Tiếng con chim lợn kêu ngang qua - Tiểu thuyết Nguyễn Trọng Văn
MỘT
Đêm vụt tiếng kêu
“éc” của một con chim lợn bay ngang qua.
Ông Thanh giật thót người. Mồ hôi vã ra thành hạt. Đầu tiên mồ hôi vã ra ở trên trán rồi tiếp theo là vã ở dưới lưng. Trong giây lát khắp người ông bỗng ướt đầm như vừa ngoi ở dưới ao lên. Ông Thanh bật choàng ngồi dậy, trống ngực đập thình thịch. Bần thần hồi lâu mãi không nghĩ ra mình đang ở đâu. Không gian trong buồng giam đặc quánh những giấc ngủ. Chốc chốc lại rống lên tiếng ngáy của ai đó. Tiếng ngáy kiểu cố lên, tiếng ngáy nghe ằng ặc, đứt từng quãng ngắn, nghe như một người đang bị một người khác khi ngủ mệt đã vung cánh tay chẹn ngang cổ họng. Liếc mắt nhìn xung quanh như để xem xem có ai cũng bị đánh thức đột ngột như mình không. Không một ai cả, buồng giam lúc này như một chiếc tổ kén bọc kín bưng. Ông Thanh xoay người nhìn xung quanh thêm một lần nữa. Hình như tiếng kêu của con chim lợn vừa bay ngang qua chỉ có mỗi mình ông nghe thấy? Nét mặt phân vân, bàn tay ông quờ quạng như để kiểm chứng là mình đang tỉnh hay đang mê, bàn tay ông vô tình đè nghiến mạng sườn của người bạn tù nằm bên cạnh. Người đó rên ư ử, lẩm bẩm như chửi ai, rồi ưỡn người duỗi thẳng chân, rồi lại ngủ tiếp.
Từ hồi tối đến giờ ông
Thanh luôn ngủ những giấc ngủ chập chờn. Giấc ngủ ngon và sâu đã lâu rồi không
đến. Những mỗi khi màn đêm buông xuống đối với ông là những đêm vật vã, ông
không dám cựa mình để đổi tư thế nằm bởi mỗi khi cựa mình ông lại chạm vào người
nằm bên cạnh nhưng cứ nằm mãi một tư thế trong giấc trằn trọc thì cũng khác nào
đang chịu cực hình. Ông rất thèm ngủ nhưng lại không dám ngủ. Sự vô lý này đêm
nào cũng tới. Thức thì mệt bã người mà ngủ thì những giấc mộng mị chập chờn
nhưng ào ào kéo đến ngay khi ông vừa chợp mắt. Những giấc mộng mị vừa xa lạ vừa
gần gũi khiến ông không phân biệt được đâu là thực đâu là mơ.
Ngồi mãi cũng thấy nản,
trời còn lâu mới sáng. Ông Thanh dón dén đứng dậy, rõ ràng đôi tai ông vừa bắt
được tiếng con chim lợn kêu. Tiếng con chim lợn đi ăn đêm bay ngang qua kêu tiếng
“éc” rồi im bặt. Bàng hoàng như người không xác định được đâu là ranh giới giữa
đêm với ngày, ông Thanh ngồi im ngơ ngác thêm mươi phút nữa rồi mới tạm thấy tỉnh
đôi chút. Ông sờ soạng nhưng lần này đã có ý hơn để không làm phiền người bên cạnh,
ông tìm cách đứng dậy. Ông đứng vô hồn, rồi như vô định ông đưa bàn tay phải rê
rê lần theo mảng tường cố vơi với lên ô cửa thông gió kiêm thông sáng ở tít
trên cao. Ô thoáng đó rộng chừng ba mươi ba nhăm phân, cao chừng hai mươi phân,
nó lại được ken đặc hàng song sắt cắm dọc cắm ngang, những chiếc song sắt to bằng
ngón tay cái đã chia ô thoáng thành nhiều ô nhỏ. Những ô nhỏ ấy dường như chặn
hết mọi luồng ánh sáng nếu chúng muốn lọt vào buồng giam. Những khi tươi tỉnh
hay muốn xem xem bên ngoài thế nào ông Thanh thường ngước nhìn lên ô thoáng.
Ông cố lọc trong ánh sáng nhờ nhờ đang cố tình chui qua ô thoáng để đoán định
thời tiết ở ngoài ấy. Đêm nào trời quang mây rạng, ánh sáng từ những ngôi sao hắt
vào buồng giam tỏ hơn tuy nó bàng bạc và lành lạnh. Đêm nào thời tiết u ám hay
mây mưa phủ kín, ánh sáng mù mù nhìn mà không đếm được trên cái ô thoáng vốn nhỏ
ấy hàng song sắt đã chia nó ra thành bao nhiêu ô nhỏ khác.
Đứng kiễng chân chập dài
đến đau cứng mười đầu ngón chân mà ông Thanh vẫn không tài nào với được tới ô
thoáng. Thực ra ông Thanh thừa biết, ông có với cả ngày cũng không tới được chỗ
cần với bởi ô thoáng đó đã được đặt ở vị trí rất cao trên bức tường. Giả thử
bây giờ có hai người đàn ông đứng công kênh nhau cũng còn lâu mới chạm tới mép
dưới của ô thoáng nữa là lúc này đây ông chỉ có mỗi mình. Nhưng rõ ràng ông vừa
nghe tiếng con chim lợn đi ăn đêm về vừa bay ngang qua cất tiếng tiếng kêu khô
khốc. Tiếng chim lợn kêu “éc” nghe thoảng lạnh và chờn rợn đủ giúp ông dứt hẳn
cơn ngủ lơ mơ. Ông Thanh cố với tay hy vọng là nắm được hay chí ít là chạm tới
tiếng con chim lợn, ông muốn xua đuổi, muốn lấy tay bịt tiếng kêu ấy đi bởi với
ông tiếng kêu ấy gần như là một sự ứng báo cho một điềm gở sẽ tới với chính
ông.
Thất vọng, ông Thanh lại
ngồi xuống. Ông ngồi bệt một cách cẩu thả, co gập đôi cẳng chân. Ông ngồi thu
lu trên chiếc chiếu cói cũ mèm, thâm đen vì mồ hôi, chính chỗ mồ hôi của ông
làm thâm đen chiếc chiếu, nó in lằn hình người nằm trên đó. Đã chớm thu, hơi lạnh
ngấm từ bệ xi măng lên sống lưng buôn buốt. Dạo này ông Thanh thấy đầu những
ngón chân ngón tay của mình bứt dứt như muốn tuột ra. Nó vừa ê ê vừa buôn buốt
khiến ông liên tục vặn vẹo. Mỗi lần vặn vẹo là mỗi lần đốt xương bị bẻ kêu đánh
khục. Đó là thứ âm thanh ông còn cảm nhận được, nó nói lên rằng ông vẫn còn cảm
giác là người thật.
Ngồi phủ phục, tâm trí
lãng đãng không ra vui chẳng ra buồn. Sáu tháng đủ để ông Thanh quen được với
những mảng tường xám lạnh. Sáu tháng đủ để ông Thanh biết rằng mọi cơ hội đã hết.
