đã nhìn thấy chú từ
lúc trên đỉnh quèn, vội bảo bọn lão Bộc, hai chú lính và anh em tâm phúc lánh mặt.
Xem chừng, chú giận lắm, hẳn vì chuyện mổ trâu đây, lão Bộc nói đúng thật, chỉ
hôm trước hôm sau là cả làng cùng tỏ.
– Chú gọi cháu đấy ạ! –
Hoàn lễ phép thưa.
– To gan, ai cho phép mổ
trâu của tao, để khao quân của mày?
– Không phải mổ trâu đâu ạ,
mà do hổ bắt, tha vào hang núi rồi.
Bỗng con ngựa hí lên, tế
hai chân trước, khiến Dự tưởng có hổ thật, vội nhảy xuống, hỏi dồn:
– Đâu? Hang đâu?
Hoàn chỉ cái đuôi trâu
còn phất phơ trong kẽ đá. Dự tưởng thật, rón rén dò từng bước tới, khẽ cầm cái
đuôi trâu giật thử, không thấy động tĩnh gì, bèn xuống tấn, hai tay cầm đuôi
trâu rút thật lực và hô to:
– Bay đâu, đến đây giúp
ta một tay!
Bỗng cái duôi trâu đứt phựt,
khiến Dự ngã bổ chửng, đầu va vào tảng đá, đau điếng. Bọn trẻ nấp trong thung,
thấy vậy, cười ầm cả lên. Dự tức, lồm cồm bò dậy, cầm đuôi trâu, xem lại chỗ đứt,
thì thấy rõ rành rành là vết dao chặt nham nhở. Biết là bị lừa, Dự đuổi đánh.
Hoàn cuống lên, chạy quanh thung. Dự nhảy lên ngựa, như muốn giẫm bẹp thằng
cháu dối trá. Bọn Bặc phải ra sức cản, Hoàn thừa cơ, nhảy lên lưng ngựa hồng của
mình, thoát ra ngoài quèn, chạy xuôi bờ sông Đại Hoàng. Dự đuổi rát, đến ngã ba
sông, định sang thì không có đò, chợt thấy bà lão bán hàng, Hoàn vội hỏi:
– Đây là đâu?
Bà lão không nói, trỏ tay
lên phía thượng lưu. Hoàn bực, mắng:
– Gián khẩu!(2)
Hoàn ra roi, ngựa dựng bờm
phi ngược lên, thấy có cây cầu, liền lao qua, thì sẩy chân, ngã lăn xuống bùn.
Dự đuổi đến nơi, rút kiếm ra toan chém, bỗng thấy có con Rồng vàng nổi lên,
cõng Hoàn qua sông. Dự thất kinh, vội nhảy xuống ngựa, cắm gươm, quỳ phục xuống
lạy:
– Chú là người trần mắt
thịt, không may phạm đến long thể, xin được tha mạng!
Về sau, sông Đại Hoàng được
gọi là Hoàng Long, để nhớ tích rồng vàng cõng Hoàn qua sông. Đám ruộng chỗ Dự cắm
kiếm lậy cháu, gọi là Kiếm Điền(3). Quả núi mọc lên cạnh đó, gọi là
Kiếp Lĩnh, hay núi Cắm Gươm(4), cũng là núi Chú Phục Lạy Cháu. Bến
sông rồng đỗ, gọi là bến đò Long Độ(5).
*
– Thôi, giời chẳng
chịu đất, thì đất phải chịu giời, ông ạ! – Yên Khê thẽ thọt với chồng.
– Nó là người giời đấy! –
Dự vẫn còn thảng thốt.
Nghe Yên Khê cười khảy, Dự
mới kể lại sự tình mà mình thực mục sở thị. Yên Khê há hốc mồm, kinh hãi.
– Hay là, bàn với bác
Đàm, lấy vợ cho nó, cột nó vào như trâu sấn sẹo ấy mà. Năm nay, nó mười sáu,
nam thập lục là lấy vợ được rồi. – Yên Khê vừa bày kế đàn bà, vừa phủi gàu trên
vai áo chồng, – cái giống này, phải gội bồ kết mới sạch.

3.
Hai anh em ruổi ngựa sang
Thung Lá, xem thằng mục đồng phi trâu bị ngã gãy chân và mấy thằng gây sự đánh
nhau sứt đầu mẻ trán, đang được bà lang chữa chạy ra sao. Lúc qua bờ đầm Cút,
hai ngựa song đôi, Điền bảo:
– Chú thỉnh thoảng cũng
phải đáo về làng với thím ấy chứ?
– Tôi không xa anh em được.
– Hoàn lưỡng lự, – hay là, ta đưa lên đây cho tiện.
– Ấy, không được đâu. Đàn
bà trong quân là bất tiện lắm, – Điền vội can.
– Nhìn đi ngó lại, toàn
chỗ anh em, bà con cả, no đói có nhau, – Hoàn vô tư nói.
– Toàn bọn mục đồng mới lớn,
đang háu gái. Tự dưng mang mỡ đến miệng mèo, rồi mất công đi canh chừng à?
Nghe vậy, Hoàn phá lên cười.
Điền cũng cười theo. Tiếng cười sảng khoái của hai anh em vang động cả núi rừng,
khiễn lũ chim giật mình bay táo tác, mấy con thú hoang cũng chồm vội vào bụi
cây, náu mình.
Qua dốc Thung Lá, Điền
thúc ngựa đi trước, Hoàn lững thững cho ngựa đi bước một, bụng nghĩ, vướng vào
đàn bà, có khi lại hỏng việc lớn không chừng, nhưng cũng có cái hay hay… Hoàn mỉm
cười thú vị, nhưng chợt nghĩ đến đôi song kiếm treo cổ ngựa đá, cảm thấy bồn chồn
trong dạ.
Trong Thung Lá có một bà
già, y như thể từ cõi tiên giáng xuống, chạy chữa cho bọn mục đồng, mỗi khi ốm
đau, hay bị thương tích. Chúng còn trẻ, lại vào nơi lam sơn chướng khí, làm gì
chẳng dễ đau ốm, rồi lại hiếu động cưỡi trâu đánh lồng thếch lên, hoặc leo núi,
lội đầm, trèo cây, đủ trò.
Hoàn dừng ngựa dưới chân
núi Nguyệt, ngắm nhìn dãy núi bao bọc quanh thung, nom như dáng rồng chầu, hổ
phục. Cả năm ngọn núi sừng sững, uy nghi, tạo cho Thung Lá làm nơi trú quân dưỡng
bệnh an toàn, lại liền kề Thung Lau, nên tiện lợi mọi đường.
Hoàn thăm bọn ốm và đứa
ngã trâu. Bọn chúng thấy chủ tướng đến, thì tỉnh như sáo, chuyện rối tinh cả
lên. Đứa nào cũng thích lễ khao quân. Hoàn cười cười, nhớ trận chú đuổi chí chết.
Đoạn, cùng Điền gặp bà lang, tính chuyện hái thuốc và trồng cây dược liệu. Bà
lang cũng đã trồng một vườn, coi như thuốc tươi trữ sẵn, phòng khi có biến.
*
Trong bản doanh, Tú và Bặc
ngồi đối ẩm, bằng thứ chè núi. Tú chẹp miệng thưởng thức vị chè, rồi nói:
– Năm nay, Kỷ Hợi (939),
xứ Tĩnh Hải Quân ta có hai việc trọng đại: nhất là, Ngô Quyền xưng vương, gọi
là Ngô vương; nhị là, Động chủ Đinh Hoàn cưới vợ.
Bặc bảo:
– Đỗ Cảnh Thạc là người
Hán răng trắng, lại được Ngô vương phong chức Chỉ huy sứ.
Tú lại nói:
– Kể cũng đáng gờm. Phải
bảo Chủ tướng kíp cầu thân với Cổ Loa. Chả gì, phụ thân Chủ tướng cũng từng dưới
trướng Dương Đình Nghệ, mà Chủ tướng cũng bầu bạn với Ngô Vương, thuở hàn vi,
thế nào chẳng được thu nạp.
– Làm vương làm tướng gì
gì, thì cũng phải vây cánh. Vây cánh là lực lượng. Đến với Ngô Vương là phải chịu
dưới trướng chỉ huy của họ Đỗ, – Tú nói.
– Nghe nói, có người phải
luồn háng thằng hàng thịt(6), để mưu nghiệp lớn thì đã sao, – Bặc thở
dài, chép miệng.
4.
Điền phóng ngựa như bay
vào Thung Lau, hét toáng lên:
– Chủ tướng sinh
con giai rồi!
Cả đám mục đồng, từ các
lán trại cùng ùa ra, reo mừng. Hoàn lật đật đỡ anh xuống ngựa.
– Mấy giờ? – Hoàn khẽ hỏi.
– Đây, bu đã viết vào
đây, – Điền chiềng cánh tay ra. – Sợ tôi quên. Bu bảo, nhờ lão Bộc lập lá số
cho đích tôn.
Bặc bước ra, cùng kêu to:
– Giai Canh Tý (940) là
sang. Tên gì nào?
– Liễn, – chợt nhìn thấy
cái liễn đựng cơm nóng, Hoàn bèn thốt lên như vậy. – Đặt tên Liễn, vừa no nê
cơm sốt, lại suốt ngày được bưng bê.
– Đinh Liễn! – Lão Bộc bấm
đốt ngón tay, lẩm bẩm, – cũng số quân vương chứ chẳng bỡn.
– Thật là hổ phụ sinh hổ
tử, – Bặc vui ra mặt. – Mừng cho bằng hữu, – liễn, còn có nghĩa là đồ quý, được
tôn thờ..
– Nhà tôi có treo đôi liễn,
bằng gỗ quý, các cụ để lại mấy đời rồi, – Tú cũng góp lời.
– Phải, cũng có nghĩa là
đôi mảnh vải, đôi tờ giấy, đôi ván gỗ, để các cụ viết câu đối.
Quý lắm, – lão Bộc nắc nỏm.
Chiều đó, Hoàn phóng ngựa
về làng. Thế là ta đã thành bố trẻ con. Ngọc khuê, cốt táng hàm Thạch mã, Đinh
Liễn nữa là ba thứ báu vật của ta. Mai ngày, xông pha trận mạc, có mệnh hệ gì
thì cũng đã có chỗ chống gậy, mà là gậy tre hẳn hoi. Mới năm kia, cũng con đường
này, ta chạy trốn chú Dự. Năm nay, cũng con đường này, ta về thăm con đỏ. Một
cuộc chạy trốn mạng treo sợi tóc, cùng một chuyến thăm nhà thư thái như bay. Đời
người, qua cơn bĩ cực lại thái lai, rồi lại… Sao mà chú dữ như hổ, chỉ vì tiếc
một con trâu mà vung gươm lên toan hại cháu, may có rồng vàng cứu nạn. Nhưng
cũng tại ta, không xin chú trước, lại còn nói dối, đùa nhả, làm chú ngã suýt vỡ
đầu. Nghĩ vậy, Hoàn cười trừ, ra roi…
Vậy là, bọc hài cốt táng
mõm ngựa đá dưới lòng sông hẳn đã linh nghiệm rồi. Chẳng thế mà lúc nguy cấp, lại
xuất hiện Rồng vàng nổi lên, đón ta qua sông? Chỉ riêng hai cái chuyện Ngọc
khuê, với lời phán sãi chùa và Rồng vàng cõng qua sông cứu nạn, đã cho ta thấy
mệnh lớn rồi. Nay lại sinh con giai nữa, tốt số, kế nghiệp, quả là giời cho.
Qua chân núi Kỳ Lân, Hoàn
bái vọng lên hõm núi hình ngai vua khổng lồ. Mai ngày phát tích, phải trọng chốn
này. Bây giờ, phải tính đầu quân dưới trướng Ngô Vương, để có chỗ dựa chính
danh, rồi luyện quân chỉnh tướng cái đã.
Mái nhà tranh trên gò Bồ
Đề đã hiện ra ngay trước mặt. Tiếng trẻ khóc oe oe vọng ra, như lời con thơ
chào bố trẻ, khiến Hoàn xốn xang trong lòng. Về sau, vợ sinh thêm hai cô con
gái nữa là ba năm đôi, nhưng Hoàn không có niềm vui như đón con đầu lòng.
5.
Vào năm Kỷ Hợi (939), Ngô
Quyền lên ngôi. Năm sau, cho vời con giai bằng hữu Đinh Công Trứ là Đinh Hoàn
làm Nhiếp chính thứ sử, Ngự phiên đô đốc.
Thời gian học việc quan của
Hoàn, chỉ được dăm năm, đến khi Ngô Vương băng hà vào năm Giáp Thìn (944),
Dương Tam Kha cướp ngôi của cháu là Ngô Xương Ngập, thì Hoàn mất chỗ dựa, lại về
quê. Nhưng chỉ ngần ấy năm cũng đủ làm vẻ vang thêm danh tiếng Hoàn. Như con
chim bằng tung cánh, Hoàn ngao du khắp vùng Châu Hoan, Châu Ái, ra tận Đại La,
Phong Châu, Bố Hải Khẩu(7), Hải Đông… Không đâu là Hoàn không đặt
chân, kết bạn, học việc làm quan.
Ở đâu, Hoàn cũng thấy các
quan được ăn bổng lộc từ tô thuế qua thực ấp vua ban. Nơi nào nông dân cũng cần
cù khai hoang, phá ruộng, lập ấp. Thế thì, ta cũng phải cho bọn mục đồng khai
phá quanh vùng Thung Lau để làm ruộng, cấy lúa. Quân phải lam làm, tích trữ
lương ăn lúc giáp hạt. Quân cũng xuất thân từ đồng ruộng và sông ngòi trong
vùng, nên cũng thích bẫy chẫy chân tay cấy lúa, đánh cá. Rút kinh nghiệm đận
trước, bọn trẻ ngại việc bỏ về, nay phải đả thông cho chúng vỡ nhẽ mới được, thực
túc binh cường. Cái gì cũng vậy, thông cái đầu, mới nói chuyện động dụng chân
tay. Đi một ngày đàng học một sàng khôn là cái sự vậy, các cụ dạy cấm có sai
câu nào! Nghĩ vậy, Hoàn loại càng phấn chấn, cho lo công nghiệp của mình.
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
_________________
(1) nay
thuộc vùng Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh.
(2)
nay thuộc xã Gia Tân, huyện Gia Viễn; đối diện bên hữu ngạn
thuộc xã Ninh Giang, huyện
Hoa Lư, cùng tỉnh Ninh Bình.
(3), (4)
nay thuộc xã Gia Tiến, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
(5)
nay thuộc xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn; bên hữu ngạn sông Hoàng Long
là xã Trường Yên, huyện
Hoa Lư, cùng tỉnh Ninh Bình.
(6)
chuyện Hàn Tín (229-196 Tr.CN), thời Hán – Sở tranh hùng, bên Trung Quốc.
(7)
nay là tỉnh Thái Bình.
Phần thứ hai
DẤY BINH KHỞI NGHIỆP
Chương một
Hào trưởng sách Đào Áo
1.
VHSG- Một hôm, Hoàn cho
gia nhân lên Thung Lau, mời lão Bộc và bọn tâm phúc về Bồ Đề, bàn chuyện.
– Chẳng hay, chuyện gì hệ
trọng, mà chú cho gọi bầy tôi về, vừa chân ướt chân ráo đến nhà, Điền đã hỏi độp
luôn.
– Thì cứ từ từ hẵng nào,
mời lão Bộc cùng anh em uống chén rượu nhạt tẩy trần, rồi tôi thưa câu chuyện,
– Hoàn vẫy tay, gọi gia nhân hầu rượu.
– Bữa nay, chủ tướng
khách sáo quá đấy, – Bặc đùa.
– Chẳng là thế này, thưa
lão Bộc và anh em… Hôm rồi, các cụ bô lão sách Đào Áo(1), có ý tôn
vinh tôi làm Hào trưởng.
– Thế thì hay quá! – Điền
vỗ đùi kêu to.
– Nhưng nghĩ đi, cũng phải
nghĩ lại, nhìn trước cũng phải ngó sau. Năm nay, tôi hai mươi, cả tuổi mụ mới
được hăm mốt, làm bố trẻ con mới được ba, bốn năm. Nên nghĩ mình còn non nớt.
Chả nhẽ, lại dám ngang hàng với chú Thúc Dự.
– Cậu nghĩ thế cũng sâu,
nhưng mà chưa thấu. – Lão Bộc nhấp chén rượu, vuốt chòm râu thưa đốm bạc khề
khà nói, – các cụ dạy, con hơn cha là nhà có phúc; thiển nghĩ, Hào trưởng Thúc
Dự càng mừng, khi thấy con cháu phương trưởng cũng hởi lòng, nhớ câu chuyện ủy
thác của huynh trưởng năm nào.
– Tôi thấy, bằng hữu đã
làm thủ lĩnh bấy nhiêu năm, cai quản, huấn luyện trẻ mục đồng thành lính trận,
đâu phải dễ; vả lại, còn được tập ấm thời Ngô Vương, kém cạnh gì nữa nào, – Bặc
thong thả dãi bày tâm sự.
– Ôi dà, từ khi chú Dự thấy
rồng vàng cõng hiền đệ qua sông, đã sợ vãi cả ra rồi, đâu còn dám ho he, kèn cựa,
– Điền bô bô, nói trắng phớ ra vậy.
– Ấy chớ, – Hoàn vội giơ
tay can. – Tôi coi chú như cha. Việc này, bàn với anh em, rồi còn phải hỏi
ý chú.
– Chú đây, gọi chú thì có
chú đây! Dự đây! – Thúc Dự hồ hởi bước vào, – biết cả rồi. Mày, à quên, – Dự cười
đánh trống khỏa lấp, – Sứ quân nhận chân hào trưởng ấy là phải, chí phải!
Được lời như cởi tấm
lòng, cả bọn ồn ào cười nói.
– Hồi nãy, cậu Bặc nói đến
Ngô Tiên Vương, chợt nhớ cái sự phi thường của bậc hào kiệt, – lão Bộc lại nói.
– Tiên Vương sinh năm Mậu Ngọ (898), đến nay là Giáp Thìn (944), vị chi bốn
mươi bảy tuổi trời, – lão rân rấn nước mắt, bấm đốt ngón tay. – Nghe nói, lúc
ngài sinh ra, có ba nốt ruồi ở lưng. Thày tướng số đoán, về sau sẽ làm chúa một
phương. Quả là lời thần.
– Tôi nghe nói, ngài khỏe
lắm, cầm cái vạc mà giơ lên cao được. Thật là, sức khỏe vô biên, – Điền cũng
góp chuyện. – Mà mắt ngài sáng như sao, dáng đi khoan thai như hổ, chỉ tiếc đoản
thọ.
– Thế là, mới được dăm,
sáu năm trị vì thiên hạ, – Tú nói, vẻ luyến tiếc.
– Cũng con dòng cháu dõi,
– lão Bộc lại nói. – Con nhà hào trưởng Đường Lâm, phụ thân là Ngô Mân. Ngô
Tiên Vương sinh vào năm Càn ninh thứ năm, Quang hòa đời đầu Đường Chiêu Tông. Đấy,
cái chân hào trưởng không phải là thường, cậu chủ ạ.
Nghe vậy, cả bọn à lên,
mãi mới hiểu thâm ý, trong câu chuyện con cà con kê của lão Bộc. Thế rồi lão
còn kể về những năm tháng theo hầu Đinh Thứ sử bôn tẩu Cổ Loa, Châu Hoan, Châu
Ái, không đâu là không có lốt chân của người có đầu óc kinh bàng tế thế. Cả bọn
hiểu thêm về chuyện con dòng cháu giống, chứ không phải cái chuyện “Dần táng
Mão phát” được đâu.
2.
Từ năm Giáp Thìn (944),
Hoàn làm Hào trưởng sách Đào Áo, lòng người càng quy tụ. Các vị bô lão bảo
nhau:
– Hào trưởng, bây giờ, tiếng
vang ra khỏi sách Đào Áo, khi xưa có được Ngọc khuê, giời lại cho Rồng vàng
cõng qua sông, Ngô Vương vời cho tập chức Nhiếp thứ sử, Ngự phiên đô đốc. Vậy ắt
hẳn là số quân vương. Cứ xem cách dụ người, luyện quân thì rõ…
– Phải, ta phải bảo con
cháu đầu quân, kẻo về sau hối không kịp.
– Bữa nọ, tôi qua núi Kỳ
Lân, thấy có lão đánh cá trên khúc sông Hoàng Long, vừa gõ mạn thuyền, vừa ca rằng:
“Đại Hữu sinh vương, Điềm Dương sinh thánh”. Tôi toan ới vào mà hỏi sự tình xem
sao, thì bỗng nhiên sông nước mịt mù, làm tối tăm cả mặt mũi. Đến khi giời
quang mây tạnh, thì trên sông tịnh không thấy gì nữa. Nhưng lời sấm truyền tiếng
giời thì vẫn âm âm u u vọng vào vách núi.
– Đại Hữu là làng ta đây
rồi, ắt hẳn lời sấm ấy ứng vào Đinh Hào trưởng. Xem ra, không thể là ai khác được.
– Phải đấy, khi Hào trưởng
ra đời, lá sen trong núi hiện chữ “Vương” cơ mà. Nhưng còn Điềm Dương thì sao?
– Có là Điềm Dương là
làng Điềm, Điềm Giang, ngay dưới hạ lưu kia thôi. Nhưng ông Thánh nào nhỉ? Có dễ,
chưa hiển cũng nên!
Câu chuyện của các bô
lão, lập tức lọt tai trẻ mục đồng. Và từ bấy trở đi, ở đâu cũng đồn thổi câu sấm
đấy.
*
– Chết thật, quân lên
đông thế này, lấy lương cả Uy Viễn, Đào Áo cũng không xuể, – Điền lo lắng, nói
với Bặc.
– Thì ta nhờ lương sách
Bông của ông Dự, – Bặc tính kế. – Xem ra, từ khi thấy ông Rồng cõng Chủ tướng
qua sông, thì đã mười phần nể phục rồi.
– Tính độ nhật thì được,
chứ cứ ròng rã như tằm ăn rỗi thế này, thì núi cũng lở, phải không lão? – Điền
quay sang lão Bộc tham vấn.
– Bây giờ, – lão Bộc quài
tay sửa cái búi tó trên đầu đã nhỏ dần lại. – Cánh ta bàn với cậu Hoàn, chỉ lấy
bọn nhớn, đang vỡ tiếng, mặt mọc trứng cá giở lên, cho luyện tập tinh thông, rồi
lại thay lớp khác, giữ lại Thung Lau làm căn cứ. Còn lại, cứ cho đăng, luyện
xong là bảo về làng, khi động dụng mới gọi ra. Bọn để chỏm, thì cũng cho xem
luyện tập, khi thấy ham, ta phủ dụ cho về bú tí mẹ, đợi lúc có bắp tay, bắp
chân mới huấn luyện. Chứ cứ tràn lan như xúc đống hến thế này, khó lắm thay.
– Phải, tôi thấy kế này
hay, quả là lão đã theo hầu quan thứ sử, có khác, – Bặc ôm chầm lấy lão Bộc mà
tỏ nỗi vui mừng.
– Nhưng mà, tôi bảo là phải
bàn với cậu Hoàn cho nát nước ra hẵng, – lão Bộc rưng rưng, nhẹ nhàng gỡ tay Bặc
ra.
– Nói phải củ cải cũng
nghe, nhề, – Điền nháy mắt với Bặc, vẻ tinh quái. Chợt nhớ chuyện hôm nào, Hoàn
hỏi thấy đồ về chữ “Bặc”, Điền nghĩ bụng, thằng này cũng bợm, có khi nó còn vượt
mặt ta, không chừng. Thằng Hoàn bện nó hơn ta.
– Nghe nói, đợt này, chủ
tướng quyết tâm vận động bọn mục đồng khai ruộng, phát nương đấy! – Bặc bảo, –
đâu như, để bác Điền chỉ huy.
Nghe vậy, Điền ngửa cổ,
cười chảy nước mắt, nói:
– Tao chỉ huy xới cơm thì
nhọn, chứ cấy hái không phải việc của kẻ trượng phu, chớ coi thường nhau.
Bặc thở dài, bảo:
– Tướng không thông, thì
quân không động.
– A, tao có kế này, bảo
thằng Tú, – Điền cười đắc chí, – Nó thạo việc, mà lại khảnh ăn, chứ tao vào chỗ
kho đụn, khác nào chuột sa chĩnh gạo.
Lão Bộc cười hơ hớ, bảo;
– Hôm nay mới thấy cậu Điền
biến báo, cũng hăng ra phết!
Chương hai
Dương Bình Vương gây nên
mầm loạn
1.
Ngô Quyền lâm bệnh trọng,
kinh đô Cổ Loa buồn hẳn đi, từ lão ngư phủ đánh cá trên sông Hoàng Giang, đến
bà bán bún Mạch Tràng chợ Sa cũng rầu gương mặt.
Trong triều, từ Tổng quản
đến các ban văn, võ, tăng quan, ai nấy đều lo lắng. Nếu chẳng may, Ngô Tiên
Vương về chầu trời, thì lấy ai làm người kế nghiệp. Bởi, các hoàng tử còn thơ ấu,
chỉ sợ xảy ra chuyện tranh bá đồ vương thì ắt loạn lạc, nồi da xáo thịt. Lúc ấy,
bọn phương Bắc lại thừa cơ thôn tính, muôn dân lầm than. Phương Bắc, cái họa
ngàn đời, sểnh ra là nước mất nhà tan với chúng.
Nhà văn Vũ Xuân Tửu
Quan thái y bốc các loại
thuốc tốt nhất, để trị bệnh và tĩnh dưỡng long thể, nhưng Ngô Vương, bệnh tình
ngày càng trầm trọng. Biết mình khó qua khỏi, Ngô Vương bèn vời Dương hậu đến
bên, tâm sự và tính chuyện chọn người kế vị:
– Từ khi ta với nàng gặp
nhau trên cầu Ba Giăng, trong lòng vẫn đậu nguyên hình bóng nàng Dương Phương
Lan, ngày ấy. Thấm thoắt, mình đã có với nhau bốn mặt con, – nhác thấy bọn thái
y, thái giám lởn vởn, bèn phẩy tay đuổi ra, – nàng thấy chúng thế nào?
– Thiếp được hưởng ơn mưa
móc, như thế cũng là thỏa rồi. Nay long thể bất an, Tiên vương phải tĩnh dưỡng
mới được, – Dương hậu lệ đáp.
– Chính ta mới là kẻ phải
chịu ơn sâu của Tiết độ sứ. Hẳn nơi chín suối, ông ngoại cũng phù hộ cho bốn
cháu giai. – Ngô Vương nén tiếng thở dài, – hiềm một nỗi, chúng còn thơ dại. Nếu
ta mệnh hệ gì, thì nàng nương tựa và đâu?
Nghe vậy, Dương hậu khóc
sụt sùi, nói trong nước mắt:
– Tiên Vương chớ cả nghĩ
mà thêm bệnh, – Dương hậu lấy khăn lau nước mắt, nói. – Xương Ngập là cả, hơi
chậm, nhưng chậm chắc. Xương Văn là thứ, nhưng tinh nhanh từ bé. Còn hai đứa
Nam Hưng, Cảnh Hưng thì miệng còn hơi sữa, chưa biết thế nào.
– Chính ý ta cũng muốn hỏi
nàng như thế. – Ngô Quyền cựa mình ngồi dậy, Dương hậu vội dan tay đỡ, – xưa
nay, truyền ngôi cho con thứ, bỏ con trưởng, bao giờ cũng sinh loạn, mà thằng
Ngập thì e khó cáng đáng nổi đại sự quốc gia. Nàng cho gọi cậu Kha, mau!
Dương hậu vội bước ra
ngoài điện, sai người gọi Dương Tam Kha. Biết là việc kíp, Kha lật đật chạy
vào. Ngô Quyền trỏ Kha, nói trong hơi thở dốc:
– Ta ủy thác con côi cho
ngươi…
Ngô Quyền chưa kịp nói hết
câu, thì sức tàn lục kiệt, gục xuống. Dương hậu thét lên một tiếng, rồi cũng ngất
lịm đi. Dương Tam Kha hoảng sợ, gọi quần thần đến và thuật lại như thế, như thế…
Nghe vậy, ai nấy đều thương cảm.
2.
Khi chỉ có hai chị em
ngoài vườn cung hoàng hậu, Dương hậu khẽ nói:
– Theo ý các quan Thái
sư, Tổng quản, Thái úy, Phú quốc, Tướng quân… thì đều có ý đưa thằng cháu Ngập
lên ngôi.
– Không riêng gì thằng Ngập,
mà cả bốn đứa, tuy đều là hoàng tử con vua, nhưng vắt mũi chưa sạch, chơi còn
chửa xong, nói đâu chuyện trị vì thiên hạ, – Kha nói huỵch toẹt. – Ngôi vua của
anh rể, chẳng qua nhờ chị, mà bố truyền cho, vì lúc tôi còn bé, khác nào chúng
bây giờ. Tôi mà được như bây giờ, ngôi báu đâu đến họ Ngô?
– Nhưng mà, lúc lâm
chung, anh cậu đã trăng trối đó thôi? – Dương hậu nghe khẩu khí em trai, trong
bụng đã thập phần lo lắng.
– Thì tôi cứ làm hộ chúng
nó, đến lúc khô đầu khô sọ, tôi giả, – Kha lý sự cùn.
– Ngôi vua mà cậu làm cứ
như cái áo, thích ai thì trao được sao? – Dương hậu đã có ý bực, sao không nói
câu nhiếp chính cho thuận lòng quan, hợp ý tôi.
Có bọn thị nữ ra vườn,
hai chị em không cãi nhau nữa, nhưng xem chừng dã tâm cướp ngôi của Kha đã lộ
rõ như ban ngày, nên Dương hậu chỉ còn biết kêu trời. Chị em có chém nhau, cũng
chỉ chém đằng sống, chứ ai chém đằng lưỡi. Mà nghĩ cho cùng, thì cái chức Tiết
độ sứ Tĩnh Hải Quân, cũng là vua một nước, thì từ bố mình cơ mà. Nhẽ ra, để thằng
cả lên ngôi, mình ngồi buông rèm nhiếp chính mới hợp nhẽ. Chả gì, triều đình đã
là của nhà Ngô, mà mình xuất giá tòng phu, trao xương gửi thịt cho Ngô Tiên
Vương rồi, chứ còn của nhà Dương nữa đâu? Thằng Kha tiếm quyền thế này, không
khéo mà cậu cháu tranh giành nhau, làm loạn thiên hạ không biết chừng. Mình đã
gợi ý đến nơi cái chuyện nhiếp chính, thế mà nó bỏ ngoài tai…
Ý nghĩ mông lung, đưa bước
chân Dương hậu hoàng hậu dạo quanh Giếng Ngọc tự khi nào. Mỗi khi qua am Mỵ
Châu, nàng lại rợn tóc gáy, khi thấy pho tượng thờ là hòn đá hình người cụt đầu.
Dân Cổ Loa lưu truyền câu chuyện, hòn đá tượng Mỵ Châu trôi về đây thì dừng,
thiêng đến thế là cùng. Nghe nói, Hai Bà Trưng khi xưa đã giấu quân ngoài Đầm Cả.
Đêm, mơ thấy Mỵ Châu về kể chuyện oan tình và hứa sẽ âm phù diệt giặc. Hai Bà
Trưng đã mổ trâu cầu lễ, rồi đánh tan thành Luy Lâu là sào huyệt của Tô Định.
Nhưng An Dương Vương chém đầu nàng ở tận Diễn Châu, chỗ đèo Mộ Dạ kia mà, thì
hòn đá làm sao “trôi” được xa thế nhỉ? Dù sao, Mỵ Châu vẫn trở lại Loa Thành,
còn ta, binh biến xảy ra, thì biết dạt về đâu? Đột nhiên, bóng dáng cầu Ba
Trăng trên sông Đáy mờ mờ ảo ảo đâu đây, vụt hiện vóc dáng Ngô Vương thời trai
trẻ và tiếng từ trời cao vọng xuống: “Thằng Kha, gây mầm phản loạn, trong nhà
tương tàn, ngoài xứ binh đao”. Nghe vậy, nàng rụng rời chân tay, hồi lâu định
thần, thì tịnh không thấy gì nữa. Lòng dạ nàng rối bời, nghĩ đến Ngô Vương, thấm
thoắt thế mà mấy chục năm giời, qua nửa đời người, con tạo thật khéo xoay vần,
vương quyền như áng phù vân, thế mà ai cũng rắp tâm tranh cướp. Sao cứ phải cưỡi
lên đầu nhau mới là người ư? Các con mình rồi sẽ ra sao? Cậu mà nỡ hại cháu ư?
Tay phải chém tay trái à? Cái tiếng cướp ngôi của cháu, xấu xa truyền đời.
3.
Bọn Đinh Hoàn, Đinh Điền,
Nguyễn Bặc, Trịnh Tú kéo nhau lên Cổ Loa chịu tang Ngô Quyền, rồi muốn đi thăm
lại Thành Ốc, nhưng lệnh của Dương Tam Kha không cho.
Cả bọn buồn bực trở về.
Lão Bộc biết chuyện, bảo:
– Thời trước, lão theo hầu
quan Thứ sử, đã ở Cổ Loa rồi mà. Nghe dân chúng nói, thì thời Thục An Dương
Vương đã chuyển kinh đô từ Phong Châu về Cổ Loa. Khi xưa, vùng đất này có tên
Tư Long. Các cụ giải nghĩa là thế con rồng nằm suy tư điều gì đó. Vua đi thuyền
thám sát, theo sông Nhị, qua sông Thiếp, đến làng Tó thì dừng lại, lập một cái
chợ cho dân buôn bán. Thấy thế đất đẹp, bèn cho dựng thành. Thành có ba lớp gọi
là Ngoại, Trung, Nội chạy xoắn trôn ốc.
– Khi làm ấm sinh, tôi thấy
ở thế trũng thấp, lắm hồ ao mà đắp được thành, quả là kỳ tài, – Hoàn trầm ngâm.
– Nghe đâu, phải chở đất
từ núi Thất Diệu Sơn về làm, cách xa những mấy chục dặm đường. Chứ ban đầu, cứ
ngày đắp đêm lở, bảo là do yêu quái Kim Tinh phá, phải nhờ thần Kim Quy giúp sức
mới thành, – lão Bộc lại nói. – Nhưng quan Thứ sử nhà ta bảo, có khi do chân
thành đứng trên bùn, nên sụp lở mà thôi. Thành lũy, vững chắc phải từ cái anh
móng. Làm đầy tớ người khôn, học được nhiều điều hay lẽ phải, có khi nó trái
ngược với sử sách, – lão Bộc lại vuốt chòm râu thưa, vẻ tâm đắc. – Anh hùng là
kẻ làm chuyện ngược đời, phi phàm. Cứ như nước chảy bèo trôi, thì làm chi xuất
anh hùng?
– Hồi ở Châu Hoan, thầy đồ
bảo, chính thành Cổ Loa đã ba lần đánh tan quân Triệu Đà. Đà tức quá, nghĩ
cách, cho con giai là Trọng Thủy sang làm rể. Các quan can ngăn An Dương Vương,
sợ gian kế, nhưng vua không nghe, nên mới dẫn đến chuyện mất nước, rồi phải
chém con gái, – Hoàn vẫn đăm chiêu. – Nhưng tôi đồ rằng, tay Trọng Thủy lấy cớ
hôn nhân để thăm dò binh lực, bố phòng mà thôi.
– Chắc cũng sợ chuyện ấy,
nên thằng Kha không cho cánh ta xem thành, – Điền nói toạc móng heo.
Hoàn trố mắt nhìn Điền, bảo:
– Triệu Đà lấy được nước
ta, rồi xưng đế đầu tiên. Về sau, có ông Lý Bí cũng xưng Lý Nam Đế. Còn lại, chỉ
xưng vương mà thôi.
– Vương với đế cũng là
vua một nước thôi mà, – Điền phán.
– Anh thì cứ học trước
quên sau, thầy dạy, đế là con giời, quyền thế trùm thiên hạ. Còn vương cũng như
tiết độ sứ, vua nước nhỏ như chư hầu, – Hoàn giảng giải cho Điền nhớ lại.
– Tôi mà được Ngọc khuê,
lại có ông Rồng cõng qua sông, thì quyết xưng đế, chơi thiên hạ, – Điền thủng
thẳng nói, đầy ngụ ý.
Nghe vậy, cả bọn à lên
vui vẻ, cùng đổ mắt nhìn Hoàn, quên hẳn chuyện Dương Tam Kha. Hoàn mủm mỉm cười,
nghĩ bụng, còn chưa ai biết cốt táng ngựa đá và đôi song kiếm treo cổ ngựa nữa
đấy…
Cả bọn đang chuyện tào
lao, bỗng có tiếng quát to ngoài cửa:
– Chúng bay vẫn còn ngồi
đấy mà ba hoa xích đế à? Thằng Kha làm phản, cướp ngôi nhà Ngô rồi!
Chúng kinh hãi, nhìn xem
ai mà to gan lớn mật, dám quát cả Chủ tướng như vậy, thì té ra là Thúc Dự. Cả bọn
bật dậy như ngồi phải lửa.
– Chú bảo sao? – Hoàn thất
thanh hỏi.
– Sao với giăng cái nỗi
gì? – Dự ôm điếu cày, hút mấy điếu liền, lơ đãng đón bát nước hãm nụ vối mà
Hoàn cung kính mời, nhưng không uống, mà thong thả nói, – nó xưng là Dương Bình
Vương, lại còn nhận thằng Văn làm con nuôi, bảo là, khi nào lớn thì giả ngôi.
– Ối giời! – lão Bộc buột
mồm, kêu lên.
– Thế cũng tử tế! – Điền
ngây thơ nói.
– Tử tế cái chết tiệt, –
Dự mắng át đi. – Chúng bay biết không, bây giờ, chia năm xẻ bảy rồi: Ngô Nhật
Khánh giữ Đường Lâm, Phạm Bạch Hổ trấn Đằng Châu, Nguyễn Khoan lên Tam Đái, Trần
Lãm về Bố Hải Khẩu. Còn thằng Ngô Xương Ngập chạy xuống Trà Hương, nhờ cậy họ
Phạm…
– Loạn thật rồi, – Bặc lo
lắng nhìn Hoàn.
– Sao mà Giáp Thìn (944)
lại độc thế không biết? – lão Bộc ca cẩm trách trời. – Loạn Giáp Thìn. Năm
Thìn, năm Tỵ chị chẳng nhìn em…
*
Thúc Dự mỗi ngày hút hai
bữa thuốc phiện, buổi sáng hút trong nhà, buổi chiều ra bờ tre. Lâu ngày, chuột
trong nhà, rắn bờ tre đều nhiễm khói thuốc mà nghiện theo. Cứ đến bữa, chuột sắp
hàng chầu trực trên xà nhà, rắn quăng mình trên ngọn tre. Đến khi Dự hai năm
mươi, về chầu tiên tổ, trong nhà ngoài ngõ không ai nhả khói thuốc phiện nữa.
Thế là, chuột đói thuốc, ngã lăn xuống sàn như sung rụng; rắn nhớ chủ khoanh
tròn trên mộ mà chết theo. Thấy vậy, cả sách Bông, ai cũng bảo hào trưởng chết
thiêng…
4.
Ngô Quyền sinh ra Ngô
Xương Ngập là trưởng nam. Ngập sinh ra Ngô Xương Tỷ, con trưởng. Quyền làm vua,
gọi là Ngô Tiên Vương. Ngập chạy loạn, rồi trở thành Hậu Ngô, vắn số. Cũng năm
loạn Giáp Thìn (944), Ngô Xương Tỷ vào chùa Khai Quốc, ở thành Đại La.
Một hôm, hòa thượng Vân
Phong đang đi dạo quanh đầm Xác Cáo, bỗng thấy một chú bé, vẻ mặt khôi ngô, vai
khoác tay nải, chân đi dép da, sớm nhuốm vẻ phong trần, bèn cất tiếng hỏi:
– Tiểu đồng, chẳng hay
cơn gió nào đưa, mà lạc bước chốn đây? Quan lớn đâu?
– Bẩm, tôi gặp lúc vận hạn,
thì đi lang thang đây đó, chứ không theo hầu quan lớn nào sất cả, – Tỷ điềm
nhiên đáp.
Thấy chú trẻ ăn nói khúc
chiết, càng khiến Hòa thượng tò mò:
– Dám hỏi tên gì, người ở
đâu ta?
– Bẩm, tôi tên Tỷ, thường
được gọi là Ngô Xương Tỷ, từ Cổ Loa về, thấy chùa đẹp, hồ lớn thì nấn ná ghé
chơi.
– A, bần tăng có nghe về
dòng dõi Ngô Tiên Vương, – Hòa thượng reo lên. – Không ngờ lại được gặp cháu
đích tôn của Ngô Vương ở đây, thật là hạnh ngộ.
– Phải, chỉ vì người nhớn
tranh ngôi, mà sinh ra loạn, khổ lây cả bọn chúng tôi, – Tỷ nói như thể cụ non.
– Năm nay, Hoàng tử mấy
tuổi rồi? – Hòa thượng vẫn từ tốn hỏi.
– Bẩm, tuổi Tỵ, – Tỷ nhướng
mắt nhìn vị Hòa thượng, cảm thấy có sự tò mò thái quá.
– Thế là mười một, sang
mười hai tuổi rồi. Quý Tỵ (933), – Hòa thượng bấm đốt ngón tay, nheo mắt nhìn
ra mặt hồ đang xôn xao nắng gió.
Bất chợt, Tỷ hỏi:
– Ông sư ơi, hồ này tên
gì, rộng như bể vậy?
– Ngày xửa ngày xưa, gọi
là đầm Xác Cáo, nay gọi Lãng Bạc, – Hòa thượng khoát tay, chỉ một vùng sóng nước
mênh mông.
– Lãng Bạc, nghĩa là hồ đầy
sóng vỗ, phải không, ông sư?
Nghe Tỷ điềm nhiên hỏi, lại
tỏ ra có hiểu biết chữ nghĩa, nên Hòa thượng càng cảm thấy mến, ngĩ bụng, nếu
không loạn lạc, dễ chừng chú bé này đã là Đông cung thái tử rồi ấy chứ, nên từ
tốn nói:
– Phải, cái tên Lãng Bạc
do Mã Viện đặt, sau khi dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nhưng dân ít
dùng, mà vẫn gọi là Xác Cáo như xưa.
Hòa thượng chợt thấy nét
mặt Tỷ đanh lại, khi nghe câu chuyện đau lòng, rồi lại lân la hỏi:
– Xác Cáo, nghĩa là xác
con cáo à?
– Phải, chuyện dài lắm, –
Hòa thượng kéo Tỷ ngồi xuống tảng đá ven hồ. – Đầm này, có từ thời Hùng Vương dựng
nước. Nó thông với sông Hồng, ở bến Lâm Ấp, thuộc thôn Long Đỗ.
– Rốn rồng, – Tỷ buột miệng
và ngượng nghịu bỏ tay nải xuống bên tảng đá.
– Phải, – Hòa thượng âu yếm
xoa đầu Tỷ. – Thời xưa, có con Hồ Ly Tinh chín đuôi.
– Tức là cáo, – Tỷ lại
chêm vào, giải nghĩa.
– Phải, – Hòa thượng vỗ
vai Tỷ, vẻ khích lệ. – Nó biến hóa khôn lường, làm hại dân lành không biết bao
nhiêu mà kể. Thế mà chúng dân phải tôn thờ nó như thần thánh. Đầm này, chính là
hang của nó. Dân tình khổ quá, mới ngộ ra tình cảnh, bèn kêu thấu tai Long
Quân. Long Quân đã dâng nước công phá, mãi mới yên. Dân chúng đặt tên các làng
quanh hồ để nhớ tích xưa. – Hòa thượng giơ tay chỉ, – mãi tít mờ xa kia là Hồ Đẫng.
– Tức làng Hang Cáo.
– Phải, rồi kia là làng Hồ
Thôn, Hồ Khẩu… – Ồ, hoàng hôn đã xuống rồi, – Hòa thượng hồ hởi reo lên.
Hòa thượng Vân Phong chỉ
về phía tây, mặt trời đang xuống, trải ánh vàng ánh bạc lên muôn vàn lớp sóng.
Tỷ háo hức, nhìn không chán mắt, thốt lên:
– Y như tiên cảnh!
– Phải, ngày xưa, chỗ mặt
giời lặn kia là Già La Động, đối diện, – Hòa thượng xây lưng lại. – Nha Lâm Động,
phía nam đằng này, có Bình Sa Động. Thời ấy, người thưa, thú lắm, rừng cây um
tùm rậm rạp.
Có đám ngư phủ chèo thuyền
đánh cá về qua, cất tiếng chào Hòa thượng và nhìn Tỷ cười cười, vẻ thân thiện.
Tỷ cũng tươi nét cười, chào lại.
– Tối rồi, Hoàng tử không
chê nhà chùa chật hẹp, thì xin mời nghỉ tạm, – Hòa thượng ngỏ lời.
– Đa tạ! – Tỷ chắp tay
vái lậy.
Hòa thượng Vân Phong dẫn
Ngô Xương Tỷ men theo con đường nhỏ, ra chùa. Chùa Khai Quốc(2) tọa
lạc trên khoảng đất rộng ven hồ, nom như bông hoa khổng lồ, nở trên hòn đảo.
*
Thấm thoắt thế mà đã năm
năm trôi qua, kể từ khi Tỷ qua chùa Khai Quốc buổi đầu tiên, rồi duyên may làm
kẻ tu hành. Bây giờ, Tỷ đã có pháp danh Ngô Chân Lưu. Hòa thượng Vân Phong tu
luyện theo phái Vô ngôn thông, ngồi thiền thì quay vào vách, gọi là Quan bích.
Đầm Xác Cáo quanh năm lộng
gió. Sống ở chùa Khai Quốc, như thể thoát tục trần gian, bước vào một thế giới
khác. Suốt ngày học kinh kệ, rồi thì làm vườn, ủ tương… khiến Ngô Chân Lưu
không còn vương vấn bụi trần.
Bỗng một hôm, Hòa thượng
Vân Phong gọi Ngô Chân Lưu vào trai phòng, trò chuyện:
– Nay, triều Ngô đã khôi
phục, con tính thế nào? – Hòa thượng ướm hỏi.
– Thưa, con là kẻ tu
hành… – Chân Lưu cúi đầu, đáp rành rẽ.
– Năm nay Canh Tuất
(950), con bước vào tuổi thập lục. Ta không giữ, nếu con muốn trở về gánh vác
giang san, thì cái chức Đông cung thái tử, kế vị ngôi giời, nằm trong tay con.
– Khi con khoác tay nải đến
nương bóng chùa này, thì phụ thân con về Trà Hương, kế mẫu sinh Ngô Xương Xí,
nay cũng chừng năm, sáu tuổi rồi, – Chân Lưu nói lảng, ý không màng danh lợi,
ví dù không có mình, thì đã có em giai cùng cha khác mẹ, lọt sàng xuống nia.
Hòa thượng Vân Phong gật
gù, nhìn Chân Lưu, lòng thầm thán phục.
Chương ba
Đinh Hoàn dấy binh
1.
Trên gò Bồ Đề, Hoàn hỏi
lão Bộc và anh em tâm phúc:
– Bây giờ, cả cái đất nước
Tĩnh Hải Quân này, có mấy sứ quân rồi?
– Đấy, cậu tính, – lão Bộc
bấm đốt ngóm tay. – Năm Giáp Thìn (944), có bọn Ngô Nhật Khánh nổi lên ở Đường
Lâm là một, Phạm Bạch Hổ chiếm cứ Đằng Châu là hai, Trần Lãm đứng chân ở Bố Hải
Khẩu là ba, Nguyễn Khoan xưng hùng ở Tam Đái là bốn. – Lão Bộc nhăn trán nghĩ,
– à không, Nguyễn Khoan vào năm Tỵ (945) chứ.
– Chứ còn gì nữa, – Bặc
nói. – Năm sau, Ất Tỵ (945), ba anh em con nhà Nguyễn Nê, từ phương Bắc xuống,
lập ba sứ quân.
– Phải! – Điền cũng xen
vào, – thằng Khoan đóng Tam Đái, thằng Tiệp đóng Tiên Du, thằng út Nguyễn Siêu
đóng Tây Phù Liệt.
– Vị chi là sáu thôi à? –
Tú hỏi. – Tôi dám chắc là còn nữa, mà ta chưa biết mà thôi.
– Cả vùng như lòng bàn
tay, quân đông, lại phải gây thanh thế, giấu sao nổi, – Điền bô bô.
– Chưa hẳn, – Hoàn nói. –
Cũng như ta giấu quân luyện binh ở Thung Lau đấy thôi. Quả thực, quân do thám của
ta còn yếu. Phải làm sao, nhất cử nhất động ở những đâu, những đâu, đều phải tỏ
tường. Ta cũng riêng một cõi, xứng một sứ quân, mà lại là sứ quân đầu tiên ấy
chứ. Vị chi là bảy sứ quân cả thảy.
Nghe vậy, cả bộn ồn ào hẳn
lên, những gương mặt tỏ chí anh hùng rạng rỡ cười cười nói nói .
– Hôm nay, Chủ tướng tính
chuyện này, là có ý sao? – Bặc tò mò hỏi.
– Tôi nghĩ, – Hoàn đưa mắt
nhìn anh em tâm phúc. – Từ khi, Ngô Tiên Vương băng hà, dẫn đến chuyện Dương
Tam Kha cướp ngôi cháu, khiến trăm họ oán thán, quan quân không phục, nơi nơi
đóng binh cát cứ. Nếu ta chỉ nhăm nhắm mỗi chuyện luyện binh, hết năm này sang
năm khác, tính từ Đinh Dậu (937) đến giờ, cũng đã mười bốn mười lăm năm rồi, phỏng
có ích gì? Ứng với quẻ Càn, trong Bát quái thần toán tâm thuật, cứ kiên
trì luyện quân chờ thời mãi. Giả như sinh con gái, thì cũng đến tuổi cập kê,
búi tóc cài trâm mà gả chồng, kẻo ế.
– Vậy, khác gì ta chửa
mãi mà không đẻ, uổng…
Nghe Điền bỗ bã nói, cả bọn
không nhịn được cười.
– Ấy bởi vậy, tôi định
bàn với anh em, ta quyết khởi binh, tỏ mặt với thiên hạ.
Hoàn vung tay đứng dậy, đằng
đằng khí thế. Cả bọn cũng đứng dậy theo. Bặc bảo:
– Nhưng, Thung Lau nhỏ hẹp,
chỉ làm chỗ luyện binh giấu quân thì được. Đại Hoàng thì trũng thấp, việc hành
binh tiến công đều khó.
– Ta luyện quân cả thủy,
bộ, mã, ngưu cơ mà, lo gì? – Điền cậy thế anh cả hờ, oang oang nói phứa, như thể
chỗ không người.
– Vẫn biết thế, – Bặc từ
tốn. – Nhưng như thế, khác nào múa võ trong buồng hẹp. Tôi thấy, bên kia sông
có đất Yên Thành rộng rãi, lại có núi non bao quanh như thành lũy, sông Sào Khê
bao bọc như hào.
– Phải, phải! – Tú vội
lên tiếng. – Đúng thế, đấy là đất Trường Châu, tôi thuộc như lòng bàn tay, chỗ
nào có quèn vượt núi, chỗ nào có sông chui qua hang, núi nào có hang động là
tôi biết cả. – Tú lấy đóm vạch xuống nền nhà đất nện, – làng Yên Thành là trung
tâm, có những bốn thôn đặt tên đúng hướng Đông, Đoài, Nam, Bắc. Đây là sông Sào
Khê, – Tú vẽ một vòng, – nối với sông Hoàng Long. Bên này là bến Long Độ, núi Cắm
Gươm của ông Dự đây. Qua sông Sào Khê, có cầu Dền, cầu Đông nối sang làng Yên
Thượng. Mạn đoài tây có núi Đìa, núi Chợ.
– Lại có cả chợ nữa à? Có
lòng lợn tiết canh không? – Điền hỏi Tú, nhưng mắt nhìn Hoàn.
– Phải! – Tú Tú cắm que
đóm, – đây, chợ ở chỗ này. Cái gì cũng bán, ê hề…
Hoàn nghe Điền gợi về món
khoái khẩu của mình, nhưng chỉ lặng lẽ nuốt nước miếng, tịnh không nói không rằng.
Sau khi nghe Tú chỉ khắp lượt, lão Bộc mới nghiêm giọng nói:
– Năm nay, Tân Hợi (951),
việc lớn nên làm. Vả, cậu chủ cũng hăm bảy, hăm tám rồi, sắp ba mươi, tam thập
nhi lập. Sức cường, tính mạnh, thời đến, binh nhiều, lương đủ, đất hiểm, lòng
người quy tụ, hỏi còn chờ gì nữa?
2.
Năm Tân Hợi (951), bọn
Hoàn kéo đại quân sang Yên Thành, nhưng vẫn để lại mấy toán ở Thung Lau, Thung
Lá, Đại Hữu làm thế ỷ dốc. Dạo một vòng quanh Yên Thành, sang Yên Thượng trở về,
Hoàn bảo:
– Ta phải gấp dựng thành.
Thành làm ba lớp như Cổ Loa.
– Phải, – Bặc thuận theo.
– Đây ít đầm lầy hơn Cổ Loa, ta cứ xây nối các núi lại với nhau là được tòa
thành, vững như bàn thạch.
– Gì mà rộn! – Điền can,
– nào ai đã dám động đến cái lông chân của mình.
– Cậu nói thế là chưa phải,
– lão Bộc nghiêm giọng. – Chẳng nói đâu xa, năm ngoái đây thôi, Dương Bình
Vương sai con nuôi là Ngô Xương Văn đi đánh bọn Đường, Nguyễn. Nhưng đến Từ
Liêm, quan quân bàn nhau quay lại đánh úp Cổ Loa, lấy được thành, tự xưng Nam Tấn
Vương, lại mời cả anh về làm Thiên sách Vương, dựng nên triều Hậu Ngô. Anh em
nhà ấy, nghe thế lực cậu nhà ta, thế nào chẳng kiếm cớ tiến binh đến đánh,
không phòng bị, giở tay không kịp.
– Cũng chưa biết ngô
khoai thế nào, – Tú nói. – Nhưng có quân phải lập doanh dựng thành cái đã. Giặc
đến mới công thủ được chứ, phải không nào?
Tú vỗ vai Điền. Điền gật
đầu cười, chừng đã nghe thủng câu chuyện.
– Ý tôi định thế vầy, –
Hoàn trịnh trọng nói. – Giao cho bằng hữu Trịnh Tú việc xây thành đắp lũy. Bằng
hữu Nguyễn Bặc thì chia quân ra đóng những nơi hiểm yếu, lập đội thủy binh trên
sông Sào Khê. Huynh trưởng Đinh Điền thì lo tuần phòng xung quanh, từ Hoàng
Long, ra sông Đáy, xuống cửa bể Non Nước, Thần Phù, vòng về động Thiên Tôn. Còn
lão Bộc với tôi, lo đôn đốc trong, ngoài. Vậy hẵng nhề?
– Ăn đâu? Ngủ đâu? – Điền
lo lắng thiết thực.
– Thì cứ tạm trú quân nhờ
nhà dân, lên hang núi, cắm trại các cửa thành, – Hoàn nói.- Lương thì đang chở
thuyền từ sách Bông, Đào Áo. Mai ngày, cho quân sĩ nhàn rỗi cày cấy thêm thắt
vào nữa. Vả, hôm xưa ở Thung Lau, ăn búng báng còn được nữa là…
Nghe vậy, ai cũng cho là
phải, người nào việc ấy, y lệnh thi hành.
*
Đại bản doanh đóng ở làng
Yên Thành, xung quanh có núi Rù và núi Phi Vân che chắn.
Hoàn đứng giữa sân, nhìn
lên ngọn núi có hình yên ngựa, nói:
– Ta lấy núi kia làm án.
– Phải, lão nghe nói là
núi Mã Yên, hay còn gọi Mã Yên Sơn, – lão Bộc phụ họa. – Lão lên núi đấy rồi,
ngắm bao quát cả vùng. Núi bên kia có cái hang to lắm, lưng chừng núi, dân bảo
là động Am Tiên.
– Lão còn mạnh gân cốt lắm,
– Hoàn khen, động viên.
– Khi xưa, ta theo hầu,
quan Thứ sử bảo, làm tướng phải am tường thung thổ, đường đi lối lại, tính chỗ
tiến thoái.
– Thì tôi cũng vào cái động
ấy rồi, – Hoàn tự đắc. – Mã Yên, phải bảo Bặc đặt trạm gác. Nhất cử nhất động
dưới này, trên ấy thấu cả.
Đột nhiên, lính do thám hớt
hải chạy về báo tin dữ:
– Anh em nhà Hậu Ngô cất
quân tiến đánh Yên Thành.
Hoàn vội gọi các tướng lại,
bàn cách bố phòng.
– Đang làm dở dang cả, –
Tú càm ràm. – Thế mà nó dã mò đến ngay được.
– Nó tiến quân là đúng
binh pháp đấy, – Điền ra vẻ hiểu biết. – Địch quân mới đóng doanh trại, chưa kịp
phòng bị.
– Thế mà bảo xây thành đắp
lũy còn bàn dùn, – Tú cự nự.
– Thôi mà, – Bặc dàn hòa.
– Có khi phải dùng quân Thung Lau, Đại Hữu đánh tập hậu, không cho chúng vượt
Hoàng Long. Một mặt, tôi đốc chiến bọn thuyền bè trên sông Sào Khê và sông
Chanh đổ ra, đánh vỗ mặt chúng ở ngay bến Gián Khẩu.
– Ta sẽ tiếp ứng tự trong
thành, – Hoàn bảo. – Chặn ở cửa bể Non Nước và động Thiên Tôn, giao cho anh Điền
nhá. Còn chỗ Thung Lau, Đại Hữu dẫn quân về thì giao hai chú lính. Tú thì vừa bảo
vệ thành, vừa đốc thúc việc xây thành.
Tú bảo:
– Tôi sẽ ém một cánh quân
chỗ núi Cắm Gươm, núi Ông Mõ, xóm Lạc Hối. Quân thung và quân làng thì bảo hai
chú lính mang chặn ở núi Thiệu, chỗ làng Tri Hối, mé tả ngạn Hoàng Long. Tất cả,
chung quy lại cũng là để giữ thành, chặn giặc. Có giữ nổi thì mới có cái mà
xây.
Bọn Hoàn vừa cắt đặt
xong, thì đã nghe tin quân Hậu Ngô, cả hai cánh thủy, bộ đã đến Khuất. Bặc vội
điều quân bộ giữ hữu ngạn ngã ba sông Hoàng Long với sông Đáy. Còn quân thủy
cho thuyền xuôi Hoàng Long, cập bến Gián nghênh chiến. Một cánh quân thủy xuôi
sông Đáy, nấp sau con bơn nom như cái đảo giữa sông, làm mũi vu hồi. Điền cho
quân trấn giữ cửa bể Non Nước và động Thiên Tôn, đề phòng quân Hậu Ngô theo
sông Đáy đổ xuống, đánh mũi vu hồi từ phía đông vào thành Yên Trường. Hoàn thì
chia quân đóng giữ các cửa, chặn nơi hiểm yếu trong thành.
*
Cánh quân Hậu Ngô men
theo tả ngạn sông Hoàng Long, vừa đến đầu làng Tri Hối, đã bị quân Cờ Lau ém ở
núi Thiệu, xông ra đánh chặn. Quân Hậu Ngô bị bất ngờ, khiến đám tiền quân tan
tác, đầu rơi máu chảy khắp chân núi. Nhưng cậy thế đông, cả bọn Hậu Ngô hè nhau
tấn công. Quân Cờ Lau núng thế, bỏ trận, chạy ngược lên phía thượng lưu. Quân Hậu
Ngô rầm rập đuổi theo, ngựa hí vang trời, gươm khua sáng lóa. Bỗng có tiếng
súng lệnh nổ, quân Tú lùa trâu từ núi Cắm Gươm xông ra, quân Cờ Lau nhất loạt
quay lại cùng đánh. Cả đàn trâu, con nào con nấy buộc giáo quanh mình, tua tủa
như lông nhím. Đuôi trâu buộc chùm gai bồ kết. Khi nghe súng nổ, bọn lính mục đồng
nhất tề vỗ vào mông trâu. Đàn trâu cùng đập đuôi, bị gai nhọn đâm đau điếng, tức
khí lồng thếch cả lên, lao vào quân Hậu Ngô. Quân Hậu Ngô hoảng hồn, tháo lui,
bị trâu giẫm, giáo đâm chết vô kỳ kể, tiếng kêu la váng sông dậy đất. Thắng thế,
quân Tú đuổi đánh rát, quân Hậu Ngô dồn cả về núi Thiệu, cố thủ.
Bọn ngưu binh đánh một trận
thí mạng. Quân Cờ Lau khoái chí cười ngất. Nhưng cuối cùng, quân Hậu Ngô từ
trên núi Thiệu bắn tên dài, ném những búi rơm bốc lửa xuống đàn trâu, khiến con
bị chết, con hoảng sợ quay đầu lại, lao bừa vào quân mình. Bọn Cờ Lau thất
kinh, chạy ngược trở lại núi Cắm Gươm. Kỵ binh Hậu Ngô hò reo đuổi sát, vung
gươm chém quân Cờ Lau chết như ngả rạ. Tú mở đường máu, vội nhảy xuống thuyền,
chèo ra xóm Lạc Hối ở giữa sông, cố thủ. Nơi đây, là tiền đồn của Trường Châu,
nên Hoàn đã cho vượt thổ, đắp lũy, đào hào phòng thủ, ngay từ lúc dựng thành
trong làng Yên Thành. Do vậy, cánh quân bộ của Hậu Ngô không thể vượt sông được.
Cánh quân thủy Hậu Ngô
theo đường sông Đáy, tiến vào Hoàng Long, bị đoàn thuyền của Bặc chặn ở ngã ba
Gián Khẩu, đánh cho rơi bời. Một cánh bỏ chạy, xuôi xuống cửa bể Non Nước,
nhưng bị toán quân của Bặc phục ở con bơn giữa sông, bất ngờ lao ra, dùng cung
nỏ bắn ào ào, khiến quân Hậu Ngô ngã lăn xuống sông chết không biết bao nhiêu
mà kể. Nhưng quân Hậu Ngô cứ dồn xuống mãi, khiến quân của Bặc không chống đỡ nổi,
phải chạy xuôi, hợp quân với Điền. Cả hai cánh quân của bọn Cờ Lau cùng quyết
chí bảo vệ cửa bể, khiến quân Hậu Ngô bị đánh bật trở lại. Điền cho bắn tên lửa
xuống các chiến thuyền. Quân Ngô vừa dùng giáo dập lửa, dùng khiên đỡ tên, liều
chết chèo thuyền lao vào bờ, đông như kiến cỏ. Quân Điền thua to, phải chạy về
động Thiên Tôn, nhưng cũng thất thế, tàn quân phải lui sát hang Luồn, Ghềnh
Tháp tử thủ. Bên trong, Hoàn đốc quân giữ chặt cửa Đông.
Cánh quân thủy Hậu Ngô ở
ngã ba Gián Khẩu, được tiếp ứng thêm, đánh bật đại quân Bặc, tiến vào sông
Hoàng Long. Đoàn thuyền nan nhỏ bé như những chiếc lá tre của quân Cờ Lau không
chống đỡ nổi đoàn thuyền chiến vỏ gỗ, lừng lững như đàn trâu lội nước của Hậu
Ngô, nên vỡ trận, tháo chạy lên Ngã ba sông Chanh. Bọn Hậu Ngô từ nấp bên núi
Thiệu bắn tên lửa sang, khiến thuyền của bọn Cờ Lau cứ phải nép vào hữu ngạn mà
tránh, không tác chiến được. Cuối cùng, phải bỏ căn cứ Ngã ba sông Chanh, chạy
lên ngã ba Sào Khê, phối hợp với quân Trịnh Tú ở Lạc Hối, làm lá chắn cuối cùng
ở vòng ngoài.
Hôm sau, quân Hậu Ngô thủy,
bộ cùng phối hợp tác chiến, đánh dữ dội từ sáng đến trưa. Quân Cờ Lau thất thủ
Lạc Hối và Ngã ba sông Sào Khê. Bặc và Tú phải dẫn tàn quân chạy vào thành,
cùng bọn Hoàn, Điền cố thủ Cầu Dền, Hang Tó, Thành Dèn, Cổ Giải, Quèn Vông,
Quèn Dót…
Từ trong thành, Hoàn lệnh
cho quân lính sử dụng mấy thứ vũ khí hạng nặng phóng giáo, ném đá, tung cầu lửa
vào trận địa địch, khiến quân Hậu Ngô kinh hồn táng đởm. Nhưng bởi địa thế chật
hẹp, vũ khí không phát huy được hết uy lực. Quân Hậu Ngô bao vây tứ phía, hè
nhau bắn tên, ném đá vào thành, khiến quân Cờ Lau núng thế, cứ phải chúi đầu
vào hốc đá, góc thành mà tránh. Chúng lại bắn tên lửa vào doanh trại của lính Cờ
Lau, nhà cửa của dân làng Yên Thành. Quân hai bên đánh nhau loạn cả lên, khói lửa
bốc cháy ngút trời. Tiếng kêu la vang động cả thung lũng núi.
Bặc múa cây huyết đương
thương lăn xả vào đám quân Hậu Ngô, khác nào cầm dao phát vườn chuối. Điền vung
chùy đá đập đầu quân địch, khác nào lấy vồ đập củ nâu. Hoàn hăng hái vung gươm
đốc chiến, chạy hết cửa nọ đến thành kia, bộ giáp phục ám khói. Bỗng một mũi
tên cắm phập vào bắp chân, khiến Hoàn khuỵu xuống. Vừa hay lúc nguy cấp, Đỗ
Thích xuất hiện, liều mình xông tới cõng chủ tướng, chạy vào trong thành. Quân
Hậu Ngô thấy vậy, hò nhau túa vào. Bọn Bặc, Điền, Tú cố sống cố chết chống đỡ,
hồi lâu mới đẩy được chúng ra.
Quân Hậu Ngô vây áp. Ngô
Xương Ngập trèo lên núi, quát tháo, chửi mắng Hoàn:
– Thằng mục đồng kia,
tính mạng chúng bay như cá để trên thớt, sao không đầu hàng cho mau!
Hoàn nén đau, cự lại:
– Mày ngu, nên bị cướp
ngôi. May mà có thằng em nhân đức cướp lại được, gọi về cùng hưởng lộc. Mày
không biết nhục, lại còn dám ăn nói càn rỡ làm vậy?
– Thằng bố mày theo hầu
tiên vương ta, ăn lộc nhà Ngô, sao dám giở mặt chóng lại triều đình?
– Sao mày hàm hồ quá thế?
Nhà mày bị Dương Tam Kha cướp ngôi, trăm họ cát cứ không phục, chứ ta đâu có chống
lại Ngô Tiên Vương, ân nhân của thân phụ ta.
– Mày không vào chầu, lại
còn dấy quân Thung Lau, dựng thành đắp lũy ở đây, thế là mưu phản, chứ còn nói
gì nữa?
Hai bên chửi nhau hồi
lâu, ai cũng có lý lẽ cả. Ngô Xương Văn nghe thấu, trong bụng nghĩ, có khi thằng
Hoàn không chống ta thực, chỉ do ghét Dương Tam Kha mà thôi, bèn cho mời anh về
trại.
Trận địa im ắng, lão Bộc
bàn với Hoàn:
– Lão xem Ngô Xương Văn
là kẻ biết điều. Nghe nói, khi Dương Tam Kha bị đánh đổ, quan quân đòi giết di,
trừ hậu họa. Nhưng Văn bảo, người này là cậu ta, lại là bố nuôi ta nữa, không
thể làm chuyện thất đức được. Bèn giáng Kha làm Chương Dương Công, cấp cho thực
ấp bên sông Hồng. Rồi nó lại mời anh giai về cùng làm vua. Vậy, ta nên viết thư
cầu hòa, để chúng bãi binh.
– Chưa đánh đã hàng, nó
khinh! – Điền bực mình, nói.
– Nhưng quân ta không nhiều,
lại bị bao tổn không phải là ít, lương cũng cạn dần. Nó vây mãi, thì sức cùng lực
kiệt, đánh rốc một trận, ta chạy đâu? Chi bằng như ý lão Bộc, viết thư cho thằng
Văn, đánh vào chỗ lòng nhân của nó, bảo toàn binh lực ta cái đã, – Bặc cắn môi,
đắn đo từng lời.
Hoàn cho là phải, bèn viết
thư, buộc vào tên bắn ra. Bọn Văn, Ngập bắt được thư, bàn với nhau:
– Nó núng thế cầu hòa, ta
cứ vây chặt, rồi đánh rốc một trận là xong, – Ngập hăng hái tính kế.
– Nhưng sợ nó cố thủ giữ
chân mình, rồi ngầm xui bọn Khánh, Hổ, Lãm, Thạc với ba anh em con nhà Nê mà
đánh úp Cổ Loa, thì anh em ta về đâu? – Văn nhíu mày suy tính.
– Ừ nhẩy! – Ngập giật
mình. – Hoàng đệ mà không nhắc, thì ta quên khuấy đi mất chuyện đó, – Ngập thực
thà nói. – Nhưng ta cứ ép chặt, bảo nó đưa thằng Liễn sang làm con tin, mới rút
quân. Ta giữ thằng con trưởng ấy, ắt hẳn nó không dám động đến Cổ Loa.
Văn nghe theo kế ấy, liền
viết thư bắn vào trong thành.
Bọn Đàm thị nghe chuyện
anh em Hậu Ngô, đòi đưa Liễn sang làm con tin, thì khóc ầm cả lên. Lão bộc phải
ra sức phân giải:
– Nam Tấn Vương Ngô Xương
Văn là người nhân từ. Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập là con trưởng của Ngô
Tiên Vương. Tiên Vương lại là bằng hữu của quan Đinh Thứ sử. Khi xưa, vương lo
tang lễ chu đáo đấy thôi.
– Nhưng mà, ông ấy chết rồi!
– Đàm thị thực bụng nói, vẻ mặt đầy lo lắng, – nhỡ thằng Ngập làm xằng thì sao?
– Thiên Sách Vương có đứa
con cả, tên Tỷ, cũng cùng trà tuổi với cậu cả Liễn nhà ta, đang tu chùa Khai Quốc,
trên thành Đại La. Nhẽ ra, cậu ấy đóng Đông cung thái tử ấy chứ, – lão Bộc vẫn
kể lể con cà con kê, để cho Đàm thị nguôi ngoai.
– Chuyện đấy, có liên can
gì nào? – Đàm thị vẫn bồn chồn.
– Thế mới gọi là khơi
chuyện con trẻ như thế, như thế, đánh vào lòng người, để nó không nỡ sát hại cậu
nhà, mà còn ra lệnh bãi binh, thì thành mới yên. Bọn ấy mà xông vào, có mà lanh
tanh bành hết.
Trong khi bà nội và mẹ lo
thắt ruột, thì Liễn lại tỏ ra bình thản, thậm chí, có phần thích thú, khi được
dự trò mạo hiểm của người lớn. Hoàn hỏi:
– Mày đi chuyến này là cứu
bà nội, cứu cả nhà ta, cả lão Bộc, cả các bác đây nữa, – Hoàn chỉ sang Điền và
Bặc, Tú.
– Cũng như đi chơi núi
thôi mà, có gì mà rộn, – Điền động viên.
– Thế thì bác đi đi, – Liễn
vô tư đáp.
– Nó không dám chứa bác,
sợ bác bóp d., chứ không thì…, – Điền cười cười gãi tai, tiện thể cài lại búi
tóc.
Liễn toét miệng cười,
theo sứ giả lên ngựa, ra khỏi thành.
Khi tóm được Liễn trong
tay, Ngập bảo:
– Treo thằng này lên cây,
thách bố nó, nếu không mở cổng thành, thì ta bắn chết con nó, xem sao.
Bọn lính bèn treo Liễn
lên cành cây và gọi vào thành:
– Bọn mục đồng kia, nhìn
đây! – Chúng giật dây cho Liễn quay như thể quả thị trong rọ, – bọn bay không đầu
hàng, thằng nhóc này sẽ khốn, thằng Hoàn mất đứa chống gậy.
Tiếng than khóc trong
thành vọng ra từng hồi. Bọn Ngập đắc chí. Bỗng trên cành cao, Liễn kêu to:
– Chết cũng không sợ!
Hoàn nhìn con, tưởng như
đứt từng khúc ruột, nhưng nghe Liễn nói vậy, bèn nháy mắt với Điền và ra oai
phát lệnh, nói rõ to, cốt cho bọn Ngập nghe tiếng:
– Quân bay, nhằm thằng Liễn,
bắn. Đằng nào nó cũng bị hành chết. Ta quyết giữ thành!
Bọn lính chần chừ, Bặc
nháy Điền. Điền hiểu ý, liền dương cung, bắn liền mấy phát vào cành cây treo Liễn.
Văn thấy vậy cả kinh, vội cho thả Liễn xuống. Ngập tức giận nói:
– Hoàng đệ sợ nó à?
– Làm thế thất đức quá! –
Văn phân trần, – nó cũng như thằng Tỷ, thằng Xí nhà mình. Vả, con nó còn bắn bỏ,
thì to gan lớn mật vô chừng, không thể dọa như với bọn này được đâu, hoàng
huynh ạ.
Bởi lo bị đánh úp kinh đô
Cổ Loa, nên anh em Hậu Ngô Vương vội vã rút quân, mang theo Liễn. Thành Cờ Lau
nhờ vậy mà thoát vây.
Chương bốn
Nương tựa Trần Công
1.
Sau trận đánh của anh em
Hậu Ngô, Hoàn tỏ ra lo lắng, bỏ công tốn của hàng chục năm giời để luyện quân tập
trận, nhưng thành bằng cái đấu, lại nằm thế đất hiểm, thế mà suýt thất thủ, nếu
không có thằng Liễn thế mạng làm con tin. Binh lực đâu mà mộng giấc bình thiên
hạ? Thì ra, chỉ cơ giời chưa đủ, mà còn thực lực nữa. Biết tính sao đây?
Hoàn cùng Điền, Bặc, Tú
lên núi Mã Yên. Cả bốn tháo gươm, ngồi xuống tảng đá trên đỉnh, nhìn xuống
thung lũng, thấy cảnh thành quách, doanh trại, làng mạc tan hoang mà bùi ngùi.
– Trận đầu thế vầy, chẳng
hiểu là thắng, hay bại? – Điền phân vân.
– Thắng, bởi giữ được
thành, – Tú giơ tay chỉ các đoạn thành đang xây dở dang, có chỗ bị đánh sập. –
Nhưng chỉ đau nỗi thằng cu phải đi làm con tin.
– Thế, mới hỏi thế… – Điền
vẫn tỏ ra ưu tư.