Không còn cơ hội nào nữa ư? hình như ông Thanh vừa tự hỏi. Không có một chút âm
thanh nào đáng được gọi là tiếng nói của người đáp trả lời. Khu trại giam vào
ban đêm càng thêm sâu thêm tĩnh lặng bởi nó nằm lọt gọn giữa một cánh rừng bạch
đàn hơn mười năm tuổi. Những bóng cây bạch đàn cao, thẳng, thân vỏ màu trắng, đứng
ngạo nghễ như những hàng rào ngạo nghễ. Thân cây bạch đàn ướt đẫm sương đêm làm
tỏa ra thứ mùi hương thơm như mùi lá chanh bị vò. Cả cánh rừng bạch đàn lúc này
cũng đang chìm sâu trong giấc đêm. Một ngày đã sắp trôi qua, lại một ngày nữa lại
sắp đến. Nghĩ tới chuyện đêm qua ngày tới làm tâm trí ông Thanh càng thêm não nề.
Sáu tháng đủ để ông quen với thực tại nhưng cũng đã sáu tháng ông Thanh vẫn
chưa hết bàng hoàng. Sự việc diễn ra không như ông nghĩ. Ông đã nghĩ nó chỉ là
cái gì đó tạm thời chứ đâu sẽ vĩnh viễn chấm dứt mọi cơ hội. Sự việc diễn ra
không như người ta đã nói với ông. Một cảm giác bị đánh lừa làm ông xa xót tự
trách mình dại dột. Nhưng trách mà làm gì được nữa. Sự dại dột đã đẩy ông vào một
tình cảnh khó tháo gỡ.
Mình đã là một con người độc ác ư? mình đã là một con người bị xã hội lên án ư? mi xứng đáng như vậy lắm. Ông Thanh buông tiếng thở dài. Đêm như kẻ đồng lõa với nỗi trống trải. Đêm như kẻ chung tình với sự cô đơn. Nhưng đêm lại không cho ông một chút an ủi. Lại hóng tai lên phía ô thoáng. Tự dưng lúc này đây ông Thanh lại thèm được nghe lại tiếng kêu “éc” của con chim lợn đi ăn đêm về ngang qua. Loài chim lợn thật khó lường. Chúng chỉ cất một tiếng kêu rợn gáy rồi im bặt. Không cho người ta nghe lại để phân biệt đó là tiếng chim thật hay chỉ là ảo giác âm thanh. Không cho người ta nghe lại để xác định tiếng kêu đó ở gần hay ở xa. Tiếng kêu “éc” khô khan, gọn lỏn và độc địa.
Sinh năm 1961, tuổi Tân Sửu,
có nghĩa là lúc này mình đã bốn mươi ba tuổi. Tự dưng ông Thanh lại nghĩ đến tuổi
tác. Cũng phải thôi, đêm mà không ngủ được thì con người ta thường hay lo xa,
con người ta thường nghĩ từ lúc này đến lúc chết sẽ còn bao nhiêu ngày bao
nhiêu tháng nữa. Tự dưng ông Thanh lại nghĩ đến cái ngày chính là mình bị chết
chứ không phải người đàn bà cùng làng với ông đã bị chết. Người đàn bà kém ông
tám tuổi đã chết thảm bởi những nhát dao đâm chí mạng. Người đàn bà đơn thân đã
chết nằm lạnh cứng bên cạnh đứa con trai nhỏ, nó mới mười tháng tuổi. Thằng bé
bị đánh động khóc giẫy lên, lăn tuột khỏi giường, theo bản năng có tính tồn
vong, nó trườn về chỗ người mẹ đang nằm, nó tru tiếng khóc gào sữa mẹ.
Ông Thanh nhắm tịt mắt lại.
Đầu ngoáy liên tục như cố xua đi hình ảnh người đàn bà làm mẹ đơn thân nằm bất
động dưới nền nhà ướt lạnh. Người đàn bà mà từ thân thể đang toát lên mùi sữa
thơm ngậy. Mùi sữa mẹ trào từ đôi bầu vú căng đầy, những giọt sữa chảy tràn
phung phí dính đọng trên ngực. Sữa chảy tràn trong khi đứa con đang gào khóc
đòi bú liên tục ré lên. Ông Thanh lại ngoáy đầu thêm nữa, ông cố gắng xua đi
hình ảnh người đàn bà với những vết dao đâm ngang sườn. Máu phun ra xối xả. Máu
phun ra, máu chảy thành dòng xuống đất, máu phun ra lẫn với những giọt sữa đang
chảy. Mùi máu tanh tanh mằn mặn nhanh chóng lấn át mùi sữa thơm ngậy.
Đúng rồi! Ông Thanh “á”
lên. Đúng rồi, vào đúng thời khắc ấy có tiếng con chim lợn kêu ngang qua. Tiếng
con chim lợn kêu trong đêm bao giờ cũng đi kèm với việc trong làng này sẽ có một
ai đó vừa mới chết hoặc một ai đó sắp chết. Loài chim lợn chuyện săn chuột
trong đêm rất thính với những âm khí. Người sắp chết âm khí nặng nề bao quanh
chỗ người ấy nằm. Con chim lợn đậu im lìm như một người ngồi ngủ gật. Con chim
đậu trên một cành cây cao gần đó giương to đôi mắt xanh quắc rình rập và chờ đợi.
Người vừa chết linh hồn thoát khỏi xác nhẹ như một làn gió bay vút lên cao.
Loài chim lợn cũng vội vã bay vút theo làn âm khí đó để lấy lại nguồn năng lượng
sắp mất. Chúng nạp năng lượng cho mình bằng cách lấy lại năng lượng bỏ đi của
con người. Có lẽ vì thế nên chim lợn rất tinh ranh. Chúng có trí khôn và nhanh
nhẹn hiếm có. Trong màn đêm đen kịt đôi mắt to, tròn, đôi mắt màu xanh ma dại
và sáng quắc của chúng nhìn xuyên thấu màn đêm. Hình như tinh khí của một con
người vừa mới chết đã được con chim lợn thu nạp và chính thứ gọi là tinh
khí của người đó đã giúp nó trở thành một loài chim có bản lĩnh săn bắt độc đáo
trong màn đêm sâu đen. Nó cất tiếng kêu “éc” báo hiệu sự nhận biết đặc biệt ấy
rồi bay vụt qua, đường bay của nó nhanh và vụt lạnh đến dựng tóc gáy.
Hãi hùng hiện trên nét mặt, ông Thanh cảm thấy sợ hãi, toàn thân ông run lên như phải lạnh, ông lấy hết sức cố gắng thu gọn hai chân lại. Sự đơn độc làm tăng thêm sự sợ hãi. Ông Thanh cố thu mình hơn nữa trên chiếc chiếu cói đã bắt đầu thâm cũ, ông tự tìm cho mình một chỗ để bấu víu. Chiếc chiếu đã cũ và cứ động mạnh là rụng dời từng chiếc cuống chiếu. Cuối cùng như đã cảm thấy đôi chút yên tâm, ông Thanh lần tay nhặt từng chiếc cuống chiếu vừa rụng để gom trên lòng bàn tay. Ông Thanh lẩm nhẩm đếm và mỗi câu đếm lại càng thấy thêm sự trống trải. Hình như những gì gần gụi nhất cũng đang dần bỏ ông mà ra đi? Hình như mũi ông vừa ngửi thấy mùi tử khí? Thứ mùi khăm khẳm thật khó giải thích khiến ông lợm giọng. Thứ mùi mà ông đã từng ngửi thấy. Hình như trong trại giam này có người tù nào vừa chết. Hình như trong trại giam này có ai sắp chết. Tiếng con chim lợn kêu lạnh tanh và dửng dưng như người khách qua đường. Nhưng tiếng kêu ấy không vô tình. Ông Thanh chợt nghĩ như vậy và nhắm hai mắt lại hòng xua đuổi ý nghĩ về những cái chết đang đến. Trước mắt ông lại thấp thoáng hình ảnh người đàn bà cùng làng kém ông tám tuổi đang nằm sóng sượt. Máu đã thôi phun chảy, máu đã khô cứng lại, thâm sì và chét cứng bên cái thân xác đàn bà trắng lồ lộ, rách bươm áo quần. Trong cái dáng nằm bất động ấy ông Thanh vẫn hình dung ra một thân hình đàn bà nằm hớ hênh, ông vẫn hình dung ra vẻ mời gọi đầy nhục dục của thân xác.
Sáu tháng qua ông Thanh
chưa lúc nào xua được nỗi ám ảnh về cái chết của người đàn bà cùng làng ấy. Nó
đeo đẳng lòng ông mỗi khi ông chập chờn ngủ. Cái chết của một người này là nỗi
tiếc thương của người khác. Cái chết của người này là nỗi đau, là nỗi cơ khổ của
một người khác. Ông Thanh đang đau nỗi đau về cái chết của người đàn bà cùng
làng kém ông tám tuổi. Người đàn bà làm mẹ đơn thân nằm sóng sượt dưới nền nhà.
Máu phun ra lênh láng bên những giọt sữa chảy ra từ đôi bầu vú căng đầy.
Mình bây giờ khác nào một
người bỏ đi. Ông Thanh cho là như vậy. Sáu tháng ngồi trong buồng giam là sáu
tháng ông luôn tự dằn vặt, luôn tự đặt những câu hỏi, luôn tự tìm những câu trả
lời mà không khi nào ông có câu trả lời thỏa đáng. Chỉ tới khi mệt quá ông thiếp
lả đi thì ông mới tạm nguôi ngoai. Nhưng mỗi khi ông mệt quá thiếp lả đi thì
trong đầu óc của ông lại chập chờn những giấc mộng mị lạ lùng. Ông vừa nằm mơ
được đến một nơi quen quen. Một nơi chưa bao giờ ông được đặt chân tới nhưng
hình ảnh của nơi đó hiện rõ mồn một trong đầu ông. Một nơi thấy có cảm giác như
đã quen quen nhưng rất xa xôi. Ông Thanh mộng du trong mộng mị.
Trời nhập nhoạng tối. Cuối
thu, bóng tối lại đến càng nhanh. Mới gần sáu giờ chiều mà màn đen đã bao trùm
lên mọi con đường nhỏ nhất. Mặt người cũng như nhọ đi rất khó nhận ra nhau rằng
quen hay lạ, rằng trai hay gái, rằng trẻ hay già. Ông Thanh mệt mỏi đẩy chiếc
xe đạp ngược đoạn dốc ngắn, dốc này không cao, người bình thường chẳng coi đó
là con đường dốc nhưng lúc này với ông Thanh nó lại như cao lên. Cả ngày nay
ông đã phơi mình ngoài trời hanh nắng nên khá mệt. Đôi bên giá đèo hàng là đôi
can nước loại can nhựa hai mươi lít, đôi can đầy nước ông vừa đong bên chiếc giếng
ven đường. Chiếc giếng này tuy nhỏ nhưng bù lại nước trong và mát.
Nhọc nhằn vừa đẩy xe vừa
thở, mỗi bước chân của ông nện trong bóng tối nghe thậm thịch như những bước
chân trâu. Từ đoạn đường dốc này về tới nhà ông chừng còn mươi mười lăm phút đẩy
xe đi bộ nữa. Mươi mười lăm phút để ông thấy cần phải cố sức. Mệt và đói, cả
ngày hôm nay ông đã cùng bà vợ phơi trần ngoài sân vận động. Cái sân lép nhép
những nước với cỏ này ngày thường là chỗ cho bọn trẻ trong làng chạy đuổi nhau
mấy ngày nay nhường chỗ cho những trận thi đấu bóng đá. Gọi là “bóng đá làng”
nhưng ở cái làng quê chưa tối đã đêm này thì mấy hôm nay khác gì làng mở hội.
Những trận đấu bóng đá nhoe nhoét bùn đất lại là cơ hội cho bà vợ ông tranh thủ
kiếm tí chút. Bà tranh thủ đun nồi nước chè xanh đem bán cho người xem lẫn người
chơi. Thế mới có chuyện mấy ngày nay cứ chiều buông, trận đấu tan là ông lại
xuôi con dốc ngắn xuống cái giếng nhỏ ven đường đong đầy hai can nước. Nước ở
cái giếng nhỏ ven đường này xem ra lại nấu lá chè xanh rất hợp. Màu nước chè
xanh ngắt lại trong veo để vừa đủ nguội dễ uống mấy bát vẫn thấy thèm.
Ông Thanh đã lên tới đỉnh
dốc, đoạn này tương đối bằng phẳng bởi người dân trong làng đã san nó lấy chỗ dựng
lên mấy túp nhà. Bóng tối bủa bưng, le lói ánh đèn hắt ra từ căn nhà nhỏ ngay
giữa đỉnh dốc. Ngôi nhà nhỏ này không lạ không vì bởi mấy hôm nay ông Thanh thường
qua lại, mà bởi chính trong ngôi nhà nhỏ ấy có cô Thoan. Cô Thoan người là gốc ở
làng này nhưng lại mới mẻ. Một người đàn bà chừng ba mươi tư ba mươi nhăm tuổi,
da trắng hồng thứ nước da của những người đàn bà mới sinh nở lần đầu và còn
đang trong thời kỳ cho con bú. Một chút tò mò chợt lóe trong cái đầu mệt mỏi của
ông Thanh. Mình có nên lại gần xem xem không nhỉ? Tiếng là người cùng
làng nhưng kỳ thực cô Thoan mới trở về làng không lâu. Người đàn bà quá lứa trở
về làng cùng với đứa con trai còn đỏ hỏn trên tay từng làm rộn lên bao lời eo
xèo bàn tán. Một người đàn bà không chồng, tha hương đâu đó bỗng nhiên trở về
làng đem theo một hình hài bé nhỏ. Những lời eo xèo bao giờ cũng dừng lại ở câu
hỏi không có lời giải đáp rằng “ai là cha” của đứa trẻ. Với cái làng quê thuần
phác này thì tự dưng trong làng có người đàn bà sinh con mà không rõ ai là chồng
luôn là điều kích thích đám đàn ông trong làng bàn tán. Kích thích đám đàn ông
lân la tìm cách làm quen và gạ gẫm. Với suy nghĩ của họ thì hễ đã là đàn bà như
vậy sẽ rất dễ tính, rất lẳng lơ và rất khao khát đàn ông.
Ông Thanh lưỡng lự. Nói
gì thì nói ông đã khi nào tường mặt cô Thoan đâu. Mặt mũi người ta ngang dọc
còn chưa rõ nói gì tới chuyện nhận xét hay đánh giá tư cách. Nhất là sự đánh
giá đó thuộc về đánh giá đạo đức. Dựng chiếc xe đạp bên một gốc cây, ông Thanh
thong thả bước lại gần ngôi nhà nhỏ. Bên trong vắng lặng, nếu không có ánh đèn
le lói lọt qua khe cửa thì ông Thanh đã dừng lại. Nhưng ánh sáng le lói cứ như
mời gọi, nó xui đẩy ông Thanh them từng bước lại gần hơn.