– Chẳng qua, giời thử
lòng kẻ anh hùng mà thôi. Còn thằng Liễn, sớm muộn cũng giở về. Tôi nghĩ, thằng
Văn không phải là kẻ cạn tàu ráo máng, – Bặc nói.
– Giờ, tính sao? Anh em?
– Hoàn buồn bã nói.
Cả bọn biết ý, hùn theo ý
Bặc.
– Thành này, tuy thế hiểm
yếu, – Bặc cắn môi, nhìn núi Chợ chon von, một lúc mới lại nói. – Nhưng quân Cờ
Lau của ta chưa qua chinh chiến bao giờ, mà quân chúng lại đông gấp bội, được
luyện rèn trận mạc, từ thời Ngô Vương. Bởi vậy, ta hòa là thắng.
– Bọn chúng lợi thế mang
danh quân triều đình, – Tú nói. – Chính danh là điều rất quan trọng trong việc
dùng binh, cũng như dựng nghiệp. Ta có lợi là dân thổ địa, dựa vào núi giữ
thành, nương sức dân lấy lính. Nhưng nếu chúng huy động các sứ quân cùng vây
đánh, thì thành này khác nào trứng để đầu đẳng.
– Giờ, tính sao, anh em?
– Hoàn nhắc lại câu hỏi đang đau đáu trong lòng.
– À mà này, – Điền vỗ đùi
reo lên như bắt được vàng. – Cái bận tôi canh cửa bể Non Nước, thấy mấy cái
thuyền to dạt vào, hỏi ra mới biết là dân Bố Hải Khẩu. Bọn họ mách, Trần Công
Minh sứ quân binh nhiều, lương lắm, lại có cả thực ấp bên Lạc Đạo(6)
nữa đấy. Nhưng chưa kịp làm thân, thì bọn Hậu Ngô đã tướn xuống, tôi đành bảo họ
chèo đi, kẻo trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết. Xem chừng, Bố Hải Khẩu sung túc
hơn cánh ta thực. Hay là, ít nhiều hiền đệ cũng quen biết, ta sang nhờ một chuyến,
khéo lại hay, đang bĩ cực chuyển thái lai không chừng?
– Ừ, hay đấy, – Bặc cũng
hùa theo, như chết đuối vớ được cọc. – Hồi Chủ tướng được Ngọc khuê, đã từng lặn
lội đến vùng đất Xám đấy thôi.
– Phải, – Hoàn hồ hởi ra
mặt. – Vùng Xám ấy gắn bó với Trần Lãm. Cứ như ông giời sắp đặt ấy nhề? Nhưng
ví dù có đi, thì vẫn phải giữ Thung Lau làm căn cứ, Đại Hữu và Yên Thành
làm thang mộc. Đến khi mạnh
chân khỏe tay, ta giở lại chốn này. – Hoàn nhìn anh em tâm phúc, hỏi, – nhưng
ai sẽ đi một chuyến sang đấy trước, vừa dò bụng người ta, vừa xem thung thổ ra
sao?
– Tôi liều một chuyến
nhá, – Điền sốt sắng, – biết đâu, lại gặp cánh thuyền bể bữa nọ, càng hay.
– Được thế thì còn gì bằng,
– Hoàn nói. – Huynh trưởng mang theo lão Bộc. Lão là người biết việc, lại chín
chắn, – Hoàn có ý lo tính bộc trực của Điền, nên muốn có người chế ước.
2.
Điền và lão Bộc đáp thuyền
to, đem theo bọn lính, thạo nghề sông nước, lại mang mấy con dê, vài chum mật
ong và rượu, để làm quà ra mắt Bố Hải Khẩu.
Cả một đoạn tràng giang,
từ sông Sào Khê, qua cửa sông Chanh, đến bến Gián Khẩu, ra cửa bể Non Nước còn
ngổn ngang thuyền chìm, giáo gãy, khiến ai nấy đều mủi lòng, thương lính Cờ
Lau, nhớ dân phu Đại Hoàng, Trường Châu xấu số. Những cái xác chết trương, nổi
lềnh phềnh cả bên vở, bên bồi, quẩn vào thuyền, bọn lính phải lấy sào đẩy ra.
Xác dân phu, xác lính Hậu Ngô và Cờ Lau, tất thảy đều miệng loe ống nhổ, lộ hàm
răng đen. Trên đồng, đen đặc những xác người, xác trâu, xác ngựa bốc mùi thối
inh, làm mồi cho lũ quạ và chó hoang rỉa thịt. Quạ bay đen trời, cất tiếng kêu
man rợ. Bọn chèo thuyền, không ai nói lời nào, không ai dám nhổ bọt, không ai
dám bịt mũi. Con thuyền trôi đi trong niềm thành kính và sợ hãi.
Ra bể, gió phóng khoáng,
mát lành. Cả bọn thở phào, khoan khoái và giương buồm. Buồm no gió, thuyền lướt
băng băng. Ngồi trên mui, ngắm cảnh bể khơi, Điền hỏi lão Bộc:
– Lão có biết cái tay Lãm
này không?
– Cái hồi theo hầu quan
Thứ sử, lão có gặp đôi ba lần. Bởi cả hai quan đều dưới trướng Dương Đình Nghệ
mà. Về sau, ông ta được Tiết độ sứ cho hưởng thực ấp ở Kỳ Bố Hải Khẩu. Nghe
nói, chăn dân tốt, nên được lòng triều đình lắm, – lão Bộc nói rành rẽ.
– Tôi chỉ nghe, nó cũng
có công giúp Ngô Quyền đánh trận Bạch Đằng, – Điền bỗ bã.
– Ấy chết! – Lão Bộc nghe
Điền nói có điều khiếm nhã, thì chột dạ, nhắc nhở, – cánh ta đi chuyến này,
ngang bằng đi sứ, cậu phải giữ mồm giữ miệng mới được.
Điền nghe vậy, bặm môi,
ngồi im.
Thuyền cập cửa sông, vùng
đất Bố Hải Khẩu hiện ra mênh mông. Chợ Bo tấp nập trên bến dưới thuyền. Điền
đánh tiếng cho Trần Lãm. Lãm họp các tướng lại bàn. Viên phó tướng nói:
– Bọn mục đồng Cờ Lau lâm
trận “Quả địch bất chúng”(7), vừa bị anh em Hậu Ngô đánh cho tan
tác. Chắc hẳn, chúng sang cầu viện chi đây?
– Hậu Ngô đã bắt thằng Liễn
làm con tin, rút về Cổ Loa rồi, – Lãm nghiêm giọng.
– Thế thì chúng còn sang
đây làm gì?
– Thì ta cứ đón tiếp, xem
ý tứ thế nào đã. Khi xưa, ta với Đinh Thứ sử cùng là nha tướng của Tiết độ sứ
Dương Đình Nghệ. Nay, sứ giả của Đinh Hoàn đến, – Lãm kéo dài câu “sứ giả”
có ý hài hước, – ta không tiếp sao tiện? Chả gì cũng thêm bạn bớt thù là thượng
sách. Vả, ta cũng đã có chủ ý, thôi cứ lạt mềm buột chặt.
– Tay này được Ngọc khuê,
có mệnh lớn, phải thận trọng mới được, kẻo rước hổ vào nhà.
– Thì ta cũng thêm vây
cánh, – Lãm cười vang. – Giời cho rồng thêm vây, hổ thêm cánh, hà cớ gì mà
không nhận?
Nghe chủ tướng nói vậy, cả
bọn cùng cười, hùa theo. Nhưng chúng không biết, trời cho Trần Lãm, hay cho
Đinh Hoàn?
*
Điền đang sốt ruột chờ hồi
đáp của Lãm, thì gặp ngay bọn thuyền cá hôm nào. Hỏi ra mới biết, chúng là người
nhà Lãm, bèn dẫn vào ngay. Dân chúng thấy quân Cờ Lau khiêng chum nhớn chum bé,
dắt dê nhỏ dê to vào phủ, cứ ngỡ là đám dạm hỏi Trần nương, liền nhanh chân
loan báo rầm cả lên. Bọn Lãm vừa nghị sự xong, chưa kịp cho quân ra đón, thì đã
nghe ngoài tường, tiếng người nói lao xao, tiếng dê kêu hoan hỷ; ngó ra, thấy bọn
khiêng chum trùm vải đỏ, dê trắng phủ khăn vàng nghễu nghện vào sân. Lãm thất
kinh hỏi:
– Ai cưới hỏi ở đâu mà lại
lạc vào phủ ta?
Bọn người đánh cá trở về,
vội báo như thế, như thế, khiến Trần nương dở khóc dở cười chạy ra xem, rồi lại
tụt vào buồng. Lãm vỗ tay cười to:
– Khéo khen quân Cờ Lau
chúng bay, toàn làm việc lạ đời. Phàm chuyện gì cũng kinh thiên động địa.
Trăm sự khởi đầu nan, lão
Bộc máy Điền, ghé tai nói nhỏ:
– Việc thành đến bảy, tám
phần rồi.
Điền và cả bọn vui ra mặt.
Đến khi Điền ngỏ ý với Lãm, xin cho đám quân Cờ Lau tá túc, học đòi binh pháp,
để giúp triều đình, thì Lãm liền nhận lời, mời Hoàn đưa quan quân, gia quyến
cùng sang Bố Hải Khẩu dưỡng quân rèn binh.
– Nghe nói, Đinh Hào trưởng,
– Lãm gọi Hoàn một cách trang trọng, – khi được ngọc khuê, chẳng đã lui về vùng
đất Xám của ta rồi đó sao? Chuyến này, hẳn ông giời sai khiến cho ta được gặp
trưởng tử(4) của Đinh Thứ sử. Hào trưởng được rồng cõng qua sông,
không khéo chuyến này, rồng ấp cũng nên?
Trần nương nghe vậy trong
lòng háo hức lạ thường, muốn nhìn mặt Hoàn ngay cho tỏ tường. Ngọc khuê này, rồng
vàng cõng này, cầm quân Cờ Lau này… thực là được giời giúp, nhưng sao thất thủ
Trường Châu? Hay giời thử lòng chàng, anh hùng đa nạn mà lại.
3.
Trần Lãm chiếm cứ Bố Hải
Khẩu, gồm cả vùng Kỳ Bá và tây nam Trà Lý(5). Kỳ Bố là kinh đô miền
đông, có bốn cửa thành gọi tên theo hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Trong thành, có
ngôi chùa lớn gọi là Trung Kinh Tự. Cửa Tây, nơi đóng quân, gọi là khu An Tập.
Lãm còn cho dựng cầu Nhân, cầu Nghĩa, để chiêu mộ hiền tài.
Nghe bọn Lão Bộc, Điền bẩm
báo về việc Lãm và Bố Hải Khẩu, đầy vẻ thiện chí, Hoàn bèn lệnh cho tướng sĩ
kíp lên đường.
Bọn Cờ Lau chia làm hai
đường thủy, bộ hành quân tới Bố Hải Khẩu. Lãm thân ra đón ngoài Kẻ Bo. Bọn Cờ
Lau chở theo giàn phóng lao, súng bắn đá, máng ném cầu lửa, khiến quan, quân,
dân chúng Bố Hải Khẩu đổ ra xem, vô cùng ngưỡng mộ.
– Tướng quân chia hai đường
thế này, đủ thấy là người anh hùng nhìn xa trông rộng, – Lãm hồ hỏi đón chào,
nhưng cũng nói câu phủ đầu.
Nghe vậy, Hoàn chột dạ, vội
nhảy xuống ngựa thi lễ, và khiêm nhường nói:
– Kẻ hèn mọn này, phải đến
tá túc Minh Công, là ngang với bày tỏ cả gan ruột của mình rồi, đâu dám so đo
tính toán.
– Không ai bỏ hết trứng
vào một giỏ, phải không nào? – Lãm như đi guốc trong bụng Hoàn và cười phớ lớ,
dắt tay giới thiệu với các quan văn, võ cùng dân chúng. – Đây là Đinh
Hoàn làm Hào trưởng sách Đào Áo, cầm quân Cờ Lau, từng được tập ấm Nhiếp thứ sử,
Ngự phiên đô đốc, dòng dõi nhà quan. Nay chư quân sang đất ta tham quan, giao hảo,
thực là đất lành chim đậu.
Nghe vậy, quan quân, dân
chúng cùng reo vui.
– Anh em chúng tôi đến
nương nhờ Minh Công. – Hoàn chắp tay kính cẩn, – được đón tiếp trọng thị thế vầy,
trong lòng cảm kích vô cùng. Ơn này, không biết lấy gì đến đáp cho đặng?
Lãm nghe vậy, cười bảo:
– Sớm mai tốt ngày, ta muốn
làm lễ tế cáo trời đất, kết nghĩa Trường Châu với Bố Hải Khẩu. Nghe nói, quân Cờ
Lau đông như kiến, khỏe như trâu. Vậy Hào trưởng cho quân lính đắp cái đài cao
chừng một trượng, cũng là để làm đài quan sát luôn thể, ở phía tây thành, được
chăng?
Bọn Cờ Lau lệnh, chỉ nội
một đêm, đã quật đất đắp xong đài cao, phía tây thành, khiến
Lãm và quân Kỳ Bố vô cùng
thán phục, gọi là đống Bo(8).
Sau lễ tế cáo trời đất,
Lãm dẫn Hoàn vào bàn tiệc và mời quan quân cùng nâng chén; đoạn bảo:
– Từ nay, Đinh Hào trưởng
cùng ăn, cùng ở với ta, coi như người nhà. Nay ta ban chức Bộ lĩnh, hưởng chút
lộc gọi là…
Quan quân hai bên cùng
tung hô, cuộc vui hạnh ngộ tưởng chừng bất tận. Từ đấy, họ cùng chức của Đinh
Hoàn được gọi luôn thành họ và tên là Đinh Bộ Lĩnh.
*
Bữa trước, khi Điền và
lão Bộc trở về, báo tin vui như thế, Hoàn bèn họp các tướng lại, bàn soạn:
– Tuy phải sang nương nhờ
Trần Minh Công, nhưng vẫn để một đội quân và gia quyến ở lại thành này. Như vậy,
lòng dân mới không hoang mang. Đi tất, người ta lại tưởng mình bỏ thành mà chạy,
khó lúc giở về. Một đội vẫn giữ Thung Lau và Đại Hữu để tính kế lâu dài.
– Phải chia quân làm hai
cánh thủy, bộ đồng hành, – Bặc khẽ nói.
– Chí phải, – Hoàn thoáng
nghĩ, hiểu ý Bặc.
– Lách cách quá đi mất, –
Điền cho là sự nhiêu khê, không cần thiết.
– Đây là phép dùng binh.
Vả, không ai cho hết trứng vào một giỏ, – lão Bộc tỏ ra tinh ranh.
– Quân Thung Lau phải
chuyên cần luyện binh. Quân Thung Lá lo giồng, chế thuốc, tích trữ lương thảo.
Quân Trường Châu phải gắng sức xây thành cho vững. Tất cả hậu phương, ta nhờ Trịnh
Tú lo cho mới được, – Hoàn nhìn Tú đầy tin tưởng, có ý gửi gắm, phó thác.
Tú chắp tay, y lệnh.
– Nguyễn Bặc dẫn quân đi
đường thủy cùng huynh trưởng Đinh Điền.
Hai tướng chắp tay, y lệnh.
– Còn ta cùng lão Bộc và
Đỗ Thích đi đường bộ. Hẹn gặp ở Bố Hải Khẩu, không được sơ suất.
Các tướng cùng hô: “Tuân
chỉ”.
Từ khi dấy binh, Hoàn
chuyển sang xưng “ta”, chứ không xưng “tôi” như trước nữa. Quan quân cùng hiểu
ý, nên nay nghe lệnh mới hô câu “tuân chỉ”, khiến Hoàn bâng khuâng, thấy vị thế
của mình xác lập đã được trọng vọng.
– Sang xứ lạ, anh em phải
giữ gìn từ lời ăn tiếng nói, đến cách ứng xử. Tất cả phải nghiêm quân lệnh, ai
không tuân phải chịu phạt, – Hoàn tỏ ra từng trải, dặn dò anh em tâm phúc và
quan quân.
Bởi vậy, lúc nghênh đón
quân Cờ Lau, Lãm mới nói câu ấy, khiến ai nấy đều giật mình. Đấy là cái tài cầm
quân, dùng người của Lãm. Quả là, khôn đâu đến trẻ… Lãm nói vậy, vừa tỏ thiện
chí, lại vừa có tính răn đe, cảnh báo. Viên phó tướng của Lãm cũng lấy làm tâm
đắc, nể phục chủ tướng của mình.
*
Được lời của Trần Lãm,
Đinh Bộ Lĩnh hạ lệnh quân lính Cờ Lau cùng luyện tập với quân Bố Hải Khẩu.
Chúng lại cùng giúp dân làm ruộng, đánh cá, phơi muối, giồng cói, khai hoang bờ
bể, mở rộng đất đai… Chẳng bao lâu, hai bên thân tình như anh em trong đại gia
đình. Bộ Lĩnh cũng viết thư, giao cho Điền về Yên Thành đón mẹ, vợ và hai con
gái sang đoàn tụ. Đinh Bộ Lĩnh đóng quân thủy ở Lạc Đạo, nơi đỗ thuyền chiến gọi
là Đồng Bến(9); đoạn, lại liên kết với bọn thổ hào họ Đinh trong
vùng là Dương Xá, Uy Linh, Đại Mộc, Bắc Phương,
4.
Khi trước, Lãm nghe danh
tiếng Đinh Bộ Lĩnh đã cảm phục, nay thấy người thực việc thực, lại càng nể trọng
bội phần. Xem ý con gái út Trần nương cũng phải lòng Bộ Lĩnh, thì Lãm lấy làm
vui sướng lắm. Trai anh hùng, gái thuyền quyên sánh đôi là hợp ý giời, thuận
lòng người. Đến khi Bộ Lĩnh nhờ lão Bộc ngỏ ý, thì Lãm đồng ý ngay và tác hợp
cho.
Đinh Bộ Lĩnh bàn với mẹ
và vợ, gả hai con gái của mình, cho Trần Thăng là con cả và Trần Nguyên Thái là
con thứ của Lãm. Từ đó, thông gia hai nhà như một, quân Cờ Lau và quân kẻ Bo,
nhờ vậy mà ngày càng gắn bó hơn. Lãm, vừa là ân nhân, vừa là nhạc phụ của Đinh
Bộ Lĩnh. Bộ Lĩnh vừa là con rể, lại vừa là thông gia của Trần Lãm. Do vậy, cách
cư xử, xưng hô nhiều lúc khiên cưỡng, bất tiện, nhưng không ai lấy đó làm điều
phiền phức. Người đời nói, yêu nhau chín bỏ làm mời.
Một bận, thừa lệnh Trần
Lãm, Đinh Bộ Lĩnh sai tướng Lê Hoàn đi đánh chiếm vùng Canh Nông, Đôn Nông, Phú
Nông, để mở rộng bờ cõi cát cứ. Nhưng Lê Hoàn lại bị bọn Trịnh Lương, Trịnh
Nguyên, Trịnh Ninh, Trịnh Khang đánh cho đại bại. Phạm Phòng Át cũng cất quân
vượt sông Luộc, bao vây. Lê Hoàn thua chạy, bỏ mũ ở làng Kênh, vứt áo ở làng Nếnh
cũng không lừa được quân địch. Đang lúc nguy kịch, ngàn cân treo sợi tóc, thì bỗng
có Đặng Công, nhảy ra cứu giúp. Nhờ đó, Lê Hoàn thoát hiểm.
Đặng Công người làng Tạ
Xá, sức khỏe vô địch, đã từng đấm chết hổ, cắp bò nhảy qua mương, dân chúng thường
gọi là Bò Đen
5.
Ngô Xương Ngập bị bệnh thống
phong, các đốt ngón chân, ngón tay nổi cục lên như củ gừng, củ nghệ, đau nhức
vô cùng, thuốc thang mấy cũng không khỏi. Mọi việc triều đình, Ngập phó thác cả
cho Văn. Mang tiếng là hai anh em cùng làm vua, thiên hạ gọi là Thiên Sách
Vương và Nam Tấn Vương, nhưng quyền hành chỉ có hiệu lực quanh vùng Cổ Loa mà
thôi. Giả như thằng Tỷ không đi tu, thì chức Đông cung thái tử làm gì chẳng về
tay nó. Tu chùa Khai Quốc, tận Đại La, thấm thoắt thế mà đã chục năm rồi, vị
chi đã hăm mốt tuổi, chẳng biết khi nào về. Thằng Xí là con thứ phi, mới chục
tuổi đầu, tuy khôi ngô, nhưng còn vắt mũi chưa sạch, không biết mai ngày, có
làm nên cơm cháo gì không? Nhớ khi Ngô Tiên Vương về chầu tiên tổ, cậu Dương
Tam Kha cướp ngôi của mình, khiến mình phải chạy về Trà Hương nhờ vả Hào trưởng
Phạm Chiêm. Thế mà ông cậu còn ba lần sai quân đi bắt mình, may thoát được.
Văn là phận em, nhưng biết điều, phải mình, khi lật được Kha rồi, thì giết
quách cho xong, lại còn ban chức với thực ấp mà làm gì? Nếu không có Văn, mình
cũng khử thằng Liễn, phòng hậu họa. Sao nó cứ rước cái mệt nhọc vào thân. Mình
là anh, cùng làm vua, nhưng lý ra, nó phải theo ý mình chứ, quyền huynh thế phụ
mà. Nhưng nó lại có vẻ ngọng nhạnh, nếu không kiếm cớ trừ đi, thì khó giữ ngôi
báu cho mình, chứ đừng nói chuyện truyền cho con cháu nữa. Mà làm không khéo, lại
mang tiếng bất nhân, anh được vời về cùng làm vua, lại còn giết em sao? Ở đời,
quả là khó thực, cứ chằng lằng dây mơ rễ má, chẳng rạch ròi cho mà quyết. Thằng
Tỷ đi tu cũng có cái lý của nó, nhưng nào bằng làm vua, người chả đời bảo, sướng
như vua đấy thôi. Ngập càng nghĩ quẩn càng buồn bực, bách bệnh cùng phát, đến
năm Giáp Dần (954) thì băng.
Nhưng có những điều, tuy
là anh em ruột thịt, sống với nhau một nhà, lại cùng trị vì thiên hạ, nhưng Ngập
không hiểu hết về Văn. Cũng năm Giáp Dần (954) ấy, khi thủ lĩnh vùng Thao Giang
có ý không thuần phục triều đình Cổ Loa, đã bị Văn chém chết. Dù sao, thiên hạ
cũng phục Văn ở cái đức. Chỉ dưới thời Văn, thì Ngập mới được ở cùng ngôi mà
thôi. Chuyện đó, từ xưa chưa có bao giờ. Nhờ Văn thì Liễn mới thoát chết. Và
cũng chính nhờ Văn mà Hoàn mới còn. Nếu nghe theo Ngập, đánh phứa một trận, làm
cỏ Yên Thành, thì trên đời làm gì có Đinh Bộ Lĩnh nữa. Âu cũng là mệnh trời cả.
Sau khi Ngập chết bệnh,
Văn dâng biểu sang vua Nam Hán là Lưu Thịnh, xin sắc phong. Thịnh thuận cho,
bèn sai sứ giả Lý Dư mang đến tận nơi. Nhưng rồi Văn nghĩ lại, chẳng lẽ, mình
đường đường là Nam Tấn Vương, lại đi xin xỏ, khác chi hàng phục quân giặc đã bị
ông cha đánh tan trên sông Bạch Đằng, năm Mậu Tuất (938) hay sao? Thế là, Văn bảo
quan quân chặn sứ giả lại, không cho vào Cổ Loa, lấy cớ là đất nước loạn lạc,
khó bảo toàn cho sứ giả…
Năm Ất Sửu (965), Văn
thân cầm quân đi đánh bọn Ngô Nhật Khánh, ở thôn Đường. Khánh bỏ chạy. Văn thu
quân về kinh đô.
Dạo ấy, bọn Nguyễn Khoan
xưng là Nguyễn Thái Bình, làm loạn ở vùng Gia Loan – Tam Đái. Tin tức tới tấp
báo về kinh đô. Tham tá Lã Xử Bình tâu lên. Văn lại cầm quân đánh dẹp. Từ Cổ
Loa, Văn chia quân làm hai cánh. Cánh bộ, nhằm hướng núi Tam Đảo, rồi ngoặt xuống
đánh vu hồi. Cánh thủy ngược sông Hồng đánh lên. Văn bảo:
– Hai cánh quân, khác nào
ngón cái và ngón trỏ cùng quặp vào, thì cái quả na Tam Đái chẳng vỡ nát sao?
– Chuyến này, phải bắt thằng
Khoan về hỏi tội, làm cho Nam Tấn Vương khó nhọc, – Lã Xử Bình tâng bốc. –
Nhưng cũng phải đề phòng hai thằng em nó là Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du và Nguyễn
Siêu ở Tây Phù Liệt, thừa cơ đánh úp kinh đô.
– Ta đã phòng bị cả rồi,
– Văn tự đắc. – Vả, ta hành binh bí mật, lại thần tốc, nội trong ba ngày là bắt
được thằng Khoan mà thôi.
Bọn Văn cho quân thủy bộ
cùng tiến, vây áp tận vào sào huyệt. Nhưng Khoan cậy thế hiểm, cho quân lính lẩn
hết vào làng, lúc ở bụi tre chiến lũy, lúc trong rừng rậm. Quân của Văn đang đi
đánh người, lại bị người đánh, rồi trốn biệt, khác nào trò ú tim. Nhưng cái trò
ú tim đó của Khoan, không những gây hoang mang mà còn làm thiệt hại cho quân
triều đình, không phải là ít.
Văn tức, xua quân ào ạt
tiến vào làng, đốt phá, giết chóc không nương tay. Quân Khoan vẫn kiên trì kiểu
đánh trộm, rồi trốn. Tiếng ngựa hí, tiếng gươm khua, lửa cháy lẫn tiếng người
la hét hỗn loạn khắp làng trong rừng ngoài.
Bỗng đánh nhoàng một cái,
Văn trúng mũi tên từ bụi tre bắn ra, ngã nhào xuống ngựa. Bọn Lã Xử Bình liều
chết xông vào, vực Văn ra khỏi trận. Khi chúng rút mũi tên từ cổ họng Văn ra,
máu trào phun như cầu vồng, tưới ướt đẫm cả áo giáp, nhuốm đỏ chiến bào. Văn tử
trận. Bình tò mò cầm mũi tên lên xem, thấy có hai chữ “Thái Bình”, mà rụng rời
cả chân tay.
Căn cứ Gia Loan – Tam Đái
của Khoan là một con nhím tàng hình, nhưng bọn Văn lại tưởng quả na cho kẻ móm
răng xơi cũng được, nên tổn thất nặng nề. Thương thay cho Văn, một kẻ nhân từ
và chí khí, mà chết bất đắc kỳ tử. Từ đấy, nhà Ngô tận số!
6.
Khi Đinh Hoàn dẫn đại
quân sang Bố Hải Khẩu, nương tựa Trần Lãm, đã bảo Tú ở lại, lo việc tu bổ thành
trì, xây dựng doanh trại, tạo lập cung điện, mai ngày trở về sẵn nong sẵn né.
Một hôm, Tú đang chỉ huy
đám lính thợ bắc cầu Dền. Cả bọn loay hoay mãi mà không sao bẩy được phiến đá
dày như cái sập, to như cái chiếu để làm mặt cầu, bắc qua sông Sào Khê, nối giữa
hai làng Yên Thành và Yên Thượng. Bất chợt, thấy cái thuyền nan, từ sông Hoàng
Long chèo tới. Trên khoang thuyền là một chàng thư sinh, mặt mũi khôi
ngô, thân hình tuấn tú. Nhìn thấy cảnh bắc cầu đá, thư sinh bèn khoát tay cho
tiểu đồng ghé vào bờ, khoan thai bước lên, bảo:
– Tướng quân cho đặt mấy
cái con lăn, thì đẩy phiến đá, khác nào đẩy bào gỗ.
Theo cách ấy, một chốc,
phiến đá đã nối hai mố. Quân lính nhảy lên mặt cầu, reo mừng hể hả. Tú trịnh trọng
đến bên thư sinh, chắp tay thi lễ:
– Dám hỏi tiên sinh, người
ở đâu ta?
Thư sinh cũng chắp tay, lễ
phép nói:
– Tôi tên Cơ, họ Lưu, tuổi
Canh Tý, theo học bên Tri Hối kia thôi, hẳn kém tuổi tướng quân?
– Ồ, thế thì bằng tuổi cậu
Đinh Liễn.
– Phải, tôi cũng nghe nhiều
về Hào trưởng họ Đinh, nay là Bộ Lĩnh ở Kỳ Bố. Tôi cũng biết tướng quân họ Trịnh.
Nghe nói, mấy hôm nay tướng quân đang bắc cầu cho dân đi, thật là phúc đức, nên
tôi mạo muội đến chào hỏi mà thôi.
– Thật là thần kỳ, thế mà
đầu óc ngu tối này không nghĩ ra, khiến quân lính mệt nhọc, – Tú tỏ vẻ khiêm
nhường, đề cao Lưu Cơ. – Tôi cũng nghe danh tiên sinh đã lâu, mà nay mới được gặp.
– Tôi vẫn qua thành, thường
thấy Tướng quân mà.
– Thật là núi Thái Sơn(10)
trước mặt lại không hay biết.
Bữa đó, Tú lưu Cơ ở lại
doanh trại cùng đàm đạo. Thấy Cơ nói vanh vách về phép dựng thành đắp lũy, lại
tinh thông luận bình thời cuộc, Tú mới rụt rè hỏi:
– Chủ tướng tôi có ý cầu
hiền. Vậy xin tiến cử tiên sinh sang Bố Hải Khẩu. Chẳng hay, ý tiên sinh thế
nào?
Cơ chắp tay, nói:
– Vận số nhà Hậu Ngô đã hết,
thiên hạ loạn lạc tứ phương, dân chúng lầm than khắp chốn. Tôi cũng chỉ biết
đôi ba chữ, nhưng chả nhẽ nằm co giữ thân, mà không dám đầu quân theo kẻ anh
hùng, há chẳng hổ thẹn lắm sao? Vậy có kế này, xin dâng lên Bộ Lĩnh, làm quà ra
mắt.
Đoạn, Cơ ghé tai Tú nói
nhỏ:
– Chỉ làm hao quân tổn tướng,
nhưng không được giết Xí.
Tú lấy làm lạ, hỏi lại:
– Sao vậy?
Cơ bảo:
– Giam lỏng Xí, không được
giết, thì Chủ tướng lấy tiếng khuông phò nhà Ngô mà dẹp loạn, mới chính danh.
Về sau, quân Cờ Lau tập
kích Gián Khẩu, Thiên Tôn, Tam Điệp theo kế như thế, như thế…
Bộ Lĩnh nghe Tú báo rằng,
Lưu Cơ là người sách hoạch diệu kế như vậy, thì lấy làm mừng lắm, bèn cho quan
quân về gấp về Tri Hối, đón sang Bố Hải Khẩu.
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
____________
(1)
sách Đào Áo xưa (còn gọi Đào Ao), thuộc tổng Uy Viễn, động Hoa Lư;
nay thuộc các xã Liên
Sơn, Gia Hưng, Gia Phú, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
(2)
nay là chùa Trấn Quốc, ở Hồ Tây, thuộc Thủ đô Hà Nội.
(3,10)
Taishan (Thái Sơn), còn gọi Đông Ngạc, tên quả núi lớn và thiêng, nơi quê hương
Khổng Tử,
nay thuộc tỉnh Sơn Đông
(Trung Quốc).
(4)
con trai cả.
(5)
nay thuộc Đông Quan, Thanh Lan, Thụy Anh, tỉnh Thái Bình.
(6)
nay thuộc tỉnh Nam Định.
(7)
không chống nổi địch.
(8)
nay thuộc khu vực bệnh viện Đa khoa Thái Bình.
rồi trao cho thao ấn và
gươm báu, để thêm chỗ dựa. Bộ Lĩnh còn cho lập đồn Phù Lưu, Trại Bắc, Cổ Dũng
che chắn cửa ngõ phía Đằng Châu. Mạn biển, Bộ Lĩnh thu phục các tướng Đinh
Thành, Đinh Lang và dựng lũy Vạn Xuân, Bình Lạng, Hoa Hiềm, Hổ Đội.
(9)
nay thuộc phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình.
Phần thứ ba
DẸP LOẠN SỨ QUÂN
Chương một
Đinh Liễn trở về
1.
VHSG- Cái tin Nam Tấn
Vương Ngô Xương Văn trúng tên tử trận, ở Nguyễn Gia Loan, bay về Bố Hải Khẩu,
khiến Bộ Lĩnh sợ tái mặt. Trần Lãm giật mình hỏi:
– Sao vậy, Bộ Lĩnh?
– Nam Tấn Vương băng hà,
Cổ Loa ắt rối loạn, tính mạng thằng Liễn nguy mất, – Bộ Lĩnh run run đáp.
– Thế thì, phái ngay một
toán quân, giả dân buôn, đột nhập Loa Thành, giải cứu cho mau mới kịp! – Bặc
hăm hở bày kế.
Toán lính Cờ Lau đóng vai
con buôn, tức tốc lên đường tới Cổ Loa. Kiếm gói trong bọc, giả làm đòn gánh
vác vai, thang dây cuộn trong tay nải, giả làm hàng hóa. Qua đò Lo Lủ phải bỏ lại
ngựa, cả toán chia làm bốn cánh vượt bốn cửa thành, đề phòng toán này bị bắt
thì còn toán kia. Các toán qua cửa Tây Nam, Tây Bắc vượt gò Pháo Đài, lối Xóm
Mít. Toán cửa Nam qua Loa Khẩu, Cống Ngòi, Chợ Sa. Toán qua cửa Bắc đi Gò Vua,
Đống Bắn, Đống Giáo… Tất thảy nhằm hướng Thành Nội tiến vào. Dân ngoài thành
nháo nhác, nội đô còn bồn chồn hơn. Các điếm canh xem chừng trễ nải, từ Xóm
Chùa, đến Ngòi Dưới, Xóm Gà quân lính chỉ đứng làm vì, không xét hỏi gắt gao
như trước, nên các toán lọt vào thành khá dễ dàng. Bởi đã do thám từ trước, biết
chỗ giam giữ con tin, nên cả bọn hành quân chóng vánh. Nhưng đến trước cửa
Thành Nội, nơi cung thất, gặp phải bọn lính tuần phòng, canh gác nghiêm ngặt,
nên chúng phải nấp kín, chờ đêm tối. Nhân lúc nhập nhoạng gà lên chuồng, cả bọn
bất ngờ vắt thang dây qua tường, trèo vào, rồi lẻn đến nhà giam.
Liễn đang nằm thở vắn thở
dài trên tấm phản, bỗng thấy mấy kẻ bịt mặt xông vào, ngỡ thích khách, toan kêu
cứu, thì bị chúng bịt mồm và đưa tờ giấy giấu trong thắt lưng ra. Liễn căng mắt
đọc: “Liễn đâu? Liễn đâu? Quân Cờ Lau cứu. Mày ở đâu, về mau!”. Nhận ra
kiểu chữ của cha và nhất là nhận ra cái giọng khi xưa, suốt ngày cứ gọi ồi ồi
:”Liễn đâu? Liễn đâu? Mày ở đâu, về mau!”, khiến Liễn mừng quýnh, biết là quân
ta đến cứu rồi. Liễn nghe binh tình, chỉ lo hỗn quân hỗn quan, nó cho một nhát
kiếm là rồi đời. Có quân đến cứu thế này là kịp thời, nên Liễn quýnh quáng chạy
theo ngay. Chúng húm vào, kẻ canh gác, người giữ thang, đẩy Liễn vượt tường, rồi
tức tốc thu quân. Cả bọn tẩu nước mã hồi, chia quân làm ba toán, Liễn đi cùng
toán giữa cho an toàn. May sao, bọn Lã Xử Bình không tính đến nước giải cứu con
tin của bọn Cờ Lau, nên việc canh giữ nhà giam có phần lơi lỏng. Vả lại, các
quan triều đình đang lo tang lễ Nam Tấn Vương và hằm hè tranh nhau ngai vàng,
nên việc giải cứu diễn ra an toàn, không xảy ra đổ máu. Chứ lúc đi, cả bọn đã
thề với nhau, nhất chết, dù chỉ còn một người cũng quyết đưa Liễn về đến nơi đến
chốn.
Liễn về đến Bố Hải Khẩu,
khiến cả kẻ Bo xôn xao hẳn lên. Đàm thị ôm ghì cháu nội vào lòng mà khóc:
– Lúc đi, nó mới như con
rái cá, mà nay bằng sào bằng gậy rồi, – Đàm thị móm mém nhả bã trầu, xoa lên
gương mặt xanh xao của cháu, vẻ xót xa.
– Thì những mười bốn năm
ròng ở Cổ Loa. – Điền chen vào, nhìn Liễn từ đầu đến chân, hỏi, – ra dáng đấy
chứ, chỉ tội gày nhẳng. Thế, nó có đánh đập không?
– Không bị đánh đập gì hết,
còn sướng hơn lính, – Liễn hồ hởi đáp.
– Thế thì tao cũng thích
đi làm con tin, – Điền cười hô hố.
– Bây giờ, phải ăn cho lại
sức, rồi tính chuyện lấy vợ đi thôi. – Đàm thị cười cười, – bằng tuổi mày bây
giờ, thì thầy mày đã từ Châu Ái giở về gò Bồ Đề mà chăn trâu cho ông Dự rồi đấy
nhá.
– Vội gì bu, – Điền nửa
đùa nửa thật, nói khơi khơi. – Chờ lúc đi đánh trận, thấy cô nào hay hay mắt, bắt
đem về. – Và đổ trận cười, – hê hê hê…, vợ đấy chứ vợ đâu mà phải bờn tở?
Nghe vậy, cả bọn vỗ tay
tán thưởng, cười theo rầm trời.
2.
Từ khi nhà Ngô hết số, Cổ
Loa như rắn mất đầu. Thái tử Ngô Xương Xí là con thứ của Ngô Xương Ngập, mới
hai mươi mốt tuổi, không trị nổi Tham tá Lã Xử Bình. Bình thấy Văn mất, thì xứ
này, không ai dám vượt mặt mình nữa. Vả lại, Bình cũng được vua Ngô ban quốc
tính, gọi là Ngô Xử Bình kia mà.
Trong khi đó, Thứ sử
Phong Châu là Kiều Công Hãn, thấy triều đình rối loạn, bèn cất quân về, quyết
tranh ngôi báu với Bình. Bình và Hãn đấu nhau, không bên nào thắng bên nào. Ngó
lên, các quan Thái sư, Thái úy; nhìn xuống văn, võ, tăng quan cũng đều im thin
thít. Còn các châu, động đều án binh bất động. Bởi, không biết mèo nào cắn mỉu
nào mà ngả theo. Theo bên này, lỡ bên kia lật lại thế cờ, thì biết chạy đâu?
Tình thế ngặt nghèo, Xí
lượng sức mình không dẹp nổi bọn Bình, Hãn, bèn dụng kế “Tẩu vi thượng sách”.
Ất Sửu (965) thế mà loạn
to.
– Về đâu bây giờ? – Xí ngảnh
sang, hỏi Thái úy.
– Bẩm, hạ thần từng theo
Ngô Tiên Vương trấn nhận Châu Ái khi xưa, thấy Tiên Vương đã để mắt tới đất
Bình Kiều. Nay Thái tử có thể vào đấy tạm lánh thân, mà mưu việc lớn.
– Ta chưa tới bao giờ, –
Xí thực thà nói, – có xa lắm không?
– Đất ấy bằng phẳng, phía
đông có Cửu Noãn Sơn chín ngọn, tây nam có núi Nưa chắn giữ địa môn, ra bể Đông
Hải cũng không xa lắm.
– Núi Nưa, ta có nghe,
nhưng xa đấy, – Xí có vẻ ngần ngừ.
– Xa mới yên, gần lửa rát
mặt. – Thái úy thấy Xí không thuận, bèn bồi thêm, – binh đao xảy ra, rồi không
phải đầu lại phải tai.
Thế cùng, Xí theo kế ấy.
Đang đêm, quan quân lặng lẽ rút ra khỏi thành Cổ Loa. Người ngậm tăm, ngựa buộc
mõm, bó vó. Tất thảy, nhằm phương nam mà chạy. Hôm sau, bọn Bình, Hãn mới phát
hiện ra Xí đã chạy trốn, nhưng không ai dám đuổi theo trừ hậu họa, vì sợ bỏ
kinh đô thì không còn đường quay về nữa.
*
Chập tối, khi xe Xí vừa
ra khỏi cửa thành ngoại, thì bị gãy trục, Xí cho là điềm gở, liền quay lại,
viên Thái úy thấy vậy, hoảng sợ nói;
– Thái tử quay lại, khác
nào nộp mạng cho bọn Bình, Hãn?
– Làm gì đến nỗi? – Xí vẫn
mơ hồ.
– Hàng mấy ngàn quân chạy
trốn thế này, che sao nổi mắt chúng nó? Thái tử mà thối chí, quay lại, chúng thần
xin đập đầu chết ngay tại đây!
– Ấy chớ… – Xí hoang mang
do dự, không biết nên đi hay ở.
– Đằng nào thì quay lại
cũng chết, – cả bọn nhao nhao đòi tự vẫn.
Nghe tiếng quan quân xôn
xao, các điếm canh bật hồng. Lính trong thành nghe động, vội đổ ra, thấy binh
tình như thế, thì cùng bỏ thành theo Thái tử, ước đến hàng vạn. Xí vừa mừng lại
vừa lo, mừng là lòng quân vẫn phụng thờ dòng máu Ngô Vương, nhưng lo đám đông
thế này, chạy sao cho thoát. Thái úy thấy Xí đã xiêu lòng, vội dìu lên ngựa,
phi nước đại. Quan quân chạy theo rầm rầm. Khi đến bến Gián Khẩu thì trời hồng
đông. Xí cầm roi ngựa, chỉ bà bán quán đang bày hàng sớm, hỏi:
– Mụ có thấy quân Cờ Lau
quanh quẩn đâu đây không?
Bà lão lặng thinh, bày biện
đồ hàng, hầu như không để ý gì đến xung quanh, khiến Xí bực, toan đánh. Viên
Thái úy vội chạy tới can:
– Đây là đất Gián Khẩu,
thằng Bộ Lĩnh đã tức mình mà đặt thế rồi. Gián khẩu nghĩa là mồm câm. Thái tử
nên đi mau cho lành.
– Cũng may, ví mà thằng ấy
cho phục quân ở đây, thể nào phận ta cũng giống con nó, – Xí nói, có vẻ đắc ý.
Xí vừa nói hết câu, bỗng
thấy tiếng reo hò nổi lên từ núi Thiệu. Cả đám quân chạy trốn đang mỏi mệt,
toan dừng chân nghỉ, nhưng nhìn thấy đám lính Cờ Lau đang rầm rập phi trâu xuống
như voi trận, thì hồn vía lên mây. Xí tá hỏa, nhảy vội xuống đò. Thái úy tay cầm
khiên đỡ tên, tay đẩy thuyền hỗ trợ vượt sông. Chợt thấy bọn lính bơi trên sông
xúm cả vào mạn thuyền, Thái úy vội bỏ khiên, rút gươm toan chém. Bọn lính thất
kinh kêu lên:
– Thái úy, chớ chém, tất
cả cùng đẩy thuyền cho Thái tử đấy chứ.
Thái úy định thần nhìn lại,
thì quả nhiên thấy thuyền đang lướt băng băng ngang sông Hoàng Long. Thuyền vừa
cập bến, Thái úy đã kéo thốc Xí lên bờ. Một con ngựa cũng vừa bơi sang, đang
rung bờm rũ nước, Thái úy đã bế thốc Xí lên yên mà giục giã ngậu cả lên.
Qua khỏi Gián Khẩu, quân
lính bảy phần vơi mất ba, đứa bị tên bắn giáo đâm, đứa bị trâu giẫm ngựa xéo, đứa
chết đuối, đứa bỏ trốn, đứa đầu hàng. Cả bọn tàn quân lướt thướt chạy theo Xí,
tưởng thoát nạn, ai ngờ, vừa đến núi Ngọc Mỹ Nhân đã bị quân Cờ Lau phục kích,
đánh tơi bời, qua khỏi động Thiên Tôn mới thôi. Đến Tam Điệp lại bị một trận nữa,
khiến quan quân tả tơi như lá chuối gặp bão. Xí nghĩ bụng, bọn mục đồng này
không phải thường. Thảo nào, nó được Ngọc khuê, Rồng cõng qua sông, không phải
là không có lý…
Vào đến Bình Kiều, Xí thốt
lên:
– Sống rồi! – Trỏ dãy núi
cao phía mặt trời mọc, Xí buồn rầu nói, – sao núi lại chắn đằng đông thế
vầy? Mà lại những chín ngọn, khác nào vía đàn bà. Nghịch!
– Thế đất hiểm, chứ không
phải nghịch, – viên Thái úy vội biến báo để an lòng chủ.
Nhà văn Vũ Xuân Tửu
Chương hai
Trận đầu Bộ Lĩnh lấy Cổ
Loa
1.
Thứ sử Dương Huy thấy Ngô
Xương Xí đã bỏ chạy vào châu Ái, liền kéo quân về Cổ Loa, tranh giành vương miện
với bọn Lã Xử Bình, Kiều Công Hãn. Đỗ Cảnh Thạc là nha tướng của Ngô Tiên Vương
khi xưa, thấy vậy cũng không bỏ lỡ cơ hội cầu vận may. Thế là bốn con hổ gầm rú
tranh ngôi, làm náo động cả Thành Ốc.
Đa phần quan quân triều
đình bỏ theo Ngô Xương Xí, làm ngoảng cả thành. Nay bốn đám tranh vương kéo
quân vào, khiến đâu lại vào đấy, khác nào tát bùn sang ao. Bọn Lã Xử Bình, Kiều
Công Hãn, Dương Huy, Đỗ Cảnh Thạc chỉ đấu khẩu, mà không dám động binh. Một dấy
binh, ba chập lại, thì không chột cũng què, nên chỉ giương vây múa vuốt, gầm
ghè lẫn nhau mà thôi.
Thạc mắng Huy:
– Ngươi là kẻ vô danh tiểu
tốt, mà dám cả gan nhòm đến ngai vàng ư? Sao không về nhà giặt váy vợ cho rồi?
Huy cũng chửi lại Thạc:
– Thằng giặc phương Bắc cụt
tai kia. Cha mi từ Quảng Lăng(1) mò sang đây làm gì? Sao mi không cuốn
gói về quê hương bản quốc cho rảnh mắt ta?
Thạc gầm lên như hổ bị trọng
thương:
– Ngươi là kẻ vô lại, mù
mắt điếc tai hay sao mà không biết chuyện, ta theo Ngô Tiên Vương giết được Kiều
Công Tiễn, lại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, đường đường là Chỉ huy sứ.
Cái đồ chuột nhắt thì biết gì chí lớn đại bàng!
Huy lại la lối:
– Chính mi làm tay sai
cho Dương Tam Kha, ba lần đi bắt Thiên Sách Vương đấy thôi. May mà giời có mắt,
không độ chúng bay.
Thạc cười khinh khi, trỏ
ngón tay út vào mặt Huy mà kinh bỉ nói:
– Chính ta cùng Dương Cát
Lợi, theo lệnh Nam Tấn Vương, bắt sống Dương Tam Kha, dựng nên nhà Hậu Ngô.
Đúng là cái đồ đã mù còn ngọng, sao không câm mồm đi cho xong?
Thấy đấu khẩu mãi cũng chẳng
làm cho kẻ thù nổ họng, vỡ tai mà chết, nên Lã Xử Bình bàn với Dương Huy và Kiều
Công Hãn:
– Thằng cụt tai này, cậy
có chút công lao, mà cả gan áp đảo triều đình. Nếu ba chúng ta không hợp sức,
thì nó làm loạn như bỡn.
Thế là, ngay đêm ấy, ba
cánh quân bất ngờ đánh úp trại Thạc. Thạc thua to, phải rút quân về Tích Giang,
tu sửa Thành Quèn làm nơi cố thủ.
2.
Thấy binh tình Cổ Loa rối
ren, Trần Lãm họp các tướng lại nghị bàn:
– Chúng ta là bầy tôi, hưởng
lộc của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, kế theo là của Ngô Tiên Vương cũng đã nhiều.
Nay nhìn cảnh triều đình giềng tan mối nát, không khỏi chạnh lòng.
Chỉ hiềm nỗi, ta sức cùng
lực kiệt, giương cung bắn ruồi còn khó…
Lãm nói xong gạt lệ, khiến
ai nấy đều cảm kích. Bộ Lĩnh đứng dậy, chắp tay cung kính, nói:
– Thưa Minh Công, bấy
nay, chúng thần cũng được hưởng lộc của hai họ Dương, Ngô. Nay thần lại được nhờ
cậy Minh Công, dẫu gan óc lầy đất cũng không báo đáp được.
– Bộ Lĩnh chớ nói thế mà
quá lời, – Lãm tỏ ra khiêm nhường, khoát tay chiếu lệ, ý can ngăn sự tung hô.
– Đận này, nghe tin kinh
đô có biến mà rầu ruột, – Bộ Lĩnh lại nói. – Nay Minh Công đã có ý như thế,
quân Cờ Lau xin ra tay một phen, đuổi lũ ruồi nhặng, mang lại bình an cho Loa
Thành, rồi xin đón Thái tử Ngô Xương Xí giở về, nối dòng họ Ngô.
– Bộ Lĩnh nói thế, chính
hợp ý ta, – Lãm cười nói. – Dù sao, Ngô Xương Xí cũng là cháu đích tôn của Ngô
Tiên Vương, bởi ngặt quá mà phải lánh nạn Bình Kiều đó thôi.
– Cứ ngỡ Ất Sửu (965) loạn
qua, ai dè, đến Bính Dần (966) lại đại loạn thế vầy, – lão Bộc lẩm bẩm như nói
với chòm râu của mình.
– Lão trượng chớ lo, có
Đinh Bộ Lĩnh bình thiên hạ! – Điền bô lô ba la.
Nghe vậy, Lãm biến sắc mặt,
Bộ Lĩnh quắc mắt nhìn, khiến Điền giật mình vì xảy miệng, vội biến báo:
– Là ngu ý của kẻ hèn mọn
này, muốn Bộ Lĩnh cất quân lĩnh ý nhạc phụ Minh Công, mà tảo thanh Loa Thành.
– Phải, phải, – Lãm đổi
giận làm vui, – ý huynh trưởng quả là hợp bụng ta.
Cả bọn đưa mắt nhìn nhau,
nói cười rôm rả.
3.
Bộ Lĩnh cất quân Cờ Lau
đi đánh Cổ Loa. Nguyễn Bặc được cử làm tiên phong, có Đinh Liễn đi cùng. Bộ
Lĩnh cầm trung quân, Lưu Cơ và Đỗ Thích phò tá. Đinh Điền đốc thúc hậu quân.
Lính Bố Hải Khẩu tham gia tải lương, thảo bằng đàn trâu kéo xe và ngựa thồ.
Điền giắt côn mẫu tử sau
lưng, cưỡi ngựa dẫn đầu đoàn quân tải lương. Tên lính vác Chùy đá cho Điền, lúc
nào cũng cưỡi ngựa kèm bên cạnh chủ tướng. Đoàn ngựa oằn lưng thồ gạo, con nọ
bám sát con kia, rậm rịch khua vó, tung bụi đường, nom đầy vẻ chinh chiến, khiến
cho Điền háo hức lạ thường. Nhưng nom lại đàn trâu kéo xe ì à ì ạch mà ngám ngẩm,
hò hét đốc thúc khản cổ, mà chúng như bỏ ngoài tai.
– Đúng là tai trâu! – Điền
bực, – bọn bay, xuống dắt trâu, cấm ngồi trên xe! Thằng nào không tuân, chém!
Bọn lính sợ hãi, nhảy vội
xuống. Quả nhiên, đàn trâu có vẻ bước nhanh hơn, làm cho Điền vui ra mặt. Bọn
lính kháo nhau:
– Nhẽ ra, chủ tướng phải
cầm quân tiên phong, nay cầm chân tải lương, nên tức đấy thôi.
– Phải, trâu nó chỉ đủng
đỉnh vậy, chứ có phải ngựa đâu mà phi.
Điền nghe láo kháo, ghìm
ngựa lại, quát to:
– Đứa nào nói gì? – đoạn,
rút phắt côn mẫu tử, lăm lăm trong tay.
Bọn lính nom thấy vậy, mặt
cắt không còn hột máu. Một tên lính vác thừng lên vai, liền bị Điền chỉ côn vào
mặt:
– Ai cho mày vác thừng?
Tên lính run cầm cập, đái
ra quần, ú ớ không nói được nên lời, khiến Điền phì cười. Bọn lính thấy vậy
cũng cười theo, để lấy lòng chủ tướng.
– Mày không biết gì à? –
Điền trở nên vui vẻ, ôn tồn bảo, – các cụ kiêng vác thừng, sợ trâu nó gày.
Tên lính hoảng sợ cúi lạy
như tế sao:
– Quan lớn tha tội, con
ngu dại…
Điền như không để ý đến
tên vác thừng nữa, giật cương cho ngựa né sang bên, nhường đường cho đàn trâu
kéo xe đi.
Hoàng hôn buông xuống,
đàn ngựa vẫn hăm hở khua vó, đàn trâu vẫn đủng đỉnh kéo xe trên đường, dài dằng
dẵng, tưởng như vô cùng tận. Hai bên đường là cánh đồng mênh mông. Ao chuôm
thưa thớt, ánh lên lấp lóa. Đàn cò thấy động, vội tung cánh bay về phía chân trời.
Xa xa, có mấy đụn khói đang bốc lên. Phía bên kia rặng tre, thấp thoáng mái
tranh nghèo. Chốc nữa, đoàn tải lương sẽ qua làng này, có lẽ, cho lính dừng lại
nấu cơm, trâu ngựa ăn cỏ lấy sức. Đêm, ta lại đi tiếp cho mát. Phải lệnh cho
quân lính hộ vệ canh chừng, phòng địch nhân cướp phá lương, thảo. Phen này, bọn
Cổ Loa chết bỏ bu rồi, Điền nghĩ bụng. Đến nơi tập kết, ta phải bảo Bộ Lĩnh cho
tham chiến ngay mới được. Chả gì cũng là trận đầu, nhưng nói gì thì nói, cứ phải
đốc thúc việc vận chuyển quân lương cho chu toàn cái đã. Mình phải tuân lệnh,
làm gương cho bọn chúng, cũng là ngầm giúp Bộ Lĩnh vậy.
Bọn Bộ Lĩnh vẫn cay cú
chuyện cũ. Chẳng là, khi đến viếng Ngô Tiên Vương, nhưng Dương Tam Kha không
cho đi tham quan Thành Ốc, nên Bộ Lĩnh đã cho quân đi thám sát, lại kết hợp với
sự hiểu biết thời xưa của lão Bộc và thời nay của Liễn nữa, thế là mọi sự tỏ tường
cả trong lẫn ngoài. Bộ Lĩnh cho vẽ địa đồ Cổ Loa, to bằng cái chiếu, trưng lên
giữa doanh trại, lại đưa roi ngựa cho Liễn chỉ dẫn cụ thể từng vị trí, trước
khi công thành. Liễn xúc động, run run cầm cái roi ngựa của cha, chỉ lên địa đồ
và nói:
– Thành Cổ Loa, dựng từ
thời An Dương Vương và Ngô Tiên Vương đóng đô ở đây, đều có tu sửa. Thành dựng
ba lớp, xoắn theo nhau như kiểu chôn ốc, nên gọi là Thành Ốc là cái sự vậy.
Nghe vậy, các tướng ồ cả
lên, cho là Liễn trẻ tuổi mà kiến thức sâu sa, khiến Liễn tự tin hơn, tay không
run mà giọng không bị tắc trong cổ nữa.
– Thành Ốc ba lớp, – Liễn
lại nói, – Thành Ngoại đắp đất liên kết các gò đất cổ, có công sự phòng vệ, –
Liễn chỉ roi vào chỗ vẽ Thành Ngoại, vạch một vòng, rồi chấm vào giữa địa đồ mà
nói, – còn đây là Thành Nội, dài năm trăm trượng(2), trung tâm phòng
vệ có mười tám ụ đất đắp cao, nhô ra làm các trạm gác. Từ đây, lính trong thành
dùng cung, nỏ bắn tên ra, – bất chợt, nhìn thấy Đỗ Thích đang phe phẩy quạt hầu
Bộ Lĩnh, mà tỏ ra lơ đãng không nghe, khiến Liễn rùng mình như bị gió lạnh.
Phút phân tâm, khiến các tướng xôn xao, ghé tai hỏi nhau, tưởng Liễn quên, –
lúc nãy, nói về Thành Ngoại mà chưa kể độ dài. Độ dài của nó chừng hai ngàn rưỡi
trượng. Lại nói, chỗ này, giữa Thành Ngoại và Thành Nội là Thành Trung, dài
ngót hai ngàn trượng. Dưới chân các thành là nền móng rộng cỡ sáu, bảy chục
thước(3), có kè đá, tre, gỗ, bên trên đắp đất. Chân thành có đào
hào, thoát nước ra Hoàng Giang qua Cống Sang, Cửa Khấu… – Liễn chỉ sông Hoàng
Giang, Lộc Hà và Cà Lồ chảy vòng qua Cửa Đông, Cửa Nam. Từ Hoàng Giang thông ra
sông Hồng, đổ ra bể. Cổ Loa dùng bộ binh và thủy binh để phòng thủ và tấn công
đều thuận.
– Thành cao bao nhiêu? –
Bặc hỏi.
– À quên, – Liễn cười trừ.
– Thường thường cao chừng chục thước, có chỗ lại cao hơn hai chục thước. Nhưng
sức quân ta, trèo như bỡn.
– Cửa thành chỗ nào? – Điền
hỏi to.
– Đây! – Liễn chỉ, –
Thành Ngoại có Cửa Nam, Tây Nam và Cửa Đông. Thành Trung có cửa Tây Nam, Tây Bắc,
Bắc, Cây Song. Còn đây là Cửa Khâu, Cửa Nội. Ngoài ra, có hơn hai chục điếm
cánh ở Xóm Chùa, Thôn Trại, Ngòi Dưới, Ngòi Trên, Xóm Hương, Lan Trì, Xóm Gà,
Xóm Sằn, Xóm Mít, Xóm Chợ, Chợ Thượng, Xóm Dõng, Xóm Bãi…
– Nhìn kia thì thấy các cửa
thành so le, nên lâm trận phải để ý, kẻo quân ta bắn quân mình. Thành lại có
nhiều hào nước, nhiều sông, hồ bao quanh, nên hành binh phải nhớ phép vượt đầm
lầy mà Binh pháp đã dạy. Điếm canh, trạm gác dày đặc như gai mít, như trăm con
mắt, lại nhìn ra bằng cung tên, nên phải ra sức đề phòng mới được. Đội quân
tiên phong mà mật tập chọc mù được những cái mắt ấy, nhổ được những cái gai ấy,
thì lấy thành khác nào ăn cỗ.
Nghe chủ tướng nói vậy,
chúng cười hể hả. Đoạn, Bộ Lĩnh nghiêm sắc mặt, ra lệnh:
– Chuyến này, ta cất quân
đánh trận đầu, nhất quyết phải thắng, lấy nhuệ khí. Kẻ nào thua chạy thì chém!
– Ta có giàn phóng lao,
súng bắn đá, máng ném cầu lửa dùng vào trận đầu, làm gì không thắng, – Điền
oang oang nói.
– Ta chỉ dụng vũ khí hạng
nặng để thị uy thôi. Bởi nếu bắn vào, thì thành tan gạch nát, vong linh Ngô
Tiên Vương ắt chê trách con cháu Đinh Thứ sử không biết thương dân.
*
Thứ sử Dương Huy đang
hùng hổ tranh vương với Lã Xử Bình và Kiều Công Hãn, chợt nghe tin Đinh Bộ Lĩnh
cất mấy vạn quân đi làm cỏ Cổ Loa, thì vội vàng tẩu thoát, sợ không phải đầu lại
phải tai. Bấy giờ, trong thành chỉ còn bọn Bình và Hãn trấn giữ. Bộ Lĩnh cho
quân hạ trại vây thành, ngày đêm đánh trống khua chiêng và reo hò ẫm ĩ thị uy,
bày đặt vũ khí hạng nặng, hòng làm cho quan quân trong thành mất vía mà quy
hàng, đỡ tổn hao xương máu quan, quân, dân chúng, lại giữ được kiến trúc cổ
thành.
Bình thấy vậy, bàn với
Hãn:
– Thằng mục đồng này, từng
bị anh em Hậu Ngô vây khốn ở Trường Châu, phải cho con trưởng đi làm con tin, mới
thoát nạn. Nay nó hư trương thanh thế mà hù dọa đấy thôi. Các vàng nó cũng
không dám công phá Thành Ốc.
– Thằng Bặc là tướng tài,
lại làm tiên phong, chớ khinh địch. Bọn chúng lại ăn ở, luyện tập tại Bố Hải Khẩu
đã mười lăm năm rồi, ngựa béo, quân khỏe, đánh trận đầu ắt ham lập công, nên liều
chết đấy, – Hãn thận trọng.
– Tướng quân đã từng đánh
quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mà nay nhát chết thế ư? – Bình nói khích.
– Tướng quân có giỏi, thử
ra nghênh chiến? – Hãn khích lại.
Lã Xử Bình tức khí dẫn
quân, mở cửa thành xông ra. Chợt thấy Nguyễn Bặc tay cầm huyết đương thương, cưỡi
ngựa đứng trước trận, Bình trỏ roi, quát to:
– Thằng củ cải kia, theo
đít mục đồng, dám đem quân vây áp kinh đô triều đình sao?
– Mày là thằng mặt trắng.
– Bặc trỏ thương mắng, – theo hầu Nam Tấn Vương không xong, mà còn dám ra đây
ăn nói càn rỡ vậy sao?
– Bọn mục đồng chúng bay,
may được Nam Tấn Vương mở lượng hải hà rút quân bỏ thành, giải vây, không thì
đã chết không toàn thây rồi, – Bình kể lể công đức của vua, sỉ nhục quân Cờ
Lau.
Lúc đó, Đinh Liễn mặc áo
giáp, cưỡi ngựa chạy đến bên Bặc, nói nhỏ:
– Khi ta làm con tin, thằng
này hay giở trò tiểu nhân. Nay xin được rửa hận.
Bặc gật đầu, Liễn vác
giáo xông thẳng vào đâm Bình. Bình né được, quay ngựa lại đánh. Quân sĩ hai bên
đánh trống ầm ĩ thúc giục. Liễn càng đánh càng hăng. Nhưng Bặc sợ Liễn mới trở
về, chưa quen chiến trận, lỡ không may có mệnh hệ nào, thì khó ăn nói với bằng
hữu, bèn khua chiêng thu quân. Liễn hậm hực ruổi ngựa chạy về, nói trống không:
– Chớ khinh nhau quá thế!
– Bình là thằng gian giảo,
lắm mẹo hiểm, lại trải qua mấy phen trận mạc, phải bảo trọng mới được, – Bặc
nhún nhường thanh minh.
Bình thu quân vào thành,
hạ cầu treo xuống. Hãn thấy vậy, bảo:
– Bọn này, phải dụng kế mới
được.
– Kế gì? – Bình hỏi.
– Ta cứ đóng chặt cửa
thành. Chúng vây lâu ngày sẽ hết lương, thảo. Lúc ấy, người, ngựa mỏi mệt. Quân
ta mới nhất tề xông ra, quyết chiến, tất phá được giặc.
– Quân do thám báo về, thằng
Đinh Điền chuyên lo tiếp tế lương thảo. Xứ Bo cá lắm, gạo nhiều, quanh thành
cũng là vựa lúa, thì kế ấy khó xong.
– Hay là, tôi dẫn quân bản
bộ kéo ra ngoài thành trá hàng. Rồi lợi dụng đêm tối, dụng kế “Trùng độc chiến”,
trong đánh ra ngoài đánh vào. Có khi, còn bắt được cả thằng tướng mục đồng, chứ
nói gì đến bọn nhãi nhép Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Đỗ Thích…
Bình nghĩ bụng, Hãn ra
ngoài, thì trong thành chỉ còn có ta mà thôi, một mình ngự giang san, nên gật đầu
đồng ý. Hãn tuy mặt ngoài nói vậy, nhưng trong bụng lại vui mở cờ. Quân Cờ Lau
đông như kiến cỏ, làm sao địch nổi, chi bằng lừa thằng Bình, dụng kế “Tẩu vi
thượng sách”.
Đang đêm, Bình sai lính mở
cổng thành, Hãn dẫn quân lặng lẽ tiến ra. Bọn Bặc thấy quân trong thành chạy
ra, ngỡ là bị đột kích bất ngờ, vội hò nhau cự lại. Nhưng Hãn chỉ cho quân chống
đỡ qua loa, rồi nhằm hướng sao Bắc Đẩu tháo chạy. Bặc không hiểu ý đồ quân địch
ra sao, sợ trúng gian kế, nên không dám đuổi theo, chỉ một mực vây chặt thành
mà thôi.
Đợi mãi không thấy bọn
Hãn quay lại đánh như đã hợp đồng, Bình cười to bảo:
– Đúng là cái đồ nhát chết,
thế mà sao Tiên Vương phong nó là Thứ sử Phong Châu?
– Thì nó có công giúp
Tiên Vương chống lại ông nội nó mà lại, – viên phó tướng nói.
– Chả nhẽ, ta không biết
sao? – Bình giảng giải, – ông nội nó là Kiều Công Tiễn đã giết Dương Đình Nghệ.
Nhưng nó lại theo Ngô Tiên Vương. Chính ta sợ sự phản trắc của nó, nên mới lập
kế đẩy đi đấy chứ, – Bình vớt vát chữa thẹn, tưởng như sai khiến được Hãn vậy.
– Bây giờ, chủ tướng tính
sao?
– Ta cứ đóng chặt cửa
thành, kê cao gối mà ngủ. Chờ khi nó binh yếu, ngựa ốm, lương hết, thì sẽ ào ra
đánh một trận sạch không kình ngạc.
– Giời ơi, có mà ta hết
lương, thảo trong nay mai thì có.
Nghe vậy, Bình ngớ người
ra, cho quan Tổng quản kiểm lại kho lương, thì mới biết chưa kịp thu thuế năm
nay, mà thành đã bị vây rồi, nên mễ cốc cạn kiệt cả, kho đụn sạch không.
Quân Cờ Lau chờ mấy ngày
mà không thấy bọn Bình động tĩnh gì, Bộ Lĩnh bèn mật bàn với Bặc và Liễn:
– Bây giờ, hai bác cháu
nhà ông giúp cho việc này. Bằng hữu vờ cất quân tiên phong đi đánh Phong Châu,
trị tội Kiều Công Hãn. Ta thì phao tin đi lấy Thành Quèn, bắt Đỗ Cảnh Thạc, chỉ
để lại Đinh Điền vây thành thôi. Nhưng kỳ thực, – Bộ Lĩnh trỏ Bặc, – bằng hữu
mang quân đi Phong Châu. Còn thằng Liễn đóng giả tôi, được cái giống là hai bố
con cũng nước da ngăm ngăm đen như nhau, – Bộ Lĩnh cười cười, – vờ tiến quân về
sông Tích. Tôi và bác Điền ở lại, thế nào cũng vồ được thằng Bình cho mà xem.
– Tướng quân quả là đa
mưu túc kế, – Bặc cười nói.
– Ấy, không phải ta, kế của
Lưu Cơ đó, – Bộ Lĩnh vội xua tay thanh minh. – Việc này mà thành, thì quả là giời
giúp ta. Trịnh Tú tiến cử, công lớn lắm.
Nghe vậy, Bặc và Liễn y kế,
dẫn quân đi.
Quân do thám về cấp báo
tin lành, nhưng Bình do dự không tin, bèn lên chòi canh nhìn ra xa xa, thì thấy
đúng thế thật, bèn cười to:
– Quả là giời giúp ta rồi!
Phen này, ta sẽ cướp được vũ khí hạng nặng như bỡn rồi!
Viên phó tướng nghe vậy,
vội nói:
– Đinh Điền cũng là võ tướng
dưới trướng Bộ Lĩnh đấy. Huynh đệ chúng nó gắn bó lắm.
Bình không coi Điền ra
gì, bảo:
– Thằng ấy chỉ là con
nuôi, giả tử mà thôi. Vả, nó là hạng võ biền.
Hôm sau, quân do thám lại
báo về, hai đội quân của Nguyễn Bặc và Bộ Lĩnh, đạo ngược bắc, đạo xuôi nam,
mang theo vũ khí hạng nặng đã đi xa rồi, Bình mới mặc áo giáp, đội mũ trụ, nai
nịt gọn gàng, cưỡi ngựa ra cổng thành, lớn tiếng chửi mắng Đinh Điền. Điền
không nói không rằng, vác chùy đá, nhảy lên ngựa, lao thẳng đến, nhằm đầu Bình,
nện một phát như trời giáng. Bình không ngờ cú đòn ra nhanh như thế, cái thằng
võ biền này, chẳng chửi mắng mào đầu gì đã chiến luôn. May mà Bình vội giơ
khiên đồng lên đỡ. Nghe “choang” một tiếng, chùy đá vỡ tan, khiên đồng bay mất.
Bình chưa kịp hoàn hồn, thì Đinh Điền đã rút côn mẫu tử giắt ở lưng ra, khua
vùn vụt. Bình thất kinh, vội chạy về cửa trận, giật ngọn giáo của tên lính, rồi
tế ngựa xông ra. Điền vụt ngang một phát, tưởng đã chụp được đầu địch thủ.
Nhưng Bình nhanh mắt, né người, tiện đà giơ giáo tạo thế cuốn, kéo mạnh như chớp
giật, thu được cây côn. Điền vội rút kiếm bên hông ra, nhưng kiếm không dài bằng
giáo. Bình lợi thế sấn tới, toan đâm một phát xuyên hông. Bỗng đâu, Bộ Lĩnh cưỡi
ngựa, cắp gươm xông tới, quát to:
– Thằng thất phu kia, sao
dám vô lễ với anh ta?
Bình giật nảy mình, khi
thấy bóng Bộ Lĩnh; nghĩ bụng, quái lạ, sao bảo nó đi lấy Thành Quèn cơ mà,
nhưng cố trấn tĩnh, chửi lại:
– Thằng mục đồng này, dám
lừa triều đình ư?
– Chính bọn mày toan cướp
ngôi nhà Hậu Ngô, gây cảnh loạn lạc. Ta vâng lệnh giời, đến tảo thanh đây!
Đoạn, Bộ Lĩnh cầm thanh
gươm ba cạnh, phi thẳng một phát. Lưỡi gươm bay như tia chớp trong nắng sớm
mai, tiếng xé gió rít lên rợn người, ngù kiếm màu ngũ sắc, bay tỏa như đuôi
chim phượng. Bình đờ đẫn, tránh không kịp, bị mũi gươm cắm vào cổ, xuyên ra sau
gáy, ngã ngựa, chết tươi.
Quân lính sợ hãi, tháo chạy
cả vào thành. Bộ Lĩnh thúc quân đuổi theo, ào vào thành Cổ Loa, thỏa sức chém
giết, lấy thành dễ như trở bàn tay.
Bọn Bặc, Liễn cũng thu
quân quay lại. Quân Cờ Lau làm chủ Thành Ốc.
Bởi lúc xuất binh, thấy
Trần Lãm đã yếu lắm rồi, nên khi sắp chiếm được Cổ Loa, Bộ Lĩnh đã vội sai Đinh
Điền, Lưu Cơ về gấp Bố Hải Khẩu, lo giữ hậu phương.
*
Ngô Xương Xí đang xây dựng
thành Bình Kiều, thì có sứ giả của Đinh Bộ Lĩnh mang thư tới. Xí xem xong, bèn
hội các tướng lại bàn:
– Bộ Lĩnh đã chiếm Cổ
Loa, giết Lã Xử Bình, đuổi bọn Dương Huy, Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh Thạc chạy tứ
tán cả.
– Thế cơ à? – Thái úy buột
miệng kêu lên, đầy vẻ kinh ngạc.
– Nhưng, Bộ Lĩnh mời ta về,
kế ngôi Thiên Sách Vương và Nam Tấn Vương, đặng giữ gìn tôn miếu Ngô Tiên
Vương để lại, – Xí hồ hởi nói to.
– Đinh Bộ Lĩnh là kẻ anh
hùng đời nay. – Thái úy bồn chồn lo lắng, thấy Xí chuyển ý, nên chọc ngang, –
nó được Ngọc khuê, lại có Rồng cõng qua sông, thế là mệnh Thiên tử. – Thái úy
chắp tay, cúi đầu cố thuyết phục Xí, – mới đây, khi quân ta rời Cổ Loa, nó chẳng
chặn đánh tam tứ phen, đấy thôi. Thái tử mà nghe lời dỗ ngon dỗ ngọt của nó,
khác nào tự đưa chân vào bẫy, nước làm gì có hai vua. Thái tử cố giữ thành này,
gây thanh thế, rồi lên ngôi kế tiếp tiền nhân. Đó là kế sâu rễ bền gốc.
Xí nghe vậy, không biết
quyết thế nào cho phải. Các quan bàn tán phân tâm. Thái úy thấy vậy, liều nói
to:
– Nếu Thái tử bỏ về,
chúng thần xin đập đầu chết tại đây!
– Ấy chớ…, – Xí lại phản ứng
yếu ớt.
Thấy vậy, ai nấy đều nhớ
lại cảnh đang đêm chạy trốn khỏi Loa Thành, bị gãy trục xe.
– Thái úy một lòng vì
công nghiệp của ta, – Xí bùi ngùi nói. – Chẳng lẽ, ta quay đi sao?
Nghe vậy, cả bọn ồ lên
hoan hỷ. Thái úy bảo:
– Phải chém ngay sứ giả!
– Ấy chớ, sứ giả có tội
tình gì? – Xí vội can ngăn.
– Chém sứ giả để thị uy với
bọn mục đồng ấy. Chúng phải kiềng mặt, không dám lợi dụng danh nghĩa cao quý của
nhà Ngô nữa.
Sứ giả bị chém rồi, Xí sực
nghĩ ra, thế là thằng Thái úy khốn kiếp này, chặt đứt đường về Cổ Loa của ta rồi!
Chương ba
Loạn đả sứ quân
1.
Lã Đường, thuở nhỏ ở làng
Khoai(4), lớn lên chuyển đến làng Bến(5), thuộc đất Tế
Giang(6), cách chừng chục dặm. Đường xuất thân trong một gia đình
hào trưởng giàu có, lại thêm chí lớn, nên thế lực ngày càng hùng hậu.
Khi nghe tin Đinh Bộ Lĩnh
chiếm đóng kinh đô Cổ Loa, khiến Đỗ Cảnh Thạc phải chạy về Thành Quèn, thì Đường
bàn với chư tướng:
– Thằng cụt tai mới chạy
về đấy, chân ướt chân ráo. Ta phải lập tức, đập một nhát chết tươi!
– Nó từng làm Chỉ huy sứ
thời Ngô Tiên Vương, không dễ lơ là đâu. Ta phải cẩn trọng mới được.
– Còn thua cả thằng mặt
trắng Lã Xử Bình, thì tài cán nỗi gì? – Đường có ý xem thường Thạc, – ta không
đánh ngay, để nó củng cố Thành Quèn vững chãi, thì khó công phá.
Lã Đường phán vậy, rồi dẫn
quân bản bộ ra đi.
Thạc rút Cổ Loa, chạy về
Thành Quèn, đắp đất dựng thành cao, biến sông Tích làm hào sâu. Đêm ngày, Thạc
chăm lo củng cố căn cứ, phủ dụ dân chúng, bành trướng thế lực, thu cả vùng núi
sông dưới chân Ba Vì làm hậu phương của họ Đỗ, gọi là Đỗ Động Giang.
Quân do thám báo, có bọn
Lã Đường ở Tế Giang đang dẫn quân tới, Thạc bảo bọn tả hữu:
– Hẳn thằng này hồ đồ,
cho rằng ta về đây còn chân nâng, nên rắp tâm cướp phá đây.
– Chưa hẳn, thưa động chủ,
xem ra thì nó có học Binh pháp, nên mới vội vã cất quân tiến đánh, khi ta vừa mới
hạ trại.
– Ồ, ta không chủ quan
khinh địch, nhưng biết địch. Thằng này cũng từng chinh chiến mở rộng căn cứ.
Khi đánh trận bị thương, có người đàn bà thuyền chài cứu chữa cho, nên nó lấy
làm vợ.
– Quả là chủ tướng biết
khá tường tận về địch nhân.
Thạc nghe vậy, trong bụng
vui lắm, bèn gọi từng tướng lại, dặn nhỏ kế sách cứ thế, cứ thế…
Quân do thám của Đường về
báo, lính Đỗ Động Giang đang đắp thành, chẳng phòng bị gì cả. Trên sông Tích có
thấy luyện tập thủy quân, nhưng ngày tập, đêm nghỉ, thuyền bè buộc đầy bến
sông.
– Quả là giời giúp ta rồi!
– Đường khoái chí, kêu to, – đúng là mỡ nó rán nó.
– Đề phòng chúng nghi
binh.
– Đêm nay, ta cho quân
lén sang, chở thuyền về. Quả thực, ta đang lo, không biết lấy gì vượt
sông, tạo thế bất ngờ khi tấn công hướng này. Hà hà hà…
Đêm ấy, trăng suông lờ mờ,
Đường cho quân lặng lẽ bơi sang, dìu hết thuyền về bên mình, rồi hối hả xếp
quân lính, vũ khí lên. Khi hàng trăm chiếc thuyền ngập mạn vừa tới giữa sông,
thì bỗng nhiên, một phát pháo hiệu từ Thành Quèn nổi lên, phá vỡ màn đêm. Lập tức,
tên nỏ bắn xuống thuyền như mưa, khiến quân Tế Giang không sao tiến sang được,
đành quay lại. Bọn chết tên, chết đuối không biết bao nhiêu mà kể. Số còn sống
sót vội nhao lên bờ. Lập tức, hàng loạt tên lửa bắn sang, khiến những đống cỏ
khô cháy đùng đùng, cả bọn sợ hãi chạy dạt vào chân núi.
Chúng chưa kịp thở, thì lại
nghe phát pháo lệnh nổ, toán quân phục trong núi, ào ạt xông ra chém giết. Tình
thế nguy kịch, Đường hô to:
– Đằng sau là sông bốc lửa,
đằng trước là núi cao, không liều chết thoát “Bối thủy trận”, thì không
có lối về.
Nghe vậy, quan quân liều
chết quay lại kháng cự như lũ trâu điên, khiến quân Đỗ Động khiếp vía, dạt cả
ra. Đường dẫn tàn quân chạy lên núi, cố thủ. Quân Đỗ Động hè nhau vây ráp.
– Chủ tướng, đang đêm thế
này, phải mở đường máu mới thoát được. Chứ nấn ná trời sáng là khó lắm.
– Nhưng quân lính thất
tán cả, làm sao mà tập hợp? – Đường lo lắng hỏi.
– Cốt là chủ tướng bình
an giở về. Còn quân lính, hết đám này, thì tuyển đám khác. Dân Tế Giang thiếu
gì trai tráng?
Nghe bùi tai, Đường cùng
bọn tâm phúc lợi dụng đêm tối trốn thoát. Đám tàn quân Tế Giang chui lủi trong
hang núi, bị Thạc vây ép không có đường ra, đành ôm nhau chết đói cả. Đời sau,
dân chúng thương tình xây một cái bể to trong hang, thu nhặt những nắm xương
tan chất vào đấy, để thờ cúng cho đỡ tủi hổ vong hồn. Những người lính xấu số ấy,
được dân chúng gọi là nghĩa quân cho sang trọng.
Than ôi, quân trung mà
trong tay tướng hèn thì cũng chết uổng mạng.
2.
Sau khi bỏ thành Cổ Loa,
mặc cho Lã Xử Bình đánh nhau với Đinh Bộ Lĩnh, Kiều Công Hãn chạy về Phong
Châu.
Thấy thế lực của Đinh Bộ
Lĩnh đã hùng cường gấp bội, so với thời cờ lau tập trận, lại có Trần Lãm ở Bố Hải
Khẩu hậu thuẫn, nên Hãn nghĩ bụng, thế nào nó cũng bành trướng khắp vùng, ta phải
phòng bị vững chắc mới được. Một mặt, ta cần khoa trương thanh thế, đường đường
là Thứ sử Phong Châu, do chính tay Ngô vương phong chức cơ mà; mặt khác, phải củng
cố Tam Giang, Phù Lập làm thế ỷ dốc; rồi nữa, chiếm luôn Hào Châu, Thái Châu. Nếu
ta đánh luôn thằng Khoan, thì đất rộng thêm đến Tam Đái, lại chứng tỏ sức ta cường,
lực ta mạnh, chứ không phải sợ thua thằng mục đồng ấy mà chạy khỏi Cổ Loa đâu?
Chẳng qua, ta tính kế lừa địch. Thằng Bình mặt trắng ta còn chẳng sợ, lại dám
làm tứ hổ tranh hùng đấy thôi…
Nghĩ vậy, Hãn dẫn quân vượt
sông, đi đánh Tam Đái.
Khoan trấn thủ vùng Tam
Đái, dựng phủ trên gò Biện Sơn, đóng đồn ở gò Đồng Đậu. Khoan chú trọng mộ quân
luyện binh, lại chăm lo đời sống dân chúng, nên thế mạnh và được lòng người.
Dân chúng trong vùng tôn Khoan là Quảng Trí Quân, nghĩa là ông vua có đức lớn,
tài cao. Căn cứ Tam Đái trở nên trù phú, dân gian có câu: “Nhất Tam Đái, nhị
Khoái Châu” là vậy.
Quân do thám cấp báo việc
Hãn hành binh tiến đánh Tam Đái, Khoan bảo các tướng:
– Thằng Hãn động binh
chuyến này, chẳng qua là để thanh minh với bàn dân thiên hạ, về việc bó chạy khỏi
Cổ Loa mà thôi.
– Sao nó phải làm thế?
– Thực ra, nó định một
công đôi việc: nhất là, chữa thẹn với quan quân Phong Châu; nhị là, mở rộng đất
đai cát cứ, – Khoan tự tin, như đi guốc trong bụng Hãn vậy. – Nhưng ta lấy quân
nghỉ ngơi mà đánh quân mệt nhọc, thì lo gì không giữ được Tam Đái. Có khi, nhân
đà, ta làm cỏ luôn Tam Giang của nó không biết chừng.
Các tướng nghe vậy, trợn
mắt kinh hãi, lòng càng thêm phục chủ tướng. Thảo nào, Khoan tự xưng là Nguyễn
Thái Bình.
Hãn cho quân vây chặt Biện
Sơn, Gò Đậu. Khoan cố thủ không ra. Quân lính Tam Đái đánh chiến thuật du kích,
cho lẩn quất trong rừng núi, làng bản, thỉnh thoảng nhè sơ hở đánh ào một cái,
rồi rút chạy tắp lự, khiến bọn Hãn không biết đâu mà lần.
Một hôm, Hãn dụng kế
khích tướng, cưỡi ngựa ra trước trận, quát to lên rằng:
– Con chuột Nguyễn Khoan
kia, sao cứ lản tránh trong hang mãi thế?
Khoan múa giáo ra trước
trại, mắng:
– Mày còn thua cả Lã Xử
Bình, tháo chạy khỏi Cổ Loa, thì còn có gì giắt lưng mà dám mò tới đây khua môi
múa mép?
– Chẳng qua là ta để bọn
Xử Bình, Bộ Lĩnh tranh ăn mà thôi. Người xưa từng dạy, tọa sơn quan hổ đấu. Nếu
ta yếu lực, đâu còn sức mà vây ép thế này, làm cho Tam Đái của mày sống dở chết
dở?
– Thằng Bình từng phò tá
Ngô Xương Văn, năm xưa lên đây tác oai tác quái. Nhưng chỉ một mũi tên “Thái
Bình” của ta bắn ra, cũng khiến chúng nó lôi xác nhau chạy về chẳng kịp. Ngươi
xem đây!
Khoan huơ huơ cây giáo
tre, thân vẽ hình vằn vện như rắn cạp nong, lắp mũi giáo búp đa bằng sắt, lại
có ngạnh, đeo ngù như thương, nom rất kỳ quái, hòng thôi miên đối thủ, khiến
Hãn nhìn theo như thể bị rắn hớp hồn. Bất ngờ, Khoan phóng mạnh một phát, cây
giáo bay như rắn lội. Hãn vừa kịp né người, thì Khoan đã giương cung, tức thì
nghe “pựt” một tiếng, mũi tên đã cắm ngay vào giữa ngực, may có mảnh trấn tâm
che chở, cản được mũi tên độc. Hãn tức mình, hô quân đánh ào lên. Khoan vội rút
lui và phất tay ra hiệu bắn nỏ. Tên bay như mưa, quân Hãn chết chồng đồng. Bọn
Hãn đành lùi lại, chỉnh đốn thế trận.
Vây hãm mãi mà không hạ nổi
Tam Đái, mùa mưa lại đến, nước sông lên to, tiếp tế khó khăn, nên Hãn để lại một
toán khoa trương thanh thế nghi binh, cho đại quân lặng lẽ rút lui. Bọn quân ở
Gia Loan, Giã Bàng, Vĩnh Nỗ, Ao Náu… lập tức chặn đánh, khiến quân Hãn phải co
cẳng chạy dài. Kết cục, Hãn không lấy được Tam Đái, lại hao người tốn của, nhụt
chí khí quan quân. Còn Khoan, vẫn giữ được cương thổ, chỉ tốn mấy vạn mũi tên
mà thôi.
3.
Dương Huy lượng sức không
địch nổi Bộ Lĩnh, bèn chạy về Vũ Ninh(7). Nguyễn Thủ Tiệp thấy cơ hội
ngàn năm có một, liền cất quân Tiên Du(8) ào sang Vũ Ninh. Thứ sử
Dương Huy thất kinh, kêu lên:
– Rõ là quân ăn cướp,
nhưng một mình “thằng giặc sấm ấy”, ta không sợ, chỉ lo anh em nhà nó cùng hợp
binh mà thôi. Thằng anh cả của nó từng bắn chết Nam Tấn Vương, vừa giờ lại đánh
lui được tay Hãn. Lại còn thằng út ở Tây Phù Liệt(9) cũng tác oai
tác quái không ngừng.
Bọn quan quân cũng lo
thay cho chủ. Bỗng một tên bước ra nói to:
– Anh em nhà nó tuy mạnh,
nhưng chưa kịp phối hợp với nhau. Chẳng qua, nó là lân bang, nhân cơ hội ta vừa
ở kinh đô giở về, mà làm càn đấy thôi.
– Cổ Loa ta còn chẳng sợ,
sợ gì Tiên Du? – Huy mạnh mồm trấn an quan quân.
Bọn chúng đang bàn định
chưa xong, thì chợt nghe tiếng la hét dậy trời. Thảo nào, người ta gọi Thủ Tiệp
là Lôi Công, tức Ông Sấm. Huy cả kinh, nhìn ra ngoài thành, thấy khói bụi bốc
lên mù mịt, bóng người, ngựa thấp thoáng nom như thể thiên binh vạn mã.
Huy vội cắt đặt quân mã
phòng thủ, rồi cưỡi ngựa ra ngoài thành, đánh nhau với Tiệp. Tiệp ngồi trên
lưng ngựa, trỏ roi mắng:
– Nhà ngươi khôn hồn thì
đầu hàng, sẽ được bảo toàn tính mạng.
Huy tức khí quát:
– Mày là lân bang, anh em
vẫn thường uống rượu với nhau, sao giở mặt như giở bàn tay vậy?
– Ngươi còn dám tranh
vương với Cổ Loa, sao còn mở miệng trách ta?
– Thằng anh mày phạm tội
giết vua. Chúng mày đáng phải chu di tam tộc. – Huy vung lưỡi kiếm lá sáng
loáng lên, hô to, – hãy nếm một mũi kiếm của ta!
Hai bên tế ngựa, xông vào
đánh nhau. Quân sĩ cùng hò reo khích lệ. Thanh kiếm lá hai cạnh của Huy vung
lên như tia chớp. Tiệp cũng rút cặp đoản đao ra, tay phải múa tít nghênh chiến,
nhưng tay trái lừa miếng, phóng mạnh một phát, lưỡi đao trúng ngay vào mắt ngựa
đối phương, khiến con ngựa nhảy dựng lên, làm Huy chới với. Tiệp nhanh tay dùng
đao gạt kiếm, đâm chết Huy, khi chưa kịp rơi xuống đất. Quân Tiên Du thấy vậy,
ào vào thành Vũ Ninh đốt nhà, chém người, cướp của, hãm hiếp… Tiếng kêu la vang
ịch, khói lửa bốc lên ngút một góc trời.
Nguyễn Thủ Tiệp thu vùng
đất Vũ Ninh, sáp nhập vào Tiên Du, xưng là Vũ Ninh Vương, mở rộng giang san,
hùng cứ một vùng.(10)
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
___________________
(1) nay
thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc).
(2)
độ dài 1 trượng = 10 thước, chừng 4 mét.
(3)
độ dài 1 thước khoảng 0,4 mét
(4)
nay là làng Minh Khai, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
(5)
nay thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
(6)
nay là xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
(7), (8)
nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.
(9)
nay thuộc huyện Thanh Trì, thủ đô Hà Nội.
(10)
nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Chương bốn
Trần Lãm trao quyền
bính
1.
VHSG- Lãm người gốc Hán,
quê ở Quảng Đông, cha là Trần Công Đức. Đức sang Tĩnh Hải Quân lập nghiệp vùng
Bố Hải Khẩu. Thời xa xưa, vùng này là Kẻ Bo, cửa bể, nhận nước từ sông Hồng đổ
ra. Dần dần, người kéo nhau đến khai phá, quần tụ nên đông, lúa nhiều, cá lắm.
Nhờ sức dân cần cù, nên đất đai ngày càng trù phú.
Lãm kế nghiệp cha, thấy Cổ
Loa nghiêng ngả, bèn mộ quân luyện binh cát cứ một vùng, xưng là Trần Minh
Công. Từ khi quân Cờ Lau sang nương tựa, lại càng làm cho thế lực của Lãm trở
nên hùng hậu.
– Minh Công được lòng người,
bởi thuận lẽ giời, – lão Bộc chắp tay đứng bên giường bệnh, từ tốn nói. – Dân Bố
Hải Khẩu, ai ai cũng coi như cha vậy!
– Đấy là nhờ hồng phúc của
Ngô Tiên Vương. – Lãm khó nhọc đáp một cách khiêm nhường, – chứ cứ như kẻ mọn
này, thì đáng gì.
Lãm húng hắng ho, kẻ hầu
bưng cái ống nhổ bằng đồng miệng loe, cổ thót, bụng phình, nom như quả bầu, kề
đầu giường. Bộ Lĩnh khẽ khàng đỡ vai cho nhạc phụ nhỏm dậy mà nhổ. Một đứa hầu
lấy khăn lau miệng cho chủ. Mấy giọt đờm dính trên bộ râu bạc, Bộ Lĩnh vội lấy ống
tay áo ra lau. Các quan nhìn thấy, ai cũng cảm động. Lãm hài lòng ra mặt, trỏ rể
quý, rồi nhìn các quan, chậm rãi nói:
– Bộ Lĩnh là nha tướng của
ta, lại là giai tế(1). Nhưng, hai ta cũng làm thông gia với nhau, –
Lãm cười khùng khục, ai nấy cười theo và đưa mắt nhìn nhau, đầy ý tứ.
– Bộ Lĩnh hơn ta, rồi ra,
sẽ là minh quân của dân ta, – Lãm cười móm mén, vẻ mãn nguyện.
– Mạt tướng đâu dám vô lễ,
– Bộ Lĩnh vội quỳ xuống, chắp tay cung kính.
– Thuở hàn vi đã được Ngọc
khuê, lại cưỡi Rồng qua sông, Ngô Tiên Vương lại ban cho Nhiếp thứ sử, Ngự
phiên đô đốc. Quả là ngài nhìn xa trông rộng, – Lãm nhìn Bộ Lĩnh trìu mến. –
Khi xưa, ta bảo, sang đây là để rồng ấp là gì, – Lãm lại cười rạng rỡ.
Vẫn chắp tay, cúi đầu,
đáp lại tấm lòng của ân nhân, cũng là bố vợ, lại thêm tình thông gia nữa, Bộ
Lĩnh trịnh trọng nói:
– Nhờ Minh Công cùng với
dân kẻ Bo cho nương nhờ, mới có hôm nay.
– Cũng là ông giời xui
khiến cả thôi. – Lãm cười cười, đôi lông mày dài thõng xuống như lá liễu, – nay
ta đã được phụ thân báo mộng về đón rồi. – Lãm cụ cựa lưng trên tấm gối dựa đầu
giường, – vậy, từ năm Đinh Mão này (967), có giời chứng giám, ta ủy thác binh
quyền, cơ nghiệp cho Đinh Bộ Lĩnh.
Nghe vậy, cả bọn ồ lên, vừa
kinh ngạc, vừa vui mừng. Bộ Lĩnh vội giập đầu xuống nền nhà lát gạch nung, tứa
máu trán, kêu to:
– Rể hèn, đâu dám thế!
Lãm giơ tay, ra hiệu cho
các tướng đỡ Bộ Lĩnh đứng dậy, rồi lại vẫy tay gọi các con, các cháu đến bên, vẻ
âu yếm, hiền từ:
– Các con, các cháu là
con cháu ta, nay cũng là con cháu Bộ Lĩnh. Giời cho phúc ấm, mai ngày nên cơ đồ,
hẳn là phò mã, – Lãm chỉ tay vào bọn Thăng, Thái. – Rồi thì hoàng hậu, – Lãm lại
chỉ tay vào Trần nương. – Vậy, liệu đường mà ăn ở, nhớ thuở hàn vi, thương yêu
lấy quan, quân, dân chúng thì phúc mới trường…
Bộ Lĩnh và đám con cháu
chưa kịp nói câu cảm tạ, thì Lãm đã lừ đừ xỉu dần, rồi tắt thở.
Nghe tin Trần Lãm qua đời,
quan, quân, dân chúng khóc ầm cả vùng kẻ Bo.
2.
Đinh Bộ Lĩnh đứng lên lo
liệu tang lễ cho Lãm thực linh đình, theo cổ tục người Hán, lại đáp ứng được
tình cảm của dân chúng kẻ Bo, nên ai cũng thấy mãn nguyện, lại càng thêm nể kẻ
kế nghiệp, nối quyền.
Bộ Lĩnh, ngoài mặt thì phải
tỏ ra đau thương của đạo làm con, nhưng trong lòng như lửa đốt. Tin tức các nơi
dồn dập báo về: nào là, Ngô Xương Xí ở Bình Kiều chém sứ giả, tỏ ý tuyệt giao;
nào là, Lã Đường ở Tế Giang đi đánh Đỗ Cảnh Thạc ở Thành Quèn, nhưng lại bị thất
bại; nào là, Kiều Công Hãn chạy khỏi Cổ Loa, nhưng lại dẫn quân đánh Nguyễn
Khoan ở Tam Đái, cũng bị thua đau; rồi thì, Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du đã giết
Dương Huy và cướp đất, lại còn ngang nhiên xưng vương nữa… Nếu ta không sớm lo
củng cố Bố Hải Khẩu, thì nhân lúc tang gia bối rối, chúng sẽ đánh úp, khó trở
tay. Mà dày công quá, lại e miệng thế đồn thổi, con rể chiếm đất bố vợ. Nay mà
cất quân ra Cổ Loa cũng được, bởi đã phao tin đón Xí về kế ngôi, nhưng tự nó đoạn
tuyệt. Chỉ e, đất cố đô ấy trống trải quá, phòng thủ không tiện. Thế thì chỉ có
đường về Trường Châu là hợp. Đấy là nơi ta dấy binh khởi nghiệp. Vả lại, nghe
Tú nói, thành trì, doanh trại, đền đài cũng đã tươm tất cả rồi.
*
Một hôm, Bộ Lĩnh mời các
quan lại nghị bàn, chuyện định nơi cát cứ. Điền nói:
– Ta nên lên Cổ Loa, sẵn
Thành Ốc, đỡ khó nhọc, mà dân lại lành, thủy bộ đều thuận lợi. Các đời vua từ
Thục Phán đến Ngô Quyền, đều đóng đô tại đấy, từ quan chí dân phép tắc đã thuần.
– Gớm, hôm nay sao huynh
trưởng cỏ vẻ thông tỏ địa lý, tới phép an dân trị nước làm vậy, – Bặc cười nói.
– Nhưng chỗ ấy, phòng thủ không thuận như Trường Châu – Yên Thành ta đâu.
– Trường Châu thì lại phải
nhọc công dựng lầu xây thành, – Điền vặc lại.
– Cái này, Trịnh Tú đã
làm hòm hòm rồi, – Cơ lên tiếng. – Cổ Loa cũng tốt, nhưng là đất kinh đô của
nhà Tiền Ngô, Hậu Ngô, nên thể nào Ngô Xương Xí cũng quay về, lòng dân vẫn còn
hướng về nhà Ngô. Nếu ta đóng đô ở đấy, sẽ bị lấp bóng. Chi bằng, giở lại Yên
Thành- Trường Châu của ta gây dựng…
– Lão thấy ông Bặc, ông
Cơ nói phải, – lão Bộc cũng lên tiếng. – Chả đâu bằng cái quê nhà mình. Trường
Châu với Đại Hoàng chỉ cách một con sông. Quan, quân ta, phần đông quê ở đấy cả,
còn một phần gốc gác châu Hoan, châu Ái, nay lại có thêm người kẻ Bo. Về sau, kẻ
nào đánh thành, thì quan, quân tất gắng giữ, bởi giữ được thành cũng là giữ được
quê rồi.
Các quan nghe vậy, ai
cũng lấy làm hỉ hả.
– Hay là, ở quách đây cho
xong? – Điền lại bàn ngang. – Ít ra cũng được hơn chục năm gắn bó, nhiều người
đã lấy vợ sinh con ở kẻ Bo này rồi.
– Đây là đất hương hỏa của
Trần Minh Công để lại, có từ thời ông cụ thân sinh từ Quảng Đông sang kia. –
Lão Bộc khuyên can, – chớ phạm vào, mang tiếng.
– Nhưng Minh Công đã giao
tất cả cho hiền đệ rồi mà, – Điền quay sang Bộ Lĩnh, tìm sự đồng thuận. – Vả lại,
đệ là giai tế, cũng có phần chứ?
Ngẫm nghĩ hồi lâu, Bộ
Lĩnh mới chậm rãi nói:
– Anh em, bằng hữu, lão
trượng nói, đều có lí cả. Nhưng khi ra đi, ta đã có ý sớm muộn cũng về lại
Yên Thành – Trường Châu, nên cắt đặt Trịnh Tú ở lại luyện quân Thung Lau, trấn
giữ Đại Hoàng, xây dựng Yên Thành. Lưu Cơ cũng đã xem, thấy tốt đẹp cả. Vậy, ta
phải về đấy, nhưng Cổ Loa, Đại La, Kỳ Bố cũng phải để tâm. Bây giờ, hai anh em ở
lại. – Bộ Lĩnh trìu mến nhìn Thăng, Thái, – đặng trông nom phần mộ Minh Công,
tu bổ bản phủ, vỗ yên dân chúng. Lưu Cơ với Đinh Liễn đi thị sát Cổ Loa, Đại La
để tính kế lâu dài. Nguyễn Bặc đốc thúc chuyển đại bản doanh về Yên Thành.
– Hẳn lại là hai cánh thủy,
bộ như xưa, – Điền cười nói.
– Phải! – Bộ Lĩnh hồ hởi,
quay sang Bặc, – ông Bặc này, giao cho bác Điền đường thủy nhá. Chuyến này mã hồi,
lại có món cá rô Trường Châu chờ đợi bấy lâu, hẳn là ba quân hể hả lắm đây?
Bặc, Điền nuốt nước miếng,
y lệnh.
Lão Bộc và Đỗ Thích giúp
các phu nhân và con cháu cùng chuẩn bị, chờ ngày tốt xuất hành.
3.
Lưu Cơ và Đinh Liễn cùng
tuổi Canh Tý (940), nhưng Cơ biết phận, nên luôn nhún mình làm kẻ dưới. Bởi Cơ
hiểu, Bộ Lĩnh có sao Thiên mã chiếu dẫn, lại được Ngọc khuê, Rồng vàng phù trợ,
anh hùng cái thế, đứng ngôi Thiên tử. Như vậy, Liễn ắt kế ngôi, nên đạo vua tôi
phải rõ ràng, nhưng tình cảm cần thân mật.
Một hôm, cả hai đang ruổi
ngựa trên đường lên Cổ Loa, Liễn thân tình bảo:
– Anh em ta cùng cầm tinh
con chuột. Vậy, kết nghĩa anh em cho mạnh cánh.
Cơ nghe vậy thì hoảng sợ,
vội kiếm cớ lảng chuyện:
– Đất châu Ái, có tay Lê
Hoàn, cũng chỉ kém anh em mình một tuổi, nhưng mạnh chân khỏe tay lắm..
– Hắn cầm tinh con lợn, Kỷ
Hợi (939). Tôi cũng nghe đồn, hắn chiêu binh mãi mã ghê gớm lắm. Hẳn cũng là
anh hùng đời nay, nên tôi được lệnh thu phục. Nhưng qua trận vừa rồi, nếu như
không có thằng Bò Đen, thì chắc gì Lê Hoàn đã sống nổi? – Liễn tỏ ra thạo đời.
– Tuổi ấy, ví như có chí,
mà giời đất phù hộ, thì đường quan lộ cũng hanh thông, phát đạt, – Cơ cố phụ họa,
khiến Liễn quên đi cái chuyện kết nghĩa huynh đệ vừa mới khơi ra. Nhưng không
dám nói chuyện Lê Hoàn, cũng được rồng ấp thuở hàn vi, sợ Liễn ngờ.
– Hồi bị giam lỏng ở Cổ
Loa, nghe đồn, dân chúng đào ao, thấy cả kho mũi tên đồng, – Liễn khoe.
– Thế hả, – Cơ hào hứng.
– Chuyến này, ta sẽ rinh về Yên Thành. Chủ tướng hẳn sẽ hài lòng.
– Sợ gỉ cả ra rồi, – Liễn
thấy Cơ có vẻ thích thú, nhưng sợ kẻ mừng hụt, người nói hớ, nên tỏ ra phân
vân.
– Trong cả đống, ngoài
cái gỉ, ắt có cái lành, – Cơ hiểu ý, nói câu động viên. – Có khi, ta học cách
đúc lại, thì còn sợ gì lá chắn, áo giáp của quân địch nữa.
Mới đây, Liễn theo cha
đánh lấy Cổ Loa, nay trở lại, khác nào về nhà mình. Quan, dân trong thành, sợ
uy Đinh Bộ Lĩnh, nay gặp Liễn lại càng vồ vập. Liễn dẫn Cơ đi xem dân Mạch
Tràng làm bún. Cơ ăn bát bún xào cần, khen ngon. Thấy vậy, cô hàng bún lấy cái
thúng khảo, lót lá ngái, rồi xếp con bún đầy có ngọn, mang biếu. Cơ cả sợ,
không dám nhận:
– Tướng quân Đinh Bộ Lĩnh
đã dạy, không được lấy của dân.
– Phải, – Liễn đế theo. –
Dân khó nhọc mới làm ra hạt gạo tai hồng, rồi thì xay, giã, ủ để có quả trùng,
mới vắt thành sợi bún. Chúng tôi chỉ dám nếm thử, chứ ai lại lấy cả thúng thế vầy.
Đám dân thấy vậy, lại xúm
cả vào dâng bún. Không lấy thì sợ mang tiếng phụ lòng dân. Hai bên đưa đi đẩy lại
mãi, cuối cùng Liễn đành cảm tạ, rồi cho lính đội về thành, để quan quân cùng
thưởng thức.
Liễn lại đưa Cơ đi xem
nơi làm Bỏng Chủ, thấy cách làm cầu kỳ, nếm thử thấy ngon, mà không dám khen, sợ
dân lại biếu thì phiền. Trên đường vào Thành Nội, Cơ bảo:
– Tôi thấy, cái anh Bỏng
Chủ này, chế làm lương khô cho quân thì tốt.
– Phải! – Liễn toan nói
cách chế, chợt thấy bọn trẻ tắm thùm thũm dưới Giếng Ngọc, bèn dừng lại, chỉ
cho Cơ xem, rồi nói, – đây, gọi là Giếng Ngọc.
– Ối, giời! Tôi có nghe
truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy, nhưng không ngờ cái giếng lại to như ao
làng thế vầy.
Một thằng bé lặn cắm đầu,
chổng mông lên chơi trò “trồng cây chuối”. Lúc ngoi lên, nó trên tay cầm theo
cái mũi giáo đồng, vừa vuốt mặt, vừa khoe ầm lên. Cơ thấy lạ, vẫy nó vào và cầm
xem:
– Cái này, lắp vào gậy
tre thì thành cây giáo, có thể đâm xuyên áo giáp như bỡn, – Cơ tâm đắc, đưa cho
Liễn cùng xem.
– Nghe nói, dân mò được cả
lưỡi rìu đồng nữa kia, – Liễn khoe. – Cái này cũng dùng trong quân được.
Cả hai mải nói chuyện,
lúc quay ra thì bọn trẻ đã ôm quần áo chạy nhông nhông, không dám ngoái lại.
Nhưng hôm sau, Cơ bàn với Liễn, bảo bọn xã quan, kỳ lão nhờ bọn trẻ, tìm được một
đống to như thóc ngày mùa, toàn là mũi tên đồng, lại thấy cả khuôn đúc nữa. Bọn
trẻ này, xó xỉnh nào cũng đào bới, mò mẫm, nên khám phá ra những kho báu của tiền
nhân gửi lại hậu thế. Bởi vậy, ai được lòng trẻ con là thuận ý trời, lấy được
thiên hạ. Về sau, Bộ Lĩnh lấy được thiên hạ là nhờ có đám mục đồng.
Trước khi đi La Thành, Liễn
sai lính đóng lô mũi tên đồng và khuôn đúc vào thùng gỗ, cho ngựa thồ về Yên
Thành..
Cơ và Liễn vãng cảnh Đại
La, lòng thầm khâm phục Cao Biền. Chỉ có điều không ưng là, tại sao lại làm các
cửa thành đều hướng về phía bắc? Cơ nghĩ thầm, phải tay ta, sẽ xoay lại hướng
nam, hướng về Đại Hoàng, Trường Châu…
Cả hai bơi thuyền chán
trên sông Tô Lịch, lại chạy ngựa ra hồ Lục Thủy(2), rồi chèo thuyền
ra sông Hồng, đến bến Lâm Ấp thì rẽ vào đầm Xác Cáo. Cơ bảo với Liễn:
– Nghe nói, ở chùa Khai
Quốc kia, – Cơ chỉ về mom đất nhô ra ven hồ, – Hòa thượng Ngô Chân Lưu là cháu
nội Ngô Tiên Vương.
– A, thế là thằng Tỷ, anh
thằng Xí, – Liễn bỗ bã nói, tỏ ra tường tận về con cháu nhà Ngô thất sủng.
– Hay là, ta ghé vào, nhề!
– Cơ dò ý.
– Cái đám thầy chùa này
vô tích sự, – Liễn chép miệng, vẻ ngán ngẩm. – Ông thích thì cứ vào…
*
Nhác thấy con thuyền có
quan và lính lố nhố trong khoang, đang hướng mũi vào chùa Khai Quốc, chú tiểu
chạy vội vào bẩm. Hòa thượng bảo:
– Con ra xem, thuyền ghé
bến đền thì mời chảo, đón khách.
– Biết là ai mà đón ạ?
– Ai đến chùa cũng là
khách. Đã là khách thì đến phải đón rước, về phải đưa tiễn.
Chú tiểu chạy ra, vừa lúc
con thuyền cập bến. Một chú lính cầm cái mỏ neo bằng gỗ lim, nhảy lên bờ, bập
vào cạnh gốc cây si già. Cả bọn lục tục bước lên tấm ván gỗ, đỡ nhau bước lên vạt
cỏ. Chú tiểu chắp tay chào khách.
Lưu Cơ cất tiếng hỏi:
– Chúng ta muốn xin vào
chùa, vấn an Hòa thượng?
– A Di Đà Phật, Hòa thượng
có lời mời các quan vào trai phòng.
Liễn tò mò nhìn đám cành
lá lòa xòa mặt sóng, như kiểu trẻ con nghịch nước, lẩm bẩm: “Lá ngâm nước
mà không thối”. Hòa thượng thân ra đón khách, nghe vậy, nhưng sắc mặt vẫn không
thay đổi. Lưu Cơ giới thiệu danh tính hai người. Hòa thượng reo lên:
– Bần tăng nghe quý danh
đã lâu, nay mới hạnh ngộ, thực là phúc lớn lắm thay!
– Chúng tôi cũng biết ông
đấy! – Liễn bỗ bã chào mà như dọa, – anh thằng Xí, phỏng?
– A Di Đà Phật, bần tăng
biết chuyện bất hạnh của sứ giả ở Bình Kiều, nhưng kỳ thực là do viên Thái úy,
chứ… – Hòa thượng nghẹn lời, như vẻ mình cũng có lỗi.
– Phải, nhưng bữa nay,
anh em tôi lĩnh mệnh chủ tướng Đinh Bộ Lĩnh, đi thị sát Cổ Loa, Đại La, nên tự
tiện đến vãng cảnh chùa, vấn an Hoà thượng, chứ không có ý gì.
Lưu Cơ vội vàng biến báo,
khỏa lấp và đưa mắt nhìn Liễn, có ý nhắc nhở sự hòa nhã. Nhưng Liễn thấy mà vờ
như không, vẫn trân trân. Lưu Cơ và Chân Lưu đều hiểu là Liễn vẫn bực chuyện
Ngô Xương Xí xử tệ với sứ giả của Đinh Bộ Lĩnh và chuyện bản thân bị Ngô Xương
Ngập bắt làm con tin năm nào.
Chú tiểu dâng trà ướp
hương sen. Cả ba trở lại thư thái hơn. Cơn gió đầm Xác Cáo thổi một hơi dài,
như giải nồng, xua đi cái ngột ngạt tự trong lòng người. Ngồi trong trai phòng,
mà có thể nghe rõ tiếng sóng ì oạp vỗ quanh chùa và tiếng bọn lính tát nước bì
bũng ngoài khoang thuyền.
– Chùa thanh, cảnh tĩnh,
khiến lòng người cũng thảnh thơi như thoát khỏi trần tục, – Cơ lựa ý, gợi chuyện.
– Bần tăng ở chốn này, có
làng Long Đỗ, tức là nơi rốn rồng, ngay gần bến Lâm Ấp kia, Hoà thượng chỉ tay
ra đầm. – Thiển nghĩ, đất Đại La này có rồng ẩn đâu đó, nhưng chưa thấy bay
lên, hẳn còn chờ người mang mệnh lớn. Nghe nói, gần núi Kiếp Lĩnh có bến Long Độ,
ghi dấu sự tích tướng quân Đinh Bộ Lĩnh năm xưa, – Hoà thượng đưa đẩy, đầy vẻ
ngụ ý để lấy lòng Liễn.
– Chẳng qua, là cái tích
vậy thôi, – Liễn nói câu khiêm nhường, nhưng đã tươi nét mặt.
– Thời buổi, khắp nơi loạn
lạc, chẳng hay đầm này có được yên không? – Cơ ướm hỏi.
– Sóng ngoài đầm vỗ vào tận
cửa chùa, – Hòa thượng lại giơ tay trịnh trọng mời khách uống trà và nói câu đầy
ngụ ý.
– Vậy, tôi hỏi, ông có biết
hiện thời có nhiêu xứ quân trong nước? – Liễn độp một câu.
– Bần tăng chỉ biết
mười một sứ quân thôi, – Hòa thượng từ tốn đáp.
– Thế mà cũng đòi, mười
hai! – Liễn tỏ ra ngạo mạn.
– Quả là năm ngoái có mười
hai sứ quân cả thảy, nhưng năm Đinh Mão (967) vừa giờ, sứ quân Trần Minh Công
đã giao lại quyền bính cho tướng quân Đinh Bộ Lĩnh, rồi quy tiên, – hòa thượng
điềm nhiên như không.
Liễn nghe vậy cho là phải,
ngồi ngay cán tàn. Lưu Cơ mừng thầm, nghĩ bụng, chả may, Chân Lưu lại kể cả
Đinh Bộ Lĩnh cũng là sứ quân, thì tạo cớ cho sấm sét nổi lên giữa chùa. Kỳ thực,
có lúc Đinh Bộ Lĩnh nửa đùa nửa thật, cũng xưng mình là sứ quân. Nhưng nếu người
khác nói câu ấy, thì liệu hồn. Bởi vậy, ai cũng biết ý nói tránh đi, chỉ một mực
bảo là có mười hai sứ quân thôi. Nhưng trong bụng, ai cũng nghĩ là mười ba sứ
quân nổi lên, ai thắng thì làm vua, mười hai sứ quân kia thành giặc. Nói mười
ba, hóa ra đánh đồng là giặc, cùng làm loạn cả hay sao?
– Chẳng phải cái chuyện
khen phò mã tốt áo, nhưng quả thật, Tướng quân Đinh Bộ Lĩnh là người có chí, có
dũng, có nhân. Bởi vậy, đã thu phục được Trần Lãm, làm chủ cả vùng Bố Hải Khẩu.
Quan, quân, dân chúng ai nấy đều theo cả, – Hòa thượng nói câu tâm đắc.
– Mười hai sứ quân, thì bọn
người Hán, như Đỗ Cảnh Thạc, Trần Lãm với ba anh em con nhà Nguyễn Nê được coi
là ngũ hổ đấy! – Liễn tự đắc, khi đề cao Lãm, để nói bố mình cũng thu phục được,
tất phải cao tay hơn.
– Còn như hiền đệ của bần
tăng đây, – Hòa thượng muốn nói về Ngô Xương Xí, – năm nay cũng ba tư, ba lăm
tuổi rồi, nhưng lực mỏng, lại xa xôi góc bể chân giời, chẳng nước non gì mà tướng
quân phải nhọc lòng.
Cơ hiểu ý, đưa mắt nhìn
Liễn, nói:
– Chủ tướng tôi cũng có ý
mời Ngô sứ quân về Cổ Loa, kế tiếp Hậu Ngô. – Cơ nghiêng mình nhìn Chân Lưu, –
nhưng tiếc là việc chưa thành.
Chân Lưu nghe vậy nhếch
mép cười, trong lòng thừa hiểu, Bộ Lĩnh làm thế chỉ là để che mắt thiên hạ,
hòng lấy chính danh mà thôi. Lưu Cơ nhác thấy cái cười ấy, thì giật mình, nghĩ
bụng, tuy là nhà tu hành, nhưng hiểu sự đời như lòng bàn tay vậy. Thảo nào, ông
ta một mực ngợi ca Bộ Lĩnh. Liễn thì có vẻ bồn chồn muốn về, hẳn không hiểu nỗi
niềm tâm sự ấy.
Chương năm
Phạm Phòng Át về hàng Cờ
Lau
1.
Phạm Lệnh Công là người
Nam Sách, nhưng có cửa hiệu buôn bán ở Đằng Châu. Vợ Lệnh Công khi mang thai đã
mơ thấy Sơn Tinh và hổ trắng, nên vào năm Canh Ngọ (910) sinh con, đặt tên Phạm
Bạch Hổ.
Hổ lớn lên ở Đằng Châu,
thân hình vạm vỡ, mạnh mẽ như hổ, thông minh hơn người. Nhà nhiều của cải, Hổ lại
có chí học văn tập võ, nên mạnh cánh lắm, về sau, làm Hào trưởng Đằng Châu.
Vào năm Tân Mão (931),
khi tròn hai mươi tuổi, Hổ đã theo Dương Đình Nghệ, đánh Lý Tiến là Thứ sử Giao
Châu, lại đuổi Trần Bảo từ Nam Hán sang cứu viện. Khi Nghệ xưng Tiết độ sứ,
dùng Hổ làm nha tướng.
Lúc Kiều Công Tiễn giết
Dương Đình Nghệ để cướp ngôi, thì Hổ theo lệnh Ngô Quyền, cùng bọn Đỗ Cảnh Thạc,
Dương Tam Kha, Đinh Công Trứ, Kiều Công Chuẩn… kéo quân về vây đánh Đại La.
Chính Hổ là người chém đầu Tiễn, mang về dâng Ngô Quyền. Trong trận Bạch Đằng,
năm Mậu Tuất (938), Hổ là tướng chỉ huy, dùng thuyền nhử giặc vào bãi cọc, để
cho Dương Tam Kha chém đầu Hoằng Thao. Đại thắng, Ngô Quyền phong cho Hổ chức
Phòng át tướng công, coi giữ miền Hải Đông(3), nên thường gọi là Phạm
Phòng Át.
Khi Dương Tam Kha cậy
công lớn, lại là con trai của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ; hơn nữa, trước lúc
Ngô Quyền mất, từng ủy thác con côi, nên đã chiếm ngôi, xưng Dương Bình Vương.
Thái tử Ngô Xương Ngập chạy
về Trà Hương, trú ẩn núi Hun, nên Phạm Bạch Hổ cũng giúp bố là Phạm Lệnh Công
che chở, nuôi dưỡng cho. Về sau, Ngập lấy người thiếp, sinh ra Ngô Xương Xí
cũng tại nơi đây. Hổ gắn bó máu thịt với nhà Ngô là cái sự vậy. Tiếc thay, nhà
Ngô đoản mệnh!
Hổ nghĩ, bây giờ Ngô suy,
Dương Bình Vương không cai quản nổi, nên sứ quân khắp nơi nổi dậy cát cứ, nhưng
xem ra chỉ có Đinh Bộ Lĩnh là bậc anh hào đủ tư chất bình thiên hạ. Từ thuở hàn
vi đã được Ngọc khuê, thế là điềm giời cho cái hốt của nhà vua rồi. Lúc gặp nạn
thừa sống thiếu chết, liền được Rồng vàng giải cứu. Tuổi thiếu niên đã cầm đầu
đám mục đồng, phất cờ lau tập trận, quả là chí lớn. Sinh thời, Ngô Vương đã cho
tập ấm chức Nhiếp thứ sử, Ngự phiên đô đốc, thế là vua yêu. Lúc trưởng thành,
liền dấy binh khởi nghiệp, là sứ quân đầu tiên, từ năm Tân Hợi (951), rồi được
bô lão tôn làm hào trưởng khi mới đôi mươi, thì cái uy không phải là thường. Đến
khi phải nhờ cậy Trần Lãm, liền được phong chức Bộ Lĩnh mà thành tên tuổi, rồi
lấy được cả vùng đất ấy mà không tốn một mũi tên, quả là tài tình. Trận đầu,
chiếm ngay được Cổ Loa, lại còn mời Ngô Xương Xí về kế ngôi nhà Ngô nữa, chứ
không vơ vào lòng, thật là khí khái, một lòng thờ vua… Người như thế, làm gì chẳng
thu được thiên hạ trong tay hay sao? Bộ Lĩnh, khó ai địch nổi, tất sẽ thu phục
thiên hạ, lên ngôi Thiên tử cho mà xem…
Hổ lại điểm mặt các sứ
quân trong cõi Tĩnh Hải Quân, non nửa là người Hán. Kẻ mạnh,
yếu, nhưng không ai sánh
được với Bộ Lĩnh. Cứ xem ba anh em nhà họ Nguyễn, tuy cũng mạnh, nhưng mỗi người
một phương, thì làm sao thống lĩnh thiên hạ. Hai anh em nhà họ Kiều cũng vậy. Họ
Đỗ cụt tai, tuy hùng mạnh, nhưng cái chuyện thanh liễu diệp kiếm lúc nào
cũng giấu trong người, phòng thân, thì khó tụ hợp anh hào. Còn như bọn Lý
Khuê, Lã Đường, Ngô Nhật Khánh, Ngô Xương Xí thì bão nổi là bay, sóng đánh là
tan, kể gì…
Mình đường đường là Phòng
át, danh nghĩa cai quản cả vùng bể rộng sông dài, nhưng thật ra cũng chỉ lập được
thành trì ở Cát Đằng, dựng đồn tại Cửa Triệu, Kiền Kinh, Cửa Chùa, Bến Đò… trấn
giữ Đằng Châu(4) mà thôi. Thế nào Bộ Lĩnh cũng chiếm cả, không từ sứ
quân nào, để thống nhất thiên hạ về một mối. Chả nhẽ, lúc ấy mình lại hàng?
Hàng thì còn ra thể thống gì nữa? Nhưng không hàng, chắc chết. Chi bằng, mình đến
hợp quân với Bộ Lĩnh cho sớm, nghề buôn dậy rằng, đồng tiền đi trước là đồng tiền
khôn. Nhưng phải chờ cơ hội, không thể quăng gươm cởi giáp quy hàng như tướng
thất trận được. Phải tính, sự đường hoàng hôm nay, sẽ làm nên vị thế ngày mai.
2.
Một hôm, Phạm Bạch Hổ
đang đọc sách trong trướng phủ, chợt lính hầu vào báo, có tướng quân Đinh Điền
xin đến yết kiến. Nghe vậy, Hổ nghĩ bụng, quả là sự đến rồi, bèn thân ra đón
khách.
– Thực là rồng đến nhà
tôm, – Hổ hồ hởi nói câu xã giao, thay lời chào hỏi, – tướng quân khó nhọc đến
tệ xá thế này, vinh hạnh lắm thay!
– Thưa đại nhân, – Điền
cũng lựa lời thi lễ, – bấy lâu bỉ nhân được nghe danh tiếng như sấm bên tai,
nhưng đâu dám tự tiện. May phúc, tướng quân Đinh Bộ Lĩnh ủy thác, nên mới mạo
muội…
Hai bên mới gặp lần đầu,
nhưng có vẻ tâm đầu ý hợp, nên không phải giữ lễ gì lắm, nhưng cũng không dám
khinh suất mà hỏng việc lớn. Điền từ tốn hỏi, như thể thăm dò:
– Chủ tướng tôi, tuổi còn
trẻ, lực lại mỏng, bất đắc dĩ phải sang nương nhờ Bố Hải Khẩu. Nhưng trong lòng
vẫn nhớ đến đại nhân. Bởi đại nhân là chỗ bằng hữu của phụ thân Nhiếp thứ sử.
– Bộ Lĩnh còn nhớ đến mỗ,
thì thực là phúc lớn, – Hổ khiêm nhường nói. – Chỉ tiếc, Đằng Châu đất hẹp, người
thưa, nên chưa được mắt rồng hạ cố soi xét.
Điền nghe vậy, biết Hổ là
người thức thời, lại có ý đề cao Bộ Lĩnh như thể Thiên tử, hẳn không có ý tranh
giành như các sứ quân khác. Bộ Lĩnh sai mình đi sứ chuyến này, hẳn đã suy tính
thấu đáo, quả là có con mắt nhìn đời, nhìn người đâu cũng thấu tỏ cả. Mình
không được sơ xuất mới thành tựu.
– Ngặt vì tướng quân tôi
không đến diện kiến được, nên tôi lĩnh mệnh mang chút quà mọn, đến làm lễ ra mắt.
Cụ thể, chủ tướng tôi hẹn sẽ có ngày hội ngộ.
Đoạn, Điền vẫy tay, gọi
lính hầu bê tráp vào, nhún chân cung kính dâng lên. Hổ tò mò hỏi:
– Quà gì thế này?
Điền lại phẩy tay cho tên
lính lui ra, rồi đặt xuống bàn, khoát tay:
– Mời đại nhân…
Hổ nhíu mày, khẽ kéo khăn
hồng, thận trọng mở nắp tráp. Bất chợt, Hổ sững người, lấy tay che mắt, khi thấy
vàng ngọc sáng lóa cả phủ, bèn thất thanh kêu lên:
– Sao Bộ Lĩnh khách sáo
quá vậy? – Hổ vội xua tay, – không dám, không dám!
Thấy Hổ vẻ không hài
lòng, cho là Bộ Lĩnh dùng kim ngân thử lòng người, nên vùng vằng toan vào phòng
trong, Điền sợ hãi vội níu tay lại, nói:
– Đây là chút lễ mọn,
nhưng lại là tấm lòng thành của chủ tướng tôi. Dám mong đại nhân nhận cho, kẻo
hạ quan này đắc tội.
Nghe Điền nói vậy, Hổ giật
mình, sợ làm quá dễ hỏng việc lớn. Không nhận món này, Bộ Lĩnh lại cho ta khinh
nhờn, mang quân đánh một trận thì nguy, nhưng nhận, thì mang tiếng con nhà buôn
hám của. Ngẫm nghĩ hồi lâu, Hổ mới nén tiếng thở dài, nói:
– Thôi được, đa tạ tấm
lòng vàng ngọc của tướng quân Đinh Bộ Lĩnh. Tôi nhận, nhưng mai ngày, có cơ hội
thì xin đóng góp dùng cho việc quân. Nhờ tiên sinh nói lại như thế, thì tôi mới
dám tạm giữ của hộ Người mà thôi…
Cả hai lại hân hoan, bàn
chuyện:
– Chủ tướng tôi đã viết
thư vào Bình Kiều, mời Ngô Thái tử về kinh đô, nối nghiệp vua cha, nhưng tiếc
thay, không đậu, – Điền lại vào chuyện.
– Mỗ có nghe chuyện ấy, –
Hổ dừa theo, nhưng trong bụng nghĩ, đó chẳng qua là bức bình phong, che mắt
thiên hạ thôi.
– Bởi vậy, dân lành chẳng
biết trông cậy vào đâu, – Điền lựa ý, – nếu đại nhân không chê Trường Châu núi
cao đất chật, thì xin hợp quân để giữ yên thiên hạ.
– Mỗ tài hèn đức kém, lực
mỏng sức yếu, chỉ dám lo cho dân Đằng Châu không chết đói là phúc lắm rồi, đâu
dám kinh động, – Hổ cả mừng, bởi ý Điền hợp lòng mình mong đợi, nhưng cũng phải
dè chừng, vồ vập quá, chúng khinh.
– Chim đại bàng bay cao
là nhờ đôi cánh, – Điền nói, – tướng quân tôi mới có một cánh, phải cậy nhờ đại
nhân thêm cho một cánh nữa, mới đặng nên công nghiệp.
– Ấy chớ, – Hổ vội xua
tay. – Mỗ chỉ làm người dắt ngựa trên bộ, chống sào trên thuyền mà thôi, đâu có
dám làm cánh đại bàng.
– Khi nào rỗi rãi, mời đại
nhân đến Đằng Man(5) chơi, – Điền ngỏ ý. – Thực tình, tôi tuyển được
ba tướng là người họ Phan, họ Phạm, họ Nguyễn. Rồi tướng họ Phan thương tình,
còn gả con gái là Môi nương cho tôi làm vợ nữa. Thế mà người ta cứ bảo, phúc bất
trùng lai…
Nghe vậy, cả hai cùng cười
rổn rảng. Thấy Điền bày cả gan ruột, Hổ lấy làm hân hạnh lắm, nên càng quyết
chí mang quân về với Cờ Lau.
Số là, khi Điền đến đóng
quân Đằng Man, cưới được Môi nương xinh đẹp bội phần, lại giỏi việc quân lương,
thì lấy làm mãn nguyện lắm. Về sau, Môi nương còn cải trang làm người ăn xin, lẻn
vào trại giặc, mở được cửa thành, giúp quân Cờ Lau ào vào, bắt sống tướng Ngô Đẩu.
Ngoài ba tướng mới tuyển, lại thu phục được Phạm Phòng Át sứ quân Đằng Châu,
khiến tên tuổi Điền nổi như cồn. Quân uy bọn Cờ Lau càng thêm lừng lẫy.
*
Nguyễn Siêu đóng bản phủ ở
Tây Phù Liệt, nghe tin phong thanh, Phạm Bạch Hổ đã quy hàng Đinh Bộ Lĩnh, thì
vội giong thuyền qua sông Hồng, đến Đằng Châu:
– Ông đường đường là
Phòng át, trấn thủ cả cõi Hải Đông, cớ sao vác giáo theo thằng mục đồng ấy?
– Tôi là bộ tướng của Ngô
Tiên Vương, nay thấy cảnh cát cứ loạn lạc, nhưng mà mắt mờ chân yếu, không làm
gì được. Nay Bộ Lĩnh muốn phò trợ phục hưng Hậu Ngô, nên đã cho mời Ngô Bình Kiều
về Cổ Loa, – Hổ biến báo.
– Ông mà còn u mê thế
sao? – Siêu ngạc nhiên nhìn Hổ. – Việc ấy, nó che mắt thế gian mà thôi. Đấy,
ông xem, nó đánh tiếng sang nương nhờ Trần Lãm, nhưng kỳ thực là thôn tính Bố Hải
Khẩu, mà không tốn một mũi tên. Nay ông đem Đằng Châu, Hải Đông ấn vào tay nó nữa,
khác nào gắn thêm vây cho rồng, chắp thêm cánh cho hổ. Ông đẩy bọn tôi vào chỗ
chết sao?
– Thì tôi với ông, mỗi
người một bờ sông. Xưa nay, ta có phạm gì nhau đâu? – Hổ vờ tỏ ra ngờ nghệch, cố
thanh minh. – Chẳng qua, tôi muốn khuông phò nhà Ngô mà thôi.
Biết là không thuyết phục
được Hổ, Siêu hằm hằm xuống thuyền, về bên hữu ngạn.
3.
Hổ có vẻ trầm hẳn đi, khi
thì ra ngoài quân doanh ngắm núi Mã Yên, hoặc xem trẻ chăn dê, lúc lại ra sông
Sào Khê ngó ngư phủ đánh cá. Lưu Cơ nhìn thấy tâm trạng của Hổ, bèn nói với Điền:
– Có khi, tôi dẫn ông Hổ
đi vãng cảnh cho thư thái, kẻo nghĩ quẩn.
– Thì, ngót sáu mươi rồi,
người già ắt trầm tính, – Điền bảo. – Chứ chả nhẽ, lại nhảy chân sáo, la hét
như trẻ trâu à?
– Tôi nói là nói cái tâm
trạng người ta, về với mình như thế, – Cơ cố thuyết phục. – Người ta đường đường…
– Biết đâu mà vội tin, –
Điền chặn họng, khác nào người ta chưa nói xong đã nhảy vào mồm. – Hôm nay, rước
đi thăm thành, khác nào bày cỗ, nhỡ ngày mai có biến, thì ăn nói thế nào với hiền
đệ của ta?
– Giời ơi, – Cơ kêu lên.
– Người ta thật lòng về với mình, khác nào rồng thêm vây, hổ thêm cánh. Đánh dẹp
chỉ là chuyện bất đắc dĩ mà thôi. Mà chính ông có công thu phục đó thôi?
– Thì tôi cũng phòng cái
sự phải đánh dẹp về sau, – Điền vẫn khăng khăng lý sự cùn.
Trịnh Tú nãy giờ nghe hai
quan cãi nhau, không ai chịu ai, đành phải lên tiếng:
– Ông Cơ nói phải. Ông Hổ
thực bụng đấy. Đừng làm cho Bộ Lĩnh thêm khó nhọc.
Đến lúc này, Điền mới chịu
xuống nước, ngồi im, uống rượu suông. Cơ nghĩ bụng, tiền nhân nói quả không
sai, hai con hổ không thể nhốt chung một chuồng.
*
Nhưng Lưu Cơ không dẫn Phạm
Bạch Hổ đi thăm thành, mà xuống thuyền, ngược sông Hoàng Long. Cơ chỉ cho Hổ
núi Cắm Gươm bên tả ngạn, lại kể về sự tích ông Rồng cõng Bộ Lĩnh khi lâm nạn,
rồi chỗ mò được Ngọc khuê… Bọn lính thong thả chèo, Hổ thỏa thích ngắm nhìn núi
non, sông nước kỳ thú. Đây là núi Con Lợn, kia núi có hình đầu gà trống, này là
Kênh Gà… Hai con sông Bôi và sông Lạng đổ vào sông Hoàng Long. Chỗ này, gọi là
Vọng Ấm. Hổ nhìn thấy trong núi có dòng suối chảy ra, khói bốc nghi ngút, tỏ ra
phấn chấn hẳn lên. Thế là, cả bọn bỏ thuyền lên bờ, cùng xem. Cơ bảo, đây là suối
nước nóng Kênh Gà. Hổ khoát tay, thấy ấm. Cơ bảo: “Uống được”. Hổ vốc một ngụm,
nói: “Chan chát”. Cơ nói: “Phải, dùng lợi tiểu, ngâm mình thì chữa được phong
khớp”. Nghe vậy Hổ liền ngâm cả bàn chân xuống suối.
Cơ nhìn thấy lông chân của
Hổ rậm rì, bết lại như rêu đen, nghĩ bụng, quả là bậc quân tử. Cơ lại sai lính
kín đầy vại nước suối, chất lên thuyền chở về Yên Thành cho Hổ ngâm chân. Đoạn,
cả bọn lên ngựa, đi chơi Thung Lau, Thung Lá.
Sau một ngày bơi thuyền,
lội suối, trèo non, mệt bã người, nhưng Hổ tỏ ra phấn chấn, lâu dần bỏ được mặc
cảm trong lòng, xả thân vì công nghiệp vủa Bộ Lĩnh.
Chương sáu
Thu phục Ngô Nhật Khánh
1.
Ngô Nhật Khánh đóng ở Cam
Lâm(6), xưng là Ngô Lãm Công, rồi An Vương, cũng là chỗ anh em họ
hàng của Ngô Tiên Vương. Khi nghe tin Bộ Lĩnh đã rút về Trường Châu, Khánh liền
thu thập năm trăm quân bản bộ, đi đánh Bố Hải Khẩu. Nhưng dọc đường, bị Ngô phó
sứ chặn đánh ở Ô Man, đành rút quân về.
Về đến Trường Châu, vừa
chân ướt chân ráo đã nghe tin khẩn báo, Ngô Nhật Khánh bỗng dẫn quân đánh Bố Hải
Khẩu, nhưng đã bị thất trận; Bộ Lĩnh bực, nói:
– Minh Công vừa nằm xuống,
nó không đến viếng, lại còn dẫn quân định cướp phá. Thật quá lắm!
Lưu Cơ thấy chủ tướng có
ý quyết đánh Cam Lâm, bèn nói:
– Nó từng tự xưng An
Vương, rồi Ngô Lãm Công, lại định tranh đoạt Cổ Loa nữa… Vả, nó cũng thuộc dòng
dõi, được trông coi đất hương hỏa của Ngô Tiên Vương, thế là cũng có chút chính
danh. Năm xưa, Nam Tấn Vương cất quân đánh Đường Lâm mà không xong, chứng tỏ nó
có thế lực. Nay chủ tướng đánh là phải, nhưng cẩn trọng mới được.
Điền bốc đồng, nói:
– Thằng này, không đánh
không xong!
Nguyễn Bặc cũng thấy đánh
Khánh là phải, bèn nói:
– Trận này, chủ tướng nên
cho Liễn làm tiên phong, tôi dẫn cánh quân vu hồi. Chỉ một trận là xong.
Bộ Lĩnh gật gù, phán:
– Ta đi trung quân cùng
Lưu Cơ. – Đoạn, quay sang Điền, bảo, – huynh trưởng làm hậu quân!
Điền bảo:
– Hiền đệ ở nhà, lo giữ
thành. Đánh thằng Khánh là việc nhỏ, để tôi!
Bộ Lĩnh bảo:
– Không được, tôi mà
không đi, thì còn mặt mũi nào với Bố Hải Khẩu nữa. Đánh một trận là để rửa hận.
Chuyện này, bởi thằng Khánh làm càn, gây ra!
Các tướng y lệnh, cơ nào
đội ấy tức tốc tiến quân.
*
Khánh thua to ở Ô Man, vừa
rút về Cam Lâm, lòng bực bội, vì không thôn tính được kẻ Bo, lại còn thiệt
quân, mất nhuệ khí nữa, chợt có tin báo:
– Quân Cờ Lau đã phạm vào
địa phận Cam Lâm, Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh rồi, – viên phán phủ, sợ hãi
tâu, líu cả lưỡi.
– Rút mau ra sông Hồng! –
Khánh đập bàn quát.
– Voi chiến của Đinh Liễn
đã kéo đến làng. Thuyền chiến Nguyễn Bặc cũng đã đậu ở bờ sông rồi.
– Sao mà chúng như trên
giời rơi xuống, dưới đất chui lên vậy? Chúng bay là đồ ăn hại đái nát, nó thò
vào tận cạp váy mà chẳng hay.
– Thì An Vương vừa sai tất
cả đi lấy Bố Hải Khẩu…
– Câm mồm!
Ngô bà là mẹ Khánh, nghe
tiếng voi gầm, ngựa hí, quân reo ngoài làng, lại có tiếng quát tháo ầm ĩ trong
phủ, không hiểu đầu cua tai nheo thế nào, vội chạy ra hỏi:
– Cơ sự thế nào?
– Bọn Cờ Lau đã vây khắp
chốn cùng nơi rồi! – Khánh nghẹn ngào.
– Giờ, tính sao? – Ngô bà
lo lắng, khẽ hỏi.
Chợt có tên lính mang thư
của Bộ Lĩnh chạy vào. Khánh vội mở ra xem, rồi thở dài đánh thượt.
– Thư nói gì vậy? – Ngô
bà sốt ruột hỏi.
– Nó bảo hàng, không thì
làm cỏ…
– Vậy sao?
– Hàng thì nhục!
– Việc quân, mẹ là đàn bà
không dám lạm bàn. Con hội các tướng lại xem…
– Bọn ấy vô tích sự, chỉ
thích chức tước, giỏi ăn uống, nịnh bợ kẻ trên, gièm pha kẻ dưới mà thôi,
– Khánh nói huỵch toẹt.
– Đám ấy, là anh em bà
con họ Ngô gửi gắm cả, biết làm sao? Một người làm quan, cả họ cậy nhờ. Nay
nguy cấp, quan làm sao nhờ lại được họ? – Ngô bà thở dài, nẫu ruột.
– Hàng cái đã, rồi tính
sau, – Khánh nói với mẹ. – Hàng thì không xảy ra họa binh đao, bảo toàn lực lượng,
tính kế lâu dài.
– Mẹ cũng nghĩ thế, – Ngô
bà mừng như muốn reo lên. – Ngghe đồn, thanh thế họ lớn lắm, lại có mệnh đế
vương, thiên tử gì ấy.
Khánh viết vội mấy chữ,
giao cho sứ giả, rồi sửa soạn hàng phục.
Thấy Ngô Nhật Khánh đã chịu
quy hàng, Bộ Lĩnh ra lệnh cho quan quân tản ra đóng trại trong các cánh rừng
xung quanh. Voi, ngựa buộc vào rặng duối. Đoạn, sai chuẩn bị lễ vật đến Cam Lâm
viếng lăng Phùng Hưng Bố Cái Đại Vương, Ngô Quyền Tiên Vương, chứ chưa vội vào
phủ.
Khánh thấy vậy, trong
lòng hoang mang vô cùng, không biết bụng dạ bọn Cờ Lau thế nào? Hay là bọn giặc
cỏ này, định làm nhục ta? Biết thế, chẳng hàng làm gì, đánh dốc một trận, rồi
chạy vào Bình Kiều, cùng khôi phục nhà Ngô lại hóa hay. Nhưng Ngô bà và quan
quân lại mừng ra mặt, không phải chiến trận, đỡ cảnh máu chảy đầu rơi. Mà xem
chừng, đám mục đồng này không ham của cải, chẳng màng đàn bà thì phải? Mấy buổi
nay, chúng chỉ đi cúng đền, không mảy may cướp bóc, hay chọc ghẹo con gái. Bộ
Lĩnh chẳng cần phải đánh, thế mà đã thu phục được lòng người rồi.
Về phía quân Cờ Lau, Bộ
Lĩnh lại thầm phục Lưu Cơ. Cơ bày kế hơn người. Có lúc, Bộ Lĩnh nghĩ bụng, chỉ
cần có Cơ bày kế, Bặc cầm quân là có thể bình thiên hạ. Nhưng điều ấy chỉ ngẫm
để biết, mai kia phong chức thưởng công, chứ dại gì mà nói ra, mếch lòng tướng
sĩ, có mà ăn cám…
Ngô Nhật Khánh như con hổ
bị giam lỏng trong cánh rừng Đoài Giáp của mình. Vì thân cô thế yếu, nên buộc
lòng phải tạm quy hàng. Lưu Cơ biết vậy, nên bàn với Bộ Lĩnh cho quân chốt chặn
các ngõ cụt, nếu có động dụng gì, thì ùa cả ra, theo đường xương cá trong làng
mà kéo lưới, dù Khánh có bụng phản cũng không còn đường chạy.
Khánh cho bọn tâm phúc đi
dò đường, thấy vậy, chỉ còn biết kêu trời. Té ra, bọn Cờ Lau cũng đa mưu túc kế,
bề ngoài cứ tưởng lơi lỏng, buông tuồng… May mà chưa khởi sự phản loạn.
Mấy hôm sau, y hẹn, Ngô
Nhật Khánh phải thân chinh ra mời, Đinh Bộ Lĩnh và các tướng mới vào phủ. Khánh
lại mời mẹ và vợ con, gia tộc ra lạy chào tử tế.
Bộ Lĩnh thấy Ngô bà, tuy
luống tuổi, nhưng còn óng ả, mặn mà, bèn vẫy lại, nói:
– Đất này linh, không chỉ
là nơi phát tích của Bố Cái Đại Vương, Ngô Tiên Vương, mà còn là nơi sinh ra cụ
Man Thiện là thân mẫu của hai Nữ vương Trưng Trắc, Trưng Nhị. Bởi vậy, bà phải
khuyên bảo con cái, giữ nếp nhà, sống cho phải đạo.
Ngô bà cảm động, quỳ xuống
tâu:
– Kẻ hèn mọn này, phận
đàn bà, nay nghe tướng quân giáo hóa, đầu óc cũng mở mang. Mong tướng quân
thương lấy dân lành, thì phúc lớn lắm thay!
Bộ Lĩnh thấy Ngô bà đối
đáp trôi chảy, trong lòng có vẻ mến, bèn trỏ sang cô gái đang đứng khép nép bên
cạnh, thân mật hỏi:
– Con gái rượu đó hả?
– Bẩm phải! – Ngô bà vui
hẳn lên, quên mất thân phận “hàng binh” vội nói, – đây là em gái của Ngô Nhật
Khánh.
– Rõ là nhất mẹ nhì con…
Bất chợt, Bộ Lĩnh buông một
câu vô duyên, không ăn nhập với tính chất nghiêm trang của buổi lễ, khiến hai mẹ
con Ngô bà xấu hổ đỏ cả mặt. Các quan tướng hai bên cười rộ lên, lấy lòng chủ
tướng thắng trận. Riêng Khánh chau mày, có ý không vui. Nhưng Liễn lại lồi mắt
ra như thể mắt cua, nhìn con gái Ngô bà và nuốt nước bọt đánh “ực” một cái.
2.
Đỗ Thích, người làng Đại
Đê, huyện Thiên Bản(7), nhờ ơn cứu mạng chủ tướng, nên đã trở thành
viên quan hầu cận của Bộ Lĩnh.
Biết Bộ Lĩnh khoái món
lòng lợn, tiết canh, nên Thích thường chế biến cầu kỳ. Lòng xe điếu luộc nước
sôi lăn tăn, rồi tráng qua nước lã cho trắng và giòn. Dồi bằng tiết đọng với mỡ
lá, luộc nhỏ lửa và lấy đũa vót nhọn mà tiêm, không bị vỡ. Gan thái lát mỏng
như tờ giấy, bóp nước chanh, chấm mắm chắt. Tiết canh hãm vào bát tộ, khi chọc
dao bầu vào cổ họng con lợn, phải lấy bát tộ hứng tiết, dùng đũa khuấy xoay
vòng như miết xuống, thì không bị dây, rồi đánh với sụn rang cháy cạnh, vừa tỏa
thơm, vừa nghe lật sật trong chân răng, lại làm khoái lỗ tai nữa.
Bây giờ, đến Cam Lâm, Bộ
Lĩnh thích ăn món tương làng này. Bữa nào cũng tương, thôi thì rau muống luộc
chấm tương, cá kho tương, có khi chan tương luôn vào bát cơm, ăn ngon lành. Mãi
sau, Thích mới biết, thì ra món tương vùng này ngon có tiếng, nhưng Bộ Lĩnh chỉ
thích món tương do chính tay Ngô bà làm. Ngô bà thấy vậy thì lấy làm tự hào vô
cùng và linh tính mách bảo rằng, Bộ Lĩnh đã phải lòng mặt…
Nghe nói, Bộ Lĩnh đã có
những mấy vợ, hàng đàn con cháu. Đinh Liễn con trưởng cũng hơn thằng Khánh mấy
tuổi. Rõ là, sông bao nhiêu nước cho vừa. Mình cũng trên dưới bốn chục tuổi rồi,
gái ba mươi tuổi đã toan về già, huống chi mình. Nhưng nhìn lại, vẫn còn ưa
nhìn, được mắt ta thì ra mắt người.
Bộ Lĩnh ưa cái duyên mặn
mà của Ngô bà, nhưng điều quan trọng hơn, là muốn thông qua quan hệ hôn nhân để
giàng buộc Khánh. Nhớ lại, khi xưa đến kẻ Bo, ban đầu, cũng chỉ có ý định tìm
nơi trú quân, không ngờ ông tơ bà nguyệt lại se duyện ta với Trần nương, rồi bọn
Thăng, Thái, lại trở thành rể quý. Nhưng ở Cam Lâm – Đoài Giáp này thì khác.
Khánh đường đường là một sứ quân, mượn được chính danh nhà Ngô, tuy hàng phục,
mà trong lòng có vẻ chưa phục. Nó khác tâm tính so với bọn con cái Minh Công. Bọn
kia thật bụng, tin người hơn thằng này.
Khi Bộ Lĩnh nói chuyện với
lão Bộc và bọn Điền, Bặc, Cơ, Liễn thì ai cũng phân vân.
– Gái già khú rồi, ham
làm gì? – Điền bỗ bã can.
– Huynh nói thế chứ, – Bặc
phản đối, – trông cũng còn mặn mà nhuận sắc lắm. Vả, chủ
tướng lại muốn dùng hôn
nhân thu phục sứ quân cứng đầu này. – Ngoảnh sang Điền, Bặc có ý trêu chọc, –
bác vỡ trùy rồi, lấy gì đánh nữa, mà không lôi kéo thằng Khánh sao?
Điền nghe vậy, đỏ mặt lên
chống chế:
– Chẳng qua, chế tác từ
thời Thung Lau, quăng quật đã nhiều, nên nó bị om bên trong mà không hay biết.
Thế mà, còn đánh bay cái khiên đồng đấy thôi.
– Nhưng mà, côn mẫu tử của
bác, móc được gan ruột địch quân đấy.
Nghe Bặc khen, Điền đổi
giận làm vui, cười phớ lớ, nói:
– Thì đánh cả cụm mẫu tử
đi, tôi thấy thằng Liễn cũng thích con gái Ngô bà.
Lão Bộc nghe vậy, bèn nói
hùn vào:
– Người đời nói, tơ chỉ
buộc chân voi. Hôn nhân mà thu phục được địch nhân, thì cũng nên làm, lão cho
là thuận, đỡ phải đánh nhau.
Nghe tin Bộ Lĩnh sắp lấy
mẹ mình, Khánh hỏi độp một câu:
– Mẹ còn đẻ được không?
Ngô bà thẹn đỏ mặt, lập bập
nói:
– Đẻ được thì thêm anh
thêm em, chẳng vui sao? Vả, tình cảnh thế này, không thể làm theo ý mình, mà phải
chiều ý người…
– Thế thì lấy!
Khánh nghĩ, có được thằng
em giai, lại là con Bộ Lĩnh, thì cơ nghiệp bọn Đinh nó lại về tay nhà Ngô.
Bộ Lĩnh đón Ngô bà về đại
bản doanh, thưa dần món tương. Đỗ Thích lại trổ tài món tiết canh lòng lợn.
Lòng lợn giòn, tiết canh đông, rượu đưa cay, lại có bà Ngô bên cạnh, khiến Bộ
Lĩnh mãn nguyện lắm. Ngô bà cũng chiều chồng, ăn theo, nhưng tiết canh phải hấp
cách thủy. Ngô bà ăn nhỏ nhẻ như mèo, không bù cho Bộ Lĩnh, ăn như hùm đổ đó.
Đĩa lòng đầy tú ụ, hàng rá rau thơm húng dũi, hành chẻ; thế mà bữa nào Bộ Lĩnh
cũng đánh hết bay, cùng mấy nậm rượu tăm nữa.
3.
Liễn cầm quân tiên phong,
bức hàng được Khánh, trong lòng kiêu lắm, nay lại lấy được em gái Khánh, giai
nhân sắc nước hương trời, thì hãnh diện vô cùng. Liễn xin với cha, cho hai vợ
chồng ở trong phủ. Bộ Lĩnh bảo:
– Mày chớ ham hố mà lơ là
việc quân!
Bặc tỏ ra hiểu đời, lại
thương con bạn như con mình, bảo:
– Thôi, kệ nó. Tôi đảm
nhiệm việc quân giúp cho dăm bữa nửa tháng.
Nghe vậy, cả bọn cùng cười
ồ lên. Bộ Lĩnh nể bạn, đành y cho, nhưng có vẻ không hài lòng.