Người bạn tù nằm bên cạnh
chắc là ngủ mớ, ông ta cất tiếng gọi ú ớ. Tiếng gọi ú ớ làm ông Thanh bừng người.
Thì ra ông vừa thiếp đi trong một giấc mộng mị. Chưa ra khỏi bàng hoàng, ông
Thanh lại cố co hai cẳng chân thêm sát vào bụng, ông ngồi dúm dó sát tường. Nửa
đêm về sáng không khí càng thêm lạnh. Khí lạnh bên ngoài thấm qua mảng tường và
từ mảng tường xâm nhập cơ thể, nó đã chia thân thể ông Thanh làm hai phần. Phần
lưng dựa sát tường lạnh toát như chà bị nước đá. Phần bụng nóng ran như phải
đang hơ lửa, đổ vã mồ hôi. Hai tay ông đan vào nhau ôm ghì đôi cẳng chân, giấc
mơ ập đến làm ông sợ hãi. Ông lại co chặt hai bàn tay đang đan vào nhau, co chặt
đến nỗi nó tê cứng làm dính chặt các ngón tay với nhau. Ông không tài nào gỡ được
hai tay của mình đang đan chặt như một chiếc gông gông đôi cẳng chân của
ông lúc này cũng đang tê cứng. Một cơn đau kiểu đau của người bị chuột rút khiến
ông tái dại mặt mày. Cơn đau truyền từ hai bàn tay sang đôi cẳng chân, truyền từ
cẳng chân sang phần bụng, truyền từ phần bụng lên đỉnh đầu. Mồ hôi thi nhau vãi
tứa ra. Ông Thanh cảm thấy ướt lạnh như đang ngồi trong vũng nước lạnh, ông
rùng mình trong cơn đau dữ dội khắp người.
Rất lâu như vậy. Ông
Thanh đành nhăn nhó mặt mày ghìm tiếng rên la nén chịu đau. Thực ra ông không
dám kêu. Ông mà kêu la đau đớn trong lúc này sẽ làm mấy người bạn tù cùng buồng
giam thức giấc. Sẽ có tiếng chửi rủa cùng những mắng mỏ, lời đe nẹt vang lên?
Nó sẽ xẩy ra điều tệ hại ấy vào thời điểm có thể. Sẽ có tiếng xít xoa hỏi thăm
khe khẽ và rất nhẹ nhàng bên cạnh? Nó sẽ như vậy bởi sáu tháng qua ông Thanh đã
kịp cho mình những chuẩn bị cho mọi tình huống.
Hồi mới bị bắt và bị tạm
giam tại trại giam Kế ông Thanh đã từng bị như thế. Ông bị tống vào buồng biệt
giam sau suốt một buổi chiều lử đử bởi những câu hỏi lục vấn, những câu hỏi
liên tục khiến ông không kịp trả lời. Mệt quá ông rũ người gục mặt trên chiếc
ghế không có tựa lưng, ông lại bị nâng mặt lên và hỏi và hỏi liên tục. Có lúc
ông tưởng như mình sắp chết, có lúc ông muốn buông xuôi cho xong chuyện. Nhưng
cái mà ông muốn buông xuôi lại hình như không làm hài lòng những người đang tra
hỏi ông. Cuối cùng khi bóng tối vừa buông xuống, người tra hỏi ông cũng thấm mệt,
ông bị tống vào phòng biệt giam. Nghĩa là từ giờ phút này ông bị coi như kẻ đã
thành án, hơn nữa lại là một án rất nặng. Một buồng biệt giam chật hẹp
nhưng khá kiểm ngặt bởi bốn bức tường cao, dầy và lạnh lùng tới mức dửng dưng.
Sau cú đẩy lưng mạnh cùng câu nói “vào đây rồi xem mày còn ngoan cố được nữa
không” của hai chiến sĩ công an dẫn giải, ông Thanh thấy sa sẩm mặt mày. Chưa kịp
phân biệt đâu là lối cửa mình vừa bị đẩy vào và đâu là mảng tường lạnh lùng đằng
trước mà chắc cả mặt ông sẽ va vào đó. Theo phản xạ của những người bị xô đẩy
ông Thanh chỉ kịp đưa tay đỡ để tránh đập mặt vào mảng tường thì đã bị ngay một
cú thọi chính giữa trán, ông ngã bật ngửa về phía sau, mắt nẩy ngàn vạn hoa đom
đóm. Sa sẩm lại thêm sa sẩm. Buồng biệt giam tối om. Đau tái dại nhưng ông
Thanh vẫn cố gượng dậy hy vọng tránh được cú thọi tiếp theo.
– Thằng con cặc. Mày nhẩy
vào mặt thằng bố mày thế hử?
Tiếng một ai đó cục cằn
vang lên. Hình như là tiếng của người vừa cho ông ăn quả thọi, giọng nghe đầy
cáu bẳn, kiểu giọng khê khê của người đang ngủ dở giấc. Từ miệng của người vừa
nói đó bốc lên thứ mùi như thứ mùi phân trong chuồng lợn. Người đó ông Thanh
chưa hề gặp và thực ra lúc này ông cũng không thể kịp nhìn được mặt mũi người
đó thế nào. Mùi phân chuồng lợn đang như phả ập vào mặt làm ông thấy khó chịu.
Trong bóng tối ông Thanh cũng lờ mờ nhận ra buồng biệt giam này chỉ có hai người.
Một là người vừa cất tiếng chửi đổng và một người là chính ông. Hai người đang ở
rất sát gần nhau, bằng chứng là người kia không cần đứng dậy, người ấy chỉ nằm
thôi đã vung tay thọi quả đấm vào chính giữa trán ông. Ông Thanh miệng xít xoa
vội luống cuống.
– Tôi. Tôi xin lỗi.
– Xin lỗi cái con củ cặc.
Nhớ là thằng bố mày đang nằm ở đây nhé.
Lại một cú thọi vào giữa
trán nữa kèm theo tiếng chửi cục cằn.
– Mày là thằng nào. Tội
gì mà vào đây thế hả con?
– Dạ. Tôi tên là Thanh.
– Bố mày có hỏi tên mày
là cái gì đâu. Bố mày hỏi mày là thằng nào cơ mà.
– Dạ.
– Muốn dạ hử?
– Dạ không ạ.
Ông Thanh đáp lí nhí, dúm
dó mặt mày vì đau và cũng vì quá sợ. Cũng may là không có thêm một cú thọi nữa
vào giữa mặt. Ông ngồi phệt ngửa ngay dưới đất, ngay chỗ ông đang ngã ngồi nhăn
mặt cố nén đau để quan sát. Ánh sáng soi từ chiếc bóng điện cảnh giới treo
ngoài buồng giam chiếu qua ô thoáng đủ để ông quan sát. Cách không xa, chỉ chừng
bước chân, trên cái giường đơn kê sát tường có một người đàn ông đang nằm, bộ
quần áo cùng màu xám lụng thụng như kéo dài thân hình người ấy dài ra hơn mức
bình thường. Ông ta hình như trước đó đang ngủ, người nằm ngiêng quay mặt ra
ngoài, một chân co một chân duỗi, bàn tay phải vẫn còn nắm nắm như ông ta chưa
thôi ý định cho thêm vài quả thọi nữa. Trông thái độ ấy ông Thanh đã thấy
ngài ngại, nhất là hai cú thọi vào giữa trán ông ban nãy. Cú thọi thẳng tay của
người lâu ngày không được đụng chạm chân tay nên có sức mạnh thoát ra ghê gớm.