Liễn ở trong căn nhà dành
cho tiểu thư Ngô nương, nhìn những viên gạch đá ong xù xì, bèn nói:
– Bên ta, tường xây bằng
đá xanh, cũng mát lạnh như vầy.
– Thì cũng là đá cả thôi.
Đá ong thì đào từ đất lên, đá xanh thì đẽo từ núi xuống, – Ngô nương phù
họa theo chồng.
– Nhưng mà, đá xanh thì
xuống nước vẫn là đá. Còn đá ong xuống nước thành bùn, – Liễn vô tâm, giảng giải.
Nghe vậy, Ngô nương nén
tiếng thở dài, nghĩ rằng, Liễn chê mình là hạng bùn đất, định quay mặt vào tường,
xây lưng lại, nhưng sợ Liễn phật ý, nên không dám. Liễn vô tình, không để ý đến
điều ấy, mắt nhìn lên mái nhà. Ngọn nến bị gió thổi, khiến cái bóng xà nhà đu
đưa, Liễn chợt nghĩ bụng, nó mà rơi xuống thì chết bỏ bu. Thần hồn nát thần
tính, Liễn vội quay sang ôm chầm lấy vợ. Ngô nương giật mình, hoảng hốt hỏi:
– Chuyện gì vậy, chàng?
– Ta thương nàng! – Liễn
chữa ngượng, chống chế.
Nghe vậy , Ngô nương tưởng
thật, cảm động ứa nước mắt.
– Nàng là người đàn bà, lần
đầu tiên ta có được trong đời, – Liễn quên chuyện bóng xà, thổ lộ tâm can.
Ngô nương nhìn Liễn chập
chờn, vẻ nghi hoặc. Liễn bèn kể sự tình:
– Khi ta mười một tuổi đã
phải đi làm con tin cho nhà Hậu Ngô…
– Thiếp có nghe anh Khánh
kể, – Ngô nương thỏ thẻ đỡ lời.
– Mười bốn năm sau, nhà
Ngô hết số, ta mới giở về, rồi theo lệnh cha, đi mộ quân châu Ái. – Liễn cảm thấy
Ngô nương giật mình, khẽ hỏi, – sao vậy, nàng?
– Thiếp bị lạnh, – Ngô
nương chống chế, chứ thực tình, là do cái câu “Nhà Ngô hết số”, từ mồm Liễn vừa
nói ra.
– Này, đắp chăn nào. – Liễn
kéo chăn gấm hồng, và lại thao thao, – rồi chiến trận liên miên.
Ngô nương nghe vậy, cảm
thấy hãnh diện một cách tội nghiệp.
– Nàng…
Liễn nhổm dậy, cởi xiêm y
Ngô nương. Nàng run bần bật, mặt ửng hồng dưới ánh nến. Liễn thơm lên má, rồi
quờ quạng… nàng vội ôm lấy bàn tay chai sạn, gân guốc của chồng. Một chốc, Liễn
nhoài người phủ xuống tấm thân nõn nà ấy. Ngô nương hồi hộp khẽ kêu lên trong
hơi thở nóng bỏng:
– Chàng…
Tiếng trống cầm canh trên
điếm, điểm một tiếng “thùng”.
Chương bảy
Xuất binh đánh Kiều Hãn
1.
Như đã nói, Đinh Bộ Lĩnh
kéo đại quân về Trường Châu, đóng trại, lập đồn, phủ dụ dân chúng. Một hôm, Bộ
Lĩnh họp các tướng tâm phúc lại bàn:
– Từ năm Tân Hợi (951) ấy,
đến năm Đinh Mão (967) này, cả thảy mười sáu năm, ta đứng đầu chòm… – Bộ Lĩnh
cười tinh nghịch. – Nhưng vừa rồi, Trần Minh Công giao quyền hết lại cho ta, Phạm
Bạch Hổ góp quân giao hảo, Ngô Nhật Khánh thì cùng ta kết hiếu…
– Vậy, vị chi chỉ còn
chín sứ quân. – Điền hăng lên, chen ngang, vung tay nói, – không thể để một rừng
chín hổ được!
Bặc liền nói:
– Tôi xem, trong đám này
chỉ có tay Thạc ở thành Quèn, rồi tay Siêu ở Tây Phù Liệt là mạnh cánh hơn cả.
Ta nên để đó, tính sau. Còn như bọn Đường, Khuê, Khoan, Tiệp, Thuận, Hãn… thì
chỉ một trận là xong.
Điền giơ tay, nói:
– Còn…
Bộ Lĩnh hiểu ý, Điền định
nói: “Còn Xí nữa”, nhưng vội nói át đi:
– Các tướng tính sao?
Điền bị chặn họng, tức
mình giậm chân đánh “huỵch” một nhát, làm vỡ viên gạch lát nền. Các tướng thấy
vậy, ai nấy đều kinh hãi. Lưu Cơ ngần ngừ hồi lâu, mới đứng lên tâu bày:
– Trong đám ấy, bọn Lý
Khuê ở Siêu Loại, Lã Đường ở Tế Giang, ta chỉ cần lấy uy mà răn, chúng sẽ tự vỡ,
không cần phải đánh. Thế là bớt đi hai, còn lại bảy. Trong bảy sứ quân này, thì
Kiều Công Hãn phải tính sớm. Bởi Hãn rất hung hăng, từng kéo quân về Cổ Loa
tranh ngôi, lại cất quân đánh Tam Đái mà không thắng, rồi mở rộng cát cứ ra
quanh vùng Phù Lập. Nếu ta tiến đánh ngay, sẽ răn được đám kia, không cho manh
động. Thế rồi, thừa thắng mà tiến, ắt sớm thu phục giang san.
Điền nghe cậy, cười khảy:
– Nghe ông Cơ nói, thì
đánh trận khác nào như tắm trâu vậy. Thử hỏi, ta đánh nó, chả nhẽ nó không đánh
lại ta à? Ta đi Tam Giang xa xôi cách trở, thì bọn Động Giang, Phù Liệt chẳng
nhanh chân chạy đến chiếm Trường Châu hay sao?
Liễn nãy giờ rụt rè nhìn
bố, xem ý ra sao, mãi đến khi được gật đầu, mới dám nói:
– Bác Điền nói thế cũng
có lý, nhưng là cái lý để đề phòng mà thôi. Khi kéo quân đi chinh phạt, bao giờ
chả cử tướng, cắt quân canh giữ bản phủ. Chuyến này, ta không đánh nhanh, các sứ
quân liên kết lại với nhau thì khó. Vừa rồi, tôi đi châu Ái, tuyển mộ được mấy
ngàn quân. Lê Hoàn là một tướng tài, liền đem hai nghìn quân về theo. Vậy còn
lo gì?
Điền bật dậy:
– Thế, ai ném mũ, vứt áo
chạy tháo thân? Chớ có cái kiểu mới nghe danh mà đã vội bờn tở, dễ hỏng việc
quân.
– Thôi mà, đánh trận có
thắng có thua là lẽ thường. Ăn nhau ở như cái trận cuối cùng, – Bộ Lĩnh vội dàn
hòa, có ý bệnh che Lê Hoàn.
Bộ Lĩnh quyết định đánh
Kiều Công Hãn, liền cử quân mã đường bộ do Liễn làm tiên phong, bản thân mình
thống lĩnh trung quân, Lê Hoàn hậu binh. Bặc chỉ huy cánh thủy binh. Còn bọn Điền,
Tú, Hổ ở lại giữ Trường Châu, Đại Hoàng, Đằng Châu.
Tú huơ tay kêu to:
– Tôi chẳng mấy khi được
lâm trận, cứ quanh quẩn trong thành, y như đàn bà thế vầy mãi sao?
Cả bọn cùng cười. Bộ Lĩnh
bảo:
– Thì phải trông cả vào
thành này. Chứ, chả nhẽ, đánh xong lại ở đấy à?
Các đội tượng binh, kỵ
binh, ngưu binh, chiến thuyền đóng ở các căn cứ Trường Châu, Bố Hải Khẩu, Đằng
Châu, Cổ Loa, Đại La, Cam Lâm… được lệnh cùng cắt đặt người ở giữ thành, kẻ đi
chinh chiến và phối hợp với nhau như đã luyện tập bấy lâu. Tất cả hẹn nhau hội
quân ở Tam Giang.
2.
Kiều Công Hãn, còn có tên
gọi Tri Hựu, là một sứ quân hùng mạnh, cát cứ Phong Châu(1), mưu bá
đồ vương. Hãn lập căn cứ Tam Giang, trên ngã ba sông Lô và sông Hồng ở Bạch Hạc(2),
xây thành Phù Lập, chiếm cả vùng Phong Châu, Hòa Châu, Thái Châu. Khi thế mạnh,
lực cường, Hãn tự xưng là Kiều Tam Chế.
Về dòng dõi, Hãn là cháu
nội Kiều Công Tiễn và là con Kiều Công Chuẩn. Năm Đinh Dậu (937), Tiễn nổi dậy
giết Dương Đình Nghệ, rồi tự xưng tiết độ sứ. Nhưng Hãn lại vào châu Ái, theo
Ngô Quyền, tham gia đánh lại Tiễn và góp công phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch
Đằng, nên được Ngô Tiên Vương ban chức Thứ sử Phong Châu. Khi Hậu Ngô sụp đổ,
thì Hãn mang quân tiến xuống Cổ Loa, tranh ngôi với bọn Lã Xử Bình, Dương Huy,
Đỗ Cảnh Thạc. Việc không thành, Hãn lại mang quân đi đánh Tam Đái cũng chẳng
xong.
Hãn vừa thua Nguyễn
Khoan, trở về Tam Giang, chợt quân do thám khẩn báo rằng, Bộ Lĩnh đang đốc xuất
hàng vạn quân thủy, bộ tiến đánh, chỗ nào cũng nầm nập những người, ngựa, voi,
trâu đông như kiến, thuyền bè nhiều như lá tre. Hãn bèn hội các tướng lại, bàn
cách đối phó:
– Bộ Lĩnh cất quân ô hợp
khắp nơi, lại có cả trâu bò nữa, thì làm gì mạnh được. Đường xa, quân mỏi, ngựa
mệt, thuyền bè ngược nước, cố lê bước đến được đây cũng là may. Nay ta lấy quân
nghỉ ngơi, lại trấn giữ vùng sông nước hiểm yếu, thì chúng làm gì được. Ta sẽ mời
các sứ quân trong vùng cùng hợp sức, chắc hẳn chúng sẽ thua to.
Viên phó tướng nói:
– Ta vừa đi đánh Tam Đái
không thành, thế mà nó lại tấn công luôn, thì quan quân Tam Giang làm sao xoay
sở cho đặng? Còn bọn Kiều Thuận ở Hồi Hồ, Lý Khuê ở Siêu Loại, Thủ Tiệp ở Tiên
Du, Nguyễn Siêu ở Phù Liệt, Cảnh Thạc ở Động Giang… liệu có hợp quân kịp không?
Viên Tham tá vội xua tay
bảo:
– Nói thế không được đâu.
Ta vừa đánh Nguyễn Khoan, thì nó với các em Tiệp, Siêu làm sao đến giúp ta nào?
Thế là mất ba sứ quân. Năm trước, chúa công lại tranh vương với Thạc, thì làm
gì nó đoái hoài. Thế là mất bốn sứ quân. Còn bọn Hồi Hồ, Siêu Loại thì giữ thân
còn chẳng xong nữa là…
Viên phó tướng tức giận
nói:
– Ông nói thế, tức là bảo
ta tự cô lập à? Nước ngập đến chôn mà còn bàn rùn. Vả lại, Hồi Hồ có Kiều Công
Thuận là em giai của chúa công; tình huynh đệ sao bỏ nhau lúc lâm nguy, thế mà
ngươi ăn nói hồ đồ.
– Thì tôi đã gàn chủ tướng,
đừng xuống Cổ Loa, chớ sang Tam Đái, nhưng chẳng được, nay mới ra nông nỗi, –
viên Tham tá ca cẩm.
Vùng này, giáp ranh hai tỉnh
Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Thủ đô Hà Nội.
Không ngờ lòng trung, lời
thẳng của viên Tham tá, lại chọc tức Hãn. Hãn đang bí kế, tức giận quát to:
– Mày dám chơi trò kỳ đà
cản mũi à? Giặc đến nơi, không bàn cách đánh, lại nói lời xằng bậy, làm cho
quân tâm dao động. Mày phạm tội chết!
Nói đoạn, Hãn quát lính
lôi viên Tham tá ra chém. Quan quân ai nấy sợ hãi xanh cả mặt. Từ đấy, Hãn nói
gì, chúng cũng cúi đầu nghe theo.
Hãn cho tăng quân bố
phòng Tam Giang, cả thủy lẫn bộ, thuyền chiến đậu kín bến sông, quân lính đóng
đầy khắp chốn; ngày đêm canh gác tuần phòng, chỉ chờ có bọn Cờ Lau bén mảng là
đánh phủ đầu luôn, khi chúng chưa kịp hạ trại, neo thuyền.
3.
Hãn điều quân chặn mặt
phía nam, không cho thủy, bộ của quân Cờ Lau ngược sông, vượt đường tiến lên.
Nhưng bỗng nhiên, phía thượng nguồn sông Hồng và sông Lô, hai đội thủy quân lao
xuống ngã ba Bạch Hạc. Hãn cả kinh, tưởng quân nhà trời. Chốc lát, quan quân
Tam Giang náo loạn. Nguyễn Bặc hô quân đánh sấn vào, tiếng trống rầm rĩ, tiếng
gươm khua xoang xoảng, tiếng giáo chạm khiên mây, giáp sắt chan chát, tiếng
quân reo ầm ầm, tiếng thuyền bè va chạm cồm cộp… Tất cả, gây nên sự hỗn loạn cả
ngã ba sông.
Cùng lúc đó, Bộ Lĩnh hạ lệnh
cho quân bộ của Đinh Liễn, Lê Hoàn vượt sông đánh sang. Thành Tam Giang khói lửa
ngút trời. Bọn lính của Hãn dùng tên bắn sang, thì hầu hết rơi lả tả xuống nước.
Quân Cờ Lau bắn lại, thì tên cắm phầm phập vào mạn thuyền, lá chắn, áo giáp,
khiến quân Tam Giang trận thế hỗn loạn. Bọn lính đưa cho chủ tướng mũi tên vừa
nhặt được. Hãn xem, cả sợ kêu lên:
– Nó lấy được kho mũi tên
đồng ở Cổ Loa rồi!
Bọn Cờ Lau lại vác rìu đồng,
nhảy bừa vào mà chém, máu chảy đầu rơi đỏ sông, ngập bãi. Trận tàn, trong thành
ngoài bến ngã ba sông lấp đầy xác thuyền và thây lính.
Hãn thất trận, lén xuống
một chiếc thuyền nhỏ, cùng bọn tâm phúc trốn sang tả ngạn sông Lô, chạy xuôi
phương nam, toan đến Bình Kiều cậy nhờ Ngô Xương Xí. Nhưng khi đến đất An Lá(3),
thì bị thổ hào tên là Nguyễn Tấn chặn đánh, chém trúng cổ.
Hãn lấy vải lụa quấn lại,
chạy đến đất Hiệp Luật(4), gặp quán nước cạnh đền Gia, bèn vào xin
ăn. Bà chủ quán đãi món gỏi cá trắm. Ăn xong, Hãn hỏi:
– Bị thương đứt cổ thế
này, có sống được không?
Bà hàng nước chỉ vào đống
đất cao bên cạnh đền, ái ngại bảo:
– Đây là nơi an nghỉ tốt
nhất cho Tướng công!
Hãn nghe lời, cởi giáp ra
nằm trên đống đất đó, rồi thăng. Dân làng Bái Dương cám cảnh, lấy manh chiếu đắp
cho. Hôm sau, mối đùn che kín thân xác mà thành mộ. Các làng Bái Dương, Tang Trử,
Hiệp Luật, Cổ Lũng thấy cái sự chết thiêng, bèn thắp hương khấn vái, rồi rước
chân nhang vào thờ trong đền. Từ đó, làng Gia dâng cá, An Lá gói bánh, cúng tế,
hằng năm.
Trong trận Tam Giang, Bộ
Lĩnh cho quân thủy, bộ cứ theo sông, men bờ mà tiến lên Bạc Hạc, vừa đi vừa
khua chiêng, gióng trống khoa trương thanh thế, thu hút sự chú ý của Hãn.
Nhưng mặt khác, lại cho mấy
toán quân bí mật vượt lên vùng Sơn Đông, Tình Cương để chuẩn bị thuyền bè, đánh
mũi vu hồi, từ thượng nguồn sông Lô và sông Hồng đổ xuống, rồi giấu thuyền bè,
phục sẵn ở Phú Hậu, Bến Giót. Bởi thế, quân Hãn bị bất ngờ mạn bắc, không kịp
trở tay, dẫn đến Tam Giang thất thủ, Hãn tháo chạy, rồi chết thảm.
Thắng trận, Bộ Lĩnh cùng
các tướng vào thành Tam Giang, phủ dụ dân chúng, cứu chữa cho đám bị thương,
chôn cất bọn tử trận. Đoạn, cho tập hợp bọn hàng tướng, tù binh và dân chúng
trong thành lại, hiểu dụ:
– Ta bất đắc dĩ phải tiến
quân thế này. Bởi lẽ, Tri Hựu chống lại cả ông nội Kiều Công Tiễn, thế là thất
đức. Hựu lại mang quân vô cớ đi đánh Nguyễn Thái Bình, toan cướp Tam Đái, thế
là bất nghĩa. Trước đấy, còn kéo quân về tranh ngôi Hậu Ngô ở Cổ Loa, thế là Hựu
bất trung. Ta gọi mà Hựu không chịu hàng, còn chống lại, nên mới ra nông nỗi.
Thật là giời có mắt, quả báo.
Nghe vậy, quan, quân, dân
chúng rì rầm bàn tán, kín đáo đưa mắt nhìn nhau.
– Nay Hựu chết, ta giữ
yên thành, khoan thư sức dân. Lính, ai theo thì xung quân, ai không theo thì
cho về nhà làm ăn, không được quấy nhiễu, cướp bóc, làm loạn. Các quan được phục
chức như cũ.
Bộ Lĩnh dứt lời, quan,
quân dân chúng tung hô reo mừng, ầm cả thành.
Hôm sau, Bộ Lĩnh cùng lão
Bộc và Liễn đi viếng đền Tam Giang, chỗ đất Bạch Hạc, bên tả ngạn sông Lô. Đền
quay ra sông, thờ Thổ Lệnh Đại Vương là thần của làng Bạch Hạc và cũng là thần
của khúc sông Bạch Hạc. Lão Bộc bảo:
– Chủ tướng đi viếng đền
thế này là an lòng dân chúng.
– Chỗ nào, dân còn thờ phụng
thần thánh, thì còn dễ giáo hóa. Dân mà không có cái gì bấu víu là dễ làm loạn,
– Bộ Lĩnh tâm đắc nói.
Dấu vết chiến trận còn
tan hoang, tơi bời hai bên bờ sông, nhưng chỗ đền, tịnh không thấy tên lính nào
dám phạm tới. Liễn đi sát cha, khẽ nói:
– Hôm qua, bố kể tội thằng
Hãn ghê quá!
– Thế thì mới có cớ để
đánh, chứ chả nhẽ, tự dưng lại đi cướp đất của nó à? – Bộ Lĩnh chợt thấy bọn
lính đang xúm xít ở bến sông gần đó, nên cũng khẽ nói với con, như truyền một
cái mẹo dụng binh, trị nước.
– Xưa nay, muốn diệt trừ
kẻ nào thì phải bôi bẩn làm cho tanh hôi, khiến người đời xa lánh mới được. Muốn
thờ phụng ai đó, thì phải thêu dệt muôn hồng nghìn tía cho đẹp mã, để người đời
trông vào thấy kính nể mới thiêng… – lão Bộc dốc bầu tâm sự gan ruột, vẻ trải đời.
Cả ba nhìn nhau khúc
khích cười, đầy vẻ đắc chí.
*
Được dân chúng thờ đền
Gia, bỗng dưng Hãn như đã hóa thần, quả là trời cho. Hãn nghĩ, dân làng Gia thờ
đã đành, bởi ta chết thiêng, nên thổ địa mới cho mối đùn. Nhưng dân làng Lá, có
cái thằng thổ hào chém ta, mà cũng thờ, thì quả là lạ kỳ. Dân đời nào cũng
lành, chỉ có bọn quan lại đê tiện mà thôi. Ta nhớ, lúc chạy trốn phải theo đường
tắt, người mệt, ngựa đói, muốn đến Bình Kiều cho nhanh, không ngờ bị lưỡi gươm
oan nghiệt chắn lối. Ta mà hợp lực được với Ngô Thái tử, quyết sẽ khôi phục lại
nhà Ngô. Khi xưa, ta bỏ cả gia tộc để theo Ngô Tiên Vương, được phong thứ sử.
Quả là gái có công thì chồng chẳng phụ, thế mà…
Hồn ma Kiều Công Hãn bay
về Tam Giang mênh mang sông nước. Này là dòng Lô xanh trong, sông Hồng nước đỏ.
Kia là Tam Đảo mù sương, Ba Vì xanh thẳm. Khắp vùng sông nước, núi non cẩm tú
này, từng in dấu chân ta. Ta định xây đền trên đất đóng quân Thông Thánh, cho
dân lễ bái, mà chưa kịp. Ta định xây lầu ở Bến Giót, nơi lạc Long Quân đặt bàn
chân phân chia trăm con với Âu Cơ, mà chưa thành. Cha con ta không đồng tình
chuyện ông nội xử tệ với Dương Đình Nghệ, nên mới chạy về đất Phong Châu này,
an cư lạc nghiệp. Ta là người trung quân, thương dân, thế mà thằng mục đồng lại
dám bêu xấu, vu oan ta trước bàn dân thiên hạ. Thì ra, kẻ thắng nói sao cũng được,
ngay thẳng biến thành cong queo, cong queo lại hóa ngay thẳng vậy sao? Nó đi
chiếm đất giành dân của ta, mà chính danh sao?
Từ trên cao xanh, hồn ma
Hãn nhìn xuống sông Hồng, sông Lô, sông Đà hợp lại gần kề nhau, rồi núi non quần
tụ như bức địa đồ đặt trong lòng bàn tay, khiến lòng càng thêm nhớ trần gian.
Nhớ sao những ngày xuân ấm áp, ta cho dân bơi chải trên sông, rồi chọn lấy đám
trai tráng xung vào thủy quân. Nhớ sao những mùa đông tháng giá, ta cùng dân
sơn cước đi săn, xấy thịt thú rừng tích trữ cho lính dùng khi đi trận. Ta đi rồi,
em ta liệu có giữ được Hồi Hồ? Hồi Hồ là xứ man di, Thuận được lòng dân ngu
trung là một; địa thế hiểm trở, rừng thiêng nước độc là hai. Vậy chỉ cần có một
quan võ giỏi, một quan văn tài nữa giúp giập là Thuận có thể kê cao gối mà ngủ.
Thuận ơi! Hồn ma Kiều Công Hãn thương khóc em giai mà không có nước mắt, nhưng
chốn cao xanh hẳn thấu tỏ sự tình.
Chương tám
Tấn Hồi Hồ, triệt Thành
Mè
1.
Sau khi đã diệt được Kiều
Công Hãn, bình ổn Phong Châu, quân Cờ Lau bàn chuyện đánh Kiều Công Thuận. Bộ
Lĩnh bảo:
– Thằng này là em Hãn-
Tri Hựu. Năm Đinh Dậu (937), nó hùa với ông nội Kiều Công Tiễn, giết Tiết độ sứ
Dương Đình Nghệ, chiếm Đại La. Khi phụ thân ta cùng bằng hữu Ngô Thứ sử tiến
đánh, thì nó bỏ chạy lên vùng Hồi Hồ(5), dụ dân ki mi làm phản.
– Thế thì phải đánh, – Liễn
tán đồng.
– Thằng này, không được
như bố nó, với tay Hãn. Hai bố con nhà này bỏ ông nội, mà theo Ngô Tiên Vương.
Còn nó với ông nội, lại quyết chống triều đình. Nay nó chiếm vùng rừng núi hiểm
trở, không đánh không xong, – Bặc tỏ ra am tường về Kiều Công Hãn. – Nhưng vùng
này nước độc, phải dùng Bỏng Chủ làm lương khô, dặn lính không được ăn hoa quả,
uống nước suối, phòng ruồi muỗi độc, kẻo mắc bệnh “ngã nước”…
– Nó đóng thành Hồi Hồ,
bên hữu ngạn sông Hồng, nhưng lại kết thân với Ma Xuân Trường ở Thành Mè(6),
bên này sông. Khi ta đánh Hồi Hồ, tất bọn thành Mè sẽ ứng cứu, – Bộ Lĩnh nói. –
Vậy phải cẩn trọng mới được, kẻo trong đánh ra, ngoài đánh vào, thì nguy khốn.
– Hai thành cách nhau một
con sông to, mực nước thất thường, hung dữ, nhưng khi đánh Tam Giang, ta đã bắt
mạch được rồi, – Lê Hoàn tham gia bàn kế, – cái đích của chủ tướng là đánh thằng
Thuận, hạ thành Hồi Hồ. Vậy thì ta dồn binh lực đánh cái đã. Còn chia ra một
mũi chặn sông ở chỗ Tình Cương. Khi hạ được thành của nó rồi, thì ta tiến sang
thành Mè, dễ như giở bàn tay.
Bộ Lĩnh theo kế ấy, lại cắt
đặt Liễn làm tiên phong, có Lê Hoàn đi cùng. Bặc đánh mũi vu hồi.
*
Dân chúng vùng ki mi truyền
tụng, Thuận là cháu nội Tiết độ sứ Kiều Công Tiễn, là giống con vua cháu chúa.
Khi sinh Thuận, ánh hào quang tỏa ra khắp nhà. Tuổi thơ thông tuệ, lớn lên thì
uy dũng, văn võ song toàn, đáng bậc anh hào. Thuận tự xưng là Kiều Lệnh Công. Từ
khi bỏ Đại La, về dựng Hồi Hồ cũng đã được hai chục năm, chăm lo xây thành, luyện
quân, chăm dân, đức độ tưới khắp, dân lành tin theo, tôn vinh Thuận là Cương
Nghị Quân. Thuận có vài chục châu ki mi(7) lệ thuộc. Binh lính ước tới
mấy vạn, nhưng không quấy nhiễu dân chúng bao giờ, nên được tin yêu lắm. Thuận
còn dựng căn cứ Tam Thành, xây thành Hưng Hóa, tạo thế ỷ dốc, thật là vững
chãi. Núi rừng hiểm trở là chốn thiên la địa võng đối với quân thù. Thuận cảm
thấy vững tâm. Thuận còn kết thân với Ma Xuân Trường, con cháu tù trưởng Ma
Khê. Tù trưởng họ Ma dựng Ma Thành, về sau gọi là Thành Mè.
Bởi vậy, khi nghe tin Tam
Giang thất thủ, anh trai chết thảm, tuy tay phải không đỡ được tay trái, nhưng
Thuận chẳng sợ gì quân Cờ Lau. Quân do thám báo, bọn Bộ Lĩnh đang tiến quân
lên, Thuận bèn chia quân phòng thủ, từ hữu ngạn sông Hồng, vào tới núi Đèn. Lại
cho người vượt sông báo cho Trường, lo giữ Thành Mè. Các nơi Hưng Hóa, Tam
Thành đều ra sức phòng bị. Thuận cười bảo:
– Cứ để chúng vào, rồi
khóa chặt đường rút, khác nào bịt lồng bắt gà. A hà hà…
*
Đạo quân Đinh Liễn, Lê
Hoàn xuống bến Tam Giang, ngược sông Hồng, rẽ vào sông Bứa, nhằm Hồi Hồ thẳng
tiến. Đạo quân Nguyễn Bặc hành quân ngược tả ngạn sông Hồng, đến Tình Cương thì
vượt sông, đánh thốc vào Hồi Hồ.
Hai đạo quân Cờ Lau hùng
hổ tiến, ngựa hí, voi gầm, quân reo, khác nào cây nước từ trời cao, sầm sập đổ
xuống thành Hồi Hồ. Nhưng dọc đường vào, bọn Thuận đã cho đặt bẫy đá, cây
chông, hầm chông, giàn tên, bẫy giật ngọn cây, giăng dây cản ngựa, thả kiến xua
voi, giả hổ dọa trâu và khiển ong bò lỗ… làm cho quân Cờ Lau chết vô khối. Tiếng
kêu la váng động cả núi rừng.
Tuy bọn Thuận phòng bị kỹ
càng, quân Cờ Lau chết và bị thương chồng chất. Nhưng thế mạnh, quân đông, Bộ
Lĩnh cứ thúc đánh ào vào, khiến Thuận không chống đỡ nổi, thành Hồi Hồ chẳng mấy
chốc mà thất thủ. Quân Cờ Lau tràn vào thành, chém giết thẳng cánh, voi giẫm,
ngựa đạp, trâu húc làm cho quân lính và dân chúng trong thành chết la liệt như
ngả rạ. Kiều Thuận cùng bọn tâm phúc liều chết mở đường máu, chạy sang Thành
Mè, cầu cứu.
2.
Ngay từ lúc lên Hồi Hồ,
Thuận đã tính kế lâu dài, kết thân với bọn ki mi. Riêng đối với Ma Xuân Trường,
thì khác nào anh em một nhà, miếng sống cho tới miếng chín đều có nhau. Mỗi khi
Thuận sang Thành Mè, thường chờ ở Bến Khuôn, để Trường đưa thuyền ra đón. Lâu dần,
Thuận quen bà hàng nước, người họ Mai, gọi là Mai bà lão, rồi nhận làm mẹ nuôi.
Thành Mè được đắp trên quả
gò, mọc trên đầm nước. Quân lính và dân phu phải chở đất về đắp. Đắp mãi mà nước
vẫn thấm vào chân thành. Trường thấy vậy, bảo:
– Đêm nay, ta đào một
trăm cái giếng, để hút nước ra. Nếu đến sáng mà xong, thì thành này vững chắc
muôn đời, không kẻ nào phá nổi.
Đêm ấy, cả bọn chia nhau
ra đào, khi đã được chín mươi chín cái, thì có một gã dân phu tính hay đùa tếu,
vêu mồm lên giả tiếng gà gáy. Thế là, ba bề bốn bên làng mạc xung quanh, lũ gà
trống tưởng trời sáng, lập tức cùng gáy vang. Cả bọn đang đào đào xúc xúc sững
sờ buông tay. Trường cho là điềm gở, nhưng chỉ biết thở dài sườn sượt.
Khi Hồi Hồ thất thủ, Thuận
và đám tâm phúc bơi vào Thành Mè xin tá túc, Trường vẫn cương cường:
– Anh em ta đã cắt máu ăn
thề, hoạn nạn có nhau. Nay giặc tuy đông, nhưng ta cố thủ, trong thành sẵn có
lương thảo, không lo. Quanh vùng, thuyền bè đập hết, thì chúng làm sao bơi vào
đây được. Lo quái gì?
Nghe vậy, Thuận yên lòng.
Cả hai lại uống rượu, đánh cờ, chờ địch.
Quân Cờ Lau do các tướng
Nguyễn Bặc, Đinh Liễn, Lê Hoàn chỉ huy, vây chặt thành Mè. Bộ Lĩnh biết Mai bà
lão là mẹ nuôi của Thuận, liền gặp, bảo:
– Tướng Kiều Công Thuận
là là cháu nội của Tiết độ sứ Kiều Công Tiễn. Tiễn phạm tội giết vua, mà Thuận
cũng hùa theo, thế là nghịch tặc. Khi quân Ngô vương đánh Đại La, Tiễn thua chạy
về Hồi Hồ, phao tin lừa dối dân lành. Nay ta vâng mệnh giời, khôi phục Hậu Ngô,
nhưng nó cự lại, rồi chạy sang ẩn náu chốn này. Bà là mẹ nuôi, khuyên nó nên
hàng, kẻo ta đánh rốc một trận, hối không kịp.
– Bẩm Tướng quân, – Mai
bà lão nói, – tôi là đàn bà, không dám can dự vào việc quân.
Bộ Lĩnh thấy Mai bà lão
cương cường, có nói nữa cũng như nước đổ lá khoai. Chợt thấy một cô gái trắng
trẻo, mặc áo dài đen, thắt khăn lưng xanh, đội khăn vuông đen, thì thào điều gì
đó. Bộ Lĩnh hỏi giật giọng:
– Người này là sao?
– Bẩm Tướng quân! – Mai
bà lão sợ hãi nói, – đây là con gái tiện dân.
– À, có phải em gái nuôi
Kiều Thuận?
Cô gái và Mai bà lão cùng
gật đầu thưa: “Phải”. Bộ Lĩnh lại quay sang, dùng lời ngon ngọt dỗ dành cô gái.
Cô ta sợ hãi thưa:
– Bẩm Tướng quân, con
cũng đang khuyên mẹ như vậy.
Bộ Lĩnh cả mừng, nói:
– Ta nói đây, không phải
việc quân, mà là việc nhà bà. Nếu bà khuyên được chúng ra hàng, thì thoát cảnh
đầu rơi máu chảy, chẳng là phúc lớn đó sao? Chúng đừng tưởng thành ở giữa đầm
mà ta kiềng. Quân ta thạo nghề sông nước, thuyền đang kéo về kia.
Bộ Lĩnh chỉ tay, hai mẹ
con Mai bà lão nhìn theo, thấy cơ man nào là lính, kẻ khiêng tre, người vác nứa,
đang thả ven hồ đóng bè kết mảng. Quanh bờ dựng đầy binh khí. Hai mẹ con kinh sợ,
vội chấp thuận việc viết thư khuyên bọn Thuận, Trường hãy biết thương lấy dân,
yêu lấy lính mà quay giáo, bỏ kiếm. Đoạn, Bộ Lĩnh sai Đỗ Thích thảo một bức thư
chiêu hàng, cho Mai bà lão điểm chỉ vào, rồi sai sứ giả chèo thuyền mang thư
vào thành.
Thuận xem thư xong, cười
to:
– Thằng trẻ trâu ấy, ép mẹ
nuôi ta đây mà. Hẳn là nó sợ Thành Mè không phá nổi thì bẽ mặt, nên bày gian kế.
Trường bảo:
– Tôi biết hai mẹ con Mai
bà lão thương quý ông lắm, nhưng phải chịu làm việc này, để nó khỏi quấy nhiễu
mà thôi. Chứ bà cụ thừa biết, chúng chẳng cách gì công phá được thành của tôi
đâu.
– Thế thì, để tôi viết
thư, chửi cho nó một trận. Nó tức khí xua quân là dẫn thân vào chỗ chết. Ta dụng
kế “Đóng cửa đánh chó”, nó chạy đằng giời. Chúng ta được dịp báo thù cho huynh
trưởng, rửa hận Tam Đái, Hồi Hồ, – Thuận hùng hổ nói.
– Cần gì phải phí nhời. Cứ
chém ngay sứ giả, bêu đầu lên thành, vừa thị uy cho chúng sợ, lại vừa tăng nhuệ
khí quân ta.
Nghe Trường nói, Thuận
cho là phải, bèn chém sứ giả, bêu đầu lên cổng thành, lại còn châm lửa đốt thuyền
của sứ giả để giương oai.
Bộ Lĩnh thấy thế tức khí,
lệnh cho các tướng công thành. Các đạo quân nhất tề xông lên, chèo mảng, bắn nỏ
vào thành. Quân Trường, Thuận chỉ kháng cự lấy lệ, rồi rút xuống thành. Bặc thấy
khả nghi, liền cho quân dừng lại, nhưng không kịp nữa rồi. Bè mảng đã đâm vào cọc
có ngạnh, cắm dưới mặt nước, quay tại chỗ, không thể tiến, thoái được nữa. Bọn
lính nhảy xuống nước, liền bị xóc chông ngầm, kêu la thất thanh, vang động cả mặt
đầm. Lúc bấy giờ, quân Thành Mè mới đồng loạt nhảy lên mặt thành, bắn tên xuống,
khiến quân Cờ Lau phải ôm đầu máu, chạy re.
Cùng lúc ấy, từ phía chợ
Mè, bọn Đinh Liễn, Lê Hoàn thúc quân vượt tường đánh vào, nhưng không phá nổi
những cái cánh cổng bằng gỗ lim, dày bằng cả cánh tay. Bọn Cờ Lau lại lập cách,
bắc thang người, trèo lên tường, bắn tên lửa vào thành, khiến quân thành Mè chạy
ráo, khói lửa bốc lên ngùn ngụt từ các mái nhà, tiếng kêu la ầm ĩ. Quân Cờ Lau
thừa thắng nhảy vào thành, nhưng nhất loạt rơi xuống những cái giếng sâu, kêu
la oai oái. Bọn ngoài thành thấy vậy, vội lui.
Bọn Trường, Thuận nhìn thấy
cảnh ấy, khoái trá cười ngất.
Thì ra, Trường đã cho ngụy
trang hàng trăm miệng giếng dưới chân thành, phủ phên nứa, cỏ rác lên trên,
đánh lừa được quân Cờ Lau. Trận đầu, quân Cờ Lau thua to, bắc thì xóc chông,
đâm cọc; nam thì sa giếng, ngã thành, thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể.
*
Đêm ấy, gió mùa đông bắc
tràn về, lạnh thấu xương. Bộ Lĩnh hội các tướng lại, bàn cách đánh.
– Quân ta vừa thắng to ở
Tam Giang, Hồi Hồ, đâm ra chủ quan, khinh địch, nhìn Thành Mè bằng cái đấu thế
kia, tưởng mỗi đứa nhổ một bãi nước bọt cũng ngập. Ai ngờ, bọn man di này hiểm
độc đến độ.
– Đêm nay, ta phá thành,
chỉ một trận là xong, – Bặc nói.
– Bác nói thế là sao? Rét
mướt thế vầy, sưởi còn chả xong, – Liễn có vẻ nghi ngờ.
– Tôi lại cho là phải, –
Lê Hoàn hăm hở nói. – Nó cũng như ta bữa trước, vừa thắng xong, lại thấy gió
rét thế này, tất sinh chủ quan. Tôi xem rồi, thành này rộng chừng ba trăm trượng,
quanh thành giồng nhiều cây gạo, không biết để làm gì, không lẽ trừ tà ma? – Lê
Hoàn nhìn Bộ Lình, dò ý, nói. – Tôi có kế này, chỉ nội đêm nay, đánh một trận
là xong, đúng như lời tướng Bặc.
Bộ Lĩnh hỏi kế gì? Lê
Hoàn nói khẽ như thế, như thế… Bộ Lĩnh thấy phải, làm theo kế ấy, bèn cho hậu
quân kìn kìn chở nước mắm lên, chuyển cho bọn Bặc.
Quân Thành Mè dùng diệu kế,
lừa được quân Cờ Lau, khiến bọn Trường, Thuận hả hê lắm, bày rượu thịt khao
quân tưng bừng.
Thuận rỉ tai Trường nói
nhỏ:
– Tôi sợ đêm nay, bọn Cờ
Lau đánh úp.
– Rét như kim châm thế
này, bố bảo, – Trường nói. – Mình ngồi hỏa lò mà còn run như cầy sấy. Chúng làm
sao lội qua đầm. – Trường bặm môi suy tính, – mà bè mảng của chúng bị cặm một
lượt ở ngoài thành rồi, không kéo ra được đâu. Mai ngày khô nỏ, tôi cho đốt lửa
hoa đăng.
– Tôi lo mặt chợ Mè.
– Tôi đã tính cả rồi. –
Trường phấn chấn, – quân do thám báo về, bọn thằng Liễn với Lê Hoàn điểm quân từ
lúc gà lên chuồng. Cứ cho nó dẫn nhau vào chỗ chết, ta dụng kế “Đóng cửa bắt trộm”,
một trận là yên.
– Giếng chân thành đã lộ
cả rồi, – Thuận bồn chồn lo lắng.
– Chín mươi chín cái, đào
kiểu nanh sấu cơ mà. Sập cái này, còn cái kia, lo gì?
Canh ba đêm ấy, thấy bên
ngoài thành, từ phía chợ Mè, quân Cờ Lau rậm rịch tiến vào. Trường lệnh cho
quân, vẫn để nguyên các giếng sập, không ngụy trang lại, lừa quân Cờ Lau trận nữa,
với số giếng còn lại đã được ngụy trang từ đêm trước. Trường bảo, thế nào chúng
mò vào rừng, không gặp hổ cũng gặp báo cho mà xem.
Đột nhiên mặt thành phía
đầm sáng rực. Các ngọn cây gạo cháy đùng đùng như hàng dãy đuốc khổng lồ, soi tỏ
cả thành. Quân Cờ Lau do Bặc chỉ huy, từ trên mặt thành lao xuống như kiến cỏ,
gặp người thì chém, gặp ngựa thì đâm, khiến cho quan, quân, dân chúng Thành Mè
loạn cả lên.
Ngay lúc đó, từ phía chợ
Mè, quân Cờ Lau lao thẳng các cỗ xe chở những cây gỗ nhọn đầu vào phá cửa
thành, chứ không trèo qua thành nữa. Cứ hết xe này kéo ra, lại xe khác đẩy vào,
nhằm giữa cửa mà nện, chẳng mấy chốc, các cánh cửa bung ra, cả bọn ồ ạt xông
vào như thác đổ. Thế là, cả hai mặt quân Cờ Lau đánh ập vào, quân Mè tan tác
như ong vỡ tổ.
Trong cơn nguy cấp, quân
Mè tung toàn lực ra chống cự. Dân chúng trong thành cũng đồng lòng quyết tử.
Nhưng thế quân Cờ Lau quá mạnh, chẳng bao lâu, thành tan nhà nát, như gặp bão tố,
sập núi lụt rừng vậy. Tuyệt vọng, Trường vội đưa Thuận chui cửa sau, lẻn xuống
một chiếc thuyền nhỏ, đậu sẵn trong chỗ kín, chèo qua đầm.
– Nó mà phục Bến Khuôn
thì hết đường! – Thuận sợ hãi khẽ nói.
– Phải hư hư thực thực nhằm
vào chỗ không ngờ mới được. – Trường trấn tĩnh, – “Cùng tắc biến, biến tắc
thông”.
Quân Bặc đang đánh vào
thành, chợt thấy con thuyền lùi lũi bơi ra, hỏi không nói, nghi là quân Mè tháo
chạy, Bặc phóng mạnh một ngọn giáo, bay hú họa về phía ấy. Chợt có tiếng kêu: “Ối!”
bật ra trên thuyền, rồi không gian lại lặng như tờ.
Thì ra, theo kế Lê Hoàn,
quân Cờ Lau bên chợ Mè đánh động nghi binh, tạo điều kiện cho quân của Bặc bên
đầm đột nhập. Mỗi tên lính, trước khi lội xuống đầm, đều uống một bát nước mắm,
cho ấm người. Khi ngoi lên mặt thành, thì bắn tên lửa lên đống bùi nhùi đã bí mật
buộc sẵn đồ dẫn lửa trên ngọn cây gạo. Thế là, ánh sáng chói lòa, bất ngờ cháy
rực trên thành, khiến quân Mè ngỏng cổ lên nhìn, ngỡ ông trời đốt đuốc chơi
đêm. Quân Đinh Điền, Lê Hoàn thừa cơ xông vào cổng thành. Thế là quân Mè không
kịp trở tay.
*
Thuận bị mũi giáo của Bặc
xuyên qua áo giáp, thấu phổi, bọt bong bóng cứ sủi ra như cua đùn. Từ lúc Trường
rút mũi giáo thả nhẹ xuống đầm và lấy khăn nhét vào vết thương, thì Thuận kiệt
sức, nằm vật xuống lòng thuyền. Bọn Trường khiêng Thuận lên gò đất ven đầm. Thuận
bảo:
– Ta làm anh em khó nhọc…
– Ông là bậc con vua cháu
chúa, thì bổn phận chúng tôi phải phụng thờ, – Trường nói, giọng buồn rầu.
– Vậy thì, anh em nghe ta
nói đây!
Thuận dừng lại lấy hơi.
Gió đầm hun hút. Những vì sao cũng như đang hấp hối không trung. Trời chuyển dần
về sáng.
– Lời người sắp chết là
nói thẳng ngay…
– Cương Nghị Quân, chớ
nói gở!
Bọn chúng vội can, nhưng
giọng đầy vẻ lo sợ.
– Ta đã xem thiên văn, thấy
Bộ Lĩnh có mệnh đế vương. Anh em ai theo thì theo, không theo thì bỏ khí giới
mà về nhà làm ăn…
– Sứ quân!
– Ta có lời từ biệt Mai
bà lão, với giả muội(8)… Giời sắp sáng rồi, đi mau! Còn kịp…
Trường và bọn tâm phúc
không ai muốn rời, nhưng ngựa không có con nào, Thuận thì như ngọn đèn trước
gió, đi cũng dở mà ở không xong. Cả bọn, nước mắt ròng ròng, băng bó lại cho
Thuận, rồi bái biệt mà ruột xót gan bào. Đoạn, chúng chạy qua nhà Mai bà Lão để
báo hung tin, rồi men hữu ngạn sông Hồng, bán sống bán chết ngược lên tây bắc.
Kiều Công Thuận nằm lại
giữa rừng, nghe tiếng chim hót biết là trời sắp sáng. Lại có tiếng người, ngựa
lao xao mỗi lúc mỗi gần, đoán là quân Cờ Lau đang lùng sục. Thuận nghĩ, không
thể chết trong tay quân địch, bèn gắng sức tàn, cầm thanh kiếm mà bọn Trường
dâng hộ thân, đặt mũi kiếm lên yết hầu, chuôi kiếm nằm trên bàn chân, hai tay cầm
lưỡi kiếm cho khỏi rơi, rồi hít một hơi thở sâu, nghe vết thương đau buốt. Thuận
nghiêm sắc mặt, gẩy mạnh bàn chân, mũi kiếm cắm phập vào cổ họng, máu đỏ tươi
phun như cầu vồng.
Đằng đông, bầu trời đang ửng
hồng. Khi Mai bà lão và em gái nuôi của Thuận lập cập tìm đến bên gò đất, thì vừa
hay bọn lính Cờ Lau cũng sục đến nơi. Hai bên cùng nhìn thấy tia máu đỏ vọt lên
trời. Thuận lả đầu sang phải, thanh kiếm vẫn nằm trên thân. Hai mẹ con Mai bà
lão sợ hãi ngã vật ra bên cạnh. Bọn lính Cờ Lau cũng lục tục xuống ngựa,
Nhưng tất cả đã muộn…
Chỉ trong chốc lát, hàng
đàn mối kéo đến, tựa hồ như chúng đã phục chờ sẵn từ lâu. Khi bọn lính cấp báo
về, Bộ Lĩnh cùng các tướng đến nơi, thì đống mối đã đùn cao, lấp kín thân thể sứ
quân Hồi Hồ, chỉ còn thanh kiếm vẫn sáng lên dưới ánh mặt trời. Bộ Lĩnh và các
tướng, ai cũng cảm phục. Về sau, nhà Đinh cho lập đền thờ Mai bà lão. Dân trong
vùng cũng được thờ cúng Kiều Công Thuận và Ma Xuân Trường.
Nhà văn Vũ Xuân Tửu
Chương chín
Huyết chiến Tây Phù Liệt
1.
Năm Ất Sửu (905), nhà Đường
suy yếu, Khúc Thừa Dụ nhân cơ hội, tự xưng tiết độ sứ, đóng thành Đại La.
Nguyễn Hãng sinh ra Nguyễn
Nê. Nguyễn Nê được lệnh vua Đường, mang bảy nghìn quân sang Tĩnh Hải Quân, đòi
Khúc Thừa Dụ triều cống. Nê đóng bản doanh ở Thành Quả, lấy vợ người Việt, sinh
ra ba anh em Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu. Lớn lên, chúng thành
ba sứ quân, mỗi kẻ hùng cứ một phương.
Trong số mười ba sứ quân,
thì có tới năm sứ quân người Hán đều có lực lượng hùng hậu, cát cứ địa bàn trọng
yếu chiến lược: Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu, Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Giang, Nguyễn
Khoan ở Tam Đái, Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du, Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt.
Nguyễn Siêu còn có tên gọi
là Nguyễn Hữu Công, cát cứ Tây Phù Liệt, thuộc vùng châu thổ bên hữu ngạn sông
Hồng. Nơi đây có nhiều hồ ao, đồng ruộng, nên xung quanh các thôn ấp, Siêu cho
đóng cọc móng tre tươi, đắp thành, rồi lại trồng nhiều lớp tre làm lũy, khá là
kiên cố. Môn đệ có hàng vạn người, binh mã ước chừng chục vạn.
Giữa năm Đinh Mão (967),
Bộ Lĩnh sai tướng Nguyễn Bồ chỉ huy, cùng bọn Nguyễn Phục, Đinh Thiết, Cao Sơn
đem quân tiến đánh Tây Phù Liệt. Siêu liền cử Lê Trí Khả làm Tiên phong, Trần
Côn làm Tả dực, Nguyễn Hiền làm Tổng quản, đem một vạn quân nghênh chiến. Kết cục,
quân Cờ Lau thua to, cả bốn tướng đều tử trận, còn quân lính chết không biết
bao nhiêu mà kể.
Nhưng kỳ thực, từ cuối
năm Bính Dần (966), thấy Bộ Lĩnh tập hợp ba nghìn quân mã, ở Đọi Sơn, Siêu đã
đoán chừng bọn Cờ Lau sẽ khiêu chiến, nên ráo riết đốc các tướng luyện tập võ
nghệ, củng cố thành lũy, phòng bị chu toàn, sẵn sàng chiến đấu. Nhân đấy, đắp
thêm lũy từ sông Cả, qua Phúc Am, đến Việt Yên, mà chỉ nội nhật một đêm là
xong.
Ban ngày, Siêu lệnh cho
quân lính vũ khí tề chỉnh. Ban đêm, canh phòng cẩn mật, đánh trống, khua chiêng
làm hiệu thật nghiêm cẩn. Hằng ngày, các cửa thành phải đóng chặt để phòng thủ,
không để xảy ra sơ xuất.
Tháng bảy năm Đinh Mão
(967), Bộ Lĩnh hội các tướng lại bàn:
– Thằng này, căn cứ rộng,
lại có sông Hồng bao bọc. Hai anh nó là Nguyễn Khoan và Nguyễn Thủ Tiệp cũng đều
là anh hùng đời nay. Ta không tấn công tổng lực là không xong.
– Tháng trước, thử đánh
thăm dò một trận, mà nó điều ngay một vạn quân giao chiến. Ta mất bốn tướng, thật
là đau xót. Như thế, đủ thấy nó không phải hạng tầm thường, – Nguyễn Bặc chậm
rãi nói.
– Ta phải đánh cả thủy, bộ,
– Phạm Bạch Hổ bàn. – Quân thủy Đằng Châu cũng ngay bến hạ lưu, dưới Đông Phù(9)
mà thôi.
– Phải! – Lưu cơ bàn
thêm, – như chủ tướng đã nói, thì ta phải đề phòng sự liên kết, tiếp tế của bọn
sứ quân Khoan, Tiệp. Nhưng cũng phải tính tới bọn Đường ở Tế Giang, Khuê ở Siêu
Loại, cũng quanh quẩn
trong vùng này cả. Nhất quyết không cho hợp sức với nhau, chúng tạo thành bó
đũa là khó bẻ lắm.
Nghe các tướng bàn mưu
tính kế xong, Bộ Lĩnh lại nói:
– Tây Phù Liệt có mười vạn
quân, Siêu có tài thao lược, nhưng ta cũng chỉ cất chừng vài ba vạn quân là
đánh được thôi. – Nhìn Hổ và Điền, Bộ Lĩnh nói, – quân thủy đánh đường sông Hồng,
từ hữu ngạn ập vào. Vậy ta phái tướng Đinh Điền kéo từ Tam Giang xuống. Tướng
Phạm Bạch Hổ lấy quân Bố Hải Khẩu và Đằng Châu ngược lên. Cả hai bàn bạc, cùng
hợp lại mà đánh. – Bộ Lĩnh lại nhìn Nguyễn Bặc, Lê Hoàn nói, – tướng Nguyễn Bặc
làm tiên phong cầm mười ngàn quân. Tướng Lê Hoàn đem tám ngàn tiếp ứng. Còn ta,
thân dẫn bảy ngàn cùng voi chiến, cắt đường Cẩn Cơ hậu thuẫn. – Đoạn, Bộ Lĩnh
quay sang Lưu Cơ hỏi, – ta định xuất quân ngày rằm tháng bảy, được chăng?
– Năm nay Đinh Mão (967),
này ấy là Kim dương. – Cơ nói, – theo sách Xuất hành của Gia Cát Khổng Minh,
thì ngày tốt, có quý nhân phù trợ, tài lộc thông suốt, thưa kiện có nhiều lẽ phải.
Trận này, chủ tướng cất quân ít hơn chúng, nhưng bù vào có vũ khí hạng nặng
– Âm phù dương bật, còn
chờ gì nữa? – Bộ Lĩnh cười sảng khoái. – Chuyến này, Đỗ Thích đi cùng ta. Còn
lão Bộc, tuổi hạc tóc sương, chinh chiến bôn tẩu đã nhiều, nay ở lại Yên Thành
dưỡng lão.
– Ngựa già cũng xin kéo
xe, được chăng? – lão Bộc bùi ngùi hỏi.
– Thế thì, lão trượng
cùng tướng Trịnh Tú lo giữ thành, – Bộ Lĩnh cười nói.
Nghe vậy, cả bọn cường cười
hồ hởi. Các tướng nhận lệnh, binh nào đạo ấy hăm
hở lên đường, nhằm Tây Phù Liệt thẳng tiến.
2.
Siêu hay tin quân Cờ Lau,
ba bề bốn bên đang ùn ùn kéo đến, thì trong lòng như có lửa đốt. Lê Trí Khả trấn
an:
– Chủ tướng có mười vạn
quân, mà nó chỉ có vài ba vạn thì lo gì? Nhẽ ra, trong phép dụng binh, thì phải
là “công ba thủ một”. Đúng ra, chúng phải cất ba mươi vạn quân chứ nhỉ?
– Quân ta tinh, tướng ta
giỏi, đất ta rộng, thành ta chắc, lại có anh em bằng hữu là sứ quân quanh vùng
bao bọc, yểm trợ. – Siêu tự hào nói, – nhưng quân Cờ Lau có thế mạnh hơn người,
vũ khí hạng nặng, đánh đâu thắng đó. Ta quyết không lơ là, chủ quan khinh địch
mới được.
– Chúng vừa thua tháng
trước. – Tổng quản Nguyễn Hiền nói, – nhuệ khí tự khắc giảm. nay lại dẫn xác đến,
chỉ chơi trò nộp mạng mà thôi. Mệnh chủ tướng lớn gấp bội.
– Ta với Bộ Lĩnh cùng tuổi
Giáp Thân (924), – Siêu nói. – Nay cũng sang tuổi “nghi bất hoặc” cả rồi. Nhưng
nó được Ngọc khuê, Rồng cõng qua sông. Đó là mệnh Thiên tử. Bởi vậy, dù chúng
có yếu kém hơn, nhưng cũng không thể xem thường.
– Ở cái xứ Tĩnh Hải Quân
này, sứ quân hàng chục, nhưng có nhà nào mà ba anh em cùng cát cứ như sứ quân
đâu, – Trần Côn nói câu lấy lòng chủ tướng. – Khi chúng phạm vào Tây Phù Liệt,
không chỉ phải đối mặt với mười vạn quân trong thành, mà còn phải chống đỡ các
sứ quân khắp vùng Tam Đái, Tiên Du, Siêu Loại, Tế Giang nữa. – Xem Siêu có vẻ
êm tai, Côn lại xúi thêm, – ta nên cho sứ giả đến gấp các xứ ấy, lo phối hợp
trong ngoài thì hơn.
– Việc ấy, ta định liệu cả
rồi, – Siêu nói. – Bọn Cờ Lau chắc cũng biết điều ấy, hẳn đã trù hoạch cả rồi.
Bây giờ, chỉ còn chờ xem ai hơn ai thua mà thôi.
*
Nguyễn Bặc, đại tướng
tiên phong, dẫn mười ngàn quân đánh thẳng vào Tây Phù Liệt. Siêu chỉ huy quân
phản kích, đánh bật ra. Bặc nghĩ bụng, tiếng đồn về thằng này, quả không ngoa.
Nó đã đánh bại Nguyễn Bồ, nay lại vỗ mặt ta thế này, không dụng kế, khó bắt được
tướng tài, ra trận mà bắt được tướng tài mới xứng anh hùng. Nghĩ vậy, Bặc liền
dâng kế sách lên Bộ Lĩnh. Theo kế ấy, bọn Bạch Hổ, Đinh Điền, Lê Hoàn cho quân
bao vây tứ phía, cả thủy lẫn bộ. Mặt khác, ngăn chặn các sứ quân quanh vùng
không cho tiếp ứng. Bặc lại cử tướng Nguyễn Đoàn, dẫn một đội quân bí mật đột
nhập vào trong thành Tây Phù Liệt, khi có pháo hiệu nổi lên thì tức thời đốt
doanh trại, khiến quân địch rối loạn. Ta thừa cơ, trong đánh ra, ngoài đánh
vào, tất bắt được Siêu. Bộ Lĩnh y kế, bảo các tướng cứ thế mà làm.
Đại bản doanh của Siêu
đóng ở Đông Phù, xung quanh quân lính dày đặc. Suốt cả dãy thành Đông Phù Liệt,
Tây Phù Liệt, cho tới Ma Cả, Ma Treo, Đường Chộ, Tam Thai, Việt Yên, Đông Thạch,
Văn Uyên… chỗ nào cũng bày binh dàn trận. Trên sông nhỏ chảy quanh thành đã sắp
đặt thuyền bè, sẵn sàng tấn ra sông Hồng, phối hợp chiến thuyền đóng bên hữu ngạn.
Quân tướng giữ thành canh phòng cẩn mật, nên địch quân tiến vào liền bị đánh bật
ra rồi. Ngoài thì đã cầu viện mấy nơi, nhưng chưa thấy tới. Quân Cờ Lau trùng
trùng khắp chốn, nhưng không thể vây hãm mãi. Mùa mưa, lũ đã về trên sông Hồng
rồi, lương thảo của chúng cũng không bao lâu nữa mà cạn. Khi đó, ta đánh ra,
các sứ quân đánh vào, lo gì không đuổi được chúng. Thừa thắng, có khi còn đuổi
thằng mục đồng này, về tận sào huyệt Thung Lau ấy chứ?
Đang miên man nghĩ ngợi,
bỗng nghe có tiếng pháo hiệu nổ long trời, Siêu giật mình chạy ra xem sao, thì
thấy các doanh trại đều bốc lửa. Từ trận địa quân Cờ Lau, các giàn phóng giáo
vun vút. Mỗi mũi giáo xiên táo dăm ba tên lĩnh. Đạn đá bay vào tựa hồ mưa đá đổ
xuống từ trời. Những quả cầu lửa tới tấp ném vào lũy tre, nhựa thông bám vào
đâu, cháy tới đó… Quân Tây Phù Liệt lần đầu nếm vũ khí hạng nặng của quân Cờ
Lau, khiến đội hình tan vỡ ngay tức khắc. Bên ngoài, tiếng quân reo, ngựa hí,
voi gầm, trống thúc ầm ĩ. Tự nhiên, xuất hiện một đàn trâu, con nào con ấy buộc
giáo, chằng mác tua tủa quanh mình, lao vào như điên. Quan quân Tây Phù Liệt bị
bất ngờ, náo loạn hàng ngũ. Thừa cơ, quân Cờ Lau thúc voi, ngựa xông vào như
thác lũ, không thể nào cản nổi. Lớp trước ngã xuống, lớp sau xông lên, cứ như
sóng cồn, Siêu hô quân dập lửa, lại khiển tướng chặn địch. Chợt thấy Bặc cầm
cây huyết đương thương thúc ngựa phi tới, Siêu cũng xách tố anh thương ra
nghênh chiến. Hai tướng cùng dùng thương giáp trận. Ngù đỏ huyết đương thương
và ngù đen tố anh thương vấn vít bên nhau, kẻ đâm dọc, người chém ngang, với những
miếng thọc, gạt, giã, đè, lắc, chặn, quấn, đỡ… đều ngang tài cân sức, khiến
quân sĩ hai bên hoa cả mắt. Bọn Lê Hoàn thấy hai tướng đánh nhau ba mươi hiệp,
mà không phân thắng bại, bèn thúc quân đánh phứa vào. Siêu núng thế, liều mạng
mở đường máu, nhảy xuống chiếc thuyền nhỏ, lao ra sông Hồng.
Quân Cờ Lau tướn vào
thành, thỏa sức chém giết, đập phá, hãm hiếp. Bọn Tây Phù Liệt vỡ trận, thành đổ,
nhà cháy, tướng chạy, khác nào rắn không đầu. Hàng vạn xác lính chồng chất lên
nhau, mặc cho voi giày, ngựa giẫm, trâu đạp, máu me, xương thịt bầy nhầy như đống
bùn lầy. Sức cùng lực kiệt, mấy vạn quân lính của Siêu còn sống sót, kẻ quy
hàng, người tháo chạy hỗn loạn cả thành, không biết đâu mà lần. Các tướng Tây
Phù Liệt chết trận ráo cả, quân lính thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể.
Thuyền của Siêu vừa bơi
ra sông Hồng, thì bỗng nhiên bão tố nổi lên đùng đùng, sấm rung chớp giật như
trời giáng. Quân thủy của bọn Hổ, Điền vây bọc, áp sáp mạn thuyền. Trong lúc hỗn
quân hỗn quan, Siêu bị trúng tên, ngã lăn xuống sông, mưa gió mịt mù, thủy chiến
hỗn loạn, không ai kịp vớt.
Ba tháng sau, người dân mới
vớt được xác Nguyễn Siêu, mà trông như còn đang sống vậy. Thế là mọi người bèn
húm vào, lo chuyện mai táng chu tất.
Một hôm, dân làng Đông
Phù thấy có cây gỗ rất to, trôi trên sông Hồng, nhưng đến khúc sông này thì luẩn
quẩn ở bến. Người ta đồ rằng, hẳn trời đất ban lộc chi đây, liền hò nhau kéo
lên, nhưng không nổi, phải gọi trai tráng ba làng lân cận đến cùng kéo mới
xong. Mấy người có chữ trong làng bảo, hẳn là oan hồn quan quân Tây Phù Liệt bỏ
mình đã hóa thành, nên gọi là “Diệu Cây Trôi” và tạc tượng quan tướng, thờ
chung cả.
Nguyễn Siêu là người có
công lập làng Đông Phù, cát cứ cả vùng Tây Phù Liệt, được dân kính trọng, chết
rồi còn được suy tôn là nhân thần, thờ làm thành hoàng.
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
_________________
(1)
nay thuộc tỉnh Phú Thọ
(2) nay
thuộc phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
(3)
nay là xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
(4)
nay là xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
(5)
nay là xã Văn Khúc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
(6)
nay là xã Văn Lung, thành phố Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
(7)
vùng dân tộc thiểu số miền núi.
(8)
em gái nuôi.
(9)
nay thuộc xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thủ đô Hà Nội.
Chương mười
Ba lần công phá Thành
Quèn
1.
VHSG- Nghe tin Đinh Bộ
Lĩnh cất quân tiến đánh Thành Quèn(1), Điền bảo:
– Thằng cụt tai này,
không phải vừa đâu nhá. Năm Bính Dần (966), thằng Khoan đánh nó, bị vây khốn,
quân lính chết đói trong núi.
– Sợ gì! – Liễn bàn, – bọn
này chưa thể sánh với Tây Phù Liệt, diệt được Siêu, ắt phá được Thạc.
– Phải, – Bặc thừa nhận.
– Liễn nói phải, chứ huynh trưởng có vẻ chờn, – Bặc lại khích Điền.
– Tôi mà sợ nó à? – Điền
tức điên. – Chú cứ để tôi làm tiên phong, – Điền quay sang cầu khẩn Bộ Lĩnh. –
Tôi đánh ào một trận, bắt nó về tế cờ, rửa nhục.
– Thằng cáo già này,
không nôn nóng với nó được đâu, – Cơ lên tiếng. – “Dục tốc bất đạt”. Bởi, nó từng
giúp Ngô Tiên Vương đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, rồi lại tranh
Cổ Loa với bọn Lã Xử Bình. Bây giờ, nó dám xưng Đỗ Lệnh Công, thống suất cả
vùng sông Tích, coi như của họ Đỗ nhà nó, nên mới gọi Đỗ Động Giang là cái sự vậy.
– Ai mà chả biết, mấy anh
có chữ cứ hay ăn nói rề rà, – Điền lẩm bẩm.
Bộ Lĩnh nhíu mày, gọi Đỗ
Thích:
– Mang địa đồ ra mau!
Bộ Lĩnh nóng lòng muốn
bàn vào việc chính là đánh thành, chứ không phải cà khịa nhau. Nhưng hiềm nỗi,
Điền là bậc trên, nên không ai dám ho he.
– Ta hai lần ra quân,
nhưng chưa thắng, bởi không am hiểu thành lũy, hang ổ của nó. Nay ta cho quân
do thám, vẽ địa đồ như thế vầy, các tướng cùng xem mà bàn cách bài binh bố trận.
– Đây là Thành Quèn, –
Thích giơ tay, chỉ phác một lượt. – Từ núi Ba Vì, cách mấy chục dặm còn nhìn thấy.
Thành vuông như đồng bánh chưng, mỗi chiều dài năm chục trượng. Chân thành rộng
chừng hơn hai chục thước. Dưới chân lại có gờ thành, ước độ hai lăm thước. Cái
thằng đắp thành lạ thế?
Thích cũng bắt chước thói
mục đồng, gọi các sứ quân là thằng hết, khiến Cơ cười mũi.
– Hẳn nó làm chân thành?
– Điền láu táu.
– Vậy ta càng dễ trèo
vào, – Liễn cười khoái chí.
– Phải đề phòng quỷ kế
chi đây? – Bặc nói, – chứ nó có ngu đâu mà dọn cỗ sẵn mời mình xơi.
Thấy Đỗ Thích chưa chi đã
định làm thầy, sợ mếch lòng các tướng, nên Bộ Lĩnh bèn đứng áp vào, cầm thanh
kiếm trực tiếp chỉ từng vị trí, nói thay, như đã thuộc trong lòng bàn tay rồi vậy:
– Bốn mặt trổ bốn cổng lớn:
cửa Tiền làm cổng bắc, cửa Hậu là cổng nam, cổng Hữu hướng cửa đông, cửa Đoài
là cổng tả. Các cổng đều lập miếu thổ thần trấn bên ngoài. Nhưng lạ nhất là bốn
góc thành đều có đắp ụ đất to như cái đống rạ. Giữa thành có vuông đất cao làm
chỗ dựng cột cờ.
Thành cao bao nhiêu? – Bặc
hỏi.
– Theo quân do thám, thì
thành cao chừng sáu, bảy thước. – Bộ Lĩnh chỉ vòng bên trái thành, – đây là vẽ
sông Tích, chúng gọi là Đỗ Động Giang.
– Ta đổi Đại Hoàng ra
Hoàng Long, thì chúng cũng bắc chước đấy mà? – Điền cười khảy.
– Sông Tích quây mặt bắc
và tây thành, như thể con hào nước to. – Bộ Lĩnh quay sang Bặc, – phải tính
chuyện vượt sông đấy nhá?
– Theo như tôi được biết,
nó còn có cái đồn Bảo Đà, cách chừng năm chục dặm, tạo thế ỷ dốc, – Bặc tỏ ra
am tường.
– Cách bốn năm chục dặm
thì ỷ dốc cái nỗi gì? – Điền bỗ bã, – ta hạ xong thằng Thành Quèn, ngủ một giấc,
chưa chắc bọn Bảo Đà đã tới kịp.
– Xung quanh Thành Quèn,
Thạc còn lập bảy mươi hai hành cung, thôn ấp, – Bộ Lĩnh thõng thanh kiếm, ngồi
xuống sập.
Các tướng bàn tán xôn xao
một hồi.
– Tôi nghe nó luyện binh,
đóng thuyền, trữ lương ghê lắm.
– Nó đắp đất làm bệ cột cờ,
mỗi chiều những sáu, bảy trượng. Thằng Hán này, chắc muốn hùng cứ một phương?
– Nay ta đánh Thành Quèn,
gặp phải cữ giá rét thế này, quả là khó nhọc cho tướng sĩ. – Bộ Lĩnh khoát tay
ra hiệu cho các tướng chú ý mới nói tiếp, – nhưng trong cái khó cũng có cái thuận.
Nó sẽ mất Tết Nguyên đán với ta cho mà xem.
– Hẳn là cái Tết cuối
cùng của đời nó, – Điền nói như đinh đóng cột, chủ tướng mang cả chục vạn quân,
uống thuốc lợi tiểu, đái xuống sông cho ngập thành, là xong.
Cả bọn lại cười ồ lên.
– Ta chia làm bốn cánh
cùng ập vào mà đánh mới được. Các tướng Phạm Hạp, Pho Hùng, Lê Hoàn, Thương Lập
cùng phải đồng lòng, gắng sức lập công, nhá!
Bốn tướng cùng đứng
nghiêm, tuân lệnh. Đoạn, Bộ Lĩnh gọi Nguyễn Bặc lại, dặn nhỏ mấy việc, rồi nói
to:
– Không được chủ quan
khinh địch, thì sẽ bớt được xương máu tướng sĩ, bí mật hành binh thì địch mới
không biết đường phục kích. Thắng, hay thua là nhẽ thường trong phép dụng binh,
nhưng trận này rất hệ trọng, phải thắng.
Nghe Bộ Lĩnh nói, bọn Lưu
Cơ, Trịnh Tú đưa mắt nhìn nhau, đỏ mặt lên vì xấu hổ. Số là, khi Thạc vừa thắng
Đường, thì Cơ cho rằng, bọn Thành Quèn đắc ý chủ quan, nên đêm ba mươi tháng bảy
năm Bính Dần (966) cử bọn này cùng mười tướng, đem năm trăm binh mã, lén đánh
úp một trận. Nhưng Thạc cáo già, biết thóp, bèn phục kích ở Quán Xanh(2),
khiến quân Cờ
Lau đại bại. Nhưng lúc
này, trước khi ra trận, Bộ Lĩnh không muốn nhắc lại chuyện cũ, sợ làm nhụt nhuệ
khí tướng sĩ.
Đến cuối năm Bính Dần, Bộ
Lĩnh lại sai Đinh Điền và Nguyễn Bặc cùng hai mươi tướng, chỉ huy sáu trăm quân
mã vây Thành Quèn. Điền bảo:
– Hồi giữa năm, bọn thằng
Cơ nỏ mồm, đã thua ở Quán Xanh, làm quân ta nản lòng. Nay, ngày cùng tháng tận
thế này(3), lại xuất binh à?
– Quân lệnh như sơn. – Bặc
bảo, – cứ đánh rồi khắc thắng!
– Có mà nướng quân…
Y như rằng, bọn Thạc nống
quân ra vây hãm, lại điều quân lính ở đồn Bảo Đà và bảy mươi hai hành cung trại
ấp cùng kéo về, khiến quân Cờ Lau tiến thoái lưỡng nan. May sao, đang lúc nguy
cấp, thì Liên Hoa là con gái Bộ Lĩnh, đóng ở Trâm Nhị(4), mang gấp
ba ngàn quân mã đến cứu, mới thoát. Thế nhưng quân lính chết trận rất nhiều,
thây chồng thành gò ngoài Thành Quèn, máu đỏ sông Tích. Về sau, chỗ ấy gọi là đồng
Đống Thịt(5).
Liên Hoa là con gái của Bộ
Lĩnh với Đặng thị. Khi Liên Hoa mười hai tuổi thì mẹ mất. Liên Hoa lớn lên giỏi
kiếm cung binh pháp, lại biết thương dân. Đời sau, Liên Hoa được dân lập đến thờ.
2.
Đỗ Thục là người Hán ở
phương Bắc, thời Ngũ đại thập quốc, do căm giận Nam Tấn hà khắc, nên chạy sang
Tĩnh Hải Quân, lập nghiệp, rồi lấy vợ là người họ Trần, thuộc diện con nhà
lành. Hai vợ chồng Thục thường làm việc phúc đức, thấy người đói cho ăn, người
rét cho mặc, người ốm cho thuốc, người chết thì chôn cất tử tế. Một đêm, nằm mơ
thấy hai con gấu nhảy múa từ trời cao, sa xuống sân, hai vợ chồng Thục nhanh
tay bắt được một. Đến năm Nhâm Thân (912), Trần thị sinh được một đứa con trai
khôi ngô, đặt tên là Đỗ Cảnh Thạc. Một lần, Thạc đánh nhau với bọn cướp, bị
chúng treo lên cây và xẻo mất một tai. Về sau, người đời gọi Thạc là “Độc nhĩ
tướng quân”.
Thạc có thanh liễu diệp
kiếm thường quấn quanh mình, coi như báu vật. Thạc giỏi cả văn lẫn võ. Nghe
nói, tài thơ kiêm cả Lý Bạch(6), Đỗ Phủ(7), lại biết bói
lục giáp, thần phù… việc gì cũng tinh thông cả. Lớn lên, Thạc theo nghiệp binh
đao, phò Ngô Tiên Vương, rồi tham dự trận Bạch Đằng, năm Mậu Tuất (938). Khi
Dương Tam Kha cướp ngôi cháu, Thạc đã cùng bọn Ngô Xương Văn đánh đổ Dương Bình
Vương, lấy lại ngai vàng cho Hậu Ngô. Đến khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn bị
trúng tên chết trận, Thạc lại về tranh Cổ Loa với bọn Lã Xử Bình, nhưng không
xong, liền chạy về Thành Quèn mộ quân, chăn dân, lập ấp, thu cả vùng đất đai rộng
lớn dưới chân núi Ba Vì. Binh lực ngày một dồi dào, phải dùng hố đong người để
điểm binh. Thành trì vững chãi, chỗ nào cũng đặt chòi canh, nên bọn Lã Đường, Bộ
Lĩnh mấy lần xâm phạm đều bị thua đau. Xem vậy cũng biết, Thạc là kẻ anh hùng,
mưu lược hơn người, chiến công hiển hách.
Nay lại nghe tin bọn Cờ
Lau kéo quân tới vây Thành Quèn, Thạc bèn hội các tướng lại bàn:
– Ta nghe quân do thám
báo, có bốn đội quân đang kéo tới, nhưng không thấy tướng Nguyễn Bặc ở đâu sất
cả.
– Hẳn là nó để lại Đống
Thịt ngoài thành kia, nên sợ mất mật rồi, – viên phó tướng cao giọng, vẻ tâng
công.
– Ai chứ, tên này phải cẩn
thận, – Thạc đăm chiêu. – Có khi, bọn mục đồng bày kế chi đây?
Chợt có thám mã cấp báo,
đại quân Cờ Lau do Bộ Lĩnh chỉ huy, đang cùng Nguyễn Bặc, Đinh Điền hành binh gấp
gáp từ Mỹ Đức, theo sông Đáy, hướng về Bảo Đà. Thạc nghe vậy, liền quay lại
viên phó tướng bảo:
– Ta đi giữ Bảo Đà, lá chắn
Thành Quèn. Ngươi gắng giữ thành cho đặng.
Đoạn, Thạc chùm áo bào ra
ngoài thanh liễu diệp kiếm, nhảy lên ngựa, thúc quân ruổi gấp.
Bọn Cờ Lau hội quân nhằm
hướng Thành Quèn: một cánh từ Mỹ Lương(8) kéo về, một cánh từ Bất Bạt(4)
tiến lại, một cánh từ Tam Đái(9) đánh sang, một cánh từ Chương Đức(10)
đổ xuống. Bốn cánh đánh một chẳng chột cũng què, thế mà Thành Quèn lại vắng Thạc,
khác gì rắn mất đầu. Quân Cờ Lau phóng giáo, bắn đá, ném lửa tới tấp vào thành,
rồi ào ạt tiến đánh, quyết rửa hận trận Đống Thịt, Quán Xanh hôm nào. Viên phó
tướng không giữ nổi, Thành Quèn tan tành trong chốc lát, không những cột cờ bị
đào bới mà bốn cổng cũng tanh bành.
Thạc trấn giữ Bảo Đà,
quân Cờ Lau lại tỏ ra không màng tới. Nhưng một khi đã mất Thành Quèn, thì Bảo
Đà lại cũng không còn chỗ dựa, khác gì cái cây mất gốc, tự dưng cái đồn dựng
làm lá chắn, lại bơ vơ như cái đấu giữa nong. Thạc chủ quan, nghĩ Thành Quèn vững
tựa bàn thạch, chỉ cần viên phó tướng cũng giữ được. Dù Thạc có sức học hơn người,
nhưng không học được chữ “Ngờ”…
Thành Quèn thất thủ, quân
Cờ Lau tập trung binh lực, quay sang công phá đồn Bảo Đà, khiến Thạc tối tăm mặt
mũi, vội bỏ đồn, chạy đi thu nhặt quân lính bảy mươi hai hành cung trại ấp và
đám tàn binh, kéo về chiếm lại Thành Quèn.
Bộ Lĩnh tập trung binh lực
tấn công đồn Bảo Đà, quyết bắt Thạc để tế cờ. Thế là chỉ để lại một toán quân
nhỏ trông giữ, Thành Quèn khác gì bỏ trống. Bởi thế, bọn Thạc chiếm lại như trở
bàn tay và quyết tử thủ. Bọn Cờ Lau không đánh vào được nữa, khiêu chiến mấy,
quân Thạc cũng không ra.
Bộ Lĩnh tức giận, cho
quân lại bủa vây Thành Quèn, chặn đường tiếp lương từ các trại ấp. Hai bên giằng
co, dền dứ mãi mà không phân định ai thắng ai. Tuy không lấy lại được Thành
Quèn, nhưng quân Cờ Lau đã làm cho quân Đỗ Động Giang mấy phen thất điên bát đảo,
trả được mối thù Quán Xanh, Đống Thịt, lại làm cho quan quân, dân chúng của Thạc
mất Tết Nguyên đán Mậu Thìn (968).
Một hôm, Thạc bảo:
– Hôm qua, vừa hạ cây nêu(11),
hết Tết rồi. Ta kíp nống ra Hoàng Xá(12) phá vây.
Quân Đỗ Động Giang bí mật
lẻn ra ngoài thành, toan dụng kế “Kim thiền thoát xác”, chuyển sang “Song
trùng độc chiến”. Ấy là, khi vừa chiếm được Hoàng Xá, đang định hợp binh để
trong đánh ra, ngoài đánh vào, thì thực chẳng may, Thạc bị trúng ngay một mũi
tên cực độc, ngã lăn xuống ngựa. Quân Đỗ Động Giang vội xúm vào cứu chủ tướng,
định mở đường máu, đưa Thạc vào thành cho yên. Nhưng sức Thạc suy sụp rất
nhanh. Bộ tướng vội cởi bao thanh liễu diệp kiếm quấn quanh bụng Thạc ra. Thạc
nhìn theo, nghẹn ngào rơi lệ. Một tên lính tò mò rút thanh liễu diệp kiếm ra
xem, thấy mỏng như lá liễu, bèn huơ lên, nghe tiếng gió vù vù, lại khỏa một
vòng cho thỏa. Chẳng may, lưỡi kiếm liệng vào mặt tên đứng cạnh, xẻo mất một miếng
má, khiến nó kêu thét lên vì đau đớn, ôm miếng thịt thề lễ trên mặt, ngã gục xuống.
Sự việc bất ngờ, khiến cả bọn đờ ra. Tên lính kia hoàn hồn, vội vứt kiếm bỏ chạy.
Viên tướng bực mình, nhặt thanh liễu diệp kiếm chạy theo ba bước, vung tay chém
mạnh một nhát, nhưng lưỡi
kiếm lại quấn vào ngay cổ
của nó, khiến đầu đứt lìa, rơi bịch xuống đất, thì thân hình mới đổ ngã theo. Bọn
chúng sợ hãi, toát cả mồ hôi hột. Thạc gượng sức, nói đứt đoạn:
– Không phải ai cũng khiển
được liễu diệp kiếm đâu! Chết đấy! Chôn cả đi!
Bọn chúng sợ hãi, nghe lệnh
Thạc, tức thì chôn ngay thanh liễu diệp kiếm, cho khuất mắt, kẻo vạ lây. Thạc
lượng sức mình không thể đánh nổi bọn Cờ Lau, bèn bảo thuộc hạ liều chết phá
vây, chạy về cố quốc. Nhưng đến Sài Sơn(13) thì thăng. Tính ra, Đỗ Cảnh
Thạc thọ năm mươi bảy tuổi trời.
Hay tin Thạc mất, dân
chúng khắp vùng ai nấy đều thương tiếc, bảo nhau lập đền thờ. Đời sau, suy tôn
Thạc làm Độc Nhĩ Đại Vương Đẳng Thần. Dù là người Bắc quốc, nhưng Thạc đã có
công thờ các vua Tĩnh Hải Quân, từ Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, đến Tiên Vương
Ngô Quyền, Hậu Ngô Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn và Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập;
rồi xây Thành Quèn, dựng đồn Bảo Đà, lập bảy mươi hai hành cung, trại ấp… Công
đức của Thạc dày khắp. Người đời sau, nhớ công lao của Thạc, làm thơ khắc dấu
các di tích liên quan, còn lưu truyền mãi:
“Chợ tư có đấu đong
người
Có chùa Cảnh Thạc, có
chòi cầm canh…”
Chương
mười một
Cất quân
bình Tam Đái
1.
Năm Bính Dần (906), khi
Nguyễn Khoan chào đời, Nguyễn Nê bảo vợ:
– Trộm vía, thằng này mai
sau có phúc tỏ mặt anh tài với thiên hạ, mà khởi nghiệp nhằm năm Ngọ thì lành
mà phát. Bằng không, lại nôn nóng, khởi sự trước là khốn.
– Thì ông phải kèm cặp dạy
bảo cho con nên người.
– Chỉ sợ, ta không sống
được đến ngày đó mà thôi.
Nhân bảo như thần bảo,
khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, khiến thần dân không phục, khắp nơi cát cứ.
Sợ mất thời cơ và đất đai, nên Nguyễn Khoan cũng vội vã khởi sự Tam Đái, vào
năm Ất Tỵ (945), nên lận đận.
Quân Cờ Lau sau khi phá
Thành Quèn, diệt Đỗ Cảnh Thạc, bèn cất quân bình Tam Đái.
Bộ Lĩnh bảo:
– Ta đánh thằng út, mà
hai thằng anh bó tay ngồi nhìn, thì đủ biết lực chúng mỏng, tính chúng hèn đến
mức nào rồi.
Bặc thấy Bộ Lĩnh có vẻ chủ
quan khinh địch, bèn nói:
– Thằng Khoan được lòng
dân, địa thế lại hiểm trở, nên khiến cho bọn Kiều Công Hãn, Ngô Xương Văn đều gặp
khốn. Nay chủ tướng phải cẩn trọng mới được.
Lưu Cơ hiến kế:
– Quả là việc quân không
thể khinh suất. Bây giờ, hẳn nó sợ co vòi lại rồi, không dám ho he như hồi đánh
nhau với Tam Giang, Cổ Loa nữa đâu. Chủ tướng cứ cất quân vây chặt, việc tự
nhiên thành.
Bộ Lĩnh theo kế ấy, điều
Phạm Bạch Hổ dẫn quân thủy từ Tây Phù Liệt, ngược sông Hồng, qua Cà Lồ tiến
lên. Lại cho bọn Đinh Điền, Lê Hoàn vòng mũi vu hồi từ Đầm Vạc, theo sông Phan
đánh xuống. Còn bản thân mình, Bộ Lĩnh thống suất quân bản bộ qua Cổ Loa tiến
vào.
Nguyễn Khoan tuy đã bắn
được Ngô Xương Văn và đánh bật được Kiều Công Hãn; nhưng vừa rồi, thấy Nguyễn
Siêu và Đỗ Cảnh Thạc, sức mạnh như hai con hổ mà còn bị thua quân Cờ Lau, thì
mình là cái thá gì? Khoan nghĩ vậy, tự nhiên cảm thấy hoang mang. Bọn Cờ Lau cứ
đánh theo kiểu cuốn chiếu thế này, xem chừng chúng định làm cỏ cả xứ Tĩnh Hải
Quân không chừng? Nhưng mà, cái trò Bạch ốc phát vương- Dân khố rách lên ngôi, ắt
cũng chẳng bền được đâu.
Cái thằng mục đồng này
cũng lạ, cứ tưởng nó phao tin được Ngọc khuê, với lại Rồng cõng để ra oai, chứ
ai ngờ nó cũng toan nuốt thiên hạ. Đấy, cứ ngẫm mà xem, tay không gạ gẫm Trần
Lãm thuổng Bố Hải Khẩu, rồi lại thu phục Phạm Bạch Hổ chiếm Đằng Châu, lấy mẹ
Ngô Nhật Khánh mà phỗng cả Đường Lâm, lấy Phong Châu hãm Kiều Công Hãn vào chỗ
chết, cướp Hồi Hồ làm cho Kiều Công Thuận trận vong, đẩy Nguyễn Siêu xuống sông
mà chiếm Tây Phù Liệt, hại chết Đỗ Cảnh Thạc tóm gọn cả vùng Đỗ Động Giang. Bây
giờ, chỉ ta với Thủ Tiệp anh em môi hở răng lạnh mà thôi. Còn bọn Lã Đường, Lý
Khuê, Ngô Xương Xí, vị chi là năm sứ quân cả thảy, nhưng khác nào trứng để đầu
gậy, không biết nó lấy lúc nào. Liệu năm sứ quân có hợp sức mà đánh lại nó
không. Năm anh em phải gắn kết như bó đũa, nó mới không bẻ được. Nhưng hỡi ôi,
đũa nọ lại chọc đũa kia, toàn bọn tiểu nhân cả, thì làm thế nào cho đặng? Nhưng
chả nhẽ lại giơ tay hàng thằng mục đồng khố rách áo ôm này, thì còn ra thể thống
gì nữa? Chả gì, ta cũng đường đường là cháu Nguyễn Hãng, con Nguyễn Nê lừng lẫy
thiên hạ.
Nghĩ vậy, Khoan ráo riết
đốc thúc quân sĩ phòng thủ.
Quân Cờ Lau tấn công tứ
phía, nhưng bọn Tam Đái không nao núng.
Bất chợt, quân Cờ Lau sử
dụng máng ném lửa, quăng vào thành những quả cầu lửa bằng nhựa thông, đốt cháy
lũy tre vòng ngoài và nhà cửa, doanh trại trong thành, khiến quân Tam Đái hoảng
loạn một hồi. Nhưng khi quân Cờ Lau xông vào, lập tức bị đánh bật trở ra. Giàn
phóng lao và súng bắn đá cũng không làm nên trò trồng gì. Nên quân Cờ Lau đành
phải vây hãm, chờ thời.
Bộ Lĩnh nghĩ, nếu cứ theo
kế của Lưu Cơ mà vây hãm mãi, thì việc cấp lương thảo sẽ khó chu toàn. Mà bọn
Siêu Loại, Tiên Du, Tế Giang, Bình Kiều nổi loạn thì rách việc. Chi bằng, ta bất
ngờ đánh thốc một trận, có khi lại thắng to. Thế là Bộ Lĩnh hô quân đốc tướng
nhất tề tiến công. Không ngờ quân Tam Đái vỡ ngay. Thì ra, trong lòng chúng đã
rạn nứt từ lâu rồi. Quân Tam Đái thua to, hai viên tướng cùng với hai người vợ
của Khoan phải tự sát ở Ao Nâu, vì sợ sa vào tay mục đồng. Quân lính đóng ở Gia
Loan, Tề Lỗ đều bị tử trận ráo cả. Thấy vậy, Khoan bèn đóng giả thường dân, lợi
dụng ban đêm, lẻn ra khỏi thành Gia Loan.
2.
Khoan tính, tình cảnh này
mà vác mặt sang nhờ thằng Tiệp thì cũng nhục. Mai ngày, bọn Cờ Lau đánh Tiên Du
thì biết chạy đi đâu? Còn bọn Khuê, Đường, Xí cũng khó qua khỏi Đinh Mão (967),
quá lắm sang đầu Mậu Thìn (968) là cùng. Vậy nên, mình cũng chẳng đến Siêu Loại,
Tế Giang, Bình Kiều mà tá túc làm gì nữa. À mà, lúc cha còn sống, đã dặn đi dặn
lại, tuổi Dần thì chớ làm việc lớn trước năm Ngọ, thế mà lúc nước sôi lửa bỏng
năm Tỵ ấy, mình quên tiệt mất. Hiềm vì không nhanh tay, các sứ quân khác nổi
lên chiếm đất, thì còn đâu đến phần mình cát cứ. Miếng ngon ai để đến trưa? Bây
giờ, hối thì đã muộn. Hay là về cố quốc, tâu vua xin cất quân rửa hận. Quân Hán
tràn sang, thế nào các sứ quân kia cũng nổi dậy làm nội ứng, thì bọn mục đồng
chạy đằng trời. Nhưng nghĩ đi cũng phải nghĩ lại. Khi xưa, cha ta mang bảy
nghìn quân sang để ép mỗi việc triều cống còn chẳng xong. Nay ta còn mặt mũi
nào nhìn thấy liệt tổ liệt tông nữa mà về. Ai còn tin cha con, anh em ta nữa?
Nghĩ vậy, Khoan nhằm đỉnh
núi cao lẩn trong mây trắng mà đi. Khoan cứ đi mãi, đi mãi, bước chân đưa tới
lưng chừng núi, bỗng thấy một ngôi cổ kính chùa hiện ra…
Nhà văn Vũ Xuân Tửu
Chương
mười hai
Quét sạch sứ quân
Tiệp, Đường, Khuê
1.
Nguyễn Thủ Tiệp sinh năm
Mậu Thìn (908). Lúc mẹ sinh, mùi thơm tỏa ra đầy nhà, hào quang rực rỡ, khiến
ai nấy đều mừng vui. Bảy tuổi, Tiệp đã đi học, được ngợi khen tinh thông âm luật,
binh thư, cung thỉ, tam lược, lục thao… Năm Ất Tỵ (945), cả ba anh em: Nguyễn
Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu cùng chiếm thiên hạ, mỗi người hùng cứ một
phương.
Tiệp cát cứ vùng Tiên Du,
lập trang Nguyễn Xá, khoan thư sức dân, nên chẳng bao lâu dân giàu xứ mạnh. Tiệp
lập hành cung tọa càn, hướng tốn, phía trước có dãy núi Tiền Mồ, Hiên Vân, Long
Khán, lại được sông Thiên Đức bao bọc. Tiên Du quân mạnh, dân đông, lương thảo
dồi dào, thế vững như bàn thạch.
Sau khi chiếm được châu
Vũ Ninh, sáp nhập cả vào Tiên Du, xưng là Vũ Ninh Vương. Thấy em út và anh cả bị
quân Cờ Lau thôn tính, Tiệp vội liên kết với Lã Đường ở Tế Giang và Lý Khuê ở
Siêu Loại để cùng nhau chống đỡ. Tiệp lại giao quyền bính điều binh khiển tướng
cho Đại tướng Nguyễn Quốc Khanh.
Sau khi quân Cờ Lau diệt
thành Tam Đái, chỉ để lại Điền coi giữ cả Tam Đái lẫn Phong Châu, còn Bộ Lĩnh
cùng Liễn theo đường sông Hồng, Thiên Đức đánh Tiên Du và Siêu Loại, lại sai
Nguyễn Bặc xuất quân từ Thanh Oai, Cổ Loa đánh lên.
Bộ Lĩnh cầm quân đánh thẳng
vào Tiên Du. Đinh Liễn chặn đường tiếp ứng của Lý Khuê. Hai bố con, trong đánh
thành, ngoài chặn viện, lại được hổ tướng Nguyễn Bặc phối hợp tấn công như vũ
bão, khiến bọn Tiệp, Khanh tối tăm mặt mũi, chống đỡ không xuể, chẳng bao lâu
thành vỡ quân tan. Tiệp phải đóng giả làm thầy lang, vai đeo bị thuốc, ngụy
trang hành tung, chạy trốn. Nhưng khi Tiệp đến bến đò No, thì bị quân Cờ Lau
phát hiện, bắt sống, dẫn giải về cho Bộ Lĩnh để lĩnh thưởng.
Bặc bàn:
– Ba anh em nhà nó tác
oai tác quái, khiến quân ta khó nhọc. Ta tuy diệt được ba thành của anh em
chúng, nhưng chỉ bắt được mỗi thằng này. Còn thằng út chết trôi sông, thằng cả
bặt vô âm tín.
Bộ Lĩnh bảo:
– Chả nhẽ, tha!
Liễn bật dậy, vội nói:
– Thưa phụ thân, phải
chém để thị uy mới được!
Bặc cũng hùa theo Liễn:
– Cậu cả Liễn nói phải,
chém! Quan quân vất vả bấy lâu, nay mới bắt được tướng giặc để tế cờ.
Bộ Lĩnh nghe vậy dõng dạc
hạ lệnh:
– Chém!
Quân Cờ Lau nghe tin chém
tướng giặc, lấy làm hể hả vô cùng, thế là có món tế cờ, trả thù cho vong hồn
bao tướng sĩ trận vong bấy lâu nay.
Dân chúng được tin ấy thì
rụng rời, thì thào truyền tai nhau:
– Vua bị xử trảm!
Cái tin xử trảm Vũ Ninh
Vương lan truyền nhanh như tiếng sấm nổ giữa thinh không vậy, khiến cả xứ nhộn
nhạo. Lưu Cơ thấy bất ổn, vội tâu với Bộ Lĩnh:
– Dân chúng bày tỏ lòng
thương tiếc thằng giặc này, nếu không chém ngay để thị uy, thì e động loạn nhãn
tiền.
Tiệp bị dẫn ra pháp trường.
Tuy cổ đeo gông, tay trói, chân xích, nhưng Tiệp vẫn tỏ ra oai phong lẫm liệt.
Bộ Lĩnh đứng trên đài cao, dõng dạc kể tội Tiệp:
– Ta vâng mệnh triều
đình, trừ giặc loạn, xóa bỏ cát cứ, thu phục giang sơn Ngô Tiên Vương để lại
cho Hậu Ngô. Cớ sao anh em nhà ngươi cố sống cố chết chống lại. Vậy là trái
lòng người, phản đạo giời.
Tiệp cũng cao giọng mắng
lại:
– Mi là thằng mục đồng, lừa
đồng hương Trần Minh Công của ta mà tranh hơn thiên hạ, chứ đâu phải phò vua
giúp nước. Mi hại chết anh cả và em út ta, cùng bao sứ quân khác nữa. Tội ấy,
có ngày giời hỏi đến bố con mi đó.
Các tướng Bặc, Liễn, Cơ
nghe Tiệp nói vậy thì giận lắm, đồng thanh hô to:
– Xin chủ tướng xuống lệnh
trừ phản tặc!
Bộ Lĩnh thét quân đao phủ
lôi Tiệp ra chém. Chúng đạp vào khuỷu chân cho Tiệp phải quỳ xuống. Nhưng Tiệp
trơ như đá, vững như đồng, vẫn đứng nhơn nhơn tự đắc. Bộ Lĩnh thấy Tiệp như
trêu ngươi, tức khí quát to:
– Chém!
Tên đao phủ vung lưỡi
gươm sáng lóa lên, lia ngang qua cổ Tiệp một phát. Tức thì đầu đứt lìa, rơi bộp
xuống gông, rồi lăn bịch xuống đất. Từ cổ Tiệp, máu phun lên trời, đỏ như vòi rồng
trên sông lũ. Hồi lâu, thân Tiệp mới đổ xuống. Bỗng trên trời, nổ một tiếng sấm
kinh thiên động địa. Hai bố con Bộ Lĩnh xây xẩm mặt mày. Các tướng vội xúm lại
đỡ.
Nguyễn Thủ Tiệp chết, dân
làng Ném Đoài(14) lập đền thờ. Làng Phúc Nghiêm tôn Tiệp làm thành
hoàng, bốn mùa thờ cúng. Về sau, Bộ Lĩnh cũng ban tặng cho Tiệp là Hãnh Liệt Đại
Vương.
2.
Lý Khuê xưng là Lãng Khuê
Công, thường gọi Lý Lãng Công, lập hành cung ở Dương Đanh, thuộc hương Thổ Lỗi,
vùng Siêu Loại(15); phía bắc cách sông Hồng chừng hai mươi dặm, phía
tây cách sông Thiên Đức chừng hai dặm, trước mặt có đầm sen, nối liền ba thôn
Đình, Đú, Đanh.
Các đạo quân Cờ Lau từ
sông Hồng, Thiên Đức, Tiên Du, La Thành cùng tấn công, vây chặt Lý Khuê ở Dương
Đanh. Bộ Lĩnh đóng quân ở làng Đại Từ, bảo Lưu Cơ:
– Khi xưa, ta theo phụ
thân vào châu Hoan, có nghe thầy học nói rằng, ở chùa Minh Châu vào năm Bính
Thân (936), trưởng lão Đinh La Quý An trồng cây gạo, có đọc bài kệ: “Đầu rồng
hiện ở Đại Sơn, đuôi rồng giấu trong chùa Minh Châu”. Khi đặt chân đến đây, nhớ
lại tích cũ, ta nghi, chính là chuyện xứ này.
– Thần cũng ngờ Lý Khuê
khởi đầu nhà Lý nào đó. – Cơ ngần ngừ hồi lâu, rồi nói, – chi bằng khử thằng
này, trừ hậu họa.
Nghe vậy, Bộ Lĩnh xuống lệnh,
bất ngờ tấn công đánh ào một trận, chém giết không nương tay. Quân Siêu Loại
không kịp trở tay, tan vỡ cả. Lý Khuê chết tại hành cung, nhằm ngày ba mươi
tháng tư năm Mậu Thìn (968). Những người đàn ông họ Lý, dù già lão, hay con đỏ,
cũng đều bị tróc nã, giết sạch cả.
Nhưng bọn Bộ Lĩnh đâu có
ngờ được “đuôi rồng Lý Khuê” sinh ra hậu duệ Lý Công Uẩn”. Người đời đồn rằng,
Uẩn là cháu nội của Khuê. Tạo hóa xoay vần mới kỳ diệu làm sao!
3.
Lã Đường còn gọi Lữ Đường
cũng thế.
Lã Đường tự xưng Lã Tá
Công, cát cứ vùng Phụng Công- Tế Giang, ven sông Hồng. Thời hưng thịnh, Đường từng
cất quân đánh Đỗ Cảnh Thạc ở Thành Quèn, nhưng thua to, phải bỏ quân chết đói
trong núi, chạy tháo thân.
Sau khi liên tiếp đánh thắng
các sứ quân, từ Lã Xử Bình ở Cổ Loa vào năm Bính Dần (966), cho tới Lý Khuê ở
Siêu Loại năm Mậu Thìn (968), Đinh Bộ Lĩnh được chư tướng coi như vua, tôn làm
Vạn Thắng Vương. Tại Siêu Loại, Vạn Thắng Vương giao ba ngàn quân cho Đinh Liễn,
Nguyễn Bặc đi diệt nốt Lã Đường.
Bọn Bặc, Liễn cho quân thủy
đánh ngả sông Hồng vào, quân bộ từ Siêu Loại đánh sang, kẹp quân Tế Giang ở giữa
trận. Đường biết thế cùng, nhưng vẫn chia nhỏ lực lượng ra, vừa chống đỡ,
vừa quấy rối, khiến quân Cờ Lau thiệt hại không phải là ít. Bặc thấy vậy, dâng
kế:
– Bọn này đánh kiểu cù nhầy,
cứ cò cưa thế này, tuy không thể thắng nổi ta, nhưng cũng làm ta cũng hao binh
tổn tướng. Chi bằng, trong thì vây chặt Đường ở Tế Giang, ngoài thì chặn viện cắt
lương thảo, ắt chúng lại đói mà chết.
Vạn Thắng Vương y kế ấy.
Quả nhiên, chỉ sau bảy ngày, quân Lã Đường nháo nhác cả lên vì người thiếu gạo,
ngựa hết cỏ. Bọn Tế Giang chợt nhớ chuyện đám tàn quân đánh Thành Quèn năm xưa
bị chết đói trong núi, lại càng hoang mang giao động. Bọn Liễn, Bặc bấy giờ mới
thừa cơ đánh ào vào. Quân Tế Giang thất trận, tan tác. Tướng Cờ Lau là Chu Công
Mẫn, người làng Đan Nhiễm, cũng ở vùng Tế Giang, chém Lã Đường đứt cổ. Nhưng Đường
vẫn cố nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thủ đô Hà Nội.
chạy đến một quán nước, hổn
hển hỏi bà lão bán hàng:
– Bà ơi, đầu bị chém thế
này, liệu có sống được không?
Bà lão bán hàng sợ hãi,
khẽ nhấc cái đầu lên bảo:
– Thế này thì làm sao sống
được, họa có là người giời!
Nghe vậy, Đường tuyệt vọng,
ngã lăn ra chết. Mẫn đuổi kịp tới nơi, nhặt đầu về báo công với Vạn Thắng
Vương.
Lã Đường chết, dân Tế
Giang thương cảm, lập đền thờ ở bến sông Hồng, gọi là Đình Bến(16).
Tránh tên húy Lã Đường, dân trong vùng gọi chệch chữ “đường” thành “đàng”. Lại
do Mẫn là người làng Đan Nhiễm đã chém Đường, nên dân Phụng Công truyền đời hiềm
khích với dân Đan Nhiễm.
Hằng năm, dân Tế Giang mổ
lợn cúng giỗ Lã Tá Công, nhưng đều phải bỏ thủ, để tưởng nhớ sự tích đau lòng
năm Mậu Thìn (968).
Chương
mười ba
Trận cuối, Vạn Thắng
Vương đánh dẹp Bình Kiều
1.
Ngô Xương Xí phải bỏ Cổ
Loa, lui sâu phương nam, đóng thành tận Bình Kiểu, phần lánh nạn, phần đợi thời
cơ hòng khôi phục nhà Ngô.
Thành Bình Kiều(17)
dựng giữa đồng, phía đông có núi Noãn Sơn chín ngọn chắn gió biển. Xa xa mạn
tây nam là núi Nưa sừng sững. Suối Đồng Chiêm chảy ngược từ đông sang tây bắc.
Ngay buổi đầu, Xí quan sát địa hình, thấy núi chắn đông, suối chảy ngược, cách
biển hàng trăm dặm… nên có vẻ không hài lòng. Nhưng viên Thái úy lại bảo là đất
hiểm chứ không phải nghịch, lợi phòng thủ, tiện tấn công. Về sau, khi Bộ Lĩnh mời
Xí về kinh đô Cổ Loa, thì viên Thái úy lại chém mất sứ giả. Thế là Xí rơi vào
thế tuyệt lộ, vừa hiểm, vừa nghịch, không có đường ra, chặn mất lối về…
Nay trong đám quan, quân,
dân chúng lại rộ lên tin đồn, Đinh Hoàn được tôn vinh làm Đại Thắng Vương đã
thôn tính hết mười một sứ quân rồi, chỉ còn Bình Kiều thì khác gì trứng để đầu
gậy, không biết còn, mất lúc nào. Thế giặc mạnh như chẻ tre, mà ta thì đơn
thương độc mã thế vầy. Ta chỉ còn một lợi điểm là chính danh con cháu Ngô Tiên
Vương mà thôi. Mười hai sứ quân kia, từ Trần Lãm đến Đinh Hoàn đều là giặc hết.
Nhưng thằng trẻ trâu thế mà khôn ngoan, mượn tiếng phò nhà Ngô, để dẹp loạn,
thôn tính bằng hết bọn kia. Bởi thế, bấy lâu nay nó phải trừ ta ra không những
không dám gây hấn, mà lại còn cầu cạnh ta để được danh chính ngôn thuận. Dù nó
có mạnh ngần nào đi chăng nữa, thì ta vẫn có cơ về Cổ Loa đường hoàng, nhưng thằng
Thái úy khốn kiếp đã vuốt mặt không nể mũi, làm hỏng việc đại sự mất rồi. Bây
giờ, tiến hay thoái đều gặp thế lưỡng nan…
Đứng dưới bệ cột cờ, Xí
ngắm nhìn bốn phương tám hướng mà lòng buồn khôn tả. Cứ như anh Tỷ lại hóa hay,
bỏ hẳn cõi trần gian thế tục, vào chùa niệm Phật tu nhân tích đức. Ta lăn vào
chốn trần ai, mà công nghiệp lại cứ lụi dần như cây nến, đĩa dầu. Ta đường đường
là Thái tử kế ngôi cha Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, thế mà nay bị xếp vào sứ
quân ngang hàng đám giặc cỏ cũng chẳng xong. Nghĩ vậy, Xí ứa nước mắt, vừa tủi
hờn, vừa căm giận…
– Xin Thái tử chớ buồn!
Lời nói của viên Thái úy,
làm Xí giật mình, vội lấy tay áo chấm khóe mắt, nói lảng:
– Gà chửa lên chuồng, mà
muỗi đã như vãi trấu…
Viên Thái úy cười nửa miệng,
nói câu đãi buôi:
– Thần đã cho lính đốt đống
rấm, ở cả bốn góc thành rồi. Một chốc, muỗi vợi ngay thôi.
– Sớm muộn gì, thì quân Cờ
Lau cũng vào Bình Kiều, – Xí hắng giọng nói. – Ta tính sao?
– Thần đã tâu, đây là đất
hiểm, đường xa dặm thẳm, quân giặc có tới được cũng hao binh tổn tướng, – Thái
úy vội đáp. – Thành trì vững vàng, lòng dân quy tụ, quân sĩ bấy lâu luyện tập
tinh thông cả. Chúng vào, ta lấy quân nghỉ ngơi đánh quân mệt nhọc, thì lo gì
không thắng? Vả lại, Thái tử có chính danh tôn tộc Ngô vương. Bởi vậy, mấy sứ
quân thất thủ đều tìm đường về Bình Kiều cả đấy thôi. Hiềm rằng, họ yểu mệnh.
– Kiều Công Hãn chứ gì? –
Xí bùi ngùi nói, – nhưng rồi dọc đường lâm nạn. Nghe nói, cả hai anh em nhà ấy,
khi chết đều được mối xông, thiêng đến thế là cùng!
– Ăn nhau là ở như cái
lúc sống, chứ chết rồi thì chỉ là cái thây ma mà thôi. May phúc,
còn có da ngựa bọc thây,
không thì…
Viên Thái úy nói cùn, chợt
thấy Xí nhíu mày, vẻ khó chịu, nên im bặt.
– Thế giặc như thác lũ,
thừa thắng…, – Xí bỏ lửng câu nói.
– Cùng lắm thì ta sang
Chiêm Thành. – Thái úy nói tưng tửng, – cũng chẳng mấy bước chân.
– Chết nỗi, – Xí ngửa mặt
lên trời, nhìn thấy lá cờ đại rũ xuống như cánh chim đại bàng bị nạn, mà lòng
đau dạ xót.
– Đấy là nói cùng kỳ lý
mà thôi, – viên Thái úy nói câu chữa háy. – Chứ ta vững tựa âu vàng.
Xí nén tiếng thở dài, phẩy
ta rảo bước vào hành cung.
2.
Quân Cờ Lau lui về Trường
Châu, chỉnh đốn binh mã. Đinh Hoàn hội các tướng tâm phúc, bàn chuyện đánh nốt
Bình Kiều.
– Bình Kiều là thành lũy
cuối cùng, sứ quân cuối cùng, vạt đất cuối cùng mà ta cần thôn tính cho xong, –
Vạn Thắng Vương ung dung nói.
– Hiền đệ nay đường đường
là Vạn Thắng Vương, cất quân trăm vạn, nguyên cái chuyện cho binh mã giẫm cũng
nát thành, lo gì? – Điền đắc chí nói.
– Quân ta tuy thắng trăm
trận, nhưng cũng đã mệt mỏi, thương vong không phải là ít. Đá còn đổ mồ hôi, huống
chi người bằng xương bằng thịt. Vả lại, bấy lâu ta vẫn đề cái cái chính danh của
Xí. Ta mượn danh ấy để dẹp các sứ quân, thu phục giang sơn. Nay chẳng nhẽ… – Vạn
Thắng Vương phân vân.
– Thì nó đã chém sứ giả
là tuyên chiến rồi, – Liễn nói, vẻ tức giận.
– Thiển nghĩ, – Lưu Cơ dè
dặt lên tiếng, – phải nhờ tướng quân Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật Khánh đi sứ một
chuyến mới xong.
– Nó lại vung gươm lên
thì sao? – Liễn bỗ bã.
Nghe vậy, Vạn Thắng Vương
lừ mắt nhìn con, đầy vẻ nghiêm khắc. Liễn thấy vậy, vội so vai rụt cổ ngồi im.
– Ta phải tính cả đôi nước.
– Bặc nói, – một mặt, phái hai tướng đi làm thuyết khách là có lý; mặt khác, phải
dụng binh hùng hậu làm áp lực. Vạn bất đắc dĩ mới công thành.
Vạn Thắng Vương cho là phải,
theo kế ấy, xuống lệnh:
– Đề phòng chúng rút chạy
xuống Chiêm Thành, Đinh Liễn mang năm vạn quân chặn cửa Nam Giới(18).
Nguyễn Bặc đem mười vạn quân vây chặt thành Bình Kiều. Ta đóng đại bản doanh ở
Cửu Noãn Sơn, thân đem mười vạn tiếp ứng. Đấy là chuyện binh mã vây hãm, làm áp
lực. Còn chính sự phải nhờ tài thuyết khách của tướng quân Phạm Phòng Át và Ngô
giai tế.
Ngô Nhật Khánh nhìn Phạm
Bạch Hổ, có ý dò hỏi và lén đưa tay cứa cứa vào cổ mình. Bạch Hổ trợn mắt nhìn
lại, có ý mắng mỏ. Vạn Thắng Vương nhác thấy, bèn hỏi Khánh:
– Giai tế, định sao?
– Thưa phụ vương, – Khánh
sợ hãi, nói câu nịnh nọt, biến báo. – Thần xin theo huynh trưởng, vào trấn giữ
phương nam. Ví bằng, Xí liều chết phá vây, sẽ bị chém đầu ở cửa bể. Quyết chặn
đứng ở Nam Giới, không cho bước chân vào cầu cứu Chiêm Thành, hòng phản vua hại
nước…
Vạn Thắng Vương nghe vậy,
chiều ý con rể, rồi chọn ngày tốt, xuất binh hành phương nam, nhằm hướng Bình
Kiều.
3.
Phạm Bạch Hổ từ khi tự
nguyện về hàng Đinh Hoàn, được đối đãi như thượng khách, trong lòng cảm kích vô
cùng. Rảnh rỗi, Bạch Hổ lại đi thăm thú phong cảnh quanh vùng, mà không cần Lưu
Cơ dẫn đường nữa.
Dưới đầm, từng đàn cò trắng
cần mẫn kiếm mồi, lão ngư phủ úp nơm bắt cá. Trên núi, từng bầy hạc khoan thai
vươn cánh. Bạch Hổ chọn một phiến đá ngồi hóng mát, nhặt mấy vỏ ốc biển bám
trên hốc đá. Có nhẽ, ngày xưa, bể cả dâng lên tận đây, Bạch Hổ thầm nghĩ và định
bụng tìm kiếm thêm mấy cái vỏ ốc biển nữa, thì nhác thấy có đôi công đang múa
trong thung. Chúng như mê đi trong điệu vũ ái tình. Thảo nào, người ta bảo, bắt
công dễ nhất là lúc chúng gục đầu nhảy múa. Có tiếng sáo mục đồng cất lên đâu
đó, khiến Bạch Hổ ngỡ mình lạc vào chốn thần tiên… Khi nào hết chuyện binh đao,
ta sẽ xin với Bộ Lĩnh, tới đây lập một cái am nhỏ, sống đời ẩn dật thanh nhàn,
chứ không vướng thói ganh đua, cung kiếm. Bất chợt, Bạch Hổ nhớ đến Nhật Khánh.
Nhật Khánh bị bức hàng, tuy được trọng dụng, nhưng lại tỏ ra bức xúc. Lại nữa,
khi Vạn Thắng Vương bàn định kế sách hạ thành Bình Kiều, thì Khánh ngầm phản
kháng, khiến Hổ cảm thấy chờn chợn, khó đoán lòng dạ con người này.
Một hôm, Khánh cùng đám
tùy tùng từ trên núi đi săn về, thấy Hổ cùng mấy tên lính hầu đang đứng ngắm cảnh
bên Ghềnh Tháp, Khánh vội xuống ngựa thi lễ, rồi đuổi đám lính đi trước, để hai
tướng trò chuyện. Con ngựa ô lộp cộp gõ móng theo sau.
– Chuẩn bị xuất chinh, mà
tướng quân còn đi săn được sao? – Hổ lấy làm lạ, hỏi.
– Vạn Thắng Vương còn
đang đi cầu khấn ở động Thiên Tôn, xem ngày giờ xuất binh, nên tiểu tướng đi
săn chỉ là để tiêu sầu mà thôi, – Khánh phân bua.
– Ta thấy công chúa Phất
Kim với Ngô Lãm Công, à quên, – Hổ vội nói chữa, – với Ngô phò mã, thực là tốt
đôi trai tài gái sắc, còn gì phải phiền muộn?
– Hư, – Khánh cười khảy.
– Chẳng qua là Vạn Thắng Vương dùng hôn nhân để ràng buộc ta mà thôi. Lấy công
chúa làm sợi dây thừng, để xỏ mũi ta đấy chứ!
– Thì cũng tốt chứ sao? –
Hổ nói vun vào, – vẹn cả đôi đằng.
– Lão tướng với ta cùng cảnh
ngộ, nên ta mới dốc bầu tâm sự. – Khánh đi sát vào Hổ, Hổ né ra bờ sông Sào
Khê, – nay mai phải vào thành Bình Kiều thuyết khách, nếu thắng thì công
vào tay Bặc. Nhược bằng bại, Xí lại vung gươm lên, thì cánh ta chung phận với sứ
giả năm xưa.
– Đâu đến nỗi thế? – Hổ vẫn
từ tốn, – khi xưa, các sứ quân còn ba bè bảy bối, nay thì Bình Kiều thế cùng rồi.
Hẳn Ngô Xương Xí cũng thức thời.
– Lão tướng là kẻ thức thời.
– Khánh nói, – nhưng Xí là người chính danh. Họ Ngô đâu dễ bó giáo?
Hổ giật mình, thở dài.
Khánh lấm lét nhìn quanh. Bọn ngư phủ đang lục tục chèo thuyền về bến Đền. Trẻ
chăn dê cũng í ới gọi nhau xuống núi. Tiếng dê kêu vang thung lũng. Khói bếp từ
làng Yên Thành đang bay trên những mái lợp bổi, lợp rạ. Con ngựa ô của Khánh thỉnh
thoảng lại hí lên man dại, khiến Hổ giật mình thon thót.
– Phò mã nói vậy thì ta
cũng biết vậy. – Hổ trầm ngâm nói, – nhưng số nhà Ngô đã tận, chớ quá tham vọng.
Tham thì thâm!
– Ta thấy Đằng Châu có
công với họ Ngô, lúc hoạn nạn. – Khánh dằn giọng nói, – nên ta để ngỏ cho lão
tướng một cửa. Động binh chuyến này, họ mới lòi cái đuôi mượn danh phò Ngô dẹp
loạn ra.
– Tướng quân thừa biết
câu: “Binh tất yếm trá”, – Hổ dừng bước, nghiêm nét mặt, nhìn Khánh, nói.
– Phải, phải, chí phải…
Chuyện dụng binh ắt phải dùng mưu lừa địch. Nhưng phận mình, chẳng qua là “Cử
điểu tha nhân tiểu tiện” mà thôi, – Khánh nói chưa hết câu, đã quay lại, nhảy
lên lưng ngựa, ra roi.
– Chết nỗi, – nghe câu tục,
cầm “chim” cho người đái, Bạch Hổ bàng hoàng thốt lên và sững người nhìn, vó ngựa
ô đang tế lên, dáng ngông cuồng. Thì ra, nó manh tâm tạo phản, Hổ nghĩ bụng.
4.
Vạn Thắng Vương Đinh Hoàn
ngồi xe tứ mã qua châu Ái, rồi hướng tới Bình Kiều. Đây là lần thứ ba, ta qua
châu Ái. Thuở ấu thơ, ta cùng mẹ vào châu Hoan, bôn tẩu theo bước chân cha, khi
người đang giữ chân thứ sử. Lần hai, ta được tập ấm Nhiếp thứ sử, Ngự phiên đô
đốc, lại qua nơi này. Lúc ấy, ta đã trưởng thành, lấy vợ đầu, sinh con trưởng
Đinh Liễn rồi. Và, lần này, ta đi dẹp nốt đám Bình Kiều. Nay mai, Tĩnh Hải Quân
về tay ta cả. Ta sẽ lấy thêm mấy cô vợ nữa. Mẹ Liễn làm cả. Mẹ Khánh tuy còn mặn
mà, nhưng cũng sắp qua tuổi hồi xuân rồi, chẳng qua, để thu phục thằng con nghịch
tử mà phải lấy mẹ nó, cho bớt phần máu xương tướng sĩ mà thôi. Ta đã phải gả Phất
Kim, nhưng có vẻ nó vẫn ngọng ngạnh, chưa yên. Nó chẳng qua là họ hàng Ngô
vương, chứ có phải thái tử như Xí đâu mà cũng đòi? Rõ là, voi đú chó cũng đú.
Phải bảo thằng Liễn canh chừng mới được, kẻo cu cậu thừa cơ lẻn vào Chiêm Thành
thì rầy rà to…
Vạn Thắng Vương vào Bình
Kiều, đóng đại bản doanh ở núi Di Hoàng(19), dưới chân Cửu Noãn Sơn.
Nguyễn Bặc cho quân vây chặt thành lũy. Thấy vậy, viên Thái úy nói với Ngô
Xương Xí:
– Quân giặc mới tới, hạ
trại chưa xong, ta nên đánh ngay là đúng phép dụng binh.
– Nhưng mà, chúng có mấy
chục vạn, lớp lớp vây thành, lại chặn cả cửa Sót, rồi dàn quân dọc biên thùy rồi,
– Xí ngán ngẩm nói. – Ta mở cửa thành đánh ra, là nó xộc vào tức thì như thác
lũ. Ngươi địch nổi không?
Viên Thái úy cắm mặt, lui
ra.
Vạn Thắng Vương đóng ở Di
Hoàng, triệu các tướng lại bàn:
– Thời trước, khi Vạn Thắng
Vương tới đây, có tên Bình Kiều chưa? – Lưu Cơ hỏi.
– Bình Kiều là cầu bằng,
thế thôi. – Đinh Hoàn nói, – lý ra, cầu dài phải cong vành lược, thì không bị
gãy, ông còn lạ gì phép dựng cầu? – Vạn Thắng Vương có ý động viên Cơ. – nhưng
cầu này, lại bắc thẳng dẵng qua sông Mau Giếng, dân bản thổ gọi cầu Bừng là thế.
– Thế cũng độc đáo, dân
chúng ở đâu cũng có người tài giỏi, – Cơ tỏ ra tâm đắc.
Các tướng đứng trên núi,
gió ào ào thổi tung tà áo bào. Vạn Thắng Vương, tay trái đặt trên đốc kiếm đeo
bên hông, tay phải trỏ xuống thành, nói:
– Nom như thể Thành Quèn.
– Thần đã thị sát, – Bặc
tâu. – Quả là thành này cũng vuông như Thành Quèn, bốn góc cũng đắp bốn ụ đất,
ngoài là hào, lũy tre. Chân thành rộng mười thước, móng đá và cuội. Tường thành
cao năm thước, trổ bốn cửa, như ta đang nhìn thấy kia.
– Sông Mau Giếng không giống
như sông Tích bao Thành Quèn nhỉ? – Cơ nghển cổ nhìn xa, nói vóng.
– Mau Giếng phía bắc kia,
đổ ra sông Nhơm, rồi chảy vào sông Cầu Quan, mà đến sông Yên thì ra bể Cửa
Ghép, – Bặc lại tâu.
– Từ đây ra bể cũng hàng
trăm dặm. – Vạn Thắng Vương vẻ am tường, – bởi thế, ta chỉ dùng quân bộ mà
thôi. – Đoạn, ngoảnh sang Phạm Bạch Hổ, nói, – ta đã cho dò la, thấy Xí có vẻ
núng, nhưng tên Thái úy rất ngông cuồng. Chính nó đã chém sứ giả, hòng tuyệt đường
về của Xí. Vậy, phiền lão tướng vào thành gặp Ngô Thái tử, nhưng phải đề phòng
thằng giặc ấy.
– Thần đã có cách, xin Vạn
Thắng Vương và các tướng chớ lo.
Hổ tháo gươm gửi lại, chắp
tay bái biệt Vạn Thắng Vương và các tướng, rồi một mình cưỡi ngựa vào thành.
5.
Nghe quân canh cổng báo,
có tướng quân Phạm Bạch Hổ đến yết kiến Ngô Thái tử, viên Thái úy vội can:
– Chúng cho lão này đến
thương thuyết, hẳn là để kể lể công lao với Thiên Sách Vương,
mà làm mềm lòng Thái tử
đó.
– Ta cũng đoán được phần
nào. – Xí nói đầy vẻ tự tin, có phần kẻ cả, – cứ cho vào.
Xí nói thế, nhưng khi Hổ
xuất hiện, thì hồn vía phiêu bạt cả. Bởi, không chỉ có cái uy của Hổ, mà cái ân
nuôi dưỡng Ngô Xương Ngập lúc nguy nan, khi ba lần Dương Bình Vương vây bắt mà
không nổi. Lại còn lo dựng vợ cho Ngập nữa, thế mới có Xí ngày nay. Nghĩ vậy,
Xí vẫn cố trấn tĩnh để trò chuyện trong vai Thái tử đường hoàng. Đương khi Xí
và Hổ phân ngôi chủ khách, dùng tuần trà, thì bỗng nhiên, viên Thái úy đã bặm
trợn cất tiếng hỏi Hổ:
– Ông vào thành một người,
một ngựa, lại không mang cung kiếm, thế mà không sợ à?
– Chớ có hỗn xược! – Xí gằn
giọng, khẽ quát.
– Không sao, – Hổ đỡ lời,
xua tay nói, – ta là người Đằng Châu, đến gặp người Bình Kiều, có chi mà phải sợ?
– Hẳn ông đến chiêu hàng
chứ? – viên Thái úy không nể mặt chủ soái của mình, mà vẫn cái giọng ngang ngược,
khiêu khích.
– Có chi mà phải chiêu mới
hàng, – Hổ bình thản nói. – Cả xứ trời Nam này, từ lâu, ai chẳng nghe Vạn Thắng
Vương Đinh Hoàn được Ngọc khuê, Rồng vàng cõng qua sông. Đấy là mệnh thiên tử,
chiếu sao Thiên mã.
– Tầm phào, – viên Thái
úy chưa để khách nói xong đã chặn họng.
– Ngươi không được vô lễ!
– Xí bực, cao giọng quát to.
– Cứ để ông ấy nói cho hả.
– Hổ lại can và rành rẽ nói, – hàng chục sứ quân nổi lên tranh ngôi với nhà
Ngô. Thế mà chỉ sau vài ba năm đã bị Vạn Thắng Vương dẹp hết, đất nước thái
bình. Nay Vạn Thắng Vương cất quân vào Bình Kiều, mong đón Ngô Thái tử hồi cố
đô mà thôi.
– Đón vua rước giá, sao lại
mang hàng mấy chục vạn quân với giàn phóng giáo, súng bắn đá, máng ném cầu lửa?
– viên Thái úy hỏi lại, kiểu chiếu nước cờ bí.
– Bởi lần trước, Vạn Thắng
Vương cho sứ giả vào mời, – Hổ quắc mắt nhìn Thái úy, dõng dạc nói, – nhưng
chính ông đã chém mất, gây khó cho Thái tử.
– Ta thừa biết, – Thái úy
bạnh quai hàm, vẻ tức giận. – Các ngươi dùng kế cờ hoa đặt trước, bác đồng đặt
sau đó thôi. Nếu không chiêu hàng được, thì phá thành chứ gì?
– Đâu dám thế với Ngô
Thái tử. – Hổ biến báo, – chẳng qua, đón giá là phải long trọng, chu toàn mà
thôi.
– Thế, sao lại chặn biên
thùy và cửa bể?
– Đó là phép dụng binh
mà? – Hổ cười cười, nói phứa đi.
– Không nhiều lời. – Mặt
Thái úy đằng đằng sát khí, đứng phắt dậy nói to, – Thái tử, chém quách nó đi, rồi
quyết một trận sống mái!
– Không được, – Xí cũng đứng
dậy, xua tay. – Lão tướng đây là ân nhân của phụ thân ta và của chính ta nữa,
không được vô lễ!
– Biết ngay là kế độc của
thằng mục đồng ấy mà! – Thái úy gầm lên.
– Ngươi chớ nói càn! – Xí
chỉ mặt Thái úy, quát to.
– Nhược bằng Thái tử
không giết nó, thì giữ làm con tin. Bọn trẻ trâu ắt không dám đánh thành, –
Thái úy vẫn cố đấm ăn xôi.
– Ta hẹn với Vạn Thắng
Vương rồi, nội nhật hôm nay, Ngô Thái tử không hồi cung, thì coi như ta đã chết.
– Hổ dọa viên Thái úy, rồi quay sang Xí, – ý Thái tử thế nào?
Trăm con mắt đều đổ dồn
vào Xí. Xí tránh nhìn viên Thái úy, mà hướng vào Hổ, vẻ mặt hiền lành, lộ ý cầu
hòa.
– Thế này, quả là số nhà
Ngô tận thật rồi!
Viên Thái úy bỗng gào lên
như vậy, rồi nhanh như chớp cướp thanh kiếm của quân hộ vệ, đâm mạnh về phía Hổ.
Hổ tinh mắt tránh được. Hắn lại điên cuồng đâm Xí, nhưng bọn hộ vệ chặn kịp. Xí
phẩy tay, cả đám cùng xông vào đâm, khiến quanh người hắn tua tủa những gươm là
gươm, nom như con nhím khổng lồ.
6.
Ngô sứ quân cho mở cửa
thành Bình Kiều, thân ra đón Vạn Thắng Vương và các tướng. Thi lễ xong. Vạn Thắng
Vương cung kính nói:
– Đinh Hoàn tôi xuất thân
từ trẻ chăn trâu, nhưng khi thấy cơ đồ nhà Ngô nghiêng ngả, thì không nỡ ngồi
nhìn, mà cùng anh em bầu bạn đứng lên dẹp loạn. Trong lòng hằng mong đón Thái tử
hồi kinh, kế nghiệp Ngô Vương. Nhưng ngặt vì tài hèn sức kém, mãi hôm nay mới tới
được. Dám mong Thái tử lượng thứ vì sự chậm chễ.
Nghe vậy, Xí ứa nước mắt,
nói:
– Ta tuy là người dòng
dõi Ngô Vương, nhưng chẳng giữ nổi kinh đô, khiến Vạn Thắng Vương phải khó nhọc
đánh đông dẹp bắc. Ta chẳng có chút công lao gì, sao dám nhận ngôi cao. Vả lại,
thuở hàn vi, Vạn Thắng Vương từng được Ngọc khê, Rồng vàng phù trợ, ứng sao
Thiên mã là mệnh Thiên tử. Vậy, ta nhận xằng, thiên hạ cười chê, há chẳng thẹn
lắm ư?
Nghe vậy, quan quân cười ồ
cả lên. Lưu Cơ thấy Vạn Thắng Vương cứ đùn đẩy mãi, sợ sinh chuyện lôi thôi,
bèn nhanh trí hô to:
– Vạn Thắng Vương vạn tuế!
Tức thì, quan quân hô
theo rầm cả thành. Thế là Đinh Hoàn không những thắng trận, mà còn đương nhiên
được ngôi bá vương.
Sau khi phủ dụ dân chúng,
cắt quân canh thành, tha lính, miễn thuế cho dân Bình Kiều, Vạn Thắng Vương ca
khúc khải hoàn, cùng ba quân tướng sĩ trở về Trường Châu.
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
__________________
(1)
còn gọi Thành Quyền, nay thuộc thôn Cổ Hiền, xã Tuyết Nghĩa, huyện Quốc Oai, thủ
đô Hà Nội.
(2)
nay thuộc xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội
(3)
ngày 30 tháng chạp năm Bính Dần (966).
(4)
nay thuộc xã Vân Du, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
(5)
nay thuộc thôn Cổ Hiền, xã Tuyết Nghĩa, huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội.
(6) Lý
Bạch (701-762), nhà thơ danh tiếng nhất thời nhà Đường, được suy tôn là Tiên
Thi.
(7)
Đỗ Phủ (712-770), nhà thơ nổi tiếng thời nhà Đường, được suy tôn là Thi Thánh.
(8), nay
thuộc huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội.
(9) nay
thuộc huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
(10)
nay thuộc huyện Chương Mỹ, thủ đô Hà Nội.
(11)
ngày mùng 7 tháng giêng năm Mậu Thìn.
(12)
nay thuộc huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội.
(13)
nay thuộc huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội.
(14)
nay là thôn Đoài, xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
(15)
về sau đổi là xã Đức Thắng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh;
(16)
nay thuộc xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
(17)
nay thuộc xã Hợp Lý, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
(18)
nay là cửa Sót thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
(19)
nay thuộc xã Hợp Lý, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Phần thứ tư
XƯNG ĐẾ, ĐỊNH ĐÔ, ĐẶT TÊN
NƯỚC
Chương một
Chiếu lên ngôi Hoàng đế
1.
Sau khi lấy Bình Kiều,
quan quân Cờ Lau trở về Trường Châu. Dân chúng kéo nhau ra hai bên đường lạy
chào, ủy lạo Vạn Thắng Vương cùng tướng sĩ.
Khi đại quân kéo về qua động
Thiên Tôn, Vạn Thắng Vương dẫn các tướng vào tạ thần, dưới chân núi Dũng Đương
Sơn. Bọn lính hầu đặt đồ lễ, hương hoa, rượu thịt trong hang núi. Các đồ binh
khí thu được làm chiến lợi phẩm thì bày ngoài cửa động. Vạn Thắng Vương thân
vào điện thờ, khấn vái tạ ơn, báo công:
– Bản tướng Đinh Hoàn,
người Kim Lư thôn, Đại Hữu làng, Đại Hoàng châu. Số là, tháng trước, cùng năm Mậu
Thìn (968) này, bản tướng đã đến đây, cầu khấn xin đi thu phục Bình Kiều. Nay
thắng trận giở về, có tấm lòng thành với chút lễ mọn, vội đến tạ ơn, báo công
chiến thắng. Mai ngày, đất nước yên hàn, sẽ cho xây dựng sửa sang An Quốc Tôn
Thần Từ, phong thần Trấn Vũ Thiên Tôn làm Đa Quốc Tôn Thần. Cúi đầu xin Vũ Đế
Quân- Dũng Ma Thiên Tôn- Huyền Thiên Thượng Đế Kim Thuyết chứng giám, mời thổ
công, thổ địa và chư thần cùng về lai lâm hẩm hưởng. Thượng hưởng!
Đinh Liễn ra ngoài, khẽ hỏi
Lưu Cơ:
– Có gì mà phụ thân ta khấn
vái quá thế?
Cơ bảo:
– Động Thiên Tôn này, có
từ thời Hùng Vương dựng nước. Khi Cao Biền sang đây, đã dùng diều giấy dò tìm
long mạch trấn yểm. Biền lập đền Trấn Vũ Thiên Tôn, ở động Dũng Đương này, để
trấn yểm long mạch phát đế vương. Nhưng Vạn Thắng Vương thường đến đây cầu, mỗi
khi xuất chinh, đều linh ứng cả. Thế nên mới có lễ tạ ơn, báo công như thế.
Liễn cười cười, vẻ không
tin, cho là chuyện tầm phào. Lê Hoàn thấy thế, bảo:
– Tôi cũng nghe chuyện, đền
này thiêng lắm, thờ Dũng Ma Thiên Tôn, là tổng chỉ huy binh tướng nhà giời, xuống
trần dẹp loạn. Thế thì khác gì công việc của Vạn Thắng Vương?
Liễn kẻ cả:
– Phụ thân ta còn có các
sứ quân để dẹp, chứ thần núi này thì làm cái gì?
Cơ có ý không vui, nhưng
vẫn nhẫn nại giảng giải:
– Yêu ma là loại rắn, rùa
thường hóa thành con gái đẹp, hoặc người chở đò, để hại dân lành. Thần đã đánh
dẹp suốt từ Gián Khuất đến Đa Giá, rồi hóa ở núi Cánh Diều.
Liễn nghe vậy, ngửa cổ cười
ngất:
– Rắn, rùa ở đâu mà chẳng
có. Quân Cờ Lau đã bắt thịt bao nhiêu là bao nhiêu. Thế thì quân ta cũng khác
gì thần, cũng đánh đông dẹp bắc đấy thôi.
– Chớ nói càn!
Bất chợt, Vạn Thắng Vương
đi ra và nghe thấy Liễn đang thao thao bất tuyệt, bèn nghiêm giọng nhắc nhở. Liễn
vội lui ra. Khánh chạy theo, nói lấy lòng:
– Ngẫm cũng phải. Chứ chẳng
nhẽ, gái đẹp đều là yêu ma cả à? Sao ai cũng ham gái đẹp, mà có chết đâu?
Cả hai dắt tay nhau cùng
cười cười nói nói, ra chiều tâm đắc lắm. Lê Hoàn khẽ lắc đầu, nhìn theo, nghĩ bụng,
thằng này luông tuồng, thế mà Vạn Thắng Vương được ngôi là nó kế vị không chừng.
Phải tay ta thì..
Bộ Lĩnh cho Liễn và Khánh
về Yên Thành và Đại Hữu báo tin trước, còn mình dẫn các tướng cùng đại quân về
sau. Nhưng kỳ thực, khắp nơi cũng đã hay tin cả rồi. Không ai bảo ai, tất thảy
đều ùa ra đón, kẻ mừng người tủi. Trận này, không tốn một hòn tên mũi đạn, tướng
sĩ an lành cả, nên bội phần vui, khác nào một chuyến du ngoạn trở về. Chỉ có
thân nhân bọn quan, quân chết trận đánh dẹp từ Cổ Loa, cho tới Siêu Loại là thẫn
thờ mà thôi.
2.
Vạn Thắng Vương họp các
tướng tâm phúc lại bàn:
– Mạn phương Bắc xảy ra
loạn “Ngũ đại thập quốc”(2), suốt từ năm Đinh Mão (907) đến giờ chưa
yên. Bên ta, từ năm Giáp Thìn (944), nhà Ngô suy vi, Dương Tam Kha làm chuyện
thoán đoạt, nên năm sau, ba anh em con nhà Nguyễn Nê đã cát cứ chống lại triều
đình Cổ Loa. Từ bấy đến nay, vị chi đã hai chục năm có lẻ, đất nước loạn lạc,
hàng chục sứ quân nổi lên như rươi, khiến anh em ta phải khó nhọc cất công đánh
dẹp, đến nay mới được yên hàn. Ta cảm kích tấm lòng các tướng sĩ không quản hy
sinh, để có hôm nay. – Vạn Thắng Vương đưa mắt nhìn hết lượt, tỏ vẻ hàm ơn, –
nay ta muốn ban thưởng công lao…
Lưu Cơ nghe vậy, vội can:
– Chiến chinh vừa xong,
mà Vạn Thắng Vương đã có ý thưởng tướng khao quân, thật là hồng phúc. Thần thiển
nghĩ, việc đó tuy cần, nhưng chưa vội. Cái cần nhất lúc này là chủ tướng phải
xưng vương đế.
– Ngày nay, Vạn Thắng
Vương đã thống nhất bờ cõi, thu giang sơn về một mối, dân chúng khắp nơi một
lòng quy phục, tại sao chỉ xưng vương mà không xưng đế? Nhà vua không lên ngôi
hoàng đế, dựng nước, thì thử hỏi, còn ai làm được việc đó? Đất nước không thể
thiếu vua, dù chỉ một ngày, – Bặc đỡ lời.
– Nếu ta xưng đế, bọn
phương Bắc lại mang quân khiêu chiến thì làm sao? – Vạn Thắng Vương phân vân hỏi.
– Giặc phương Bắc lúc nào
mà không muốn thôn tính ta? Nhưng trước đây, Nam Hán mang hàng vạn quân thủy, bộ
xâm lược, đã bị Ngô Quyền đánh tan ở cửa sông Bạch Đằng. Nay ta có binh hùng tướng
mạnh, gấp mấy lần, thì sợ gì chúng? – Bặc lại hùng hồn nói.
Nghe vậy, các tướng cùng
hùa theo vun vào, khiến Vạn Thắng vương; chờ cho mọi người bàn tán chán chê, mới
ra vẻ miễn cưỡng nói:
– Xưng gì, ai xưng thì
cũng phải tỏ mặt anh hào phương Nam ta, phỏng?
Bặc lại nói:
– Ngay từ thuở hàn vi, Vạn
Thắng Vương đã được Ngọc khuê. Đó chính là cái hốt của nhà vua. Khi lâm nạn lại
được Rồng vàng phù trợ, thật là giời giúp. Lúc sinh thời, Ngô Tiên Vương thương
cho tập ấm chức Nhiếp thứ sử, Ngự phiên đô đốc; vậy là được vua giúp rập từ thuở
ban đầu. Rồi được huyệt quý chiếu sao Thiên mã. Lại là người có công tập hợp
anh em, thu phục nhân tâm, chiêu binh mãi mã, chứ không phải tự dưng mà có. Thiển
nghĩ, ngần ấy khí thiêng, điềm lành tụ hợp một người, thì Vạn Thắng Vương nên
xưng Hoàng đế cho hợp lòng người, thuận lẽ giời.
Không để Bặc nói hết, Vạn
Thắng Vương xua tay:
– Ta cùng anh em khó nhọc,
là tuân theo chí phụ thân ta phò Ngô giúp nước, chứ đâu phải chuyện màng tước vị?
Cơ thấy vậy, vội tâu:
– Việc đó đã rõ rành rành
trước thanh thiên bạch nhật, nhưng cháu đích tôn của Ngô Tiên Vương, ở Bình Kiều,
đã không còn mặt mũi nào đứng ra vỗ yên thiên hạ, nên suy tôn Vạn
Thắng Vương đấy thôi. Thần
trộm nghĩ, ý của tướng quân Nguyễn Bặc chính hợp chúng thần.
Thế là cả bọn cùng tung hô Vạn Thắng Vương Đinh Hoàn làm Hoàng đế. Đinh Hoàn
nhăn nhó, làm ra vẻ cực chẳng đã mới phải nhận mà thôi. Cả bọn lại xúm vào bàn
chuyện đăng quang. Nguyễn Bặc được cử làm Tổng chỉ huy buổi lễ. Bặc liền bảo bọn
Đinh Liễn, Lê Hoàn lo luyện tập voi, ngựa, trâu và lính để diễu hành; giao cho
Đinh Điền, Ngô Nhật Khánh lo tu sửa thuyền bè, bơi chải trên sông Sào Khê; cắt
đặt Trịnh Tú, Phạm Bạch Hổ tu sửa, tân trang thành quách, đường sá và tụ họp
dân chúng các châu động cùng về dự lễ cho thêm phần đông vui, long trọng; lại
sai người có chữ, soạn chiếu lên ngôi…
Bất chợt, Điền đứng lên,
hỏi Hoàng đế Đinh Hoàn:
– Hiền đệ, à quên… – Điền
gãi tai nói chữa, – Hoàng đế nên định đô nơi đâu? Đại La, Cổ Loa, hay Đại Hữu?
Lúc này, không chỉ Hoàng
đế mà cả bọn cùng ngớ ra, rồi xôn xao bàn bạc. Người thì bảo lên Đại La, có sẵn
kinh thành từ thời “Cao Biền dậy non”. Kẻ thì bàn lên Cổ Loa là kinh đô cổ, có
từ thuở Hùng Vương dựng nước.
Liễn bàn:
– Ta cứ về Đại Hữu quê
cha đất tổ cái đã. Phụ thân từng ước ao về Đàm Gia Loan(1) dựng đô đấy
thôi.
Bặc nói:
– Quê tôi cũng đấy(3),
nhưng địa thế chật hẹp, nên ta mới phải sang đây. Chốn này, có ruộng đồng, sông
núi, đủ cả; thực là thuận phòng thủ, tiện tấn công. Vậy nên đóng đô Trường
Châu, triều đình quần tụ ở như Yên Thành.
Cơ cũng bàn vào:
– Thần thấy chọn Trường
Châu làm đất thang mộc, định đô Yên Thành là phải. Nhưng phải đặt một cái tên,
để ngàn năm quan, quân dân chúng nhắc đến, lại nhớ thuở hàn vi của Hoàng đế.
Hoa Lư, vừa dân dã, lại vừa gợi nhớ nơi Thung Lau khởi nghiệp, thời cờ lau tập
trận.
– Hoa lư chỉ là bông lau
mà thôi, – Điền nhíu mày, tỏ vẻ không hài lòng ra mặt.
– Phải, lư là lau, cũng
còn nghĩa là cổng làng, lò hoa, đồ nấu cơm có hoa, đồ đựng lúa, lại cũng có
nghĩa nữa là mõm con lừa, – Cơ nhìn mọi người, cười cười đầy vẻ thú vị.
– Cứ có hoa, có cơm là được
rồi, lừa ngựa gì cũng mặc,- Hoàng đế gật đầu, hoan hỷ. – Hoa Lư phải sánh với
Tràng An.
Thấy vậy, cả bọn cùng thuận
theo.
– Tên nước mà lại là Tĩnh
Hải Quân, khác nào căn cứ quân sự của bọn Nam Hán. Nay nên lấy tên xưa là Đại
Việt. Một nước mới và rộng rãi.
– Thế thì đặt là Đại Cồ
Việt mới thỏa lòng quan, quân, dân chúng, – Hoàng đế phất tay áo đánh “phật” một
cái, như thể phất cờ, xướng ngôn, – Đại Cồ Việt!
Bất giác, cả bọn cùng hô
theo: “Đại Cồ Việt”, nghe âm vang thiêng liêng, như từ trời cao giội xuống, dưới
đất vọng lên vậy.
Nguyễn Bặc đứng dậy, trịnh
trọng xướng lên:
– Cồ Việt Quốc đương Tống
Khai bảo, Hoa Lư đô thị Hán Tràng An!
Lưu Cơ từ tốn chắp tay dịch
nôm:
– Nước Đại Cồ Việt sánh với
Bắc Tống, kinh đô Hoa Lư ngang Tràng An là kinh đô nhà Hán.
Cả bọn lại cùng nói cười
hoan hỷ.
3.
Tức vị chiếu
Viên quan văn nắn nót, tô
đậm ba chữ tượng hình màu hạt huyền, lại cẩn thận gạch chân màu son tươi rói. Tức
vị chiếu, nghĩa là Chiếu lên ngôi. Chiếu lên ngôi phải làm sao cho giọng văn
hào sảng, khí văn thiêng liêng, để tụ hợp lòng dân nước Nam, lại tỏ rõ khí
phách với Nam Hán- Bắc Tống, Chiêm Thành…
Thay trời hành đạo, Hoàng
đế ban chiếu.
Phải, Hoàng đế con trời,
nay bố cáo bàn dân thiên hạ, đăng quang. Phán một tẹo cho phải nhẽ, rồi kể
lể công lao và vỗ về dân chúng. Cứ thế, tờ giấy in hình bóng rồng vàng hiện dần,
cột cột thẳng như dây dọi, hàng hàng óng tựa kẻ chỉ, đặc những chữ vuông chằn
chặn như hòm.
Trẫm vốn con quan Thứ sử
họ Đinh, rồi lại được Ngô Tiên Vương thương cho tập ấm Nhiếp thứ sử, Ngự phiên
đô đốc, luôn dốc lòng thờ vua giúp nước, dù lúc cơ hàn chăn trâu làm ruộng, hay
khi phất cờ lau dẹp loạn sứ quân. Ngặt vì, tử tôn nhà Ngô chối bỏ ngôi cao, nên
quần thần một mực nâng bệ rồng, đặt ngai vàng, khiến trẫm lấy làm khó xử vô chừng.
Thôi thì, đành cầm lòng nghĩ, cờ đã trao tay, phải phất cho cao, giương cho vững.
Một nước, không thể
một ngày không có vua. Nhưng xem trời Nam, từ khi Lý Bí là người đầu tiên ở nước
ta xưng đế, gọi Lý Nam Đế(4); còn lại, đều xưng vương cả. Sao trẫm
không nối gót tiền hiền, mà vén mây ải bắc, kéo rèm phương nam, ngõ hầu làm rạng
rỡ non sông gấm vóc?
Năm nay, Giáp Thìn, giang
san thu về một mối, đất, trời cùng người, vật hòa hợp, trẫm đăng quang lên ngôi
Hoàng đế, đặt tên nước Đại Cồ Việt, để tỏ chí khí nước Nam, lại định đô Trường
Châu, gọi là Hoa Lư, gợi nhớ thuở cờ lau tập trận. Cương vực Đại Cồ Việt từ
Hoành Sơn đến Ải Bắc. Đổi các châu thành đạo. Cả nước, nay gồm tám đạo: Giao, Lục,
Phú Lộc, Phong, Trường, Ái, Diễn, Hoan.
Trẫm miễn thuế khóa một
năm, tha kẻ tù tội. Quan chức khắp vùng được y chức cũ. Các sứ quân tử trận, ai
là người đáng trọng, thì được lập đền thờ. Quan quân tướng sĩ có công đều được
thăng thưởng. Vợ góa con côi của binh lính được chia ruộng. Đất đai khai khẩn
trong những năm loạn lạc, được chia ra canh tác. Các giáp lập sổ bộ quản lý con
dân, khi cần gọi lính. Các quan hưởng bổng lộc từ thực ấp được cấp theo lệ cũ…
Trẫm mong nông phu chăm chỉ cấy cày, ngư dân đánh cá, diêm dân làm muối, tiều
phu kiếm củi, binh lính luyện rèn, quan tướng chăn dân, tích trữ lương thảo… Đại
Cồ Việt ắt thái bình thịnh trị.
Cứ thế, ai có công được
thưởng, kẻ có tội chịu phạt, nghiêm phép nước.
Xã tắc bền vững bàn thạch,
thôn xóm vang tiếng vui cười, là niềm mong ước của trẫm. Đó cũng chẳng là niềm
mong ước của muôn dân đó sao?
4.
Thảo
xong Tức vị chiếu, viên quan văn bèn bẩm báo Lưu Cơ. Cơ lại dâng lên Hoàng đế.
Hoàng đế bèn vời các tướng tâm phúc lại bàn.
– Ông Cơ, trên thông
thiên văn, dưới tường địa lý đã xem rồi. Bọn tôi chỉ dám dựa cột mà nghe, chứ
dám thưa thốt gì nữa? – Điền thật thà nói.
– Chớ nên nói thế, –
Hoàng đế điềm đạm nhắc. – Việc này hệ trọng. Trong thiên hạ, hàng nghìn năm mới
có ta là kẻ thứ ba xưng đế nước Nam, nên câu chữ phải cẩn trọng. Hãy theo ý trẫm,
mỗi người mỗi ý góp vào giúp giập cho chu toàn, rồi còn phải ban bố trước muôn
dân bách tính.
– Thế thì, tôi… – Điền
gãi tai, vẻ hối lỗi, vội cười nói, – đang từ chỗ xưng “tôi” quen mồm, chợt nghe
Hoàng đế xưng “trẫm” thấy lạ tai, nay thần nghe thủng rồi. Có khi thêm mấy câu,
khuyên dân phải quý trọng ông trâu là đầu cơ nghiệp, lại giúp quân Cờ Lau xung
trận nữa. Ai phạm thì chém!
Nghe vậy, cả bọn cười
vang, Lưu Cơ phân trần:
– Ý ấy đã nằm trong cái
câu: “Ai có công được tưởng thưởng, kẻ có tội chịu phạt. Nghiêm phép nước”. Ví
bằng ta nói riêng về bảo hộ ông trâu, e thiên vị, Tức vị chiếu hóa ra không
minh bạch.
– Thần thấy cái câu: “Các
sứ quân, ai là người đáng trọng thì đều được lập đền thờ”, rất là chí lý, – Bặc
nói, – Thực tế, dân ở đâu cũng lập đền thờ các sứ quân rồi. Nhưng nên nói khái
quát là: “Các sứ quân đều được lập đền thờ”. Bởi nhiều kẻ đã chết trên sa
tràng, có người hiện vẫn còn sống, lại theo về giúp ta, tỷ như Trần Minh Công,
Phạm Phòng Át, Ngô Nhật Khánh, Ngô Xương Xí…
Cả bọn đều cho là phải.
Cơ đưa mắt nhìn xem ý tứ Hoàng đế, thấy gật đầu chấp thuận, mới sửa vào bản thảo,
rồi cẩn thận đọc lại cho mọi người cùng nghe.
– Tức vị chiếu sao không
nói chuyện được Ngọc khuê, Rồng vàng cõng sông? Thêm điềm giời, chẳng sang trọng
sao? – Tú thắc mắc.
– Thôi, chả cần hoa hòe
hoa sói, – Hoàng đế nghĩ bụng, còn chuyện táng cốt huyệt Thiên mã, còn ly kỳ
hơn, ta còn chẳng nói nữa là.
– Đoạn về thằng Xí, liệu
có nhún quá không? – Điền lại sồn sồn nói.
– Thế là vừa đủ, – Bặc lại
tỏ ra tâm đắc.
– Thôi, cứ tiềm tiệm vậy
đã, nhề!