Chắc là một người đã vào đây trước mình? Ông Thanh trộm nghĩ. Người này có vẻ
bàng quang trước sự sợ hãi và đau đớn của ông Thanh. Người này có vẻ không cần
biết là phải nằm dịch sang một bên để nhường cho người mới bị đưa vào là ông
Thanh có được tí chút chỗ đặt lưng. Căn phòng nhỏ, chỉ độc một chiếc giường đơn
mà lại là chiếc giường đã có chủ. Mình sẽ nằm đất ư? vẻ như biết thân biết phận,
ông Thanh vẫn ngồi ngửa người đẩy tay lết giật lùi hòng thoát ra xa, cái chính
là ông đề phòng người kia bỗng đâu lại vùng dậy và thọi cho ông mấy quả thọi nữa
vào giữa mặt thì khốn. Mấy hôm nay ông Thanh đã liên tục bị những cú thọi vào mặt
vào ngực vào lưng vào tay. Toàn thân ông đang đau thành cơn đau dài ê ẩm. Mi mắt
sưng húp, gò má nổi cục thâm máu đọng. Bộ ngực rã rời như bị tháo từng chiếc giẻ
xương sườn. Những tưởng bị tống vào đây sẽ thoát những cú thọi ai dè còn bị thọi
thêm. Ê chề và hận tủi ông Thanh sụt sùi khóc như một đứa trẻ. Rồi nhanh chóng
ông chợt nhớ ra trước mặt mình còn có người đàn ông đang nằm ông Thanh vội im
phắt.
– Tội tình nỗi gì mà nức
nở thế con?
– Dạ.
– Dạ cái củ cặc. Bố mày hỏi
mày tội gì kia mà?
– Tôi. Tôi không biết.
– Mày làm bố mày ngứa tay
rồi đấy. Vô lý, không mắc tội thì người ta dỗi hơi mà tống mày vào đây à?
– Tại người ta…người ta
đánh…đánh tôi đau quá.
– Chắc là họ lại muốn nhờ
tới bố mày nữa đây?
Người đàn ông kia từ từ
nhổm ngồi dậy, ông ta chĩa đôi mắt vằn đỏ nhìn gờm gờm vào ông Thanh. Ông Thanh
co người lại giống hệt con cua gặp ếch, đôi mắt của người ấy như lưỡi dao sắc lẹm.
Đôi lưỡi dao đang khía vào thân thể ông từng nhát khía một. Bỗng người đàn ông
đổi thái độ. Ông ta hỏi nhẹ nhàng hơn.
– Mày đứng lên được
không?
– Tôi. Tôi đứng được ạ.
– Mày lại bên bức tường
kia. Thế. Một chân co lên. Một chân đứng. Thế thế.
Ông Thanh vội vã đứng bật
dậy để làm theo. Mấy ngày vừa qua cũng đủ cho ông biết thế nào là không vâng lời
người khác. Không vâng lời mà cứ nói và làm theo ý mình thể nào cũng bị ăn đòn,
cũng bị nghe những câu tục tằn chửi rủa và đe nẹt. Ông lui lại rất nhanh, lưng
áp sát bức tường. Trong thâm tâm của ông lúc này còn có nỗi sợ hãi nào hơn nỗi
sợ bị đánh.
– Bố mày bảo mày đứng cạnh
tường chứ có bảo mày đứng dựa lưng vào tường đâu. Con ơi chịu khó nghe lời bố
đi. Không ngoan bố cho ăn mấy quả phật thủ vào cái chỗ đút cơm đấy con ạ.
– Dạ.
Chưa hết ê ẩm bởi những
cú bạt tai lúc ở phòng hỏi cung, đầu óc quay cuồng trong mớ câu hỏi cùng những
lời đe nẹt lẫn lộn. Ông Thanh nhẫn nhục làm theo. Quả thực trò chơi đứng kiểu
lò cò này không đơn giản chút nào. Ông Thanh chỉ đứng được chừng nửa giây đã chực
ngã khuỵu. Người ông ngắc ngư chực đổ nhào về phía trước.
– Thằng chó. Đứng thẳng
người lên.
Ông Thanh nhăn mặt không
cãi, vội vàng làm theo. Đầu óc còn đang mung lung. Mặt mày lại sa sầm. Buồng biệt
giam bỗng tối như hũ nút. Ông thực tình vẫn chưa rõ mặt người vừa thọi quả đấm
vào mặt ông, chưa rõ mặt người đang hỏi ông những câu hỏi như lục vấn, chưa rõ
mặt mày người đang ra lệnh cho mình. Đã mấy hôm nay ông liên tục bị những câu hỏi
kiểu như thế. Những câu hỏi khi dồn dập, lúc bẳn gắt khiến ông nghiêng ngả đầu
óc. Điều ông quan tâm nhất lúc này là làm sao đặt được cả hai chân xuống. Đứng
kiểu lò cò quả tình không chịu nổi.
– Cho. Cho tôi đứng hai
chân đã. Tôi ngã mất.
– Vào đây mà cũng yêu
sách hả con? Thôi được rồi. Bố thương con bố cho con đứng hai chân nhưng mày phải
hát cho bố mày ngủ nghe chửa.
– Hát á?
– Mày không biết tiếng
người à?
– Dạ biết.
– Thế thì hát cho bố mày
ngủ. Chịu khó ngoan rồi bố mày sẽ nghĩ lại.
– Nhưng….
– Nhưng cái con củ cặc. Không nhanh mà hát lên cho bố mày ngủ, bố mày nghĩ khác đi lại khốn đấy con ạ.
Ông Thanh rồi cũng gỡ được
hai bàn tay đang đan chặt với nhau. Lòng đầy bảng hoảng. Ngỡ như câu chuyện vừa
mới xẩy ra. Hơi dịch người ngồi xa tường một đoạn, ông Thanh cẩn thẩn kéo từng
đốt ngón tay hy vọng nó giãn ra và dịu đi co cứng. Ánh mắt ông đang bộc lộ vẻ hốt
hoảng mỗi khi nhỡ tay kéo mạnh một đốt ngón tay nào đó phát ra tiếng kêu. Không
gian vẫn chìm trong màn đêm tuy đã đôi chút nhờ nhờ sáng. Chắc là đã ba giờ
sáng? ông Thanh bấm miệng thầm đoán, ở nhà cứ tầm ba giờ sáng là bà vợ của ông
tỉnh giấc. Hễ bà vợ tỉnh giấc dậy mò ra sau nhà đi tiểu là ông cũng phải thức dậy
theo ra. Ông sợ bà vợ sẩy chân ngã dụi ngoài đó thì khổ thân. Không hiểu vào giờ
này bà vợ của ông có tỉnh giấc mò đi tiểu không? Bà dậy mò ra sau nhà đi tiểu
không biết đứa con gái lớn đã hai mươi tuổi của ông có tỉnh dậy mà biết theo ra
trông chừng không? Tự dưng nỗi nhớ vợ, thương vợ lại ùa đến làm ông muốn khóc.