Thế là bản thảo Tức vị
chiếu, chỉ bỏ hai chữ “tử trận”, khi nói về việc lập đền thờ các sứ quân mà
thôi.
Sau khi các tướng tâm
phúc đã tham gia ý kiến, Cơ lĩnh ý sửa lại chu tất, dâng lên cho Hoàng đế ngự
lãm. Hoàng đế cầm bút son, phê chữ “Thị”, rồi trầm ngâm một chốc mới nói:
– Kỳ thực, nước ta từng
có mười hai đạo, nhưng Ngô Tiên Vương đã cắt cho bọn Hán bốn đạo: Thang, Chi,
Vũ Nga, Vũ An.
– Thần có nghe, – Cơ đỡ lời.
– Nhưng không hiểu cớ là sao?
– Đâu như, Ngô Vương bảo,
làm thế cho gọn, tiện việc giữ gìn tám châu còn lại, – Hoàng đế thở dài, –
nhưng đâu dám trách tiền nhân.
– Giời đất ơi! – Cơ buột
mồm kêu lên. – Xương máu con dân bao đời dựng nước, lập nên bờ cõi, thế mà tiên
đế coi như mảnh vườn, cái ao của riêng nhà mình, tùy tiện vậy sao?
– Ta thấy mọi khi, ngươi
kín tiếng lắm kia mà? – Hoàng đế ngạc nhiên hỏi.
– Hoàng thượng tha tội! –
Cơ sụp lạy, tỏ ra sợ hãi vô cùng.
– Không phải câu nệ quá
thế. – Hoàng đế ân cần đỡ Cơ đứng dậy và hỏi, – chuyện áo mũ các tướng và quân
sĩ cũng phải bàn với Tú mà đốc thúc cho kíp mới được.
– Bẩm, bọn thợ các làng
đang hối hả như gặt mùa, cũng hòm hòm cả rồi.
Hoàng đế nghe vậy, gật đầu,
vẻ bằng lòng trước sự mẫn cán của quan, quân, dân chúng.
Chiến chinh loạn lạc, các
làng nghề thất tán cả. Bọn Cơ phải thừa oai Hoàng đế, sức cho các châu động,
tìm thợ tài giỏi, kíp đưa về Yên Thành- Trường Châu để chế tác.
Chúng lo nhất là trang phục
của Hoàng đế. Một bọn làm hia. Một bọn làm vương miện. Một bọn thêu áo long cổn.
Vương miện chế mười hai lưu, mỗi dải gắn mười hai viên ngọc quý. Cả thảy hơn
trăm viên ngọc, lóng la lóng lánh như treo rèm, kết hoa vậy. Áo long cổn thêu
mười hai chương hoa văn trên nền vàng hoàng thổ, với đủ các hình nhật là mặt trời,
nguyệt là mặt trăng, tinh là vì sao tượng trưng cho trời đất, rồi thì tảo là
rong biển tượng trưng cho vẻ đẹp phong nhã của văn chương; phấn mễ là lúa gạo
tượng trưng sự no đủ, phủ là cái búa tượng trưng cho võ công, sức mạnh, sơn là
núi tượng trưng sự vững bền, long là rồng tượng trưng sự biến hóa, phất tượng
trưng sự cân đối, hoa trùng là lông trĩ tượng trưng vẻ đẹp, tông di là đôi chén
thờ tượng trưng cho sự linh thiêng, hỏa là ngọn lửa văn tinh…
Khi dâng lên, Hoàng đế
thoạt nhìn đã tươi nét cười, mặc thử vừa như in không cần chỉnh sửa, lộng lẫy
mà trang trọng, nền nã hài hòa mà uy nghi, liền bảo:
– Chỉ một cái áo mà kết
tinh cả trời đất, vạn vật. Ngôi Hoàng đế mới nặng gánh nước non biết ngần nào?
Nghe vậy, cả bọn cúi lạy.
Cơ bảo:
– Long cổn như ngọc tỷ,
truyền đời nối ngôi, rạng rỡ nhà Đinh.
Hoàng đế nghe tán dương
càng thêm hởi dạ, bèn ban thưởng cho bọn thợ hàng nghìn lạng bạc. Cơ nghĩ bụng,
đúng là người đẹp vì lụa là, vua oai nhờ hoàng bào.
Bất chợt, Hoàng đế như bị
ông trời cạy mồm, phán một câu kinh động:
– Hoàng bào mà trao cho
ai, người ấy tất làm vua…
Nghe vậy, cả bọn ngơ ngác
nhìn nhau, không hiểu ra làm sao nữa. Ai ngờ, đời sau, tấm áo hoàng bào ấy lại
rơi vào tay kẻ khác.
Chương hai
Chén rượu trước lễ đăng
quang
1.
Lão Bộc đã yếu lắm, tuổi
cũng thất tuần. Điền ghé qua thăm, hai tay ôm hai vò rượu tăm bên hông, lễ mễ
bước vào, bảo:
– Chú Hoàn nhà ta, sắp
đăng quang Hoàng đế rồi đấy, lão ạ!
– Phải! – Tuy mệt nhọc,
nhưng nghe vậy, mắt lão cũng sáng lên những tia hoan hỷ, – ngài thật xứng ngôi!
– Nó là con cháu trong
nhà thôi, lão chăm bẵm từ lúc bế ngửa còn gì? – Điền bỗ bã.
– Ấy, chớ nói thế – lão Bộc
vội can. – Trước là đạo anh em, nay là vua tôi, phải phân miêng.
– Có gì mà câu nệ quá thế,
– Điền vẫn bồng bột. – Tôi mà là đích tử(5), hẳn là ngôi ấy trong
tay.
– Chết nỗi, – lão Bộc
toan giơ tay bịt mồm Điền lại. – Tướng quân chớ luông tuồng mà vạ miệng, – lão
run lên vì sợ hãi. – Lão biết, Thứ sử khi xưa, cũng như Hoàng đế hôm nay, có
phân biệt tướng quân đích, giả gì đâu. Ăn nhau là ở cái nghĩa, cái tình. Chứ có
khi ruột thịt lại kém người dưng nước lã.
Điền bình tâm lại, vẻ ngẫm
nghĩ, hồi lâu mới thở dài, nói:
– Lão nói phải. Ước gì,
luôn có lão ghì cương con ngựa bất kham này!
– Tướng quân nói câu ấy,
xui cho đầu óc già nua này, nghĩ ra một điều. – Lão Bộc nhìn Điền, vẻ cầu khẩn,
– lão muốn nhờ tướng quân đưa đi gặp các tướng Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ.
– Lão có tuổi rồi, hà cớ
gì phải lọ mọ đi gặp bọn họ. Cứ để tôi ới một tiếng là tất tả đến ngay.
Lão Bộc hấp tấp xỏ đôi guốc
xuồng, chạy lại ngăn cản, nhưng Điền đã nhanh chân bước ra ngoài ngưỡng cửa rồi.
Một chốc, cả bốn tướng cùng tá hỏa chạy lại. Hoàng đế nghe tin Phong thanh, lão
Bộc bị mệt, nay thấy sự vậy, cũng vội vã theo cùng. Lão Bộc thấy tình cảnh trớ
trêu, vội chắp tay, thanh minh:
– Lão phiền Đinh tướng
quân đây, – lão trỏ vào Điền, biến báo, – dẫn lão đi yết kiến Hoàng đế cùng các
tướng. Nhưng Tướng quân nhanh chân nhẹ miệng làm kinh động thế vầy, khiến lão
muôn vàn đắc tội.
Nói đoạn, lão Bộc quỳ thụp
xuống, khiến cả bọn vội xúm lại, đỡ lão lên giường.
– Lão là bậc cha chú,
theo anh em bọn tôi bôn tẩu vất vả tấm thân mấy chục năm trường. Ơn ấy, nào ai
dám quên! – Hoàng đế nghẹn ngào nói, – Nhưng ý lão là muốn làm sao?
Lão bộc đắn đo hồi lâu,
khiến các tướng gạn hỏi mãi, mới nói:
– Lão biết, Tướng quân
lên ngôi Hoàng đế là hợp lòng người, thuận lẽ giời, – lão dừng lời, nén xúc động.
– Cả bốn tướng tâm phúc đây đều là anh em, bạn bè, tay chân cả; từng ăn cùng
mâm, ngủ cùng chiếu, khác gì giọt máu trên, giọt máu dưới. Nhưng nay mai, sau lễ
đăng quang, thì phân ngôi vua tôi rạch ròi, khó bề gác chân mà ngủ, kề bát uống
chung. Vậy nên lão có vò rượu quý mà Đinh tướng quân vừa biếu đây, xin mời
Hoàng đế cùng các tướng chung hưởng.
Nghe vậy, ai cũng đổi buồn
làm vui, cùng nâng bát rượu ngang mày, nhìn nhau, mắt ứa lệ. Hoàng đế nói:
– Cái sự phân ra ngôi thứ
không khéo lại phiền hà, bất cẩn là mất tình anh em, bạn bè như bỡn. Ta có gì
sơ xuất, khiếm khuyết, mong lão Bộc cùng anh em bỏ quá. Chứ tấm lòng mà như cái
bánh, sẽ bóc ra ngay để mọi người cùng thấy ngay.
– Lão Bộc dạy phải, – Cơ
nói. – Rồi đây, triều đình sẽ ban luật lệ hẳn hoi cho rõ phép tắc.
– Tôi nói có lão Bộc, bác
Đinh Điền, với các anh Đinh Hoàn, anh Nguyễn Bặc, cùng chú Lưu Cơ, – Tú trịnh
trọng nói. – Lão Bộc mừng cánh ta, cũng là răn cánh ta, thế là phải. Còn để
quan nhìn dân ngó nữa chứ. Khi xưa, chỉ lo đánh dẹp là chuyện khác, nay Hoàng đế
lập triều đình rồi, thì phải phân miêng.
– Tôi cũng được lão Bộc mở
mắt cho rồi, – Điền cười nói. – Nay lấy quyền huynh, tôi ra một lệnh cuối, nào
cùng uống mừng lão Bộc mạnh chân khỏe tay.
Cả bọn cùng dốc bát, hồi
lâu uống hết vò rượu, rồi ôm nhau khóc.
2.
Nghe tin lão Bộc mệt nặng,
Hổ rủ Khánh cùng qua thăm. Vừa đến sân, thấy bọn lính xúm xít quanh thềm, trong
nhà thì các tướng đang ôm nhau khóc, khiến cả hai thất kinh, nhưng hỏi ra mới
biết là bát rượu mừng, nên lại cười nói rổn rảng.
– Chả nhẽ, lão Bộc không
còn rượu đãi bầy tôi hay sao? – Hổ nheo mắt cười cười nhìn Khánh.
– Đây, cả vò! – Điền bưng
ra, đưa cho Khánh, – cháu rể, rót rượu hầu các cụ.
Khánh hồ hởi cầm vò rượu,
rót tràn bảy bát, rồi trịnh trọng chuyên cho từng người, thứ tự từ lão Bộc, Bộ
Lĩnh cho tới Lưu Cơ. Cả bọn chưa kịp kề môi, thì lại thấy Đinh Liễn, Phạm Hạp,
Phạm Cự Lạng, Lê Hoàn, Đỗ Thích cùng sang. Thế là Khánh lại phải rót tiếp. Bỗng
Điền kêu to:
– Thế này thì sai lính mổ
dê, chọc tiết lợn, cho các tướng cùng đánh chén một bữa no say.
– Phải, phải, – Tú tán
thưởng, reo to.
Mọi người đổ mắt nhìn
Hoàng đế. Hoàng đế lại nhìn lão Bộc. Lão Bộc tươi nét cười gật gù ra chiều tâm
đắc, thế là Hoàng đế phơ lên:
– Khao quân!
Quân lính được lệnh khao
quân mừng chiến thắng, nhưng ai cũng hiểu là mừng lễ đăng quang. Không khí Yên
Thành náo nhiệt hẳn lên, y như thể cuộc khao quân của đám mục đồng năm xưa, ở
Thung Lau vậy.
– Mổ trâu khao quân, mừng
Hoàng đế! – Điền oang oang nói, như ra lệnh.
Bọn chúng nghe vậy, hoan
hô rầm rầm.
Đỗ Thích lại trổ tài chế
biến món lòng lợn tiết canh.
Quan quân ngả mâm bát
ngay ra sân điện. Cỗ đóng bốn. Mâm nọ sát mâm kia. Lão Bộc được rước mời cùng
Hoàng đế và tứ trụ Bặc, Điền, Tú, Cơ thành ra mâm sáu, bày mâm đồng, bát bịt;
còn lại, mâm gỗ, bát đàn hết lượt. Hoàng đế bảo:
– Cánh ta cũng chơi mâm gỗ
đi.
Lập tức, cái mâm gỗ mới
được mang ra, thay mâm đồng. Biết Hoàng đế khoái món tiết canh, nên mâm trên có
ba bát cả thảy, còn mâm nào cũng chỉ có một bát sẻ làm tư. Tiếng khua bát, chạm
chén hòa lẫn tiếng cười nói, sai vặt râm ran cả lũng núi. Cơm no rượu say, cả bọn
lại cùng lăn ra ngủ trên sân, y như thể thuở cờ lau tập trận trong Thung Ông(6)
vậy.
3.
Khi đại quân Cờ Lau ca
khúc khải hoàn, trở về Yên Thành, thì lão Bộc nhất mực đòi ở
riêng. Hoàng đế bảo:
– Lão với ta, bấy lâu như
người nhà. Nay sao lại thế? Ta vẫn cần sự dìu dắt của lão mà?
– Ngựa già đâu dám đòi
kéo xe, – lão Bộc khiêm nhường đáp. – Vả, người già đâm ra khó tính khó nết,
nên lão muốn dưỡng già vậy thôi.
Hoàng đế thấy lão đã hết
lời, bèn thuận cho ở riêng, nhưng vẫn phải gần cung điện của mình, bèn sai Tú
thu dọn cho một chỗ khang trang. Nhưng lão Bộc khăng khăng đòi vào chân núi Mã
Yên, dựng căn nhà nhỏ, cột tre, mái bổi, nom cứ như ẩn sĩ. Lão bảo tiểu đồng:
– Nay, lão mãn nguyện tuổi
già. Nhà này, trông thế, chứ đông ấm hè mát…
Một hôm, sương núi vừa
tan, nắng ấm tràn về, lão tắm rửa, thay quần áo mới, uống chén rượu, rồi lên
chõng nằm. Tiểu đồng ra gác đầu núi, bảo bọn chăn dê lùa nẻo khác, kẻo thanh động,
rồi chú hãm ấm nước nụ vối, chờ lão tỉnh thì rót hầu. Nhưng chờ mãi không thấy
lão cựa mình, bèn rón rén đến bên xem sao, thì chợt nhận ra, lão đã tắt thở từ
lúc nào. Tiểu đồng sợ hãi, chạy ra sân, khóc lóc, hô hoán ầm cả lên. Lập tức,
quan quân hớt hải chạy tới, ai nấy đều thương cảm.
– Rõ là tiên ông, nhẹ
nhàng vào giấc trường miên(7).
– Thế là lão cũng được
khao quân, mừng Hoàng đế đăng quang rồi!
– Cả đời lão gắn bó với
Hoàng đế!
– Hiềm nỗi, lão độc thân,
tội nghiệp!
Lão Bộc tạ thế, Hoàng đế
cùng các Hoàng hậu và Hoàng tử, Công chúa, Phò mã(8), Thái tử phi(9),
với các tướng đều để tang cả. Đám tang đầu tiên của triều đình nhà Đinh, binh
lính và chúng dân trong thành cũng đi đưa, kéo qua quèn Vông, vào tận chân núi.
*
Sau khi làm lễ Tốt khốc(10),
Bặc ghé tai Cơ, hỏi nhỏ:
– Thế vầy, có can hệ gì đến
lễ trọng nay mai? – ý Bặc muốn nói đến lễ đăng quang Hoàng đế.
– Theo Tướng quân thì
sao? – Cơ khôn ngoan đẩy lại câu hỏi.
– Chính thế mới dám hỏi đến
cái sự tài cao học rộng của tướng quân! – Bặc nheo mắt cười, đẩy lại câu hỏi của
chính mình.
Hai bên đùn đẩy mãi như
trò kéo cưa lừa xẻ, Cơ mới ngọ ngằn nói:
– Tốt khốc cũng là sau một
trăm ngày rồi, tuy ai cũng thương nhớ, nhưng không còn khóc nữa. Thiển nghĩ,
nên cũng chẳng sao. Người xưa có câu, sinh dữ tử lành là cái sự vậy. Vả lại,
lão Bộc qui tiên cũng mãn nguyện cả.
Nghe vậy, Bặc lặng im, biết
là Cơ biến báo cho qua chuyện mà thôi, nên cũng không gặng hỏi thêm nữa, nhưng
trong lòng lo lắng khôn nguôi.
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
___________
(1) loạn
Ngũ đại thập quốc xảy ra 72 năm, từ năm 907 đến 979, mới yên.
(2)
tức Điềm Giang, hay gọi Đàm Thôn, nay thuộc xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn, tỉnh
Ninh Bình.
(3)
làng Đại Hữu xưa, gồm 3 thôn: Văn Bòng, Văn Hà, Vĩnh Ninh; nay thuộc xã Gia
Phương,
huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh
Bình.
(4)
Lý Bí tên thật là Lý Bôn (503-548), vị vua sáng lập nhà Tiền Lý, xưng Lý Nam Đế.
(5)
con đẻ.
(6)
tên gọi khác của Thung Lau.
(7)
giấc ngủ dài, chỉ sự chết.
(8)
con rể vua.
(9)
con dâu vua.
(10)
lễ một trăm ngày, sau khi người chết.
Chương ba
Lễ đăng quang Hoàng đế
1.
VHSG- Mấy ngày liền,
thành Hoa Lư treo đèn kết hoa, mừng lễ đăng quang Hoàng đế.
Dân tứ xứ từ các châu động
kéo về Yên Thành, thuyền bè san sát như lá tre đậu kín bến Đền. Trên các con đường
trong thành, dân chúng đi đi lại lại như mắc cửi. Những khuôn mặt vốn lam lũ
cũng ánh lên nét hân hoan. Trong những mái lều dựng tạm ven đường, từng tốp, từng
tốp ngồi xúm xít bên chõng tre, uống bát nước vối.
Bên quán nước cầu Dền,
cánh đàn ông hút thuốc lào vặt. Đám đàn bà vừa nhai trầu, vừa lấy cơm nắm trong
tay nải ra, chấm muối vừng cho con ăn. Những đứa bé còn để chỏm, lần đầu theo bố
mẹ đi hội, cũng tỏ ra náo nức, đuổi nhau chạy ra chạy vào, chui cả xuống gầm
chõng, làm cho những bát nước vối đổ lênh láng, nhưng không ai nỡ mắng chửi.
Cánh Gián Khẩu hỏi dân
Thung Lau:
– Thuở cờ lau tập trận,
các bác làm gì chả tỏ tường long nhan?
– Nhưng bây giờ mới được
xem vua ra, chứ ngày xưa cũng chăn trâu cả mà.
Dân Thung Lau hỏi lại
cánh Gián Khẩu:
– Này, hỏi khí không phải,
các bác có họ hàng gì với bà lão “mồm câm” không?
– Thì cũng nghe cái
sự vậy, chứ có biết đấy là ai đâu? – cánh Gián Khẩu thực thà đáp.
Bà hàng nước nghe vậy,
nói chêm vào:
– Thế mà lời đồn cũng
thành hẳn một cái tên làng, rõ ghê chửa?
Cả bọn chuyện vãn, lại lục
tục vào chợ.
Chợ phủ, người như nêm cối.
Kẻ đi chơi ngắm hàng nhiều hơn người mua. Đám lính ngật ngưỡng từ quán rượu đi
ra. Có tên bị thương chưa lành, được bạn bè dìu đi, chân nam đá chân chiêu. Dân
chợ ai cũng phải né, tránh voi chẳng xấu mặt nào.
*
Trên đài cao bảy trượng,
Đinh Tiên Hoàng đội vương miện, ngồi trên ngai vàng, dáng uy nghi lẫm liệt. Các
tướng Tứ trụ triều đình Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ đều đội mũ trụ,
mặc giáp phục, áo bào đeo gươm đứng xung quanh. Bọn lính cầm tàn vàng, tán tía,
chống giáo đứng hầu.
Quan Tuyên đọc cất giọng
sang sảng, đọc Chiếu lên ngôi Hoàng đế:
Thay trời hành đạo, Hoàng
đế ban chiếu…
Quan, quân, dân chúng đứng
dưới kỳ đài, im phăng phắc lắng nghe và chăm chú ngắm dung nhan Hoàng đế. Chao
ôi, một kẻ mục đồng lên ngôi Hoàng đế, quả là có một không hai trên đời, từ xưa
chưa thấy bao giờ.
Khi đọc đến đoạn ân sủng
của Hoàng đế, ai nấy đều ồ lên, vẻ phấn khích, khiến Đinh Hoàn cũng cảm thấy
lâng lâng vui sướng. Khi nghe đến hình phạt, tất cả lặng đi vì sợ hãi.
Quan Tuyên đọc vừa dứt lời,
Đinh Hoàng đế cầm hốt ngọc khuê đứng dậy, thì tất thảy đều ngửa cổ lên mà hô
to:
– Hoàng đế vạn tuế!
– Hoàng đế vạn tuế!
– Hoàng đế vạn tuế!
Tiếng hô vang lũng núi,
như tiếng đồng vọng của đất trời.
Nguyễn Bặc phất cờ hiệu,
cuộc diễu hành bắt đầu.
Tiếng chiêng trống vang lừng
nổi lên.
Diễu qua lễ đài là bọn mục
đồng, mặc quần áo xanh, đầu chít khăn đỏ, tay cầm hoa lau, cưỡi trên lưng trâu
có phủ khăn hồng, sừng trâu vấn giấy xanh đỏ, nom rất chi là vui mắt. Bọn này
nghễu nghện diễu tới đâu, dân chúng tung hô rầm trời tới đó. Tiếp theo là những
thớt voi, lừng lững như những tảng đá xám. Quản tượng cũng chít khăn đỏ, trên
bành chở bọn cung thủ. Đội kỵ binh khua móng rộn ràng, những ngọn giáo búp đa lấp
lánh dưới ánh nắng mai. Đội bộ binh chân quấn xà cạp, đi dép da trâu, đầu cũng
đội mũ da trâu đỉnh vuông, mồ hôi lấm tấm trên những gương mặt rắn rỏi, phong
trần, còn hằn vết sẹo chiến chinh. Có những tên mới đi dép lần đầu, cứa toạc
chân, vẫn mắm môi mắm lợi tiến bước.
Một đoàn ngựa chiến kéo
những chiếc xe chở giàn phóng giáo, bắn đá, cầu lửa nghễu nghện diễu qua, trong
sự tò mò và thán phục của dân chúng.
Hết đám diễu trên bộ,
Hoàng đế được bọn lính cởi trần, đóng khố, xăm mình rước lên kiệu rồng, ra bến
Đền ngự thuyền rồng. Đoàn thuyền ngự trên sông Sào Khê, bơi ra sông Hoàng Long.
Bọn bơi chải bắt đầu cuộc thi tài. Trai tráng cởi trần, đóng khổ đỏ, khoe bắp
tay cuồn cuộn như sợi chão, dái chân chắc như cột đình, trên thân thể vẫn còn hằn
vết sẹo do giáo đâm sượt, gươm chém hụt. Trên ngực chúng xăm hình sư tử, sau
lưng xăm hình đại bàng, hai bắp đùi xăm hình đôi rắn hổ mang, nom rất dữ tợn.
Theo tiếng mõ hiệu lệnh, cả bọn đồng loạt rạp xuống, dồn sức vào cánh tay cầm
chèo. Những mái chèo oàm oạp khỏa nước, nom con rết khổng lồ đang bơi trên
sông, hòa lẫn tiếng reo hò náo nhiệt của dân chúng hai bên bờ, vang động cả một
vùng sông nước.
2.
Buổi chiều, lại có cuộc
thi chọi trâu.
Quan, quân, dân chúng lại
tụ hội, cổ vũ. Bọn trẻ con tóc để chỏm, nhìn thấy dưới bụng trâu đực thò lõ
trên sới cỏ, thì chỉ chỉ trỏ trỏ, khiến đám con gái đỏ mặt quay đi, ánh mắt
long lanh, má ửng hồng. Mỗi khi con trâu thua cuộc, chạy bổ vào đám khán giả
tìm đường chạy trốn, thì tiếng la hét hoảng loạn lại nổi lên. Khiến bọn lính tá
hỏa chạy theo, lấy thang ngoắc vào sừng mà hãm lại. Chỉ một chốc, cặp trâu khác
vào sới, thì đám khán giả lại bu kín vào, khác nào đá ném ao bèo. Tiếng sừng va
lộp cộp. Tiếng chân giẫm thình thịch. Tiếng la hét cổ vũ náo loạn, khiến ai
cũng phải xúm vào xem. Có con gãy sừng, lòi mắt nom gớm chết. Có cặp vừa vào
sân đã lồng lên như trâu điên, hai bên lao bổ vào nhau quyết đánh đòn phủ đầu
chí mạng. Cặp trâu húc nhau chính diện, chỉ nghe “cốp” một tiếng, hai con cùng
lăn ra, giãy đành đạch, chết tươi tại chỗ, khiến ai nấy tức thở vì hoảng sợ.
Nhưng cũng có cặp thả vào sới, lại nhẩn nha gặm cỏ, chẳng màng gì đến chuyện
húc nhau. Đám khán giả la oai oái, húi vào, nhưng chúng chỉ ngửi đít nhau, rồi
nhe răng ra cười. Đám thanh niên cũng ôm bụng cười ngặt nghẽo. Lũ con gái cũng
che hàm răng đen, díu mặt vào lưng nhau, cười thẹn thùng. Bọn trẻ lấy đất đá
ném trâu. Sân bãi nhộn nhạo cả lên.
Hết trò chọi trâu lại
sang trò chọi dê.
Lũ dê húc nhau có vẻ vui
hơn. Trẻ con, người lớn không sợ chúng lồng như trâu thất trận, nên vòng người
xoay tròn lại, chỉ còn chừa sới đấu bằng gian nhà. Mỗi khi chúng lùi lại lấy
đà, vòng người dãn ra, khi chúng lao vào húc nhau, vòng người lại co vào. Hình
như bọn dê thích được cổ vũ, nên đám người càng hô to, chúng càng húc hăng. Mỗi
con chỉ đứng trên hai chân sau, hai chân trước bổ vào nhau, mắt long sòng sọc,
nhưng vẫn như có ánh cười, chứ không vằn lên những tia thù hận như trâu. Dê thi
đấu, nhưng thân thiện hơn cái anh trâu. Bởi thế, chỉ có trâu đi trận và kéo
cày, còn dê làm đồ tế lễ.
3.
Bọn xiếc diễn trò. Người
xem thấy lạ, kéo đến đặc cả bãi.
Lầu xiếc dựng cao sáu trượng,
cặp dây chão gai dài hơn mười lăm trượng, bên ngoài có quấn dây mây, hai đầu
chôn dưới đất, khúc giữa vắt lên cây. Một sợi dây nữa, dài chừng năm chục trượng,
có chỗ mắc chạc ba cho hai dây giao nhau. Trùm xiếc là pháp sư. Bọn xiếc có sáu
người đàn ông, tên là Thượng Ky, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng
Toái, Thượng Câu cùng diễn.
Mở đầu tiết mục, Thượng
Ky mặc quần đen, đội khăn đen, đứng trên dây, chạy ra chạy vào ba bốn bận mà vẫn
giữ được thăng bằng, khiến ai cũng thán phục. Thượng Can, hai tay cầm hai cán cờ
leo trên dây, cùng Thượng Ky cả hai đi ngược nhau, đến chạc ba thì tránh, lao
xuống, thế mà không ngã. Bọn khán giả khoái chí, reo ầm lên. Thượng Đát lấy một
tấm gỗ lớn, rộng một thước, đặt trên cây cao chừng sáu thước. Gã đứng trên tấm
gỗ ấy mà nhảy múa tít cò bợ, thế mà không rơi. Cả đám vỗ tay rầm rầm cổ vũ. Thượng
Toái chui vào cái lồng, nom như lờ đánh cá và đứng thẳng lên, rồi lăn tròn. Thượng
Câu vỗ tay, nhảy nhót, vừa phi ngựa, vừa cúi xuống nhặt tiền thưởng, nom rất
ngoạn mục. Thượng Hiểm ngả mình nằm ngửa, lấy chân đỡ cây gậy dài, cho bọn trẻ
leo lên, tụt xuống mà không đổ.
Tiếng chiêng, trống nổi
lên rộn ràng, trò diễn càng thêm náo nhiệt.
4.
Buổi tối, lại bày trò diễn
chèo trước sân điện.
Chả là, Hoàng đế lúc đi
đánh dẹp mạn Hạ Hồng(1), nghe tiếng Phạm Thị Trân diễn chèo, thấy bảo
hay lắm, bèn vời về Yên Thành, cho dựng tích Cờ lau tập trận. Thị Trân cho tuyển
đám nam thanh nữ tú, truyền nghề cho, cùng diễn(2). Lại chọn một
chàng trai tuấn tú, con nhà lành đóng giả chủ tướng. Còn trâu thì do hai đứa
con trai cúi lom khom, bám vào lưng nhau, phủ vải đen lên, đóng giả. Đứa đi đầu,
đội cái đầu trâu làm bằng khung tre, phất giấy đen. Đứa đi sau có gắn thêm cái
đuôi trâu. Chủ tướng cầm bông lau, cưỡi trâu đầu đàn. Bọn mục đồng mặc quần áo
xanh xanh đỏ đỏ, cầm giáo mác cùng diễn xướng. Thấy hay hay là lạ, Hoàng đế và
các Hoàng hậu, cùng quan, quân đến xem, thưởng cho vàng bạc, khiến bọn diễn
viên nghiệp dư phấn chấn vô chừng.
Hoàng đế thấy chúng diễn
cả cảnh mò Ngọc khuê, Rồng vàng cõng qua sông, nhưng không có cảnh táng cốt,
treo song kiếm ngựa đá, thì nghĩ bụng, chuyện vẫn kín như bưng, thế mới gọi là
thiên cơ bất khả lộ. Anh hùng ai mà chẳng có điều bí mật riêng tư, khiến cho khối
kẻ phải đoán mò, không cách gì vén bức màn bí hiểm.
Tiếng trống thì thùng điểm
nhịp cho các trò diễn, làm người xem cũng rung động theo. Có lúc diễn xướng
ngân nga như hát vậy.
Bất giác, Hoàng đế nhìn
lên những đỉnh núi quanh thung, thấy đốm lửa lập lòe từ các chòi gác, như lẫn với
sao trời, khiến lòng bâng khuâng nhớ thuở hàn vi, lại đang được bọn diễn xướng
tái hiện. Bao nhiêu tướng sĩ đã đổ máu xương để có ngày hôm nay. Nhớ khi xưa,
ta hay
Nhà văn Vũ Xuân Tửu
Chương bốn
Vạc dầu, chuồng hổ, ao giải
1.
Đinh Hoàng đế họp các tướng
tâm phúc lại, bàn về hậu họa, bởi chuyện các sứ quân tan vỡ tại chỗ. Lưu Cơ
tâu:
– Trong Chiếu lên ngôi,
Hoàng thượng đã cho phép dân chúng thờ cúng sứ quân rồi. Thế cũng là cách vỗ
yên. Thần thấy bên phương Bắc có luật lệ, thiển nghĩ, Hoàng thượng cũng ban ra,
để mọi người đều phải làm theo.
Điền nhíu mày, hỏi trống
không:
– Chả nhẽ, Hoàng thượng
trị vì thiên hạ, mà cũng phải theo luật như dân đen à?
Cơ từ tốn nói:
– Hoàng thượng anh minh,
tối cao. Nhưng cũng phải nêu gương, chỉ có như thế, đất nước mới vào khuôn phép
được.
Hoàng đế nghe vậy, cảm thấy
khó chịu, nói sẵng:
– Luật lệ bó tay, khó
chơi lắm!
Tú thực thà nói:
– Thần được lệnh xây
thành Hoa Lư, từ lúc còn là làng Yên Thành. Nhiều chỗ lấy đất của dân dựng cung
điện, xây thành quách, phải nói bừa đi đấy là công thổ, kẻ nào không thuận thì
dọa chém, thế mới có thành quách như bây giờ. Chứ mà ngồi cãi lý, có mà đến đời
mồng thất.
– Chả nhẽ, dân bị cướp trắng
như vậy, mà không kêu kiện gì ư? – Cơ thật thà hỏi.
– Kêu đến cửa quan thì lại
gặp chính cánh ta xử chứ ai? Có mà kiện củ khoai, – Tú đắc ý cười khinh khích.
– Được cái đám dân đen cũng dễ dẫn dụ, ta bảo, chúng bay cứ thắt lưng buộc bụng,
dâng hiến hết cơ nghiệp. Mai ngày, giang san thu về một mối, thì vua ban nhà
cao cửa rộng cho mà ở, tha hồ ăn sung mặc sướng, ựa ra cũng chẳng hết nào…
Điền bô lô ba la:
– Không phải dài dòng,
Hoàng thượng là luật lệ, luật lệ là Hoàng thượng!
Bặc cũng hùa theo:
– Ý chỉ của Hoàng thượng
là thừa thiên hành đạo rồi. Tức vị chiếu cũng nói: “Thừa thiên hành đạo, Hoáng
đế chiếu ước”. Xin Hoàng thượng cho bàn ngay vào chuyện trừng trị bọn phản loạn
cho được việc.
Cơ lâm vào thế một người
một ngựa giữa trùng vây, đành ngậm tăm.
Hoàng đế gật gù, nói nước
đôi, ngại mếch lòng Cơ:
– Lưu Cơ là người có chữ
trong đám Cờ Lau ta. Một điều nói ra hẳn có lý, chứ không phải chuyện tầm phào.
Nhưng cứ xếp luật lệ lại đã, tính sau, nhề. Đang lúc bấn bíu thế này, lại nhè
cái luật ra, tự bó chân bó tay mình, có khi còn loạn thêm.
Điền như quên hẳn chuyện
luật lệ, cao giọng:
– Nhưng hàng trăm vạn
quân, hàng nghìn tướng tại trận, chẳng lẽ chúng ngồi im chịu chết già?
Nguyễn Bặc nói:
– Chỉ cần Hoàng thượng sức
cho quan các đạo, các động để mắt tới là được.
Điền lại nói:
– Thiển nghĩ, cứ khử đi
là xong chuyện.
Trịnh Tú kêu lên:
– Ối giời, à quên, muôn
tâu, – Tú đưa mắt nhìn các quan, chữa thẹn, bởi cứ theo thói xưa, mà chưa quen
nếp mới. – Ví bằng, ta bỗng dưng cất quân tảo thanh, khác nào xui chúng làm loạn.
Chả nhẽ, chúng ngồi im chịu trói?
Điền lại lên tiếng:
– Tôi, à quên, thần, – Điền
cười, đưa mắt nhìn Tú, tìm sự đồng cảm. – Thần có cách này, Hoàng thượng xuống
chỉ, gọi chúng về kinh hiểu dụ, rồi nhân cớ đó, – Điền đưa gan bàn tay cứa cứa
vào cổ, làm hiệu…
Tú cắt lời:
– Hàng ngàn tướng thất trận,
nay kéo về kinh đô, thấy cánh ta sung sướng thế vầy, chúng nổi lòng tham lam,
ghen ăn tức ở mà hè nhau làm loạn thì sao? Tự dưng lại mua dây mà buộc mình. Lại
nữa, lấy gì mà nuôi, Hoàng thượng vừa mới khoan thư sức dân, miễn thuế?
– Nói là câu khoan thư là
để an dân vậy thôi, chứ đã miễn thuế được đâu. Miễn với khoan thì quan ăn cám
à? – Điền bỗ bã, nói thẳng ruột ngựa. – Xem như gương Hai Bà Trưng, khi đất nước
vừa yên hàn đã vội tha thuế ba năm, thế là kho đụn, binh lương sạch bách. Đến
khi bọn Mã Viện tướn sang, thì ôi thôi… Đấy là chuyện xưa, còn bây giờ, đối với
bọn quan tướng các sứ quân, bảo chúng tự mang theo lương ăn, chừng một tuần
trăng thôi, – Điền tỏ ra tinh quái. – Thế là đỡ lo chuyện cấp lương, lại đánh lừa
được chúng. Thế nào chúng cũng ngỡ chỉ ngần ấy ngày là được về nhà, không tính
chuyện trốn lủi.
Hoàng đế khen mưu cao kế
thâm, bèn cho làm theo, nhưng không để bọn chúng vào kinh đô Hoa Lư, mà dẫn vào
thung lũng thượng nguồn, phần thì đánh động cho chạy, rồi bắn tên vào lưng, đâm
giáo vào khoeo chân, phao lên là do chạy trốn mới bị trừng phạt như thế; phần
thì do hết lương thiếu áo đói rét, mắc bệnh “ngã nước”, nên chết vãn cả. Từ đấy,
bọn lính các nơi sứ quân xưa như thể rắn mất đầu, lại bị các quan sở tại kiềm tỏa,
không kẻ nào dám nghĩ đến chuyện làm loạn nữa. Quân lính thất trận và dân chúng
sợ đến lượt mình chịu vạ, lại cộng thêm cái sự đói khổ triền miên, nên bồng con
bế cái, lũ lượt trốn sang các nước lân bang. Thế là xã tắc trừ được hậu họa,
bình ổn. Chỉ có điều, dân đen đến cầu khấn các đền thờ sứ quân ngày một đông
hơn mà thôi…
Bọn Phạm Bạch Hổ, Ngô Nhật
Khánh biết chuyện ấy, trong lòng tỏ ra lo lắng vô cùng. Hổ bảo:
– Cá nằm trên thớt!
– Thế thì cáo quan, ông về
Đằng Châu, tôi về Đường Lâm, – Khánh bàn.
– Không được, hạ sách, –
Hổ thở dài, – thôi, cứ im lặng là vàng.
Mấy hôm sau, lại nghe tin
Hoàng đế cho đặt vạc dầu ở sân điện, nuôi hổ ở hang Am Tiên, thả giải đầy ao
ngoài Thành Bắc, để trị kẻ có tội, khiến ai nấy đều lo sợ, kinh hãi. Lưu Cơ mấy
lần can ngăn mà không được, trong lòng có ý không vui.
Nghe nói, Lưu Cơ là con cầu
tự đền Bạch Bát(3), theo học chữ ở Tri Hối(4). Cha mẹ mất
sớm. Cơ phải bươn trải lập thân, nên trọng chữ nhân. Nay thấy triều đình vua
Đinh làm nhiều việc hình ngục man rợ, hòng răn dọa dân chúng, thì cảm thấy sái
vô chừng, nhưng không sao cản nổi. Nhưng khi nhận thấy tâm trạng bất an của hai
hàng tướng, Cơ bèn an ủi:
– Việc ấy là bất đắc dĩ,
triều đình lo xa, ngõ hầu tránh sự phản loạn mà thôi.
– Phải, phải! – Hổ và
Khánh đồng thanh đáp, – Hoàng thượng sáng suốt!
Cơ biết là mồm họ nói vậy,
nhưng lòng không phải vậy, nhưng cũng đành vậy. Họa sinh ra từ đầu óc ngu tối,
từ lòng dạ tàn ác, tất có ngày cũng bị trời diệt. Người có tâm sáng, tầm cao
can ngăn cũng chẳng nổi, không khéo còn dính vạ lây…
2.
Bọn quan các động ki mi
báo tin, có mấy viên tướng thời loạn sứ quân đang trốn chui trốn lủi trong rừng
núi. Đinh Hoàng đế bèn sai Lê Hoàn mang quân bắt về.
Quan quân nhà Đinh lại vượt
bến Tình Cương, tiến lên Hồi Hồ. Gặp cảnh cũ người xưa, mừng mừng tủi tủi, chỉ
tội dân nghèo quá, sinh ra trộm cướp, nên thấy quan quân triều đình là lẩn vào
rừng, trốn biệt. Một hôm, cả bọn thấy cái quán ăn ven rừng, bèn mò vào đánh
chén lấy sức. Khi trộn hết bát canh xương, thấy trơ ra mấy ngón tay người. Cả bọn
kinh hoàng, nôn mửa ra mật xanh mật vàng. Lập tức, quán hàng bị vây chặt, tìm
ra phía sau, thấy có xác người đã bị xéo bắp chân, chặt cánh tay… Chủ quán liền
bị lôi ra sân chém đầu tại chỗ, rồi cấp báo triều đình.
Mấy tướng hổ báo dưới trướng
Kiều Công Hãn, Kiều Công Thuận, Đỗ Cảnh Thạc… nay thất cơ lỡ vận, khác nào người
rừng, tóc dài, da xanh, áo rách. Chúng được đưa về Hoa Lư, xử tội kháng chỉ.
Viên tướng Tam Giang bị
đóng gông, xích chân điệu ra cạnh vạc dầu. Vạc dầu bằng đồng, to như cái nong,
sâu ngập đầu người, được bắc ngay giữa sân điện. Bọn đao phủ bảo nhau, cốt cho
viên tướng Tam Giang nghe thấy, để khủng bố tinh thần:
– Đun sôi lên, rồi hẵng lẳng
vào, luộc luôn.
– Thế thì chết nhanh quá.
Cứ bỏ vào từ lúc dầu nguội, rồi đun củi, cho nóng từ từ, như
kiểu ngâm chân.
– Dầu nóng nhanh hơn nước
đấy…
Bọn chúng vừa tỏ ra thản
nhiên trò chuyện, vừa kín đáo đánh mắt xem động tính viên tướng kia. Quả nhiên,
lời nào cũng lọt tai, khiến nó tái xám cả mặt mày. Nhìn ngọn lửa lom dom ngấn củi,
tên đao phủ có vẻ sốt ruột, múc ngay một gáo dầu, tưới vào bếp. Tức thì, ngọn lửa
bùng lên, cháy phần phật, khiến viên tướng Tam Giang giật mình, ngã bổ chửng,
đái ỉa cả ra quần, mùi khai thối hoăng cả lên.
Phạm Cự Lạng thấy vậy, phẩy
tay trước mũi, vẻ kinh tởm, nói:
– Gớm quá, ô uế cả sân điện!
Bọn đao phủ sợ hãi, vội
túm viên tướng lẳng vào vạc dầu, mà không kịp tháo gông, gỡ xích. Tiếng ho sặc
sụa, cùng với tiếng gông gõ lộp cộp từ vạc dầu vọng ra, làm cho bọn đao phủ
khoái trí, cười hô hố, mạnh tay chất củi. Viên tướng Tam Giang hoảng loạn, kêu
van:
– Xin tha tội…
Lạng quát:
– Sao không bịt mồm nó lại?
Bọn đao phủ đưa mắt nhìn
nhau, vẻ sợ hãi đáp:
– Trình quan lớn, bởi nó
thối qua, không kịp tháo gông.
Tư lự chốc lát, Lạng bảo:
– À mà thôi, để vậy cũng
hay, làm gương nẹt những kẻ dám trái lệnh vua.
Bọn đao phủ được lời như
cởi tấm lòng. Thấy cái đầu mang gông nhô lên, chúng lại lấy sào đẩy một nhát, y
như kiểu người ta dùng nước điếu cày, tắm chó bị bệnh hắc lẫm, rồi ném xuống
ao. Mỗi khi con chó ngoi lên, lại lấy gậy đẩy ra xa, để bốn chân đập nghí ngóp,
đến khi sạch sẽ mới vớt lên. Nhưng viên tướng chỉ lóp ngóp kêu xin được vài ba
lần, rồi lặng như tờ. Chắc nó sặc dầu và sợ hãi quá mà chết.
Dầu vừa sôi, bỗng nghe “bục”
một tiếng, tên đao phủ reo lên:
– Nổ bụng rồi!
Đoạn, đao phủ cầm thanh củi
đang cháy, chọc vào cái đầu đang nổi lều bều trên mặt gông. Lập tức, cái búi
tóc bắt lửa, cháy loang ra cả vạc dầu. Vạc dầu bốc cháy đùng đùng như chảo lửa,
khiến bọn đao phủ sợ xanh mắt. Lạng cũng phải lùi ra bởi rát mặt. Thế là viên
tướng Tam Giang, toàn thân và tứ chi bị luộc chín nhừ, đầu cháy như nướng. Một
lúc, cổ đứt lìa, cái đầu lâu lăn qua gông, rơi tõm xuống vạc. Cái gông cũng bốc
cháy đùng đùng. Dầu khét, thịt gây, cùng bốc ra một mùi tởm lợm, khiến bọn đao
phủ cũng phải non ọe.
*
Viên tướng Hồi Hồ bị đẩy
lên xe tù, chở qua cửa Đông, xung quanh có lính cưỡi ngựa, vác giáo hộ tống.
Dân chúng trong kinh thành nghe tin, rầm rập chạy theo, háo hức xem hành hình.
Trên đường, tội nhân vẫn tỏ khí phách cương cường, đầu ngẩng cao, mép trễ xuống,
mắt quắc lên, đầy vẻ khinh khi. Đến chân núi, tội nhân bỏ xe, lính tráng xuống
ngựa, cùng leo lên hang Am Tiên. Đến lưng chừng núi, ngửi thấy mùi khen khét của
hổ, khiến viên tướng xây xẩm mặt mày. Nhưng bọn lính dẫn giải vẫn điềm nhiên,
khiến hắn nghi hoặc vô cùng. Bất chợt, nghe thấy tiếng hổ gầm vang động cả sườn
núi, thì hắn chợt hiểu ra, ngã khuỵu xuống. Bọn lĩnh đành phải khiêng lên hang.
Miệng hang Am Tiên rộng ngoác tựa mồm quái vật hiện ra, như muốn nuốt chửng cả
bọn. Đàn hổ từ lúc ngửi thấy hơi người đã nhộn nhạo cả lên, nay thấy con mồi đã
kề hàng rào sắt, khiến chúng nhảy quớ, như định đẩy đổ mà lao ra. Sợi chão to
như cổ tay, buông thõng ngoài cửa hang, bọn lính hối hả buộc ngang thân tội
nhân, rút lên qua bờ rào, rồi dùng sào đẩy vào và thả vào trong. Lập tức, cả
đàn hổ xô lại, lôi con mồi tuột vào hang, bọn lính không nhanh tay buông dây,
có khi còn bị kéo tuốt theo.
Đàn hổ bị bỏ đói mấy
ngày, nên chúng lao vào cấu xé tội nhân. Con thì càm cái đầu, làm mớ tóc bạc
tung ra rũ rượi, nom như dò phong lan gớm ghiếc. Con ngoạm cánh tay gày nhẳng
như ống sậy. Con cắn bắp đùi còn hằn vết sẹo chiến chinh. Con giẫm lên bụng mà
xé xác… Chốc lát, máu me chảy lênh láng ra cửa hang. Những bộ lông màu vàng, vằn
đen cũng dính bê bết máu đỏ. Đàn hổ gầm gừ tranh mồi, rồi nhe nanh múa vuốt cắn
lẫn nhau, khiến cái xác tội nhân tanh bành khắp nền hang, như thể bọn trẻ con
tranh giành nhau chiếc diều phất giấy vậy.
Chợt có tiếng rú hoảng loạn,
cất lên từ đám đi xem hành hình, khiến cả bọn giật mình ngoái lại. Mấy người
ngã lăn ra, chết giấc. Bọn lính phải hộc tốc dìu xuống chân núi, vừa bấm nhân
trung, vừa giật tóc, hồi lâu mới tỉnh.
*
Viên tướng Thành Quèn bị
dẫn ra ao giải, ngoài Thành Bắc.
Đàn giải, con to như cái
nong, con nhỏ như cái mẹt lừ đừ bơi lội trên đám rong rêu. Thoạt nhìn, chúng chẳng
khác gì những con ba ba khổng lồ, da cũng trơn nhẫy, không có vân lục giác trên
mai như rùa. Hằng ngày, bọn lính ném xuống ao xác chó, mèo, gà, vịt chết thối.
Đôi mép tham lam của bầy giải loe ra, đớp lấy đớp để, như thế lợn sề xốc cám. Mặt
ao lúc nào cũng mờ mờ sát khí, mùi tanh lợm bốc lên tanh nồng cả thung lũng.
Đám người hiếu kỳ kéo nhau đi xem cuộc hành hình, xôn xao bàn tán:
– Cứ ngỡ con giải giống
như rắn nước, ai ngờ lại là ba ba thủy cung.
– Úi giời, nó bơi dưới nước
mà phì phì thở như trâu.
– Nó kéo được cả thuyền
câu đấy!
– Nom hao hao giống rùa.
Nhưng rùa thì hiền, trẻ con cũng cưỡi được. Vậy nên các cụ mới tạc rùa đội bia,
cõng hạc ngoài đình. Chứ nào ai thờ giống thuồng luồng, giải ác này đâu.
Viên tướng xấu số, khi
nhác thấy đàn giải đã hiểu ra cơ sự, đứng sững lại. Phạm Cự Lạng thấy vậy, nói
khích:
– Tưởng ngươi anh hùng hảo
hán? Ai dè cũng là giống thỏ đế mà thôi!
– Lũ mục đồng chúng bay,
bày lắm trò man rợ. Nhưng làm sao có thể lung lạc được ta, – viên tướng cất giọng
sang sảng chửi lại.
– Nghe đồn, ngươi thạo
đánh thủy? Có giỏi thì nhảy xuống đánh nhau với đàn giải kia xem nào? – Lạng lại
khích.
– Ví bằng mày dám cho đưa
cho ta một thanh kiếm?
– Để ngươi chạy tháo thân
chăng? – Lạng nghi ngờ hỏi lại.
– Ta không cần mở xích
chân, chỉ cần cởi trói tay mà thôi. Dám không?
Bị tội nhân thách lại, Lạng
tức, ra hiệu cho tên lính hộ vệ đưa thanh kiếm cho hắn. Bọn lính tuốt gươm,
chĩa giáo thành đứng vây hình bán nguyệt, chỉ để hở mặt ao. Viên tướng Thành
Quèn giơ kiếm, lê theo sợi xích ra bờ ao. Hắn đi đến đâu, vòng vây khép chặt lại
tới đó. Bỗng hắn quát một tiếng kinh thiên động địa:
– Chúng bay, tất có ngày
bị diệt như đàn giải này! – Nói đoạn, hắn nhún chân nhảy xuống ao. Bọt nước tóe
lên hình vương miện.
– Cà cuống chết đến đít
còn cay! – Lạng nhếch mép, cười khinh bỉ.
Đàn giải thấy động, như
chợt tỉnh giấc ngủ, hối hả lao đến như mèo thấy mỡ. Viên tướng vung kiếm làm đứt
lìa những cái đầu giải vươn ra khỏi mai, ngọt như chém nước. Một chốc, máu chảy
đỏ ngầu, xác giải chết ngổn ngang như đống nong, nia vứt trên sân ngày mùa.
Nhưng lũ giải nhiều vô kể, ngửi thấy mùi máu càng hăng tiết, lổm ngổm bơi đến
như thiêu thân thấy ánh đèn. Trận thủy chiến không cân sức, diễn ra ngày một
quyết liệt. Viên tướng bật mình, lộn người tung lên cao, hai bàn chân đeo xích
chĩa lên trời, đầu lao xuống, thanh kiếm khỏa nước một vòng, rồi co gối thu vào
bụng mà tiếp nước. Thấy vậy, cả đám quan, quân, dân chúng cùng ồ lên, như thể
xem xiếc. Thảo nào, bọn Thành Quèn đã từng nghiền nát quân Cờ Lau thành Đống Thịt.
Đàn giải say máu, có con đã ngoạm được vào đùi, cắn thủng bụng tội nhân, nhưng
thanh kiếm vẫn hoa lên loang loáng những tia chớp. Bọn Lạng nhìn thấy mà kinh
hãi. Nhưng rồi, ruột hắn xổ ra, đàn giải bu vào mà lôi xé. Bỗng hắn dồn hết sức
bình sinh, quét dọc thanh kiếm một vòng quanh thân. Tức thì cổ giải rụng hàng
loạt và mớ ruột của hắn cũng đứt lìa. Bỗng nhiên, hắn dừng cuộc đấu, hai tay
run run nâng thanh kiếm nhuốm máu giơ ngang mày, như tạ lỗi với trời xanh, rồi
từ từ chìm xuống.
Đàn giải vẫn lổm ngổm
ngoi đến tiếp viện, kín đặc mặt ao.
– Dũng tướng! – một tên
lính thốt lên.
– Nhưng làm sao địch nổi
thuồng luồng sông Đáy, – Lạng tự đắc nói..
3.
Trong hoàng cung, Hoàng đế
ngự thiện với món khoái khẩu tiết canh lòng lợn. Chợt nghe tiếng huyên náo
ngoài cửa Bắc vọng vào. Một chốc, tên lính thị vệ chạy vào tâu:
– Bẩm Hoàng thượng, có
tên lính chăn trâu trên Thung Lau xin gặp Hoàng thượng, nhưng lính canh cản lại,
đâm ra cãi vã.
– Mày có hỏi nó gặp việc
gì? – Hoàng đế nhíu mày, vẻ bực dọc.
– Bẩm, đâu như hổ về
thung, – tên thị vệ sợ hãi nói.
– Sao mà nói không ra hơi
thế? Thị vệ nỗi gì? – Rượu bốc lên mặt, Hoàng đế quát, – Đỗ Thích, ra xem binh
tình, mau!
Không đợi Đỗ Thích thị
sát, viên quan canh cổng vội lật đật chạy vào, sợ vạ lây:
– Bẩm Hoàng thượng, nó bảo
là bạn chăn trâu thuở trước, cùng cánh mục đồng cả…
– Láo! – Hoàng đế quát to
một tiếng, vung tay đập bát tiết canh đánh “choang” một cái xuống nền gạch, khiến
mảnh bát trắng ngà lẫn với tiết lợn đỏ lòm vung vãi, – đánh hai trăm roi.
– Nhưng mà nó có công báo
hổ, Hoàng thượng cho bẫy, mang về Am Tiên. – Đỗ Thích vội can, – xin Hoàng thượng
rón tay làm phúc, giảm hình phạt.
– Được, – Hoàng đế sực nhận
ra hành động bột phát quá đáng của mình, nên xử nhũn, – phạt năm mươi roi, bắt
đứng canh cổng.
Tên lính Thung Lau chịu
phạt, rồi đứng canh cổng. Đến khi bọn đi săn hổ, không biết chỗ nào để đặt bẫy,
phải về bẩm báo. Bất đắc dĩ, Hoàng đế triệu tên lính canh cổng vào hỏi cho rõ đầu
cua tai nheo. Vừa thấy nó ló mặt, Hoàng đế đã cười vang:
– Tưởng ai, hóa ra là Quản
động Thung Lau, sao không nói sớm?
– Bẩm…
– Thôi, xí xóa, phục chức
cũ. – Đoạn, quay sang Đỗ Thích bảo, – mang ba trăm lạng bạc cho Quản động về uống
rượu, nhá! – Lại trỏ bọn thị vệ, kẻ cả nói, – chúng bay không biết người này là
ai à? Thời cờ lau tập trận, công lao không phải là nhỏ. Bởi thế, ta mới giao
cho Quản động ấy chứ!
Cả bọn lè lưỡi, sợ hãi
nhìn nhau. Đỗ Thích nói câu đãi buôi:
– Thì tại bọn thị vệ bẩm
báo không ra hơi, chứ Hoàng thượng đã kịp nhìn người đâu. Vả, mỗi thời mỗi
khác, triều đình phải nghiêm, không kể thân sơ.
Quản động Thung Lau không
dám nói gì, đành nhận túi bạc, rồi hộc tốc dẫn bọn lính triều đình về Thung Lau
bẫy hổ. Từ đấy, bạn bè thuở chăn trâu cắt cỏ với Đinh Hoàn đều biết ý lảng dần,
sợ gần lửa rát mặt, chơi dao đứt tay.
4.
Một hôm, sau buổi chầu,
Hoàng đế lưu Nguyễn Bặc lại, phàn nàn:
– Khi dẹp xong các sứ
quân, rồi lại có chỉ gọi bọn bại tướng về, kiếm cớ diệt đi để trừ hậu họa. Vừa
giờ, lại xảy ra cái chuyện sinh loạn ở cửa Bắc.
Bặc từ tốn:
– Thần nghe, tên ấy có uống
rượu say ngoài chợ, rồi mới vào cổng, đâm ra sinh sự thì gặp sự sinh như vậy.
Hoàng đế thở dài, chép miệng:
– Cái sự cũng đã qua,
nhưng xem chừng phải chọn kẻ tâm phúc, coi việc thị vệ mới yên. Lớ ngớ có ngày
mất đầu lúc nào chả biết.
Bặc cắn môi, đắn đo một
lúc mới nói:
– Phạm Cự Lạng là kẻ chỉn
chu, mẫn cán. Cứ xem cái việc hành hình vừa rồi, cũng thấy không phải kẻ tầm
thường.
– Có phải tay Lượng? –
Hoàng đế nhíu mày, vội hỏi, – cháu nội Phạm Chiêm, phải không?
– Phải! – Bặc nói. – Phạm
Chiêm người làng Trà Hương(1), từng giữ chức Đông giáp tướng quân,
thời Ngô Tiên Vương. Con Chiêm là Mạn. Mạn làm Tham chính đô đốc, thời Nam Tấn
Vương Ngô Xương Văn.
– Ừ, cũng có vẻ được đấy.
– Bộ Lĩnh trở lại vẻ thư thái, phân trần với bạn hữu, – ta vừa lên ngôi, chân ướt
chân ráo, phong nó là người đầu tiên, phải cẩn thận mới được.
Năm Mậu Thìn (968), Phạm
Cự Lạng, tức Lượng, được Hoàng đế phong làm Tâm phúc tướng quân, coi việc thị vệ.
Từ đó, Lạng là quan thân cận của nhà vua. Sau đấy, Đỗ Thích có công cứu giá thuở
hàn vi, cũng được phong chức Chi hậu nội nhân, lại càng có cơ gắn bó như hình với
bóng cùng Hoàng đế.
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
______________
(1)
nay thuộc Hải Dương.
(2)
lúc này, chèo còn sơ khai, chỉ diễn xướng ngôn và làm động tác hình thể, chưa
có các điệu hát chèo.
Theo Đại Việt sử ký toàn
thư, đến thế kỷ XII, XII mới có lối hát chèo, do tù binh phương Bắc truyền dạy.
ngồi trên lũng ngai núi Kỳ
Lân, rồi ngồi kiệu tay của bọn trẻ chăn trâu, nay được ngự trên đỉnh danh vọng
và quyền lực thế này, chợt nhớ câu: “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô”. Phải
làm sao giữ vững ngai vàng? Xem chừng các sứ quân đại bại, tan rã tại chỗ cũng
chưa hẳn là thuần phục cả đâu….
(3)
nay thuộc xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
(4)
nay là làng Tùy Hối, xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Chương năm
Dương thị nhập cung
1.
VHSG- Hoàng đế ngồi xe tứ
mã, trở lại Thung Lau, với ý định trở về thăm lại cảnh cũ người xưa mà thôi.
Nhưng không ngờ quan sở tại và dân chúng lại ùa ra đón rước, tung hô, quá ư trọng
thị, làm náo động cả núi rừng. Đến đoạn đường hẹp, Hoàng đế bỏ xe, đi ngựa cùng
bọn thị vệ.
Từ khi vua ra, đây là lần
thứ hai, dân chúng nhìn thấy long nhan. Lần này, Hoàng đế to béo và bệ vệ hơn
hôm lễ đăng quang. Dân chúng lần đầu thấy xe bốn ngựa hồng cùng kéo, trên xe cắm
lọng vàng che cỗ ngai vàng. Tay ngai hình đầu rồng, bánh xe bằng gỗ giáng hương
có đai sắt. Toàn là những thứ đồ lạ lẫm, sang trọng, mặc dù bọn thị vệ đã ra sức
cấm cản, nhưng dân chúng vẫn sấn vào sờ sờ mó mó, ngó ngó nghiêng nghiêng, khen
tấm khen tắc… Bọn thị vệ tuy cản, nhưng không dám làm dữ như chỗ khác, bởi đây
là đất vua, dân vua, sợ sẩy lỡ tay lại mang vạ.
Hoàng đế thăm lại đồng Rộc
Xéo, nơi Đồi Trống, Đồi Chiêng, gò Nắm Cơm, cầu Mổ Trâu… Đến Bến Vội, lại nhớ
khi vội vàng tháo chạy khỏi tay chú Dự. Thung Lau đây, vẫn bốn bề núi đá, đường
qua quèn đã lát bậc đá. Hoàng đế xuống ngựa, cuốc bộ qua quèn. Trong thung, dãy
lán trại đã tu bổ khang trang hơn, chứng tỏ Quản động là người mẫn cán, khiến
Hoàng đế cảm thấy se lòng, nhớ lại việc phạt oan hôm nào. Viên Quản động một mực
giữ lễ, làm cho Hoàng đế cảm thấy gò bó như thể ở giữa hoàng cung vậy. Nhưng
viên Quản động giữ lễ cũng là giữ cho chính cái mông của mình, tránh khỏi những
trận đòn oan. Hoàng đế thì lại thèm những câu nói sỗ sàng, những cử chỉ xô bồ của
trẻ trâu, gợi nhớ thuở hàn vi mà thấm đẫm nghĩa tình. Phú quý, quyền hành, khiến
con người chìm ngập trong ánh hào quang và sự giả dối. Hình như, mỗi cử chỉ, lời
nói của Hoàng đế đều trở thành khuôn vàng thước ngọc. Và, mỗi cử chỉ, lời nói của
người đời, đều ẩn chứa sự nhờ vả, quỵ lụy gì đó, khiến Hoàng đế cảm thấy hãnh
diện và cảnh giác.
Qua đầm Cút, sang Thung
Lá, chợt nghe thấy ven rừng, vẳng trong hơi gió có tiếng sơn nữ đang cất tiếng
hát, với giọng trầm buồn:
“Anh đi tán tía tàn
vàng
Để em cắt cỏ bên đàng sao
đang
Tay cầm bán nguyệt sênh
sang
Trăm ngàn ngọn cỏ lai
hàng tay ta…”.
Nương theo tiếng hát,
Hoàng đế men vạt rừng tìm, nhưng không thấy bóng hồng đâu cả, bèn nghĩ bụng, hẳn
là thần tiên giáng trần, trêu đùa mà thôi. Vùng này, Hoàng đế thuộc như lòng
bàn tay, từng vạt rừng, từng đỉnh núi, từng hồ nước, từng con suối, thảy đều in
dấu chân thuở cờ lau tập trận. Chợt nhớ ngôi nhà của của tướng quân Dương Thế
Hiển, quanh quất đâu đây, bèn tìm đường ghé thăm.
Hiển là bạn thuở xưa của
Đinh Thứ sử, nên khi gặp Hoàng đế, hai bên tay bắt mặt mừng. Nhưng Hiển giữ lễ,
khiến Hoàng đế cảm thấy hẫng hụt. Bất chợt xuất hiện một thiếu nữ thướt tha,
dáng yểu điệu dâng trà, khiến Hoàng đế sững sờ:
– Kính Hoàng thượng!
Tiếng thoảng như gió
ngàn, mặt tròn khuôn trăng, da trắng hồng như trứng gà bóc, mắt biếc mày ngài,
răng đen nhưng nhức, tóc bỏ đuôi gà, dáng hình thanh tú. Hoàng đế run tay cầm
chén trà, nước sánh cả ra ngoài, khiến thiếu nữ đỏ bừng mặt, nghiêng mình che
quạt cười duyên.
– Có phải ban nãy, nàng
hát bên rừng? – Bộ Lĩnh trìu mến hỏi.
Thiếu nữ dừng gót giây
lát, liếc nhìn nước da ngăm đen của Hoàng đế, bất giác mỉm cười miếng chi,
nghiêng đầu e lệ. Thấy vậy, Hiển vội lên tiếng đỡ lời:
– Con gái hạ thần đó, còn
vụng dại lắm! – tuy miệng nói vậy, nhưng giọng Hiển đầy vẻ tự hào.
– Dám hỏi, nàng được mấy
cái xuân xanh, đã có nơi có chốn nào hay chưa? – Hoàng đế hỏi độp một
câu, như kiểu đại bàng vồ mồi.
Dương thị nghe vậy, mặt đỏ
rực lên, tỏa mùi hương quyến rũ, lòng thẹn thùng không nói nên lời. Dương tướng
quân lại phải nói đỡ con gái rượu:
– Bẩm Hoàng thượng, con
gái hạ thần vừa tròn đôi tám, còn nguyên nếp quê mùa. Giữa chốn rừng xanh núi đỏ
này, nào đã có ai để mắt mà chi…
Hoàng đế mừng rỡ, vội nói
như sợ có kẻ phỗng tay trên:
– Nếu cha con nàng không
chê ta là kẻ võ biền, cốt cách mục đồng, thì xin được cùng hồi cung?
Nghe vậy, hai cha con
Dương tướng quân vội quỳ xuống, nói:
– Tạ ơn Hoàng thượng!
Thế là, Dương thị cùng ngồi
xe tứ mã với Hoàng đế, hồi kinh.
2.
Dương thị được Đinh Hoàng
đế lập làm Hoàng hậu. Thế là Hoàng đế có năm Hoàng hậu, đặt tên là Đan Gia,
Trinh Ninh, Kiểu Quốc, Cô Quốc, Ca Ông, nhưng không phong ai làm chính cung.
Nghe Dương thị nói giọng
trầm, Lưu Cơ nghĩ bụng, người đàn bà này số cao, ít ra phải hai lần đò. Dò hỏi
mãi mới biết nguyên nhân chuyện đó. Chả là, khi bé, Dương thị khóc dạ đề những
ba tháng liền, dỗ mấy cũng không yên. Một hôm, có vị đạo sĩ qua nhà Dương tướng
quân, thấy vậy, bèn vỗ nhẹ vào nôi mà nói du dương như hát, rằng:
“Nín đi thôi, nín đi
thôi
Ngày mai gánh vác cả đôi
sơn hà“.
Đạo sĩ dứt lời, lập tức
hiệu nghiệm, tựa hồ như ngay từ lúc nằm nôi, Dương thị đã hiểu được ý trời và
chấp thuận vậy. Đôi sơn hà, nghĩa là Hoàng hậu hai vua sao? Sau Hoàng đế
Đinh Bộ Lĩnh là ai? Theo bài kệ hiện trên thân cây gạo chùa Minh Châu, năm Bính
Thân (936), thì nhà Lý sẽ nổi lên. Nhưng mình đã tâu với Vạn Thắng Vương tìm diệt
hết tay chân bọn sứ quân Lý Khuê, ở Siêu Loại rồi mà? Vậy, trong đám quan,
quân, dân chúng này, còn ai mang mệnh đế vương? Nghe đồn, thuở hàn vi Lê Hoàn
đi ở, được rồng phủ bên cối gạo, mẹ hắn khi sinh mơ thấy hoa sen. Hắn lại có
tài cầm quân, được Đinh Liễn thu phục và Hoàng đế cũng mến mộ thường giao ấn
tiên phong. Năm nay, Hoàng đế đã bốn mươi lăm tuổi rồi, mà Dương hoàng hậu mới
mười sáu; vị chi, Hoàng đế hơn những hăm chín, ba mươi tuổi. Nghĩ vậy, Lưu Cơ
thở dài lo lắng, không biết thời cuộc vần xoay ra sao?
3.
Đêm động phòng hoa trúc,
bọn cung nữ dẫn Dương thị đi tắm. Nàng xấu hổ, phẩy tay ra hiệu cho chúng lui
ra, để tự tắm một mình. A, cũng nước ấm nóng như ở nhà mình. Con gái sơn cước vẫn
thường tắm nước nóng. Chỉ có điều khác là tự mình phải đun nước, rồi đổ vào chậu
gỗ, múc từng gáo tre mà giội. Nhưng trong cung, nước ấm đổ đầy thùng gỗ to như
cái nong, lại thả cánh hoa bồng bềnh, nên nước có mùi thơm và lộng lẫy.
Nàng bước vào thùng gỗ ngọc
am, từ từ ngồi xuống ngập tới cổ, mới thong thả cởi xống tới áo vắt lên thành gỗ.
Bọn cung nữ thấy vậy, cười khúc khích. Chả là, chúng bảo phải cởi hết ra, giội
qua mấy gáo, rồi mới được lội vào. Nhưng nàng ngượng, đến như tắm ở nhà vẫn phải
mặc váy, kéo cạp qua ngực mới dám cởi áo cánh. Ở đây, buồng tắm cũng thắp nến
sáng trưng, lại có người hầu. Nàng chỉ bằng lòng cho bọn cung nữ vừa buộc tóc
lên đầu, vừa dặn dò cách thức mà thôi. Ở Gia Lâm(1), có mấy bận,
nàng cùng các bạn sơn nữ tắm suối, xúm vào rờ ngực, vuốt rốn nhau, rồi khúc
khích cười, ước mơ làm hoàng hậu. Thế mà đánh “đùng” một cái, mình trở thành
hoàng hậu, thật cứ như trong mơ…
Nàng khe khẽ khỏa nước
cho các cánh hoa dãn ra, thong thả thoa mặt, kỳ vai, vuốt mình. Thỉnh thoảng giật
mình, lại nhớn nhác ngó quanh, sợ có ai nhìn thấy. Hồi lâu, bọn cung nữ mang
xiêm áo đến, có ý nhắc nàng đã tắm quá lâu. Nàng thẹn, phủ khăn lên vai mới từ
từ bước ra khỏi bồn tắm. Chúng lại xúm vào lau mình, liếc trộm đôi nhũ hoa đang
nở trên ngực và túm lông tơ bết lại bên dưới rốn. Đoạn, chúng giúp nàng mặc xống
áo, trang điểm, chải tóc.
Nàng cảm thấy đói. Ở nhà,
sau khi tắm suối về, nàng thường ăn một bát cháo hoa. Nàng kể thế, bọn cung nữ
hiểu ý, mang đến dâng nàng một bát yến. Nàng có ý chê ít, cứ như cho mèo ăn
không bằng. Bọn chúng bảo, sợ tức bụng và bấm nhau cười khúc khích. Nàng hiểu
ý, đỏ mặt lên vì ngượng, vừa nhấm nháp món ăn lạ miệng, vừa nghĩ mông lung…
Nàng mệt và lo sợ, ngủ
thiếp đi lúc nào không hay, chợt có tiếng hô ngân nga ngoài cửa, khiến nàng tỉnh
giấc:
– Hoàng thượng giá lâm!
Nàng lồm cồm vục dậy,
chưa kịp soi gương sửa tóc, thì Hoàng đế đã đường bệ bước vào. Bọn thị nữ vội
trải tấm khăn lụa trắng lên giữa giường, rồi lặng lẽ buông rèm, bước ra.
Bộ Lĩnh vén rèm, nhìn thấy
nàng run cầm cập ở góc giường, bèn mỉm cười độ lượng:
– Từ nay, ta và nàng
chung tình cốt nhục…
Câu nói của Hoàng đế phá
tan bầu không khí tịch mịch và khiến nàng trở nên bình tĩnh hơn. Hoàng đế ôm
nàng vào lòng, nói về danh phận cao quý của nàng và mong ước được hoàng tử… tai
nàng ù đi, chỉ nghe tiếng lùng bùng, chỉ nhìn thấy gương mặt lồng lộng. Hoàng đế
cởi xiêm áo, nàng bất giác thu hai tay lên che ngực. Hoàng đế cười cười. Nàng
chợt nhận ra hoàn cảnh. Hoàng đế bế bổng tấm thân kiều diễm của nàng, đặt lên
khăn trinh. Bọn con gái ở làng và mẹ nàng đã nói về chuyện này. Nàng bất giác
nhìn tấm khăn và cảm thấy xấu hổ, xen lẫn niềm tự hào, khiến khóe mắt ứa lệ.
Bọn con gái trong làng,
thường được các chị có chồng kể chuyện rằng, đàn ông ngoài bốn mươi thì cái
“khoản ấy” yếu di. Thế mà Hoàng đế bốn mươi lắm vẫn khỏe tợn. Vua có khác, nàng
nghĩ vậy và cười một mình. Hoàng đế gấp ba tuổi mình, khi mình thành gái ba
mươi, toan về già, thì Hoàng đế cũng đã ngót bảy mươi- ông lão… Nàng bất giác
thở dài, rồi tự trách mình vô duyên. May mà ý nghĩ, nên không ai nhìn thấy,
không ai nghe thấy, không ai sờ thấy, chứ không thì xấu hổ chết đi được…
Đêm ấy, nàng được Hoàng đế
ban ân sủng. Sáng dậy, nàng thả mấy hạt ngọc vào bình, rồi cất đi.
4.
Đêm đêm, nghe tiếng cuốc
vọng vào hoàng cung, Dương Hoàng hậu nghĩ bụng, thế là đã sang hè. Có khi, ta
xin Hoàng đế về thăm nhà. Ta sẽ đi thuyền rồng đến Bến Đế, rồi ngồi kiệu bát cống
về làng. Sau cuộc mặn nồng, Dương hậu ngỏ ý như vậy, Hoàng đế chuẩn tấu liền.
Dương Hoàng hậu cùng đoàn
tùy tùng lên thuyền rồng từ Bến Đền, bơi trên sông Sào Khê, ra sông Hoàng Long
ngược nước. Trên thuyền, đàn sáo vang lừng, khiến dân chúng đổ xô ra các bến
sông nghênh đón, thật là sang trọng tót vời. Một ngày tựa mạn thuyền rồng, đàn
bà con gái chỉ cần ước ao ngần ấy. Nhưng ta, cả đời tựa mạn thuyền rồng. Thuyền
rồng chỉ dành cho vua, thế mà ta được yêu chiều đến độ… Dương Hoàng hậu ngẫm thấy
tự hào, hãnh diện với làng xóm láng giềng. Bọn bạn gái sẽ chết mê chết mệt cho
mà xem. Trên vua, dưới ta. Vua mang tiếng từng có bốn hoàng hậu rồi, nhưng người
thì già, kẻ khuất núi, đến ta thứ năm trẻ, đẹp nhất cả kinh thành. Khi xưa,
nhác thấy quan quân Cờ Lau là đám con gái hồn vía lên mây, sợ không may là nát
một dời hoa với lũ trẻ trâu ấy. Thế mà hôm nay, chúng một điều thưa hoàng hậu,
hai điều lạy hoàng hậu. Đến như Đinh Liễn, con trưởng của Hoàngđế, cũng y một
phép. Đinh Liễn hơn Lê Hoàn một tuổi, cùng là dưới trướng Hoàng đế cả. Nhưng
sao mà quan, quân, dân chúng sợ vua đến thế nhỉ? Một lời vua ban là rạ ran tuân
chỉ. Còn ta thì ôm cả vua mà quật quã, quần thảo. Ban đầu cũng sợ tội phạm thượng,
ai dè, vua lại tỏ ra thích thú, thế là…
***
Về làng, Dương Hoàng hậu
ra lệnh cho các thôn nữ mười sáu tuổi, cùng trà lứa với mình, ban đêm, đến nhà
Dương tướng quân, vui dạ hội, nhưng tất cả phải đội khăn chùm đầu.