Khổ thân bà vợ ông, mấy năm rồi căn bệnh cao huyết áp làm chân tay bà ấy không
vững lắm. Mỗi khi cơn cao huyết áp tới là chân tay bà ấy khó điều khiển, nó run
rẩy khiến toàn thân bà lẩy bẩy, đi đứng liêu xiêu. Ông Thanh lại cúi đầu, tròng
mắt rơm rớm nước, nếu không có chuyện xẩy ra thì chắc những ngày này ông và gia
đình đang tất bật cho việc người ta tới ăn hỏi rồi bàn chuyện xin cưới của đứa
con gái lớn. Cuối tháng trước khi tới thăm nuôi ông, đứa con gái lớn đã buồn rầu
thông báo bên nhà trai người ta đã hủy hôn. Ông biết chẳng ai dại gì mà đi kết
thông gia với một gia đình không ra gì. Chẳng dại gì kết chuyện chung con với một
con người đáng phỉ báng như ông. Buồn nẫu ruột. Ông thương đứa con gái bỗng
dưng sinh ra lỡ dở chuyện nhân duyên, nó đâu có lỗi. Làm là ở ông? Ông đã vô
tình làm hại đời nó như ông đã bị lên án là làm hại đời người đàn bà làm mẹ đơn
thân ấy, người đàn bà cùng làng và kém ông tám tuổi? Làm cái thân đàn bà con
gái nó là vậy đấy. Khổ đau chợt đến. Rồi sực nhớ ra mình lúc này đang ở đâu ông
Thanh ngẩng phắt lên bảng hoảng.
Trước mắt ông hình như
đang nhờ nhờ bóng dáng người đàn ông sêm sêm tuổi mình đang nằm ngiêng, một
chân co một chân duỗi trong buồng biệt giam ở trại giam Kế hôm nào. Đêm đầu
tiên bị tống vào đấy ông Thanh đã trọn một đêm không dám ngủ. Ông đứng run rẩy
chân cẳng mà không dám tựa lưng vào tường cất tiếng hát, tiếng hát trong nỗi
đau thân xác và nỗi đau tinh thần khiến nó như có hồn nghe ai oán thê lương. Những
câu hát thê lương buồn tủi lại là câu hát ru tuyệt vời nhất cho kẻ đang nằm kia
say giấc. Ông ta ngủ ngáy vang rền, tiếng ngáy nghe như thác đổ. Ông Thanh đã
hát và hát mãi, hát mãi cho tới khi giọng khản đặc chỉ còn tiếng khè khè như tiếng
con mèo hen rên ỉ ả. Mãi cho tới sáng bảnh ông mới được nghỉ hát. Cũng may là
người đàn ông vũ phu đã rủ lòng thương. Người ấy phả ập thứ mùi như mùi phân
chuồng lợn vào mặt ông cười hênh hênh. Nụ cười của người mãn nguyện sau giấc ngủ
đã mắt. Ông Thanh bấy giờ mới kịp nhìn kỹ người đàn ông lạ lùng và độc ác ấy
trước khi đôi con mắt ông kéo sụp lại trong cơn buồn ngủ đang sầm sập kéo tới.
Đó là một người sêm sêm tuổi ông nhưng độ từng trải tới mức dạn dĩ. Da mặt nổi
đầy mụn trông sần sùi làm cho gương mặt người ấy thêm vô cảm, thứ da được gọi
là da thiết bì nhưng nó lại nhờn nhợt, chắc là vì lâu ngày ngồi trong buồng
giam thiếu ánh sáng. Chỉ giọng nói là còn đầy dằn dữ và khiến người khác phải
khiếp hãi.
Ông Thanh nhắm nhiền hai
mắt. Hình ảnh người đàn ông da mặt nổi sần, thứ da thiết bì lại hiện về dữ tợn
cho dù đôi con mắt ông ta lúc ngủ chỉ là hai vệt đen sì chạy ngang khuôn mặt bè
bè. Cái đầu trọc lốc đặt tròn tròn trên bệ xi măng xám lạnh khi nhìn lại liên
tưởng đến cái sọ người mới được bốc cất dưới mộ lên, mùi phân chuồng lợn đang bốc
lên từ cái miệng mở rộng thở khè khè. Chốc chốc ông ta lại đưa cả hai bàn tay
luồn vào trong cạp quần gãi sồn sột. Tiếng gãi sồn sột của ông ta cứ như ở đấy
đang lúc nhúc những con rệp chạy loằng nhoằng. Ông Thanh tái mặt. Hình như những
con rệp kia đang tìm cách bò sang bẹn ông. Mới có một đêm được biết thế nào là
trại giam khiến ông tái mặt. Người đàn ông kia xét về bộ dạng chắc phải là loại
giang hồ cộm cán mà người ta gọi đó là đầu gấu. Ở chung trong cùng trại giam với
những loại người như thế này làm những người tù khác cùng vô cùng kinh hãi. Nỗi
kinh hãi còn lớn hơn nỗi sợ bị thẩm vấn. Bàn tay của người ấy sau hồi gãi gãi
trong đũng quần lại đưa lên mặt, ông ta thò ngón tay ngoáy ngoáy lỗ mũi. Tiếng
ngoáy ngoáy lỗ mũi không nghe sồn sột những lại thấy nóng ran như chính cái ngứa
mũi của người kia đã truyền sang ông. Sự ngứa ngáy như có phép lây lan kỳ lạ.
Trong một nơi chốn có từ hai người trở lên hễ một người này gãi ngứa là tức khắc
có người tiếp theo cảm thấy trong người mình cũng bị ngứa ngáy. Người ta gọi đó
là phản ứng dây chuyền, hay còn gọi là hội chứng đám đông. Ông Thanh bỗng thấy
ngứa ngáy khắp người, ngứa ngáy đến tưởng không chịu nổi. Thực ra đã mấy hôm nay
ông đâu có được tắm rửa hay thay áo quần, thực ra đã mấy hôm nay người ngợm ông
như con trâu đằm trong vũng bùn. Mồ hôi đổ ra và mùi mồ hôi chua loét đến ông
cũng thấy ngượng với chính mình huống hồ là người khác. Và cũng thực ra là vì
ông đã đứng cả đêm qua để hát. Đứng lâu chân tay tê dại, sự tê dại như có trăm
ngàn con kiến bò đốt râm ran khắp thân thể. Đứng lâu mình mẩy căng cứng như bị
bó giò, trăm ngàn mũi kim đang châm đang chọc vào mình vào mẩy khiến người thấy
ngứa ngáy. Nhưng hễ ông vừa định xuống giọng hát nhỏ đi là tức khắc người đàn
ông nằm ngiêng lại cọ cựa chân tay như định chồm dậy. Ông ta quả là người thính
ngủ, những lúc ông Thanh hạ giọng xuống là ông ta lại lè nhè rồi cất tiếng rít
lên, tiếng rít qua kẽ răng làm bốc lên mùi phân chuồng lợn rất khó ngửi nhưng đầy
quyền uy.
Ông Thanh bây giờ mới định
thần lại được. Lòng chưa nguôi bảng hoảng. Ông đang thụ án trong trại giam
Hoàng Tiến bên Hải Dương chứ không phải đang chịu cảnh tạm giam trong buồng biệt
giam chật chội và bức bối. Đêm đó trong buồng biệt giam của trại giam Kế ông
Thanh đã đứng và hát tù tì bài này nối bài kia. Ông hát chưa xong bài này trong
óc đã hình dung ra bài hát tiếp theo. Bài hát nào không thuộc ông cũng phải à á
a như đang thuộc lòng vậy. Cũng may từ ngày trẻ ông đã thích hát nên còn biết
khá nhiều bài. Cũng may, nếu không ông chỉ còn nước phải ăn những quả thọi
choáng váng mà thôi. Hát mãi hát mãi cho tới tận lúc sáng bảnh ông mới hạ giọng
nhỏ dần và dừng hát được. Ông lên gân lên cốt lấy hết sức lực cùng thần kinh của
mình để nhẹ nhàng từ từ hạ thấp dần tấm thân mỏi rã rời và đau rã rời xuống. Cặp
mắt ông không dám rời khỏi người đàn ông da mặt thiết bì đang nằm ngủ. Nhất cử
nhất động đều khẽ khàng cho dù lúc đó toàn thân ông chỉ muốn được lăn ra nằm thỏa
thê. Nhất cử nhất động đều nhẹ nhàng cho dù chân tay lưng gối đều mỏi rã rời
như đi mượn, cả người ông chỉ chực đổ ập xuống. Bóng tối lại lần nữa ùa tới
bưng kín lấy đôi mắt khi ông vừa hạ được cả người xuống cái nền đất lạnh lẽo.
Ông Thanh ngã xoài xuống nền buồng biệt giam, ngất lịm đi. Ông mê man trong nỗi
đau đớn thể xác và đau đớn về mặt tinh thần tới cùng quẫn.
Sao người với người lại
có chuyện ức hiếp lẫn nhau? sao người với người lại có chuyện đem ý chí của người
này áp đặt lên người khác? sao người với người lại có chuyện đày đọa nhau? sao
người với người lại có chuyện kẻ mạnh lấn lướt kẻ yếu? sao người với người lại
có chuyện băt phải phục tùng nhau? sao người với người lại có chuyện không dưng
đổ lỗi cho nhau? sao người với người lại có chuyện lấy tội của người này làm
công cho người khác? Ông Thanh mê đi trong mớ câu hỏi dồn dập đến trong đầu. Quả
tình sự việc của mấy hôm nay đối với ông là những câu hỏi không có câu trả lời.
Người đàn bà nằm dưới đất.
Thân thể như không còn mảnh vải che ngang. Máu phun ra chảy thành vũng quanh chỗ
chị ta nằm. Mùi máu tanh tanh lờm lợm như lôi kéo con chim lợn ở đâu bay đến.
Nó cất tiếng kêu rợn tóc gáy rồi vụt đi mất dạng trong bóng đêm. Người đàn bà nằm
bất động giữa vũng máu mặc cho thằng con mười tháng tuổi gào khóc thèm sữa mẹ.
Mùi tử khí lẩn khuất rồi bao trùm khắp căn nhà nhỏ.
HAI
VHSG- Đoạn dốc ngắn và thấp
nằm trên con đường liên thôn nối làng Me với thôn Chằm thôn Chạ cùng xã chính
là dấu tích còn lại của gò sấu. Theo những người cao tuổi trong làng kể lại
thì, thuở xa xưa gò sấu được hình thành như một chứng tích của lịch sử, bởi nơi
đây chính là một chiến địa nơi diễn ra những trận chiến dữ dội. Trận giao tranh
giữa nghĩa quân Lê Lợi với quân cứu viện của nhà Minh do Đô đốc Thôi Tụ cầm đầu
đã diễn ra rất quyết liệt ở đây. Về lai lịch của gò sấu thì sử sách tuy không
chép lại nhưng người dân làng Me, tên gọi sau này của ngôi làng, đời nọ truyền
đời kia đều như chép đã nói rất rõ. Từ cuối năm 1426, nghĩa quân Lê Lợi trong
thế thắng chẻ tre đã giam chân đại quân nhà Minh trong thành Đông Quan. Cảm thấy
thế đã cùng, lực đã kiệt và đã bị dồn tới thế bị tiêu diệt hoàn toàn nhưng giặc
Minh vẫn ngoan cố, một mặt chúng viết thư cho Lê Lợi xin giảng hòa để rút về nước
nhưng một mặt còn vì nghi ngờ thiện chí của nghĩa quân nên chúng cầu quân cứu
viện từ chính quốc tới.
Quân cứu viện nhà Minh
sau khi vượt Ải Nam Quan đã bị nghĩa quân ta chặn đánh quyết liệt, bị chia cắt
khiến chúng không liên kết được với nhau. Một bộ phận lớn quân cứu viện nhà
Minh sang đã phải dừng chân và đóng trại trên một cánh đồng có tên gọi là Xương
Giang, cánh đồng này nằm bên bờ bắc sông Thương. Nhưng cũng chính tại đây quân
cứu viện của Minh trong thế cô lập đã bị nghĩa quân Lê Lợi vây đánh, chúng
nhanh chóng tỏ ra yếu ớt, chống đỡ một cách vô vọng và cuối cùng bị nghĩa quân
Lê Lợi tiêu diệt. Chủ tướng Thôi Tụ của bộ phận quân cứu viện nhà Minh này phải
lê gối dâng tờ tạ tội mới thoát khỏi tội chết.
Đó lại cũng là những ngày cuối thu đầu đông của năm 1427. Xác quân cứu viện nhà Minh nằm ngổn ngang khắp cánh đồng Xương Giang. Xác chết nằm dồn chất đống bên nhau, khiến mùi tanh hôi lan xa hàng dặm. Chỉ sau một đêm cả cánh đồng hoang vu cỏ lác thành một cái mả khổng lồ. Cái mả khổng lồ ấy qua thời gian bị mối xông mối đùn đã hóa thành đất tạo nên một cái gò cao. Không hiểu sau này ai đó đã đem trồng lên cái gò vốn là cái mả khổng lồ chôn xác giặc Minh đó những cây sấu, một loại cây dáng cao, lá rậm. Những cây sấu đó lớn rất nhanh và tỏa bóng lá xanh rì che rợp khắp cả gò sấu, những cây sấu cao to đã biến cái gò vốn là mả giặc đầy ma muội lại càng trở nên ma muội. Từ đó cái mả khổng lồ chôn xác giặc Minh được người dân quanh vùng gọi là gò sấu. Một cái gò đất um tùm lá sấu giữa vùng đất bằng phẳng bên sông Thương.
Giặc dã đã tan những người
dân bảo nhau trở về cánh đồng Xương Giang lập lại làng. Ngôi làng nhỏ ban đầu
hình thành cách gò sấu không xa nên mọi người gọi là làng Sấu. Làng Sấu có lẽ
được ra đời từ đó. Nhưng cái tên “Sấu” nghe không đẹp không chữ nghĩa chút nào
nên người dân làng Sấu gọi chệch tên làng mình thành “làng Me”. Đại loại me hay
sấu cũng đều ám chỉ loại cây sinh ra thứ quả chua chua mà thôi. Làng Me chính
là quê hương của ông Thành.