Đêm ấy, cả làng nhộn nhịp.
Các cô sơn nữ đến cổng là phải đội khăn chùm kín đầu, bọn cung nữ đón tay dẫn
vào sân. Dưới ánh đuốc gỗ thông sáng rực, đám Phạm Thị Trân lại diễn xướng tích
“Cờ lau tập trận”. Tiếng trống thì thùng điểm nhịp hoài thanh. Mỗi câu diễn là
một khẩu hiệu, cố vũ toàn quân giết giặc. Đến đoạn Bộ Lĩnh lên ngôi, thì Dương
Hoàng hậu xuất hiện, tiếng tung hô: “Hoàng hậu thiên tuế” vang lên rầm rầm. Bọn
sơn nữ lúc này được phép gỡ khăn, cùng trầm trồ cả lên ngắm dung nhan Dương
Hoàng hậu. Cô bạn cắt cỏ hôm qua, nay đã lộng lẫy, kiêu sa một bà hoàng. Cô nào
cũng xuýt xoa khen ngợi, pha lẫn thèm muốn và ghen tỵ.
Bất chợt, mùi hoa thơm
man mác tỏa hương. Cả bọn sững sờ nhìn lên bầu trời, thấy ánh trăng bạc bồng bềnh
trôi giữa làn mây trắng, nom đẹp như gương mặt Dương Hoàng hậu. Ngó sang bên tường
rào đá, thấy mấy khóm hoa quỳnh đang hé nở. Những cánh hoa như đang run rẩy dưới
ánh trăng và đèn đuốc. Mùi hương thơm dìu dịu lan tỏa, thu hút tâm can, khiến mọi
người bàn tán xôn xao.
Nhìn thấy đám diễn xướng
và bọn sơn nữ tự dưng phân tâm, bởi hương hoa đêm, mà bỏ quên mất mình, Dương
Hoàng hậu bực tức, quát to:
– Hoa gì mà thơm và quyến
rũ hơn cả ta, thế hử?
– Bẩm Hoàng hậu, vẫn là
giống hoa quỳnh khi xưa, – viên Quản động Thung Lau vội thưa.
– Sao bỗng dưng nó dám
phá cuộc chơi của ta? – Dương Hoàng hậu vẫn không kìm nổi cơn tức giận, bất đồ
dâng lên cuồn cuộn trong lòng.
– Bẩm, từ xưa đến nay,
hoa quỳnh vẫn thế, – viên Quản động vẫn nhẫn nại. – Cả thung này, toàn những
hoa quỳnh là hoa quỳnh, đến thì lại nở như xưa. Nay đón Hoàng hậu thăm quê,
chúng nở sớm hơn và thơm hơn đấy ạ.
Biết viên Quản động nói
kháy, Dương Hoàng hậu quát to:
– Lính đâu? Nhổ hết đám
huê tặc này cho ta! Ngay và mau!
Dân làng lè lưỡi sợ hãi,
bấm nhau. Tại sao, một cô gái nết na xinh đẹp hôm xưa của núi rừng, thế mà một
bước lên ngôi, bỗng dưng lại trái tính trái nết thế vầy? Bọn lính vội chia nhau
lên rừng đốt đuốc nhổ hoa, chất thành đống, rồi xếp củi đốt. Lửa cháy, những
cánh hoa tức tưởi cháy trong đêm. Buổi dạ tiệc tàn nhanh như đám mây trên trời.
Đang đêm, Dương Hoàng hậu tức tốc ra lệnh hồi cung. Trước khi lên kiệu, Dương
Hoàng hậu còn xuống lệnh cấm dân làng, từ nay không được trồng hoa quỳnh nữa.
Dân làng sợ hãi, từ biệt hoa quỳnh, đến các giống hoa nở về đêm, như hoa bàu,
hoa bìm cũng bị tiệt giống, đề phòng hậu họa.
Việc Dương Hoàng hậu ghen
hoa tức nguyệt, quan quân không một ai dám tâu với Hoàng đế, nhưng bọn Lưu Cơ
thì biết. Chúng biết cả, nhưng không dám nói, chỉ nghĩ thầm, người đâu mà ghen
cả với hoa, ghen đến mức hủy diệt cả một loài hoa, thì từ xưa chưa thấy bao giờ.
Chỉ e, cái tính tàn bạo của Hoàng thượng đang đắc chí, lại kết hợp với thói
ngông cuồng của Hoàng hậu trẻ con, thì có ngày sẽ phá nát cơ nghiệp nhà Đinh.
Thời hôn quân bạo chúa, thì kẻ sĩ không có chỗ dung thân. Lưu Cơ nghĩ phận
mình, nghĩ đến Hoàng đế và anh em Tứ trụ, một thời nổi đình nổi đám đánh trống
múa giáo, liệu còn trường tồn như khẩu hiệu tung hô “vạn tuế” nữa hay không?

Chương sáu
Nam Việt Vương Đinh Liễn
1.
Một ngày đẹp trời, nắng
trong, gió mát, mưa lất phất vài hạt, tướng quân Đinh Điền cảm thấy trong lòng
thư thái, bèn vào hoàng cung, bàn việc với Hoàng đế:
– Ấy như năm ngoái, Hoàng
thượng đăng quang, năm nay lại cưới thêm Hoàng hậu nữa. Thực là toàn chuyện
vui mừng hỉ hả…
Hoàng đế lấy làm lạ về
cung cách của Điền, bèn hỏi lại:
– Có chuyện gì mà hoàng
huynh cứ như chèo thuyền quanh co, lại không chịu cập bến vậy?
Điền cả cười:
– Thì cái lễ nghĩa triều
đình, nó bắt phải khuôn phép thế, chứ thực tình là tôi muốn bàn với chú, chuyện
thằng Liễn.
– Nó làm sao? – Hoàng đế
giật mình, nhao người sang phía Điền, hỏi giật giọng.
– Nó đường đường là Hoàng
tử, sao không lập Thái tử? – Điền thẳng ruột ngựa, hỏi, – trật nó thì còn ai nữa,
mà chú gùn gắng?
– Thì tôi cũng đã nghĩ
nát óc, – Hoàng đế thanh minh. – Nhưng các tướng sĩ khó nhọc gấp mấy, mới nên
cơ đồ, lại chưa nói gì đến chức tước phẩm trật. Bởi vậy, nên chuyện thằng này
cũng chưa vội gì. Cơm không ăn, gạo còn đấy!
– Lập nó làm Đông cung
thái tử, chẳng tiện sao? – Điền nói áp sát, – đấy là cái chỗ kế ngôi vị của cho
chú mai này. Ngõ hầu, cũng là để đông đàn dài lũ họ Đinh nhà ta.
– Hay là, anh em ta, gọi
bọn Bặc, Tú, Cơ đến cùng bàn, – Hoàng đế vẫn gùn gắng, hoãn binh.
Điền cực chẳng đã, đành
thuận theo. Một lúc, bọn chúng lục tục kéo vào hoàng cung. Hoàng đế mới nói lại
câu chuyện như thế. Cả bọn lại hùa theo ý của Điền, nhưng Hoàng đế vẫn chần chừ.
Lưu Cơ thấy vậy, bèn trịnh trọng nói:
– Tâu bệ hạ, hay là phong
vương cho Liễn?
– Ừ, phải! – Hoàng đế mừng
rỡ. – Nam Việt Vương Đinh Liễn, – Hoàng đế thốt lên, thay chiếu chỉ.
Nghe vậy, cả bọn đành thuận
theo, chỉ có Điền vẫn chưa ngã ngũ, lẩm bẩm:
– Bảo lập Thái thử, lại
đi phong vương. Có mỗi mụn con giai chứ mấy?
– À, mà còn chuyện này, –
Bộ Lĩnh sực nhớ. – Hôm nọ, Đỗ Thích có bảo tôi, nên làm cái lăng ở núi Kỳ Lân,
nơi phát tích ấy mà.
– Nó là cái thá gì mà dám
lạm bàn chuyện lớn? – Điền đang bực sẵn trong lòng, nghe Hoàng đế nhắc đến
Thích, bèn nói như quát.
– Thế thì bây giờ ta bàn.
– Hoàng đế có ý bênh Thích, – mà nó có nói điều xằng bậy đâu?
– Nghĩ cũng phải, – Bặc
nói. – Tính thế là phải, – việc này không chỉ của Hoàng đế, mà còn của cả triều
đình. Ví bằng Hoàng đế khó nói, thì theo tôi, bảo Lưu Cơ xem ngày tháng tốt
lành trình lên. Anh Tú quen việc thành quách, làm luôn. – Đoạn, quay sang Hoàng
đế, cung kính nói, – tôi nói vậy được không? Bởi, tôi coi việc nhà bạn hữu cũng
như việc nhà mình, nên mới nói thế, chứ đạo vua tôi thì không dám, lại bảo rế
cao hơn nồi, phạm thượng.
– Ông với tôi như hai
cánh tay, – Hoàng đế cảm động nói, – có chi mà câu nệ quá thế. Lúc nào cũng
Hoàng thượng với lại Hoàng đế, nghe cách bức quá. Giá cứ như lúc ở Thung Lau, lại
hóa hay…
– Việc này hệ trọng. – Cơ
nói, – để tôi với bác Tú tính toán cụ thể, rồi trình lên.
2.
Bọn Phạm Phòng Át, Ngô Nhật
Khánh thấy Đinh Liễn chỉ được phong vương, chứ không phải thái tử, cũng lấy làm
lạ, bàn vụng với nhau:
– Thằng Liễn mà không được
phong Thái tử là nghĩa làm sao? – Khánh hỏi.
– Chậc, – Hổ đáp. – Cơm
không ăn thì gạo còn đấy. Chẳng vào tay nó thì vào tay ai? Các bà hoàng hậu
kia, đều sinh con gái một lượt. Còn bà trẻ thì chưa thấy gì.
– Hay là, ông ấy có ý chờ?
– Khánh buột miệng, – đàn bà năm mươi, còn đẻ được không?
Nghe Khánh ngây thơ hỏi vậy,
cả hai cùng nghĩ đến Ngô bà. Hổ mỉm cười tinh quái, làm cho Khánh xấu hổ, đỏ cả
mặt.
– Tôi hỏi là hỏi vậy
thôi, – Khánh chữa thẹn.
– Đàn bà còn hành kinh là
còn đẻ được. Ngô Hoàng hậu vẫn còn nhuận sắc lắm, – Hổ nói. – Nhưng nghe nói,
thời nhà Hán, các cung phi phải hối lộ thái giám, mới đến lượt hầu vua cơ đấy.
Nghe vậy, Khánh càng đỏ mặt
tía tai, chỉ còn biết cười trừ mà thôi.
Từ khi được Đinh Bộ lĩnh
lấy làm vợ, rồi lập hoàng hậu, đã bấy năm mà chưa sinh hạ cho nhà Đinh một mụn
con nào, khiến Ngô bà cũng cảm thấy sốt ruột. Nhưng đây là chuyện của trời. Trời
cho ai thì mát mặt người ấy, nên không ai dám cả gan đi giục giã nhà trời bao
giờ, chỉ có lòng thành cầu khẩn mà thôi.
Từ khi Hoàng đế lấy con
bé họ Dương ấy, thì hầu như quên hẳn các bà và đám cung phi. Suốt ngày đêm, chỉ
vui vầy với nó. Con ranh, mày cũng đáo để đào đê chứ chẳng chơi. Đến như hoa quỳnh
mà còn ghen đến thế, huống chi người. Chỉ sợ, nó được Hoàng đế đêm ngày đầu gối
tay ấp, lại buông lời dèm pha thì khốn. Dù sao, mình cũng có tuổi rồi, chứ còn
thời vàng son như nó bây giờ, thì chưa biết mèo nào cắn mỉu nào?
Xem chừng, thằng Khánh muốn
có em giai nữa, để củng cố vị thế, chứ cảnh chân nâng thế này, không may sinh
biến, thì chẳng biết bấu víu vào đâu. Hoàng đế lấy mình, chẳng qua là để thu phục
thằng Khánh. Mình mà có con giai với Hoàng đế, thì thằng khánh nhảy quớ lên cho
mà xem? Làm sao mà với bố nó, mình cứ đẻ sòn sòn, bước qua đầu giường cũng chửa,
thế mà đến lão mục đồng này, mãi vẫn chẳng thấy gì? Có lẽ, phải bảo thái y cắt
cho chén thuốc xem sao? Chứ giồi phấn thoa son mãi cũng chẳng nước non gì…
3.
Từ ngày được phong làm
Nam Việt Vương, Liễn mừng, nhưng cũng có ý không vui. Mừng, vì đã thành vua xứ
Nam, dưới Hoàng đế, trên trăm quan; nhưng buồn, vì chưa được lập thái tử, tức
là chưa có cơ nối ngôi hoàng đế.
Mười bốn năm trời, cả thời
tuổi trẻ, ta phải đi làm con tin, để cho cha rảnh tay dựng cơ nghiệp, mới có
ngày hôm nay. Rồi chính ta đi châu Ái, tuyển mộ mấy ngàn binh mã. Nhưng mấy
ngày ấy cũng chưa sánh được với việc thu phục Lê Hoàn. Một tướng tài, bằng cả
trăm vạn quân ấy chứ. Rồi ta đánh Cổ Loa, làm cho triều Ngô chạy bán sới, thì mới
có Hoa Lư ở nơi đây… Thế mà, không hiểu tại làm sao, mà cha ta gùn gắng mãi?
Bây giờ, hoàng hậu nào mà sinh ra con giai nữa là ta bấp bênh, tựa thuyền gặp
sóng cả, khó cập bến bờ. Vua cha có gì không ưa ta? Khi xưa, bọn Văn, Ngập treo
ta lên cành cây, thách quân Yên Thành bắn ra. Thế mà cha ta cứ hạ lệnh bắn, may
mà không thọ tiễn. Nếu cha thương con, thì còn dâng thành bãi binh để cứu giọt
máu của mình ấy chứ? Về sau, bác Bặc bảo, lệnh vờ thôi, để làm nản lòng bọn Cổ
Loa ấy mà. Bác Bặc đã nói thế thì tin được, nhưng nếu vừa rồi, ta được phong
thái tử, thì chẳng ngờ làm gì. Chính lúc đó, ta nghe cha khảng khái hô to: “Đại
trượng phu chỉ mong lập được công danh, há lại bắt chước thói đàn bà xót con
hay sao?” Đang lơ lửng trên cây, ta nghe mà ù cả tai, chỉ còn thấy những mũi
tên cắm phầm phập vào cành cây quanh mình. Về sau mới biết, là tên của bác Điền,
bác Bặc bắn dọa. Hai bác ấy, bắn bách phát bách trúng, nên chừa mình ra cũng chẳng
khó khăn gì. Nhưng, ôi giời, không may một mũi tên lạc lao vào, thì cũng rồi đời.
Năm nay là Kỷ Tỵ (969),
ta lại được phong vương vào tháng năm nhuận thế vầy, liệu có bề gì không? Bên
nhà Tống đã là năm Tống Khai bảo thứ hai rồi, sao cha ta chưa đặt niên hiệu,
chưa phong chức tước cho các quan, cái gì cũng trù trừ là cớ làm sao?
4.
Thị sát núi Kỳ Lân, chuẩn
bị cho việc dựng lăng phát tích nhà Đinh, Hoàng đế dẫn bọn cận thần, tâm phúc
đi quanh chân núi.
– Dễ chừng ngày xưa, bể
ăn vào tận đây? – Hoàng đế chỉ vết hõm thắt cổ bồng quanh chân núi, lấy làm đắc
ý với sự khám phá, nói.
– Bẩm, cũng giống như hòn
Non Nước, ngoài cửa sông Đáy vậy, – Cơ tán theo, – hẳn là nước bể mặn, gió lớn,
sóng cả vỗ mạnh lâu đời mà thành, khiến quả núi khác nào mâm xôi của nhà giời
ban tặng.
– Nước chảy đá mòn, – Đỗ
Thích cũng đế theo.
– Núi này, là nơi phát
tích nhà Đinh ta, – Hoàng đế ngửa mặt nhìn trời, ngắm núi, – ta nhớ công lao
trăm tướng vạn lính đã vì công nghiệp của ta mà bỏ mạng nơi sa tràng. Đỗ Chi hậu
có công cứu giá. Vậy, ta truyền đặt tên ngọn núi mé sau là Núi Đỗ Thích.
Thích vội quỳ sụp xuống lậy
ta. Các tướng lặng lẽ đưa mắt nhìn nhau, không nói câu nào.
Nhằm ngày lành tháng tốt,
Hoàng đế cho người đi châu Ái bốc hài cốt bố là Thứ sử Đinh Công Trứ; lại sai một
bọn sang kẻ Bo đưa hài cốt mẹ là Đàm Thị Diễn, về cùng an táng ở núi Kỳ Lân(2).
Bọn Tú tìm mua được hai
chiếc bình quý, có từ thời Đường để chứa hài cốt, đặt vào huyệt Cát thiên, gọi
là song mộ. Bên trên, sai lính chuyển tảng đá to như chiếc chiếu đại, mỗi chiều
rộng bảy thước rưỡi, lại bày đặt nhiều thú quý tạc bằng đá để trấn yểm, rồi mới
lấp đất lên. Trên nền ấy dựng bia. Bia đặt trong lăng. Tính từ huyệt song mộ
lên đến mặt nền bia lăng, lấp dày một trượng.
– Muôn đời không lay chuyển
nổi, – Tú xoa tay ngắm công trình, mãn nguyện nói.
– Từ đây, xuống đến chân
núi, dễ chừng sáu, bảy trượng, – Hoàng đế lấy làm hài lòng, ức đoán.
– Đúng ra là bảy trượng,
có tính toán cả, ông Cơ nhỉ? – Tú quay sang Cơ nói.
– Phải, sở dĩ gọi là huyệt
Cát thiên, bởi cả quả núi này cũng được coi là lăng mộ. – Cơ khoát tay, nói, –
Kỳ Lân Sơn quay đầu về đằng đông. Đứng dưới ruộng, nhìn từ đông nam, lăng như
ngồi giữa ngai vàng…
– Thở hàn vi, ta vẫn ngồi
chỗ này mà. – Hoàng đế hỉ hả, đoạn quay sang Bặc, hỏi, – phải không ông Bặc?
– Thuở ấy, thần cũng nghĩ
là sẽ có ngày này, – Bặc lễ phép nói.
– Quả là người giời, xứng
danh Hoàng đế, – Thích nói câu phỉnh nịnh.
– Lăng được đặt huyệt đất
quý. – Cơ lại nói tiếp, – phương huyền vũ có núi Đỗ Thích.
– Tạ ơn Hoàng thượng! –
Thích lại quỳ lạy.
Bặc, Tú cùng nhìn thấy cảnh
ấy, mủm mỉm cười, quay đi.
– Phía bạch hổ có núi
Long, núi Hổ, gọi là long chầu hổ phục, – Cơ chỉ dải núi đá chạy bên cánh đồng,
say sưa nói.
– Này, ông Bặc? – Bộ Lĩnh
chợt hỏi. – Xem ra chỗ chân núi Hổ cũng đẹp, nên chọn làm
nơi phát tích họ Nguyễn
nhà ông.
Bặc cả sợ, vội quỳ xuống,
giập đầu kêu lên:
– Thần cả đời theo hầu
Hoàng thượng, dẫu có gan óc lầy đất cũng chưa thể báo đáp cho xuể, đâu dám phạm
thượng.
Hoàng đế vội cúi xuống đỡ
dậy, thì máu từ trán đã chảy đầm đìa mặt Bặc. Hoàng đế vội lấy tay áo lau sạch.
Các tướng nhìn thấy, ai cũng rưng rưng lệ, riêng Thích lại có vẻ ngượng ngùng.
– Có gì mà câu nệ quá thế?
– Hoàng đế ân cần nói, – ta với ông là bạn đồng tuế, đồng hương, lại cùng nằm
gai nếm mật, mới có ngày nay. Lúc khó khăn, hoạn nạn ta có nhau, thì hiển vinh
cùng hưởng, chẳng đúng đạo trời sao?
– Thần đã xem, chỗ ấy
cũng là huyệt quý, tướng quân chớ chối từ mà phụ lòng Hoàng thượng. – Cơ cũng
quay sang khuyên Bặc và chỉ tay nói, – kia thanh long là dãy đồi Độc Lập, như bầy
voi chầu về. Chu tước là núi Ngũ Nhạc năm ngọn. Đằng sau là sông Đại Hoàng, nhờ
phúc ấm trời đất mà được gọi Hoàng Long. Hoàng Long như quấn lấy chân núi Kỳ
Lân, mang địa khí bồi bổ cho Long huyệt.
Cả bọn nghe vậy, ai cũng
mừng thay.
Thích đốc thúc quân lính
bày hương án cho Bộ Lĩnh tế trời đất, khấn thần sông núi, vong linh song thân.
Vừa tế lễ xong, trời bỗng đổ trận mưa rào. Cơ hô lên như bắt được vàng:
– Cát tường!
Mưa ngợt, cầu vồng hiện
lên lộng lẫy trên nền trời. Cả bọn thực mục sở thị, cùng cúi đầu lậy tạ. Bất chợt,
một con dê ngũ sắc chạy từ núi Kỳ Lân, rồi lao xuống khe núi Đỗ Thích, cất tiếng
kêu thảm thiết. Lưu Cơ đốc thúc quân lính đi tìm, nhưng tịnh không thấy dấu vết,
nên ai cũng nghĩ mình bị hoa mắt mà thôi…
Hoàng đế ngồi kiệu rồng
ra sông Hoàng Long, rồi ngự thuyền rồng về Hoa Lư. Phạm Cự Lạng cắt đặt quân
lính trông coi lăng Kỳ Lân. Dân chúng các động kéo nhau về chiêm bái, hương
khói ngày đêm không dứt.
5.
Từ khi được giao trông
coi đám thị vệ, Phạm Cự Lạng thường bàn với Trịnh Tú, về việc sửa sang thành
quách, nhất là thành nội, để bảo vệ hoàng cung chu toàn. Tú bảo, việc xây cất,
tu sửa liên quan đến phong thủy, nên phải hỏi Lưu Cơ. Cơ lại nói, nhất nhất phải
theo ý Hoàng đế, chứ không tùy tiện được đâu. Thế là việc nọ dắt dây sang việc
kia, cuối cùng phải tâu lên Bộ Lĩnh để xin thánh chỉ, tựa hồ như cái sự lần tìm
giềng mối vậy.
Hoàng đế nghe các tướng
tâu bày, thấy đều có lý cả, bèn phán:
– Việc xây thành từ năm
Tân Hợi (951) đã đặt nền móng, đến nay, vị chi ngót hai chục năm rồi. Cánh ta
cũng mấy lần bàn bạc chuyện chỉnh trang. Vả lại, quân ta cũng từng công phá bao
nhiêu thành trì của địch, mới dựng nên công nghiệp. Vậy, chẳng qua là xem xét bổ
sung cho chu toàn mà thôi. Lưu tướng quân thử nói xem, các thành kia mạnh, yếu
chỗ nào. Cái hay thì học, cái dở thì bỏ, ngõ hầu dựng thành Hoa Lư lưu truyền vạn
đại.
Lưu Cơ bèn lấy địa đồ các
thành ra, tâu:
– Thành Cổ Loa là xưa nhất,
khi công thành, Nam Việt Vương đã tâu bày tỷ mỷ rồi, nay chỉ trưng lên để Hoàng
thượng ngự lãm, cùng các tướng coi lại mà thôi.
Cả bọn trầm trồ khen
thành ốc thời An Dương Vương, ba lớp thành ứng vào Hoa Lư cũng hợp. Cơ lại treo
bản đồ thành Đại La, cầm cái tay tre như cần câu, vừa chỉ vừa nói:
– Đây là thành Đại La, thủ
phủ Giao Châu. Cao Biền dựng từ thời Đường (năm 864).
– “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy
non”, – Hoàng đế nói câu ca, vẻ diễu cợt.
– Phải, chính ông ta là bồ
thủy cao tay, chuyên yểm huyệt phát vương xứ Nam. – Quay lại bản đồ vẽ trên tấm
da dê, Cơ nói, – Đại La có chu vi hơn một nghìn chín trăm tám mươi trượng, cao
hai trượng sáu thước, xung quanh có năm lâu môn, năm mươi nhăm địch lâu, sáu
úng môn; trong thành có ba ngòi nước, ba mươi tư con đường, năm nghìn gian nhà…
– Ghê nhề! – Tú buột mồm
kêu lên.
– Lại còn đắp đê bao
quanh hơn hai nghìn trượng, cao một trượng năm thước.
– Kỳ vĩ! – đến lượt Hoàng
đế thốt lên.
Cơ lại treo bản đồ thành
Tam Giang của Kiều Công Hãn, thành Hồi Hồ của Kiều Công Thuận, thành Mè của Ma
Xuân Trường, thành Cổ Hiền của Đỗ cảnh Thạc, thành Tây Phù Liệt của Nguyễn
Siêu, thành Tam Đái của Nguyễn Khoan, thành Tiên Du của Nguyễn Thủ Tiệp, thành
Siêu Loại của Lý Khuê, thành Tế Giang của Lã Đường, thành Bình Kiều của Ngô
Xương Xí…
Cả bọn nhìn khắp lượt địa
đồ các thành, nhớ lại một thời binh đao hào hùng, xôn xao bàn tán. Bộ Lĩnh bảo:
– Vậy, thành Hoa Lư cần
tu bổ gì nào, ông Tú?
Trịnh Tú chọn lấy hai tấm
bản đồ da dê về Cổ Loa và Hoa Lư treo lên để thuyết trình:
– Có gì ngắc ngứ, thì ông
Cơ nói đỡ cho một câu nhá?
Nghe Tú thật thà nói vậy,
cả bọn lại cười ầm lên.
– Hoàng thượng đã tin cẩn,
giao cho ông khó nhọc bao nhiêu năm trường, thành còn thuộc hơn nhà mình ấy chứ,
– Cơ nói câu động viên Tú.
Cả bọn lại cười, rất chi
là vui vẻ.
– Hoa Lư ta vận theo kiểu
thành Cổ Loa. Địa thế ta hẹp, nhưng lại dựa vào núi đá, nên vững hơn bội phần,
– Tú vừa chỉ cả hai tấm bản đồ, vừa nói.
– Thế thì ta mới tạo ba lớp
thành như thế. Nhưng đúng là ta hơn cái anh kia là ở như núi, còn sông quanh
thành thì cũng từa tựa như nhau, nhề? – Hoàng đế vẻ tâm đắc.
– Bẩm, phải! – Tú rê ngón
tay lướt trên tấm da dê mà nói, – thành Hoa Lư có ba mặt đông, tây, nam đều được
sông núi bao bọc, khác gì lũy cao thành đá. Phía bắc, đông bắc tuy ít núi,
nhưng lại có sông Hoàng Long, Sào Khê vây quanh như thể hào ngoài. Kẻ địch
tấn công phải dùng thuyền bè, như cái đận Hậu Ngô năm Tân Hợi (951).
Nghe nhắc đến đận ấy, cả
bọn đều nén tiếng thở dài, cúi mặt không dám nhìn nhau.
– Đấy là chưa kể xung
quanh có sông Lạng, sông Bôi, sông Vạc, sông Đáy, – Tú vẫn thao thao bất tuyệt.
– Ba bề bốn bên sông ngòi đổ ra cửa bể Non Nước, Thần Phù, – Tú khoát tay một
vòng, để hoàng thượng và các tướng thấy địa thế kinh đô, nằm trong tổng thể đất
nước.
– Mấy cái cửa bể kia phải
phòng thủ cho chắc. – Hoàng đế nói, – phải để mắt tới bọn Bắc Tống và Chiêm
Thành mới được. Nhưng biết thế thôi, nói gọn vào Hoa Lư xem nào?
Tú cuống lên, đưa mắt cầu
cứu Lưu Cơ. Cơ bảo:
– Ý Hoàng thượng muốn xem
thành quách, công trình phòng thủ ra sao mà thôi. Phải không ông Lạng?
– Phải, phải! – Lạng hồ hởi,
– ý tôi cũng muốn cụ thể để cắt đặt quân lính canh gác cho chu toàn các trọng
điểm, nhưng con mắt hạt đậu của hạ thần, không bao quát nổi, mới phiền đến
Hoàng thượng và các tướng chỉ giáo cho luôn thể.
– Tưởng gì? – Tú cười hồn
nhiên, chọc tay chỉ và thành Hoa Lư, – chu vi xung quanh, cả núi lẫn tường mới
xây của kinh đô ta là hơn hai nghìn bốn trăm trượng, còn hơn cả Đại La. Đại La
dùng sức người, còn ta được trời đất giúp.
Cả bọn lại cùng cười hể hả.
– Ta có mười ba đoạn
thành xây đắp bằng gạch đá, nối liền các núi với nhau. Thành Đông là đây, còn gọi
Thành Ngoại, thuộc hai làng Yên Thành, Yên Thượng, là chỗ ông Lạng cần để tâm
nhất. Thành này có năm đoạn tường thành nối các núi, tạo thành một vòng khép
kín. Đoạn từ núi Đầm nối sang núi Thanh Lâu, dài tám mươi trượng. Đoạn từ Thanh
Lâu sang núi Cột Cờ ngót sáu chục trượng. Đoạn từ núi Cột Cờ sang núi Chẽ là bảy
mươi lăm trượng. Từ núi Chẽ đến núi Chợ, cũng dài ngần ấy. Còn từ Mã Yên sang
hang Quàn dài năm mươi trượng.
– Nghe lắm số má, lổn nhổn
như ăn cơm gạo lật, phiên phiến đi thôi, – Điền gãi đầu gãi tai, vẻ sốt ruột.
Các tướng cười ầm lên.
Hoàng đế thấy vậy, bảo:
– Nghe Hoàng huynh dạy
cũng phải, tóm lại như búi tó thôi.
Tú lĩnh ý, bèn nói gọn lại:
– Thành Tây cũng rộng như
Thành Đông, thuộc làng Chi Phong, cũng có năm đoạn. Đây, từ Hàm Sá đến Cánh
Hàn, từ Cánh Hàn đến núi Hang Tó, đoạn núi Quèn Dót sang núi Mồng Mang gọi là
tường Bồ, từ Mồng Mang sang núi Cổ Giải gọi là tường Bìm, còn đoạn này đắp
ngang thành trong. Khu kia là Thành Nam, rộng gấp mấy, nằm phía này, đằng nam…
Hoàng đế vươn vai, đấm
lưng, các tướng ý tứ nhìn nhau, tủm tỉm cười.
– Quân tuần phòng phải đi
trên thành, rồi lại phải đóng trên núi, – Lạng chú mục dõi theo Tú, hỏi lại.
– Tha hồ, mặt thành rộng
bảy thước, voi đi cũng được ấy chứ, – Tú cười nói. – Nhưng nhớ là có hai đoạn đắp
trên núi, còn hơn chục đoạn đắp trên nền đất lầy đấy nhá.
– À, cái này thì ta biết,
– Hoàng đế che miệng ngáp. – Ông Tú làm cẩn thận lắm đấy, nói dọa ông Lạng vậy
thôi. Thành cao năm trượng, nhưng móng đã sâu năm thước rồi. Chỗ Ngòi Chẹm, thì
móng lát gỗ bè cơ mà.
Tú nghe vậy như nở từng
khúc ruột, nói:
– Cộng cả thảy, những sáu
trăm trượng tường mới xây đắp đấy.
– Lúc ấy, cánh ta đang
bên kẻ Bo, làm sao Hoàng thượng biết móng bè với móng mảng ở đây? – Điền hỏi độp
một câu.
Các tướng sợ hãi nhìn hai
anh em nhà vua, mà lo thay cho ông anh nuôi. May có Đỗ Thích lại “cứu giá” lần
nữa:
– Thế mới gọi là Hoàng đế.
Hoàng đế thì cái gì dưới gầm trời này mà chẳng biết?
Nghe vậy, ai nấy thở
phào. Hoàng đế lái vào chuyện bảo vệ thành quách, bèn nhìn Lạng, ân cần nói:
– Phàm cái gì không nhìn
tận mắt, nhưng tai nghe lời kẻ tâm phúc, thì cũng tương tự. Có khi, nhìn thấy
mà cứ tưởng đã thấy, cũng chưa hẳn là phải. – Hoàng đế đưa mắt nhìn các tướng,
có ý gợi chuyện, – khi xưa, ta nghe thầy học kể rằng, thuở hàn vi, Khổng Tử
cùng các học trò đi thuyết lý, một bận qua làng nọ xin được đấu gạo, bèn nhờ bếp
nổi lửa. Khổng Tử nằm trên nhà nhìn xuống bếp, thấy học trò mở nồi, bốc ăn. Khổng
Tử có ý bực, chờ đến bữa mới bảo, ta xa mẹ đã lâu, nay có bát cơm muốn dâng
cúng. Anh học trò vội nói, khi nãy, mở vung không may bị bồ hóng rơi vào, con
đã bốc hết phần nhơ mà ăn rồi, nay xin thầy trừ đi cho. Không Tử giật mình,
nghĩ bụng, không phải cứ nhìn tận mắt mà đã đúng đâu!
Nghe vậy, các tướng ồ
lên, vẻ thán phục sự sâu sắc của Hoàng đế.
– Tướng Lạng phải để mắt
tới hang Bìm là kho vũ khí, hang Trấu, với hang Chùa ở Trung Trữ, rồi thì làng
La Mai là những nơi tích trữ lương, thảo, – Hoàng đế lại nói..
– Bẩm, thần đã cắt đặt
canh gác nghiêm cẩn. Nhưng chú tâm vẫn là thành nội, hoàng cung… – Lạng chắp
tay tâu trình.
– Ngục thất cũng phải
canh chừng, không được lơ là những chỗ đặt vạc dầu, chuồng hổ, ao giải.
– Bẩm Hoàng thượng! – Lưu
Cơ vội nói, – còn các nơi Thư nhi xã, Khố nhi xã là chỗ kho tàng tập trung,
quân doanh, nhà cửa các tướng, rồi cổng thành phải nghiêm. Vừa rồi có sự náo động,
cần chấn chỉnh.
– Phải, phải! – Hoàng đế
cười cười, – kho tiền ở Chi Phong, bị trộm là mất tiêu, hang muối ở Ghềnh Tháp
bị ướt là ăn nhạt. Phàm cái gì trong tay ông Lạng cũng quan trọng, kể cả ta nữa
đấy! – Hoàng đế lại cười, nói câu bỗ bã.
– Thần tuân chỉ! – Lạng sợ
hãi đập đầu xuống đất, Điền ngồi gần đó, nhanh tay đỡ dậy, – thần đã phối hợp
cùng các tướng trong, ngoài đặt các trạm gác ở Cửa Đông, Núi Đầm, Am Tiên, Ao
Giải, Áng Ngũ, Quèn Ổi, Quán Vinh, Dũng Đương Sơn, Côn Lĩnh, Đa Giá, Non Nước…
Bọn lính canh, khi động dụng vào ban ngày thì đánh trống, ban đêm thì đốt lửa
làm hiệu. Còn hoàng cung thì con kiến cũng không lọt. Đấy là cái chỗ đội mũ của
thần.
Thấy Lạng mẫn cán như vậy,
các tướng đều mừng. Hoàng đế đưa mắt nhìn Bặc, vẻ hài lòng, bởi đã chọn đúng
người.
– Còn việc hệ trọng, – Bặc
nói. – Phải luôn để mắt tới cột cờ, không được đổ, trục xe không được gãy.
– Phàm mấy thứ ấy, –
Hoàng đế nghiêm giọng nói, – cũ là thay ngay, phải xem như mũ áo hằng ngày. Kẻ
nào sơ suất, thì đã có vạc dầu, chuồng hổ, ao giải.
Cả bọn nghe vậy, ai nấy đều
sợ hãi một phép.
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
____________
(1)
nay thuộc xã Gia Thủy, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
(2)
nay thuộc thôn Hoài Lai, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Chương bảy
Niên hiệu Thái Bình, đúc
tiền Hưng bảo
1.
Một hôm, Đinh Điền lên thị
sát Thung Lau, Thung Lá, lúc trở về đến bến Long Độ thì gặp bọn Phạm Bạch Hổ,
Lưu Cơ cũng đi tham quan Tri Hối, Thần Thiệu cùng về qua đấy. Bạch Hổ nhìn dòng
nước xanh trong, chảy giữa đôi bờ núi đá, nói câu ngẫm ngợi của viên tướng từng
trải qua bao chiến trận:
– Nào ai biết được dưới
đáy sông kia, bao gươm chìm giáo gãy…
– Còn cả xương cốt binh
lính, với những ông trâu, bà ngựa đã bỏ mình vì công nghiệp của Hoàng đế, – Lưu
Cơ nói dừa theo.
Điền bước lên đò, còn
ngoái sang hỏi Cơ:
– Tại sao mà hiền đệ ta lại
chưa đặt niên hiệu nhỉ?
– Cái này cũng tùy, – Cơ
tìm kế hoãn binh và loay hoay ngồi xuống sạp thuyền.
– Thời anh em ta học thầy
châu Hoan, có nói là khi vua lên ngôi thì đặt niên hiệu luôn để đánh dấu mốc cơ
mà, – Điền ngồi lên cái thuyền, duỗi chân vẻ khoan khoái, nhưng trong lòng vẫn
chưa thông.
– Thì tướng quân cứ tâu
lên Hoàng đế phán xét, – Hổ ngồi cạnh, nói.
– Ta mà lên ngôi hôm trước,
hôm sau đặt niên hiệu ngay cho thiên hạ xem, – Điền bô bô như chốn không người.
Cơ và Hổ lè lưỡi kinh
hãi.
– Nhưng sao hôm nay, tướng
quân lại nghĩ đến chuyện này nhỉ? – Cơ thắc mắc, hỏi lại.
– Thì tại cái thằng Quản
động Thung Lau làm tờ tấu chương, bẩm báo về chuyện sở tại, nhưng không biết
ghi niên hiệu thế nào, chẳng lẽ lại lấy là Tống Khai bảo năm thứ ba à? Có mà
thiên hạ cười chết, – Điền được dịp, tuôn ra hàng tràng những điều ấm ách trong
lòng.
Con đò lặng lẽ đè sóng,
qua sông. Các tướng mỗi người theo đuổi một ý nghĩ.
Chẳng biết làm sao mà cái
chuyện ở bến đò, lại đến tai Đỗ Thích. Thích mách Hoàng đế. Hoàng đế bực quát
tháo, bọn này dễ chừng rế cao hơn nồi? Hổ nghe vậy, sợ hãi bảo là Điền nói. Điền
đến gặp Hoàng đế chìa bản tấu của Quản động Thung Lau ra. Hoàng đế hiểu ra cơ sợ,
mới hỏi Cơ xem nên thế nào? Cơ bảo, chưa rõ ý Hoàng đế ra sao? Cái kiểu loanh
qua loanh quanh làm Điền bực, quát:
– Đứa nào gièm pha, đánh
róc xác ra, kẻo loạn việc quân!
– Ấy chớ, – Hoàng đế có ý
bênh Thích, nên gạt đi, – thì cũng phải hỏi cho ra môn ra khoai thôi mà.
– Thế thì tiện thể, chú đặt
luôn cái niên hiệu cho xong, – Điền nói thẳng như ruột ngựa.
– Phải hỏi Lưu Cơ có chữ
nghĩa, chứ anh em mình cũng chỉ được nửa cái chữ chứ mấy? – Hoàng đế nói vẻ
khiêm nhường.
– Nửa chữ, gọi là một chữ
bẻ đôi, – Điền ra vẻ hiểu biết, lên mặt dạy đời.
Nghe vậy, Hoàng đế cười
ruồi, không nói.
*
Nhớ có lần, khi được
Hoàng đế hỏi về việc đặt niên hiệu, Lưu Cơ, bèn tâu:
– Khi xưa, nhà Tần sụp đổ,
Triệu Đà là một viên huyện lệnh người Việt, đã lãnh đạo dân Việt phía nam sông
Dương Tử(1), lập ra nước Nam Việt. Nam Việt diệt An Dương Vương, sáp
nhập Âu Lạc. Tức thì, văn hóa Hán được cơ hội tràn ngập xứ Nam, từ thuở ấy. Triệu
Đà xưng đế, gọi là Triệu Vũ Đế, hay còn gọi Nam Việt Vũ Vương, Nam Việt Vũ Đế.
Nam Việt lúc bấy giờ, phía bắc từ núi Nam Lĩnh(2), phía tây đến Dạ
Lang(3), phía đông đến Mân Việt(4), phía nam đến dãy
Hoành Sơn(5). Kinh đô Nam Việt đóng ở Phiên Ngung(6).
– Chuyện về Triệu Đà, ta
được thầy học, bảo là người huyện Chân Định, quận Hằng Sơn(7), đời Tần,
thọ những một trăm hai mươi tuổi. Triệu Đà thôn tính cả vùng rộng lớn, ví như
lá cờ đại; trong đó, xứ ta chỉ như cái tua mà thôi. Ông ta xưng đế, nhưng không
thấy nói đến niên hiệu, nên ta phân vân, chưa quyết.
Nghe vậy, Cơ buột miệng
“à” lên một tiếng, nghĩ bụng, thì ra, không phải Hoàng đế nông nổi, mà chỉ có
Đinh Điền là phổi bò.
– Có khi, ta cũng phải đặt
một cái niên hiệu cho chính danh, nhề? – Hoàng đế bảo, – nhưng nên là gì?
– Thần trộm nghĩ, – Cơ
tâu, – Hoàng thượng dẹp loạn bấy năm, đem lại cảnh thái bình thịnh trị cho muôn
dân bách tính, hay là, cứ lấy điều ấy mà đặt lại hợp cảnh hợp tình.
– Thái bình! – Hoàng đế
tươi nét cười, vung tay nói như phán.
Sử chép:
Vào năm Canh Ngọ (970), thời nhà Tống, năm Tống Khai bảo thứ ba, Hoàng đế Đại Cồ
Việt là Đinh Hoàn đã đặt niên hiệu Thái bình, năm thứ nhất.
2.
Dân chúng được hưởng thái
bình, gắng sức khai mương làm ruộng, đắp đường dựng cầu, nung gạch xây thành.
Trên mỗi viên gạch xây thành đắp lũy đều khắc chìm mấy chữ “Đại Việt quốc quân
thành chuyên”. Nghề làm gốm, sứ cũng học cách chế tác bát, chén, bình, nồi, lọ,
bình vôi, cho đến con giống, như lũ trâu, cóc rỗng ruột… Nặn xong thì phơi cho
khô, rồi đắp lò mà chất củi nung, cứ hễ nhìn thấy lửa khói trắng như tán hoa là
được. Chẳng bao lâu, sản vật dồi dào, thành quách vững chắc. Hoàng đế bèn nghĩ
đến chuyện đúc tiền. Thấy là việc hệ trọng, từ xưa chưa có bao giờ, nên phải
thiết triều, hỏi ý kiến các quan tướng.
– Đỗ Nội nhân có kê cho
trẫm một bản ghi các thời vua, từ Ngô Tiên Vương năm Kỷ Hợi (939), đến Giáp
Thìn (944); Dương Bình Vương từ năm Ất Tỵ (945), đến Canh Tuất (950); Nam Tấn
Vương và Thiên Sách Vương, từ năm Tân Hợi (951), đến năm Ất Sửu (965); thời Thập
nhị sứ quân từ năm Bính Dần (966), đến năm Mậu Thìn (968), nước loạn, không có
vua. Trong ngần ấy năm, có khi trước nữa cũng chưa có tiền, dân ta phải tiêu tiền
Hán, Đường. Đúng không, Lưu tiên sinh?
Nghe Hoàng đế trịnh trọng
hỏi, Cơ vội chắp tay cung kính tâu:
– Quan Chi hậu nội nhân
kê biên như thế là chưa đủ, còn thiếu trước, hụt sau.
Đỗ Thích nghe vậy, nhíu
mày, có vẻ bực tức, nói vóng lên mà không thưa gửi gì sất:
– Thiếu, hụt là thế nào?
– Thực ra, có khi quan
Chi hậu nội nhân quên, chứ không phải là không nhớ. – Cơ nói khéo, nghe có tiếng
các tướng khúc khích cười, – tỷ như, từ năm Mậu Thìn (968) đến nay là triều
Đinh Tiên Hoàng đế trường tồn.
Các quan ồ cả lên, khiến
Hoàng đế phải giơ tay làm hiệu mới im.
– Hơn ba nghìn năm trước,
nước ta có tên là Xích Quỷ, thời Kinh Dương Vương, – Cơ nói vanh vách như đọc
sách.
– Xích Quỷ, nghe ghê
răng…, – Thích đá ngang.
– Xích là sắc đỏ, lại chỉ
phương nam. Quỷ là sao Quỷ, một ngôi trong thập nhị bát tú. Vậy, Xích Quỷ nghĩa
là ngôi sao quý có sắc đỏ rực rỡ, thế là đẹp mà sang trọng. Kế đến là nước Văn
Lang thời Vua Hùng, Âu Lạc thuở An Dương Vương, rồi đến Nam Việt lúc Triệu Đà đến
xứ ta, đóng quân ở mạn Tiên Du. Rồi đến các thời Giao Chỉ, Lĩnh Nam, Giao Châu,
Vạn Xuân, An Nam, Trấn Nam, Tĩnh Hải Quân… với hàng nghìn năm Bắc thuộc. Tất thảy,
đều tiêu tiền ngoại cả. Nước ta, tịnh chưa đúc được đồng tiền nào.
– Nay nước yên, dân đã có
bát ăn bát để, nước Đại Cồ Việt phải sánh vai với Nam Hán, Bắc Tống, kinh đô
Hoa Lư cần so đo với Tràng An. Trong dân có thợ khéo, biết rèn sắt, đúc đồng,
kéo bạc, dát vàng… Vậy, chẳng nhẽ, không đúc được tiền sao? – Hoàng đế nghiêm
giọng hỏi.
Các tướng xôn xao bàn bạc.
Hồi lâu, Trịnh Tú đứng ra lãnh việc đúc tiền, nói:
– Đồng tốt ta có sẵn, thợ
khéo ta có nhiều, xin Hoàng thượng giao cho thần. Ví bằng hỏng việc lớn, thần
xin cúi đầu chịu tội,
– Thế thì còn gì bằng, –
Hoàng đế như cởi tấm lòng. – Trẫm cũng có ý như thế, hẳn Trịnh tướng quân đoán
được. Trẫm đặt tên là Thái bình hưng bảo.
Các tướng ồ lên tán thưởng.
Lưu Cơ đưa ra mẫu, cắt bằng
giấy phất nhiều lớp, to bằng hạt gấc, dày bằng sống gươm.
– Đồng tiền hình tròn, tượng
trưng cho bầu trời. Ở giữa có lỗ hình vuông, tượng trưng cho mặt đất. Trời tròn
đất vuông là cái sự vậy. Mặt phải in bốn chữ “Thái”, “bình”, “hưng”, “bảo”, mặt
trái in chữ “Đinh”. Đúc nét chữ nhỏ li ti như con kiến thế này, khó chứ không
phải bỡn đâu nhá!
– Xem chừng dày quá, tốn
đồng mà lại nặng túi, – Tú nói.
– Chỉ dày phân nửa là vừa,
– Bặc ngắm nghía đồng tiền mẫu, vẻ thích thú như chơ trò đánh đáo lỗ.
– Được, cứ làm thử, rồi lại
sửa. Thế nào dân ta cũng có tiền ta để tiêu dùng. – Hoàng đế phán, – đúc chữ
cho sắc nét quả là khó đấy. Nhưng cứ đúc vài ba loại to, nhỏ khác nhau, rồi thì
loại có chữ, loại trơn không có chữ cũng được.
– Không có chữ, mất
thiêng, tiền vua cơ mà! – Tú phân vân.
– Cứ theo ý chỉ Hoàng thượng,
đúc cả loại trơn cho trẻ con đánh đáo, – Điền xởi lởi nói.
Nghe vậy, các quan lại
cùng cười ồ cả lên.
4.
Dân phiêu tán thời loạn lạc,
nay yên hàn trở về lập làng mới, khai khẩn ruộng nương, cấy lúa, nuôi trâu, thả
dê, chăn tằm… Nông dân còn được cấp thêm ruộng đất, đến mùa thu hoạch thì nộp
thuế bằng thóc. Bọn tù binh, kẻ có tội phải đi canh điền ở Bố Hải Khẩu, Đỗ Động
làm ra thóc lúa nộp vào kho triều đình. Tất cả ruộng đất của các sứ quân đều bị
thu lại làm ruộng tịch điền của nhà vua. Bãi bỏ việc cấp ruộng cho người có
công trạng. Binh lính sau khi huấn luyện được cho về làm ruộng, khi việc quân cần
kíp mới gọi ra.
Một hôm, Hoàng đế bảo Lưu
Cơ:
– Trẫm muốn xuất hành một
chuyến, xem dân chúng sinh sống ra sao?
– Muôn tâu bệ hạ, có lẽ,
chẳng gì hay hơn là vi hành, – Cơ đắn đo nói.
– Vi hành? Hay, đúng ý trẫm,
nhưng đi đâu? – Hoàng đế gặng hỏi.
– Ra chợ phủ. Chả đi đâu
hay bằng ra chợ, – Cơ nói vẻ tự tin.
– Nhưng ai chẳng biết trẫm.
Cả gầm trời này, chỉ có trẫm là Hoàng đế, ló mặt ra là dân xúm đen xúm đỏ lại
ngay, còn vi hành nỗi gì? – Hoàng đế nói vẻ thất vọng.
– Bẩm, bệ hạ đóng giả như
dân thường, để thần lo cho, – Cơ sốt sắng.
Bọn thị vệ cũng đóng giả
dân thường, đứa lảng vảng đầu chợ, kẻ kèm bên Hoàng đế, phòng thích khách.
Chợ kinh thành họp dưới
chân núi Chợ, là nơi tiêu tiền Thái bình hưng bảo đầu tiên trong cả nước Đại Cồ
Việt. Chợ to, ven núi là nơi bán trâu và dê. Có tay nào đó nghịch ngợm, lấy bã
trầu bôi vào đít dê cái, khiến bọn dê đực khoái, tranh nhau nhảy liên hồi kỳ trận.
Các bà, các cô nom thấy thì ngượng, phải che nón rảo bước. Bên sông Sào Khê là
bến bán thuyền nan, thuyền thúng, tràng câu giăng, nơm, giậm. Giữa chợ là hàng
sáo bán gạo đong bằng thưng, bán thóc đong thúng khảo. Rộn ràng tiếng gõ loong
coong leng keng là quầy bán dao, cuốc, lưỡi cày chìa vôi bằng đồng, nồi đồng,
chã đất… Ai mua cũng giơ lên gõ thử, để xem lành hay rạn:
– Rạn hay sao ấy? – một
cô vừa ghé tai vào cái nồi đồng, vừa gõ nhẹ như bắt mạch, nghi hoặc hỏi.
– Rạn là rạn thế nào, có
cô rạn thì có. Tiếng trong thế vầy, – ông chủ quán đặt hẳn chôn nồi lên năm đầu
ngón tay và gõ cho cả chợ nghe.
– Phải gió cái nhà bác
này, ăn mới chả nói, – chê vậy, nhưng cô ta vẫn cởi khăn bao lưng, xỉa tiền ra
lòng bàn tay mà đếm. – Làm thân con gái thì phải biết chê chứ!
– Trông thế mà tròn căng,
mới ra phết, – ông chủ quán nói kiểu ỡm ờ.
– Phỉ phui cái mồm, tiền
vua Đinh mới ra đấy! – cô ta ấn mấy đồng tiền có chữ lần tiền trơn vào tay chủ
quán, rồi quầy quả rảo bước.
– Này, đừng có mà dại
gái, rồi mất cả chì lẫn chài. – Bạn bán hàng trêu, – xem lại có thiếu đồng tròn
nào không, hay chỉ được đồng méo?
Nghe vậy, kẻ mua người
bán cười ầm ĩ cả góc chợ. Bọn trẻ còn để trái đào, vừa bám váy sồi của mẹ, vừa
hếch mắt lên hóng chuyện, nên bị lôi xềnh xệch, như thể dắt chó lên dốc.
Kế đó là hàng của mấy bà
lão vừa bỏm bẻm nhai trầu, vừa bán cau đậu, trầu tấm, vỏ già, bình vôi. Xúm
quanh chỉ rặt các bà, các cô. Mấy chàng thư sinh mặt trắng cũng lượn lờ, nói
câu chòng ghẹo:
Cô kia ăn giầu dẩu môi
Ví bằng muốn lấy thân tôi
thì về
Nhà tôi sách giấy tứ bề…
– Sao không biết nói câu
“hưởng lộc bề bề”, phải biết ơn vua chứ? – Cô gái đang ăn trầu, dẩu môi nói.
Một cậu xướng lên:
Ơn vua anh dựng đồn điền
Đón nàng kháu gái như
tiên đi đồng… À quên, thăm đồng.
Mấy cô đấm lưng nhau, cười
ngặt nghẽo:
– Rõ là học trò, lanh trí
ra phết, nhưng mà hỗn lắm, – rồi cô ăn trầu dẩu môi, vóng lên:
Kẻng giai mấy cậu học trò
Nhìn thấy con bò lại bảo
rằng trâu.
Bọn học trò lại hùn nhau,
trổ tài:
Cưỡi trâu anh phất cờ lau
Cõng nàng chơi núi, kiếp
sau mới về.
Các cô lại bíu vào nhau,
cười nghiêng cười ngả.
Hoàng đế thấy vậy, bảo:
– Hẳn là bọn học trò
trong thành. Bọn này ăn nói luông tuồng. Hôm nay, không phải buổi vi hành thì
chết đòn…
Hàng tấm có bán tơ lụa,
váy sồi, yếm thắm. Ai đến cũng ướm thử, ngắm đi ngắm lại, nom đến sốt cả ruột.
Rồi thì hàng bánh đúc, riêu cua, bánh lá. Mấy ông đang ngồi bên chõng tre, nhâm
nhi nậm rượu với đĩa lòng lợn, bát tiết canh. Suýt nữa thì Hoàng đế ghé vào,
may bọn Phạm Cự Lạng vội kéo áo. Hoàng đế bèn nói câu đánh trống khỏa lấp:
– Cứ ra chợ là thấy ngay
miếng cơm, manh áo dân chúng…
– Phải, no hay đói, đủ
hay túng, đều bày cả ra mặt chợ, – Lạng trổ tài biện bác.
Hoàng đế sực nhớ ra thân
phận, chỉ gật gù, không dám nói, sợ dân chúng nhận ra thì phiền.
Về đến hoàng cung, Hoàng
đế mới tháo khăn bịt râu, cởi áo ta ra mà cười nói ầm ĩ, như thể vừa thoát ngục
vậy:
– Gớm cho mấy ông, canh
trẫm như canh tù. Mà tay Lưu Cơ, nghĩ cũng bợm ra phết!
– Chúng thần phải bảo
toàn long thể, sơ sẩy là mất đầu như bỡn, – Lạng nói câu thanh minh.
– Dân chúng đều tiêu tiền
nhà Đinh cả rồi, không dùng tiền Hán, Đường nữa, – Cơ hồ hởi nói.
– Phải, mà lạ, tiền in chữ
nổi Thái bình hưng bảo hẳn hoi, mà dân chúng cứ gọi là tiền vua Đinh? – Hoàng đế
vẻ tự hào, tung mấy đồng lên cho rơi xuống nền điện lát gạch, để nghe tiếng kêu
leng keng cho vui tai, rồi lớn tiếng trách yêu, – tiền nhiều thế này mà không
được mua cút rượu, đĩa lòng, bát tiết canh như mấy lão nông, ngư phủ. Làm vua
như ta, bị quân bay bóp mồm bóp miệng quá thể.
Nghe vậy, cả bọn cùng cười
ầm lên.
5.
Biết ý Hoàng đế thích cô
gái ăn trầu dẩu môi, đối đáp hơn người, ngoài chợ phủ, Đỗ Thích đã nháy mắt cho
mấy tên lính bám theo, xem cô ta là người ở đâu, gia cảnh thế nào, có thể chọn
vào cung hầu Hoàng thượng được không? Lại nữa, Đỗ Thích cũng bảo bọn chúng, xem
mấy thằng học trò ngộ chữ kia là con cái nhà nào?
Bọn lính giả làm người đi
chợ cùng về một thôi đường, cũng chít khăn mỏ rìu, quần xắn móng lợn, khoác tay
nải trễ vai. Cả bọn lẵng những bám theo đến tận làng Trung Trữ, mới thấy cô ả
nhấc cành tre, rẽ vào cổng nhà. Nhà chỉ có một mẹ một con. Nhưng cô ả đã có anh
lính coi kho mễ cốc ở đây, bỏ trầu dạm ngõ rồi. Hỏi đến tay lính kia, mới hay hắn
tên Tráng, người cùng quê tướng quân Lê Hoàn. Buổi nay, Tráng đi cày ruộng cho
nhà cô ả.
Cô ả lúi húi nấu cơm, rồi
tất tả ra đồng. Bọn lính liền bám theo, đến xứ đồng Hộ Thổ, ven Ngòi Rượu, gặp
hắn đang giong trâu vác cày về. Cô ả bẽn lẽn gọi:
– Ai ơi, về ăn cơm!
– Cơm ai nấu? – Tráng ỡm ờ
hỏi lại.
– Ai nấu, chứ còn ai? – Ả
đỏ mặt ngượng ngùng, đáp trống không.
Bọn lính nấp bờ tre, nghe
đối đáp mà phì cười. Đợi Tráng đến gần, bọn lính thấy cái lưỡi cày bằng đồng,
trên mặt lưỡi gồ lên kiểu sống trâu, tên lính vờ hỏi:
– Sao lại làm thế vầy?
– Để cho vững thôi, như
thêm cái xương sống ấy mà. Vả, lúc cày thì nó xẻ đất ra luôn thể.
– Làm sao mà có, quý lắm
đấy, – tên lính thả mồi đánh bài lừa.
– Tớ lấy trong trận đánh
Cổ Loa, – Tráng thật thà đáp, không ngờ mắc phải mồi câu.
Thích cho gọi Tráng lên,
hoạnh về chuyện lấy đồ binh khí mang về dùng riêng, phạm quân luật.
– Tôi chưa bao giờ lấy
binh khí của triều đình, – Tráng cãi.
– Lưỡi cày đồng có đánh
giặc được không? – Đỗ Thích hỏi.
– Giặc cướp vào, phàm cái
gì vào tay mà chẳng đánh được? – Tráng ngây thơ hỏi lại.
– Phàm là đồ đánh giặc, đều
là binh khí hết! – Thích khảng định, cột chặt cổ Tráng vào tội tày trời.
Tràng ngớ người, chịu tội,
nhưng trong lòng không hiểu nguyên do làm sao mà ra nông nỗi.
Bặc biết chuyện, can
ngăn:
– Thiếu gì gái đẹp mà phải
vơ bèo vạt tép. Vả, chồng chưa cưới của ả lại là đồng hương tướng quân Lê Hoàn,
không khéo rút dây động rừng?
– Cứ lấy về cung cái đã,
chả việc gì sất cả! – Thích ngang ngạnh, nói câu lấy lòng Hoàng đế.
– Bắt vợ nó vào cung. Nó
khùng lên thì làm sao? Bắt bò được nó à? “Hộ, hôn, điền, thổ vạn cổ chi thù”.
– Nọc nó ra, đánh năm
mươi roi! – Hoàng đế, quát to.
– Tội vạ gì đâu mà đánh
người ta? – Bặc ngạc nhiên hỏi lại.
– Thì cứ đánh cho bõ tức
cái đã, định tội sau, – Hoàng đế xuống chỉ, rồi hậm hực bỏ vào hậu cung.
Tráng bị đánh tóe máu, ôm
mông lê bước ra bến Đền, gọi đò chở về, qua Sào Khê, ra Hoàng Long, rẽ nẻo ngòi
Khấm, chuyển sang ngòi Rượu, rồi ới bọn lính canh kho mễ cốc cõng về. Bọn lính
đồng ngũ kinh hãi, hỏi rằng sao. Tráng mới nói lại như thế, như thế, khiến
chúng càng ngờ vực bội phần. Một đứa bảo:
– Dễ chừng, tại vợ mày
kháu gái quá cũng nên?
Nghe vậy, Tráng đờ người
ra, suy tính mông lung. Tháng sau, lành vết thương, mới lên kinh đô, báo lại với
Lê Hoàn như thế, như thế. Lê Hoàn cho người dò hỏi, mới biết câu chuyện Hoàng đế
vi hành chợ phủ, gặp cô vợ chưa cưới của Tráng, mới ra nông nỗi.
– Ối giời! – Tráng đấm ngực
thốt lên đau đớn.
– Vua thì làm gì chẳng được!
Lê Hoàn nói khích một câu
như vậy, rồi cho Tráng mấy trăm lạng bạc và một xâu tiền Thái bình hưng bảo.
Nhưng Tráng chỉ nhận túi bạc, chứ không lấy xâu tiền vua Đinh. Lê Hoàn khen
Tráng là người khí khái.
Mình cầm quân trăm vạn,
thế nghĩa là Hoàng đế tin dùng như người nhà, nhưng cũng sẽ khiến khối kẻ gièm
pha, nếu không thận trọng trong lời ăn tiếng nói, cử chỉ hành động, thì không
những bị truất quyền mà còn nguy đến tính mạng, Lê Hoàn nghĩ. Bởi thế, việc thằng
Tráng cũng chỉ vầy vậy thôi, mặc xác nó, có thân thì lo, có vợ thì giữ, không
ai làm thay được. Nhưng cứ để cho nó một chữ ân, khi cần dùng đến cũng không muộn.
Chương tám
Khuông Việt đại sư Ngô
Chân Lưu
1.
Độ này, thấy phép trị nước
có phần rối loạn của Hoàng đế và sự tác quái của Dương Hoàng hậu, ảnh hưởng sự
trường tồn cơ nghiệp nhà Đinh, nên bọn Tứ trụ triều đình gặp nhau, tại tư dinh
của hoàng huynh Đinh Điền mà bàn bạc, ngõ hầu gỡ rối cho Hoàng đế.
– Chúng ta được Hoàng thượng
coi như bộ tứ, cái ơn ấy, dẫu có gan óc lầy đất cũng không thể báo đáp được. Thế
mà, nay thấy mây che đỉnh núi lại không vén lên, nhìn nước lũ ập vào chân tường
mà không chặn lại, thì chẳng thẹn lắm sao?
Nghe Cơ nói vậy, Điền bồn
chồn:
– Tôi chẳng hiểu ông Cơ
nói cái gì? Cứ lòng và lòng vòng như ngựa đực ve ngựa cái. Đã là anh em tâm
phúc, thì cứ nói thẳng ruột ngựa ra xem nào?
– Tôi cũng hiểu tâm sự của
chú Cơ, – Bặc nói. – Có điều hệ trọng, nên thăm dò ý tứ cũng là lẽ tự nhiên,
bác Điền bớt nóng.
– Chắc lại cái chuyện
Dương thị hạ lệnh phá hoa quỳnh chứ gì? – Tú nói, – cho lớn cũng là lớn, bảo nhỏ
cũng là nhỏ, chẳng cần báo quan.
– Ôi dào, tưởng gì? – Điền
bộp chộp, – đấy là cái quyền của thím ấy. Làm Hoàng hậu, có khi cũng phải ra
oai một tẹo, cho thiên hạ kiềng.
– Không hẳn thế, – Bặc lại
nói. – Cứ để chú Cơ nói ngọn ngành xem đã nào?
Mọi người giục, Cơ phải
nói:
– Bác Đinh Hoàn đăng
quang mới được bốn cái tết. Ngần ấy năm, với bé sơ sinh mới lên bốn, vẫn còn trẻ
con, nhưng măng tre thì đã ấm bụi…
Điền giậm chân, vẻ sốt ruột.
Cơ nhìn thấy, nhưng lờ như không, vẫn từ tốn nói:
– Nhưng với một triều đại,
ngần ấy năm phôi khai thì then máy đã vào đường nền nếp mất rồi, để lâu nữa là
khó cải biến. Cái được là xưng đế, định đô, đặt tên nước, niên hiệu, rồi miễn
thuế, tha tù, khai khẩn đất hoang, cấp ruộng cho kẻ khó, ngụ binh ư nông… Xem
thế cũng hội đủ cả nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đối với bàn dân thiên hạ rồi. Đấy
là cái sự vui, ai cũng nói được. Nhưng còn cái sự khiếm khuyết thì mấy ai dám
nói, ví bằng không phải chỗ thân cận.
– Thì chú cứ nói huỵch toẹt
ra xem nào, lấm rửa lệch kê, – Điền thở dài, tỏ ý nghe nhàm tai mãi những chuyện
tung hô công đức ấy rồi.
– Tôi xin nói hai việc một
cũ, một mới. Việc đặt hình phạt dữ dằn, khiến dân chúng sợ mà phải theo, chứ
không phải vì tôn trọng mà phục tùng. Chuyện Dương Hoàng hậu về quê phá hoa,
gây bao điều thị phi, không chỉ ở quê hương bản quán, mà còn lan vào tận kinh
đô. Đúng là có việc bảo nhỏ là nhỏ, bảo lớn là lớn. Đối với dân làm thế cũng
không phải nhỏ, huống chi là…
– Thì bác Điền lấy quyền
huynh trưởng, bác Bặc lấy quyền bằng hữu mà bảo với hai bác ấy, – Tú nói như
chuyện việc nhà thứ dân, chứ không phải chuyện triều đình.
– Không phải là thế, – Cơ
vội thanh minh. – Ý tôi là chúng ta phải bàn chuyện giáo hóa dân chúng, ngõ hầu
an dân trị nước.
– Quả là hệ trọng, – Bặc
ngộ ra. – Vậy phải làm sao?
– Tôi thấy xứ ta, dân
theo đạo Phật thì lành, dễ bảo, ít phạm điều ác, – Cơ nói điều tâm huyết.
– Lập đền thờ Phật à? –
Điền hỏi ngang một câu.
– Cái sự này, thiển nghĩ,
nên bàn với Hoàng thượng nhà ta, mời Hòa thượng Ngô Chân Lưu, ở Đại La về, bày
cách cho, – Cơ nói rành rẽ. – Năm xưa, tôi với anh Liễn đã từng gặp Hòa thượng ở
chùa Khai Quốc, bên đầm Xác Cáo. Đấy là cháu nội của Ngô Quyền Tiên Vương, con
trưởng của Tiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, anh cùng cha khác mẹ với Ngô Xương
Xí. Trước đây, Hòa thượng theo học đạo Nho, về sau theo Phật, học trò của thiền
sư Vân Phong.
– Sợ nó thù mình, cái tốt
chẳng truyền, lại tuồn điều xằng bậy vào, lợi bất cập hại, – Điền thực thà nói.
– Tôi biết, nó với thằng Liễn chả ưa gì nhau.
– Tôi cũng có nghe người
này, tu hành theo dòng Quan bích, tức là nhìn vào bức vách mà tụng niệm, danh
tiếng cũng đã vang danh bốn cõi. – Tú quay sang Điền nói, – người tu hành,
không mấy khi làm điều ác đâu. Tôi nghe chuyện nhà Phật lắm ly kỳ. Cũng như cái
đám quan tướng Tây Phù Liệt chết trận, dân vớt cây gỗ trôi sông lên tạc tượng
thờ, bày ra cái sự thần bí, gọi là “Diệu cây trôi”.
– Tay này thì sao? – Điền
sốt ruột hỏi.
– Tôi được giao việc dựng
cung, xây thành, tự dưng liên quan việc tìm gỗ, đá. Dân kể, Hòa thượng Chân Lưu
vào núi Vệ Linh, thấy cảnh đẹp, muốn lập đền thờ. Đêm mơ vị thần mặc áo giáp
vàng, tay cầm thương vàng. – Quay sang Bặc, Tú lỡm, – thương bác Bặc là huyết
đương thương, còn loại vàng thế này, không biết gọi là gì? – Thấy Bặc lặng
thinh, Tú cười nhạt, lại nói, – giấc mơ đến đâu rồi nhỉ? À, đến chỗ tay cầm
thương vàng, tay đỡ bảo tháp, tự xưng là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, báo mộng mở
cương giới, trấn hưng đạo Phật. Thế là sáng ra, nghe trong núi có tiếng kêu la,
bèn vào xem, thì thấy một cây cao mười trượng, cành lá xum xuê, có mây xanh bao
phủ, bèn cho thợ chặt về, dựng tượng thờ. Ta mà được một cái cây như thế, thì
cung điện còn nguy nga gấp bội thế này.
– Có vậy thôi, thế mà cứ
như vực nghé không bằng. – Điền ra vẻ bề trên trong nhà, hồ hởi cười nói, – ba
chú đi mà bảo chú ấy hộ tôi.
– Vai bác, nói dễ hơn, –
Bặc dừa.
– Các chú biết ăn nói, dễ
lọt tai. Tôi dân dùi đục chấm mắm cáy ấy mà. Vả, tôi là Ngoại giáp lo việc bên
ngoài, chú Định quốc công coi việc bên trong, nên làm việc này là phải, – Điền
quay sang Bặc, vừa bỗ bã lại vừa rành rẽ nói.
Cuối cùng, Bặc đành nhận
lời, khuyên Hoàng đế về lập chuyện cách an dân trị nước.
2.
Được Hoàng đế phái lên Đại
La, đón Hòa thượng Ngô Chân Lưu, khiến Lưu Cơ vui như mở cờ trong bụng. Cái vui
của kẻ sĩ, khi vua trân trọng sáng kiến của mình, còn hơn được ban thưởng
vàng bạc.
Khi ngồi cùng xe tam mã về
Hoa Lư, Chân Lưu vẫn còn điều phân vân, bèn hỏi:
– Nam Việt Vương độ rày
ra sao?
– Khi xưa là bộ tướng,
hoàng tử, nay làm vương rồi, hẳn đã trưởng thành mọi sự hơn người, – biết là
Hòa thượng không cảm tình với Liễn, nên Cơ lựa lời biến báo, trấn an.
Chân Lưu nhìn cảnh nông
phu đang cày cấy trên những thửa ruộng ven đường cái quan, tự nhiên cảm thấy
lòng vui lâng lâng. Đất nước qua cơn binh đao được dăm năm, thế mà đã nhanh
chóng thay da đổi thịt. Đến Gián Khẩu, cả bọn bỏ xe, xuống thuyền ngược nước.
Nhìn ngã ba sông Đáy và Hoàng Long mênh mang đưa nước ra cửa bể Non Nước xa xa,
Chân Lưu sảng khoái nói:
– Hiếm có người nào, lúc
đang còn sống trên đời, mà ngay trên một dòng sông đã được định danh, nào là
Gián Khẩu, Hoàng Long, Kiếp Lĩnh, Long Độ… Quả là người giời, mệnh Hoàng đế.
Bọn lính chèo thuyền nghe
vậy cũng cảm thấy tự hào thay. Gương mặt chúng ánh lên những nét vui tươi. Tiếng
mái chèo vỗ nước ì oạp trên dòng sông xanh. Lưu Cơ cũng hởi lòng, đáp:
– Quả là đại sư am hiểu mọi
nhẽ. Tu hành đâu phải là chuyện thoát khỏi cõi trần, mà thực ra là nhập
thế.
– Tiên sinh quá khen, kẻ
bần tăng này cũng chỉ sờ đầu gối mà nói chân thật thôi, – Chân Lưu tỏ ý khiêm
nhường.
Chẳng mấy chốc, thuyền
qua núi Thiệu, Cơ chỉ cái làng bên tả ngạn, thấp thoáng sau quả núi, giới thiệu
về nơi mình học khi xưa.
– Núi này, có dáng hao
hao giống núi Non Nước ngoài cửa bể, – Chân Lưu trầm trồ khen đẹp.
– Hẳn thuở khai thiên lập
địa, bể vào tận đây, lên tới Kỳ Lân, Thung Lau, – Cơ đỡ lời.
Đoạn, Cơ tán rộng ra, chỉ
cho Chân Lưu xem cửa sông Chanh bên hữu ngạn, xóm Lạc Hối như hòn đảo giữa
sông, kia là bến Long Độ, núi Cắm Gươm.
Thuyền rẽ vào sông Sào
Khê, chui qua cầu Dền, Cơ nhắc lại kỷ niệm làm cầu khi xưa, khiến cả bọn trên
thuyền đều cảm phục. Chẳng mấy chốc, thuyền ghé bến Đền, đã thấy Hoàng đế thân
ra đón, khiến Chân Lưu xúc động vô chừng.
– Rồng đến nhà tôm rồi! –
Hoàng đế nói câu dân dã, vẻ khiêm nhường, chào đón và dắt tay Chân Lưu lên bờ.
– Kẻ bần tăng này, không
ngờ lại được Hoàng thượng để mắt tới, thật là hạnh ngộ, – Chân Lưu chắp tay thi
lễ.
Hoàng đế rước Chân Lưu
vào cung, bày tiệc trà tẩy trần, hỏi han sức khỏe; đoạn, bảo Lưu Cơ sắp xếp nơi
ăn chốn nghỉ thực chu đáo để Hòa thượng dưỡng sức, rồi hẹn ngày đàm đạo. Chân
Lưu cảm ơn thịnh tình của Hoàng đế, nhưng trong lòng phân vân, bởi chưa biết sẽ
phải làm gì?
3.
Một ngày trời quang mây tạnh,
Lưu Cơ mời Hòa thượng ngồi xe song mã, rong ruổi kinh thành Hoa Lư, nhìn lá cờ
đại tung bay trên đỉnh núi Cột Cờ, Chân Lưu trầm trồ:
– Vượng khí Thiên tử!
– Núi này, từ khi được chọn
cắm cờ, gọi là núi Cột Cờ, cao ba mươi trượng. Nhiều thứ, dân gian cũng áp tên
cho dễ nhớ. – Chân Lưu phụ họa, – qua chợ, thấy có núi Chợ đấy thôi.
Dân chúng thấy Hòa thượng,
đều chắp tay cúi chào, vẻ cung kính. Chân Lưu cũng chắp tay đáp lễ. Cơ lấy làm
vui, hãnh diện thấy dân kinh thành lễ phép. Cơ lại đưa Chân Lưu xuống thuyền,
xuôi sông Sào Khê, đến tận ngã ba sông Vạc với sông Vân, mới quay trở lại. Ven
sông, đồng ruộng tươi tốt. Làng mạc thấp thoáng dưới chân núi. Thuyền bè đánh
cá trên sông tấp nập, tiếng gõ lưới khua giòn, vọng vào vách đá, nghe thực vui
tai. Trên bờ, từng đàn trâu ung dung gặm cỏ.
– Trâu nhiều như cá sông!
– Chân Lưu lại trầm trồ.
– Hoàng thượng truyền dạy,
phải chăm sóc chu đáo mà.
Cả hai cùng cười vang, đầy
vẻ ý nhị.