Gò sấu ngày trước là một
cái đống màu xanh lớn, nhìn nổi trội giữa cánh đồng Xương Giang và um tùm cây sấu
cũng nhỏ dần và thấp dần theo thời gian thành một gò nhỏ tương đối bằng phẳng
như ngày nay. Nhưng theo những người già trong làng Me kể lại thì chính cái gò
này từ hồi chưa mọc lên những cây sấu ấy, nghĩa là ngay cái hồi xác quân cứu viện
nhà Minh còn phơi chất đống, còn phơi nắng phơi sương ấy. Xác quân cứu viện nhà
Minh nằm chết trương phềnh, thối rinh đã lôi kéo cơ man nào là lũ quạ đen, lũ
chim lợn về ăn xác thối. Người già còn kể, ban ngày lũ quạ đen bay rợp đất,
chúng sà xuống bu thành đám để ăn xác chết, chúng kêu đập cánh quàng quạc kêu
inh ỏi cả một vùng. Còn vào đêm đêm lũ chim lợn bay về kêu “éc” như nơi đây có
trăm ngàn con lợn thi nhau giành mồi ăn. Tiếng kêu của bầy chim lợn nghe ghê rợn,
nghe còn khủng khiếp hơn tiếng binh khí, tiếng người rên la than khóc ngày diễn
ra trận giao tranh quyết liệt. Từng bầy chim lợn ùn ùn bay về náo loạn khắp
vùng, làm quấy đảo mọi sinh hoạt của người dân quanh vùng. Những ngày náo loạn
đó vùng này bỗng trở nên hoang vu và nẻo khuất đến khủng khiếp, không một ai
dám bén mảng đến. Rồi cho đến một ngày không biết là ai đã đem trồng chính nơi
dồn đống xác quân cứu viện nhà Minh đó những cây sấu. Loài cây sấu thật hiếm,
nó như gặp đất bỗng trở nên tươi tốt. Cũng tại bởi lâu ngày nên xác chết quân cứu
viện nhà Minh dần hóa thành bùn thành đất. Một thứ đất cho cây sấu lớn nhanh, mọc
um tùm thành gò trên cái mả khổng lồ. Những cây sấu qua năm tháng đã tự nhiên
mà góp phần phục hóa đất đai làm phai nhạt đi nỗi khiếp sợ cho mọi người. Gò sấu
bỗng trở thành nơi trú ngụ cho những con quạ đen, cho những con chim lợn. Người
già trong làng kể lại, chim lợn cứ đêm là bay vụt ra từ những tán lá cấy sấu um
tùm. Chim lợn bay đi săn chuột đồng thay cho việc ăn xác thối. Mỗi khi đâu đó
có người chết là lũ chim lợn cất tiếng kêu báo hiệu làm hãi hùng khắp làng trên
xóm dưới.
Làng Me là nơi ông Thanh
đã sinh ra và lớn lên ở đó. Ngày biết thế nào là sợ thì gò sấu cùng bầy chim lợn
và lũ quạ đen chỉ còn trong những câu chuyện kể mỗi khi người lớn muốn mắng mỏ
bọn trẻ con nghịch ngợm. Người dân đến lập làng cũng góp phần làm cảnh hoang vu
ghê rợn dần sao nhạt. Lũ quạ đen không còn nơi trú ngụ đã bay đi đâu đó, chỉ
còn lại dăm ba con chim lợn ban ngày rúc đầu vào tán lá sấu ngủ im lìm, thi thoảng
lắm chúng mới có cơ hội cất tiếng kêu quen thuộc của loài chim đặc biệt này.
Nhưng trong tâm trí của chú bé Thanh, rồi sau này là ông Thanh, thì tiếng kêu
“éc” khô khốc lại đanh rợn trong đêm cứ ám ảnh mãi. Người ta thường nói, điều
gì hễ còn ám ảnh là nó sẽ vận vào người sau này.
Gò sấu bây giờ bị san lấp
dần để lấy chỗ cho người dân làm nhà. Làng Me thuở ban đầu đã quá nhỏ, nó không
còn đủ chỗ cho những cư dân mới ngày một thêm nhiều lên. Người làng Me lân la đến
sát chân gò sấu hơn. Lân la gạt đất san nền dựng nhà. Xác quân cứu viện
nhà Minh không còn là những thây ma nữa, xác đã biến thành bùn thành đất. Thời
gian đã xóa đi mọi ký ức hãi hùng. Tiếng kêu của lũ chim lợn cũng thưa nhưng với
ông Thanh nỗi ám ảnh có từ ngày bé còn chưa nguôi. Thằng bé Thanh rất sợ ngồi
nhà một mình, nó ngồi nhà một mình mà trong đầu trong óc lại tưởng tượng ra tiếng
con chim lợn kêu đánh “éc” báo hiệu ai đó trong làng vừa chết. Có người chết là
có hồn ma, hồn ma chuyên đi bắt nạt trẻ con, bắt nạt người yếu bóng vía, người
lớn thường dọa trẻ con như vậy. Thằng Thanh cũng tin như vậy. Thành thử nếu
không may mà lại có một đêm nào đó nó chợt nghe được tiếng con chim lợn kêu thì
thế nào thằng Thanh cũng len lén túm vạt áo mẹ đòi ngủ cùng. Nó sợ cảnh người
chết, sợ những hồn ma lảng vảng trong bóng tối, hồn ma lượn lờ trên những con
đường hay lối ngõ vắng vẻ tìm cách bắt nạt trẻ con.
Tiếng kêu “éc” của chim lợn bám diết tâm tưởng thằng Thanh cho tới tận cái ngày mà nó trở thành một người đàn ông chững chạc, trở thành một người chủ gánh vác vai trò trụ cột của một gia đình đủ có con trai lẫn con gái. Tiếng kêu “éc” theo đến một ngày ông Thanh cảm thấy có chuyện gì đấy đã xẩy ra.
Người làng Me có những
cách lý giải của riêng mình. Những cách lý giải bắt đầu bằng việc kể những câu
chuyện tưởng chừng xưa cũ, tưởng chừng đã quên, tưởng chừng mông lung với trẻ
con. Và dĩ nhiên nó trở thành bài giáo huấn mà mỗi ông bố hay bà mẹ nào khi kể
chuyện làng ngày xưa cho con cái mình. Ngày vừa tròn bảy tuổi, chú bé Nguyễn Hữu
Thanh lần đầu tiên được cha mình là bác Nguyễn Hữu Tiến lý giải chuyện ngày xửa
ngày xưa. Trong trí nhớ của thằng Thanh thì mỗi câu chuyện kể của cha mình như
là mỗi trận đánh ác liệt đang diễn ra ngay trước mắt. Đôi mắt nó mở tròn, tận
trong đáy mắt của nó hình như đang có một cuốn phim được quay chậm lại. Cuốn
phim quay chậm với những âm thanh nghe ầm vang, đó là tiếng hô, tiếng thét vang
trời đất. Đó là tiếng binh khí va chạm vào nhau kêu loạng xoạng. Đó là tiếng
người bị thương đang rên gào đau đớn. Cuốn phim kết thúc bằng chiến thắng bao
giờ cũng dành cho người chiến thắng.
Tự hào lắm con ạ. Cha thằng
Thanh nhắc đi nhắc lại độc câu nói như vậy khi hai cha con nó đã sóng hàng
ngang nhau và cùng đi xuôi trên con đường mòn màu đỏ son như dải lụa ai đó trải
phơi trên mặt con đê chạy ôm lấy bìa làng. Từ trong làng Me muốn đi lên con đê,
hai cha con phải đi qua gò sấu. Nắng chiều hắt ngiêng, soi ngả bóng những cây sấu
cổ thụ cao lớn. Bóng cây sấu ngả xuống che rợp con đường liên thôn. Con đường
liên thôn bây giờ thoáng rộng chứ ngày đó mới chỉ là con đường mòn nhỏ chạy
vòng vòng quanh những thửa ruộng rồi men dưới chân gò sấu và nó rất nhỏ, nhỏ chỉ
đủ cho một chiếc xe cút kít có độc mỗi một bánh xe bằng gỗ chở lúa về sân kho hợp
tác. Bóng cây sấu rủ xuống làm mát cả con đường. Một màu nâu xám nhìn mát lịm
in đậm giữa ran ran màu nắng. Hôm đó là một buổi chiều mùa hè năm 1968. Về chiều
nhưng nắng còn nồng nã. Về chiều mà ánh nắng còn soi vàng cả cánh đồng. Lúc đi