Chân Lưu đăm đắm nhìn ngã
ba sông Vũ Lâm, khen thế đất lộng lẫy mà ấm áp, hợp với việc dựng đền đài. Vừa
đi, Cơ vừa giới thiệu phong cảnh, hang động, thành quách. Chợt nhớ lúc qua sân
điện, thấy cái vạc dầu, khiến Chân Lưu tái mặt, nên Cơ không nhắc gì đến chuồng
hổ ở Am Tiên, ao giải ngoài Thành Bắc. Nhưng Chân Lưu lại khiêm nhường kể:
– Hôm vừa rồi, Nam Việt
Vương ghé thăm, có kể về ao giải thả thuồng luồng sông Đáy, động Am Tiên nhốt hổ
Nho Quan, cũng như vạc dầu đặt sân điện, ngõ hầu rung dọa kẻ phạm tội.
Nghe vậy, Cơ nín thở,
không dám nói gì.
– Bần tăng thiển nghĩ,
hình phạt cũng không thể xem nhẹ, nhưng giáo hóa con người, để tự giác bỏ cái
ác, hướng cái thiện, mới là kế sâu rễ bền gốc, – Chân Lưu ôn tồn nói, như thể
giảng đạo vậy.
– Chính thế, – Cơ như kẻ
chết đuối vớ được cọc. – Hoàng thượng vời đại sư lai kinh chuyến này, hẳn cũng
có chủ ý như thế.
– Mô Phật! – Chân Lưu chắp
tay nhìn vào vách núi, – kẻ bần tăng này, đâu có dám gánh vác sứ mệnh lớn ngần ấy.
Chẳng qua là đàm đạo cho vui câu chuyện, rút ngắn độ đường mà thôi.
Chân Lưu trở nên tư lự,
ngẫm ngợi trong lòng, rất lung. Triều đình trị dân bằng bạo lực, làm cho sợ hãi
mà phải cúi đầu tuân theo. Quan lại đều dùng quyền lực, mưu mẹo để thống trị, tự
coi mình là vô đối, không có địch thủ, thì khác gì bọn mục đồng, bao giờ cũng
cho mình là nhất thiên hạ. Đó là kiểu bá đạo. Phải làm sao chuyển sang vương đạo.
Nói đến vương đạo là dùng đức và nghĩa để giáo hóa dân chúng. Đế đạo dụng chân
lý và tư tưởng chăn dân, trị quốc. Ôi, thật xa vời. Nhưng thôi, việc đã thế thì
nương theo thế. Dân gian có câu, từ từ khoai sẽ nhừ…
4.
Ngô Chân Lưu thừa biết
Đinh Hoàng đế, chỉ sử dụng Ngô Xương Xí làm cái bình phong phò Ngô dẹp loạn, để
lấy chính danh mà thôi. Nhưng rõ ràng là có câu chuyện chém sứ giả đoạn tuyệt,
rồi lại chuyện kẻ mời người chối ngôi vương cơ mà. Xí đã bị viên Thái úy thiển
cận làm lỡ nước cờ. Nay, Đinh Hoàn đường đường xưng đế rồi, mình thuận theo là
tiện hơn cả. Người xưa có câu gì nhỉ? Cái câu nói về bọn khố rách lên ngôi vua
thì chẳng bền ấy mà? Dạo này, mình hay nhớ nhớ quên quên…
Bộ Lĩnh bảo Lưu Cơ mời
Ngô Chân Lưu vào điện. Chân Lưu đã được Cơ mách bảo thiện ý, nên vững tâm, chủ
động đôi ba phần. Sau khi thi lễ, phân ngôi chủ khách, Hoàng đế bèn nói câu xã
giao:
– Trẫm là kẻ chăn trâu
làm ruộng, nay lĩnh mệnh trời trông coi thiên hạ cũng lấy làm hổ thẹn, phép trị
nước an dân cũng chưa tường. Nay phải phiền lụy đại sư giúp cho một tay mới được.
Chân Lưu chỉnh lại áo cà
sa, chắp tay từ tốn:
– Mô Phật, bần tăng từng
nghe, từ thuở ấu thơ, Hoàng thượng đã được các thầy dạy bảo về Kinh Dịch, Binh
pháp, Thi thư(8)… nên ngưỡng mộ vô cùng. Nay bần tăng được vời về
kinh thế này là phúc lớn lắm rồi, cũng xin cảm tạ tấm lòng của Hoàng thượng, đối
với hiền đệ của bần tăng ở Bình Kiều. Người có nhân nghĩa như thế, tầm nhìn xa
trông rộng như thế, được nước trị dân là thuận lòng người, hợp lẽ trời.
– Hòa thượng quá khen, –
Hoàng đế cười tươi, tỏ ra khiêm nhường. Trong lòng thừa biết, Chân Lưu nói quá
lên, chứ thực tình, mình đã học đến đầu đến đũa đâu. Nhưng, như thế cũng vui.
– Đấy là chưa kể, thuở
hàn vi, Hoàng thượng đã được trời cho Ngọc khuê, lúc lâm nguy trời phái Rồng
vàng đến giúp, bước chân đến đâu, định danh tới đó… Khi vừa lên ngôi đã miễn
thuế khoan thư sức dân. Lại cho phép dân chúng lập đền thờ các sứ quân tử trận.
Rồi định kinh đô mới, đặt tên nước mới tỏ chí bốn cõi, đặt niên hiệu Thái bình
thực là an lành. Hoàng thượng cũng là ông vua đầu tiên cho đúc tiền để dân tiêu
dùng. Nhìn ngần ấy việc, thấy giềng mối, nền móng, trụ cột sắp đặt đâu vào quy
củ, khác gì tạo hóa. Thực là trời giúp sức, dân phò trợ, chính ngôi Hoàng đế.
Cả bọn cùng nghe, cũng cảm
thấy mát ruột thay. Nhưng riêng Lưu Cơ cảm thấy có cái gì khách sáo, hẳn là
Chân Lưu chưa thông tỏ điều gì đó. Nhân lúc Chân Lưu vén tay áo cà sa để uống
trà, Lưu Cơ viết vội mấy chữ, ngầm đưa cho Đỗ Thích, chuyển cho Hoàng thượng ngự
lãm. Hoàng đế liếc qua, mỉm cười nhìn Lưu Cơ, vẻ tán đồng.
– Trẫm mời Hòa thượng bớt
ra mấy ngày, khơi thông đạo Phật cho trẫm, cùng các quan trong triều, có tiện
chăng?
Chân Lưu nghe vậy, hứng
khởi hẳn lên, chắp tay chấp thuận. Thế là Hoàng đế cho thiết triều, để Ngô Chân
Lưu giảng kinh Phật. Trong khi giảng giải, Chân Lưu bảo, nguyên cái chữ “cồ”
trong Quốc hiệu Đại Cồ Việt, vừa có nghĩa to lớn, nhưng cũng hàm chứa đạo Phật
rồi. Bởi “cồ” là viết tắt chữ Cồ Đàm Ma, họ của Đức Phật Thích Ca. Hẳn Hoàng
thượng cũng đã có ý lấy đạo Phật làm Quốc giáo chăng? Nghe vậy, cả bọn đưa mắt
nhìn Hoàng thượng, vẻ khâm phục vô cùng. Hoàng đế và Lưu Cơ đưa mắt ý nhị nhìn
nhau, tủm tỉm cười, nghĩ bụng, nhiều khi bất chiến tự nhiên thành, ăn may!
*
Mấy hôm sau, Hoàng đế gọi
các quan tứ trụ triều đình và Ngô Chân Lưu vào cùng, nói:
– Trẫm nghe Hòa thượng mà
ngộ ra nhiều điều. Từ nay, sẽ ban chỉ khắp chốn chấn hưng đạo Phật, gây dựng
chùa chiền như thần Tỳ Sa Môn Thiên Vương đã dạy.
– Mô Phật, đa tạ Hoàng
thượng, – Chân Lưu giật mình, không ngờ Hoàng đế cũng biết cả chuyện đẵn gỗ tạc
tượng, từ lúc khởi danh của mình, thì lấy làm cảm kích lắm.
– Nay trẫm phong cho Hòa
thượng Ngô Chân Lưu hiệu Khuông Việt đại sư, chức Tăng thống, để tiện bề coi
sóc Phật giáo cùng các sư sãi khắp chốn Đại Cồ Việt.
– A Di Đà Phật! – Chân
Lưu vội chắp tay chối từ, – bần tăng chỉ chuyên lo việc đạo, đâu dám mơ mòng tước
vị cao sang. Dám xin Hoàng thượng tìm chân nhân xứng đáng mà trao.
Cả bọn Tứ trụ cùng húm
vào khuyên, Hoàng đế cũng nhắc mấy lần, Chân Lưu mới đành tạ ơn, nhậm chức.
Về sau, sử có ghi, vào
năm Thái bình thứ hai (tức Tống Khai bảo thứ tư), Hoàng đế ban chức, hiệu cho
Ngô Chân Lưu như vậy…
Chương chín
Hoàng đế ban phẩm
trật
1.
Sử ghi:
Năm Tống Khai bảo thứ tư
(971), Bắc Tống diệt Nam Hán.
Năm này, Đại Cồ Việt là
Thái bình thứ hai (971), Hoàng đế ban chiếu phong chức tước, phẩm trật cho bá
quan văn võ, cùng sư sãi và đám con hát.
Mấy hôm nay, kinh thành
Hoa Lư cờ giong trống mở, náo nhiệt chẳng kém gì ngày lễ đăng quang Hoàng đế. Từ
bá quan văn võ, tới sư sãi, con hát, cho chí dân chúng, ai nấy đều mừng vui.
Hoàng đế ban chiếu sắc phong chức tước cho các tướng, lại có cả bọn thầy chùa
và con hát nữa, chuyện từ xưa chưa có bao giờ. Những chỗ dán bản cáo thị, đông
đặc những người là người, kẻ biết chữ đọc to cho mọi người cùng nghe. Bọn trẻ
con cũng hếch mắt lên ngó nghiêng sự lạ, rồi ba chân bốn cẳng chạy đi truyền
tin về tận các ngõ ngách kinh thành. Cửa Đông, cửa Bắc, cầu Đông, cầu Dền, chợ
phủ, chân núi Cột Cờ, bến Đền, Thung Lau, cho tới động Thiên Tôn và các đạo, đều
có dán cáo thị.
Trên vọng lâu cửa Đông,
tên lính hai tay lễ mễ bưng chiếc loa dài như đòn gánh, cho viên quan ghé miệng
dõng dạc đọc:
– Loa, loa, loa! Bàn dân
thiên hạ nghe chiếu Hoàng đế phong phẩm trật chức tước cho bá quan văn
võ, tăng đạo, cùng con hát. – E hèm, – viên quan dọn gọng, rồi trịnh trọng xướng
ngôn:
Năm nay là năm thứ ba, trẫm
lên ngôi Hoàng đế. Ba năm qua, đất nước thái bình thịnh trị, dân chúng yên vui,
nhà nhà no ấm. Bởi thế, năm ngoái, trẫm đặt niên hiệu Thái bình, để tỏ cái ý
nguyện chăn dân dựng nước.
Khi xưa, các tướng khó nhọc giúp trẫm dẹp loạn, lập nên nước Đại Cồ Việt, dựng
kinh đô Hoa Lư. Mấy năm nay yên bình, lại giúp trẫm trị nước, không ai trễ nải.
Nay trẫm ban chiếu sắc phong chức tước, phẩm trật:
phong tướng quân Nguyễn Bặc, người làng Vĩnh Ninh, làm Định quốc công;
phong tướng quân Lưu Cơ, người làng Bồ Bát, làm Đô hộ phủ sĩ sư;
phong tướng quân Đinh Điền, người làng Điền Hộ, làm Ngoại giáp;
phong tướng quân Trịnh Tú, người làng Đại Hữu, làm Thượng thư;
Lúc viên quan dừng lời,
giở sang trang tờ chiếu, dân chúng bàn tán xôn xao cả lên:
– Đủ Tứ trụ triều đình, bốn
ông: Bặc, Điền, Cơ, Tú.
– Cứ ngỡ ông Điền cũng
dân Đại Hữu, hoàng huynh cơ mà?
– Anh nuôi thì có, cái sự
này, tôi nghe nói lâu rồi, giả huynh(9) thôi mà.
Viên quan lại hắng giọng
đọc tiếp:
phong tướng quân Phạm Hạp,
người làng Trà Hương, làm Vệ úy;
phong tướng quân Lê Hoàn,
người làng Bảo Thái10), làm Thập đạo tướng quân;
Nghe đến đây, ai nấy hồ hởi
reo mừng, khiến viên quan phải hắng giọng mấy bận mới
phong đại sư Ngô Chân
Lưu, người làng Cát Lợi(11), làm Khuông Việt đại sư, chức Tăng thống;
Cả bọn lại ồ cả lên, có
tiếng nói vóng:
– Cháu nội Ngô Tiên Vương
đấy, phúc đức quá.
phong Trương Ma Ni làm
Tăng đạo sĩ;
phong Đặng Huyền Quang
làm Sùng chân uy nghi;
lại phong cho con hát Phạm
Thị Trân, hiệu Huyền Nữ, người phủ Hạ Hồng, chức Ưu bà;
Viên quan chứ dứt lời, cả
đám nhảy quớ lên hoan hỷ. Viên quan phải nhân tiện nghỉ lấy hơi, hồi lâu trật tự
vãn hồi, mới đọc nốt:
Thái bình năm thứ hai
Hoàng đế ban chiếu
Khâm thử.
2.
Tráng bị đòn oan, vì vợ đẹp
lọt mắt rồng, nên phải về làm ruộng, ở rể bên nhà Là. Bà mẹ hay chuyện của các
con, phàn nàn nông nỗi mà nói câu an ủi:
– Đần độn quá cũng khổ,
mà giỏi giang quá cũng khổ, chỉ có kẻ an phận thủ thường lại sống lâu . – Nhìn
con rể vẻ hàm ơn, nói chữ học mót, – may mà phúc có được anh giai tế!
– Ôi giời, bu cứ nói thế.
– Tráng đỡ lời, có ý trêu Là, – nhẽ ra, thì nhà con thành cung nữ rồi ấy chứ,
đâu đến nỗi phải làm bạn với cái anh cổ cày vai bừa.
– Chả báu, – Là liếc mắt
nhìn chồng, cười cười. – Vào kinh, có khi rước họa thì có. Nghe đâu như, Hoàng
đế có những năm hoàng hậu, lại vô khối cung tần mỹ nữ. Mình sa vào chốn ấy,
khác gì cái vỏ hến.
Nghe tin vợ chồng nhà
Tráng- Là thoát nạn, buổi tối, hàng xóm và bọn lính coi kho mễ cốc cùng tới
thăm. Tráng trải chiếu ra hè: “Các bác ngồi cho mát”; đoạn, khêu đĩa đèn dầu lạc,
bày cái điếu bát và tráp thuốc lào. Là tíu tít rót chè xanh ra bát. Bà cụ thong
thả têm trầu. Viên quản kho hồ hởi nói với Tráng:
– Nghe nói, tướng quân Lê
Hoàn nhà cậu, lãnh chức to nhất trong quân. Có phận nhờ rồi đấy!
– Tôi cũng biết rồi, –
Tráng chép miệng. – Nhưng mà mỗi người mỗi phận.
– Cả ông Điền nữa chứ,
cũng dân châu Ái cả đấy. Hai ông lớn đồng hương, chuyến này phất to, – viên quản
kho trêu chọc, nhưng lộ vẻ ghen tị.
– Nhưng tôi về cày ruộng
rồi, – Tráng bùi ngùi phân bua.
– “Ngụ binh ư nông”, có
giặc lại ra trận, lập công thăng thưởng.
– Mời các bác xơi khẩu giầu,
– bà cụ lọ mọ đưa tận tay từng người. – Giăng sáng như ban ngày, nhề! –
Bà cụ nghển ra ngắm trăng, cười móm mém.
Trăng treo đầu ngọn tre.
Gió đồng mát rượi. Bóng núi cao vời. Tiếng tắc kè văng vẳng.
– Ngày mai, lại nắng to đấy!
– Là ngẩn ra nghe tiếng tắc kè, rồi nói, – nó kêu lẻ tiếng mà. “Chẵn mưa thừa nắng”.
– Kể cũng nghiệm, – viên
quản kho phụ họa. – Chúng tôi cứ nghe nó kêu mà định việc canh kho; hôm nào,
kêu chẵn thì phải phòng mưa dột.
– Mà bảo “Thất hùng”, sao
cáo thị chỉ có sáu ông nhỉ? – viên Trưởng giáp sực nhớ việc quan, kéo câu chuyện
phong chức tước, phẩm trật của các quan triều đình trở lại chiếu. – Bô lão
trong làng hỏi, mà tôi cấm có thấu tỏ, ngõ hầu giả nhời được một tiếng gọi là…
– Này nhá, – viên Quản
kho kẻ cả. – Đinh Tiên Hoàng đế là một này, Nam Việt vương Đinh Liễn là hai
này, Định quốc công Nguyễn Bặc là ba này, hàng công chỉ đứng sau hàng vương đấy
nhá…
– Hơn cả ông Điền, mang
tiếng hoàng huynh, – Trưởng giáp càm ràm nói.
– Hoàng thượng tính nát
nước, ba năm sau ngày lên ngôi mới phong chức tước các quan trong triều, không
thể sơ suất, thiên vị được. – Viên Quản kho ra vẻ hiểu biết chuyện cung đình,
lên giọng, – để tôi tính nốt cho mà nghe này, – Đô hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ là bốn
này, Ngoại giáp Đinh Điền là năm này, Thượng thư Trịnh Tú là sáu này, cuối cùng
Tâm phúc tướng quân Phạm Cự Lạng coi việc thị về là bảy.
– Phải, ông Lạng là em
ông Vệ úy Phạm Hạp. – Tráng kể, – lúc khởi binh, anh em ông ấy mang hai ngàn
quân, từ Trà Hương về theo Hoàng thượng, lại có công lớn trong trận Tam Đái.
– Thế mà ông ấy được
phong chức lúc nào, tôi cấm có biết, – Trưởng giáp thực thà nói.
– Ngay từ lúc Hoàng thượng
lên ngôi kia mà, cùng đợt với quan Chi hậu nội nhân Đỗ Thích, – Tráng cũng ra vẻ
hiểu biết.
– Thế cư à? – Trưởng giáp
hóng chuyện, – nhưng cái sự ông Đỗ Thích, người làng Đại Đê, có công cứu giá,
thì ai cũng biết cả.
– Ông Lưu Cơ học rộng tài
cao, phẩm trật ngang Phó vương. – Viên Quản kho gật gù, chiêu ngụm chè xanh,
ngoái sang Là, khen, – thím cho gừng phải không? Cái anh chè xanh, mà hãm có mấy
lát gừng, không chỉ thơm mà còn giải cảm.
– Bà cụ nhà em vẫn làm thế,
em bắt chước thôi! – Là vui ra mặt, đỡ lời, – việc quan, em ù ù cạc cạc như vịt
nghe sấm vậy.
– Thế nên thiên hạ mới có
câu: “Gái góa lo việc triều đình” là cái sự vậy. – Bà cụ răn con gái, – đàn bà
đàn bụi, đái chẳng qua ngọn cỏ, ôm rơm làm gì cho rặm bụng.
Nghe vậy, cả bọn cười ồ cả
lên.
– Bu rõ thật là… – Là có
ý trách.
– Thì tao cứ sờ đầu gối,
nói chân thật, – bà cụ cười hở lợi. – Thôi, các bác cứ chuyện, tôi đi ngả lưng.
Bà cụ vừa quài tay đấm
lưng, vừa chống gậy vào nhà. Là vội đứng dậy đỡ mẹ lên chõng, rồi mình cũng vào
buồng luôn.
– Hoàng thượng chiến trận
xông pha, tự thân lập nghiệp, nên chín chắn. Những ba năm thử thách mới phong
chức tước, – Trưởng giáp lại tấm tắc khen.
– Bác cứ khen phò mã tốt
áo, – tự nhiên Tráng sờ vào mông mình, cười chua chát.
Viên quản kho thấy vậy,
nói lảng:
– Phong cho cả con hát nữa,
thực là bao dung, từ xưa chưa có bao giờ…
– Thì tôi vẫn nhớ cái
mông của mình, – Tráng tếu táo cười to.
Chợt nghe tiếng quạt muỗi
phì phạch trong buồng vọng ra, cả bọn biết ý, bấm nhau ra về. Tráng hằm hằm chạy
thộc vào buồng, quát vợ:
– Nhà làm thế, ngang bằng
đuổi khách!
– Em sợ nhà quá nhời thì
lại khốn, – Là thở dài. – Vúc vách có tai, một sự nhịn là chín sự lành.
Tráng nghe vậy, biết Là
sâu sắc, bèn quay ra sân thu dọn ấm, bát, điếu, đèn, rồi tiện chân khều chiếu
vào nhà. Là vội chạy ra, cầm chiếu rũ phành phạch.
– Rũ cho sạch, kẻo nhặm
lưng, – Tráng nhắc vợ, có ý bông lơn.
– Chả thèm! – Là vênh mặt
cười cười, rồi ôm chiếu rải lên giường.
Cả nhà chỉ có mỗi chiếc
chiếu, dành cho đôi vợ chồng trẻ. Bà cụ ngủ chõng, chẳng cần đến chiếu. Khi có
khách, cái chiếu ấy lại trải ra nền nhà, hay ngoài sân. Giữa chiếu đã có một
đám thâm lại, Là ý tứ đặt cái ấm đất lên. Đêm đêm, Là đặt lưng lên chỗ chiếu
thâm ấy và lẹ làng lót thêm cái váy đụp.
Bà cụ thường mất ngủ. Đêm
đêm, cứ mỗi khi nghe tiếng giường tre kẽo kẹt, từ buồng vọng ra, bà cụ lại đập
quạt mo xuống chõng, đuổi chuột xời xợi…
3.
Sau lễ sắc phong, Điền xộc
thẳng vào hoàng cung, bảo đuổi hết tả hữu ra ngoài, nói chuyện cơ mật với Hoàng
đế.
– Tôi nói thật, – Điền sồn
sồn. – Chú Bặc là tay phải của chú, chinh chiến đã từng, mưu lược cao thâm, mà
ăn ở cũng trọn tình vẹn nghĩa, làm cái chức Định quốc công, coi việc nước là phải.
Còn như tay Lưu Cơ, tuổi con cháu, hạng thư sinh mặt trắng mà phong chức ngang
Phó vương, coi việc Hình án phủ đô hộ, thế là hơn cả tôi.
– Bác cứ hay nóng, –
Hoàng đế mềm mỏng, giải nhiệt. – Bác có nhớ thầy học châu Hoan, kể chuyện thời
Hán, khi Lưu Bang phong cho Tiêu Hà chức to, khiến bá quan văn võ tức tối
không?
– Tôi không phải là kẻ
ghen ăn tức ở, chẳng qua cũng vì công nghiệp nhà Đinh ta, – Điền nói sẵng.
– Thì bác cứ để tôi nhắc
chuyện xưa. – Hoàng đế vẫn từ tốn, – Lưu Bang bảo, thế việc con chó với người
đi săn, thì kẻ nào hơn? Chó chỉ mỗi việc đuổi thú. Còn đuổi ra làm sao thì lại
tùy ở như con người. Đấy, Lưu Bang ví bọn kia như chó, còn Tiêu Hà là người đi
săn. Tôi thì không dám có ý thế, chỉ nhắc chuyện xưa, bác thấy cái tài kinh
bang tế thế của Lưu Cơ là đáng trọng dụng.
– Tài! – Điền đai giọng.
– Phải! – Làm vua hơn người
là ở chỗ biết kén người tài, dùng người giỏi mà thôi, – Bộ Lĩnh nói câu tâm đắc.
– Chú tin người mà u mê,
chứ tôi nghe người ta nói, tay ấy khôn ranh lắm, ăn người đấy, – Điền vẫn chưa
phục.
– Thì cũng như bàn tay, –
Hoàng đế xòe tay ra nói. – Lật ngửa thì trắng, úp sấp thì đen, nắm lại thì đen
trắng lẫn vào nhau. Làm người, ai tránh được hết lỗi lầm!
– Còn cái thằng Lê Hoàn,
kém thằng Liễn một tuổi, thế mà cầm trong tay cả trăm vạn quân? – Điền nhìn
Hoàng đế chòng chọc, – chú phải cẩn trọng mới được, không ai bỏ hết cả trứng
vào một giỏ như vậy, sẩy tay là vỡ ráo.
– Chính thế, tôi để ba
năm thử thách, rồi mới phong các chức quan trọng triều đình đấy thôi.
– Nghe nói, mẹ nó lúc
sinh, mơ thấy hoa sen nở, rồi kết hạt trong bụng. Lớn lên, nó đi làm con nuôi ở
châu Ái, được rồng ấp đêm đông. Đấy là mệnh thiên tử, – Điền lo lắng ra mặt, –
mà thằng Liễn nhà mình, lại kết thân với nó như anh em.
– Thiên hạ đồn vậy, thì
biết vậy. – Hoàng đế thủng thẳng, – nó có tài trong quân thì dùng trị nước, chứ
cứ lo hão lo huyền, bỏ người tài, thì tự sinh loạn chứ chẳng chơi. Mà phi nó
ra, ai đặng cầm quân trăm vạn? Trong số Tứ trụ triều đình, bác giữ Ngoại giáp,
Bặc chân Định quốc công, Cơ thì bên Đô hộ, Tú đứng Thượng thư; ngoài ra, thằng
Liễn Nam Việt Vương. Vậy, hỏi còn ai có khả năng làm gánh chức Thập đạo tướng
quân? Chả nhẽ tôi? Thế thì còn ra thể thống gì nữa? Cổ nhân dạy, dụng người như
dụng mộc, dùng người mà không cất nhắc chức nọ tước kia, thì họ đội nón ra đi
không thèm ngoảnh lại ấy chứ. Mà vừa dùng vừa nghi, thì người ta hoang mang lo
sợ, không toàn tâm, chẳng chí thú với cương vị được giao. Đấy, bác thấy lợi hại
chưa?
– Nói với chú, tức anh
ách như bò đá! Mà còn chuyện…
Suýt nữa thì Đinh Điền buột
miệng nói ra cái sự phải lòng mặt giữa anh với ả. Người ta để ý, mỗi khi thằng
Lê Hoàn gặp Dương Hoàng hậu, mắt nó sáng quắc lên, khác nào Bộ Lĩnh thấy món tiết
canh lòng lợn. Trăm quan thì có đến bảy tám phần đều biết như thế, nhưng không
ai dám hé răng, Bộ Lĩnh thì như đui mù, điếc lác. Chả nhẽ, mình cũng nói toạc
chuyện này ra? Đinh Điền nghĩ bụng, nhưng chậc lưỡi, lại thôi, kẻo mang tiếng
buôn chuyện, kiểu đàn bà, làm rối triều đình.
– Lại còn chuyện gì nữa,
bác nói nốt cho nhẹ người xem nào? – Hoàng đế giục.
– Thôi, – Điền vẫn bừng bực
trong lòng, vùng vằng ra về.
*
Thế là triều đình ta toàn
người nhà: Đinh Điền là anh nuôi là một; bọn Bặc, Tú, Cơ là bạn đồng tuế, hoặc
vong niên, nhưng lại thân tình như ruột thịt là hai; Liễn là con đẻ, Khánh là rể,
thì cũng đều là con cả là ba; Lê Hoàn làm bạn với Liễn thì cũng là chỗ bằng hữu,
vua tôi cả là bốn; còn bọn Hạp, Lạng là chỗ thân tín là năm; Đỗ Thích có công cứu
giá là sáu; đến như Tỷ là cháu vua Ngô, mà vua Ngô lại là bạn hữu của cha ta là
bảy; đám con hát thì do ta vời, chịu ân đã thấm là tám; quan dân đất thang mộc
đều là anh em con cháu, không thể phản ta là chín… Cứ tính thế để biết cách thức
đối nhân xử thế cho hài hòa, nhưng luôn tỏ ân uy sòng phẳng với chín loại người
này, thì cứ kê cao gối mà ngủ, chẳng phải lo gì. Trị thiên hạ, bên ngoài đã có
vạc dầu, chuồng hổ, ao giải; trong lòng thì lấy đạo Phật khai tâm. Quân lính
luyện xong, cho về làm ruộng, vừa đỡ gánh nặng nuôi quân, lại lúc động dụng là
gọi được ngay. Nông làm trọng để cấy lúa, lấy thóc nhập kho. Đúc tiền, mở chợ
cho dân có chỗ bán bán mua mua. Lại còn chuyện xưng đế, định đô, đặt tên nước
và niên hiệu… Thế là đủ cả, kém chi Nam Hán, Bắc Tống nào?
Chuyện bác Điền nói thế,
thì cũng phải đề phòng, nhưng cứ nghi kỵ tràn lan, đâu phải bậc quân tử chính
danh. Kể cũng tiếc bốn châu Ngô Quyền cắt cho Nam Hán, nhưng ta còn tám đạo cơ
mà. Tám đạo mà cứ phong cho Lê Hoàn làm quan Thập đạo, thì ai bắt bò ta được
nào? Ta cứ phao lên là có những trăm vạn quân, trong khi dân ta có chừng ba
trăm vạn, chả nhẽ, cứ ba dân có một lính à? Kệ, ta cứ làm theo ý ta thì đã làm
sao? Nhưng nói đi lại phải nghĩ lại, phải phòng thằng Khánh, kẻo động loạn từ
trong mà ra. Bắc Tống không thể lơ là, nó cất quân, chạy ù một cái là sang tới
nơi, không kịp trở tay. Mạn nam cũng phải để mắt bọn Chiêm Thành, giong thuyền
ra là quan quân ta khó nhọc.
Hoàng đế dạo bước trong
vườn thượng uyển, không phải vãng cảnh, mà lại tính trong lo ngoài, sắp đặt đâu
ra đấy, cảm thấy vững dạ. Từ ngày Phạm Bạch Hổ xin về Đằng Châu dưỡng già, ta
thấy trống vắng. Xem nào, ông ta sinh năm Ngọ, vị chi cũng đã lục tuần. À, Lưu
Cơ bảo, ông ta thích cái món nước suối Kênh Gà, ngâm chân, lau mình. Ta phải bảo
bọn lính chở sang mấy chum, kèm lời úy lạo và chút quà cáp cho đẹp lòng, vỗ yên
mới được. Nhớ cái bận, ta bảo bác Điền mang kim ngân đi thử lòng Bạch Hổ, thế
mà ông ta xử khéo, rồi hoàn lại, để chi dùng việc quân, quả là bản lĩnh cao cường.
VŨ XUÂN TỬU
(Còn tiếp)
____________
(1)
còn gọi là sông Trường Giang.
(2)
nay thuộc phía bắc tỉnh Quảng Đông, đến bắc tỉnh Quảng Tây và phía nam vùng
Giang Nam (Trung Quốc).
(3)
nay thuộc tỉnh Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc).
(4)
nay thuộc tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc).
(5)
nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh (Việt Nam).
(6)
nay thuộc Quảng Châu (Trung Quốc).
(7) nay
là huyện Chính Định, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc.
(8)
Kinh Thi và Kinh Thư, hai bọ sách kinh điển của Nho giáo.
(9)
anh nuôi.
(10)
nay thuộc xã Ninh Thái, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
yên.
(11)
nay thuộc thôn Thụy Hương, xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, thủ đô Hà Nội.
Chương mười
Nam Việt Vương đi sứ Bắc
Tống
1.
VHSG- Chuẩn bị cho Đinh
Liễn đi sứ Bắc Tống, xin phong vương, Hoàng đế phải thiết triều.
Ngoại giáp Đinh Điền bước
ra nói to:
– Thần xin tấu, – khi thấy
Bộ Lĩnh gật đầu, liền nói, – tâu bệ hạ, nước Đại Cồ Việt ta riêng một cõi trời
Nam. Bệ hạ đã ở ngôi Hoàng đế được bốn năm có lẻ, hà cớ gì phải sang xin bọn Bắc
Tống phong vương nữa?
– Ngoại giáp có chí khí
thế là phúc lớn lắm thay. – Hoàng đế nghiêm giọng nói, – nhưng trẫm nghĩ, dù ta
có hùng cứ một phương thì vẫn là nước nhỏ. Nhân chuyến này, hòa hiếu với Bắc Tống
cũng là lẽ thường tình, từ ngàn đời quan hệ giữa hai nước. Thời Ngô Tiên Vương
tới nay, bởi loạn sứ quân mà hai nước cách biệt, nên Nam Việt Vương đi sứ là
mang trọng trách sơn hà.
– Đội ơn Hoàng thượng, –
Liễn chắp tay hô to, lĩnh mệnh.
– Để chuẩn bị cho chuyến
đi sứ đầu tiên của Đại Cồ Việt ta sang Bắc Tống, các quan phải chu toàn giúp sức
mới được. Trẫm truyền cho Định quốc công phải giữ yên bờ cõi, để Bắc Tống phải
vì nể uy quyền trị nước chăn dân của trẫm.
Hoàng đế dứt lời, Bặc chắp
tay hô to:
– Thần tuân chỉ!
– Thị vệ tướng quân, cùng
Vệ úy trông coi trong cung cho yên.
Hoàng đế nhìn hai anh em
Phạm Hạp và Phạn Cự Lượng, cả hai cùng hô:
– Chúng thần tuân chỉ!
– Thượng thư phải lo chu
toàn đồ cống và lương, thảo cho sứ bộ.
– Thần tuân chỉ! – Tú hô
to và nói, – thần đốc thúc bọn quan quân trong hậu cung lo chu tất đồ cống nạp,
lại sức cho các trạm đón tiếp sứ bộ, chuẩn bị thay ngựa trạm đầy đủ.
– Thập đạo tướng quân lo
bảo vệ sứ bộ đi, về. Khi có đoàn sứ Bắc Tống sang cũng phải chu toàn.
– Thần tuân chỉ! – Lê
Hoàn y lệnh và nói, – thần sức cho các đạo, động từ kinh thành đến biên ải phải
gắng sức, không được lơ là.
Mặc cho Hoàng đế thiết
triều, Lê Hoàn theo đuổi những suy nghĩ của riêng mình. Chuyến đi sứ đầu tiên của
triều Đinh, lại do đích thân Nam Việt Vương làm Chánh sứ, kể cũng quan trọng thật,
nhưng làm gì mà rộn. Nhưng mình cũng như bá quan văn võ đều phải chầu hầu, tuân
chỉ, để vua Đinh thấy uy quyền trùm thiên hạ, việc gì cũng để mắt tới, nhất nhất
đều được thi hành. Cái áo bào mới đẹp làm sao? Lê Hoàn ngắm long bào và ngẫm, hội
tụ cả trời đất, núi sông trong một cái áo thì quả là thiêng liêng. Lê Hoàn lại
đảo mắt ngó cung điện, nghĩ thầm, cũng tráng lệ, nhưng chưa nguy nga. Phải tay
ta, cột cái phải to gấp đôi, thếp vàng dát ngọc hẳn hoi, khiến ai vào cung cũng
phải bạt vía, kinh hồn.
– Đô hộ phủ sĩ sư phải lo
tấu chương và công việc sứ bộ, – Hoàng đế vẫn sai khiến các quan.
– Thần tuân chỉ! – Lưu Cơ
tâu, – thần đã chuẩn bị đầy đủ tấu chương, trình bệ hạ ngự lãm bút phê. Thần
cũng đã bẩm với Nam Việt Vương về chốn kinh đô Bắc Tống ở Biện Kinh và triều
đình Triệu Khuông Dẫn.
– Ơ, nó chuyển về đấy rồi
à? – Đỗ Thích ngạc nhiên hỏi, – cứ ngỡ nó vẫn đóng đô Tràng An.
– Từ khi Bắc Tống thế
chân nhà Nam Hán, năm Canh Thân (960) đã rời đô về Biện Kinh- Khai Phong, bờ
nam sông Hoàng Hà, – Lưu Cơ đối đáp trôi chảy.
– Nam Việt Vương đi sứ
chuyến này, – Hoàng đế nghiêm mặt nhìn con, – phải thể hiện sự hùng cường của Đại
Cồ Việt và thể diện của trẫm. Coi đó như một điều răn, để chúng không dám khinh
nhờn mà mang quân xâm phạm bờ cõi, hiểu không?
– Thần tuân chỉ! – Liễn
cúi đầu, chắp tay cung kính đáp.
– Hơn chục năm đi sứ Cổ
Loa rồi, lo gì mà không hoàn thành trọng trách.
Lại nghe Đỗ Thích tán tụng
như vậy, các quan cười ồ cả lên. Hoàng đế cũng tươi nét mặt, ra lệnh:
– Bãi triều!
Cả bọn đồng thanh hô to:
– Hoàng thượng vạn tuế!
2.
Quan, quân, dân chúng kéo
nhau đi tiễn, khi phái bộ đi sứ Bắc Tống qua bến đò Gián Khẩu, mới chịu quay về.
Từ đây, cả đoàn rồng rắn
theo lộ trình, kẻ cưỡi ngựa, người ngồi xe, đồ đạc ngất ngưởng trên những chiếc
xe cuối, nom nghễu nghện như đoàn dẫn cưới. Đến Đại La, nghỉ lại một ngày, chỉnh
đốn đội ngũ, sửa xe, lấy thêm cỏ và gạo, thay ngựa yếu, chọn ngựa tốt. Hôm sau,
qua sông Hồng, rồi ngược Cổ Loa, vượt sông Thiên Đức. Mỗi khi qua các vùng cát
cứ sứ quân thuở nào, quan quân lại bồi hồi kể lại cho nhau nghe những trận công
thành, bùi ngùi nhớ đồng đội xấu sổ tử trận. Cứ như thế, ngày đi đêm nghỉ, ngựa
yếu thì thay, xe hỏng thì sửa, qua đồng bằng, ngược trung du, lên thượng du. Thỉnh
thoảng, thấy dân làm nương cheo leo sườn đồi, bọn lính vẫy chào í ới. Họ cũng bắc
loa tay, cất tiếng hú rõ dài, vang động cả núi rừng, rồi chạy xuống, mang theo
những quả dưa tròn đổi thuốc lào. Liễn hỏi viên Phó sứ:
– Tôi đố ông, cái cuốc
vùng núi, khác cái cuốc vùng xuôi, ở chỗ nào?
– Bẩm, hạ thần thấy y như
nhau cả thôi, cũng lưỡi sắt, cán… – Viên Phó sứ sực nhớ ra, – khác là cán
cuốc đồng xuôi tra bằng tre, còn đồng rừng làm bằng gỗ.
– Cũng chỉ đúng một phần,
– Liễn kẻ cả. – Ta thấy, cán cuốc đồng xuôi, đồng bể thì dài một đầu một với
tay nữa, để mà quài xuống chỗ ruộng thụt, đầm lầy. Còn cán cuốc đồng rừng, chỉ
ngắn đến vai, đến ngực thôi, bởi sườn đồi ập vào ngay trước mặt rồi.
Cả bọn ồ lên, thán phục
Liễn tinh mắt.
Bảy ngày thì đến biên ải.
Phái bộ nghỉ lại; người, ngựa, xe cộ rầm rầm như đoàn quân ra trận thuở nào,
khiến dân Mán Lao tới xem, chỉ chỉ trỏ trỏ, có vẻ lạ lẫm. Quan trấn ải quát to
mấy câu, chúng chạy như vịt gặp quạ, rồi ngoái lại, che miệng cười, phô hàm
răng đen. Dân vùng này toàn mặc đồ vải dệt từ sợi bông, nhuộm chàm xanh, chân
quấn xà cạp, đầu vấn khăn tròn như cái rế, chứ không bỏ mỏ rìu như vùng đồng
xuôi, hay đồng bể.
Qua quan ải, có người Bắc
Tống dẫn đường. Vẫn núi non, dân chúng nom như bên ta, nhưng càng đi càng thấy
đường như dài thêm. Liễn bảo:
– Bên xứ ta, cưỡi ngựa một
ngày, phi từ Thung Lau đã ra đến cửa bể Non Nước; phi hai ngày, đã từ Phong
Châu đến Châu Hoan, thế là ngang dọc tung hoành đã gần trọn Đại Cồ Việt. Thế mà
xứ này, đi ròng rã cả tháng, vẫn chưa thấy Biện Kinh.
– Bẩm quan chánh sứ, sắp
qua sông Dương Tử. Qua sông này thì được già nửa độ đường, – viên quan dẫn lộ
nói.
Nghe vậy, cả bọn thở dài,
ngao ngán.
Buổi chiều, đoàn sứ cập bờ
sông Dương Tử, nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy về đông, khiến ai nấy choáng ngợp.
– Bên mình, sông Đáy đã
to, qua sông Hồng thấy là mẹ sông Đáy. Nay nhìn Dương Tử Giang mênh mang, cuồn
chảy mà choáng cả người, – viên Phó sứ thật thà nói.
Nghe vậy Liễn nhíu mày, vội
đánh trống khỏa lấp, lái câu chuyện, để viên quan dẫn lộ không khinh thường Đại
Cồ Việt:
– Nghe nói, Khuất Nguyên(1)
thi nhân đã qua sông này? – Liễn chợt nhớ chuyện Lưu Cơ nói ở nhà.
– Phải, hẳn quan Chánh sứ
từng đọc Sở từ(2)? – viên quan dẫn lộ nhìn Liễn, vẻ cảm phục.
– A, ông này có cái tích,
về tết Đoan ngọ, – viên Phó sứ reo lên như bắt được của.
– Dạ, đúng thế! Tết mùng
năm tháng năm, là ngày tưởng nhớ cái chết của thi nhân. – Quan dẫn lộ nhìn Phó
sứ, chuyển từ khinh bỉ sang nể trọng, lẩm bẩm trong miệng, – quả là xứ ấy cũng
lắm người tài.
Đoạn, hắn ư ử ngâm khúc
Ly tao:
“Ngày tháng vút đi
không trở lại
Vườn xuân qua đã lại sang
thu
Đoái trông cỏ áy cây vàng
Sợ con người đẹp muộn
màng lỡ duyên”.(3)
Nghe vậy, Liễn biết kẻ
này có tâm, liền trổ tài, đọc mấy câu:
“Dân mỗi người mỗi vẻ a
Chỉ bè đảng là lạ đời”.(4)
Nghe xong, hai bên cùng
cười tâm đắc, khiến cho không khí giao hòa hơn thân mật hơn, thay cho vẻ giữ lễ
ngoại giao. Liễn nghĩ bụng, sao họ chọn kẻ dẫn đường hay chữ thế? Có nhẽ, ta phải
tâu với vua cha, cũng cho đám học trò, nhà sư, đóng vai người dẫn đường, chở đò
cho sứ bộ Bắc Tống, Chiêm Thành, để tăng thêm thể diện quốc gia mới được.
Đoàn sứ lại bỏ xe và ngựa
lại, chất đồ đạc lên thuyền, vượt sang bên tả ngạn, thì thấy đã có xe và ngựa
chờ sẵn, đưa đi.
– Ngựa nước họ cũng to
hơn ngựa nước mình, – bọn lính kháo nhau.
– Củ soát đồ đạc, để mắt
tới đồ cống nạp! – Phó sứ đôn đốc quân lính.
Cả bọn xăng xái bốc xếp,
chằng buộc cẩn thận, kiểm đếm đầy đủ, phái bộ mới lên đường đi tiếp. Tháng sau,
phái bộ Đại Cồ Việt đến Biện Kinh.
Bắc Tống thả cho phái bộ
của Liễn du ngoạn khắp thành, ra cả sông Hoàng Hà ngắm sóng chán chê, rồi mới
cho vào yết kiến Triệu Hoàng đế. Liễn nói với Phó sứ:
– Hẳn là họ muốn khoe
kinh đô lộng lẫy, Hoàng Hà hung dữ, ngõ hầu uy hiếp cánh ta đây?
– Vâng, – Phó sứ lễ phép
đáp. – Hạ quan cũng nghĩ như vậy. Họ lắm mẹo chứ không phải bỡn. Quán dịch sang
trọng, ăn uống toàn cao lương mĩ vị, lại còn gái đẹp hát ca, múa may quay nồm nữa,
không khéo ngã lòng như chơi.
Cả hai nháy mắt nhìn
nhau, cười rinh rích.
3.
Sau khi dâng tấu chương
và đồ cống nạp cho bọn cận thần nhà Tống, Liễn mới được vào hoàng cung yết kiến
Hoàng đế Triệu Khuông Dẫn. Dẫn được gọi là Thái tổ, lên ngôi đã được mười hai
năm, trọn một con giáp. Tuy sứ bộ đã được nghe nói nhiều về Hoàng đế đầu triều
này, nhưng khi gặp mặt, khiến Liễn trợn mắt kinh ngạc, khi thấy một ông vua phì
nộn, đội mũ cánh chuồn, râu trê, áo bào đỏ, đai ngọc, ngồi chễm chệ trên ngai
vàng.
– Muôn tâu bệ hạ! Sứ bộ Đại
Cồ Việt kính chúc bệ hạ vạn thọ vô cương, – Liễn khuỵu một bên chân, chắp tay
mà hô dõng dạc.
– Sao ngươi không quỳ? –
viên quan thái giám trịch thượng quát khẽ.
– Thần là sứ giả của
Hoàng đế Đại Cồ Việt! – Liễn khảng khái đáp.
Nghe vậy, Dẫn nhếch mép
cười, vẻ kẻ cả không chấp, nói:
– Miễn lễ!
Liễn đứng trang nghiêm,
nhìn hoàng đế Bắc Tống trên ngai cao, xung quanh có quân lính sóng hàng như tượng,
binh khí sáng lòa; nghĩ bụng, chúng cũng ra oai gớm, chứ tưởng! Đoạn, rút bản tấu
trong tay áo thụng ra, lướt qua cho khỏi quên ý chính, rồi nói vo:
– Muôn tâu bệ hạ! năm Kỷ
Hợi (939), sau khi Ngô Quyền xưng vương thì tiếp loạn sứ quân, mãi đến năm Mậu
Thìn (968) mới dẹp yên được. Phụ thân của thần là Đinh Hoàn lên ngôi Hoàng đế,
lập nước Đại Cồ Việt, định đô Hoa Lư ở Trường Châu, đặt niên hiệu Thái bình.
Nay, thần Nam Việt Vương, thay vua cha sang trình báo bệ hạ.
Nghe xong, Dẫn cất giọng
sang sảng, nói:
– Trẫm biết cả, Đinh Hoàn
còn phong chức tước cho cả bọn sư sãi, con hát nữa, lại đúc tiền này nọ, nghĩ
cũng đáo để.
Nhác thấy Chánh sứ nhíu
mày, vẻ không hài lòng về sự trịch thượng của mình, nên Dẫn chuyển chuyện khác:
– Mấy ngày nay, thấy các
ngươi đi đường mệt nhọc, trẫm đã cho nghỉ ngơi, thăm thú, kinh thành, chợ búa,
quán xá… Hẳn các ngươi đã thấy, Đại Tống ta, không những có tiền đồng, mà còn
có cả phi tệ(1) nữa.
– Tạ ơn bệ hạ! – Liễn chắp
tay cúi đầu cảm tạ và nhớ lại, đã thấy những đồng tiền bằng giấy, có vẽ hình
hàng chục đồng tiền hình tròn, lỗ vuông và có cả hình mấy người khuôn vác, bán
buôn, giữa cảnh phố xá gì đó.
– Năm tới, trẫm sẽ cử một
phái bộ sang bên đó truyền chỉ, phong cho Đinh Bộ Lĩnh làm Quận vương, gọi là
Giao Chỉ Quận Vương. Còn ngươi thì làm Kiểm hiệu thái sư Tĩnh Hải Quân, Tiết độ
sứ An Nam đô hộ.
Nghe vậy, khiến Liễn suýt
ngã bổ chửng, may mà kịp thời trấn tĩnh, nhưng lời vẫn còn nghẹn trong cổ, mà
phải cố thốt ra:
– Tạ ơn bệ hạ!
– Bãi triều!
Sau khi hạ lệnh bãi triều,
Dẫn được hai cung nữ đẹp như tiên giáng trần, dìu vào hậu cung. Bọn thái giám
đi theo. Đám lính vẫn tại vị. Đoàn sứ bộ Đại Cồ Việt lui về dịch quán, sửa soạn
lên đường về nước.
***
Nghe Đinh Liễn tấu trình
việc đi sứ Bắc Tống trở về, đến đoạn vua Tống phong hoàng đế nhà mình chức Quận
vương, khiến Đinh Điền gầm lên:
– Hóa ra, nó chỉ coi mình
như quận huyện thôi ư?
Hoàng đế phải nghiêm sắc
mặt, xua tay ra hiệu cho Điền lặng tiếng, để Liễn tâu nốt, rồi mới ôn tồn nói:
– Từ xưa, cái bọn phương
Bắc, lúc nào cũng như con hổ trong hang, con giải trên sông, lơ là mất cảnh
giác bị nó đớp liền. Nay, nó tự cho mình thế nước lớn mà ngông cuồng, thì ta
cũng biết vậy cái đã, liệu sau. Chuyện này, chỉ giữ kín trong triều, không loan
cho binh lính, dân chúng biết làm gì, kẻo sinh loạn.
Cả bọn cúi đầu lĩnh mệnh,
cùng hô to: “Tuân chỉ!”.
Điền vẫn chưa xả hết nỗi
bực dọc trong lòng, vẫn nói:
– Nhẽ ra, thần định can
trước lúc Nam Việt Vương lên đường đi sứ, nhưng nghĩ Hoàng thượng và triều đình
đã quyết, nên thôi. – Điền bặm môi, trợn mắt nói, – nhưng ức thật, việc gì phải
cúi đầu xin nó sắc phong? Thế hóa ra, vẫn lệ thuộc nó à. Nó là cha mẹ mình à?
– Một nghìn năm Bắc thuộc,
quen thói thần phục mất rồi. – Hoàng đế điềm đạm nói câu thực lòng, – một nghìn
năm sau nữa, chẳng biết có thoát Hán được không? Cái danh độc lập chỉ để yên
lòng dân mà thôi. Bởi vậy, theo lệ xưa, vua chúa gì đi chăng nữa, cũng đều phải
xin sắc phong cho chính danh. Còn việc ta, ta cứ làm. Cái này, gọi là trò giao
hảo khôn ngoan. A ha ha…, – Hoàng đế đắc chí cười vang.
– Tôi không ngờ chú cũng…
Suýt nữa Điền buột miệng
nói chữ “hèn”, may mà Bặc đứng cạnh, véo một cái rõ đau vào hông, khiến Điền phải
há hốc mồm ra.
Các quan tái mặt kinh
hãi, lo thay cho quan Ngoại giáp. May sao, Hoàng đế đang say sưa thưởng thức
chính cái sự khôn vặt của mình, nên không để ý.
Đến khi sứ bộ nhà Tống
sang, Hoàng đế bảo chờ ở Thiên Tôn, cho đi thăm thú loanh quanh phong cảnh núi
Hồi Hạc(5), Non Nước, rồi lại sang Kỳ Lân(6), Cánh Diều.
Quan Chánh sứ thấy non nước hữu tình, toan khắc bài thơ lên vách núi, nhưng Vệ
úy Phạm Hạp không chấp thuận, đành phải thôi. Khi về lại động Thiên Tôn, chúng
bàn nhau:
– Tại làm sao mà Cao Biền
đã trấn yểm ở đây, với núi Cánh Diều, nhưng xứ này vẫn phát vương, lại dám mạo
xưng hoàng đế nữa?
– Hẳn là lũ man di có kẻ
cao tay phá được, hoặc giả, hồng phúc chúng lớn quá chăng?
– Thái tổ dặn, phải dùng
kim ngân làm mờ mắt vua quan xứ này, phải phao tin gây loạn nhân tâm, thì tự khắc
chúng suy sụp, còn hơn cả trấn yểm.
– Hoàng đế Đại Tống sáng
suốt!
– Nhưng ta phải làm cho
khéo, kẻo lộ ra thì bị phản đòn, tai hại gấp bội phần.
Cứ để cho sứ giả chơi
chán, Hoàng đế mới cho xe ngựa kéo cả đoàn theo đường Thiên lý ra bến Gián Khẩu,
rồi xuống thuyền, ngược sông Hoàng Long, rẽ Sào Khê, lên bến Đền, vào cung.
Hành trình thật nhiêu khê, khiến cho chúng thấm mệt, chứ không cho xe ngựa chạy
thẳng từ động Thiên Tôn theo đường Tiên Yết, Đô Thiên vào cửa Đông kinh thành
Hoa Lư.
Từ khi nghe thuyết của
Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu, Bộ Lĩnh đã cho cất vạc dầu, nhưng nay đón bọn
sứ Tống sang, bèn bầy lại, để gây sự khiếp sợ. Ai dè, sứ bộ nhà Tống đi qua,
nhìn thấy vạc đang đốt lửa đùng đùng, dầu sôi sùng sục, lại bảo nhau:
– Không ngờ cái trò man rợ
của đại quốc, từ thời mông muội, nay là Quý Dậu (973) rồi, mới được du nhập vào
Giao Chỉ?
Chúng cười khinh khi,
quay đi.
Đinh Tiên Hoàng đế thiết
triều, sứ bộ nhà Tống truyền chế của Tống Thái Tông Triệu Khuông Dẫn. Chế rằng:
“Họ Đinh, đời làm vọng tộc,
gìn giữ được phương xa, chí hâm mộ phong hóa Trung Hoa thường nghĩ tới việc nội
phụ. Nay chín châu hợp một, miền Ngũ Lĩnh sạch quang, bèn trèo non vượt biển đến
dâng đồ cống. Khen người làm con biết giữ thưởng đức tốt của người già, há chỉ
hạn chế trong điển chương thường lệ đâu”.
Nghe xong, các quan đứng
như trời trồng. Ngoại giáp Đinh Điền tức sùi bọt mép, mắt trợn ngược như trúng
phong, ngã vật ra sàn điện. Hoàng đế quát Thái y đưa ra ngoài cứu chữa, nhân
tuyên bố bãi chầu luôn thể.
Mặc dù Hoàng đế đã có chỉ
phong tỏa sắc phong của Triệu Khuông Dẫn, nhưng tin đồn vẫn lọt ra ngoài, khiến
quan, quân, dân chúng tỏ ý căm nhà Tống trịch thượng lắm.
***
Mấy năm nay, quan lại được
phong chức tước ngày một nhiều, chúng ra sức xây cất dinh thự, mua sắm ngựa xe,
nên dân chúng phải đóng thêm các loại thuế má, thuế chồng lên thuế, không biết
bao nhiêu mà kể. Kho tàng ngày một kiệt quệ. Nhà vua phải sai đúc thêm nhiều tiền.
Tuy có thêm tiền, nhưng lại ít sản vật, nghèo hàng hóa, kém thóc gạo, nên đồng
tiền mất giá. Người đi chợ phải mang theo hàng xâu tiền treo đầu đòn gánh. Trẻ
con cũng đánh đáo ăn tiền suốt ngày, tiền treo lủng lẳng dải rút, thòi ra dưới
lá tọa, nom như đuôi trâu cụt. Dân đói khổ, sinh ra chán ghét, trộm cướp nổi
lên như rươi. Nạn bán tước mua quan lọt vào tận trường ốc, nên sự học hành cũng
lơ là, đúc ra một lứa quan lại ngu hèn. Trong dân, tin đồn nhảm đầy ắp lỗ tai.
Ai thấy điều trái tai gai mắt tâu lên, đều bị ghép tội phản nghịch. Kẻ sĩ ngoảnh
mặt, không mặn mà với chính sự nữa.
Không biết từ đâu tung ra
bài sấm, lan truyền khắp hang cùng ngõ hẻm:
Bởi chưng giời đất đảo
điên
Quân binh loạn tướng, thế
gian loạn tiền
Dân loạn khẩu, sĩ loạn
văn
Bao giờ loạn miếu sẽ yên
mọi bề.
Đinh Điền bảo Hoàng đế rằng,
ngờ Lưu Cơ làm ra. Bởi, khẩu khí cương cường ấy là của Lưu Cơ, thương kẻ khó
cũng Lưu Cơ, chức tước cao sang không màng lại là Lưu Cơ… Vậy, đích thị
Lưu Cơ chứ còn ai, cho vào cối mà giã cũng không trật. Hoàng đế lắc đầu quầy quậy,
tưởng trên vai Hoàng đế là cái cù đang quay. Điền lại bảo, hay là bọn sứ nhà Tống
tung ra, khiến vua tôi ngờ vực lẫn nhau. Hoàng đế nghe có vẻ xuôi tai, nhưng
chưa quyết bề nào. Bao kẻ nói qua nói lại sấm ấy, đều bị tra tấn, đánh đòn roi.
Những người cả gan cãi lại, bị quẳng vạc dầu, chuồng hổ, ao giải. Thế nhưng tin
đồn vẫn như mạch suối nước nóng Kênh Gà, không sao bịt lại được.
– Rõ là, bịt miệng vò, miệng
hũ, chứ ai bịt được miệng thế, – Bặc cám cảnh than vãn.
– Tôi cũng rầu cả ruột, –
Hoàng đế ca thán.
– Quả thực, từ khi phái bộ
nhà Tống sang truyền chế, thấy lắm tin thất thiệt, không biết có phải từ mồm miệng
chúng ngầm phun ra hay không? Nhưng Lưu Cơ thì tôi tin, lòng dạ sáng như trăng
sao, – Bặc tự tin, dãi bày lòng mình.
– Tôi cũng nghĩ thế, –
Hoàng đế nói. – Nhưng bác Điền cứ bảo, sấm ấy, phải hạng người như Lưu Cơ mới
bày ra được, – Hoàng đế lại thở dài.
– Chuyện này, phải cậy nhờ
đại sư chăn phần tâm, bọn Ưu bà lo bày trò nói lọt tai dân chúng. Ngõ hầu, từ đấy
mà lòng dạ tụ về triều đình, quy về Hoàng thượng, tránh mầm phản loạn.
– Phải, bằng hữu có mẹo
hay. – Hoàng đế tán thưởng, – trị nước tưởng dễ, nhưng lại khó nhọc bằng mấy cuộc
giao tranh. – Hoàng đế dốc bầu tâm sự với bạn, – lúc chiến trận xông pha hòn
tên mũi đạn, thì binh lính là thứ bung xung, thắng thì công đầu của tướng, thua
thì chết không toàn thây. Nay yên hàn, trăm sự đổ lên đầu vua. Chính làm cái
anh quan, hóa ra lại hay hơn là làm cái anh vua.
Nghe vậy, Bặc cười chảy cả
nước mắt, nói:
– Không ai thích làm vua,
sợ điều tiếng. Thế nhưng mà ai động đến lại bảo phạm thượng, nọc ra đánh hàng
trăm roi, có khi lẳng vào vạc dầu, chuồng hổ, ao giải…
– Thế mới gọi là cái anh
vua! – Hoàng đế lý sự cù nhầy, rồi phá lên cười.
Nghe vậy, Bặc lại càng cười
to. Từ lâu đến giờ, cả hai mới được trận cười sảng khoái đến vậy.
– Nghe nói, có quan trong
triều, tư thông với sứ Tống, nên có kim ngân, xây cất dinh thự, mua sắm ngựa
xe, – Bặc nói nhỏ.
– Phạm Cự Lạng cũng đã cử
quân theo dõi. – Hoàng đế thở dài, – quân phản chủ, rõ là nuôi ong tay áo, nuôi
cáo trong nhà. May sao, bọn liêm phóng(7) cũng biết mà để mắt…
Tượng Đinh Đế
Toàn ở đền thờ Vua Đinh – Ninh Bình
Chương mười một
Dương hậu sinh Đinh Toàn
1.
Đang thủng thẳng đi qua
chợ phủ, bỗng nghe tiếng trẻ con hát: “Đỗ Thích thí Đinh, Đinh…”,
khiến Đỗ Thích rụng rời chân tay. Thôi chết, vạ đến nơi rồi, nghĩ vậy, hắn cố sống
cố chết đuổi theo bọn trẻ, mong sao túm được một vài đứa, đem về khảo tra cho
rõ ngọn ngành. Nhưng chúng như ma, thoáng chốc đã lẩn như trạch. Hồn vía lên trời,
Thích ba chân bốn cẳng chạy thẳng vào cung, khẩn báo Phạm Cự Lạng.
Lạng nghe, tái mặt hỏi lại:
– Thật không?
– Thật! – Thích lập cập
đáp, không ra hơi.
– Ở đâu?
– Chợ phủ!
– Mấy đứa?
– Một đám, không bắt được
đứa nào, – Thích nói như mếu. – Vạ chu di tam tộc đến nơi rồi! – Thích bật khóc
tu tu như cha chết.
Lạng vội cử mấy toán lính
cải trang làm thường dân, đi dò xét. Một chốc, các toán trở về, đều cấp báo lời
sấm như nhau cả. Sấm rằng:
“Đỗ Thích thí Đinh,
Đinh
Lê gia xuất thánh minh
Cạnh đầu đa hoạnh tử
Đạo lộ tuyệt nhân hành.
Thập nhị xưng đại vương
Thập ác vô nhất thiện
Thập bát tử đăng tiên
Kế đô thập nhị thiên”.
Lạng vội báo Lưu Cơ. Cơ
nghe qua, dịch ngay một bản làm bằng:
“Đỗ Thích giết hai Đinh
Nhà Lê nổi thánh minh
Tranh nhau nhiều kẻ chết
Đường xá người vắng tanh.
Mười hai (năm) xưng đại vương
Toàn ác không một thiện
Thập bát tử (Lý) lên tiên
Kể hai chục ngày liền”.
– Vầy là sao? Thưa đại
nhân! – Lạng sợ hãi, hỏi Cơ.
– Cứ như sấm này thì đại
loạn. – Cơ chau mày nói, – nhưng trước mắt, phải dẹp yên chuyện đồn nhảm. Bắt
được đứa nào chưa?
– Chúng cứ như ma, tự
dưng biến, bỗng dưng hiện, – Lạng thất thần nói.
– Sao lại lọt chuyện này
vào cung được? – Cơ tò mò hỏi.
– Chính Đỗ Thích cấp báo
như thế, – Lạng khảng định.
– Bài dài thế, mà Đỗ
Thích thuộc được ngay sao? – Cơ hồ nghi.
– Không, Đỗ Thích mới
nghe câu đầu, đã lập tức đuổi theo bọn trẻ, nhưng không sao bắt được, liền về cấp
báo ngay, – Lạng thuật lại. – Phải tâu Hoàng thượng, nhề!
– Ấy chớ, – Cơ vội can. –
Bây giờ, phải mời ông Bặc, ông Điền, ông Tú cái đã, rồi liệu sau.
– Còn ông Liễn? – Lạng chần
chừ, – Đỗ Thích nữa chứ?
– Chưa chưa… – Cơ xua
tay. – Chưa rõ đầu cua tai nheo thế nào…
Lạng bèn phái lính, đón
các quan Tứ trụ triều đình, vào dinh Đô hộ phủ.
***
– Tôi cũng vừa nghe thấy
chuyện động trời rồi. – Điền vừa bước chân vào cổng, đã oang oang, – chém thằng
Thích ngay!
– Ấy chớ, – Bặc vội can
Điền. – Để xem sao đã chứ? – Đoạn, quay sang Cơ hỏi, – thế, ý ông ra sao?
– Cứ như lời sấm quái gở
này, thì Đỗ Thích sẽ “thí”, nghĩa là sát hại Hoàng đế và Nam Việt Vương, “hai
Đinh” mà, – Cơ vừa nói vừa thở, vẻ khó nhọc.
– Ối giời! – Tú bật dậy,
kêu to, rồi lại ngồi phịch xuống ghế, mặt tái dại.
– Nhà Lê sẽ nổi lên, – Cơ
nói.
– Tôi đã bảo chú ấy là, cẩn
thận cái thằng Thập đạo, nó có mệnh thiên tử, nhưng chú ấy cấm có nghe, – Điền
giậm chân, đập tay, ngửa cổ thở như cá ngáp trên cạn chờ chết vậy.
– Cứ để yên, nghe ông Cơ
giảng nốt bài sấm xem ra sao đã nào? – Bặc sốt ruột, cắt ngang.
– Câu “Mười hai xưng đại
vương” nghĩa là nhà Đinh được mười hai năm, thì nhà Lê lên thay, rồi nhà Lý lại
lật nhà Lê. Câu “Thập bát tú”, chiết tự là chữ “Lý”, – Cơ lấy lại bình tĩnh, từ
tốn giảng giải.
– Nghĩa là, – Bặc ưu tư,
– theo lời sấm, thì thằng Thích sẽ ám hại hai cha con vua Đinh, rồi nhà Lê xuất
hiện, sau đấy nhà Lý lại lên?
– Câu đầu chỉ đích thị Đỗ
Thích rồi. Cái chữ “Thích” cũng là ám sát mà, – Lạng khảng định. – Còn từ câu
hai giở đi, nhất là đoạn hai thì mù mờ. Nhưng thiển nghĩ, để bảo toàn cho Hoàng
thượng và Nam Việt vương, ta cứ gô cổ Đỗ Thích lại cái đã, hạ hồi phân giải.
– Bắt thằng Đỗ Thích
ngay! Lột mũ áo thằng Lê Hoàn mau! – Điền hùng hổ nói.
– Bình tĩnh, – Bặc ôn tồn.
– Bây giờ, anh em ta vào hoàng cung, xem ý Hoàng thượng ra sao đã? Bài kệ ở
chùa Minh Châu, từ năm Bính Thân (936), thì chả chỉ bọn nhà chùa còn ai? Việc
này, liên can đến bọn sư sãi, nhà chùa chi không? Đại sư… – Bặc định nói câu gì
đó, về Ngô Chân Lưu, nhưng nghĩ sao lại thôi.
Nghe vậy, ai cũng cho là
phải, bèn cùng nhau kéo vào hoàng cung, khẩn báo có chuyện dữ. Hoàng đế
nghe xong, cả cười, bô bô nói:
– Ta nghe cả rồi, biết cả
rồi. – Hoàng đế chấm khóe mắt, – không phải lo chi cho mệt. Chả nhẽ, Đỗ Thích
là ân nhân của ta, lại nỡ hại cha con ta? Lê Hoàn là nha tướng của ta, chỗ thân
cận của thằng Liễn, lại mưu phá cơ nghiệp chủ tướng? Còn nhà Lý ư? Ta với ông
Cơ đã tảo thanh ngay từ năm Đinh Mão (967) rồi, còn mống nào đâu?
– Chả nhẽ, chỉ là âm mưu
của kẻ nào đó, hòng chia rẽ vua tôi? – Lạng thật thà hỏi, – hay là từ mồm bọn sứ
Tống, sang năm ngoái?
– Gớm, cứ ngã bệnh lại đổ
cho trâu à? – Hoàng đế lại cười, bỗ bã nói, – thôi, bảo thằng Thích làm bữa tiết
canh lòng lợn, cánh ta đánh chén cái đã. Lâu lắm, anh em chưa ngồi bù khú chén
chú chén anh. – Đoạn, Hoàng đế lập tức nghiêm giọng bảo, – đừng quá tay với
chuyện tầm phào, mà trẫm mang tiếng là kẻ vong ân bội nghĩa, nhỏ mọn nghi
quanh, làm quân tâm dao động!
Nghe vậy, cả bọn chỉ còn
biết cười trừ, tuân theo.
2.
Dương Hoàng hậu sinh
hoàng tử, đặt tên Đinh Toàn, còn gọi Đinh Tuệ.
Tin vui bay khắp kinh
thành. Lưu Cơ bảo: “Năm nay, Giáp Tuất, Hoàng tử sinh ngày này, tháng này, hẳn
lĩnh ấn quân vương”. Đinh Liễn nghe vậy, sa sầm nét mặt, tỏ vẻ không hài lòng.
Sau năm năm nhập hoàng
cung, Dương Hoàng hậu sinh hoàng tử, khi bước vào tuổi hai mươi mốt, thì tỏ ra
vui mừng khôn xiết. Tin vui bay về động Hoa Lư, khiến ai cũng đổi giận làm vui,
bỏ qua chuyện Dương Hoàng hậu phá hoa đêm hôm xưa. Ai cũng chắc mẩm, hoàng tử
lên thái tử, thái tử lên ngôi vua chỉ một bước chân. Thế là cả làng lại được nhờ,
vẻ vang thay. Không ngờ cái động núi lau lách, hoang vu, làm nơi thả trâu tập
trận ngày nào, mà lại danh giá đến nhường ấy.
Ngô Nhật Khánh biết tin ấy,
thì nghiến răng trèo trẹo, nhìn Ngô bà đầy vẻ trách móc. Ngô bà chỉ còn biết chảy
nước mắt tủi phận mà thôi.
– Mẹ ơi, con có chút vàng
bạc biếu mẹ, – Khánh lễ phép.
– Mẹ khối tiền, – Ngô bà
lau nước mắt, cười.
– Tiền mất giá, khác gì vỏ
hến. – Khánh nài nỉ, – mẹ dùng kim ngân chẳng hơn sao?
– Mẹ cần gì nhiều đến thế
vầy, – Ngô bà nhìn đống vàng bạc, nghi ngờ hỏi con giai.
– Thì, mẹ cứ dúi cho bọn
thái giám, – Khánh nói trắng phớ ra, rồi quầy quả ra về.
Đến lúc này, Ngô bà mới
hiểu, ngồi thừ ra, đỏ bừng cả mặt. Thì ra, nó vẫn đăm đắm muốn có một đứa em
giai nữa. Ngô bà thẹn, cười ra nước mắt.
Ngồi trong cung, bà xổ
tóc ra chải cho khuây, bọn thị nữ a tới giúp. Chúng đâu có hiểu tâm sự của bà.
Sao mà khi ân ái với người đàn ông quyền lệch thên hạ này, trong đầu vẫn lẩn quất
hình bóng bố thằng Khánh? Gái nhớ chồng cũ biết ngày nào nguôi, là cái sự vậy
sao? Có lẽ, chính vì thế mà không đậu, chứ không phải như nó lầm nghĩ? Chắc nó
tưởng hoàng thượng không thèm ngó ngàng gì tới mình, nên mới đem vàng bạc cho
mình hối lộ bọn thái giám đây. Nghĩ vậy, bà bật cười khanh khách, khiến bọn thị
nữ giật mình. Ta còn mặn mà chán, khiến Bộ Lĩnh không muốn rời ấy chứ. Ta có mẹo
của ta, lại thêm thuốc thang tẩm bổ nữa, nhất định sẽ sinh ra hoàng tử cho mà
xem.
Thì ra, thằng Khánh qui
hàng, nhưng vẫn ôm mộng lớn. Nó vẫn muốn giữ nhà Ngô để nối nghiệp đế vương. Việc
chẳng thành, nó phải quay sang với nhà Đinh, hẳn có mưu đồ nhiếp chính chi đây,
nên cần có một thằng em cùng mẹ khác cha, làm cầu nối cho nó. Nó từng tự xưng
là An Ngô Vương kia mà. Được, thương con ta sẽ lo tròn mọi sự.
3.
Từ khi Tráng bị đánh đòn,
về Trữ làm ruộng, những tưởng yên thân, nhưng ai ngờ, vẫn bị bọn lính dò xét. Bọn
này báo với Lạng rằng, con Là thường đi chợ phủ, thỉnh thoảng có ghé qua tư
dinh Lê Hoàn. Có bận, thằng Tráng tới đó qua đêm. Sau đấy, mới thấy bài sấm tám
câu xuất hiện ở chợ, nghi vợ chồng thằng này ngầm truyền dạy trẻ con. Có khi,
chúng còn có trò ma thuật tàng hình nữa. Thằng Tráng không biết chữ, con Là chỉ
lẻo mép, nên không thể chế ra bài sấm… Sự này, có nhẽ, tổ chấy hẳn ở tư dinh Thập
đạo tướng quân? Nhưng Hoàng đế đã có chỉ, không được xuống tay với quan Chi hậu
nội nhân và Thập đạo tướng quân, nên Lạng chỉ cho bám riết vợ chồng Tráng – Là,
để chờ thời cơ hành động mà thôi.
Lại nữa, Định quốc công
Nguyễn Bặc có nhắc đến bài kệ chùa Minh Châu, nghi nhà chùa thông đồng với cánh
họ Lý mà đặt ra. Chuyện cũ, cách bốn chục năm trường, có dây mơ rễ má gì với
chuyện này không? Trong dòng dõi nhà Lý, kẻ nào có máu mặt. Hồi dẹp loạn Lý
Khuê ở Siêu Loại, Lưu Cơ đã bày mẹo cho Hoàng đế nhổ tận gốc, trốc tận rễ, trừ
hậu họa rồi mà. Con người có thắng được mệnh trời hay không, là ở như cái chỗ
này. Lạng ngồi thừ ra nghĩ, nếu số trời chuyển sang tay nhà Lê thì tính sao? Vậy
phải bảo bọn lính làm cho khéo, giữ cho kín mới được, kẻo cháy thành vạ lây,
khi vật đổi sao rời, lại chẳng có chỗ dung thân, chứ chưa nói gì đến thăng thưởng.
Ta cũng phải bảo anh Hạp cẩn thận mới được. Thôi, hay là cứ lờ cái chuyện sấm
trạng này đi cho yên, lại đúng ý chỉ Hoàng đế. Một người thì kín, chín người
thì hở, mà biết đâu, Lê Hoàn cũng có tay trong thì sao? Ngẫm câu: “Thập nhị
xưng đại vương”, thì chẳng lẽ, Đinh Tiên Hoàng đế trị vì chỉ được mười hai năm
thôi sao? Tính từ Mậu Thìn (968) lên ngôi, thì đến Kỷ Mão (979) là hết số ư? Bấm
đốt, chưa đầy một bàn tay, Lạng thở dài, ngậm ngùi thay. Lại câu: “Thập ác vô
nhất thiện”, nghĩa là mười điều ác, không có lấy một điều thiện, thì ắt giời sẽ
bỏ tà lập chính thôi. Vạc dầu, chuồng hổ, ao giải là những cái dấu búa đóng vào
việc ác của triều Đinh rồi, không sao gột rửa được nữa. Nghĩ vậy, Lạng bảo bọn
quan quân tay chân nộp hết giấy tờ, sổ sách liên quan việc dò sét bài sấm, rồi
bí mật phóng hỏa.
Chú thích:
(1) Khuất
Nguyên (340-278 tr. CN)
(2)
tác phẩm của Khuất Nguyên.
(3)
bản dịch của Nhượng Tống.
(4)
bản dịch của Đào Duy Anh.
(5)
núi Hồi Hạc là một thắng cảnh, từ thế kỷ XIV, nhiều vua chúa và quan trạng đã
khắc bia ngợi ca, đến thời Pháp thuộc, bị phá lấy đá làm đường tàu hỏa; nay thuộc
khu vực đài liệt sĩ, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (Tư liệu Trần Lâm
Bình).
(6) núi
này thuộc thành phố Ninh Bình, khác núi Kỳ Lân ở huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh
Bình.
(7)
liêm phóng là người bảo vệ an ninh trong triều đình, đến thời Lý thì lập thành
cơ quan riêng biệt.
15/7/2020
Vũ Xuân Tửu
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét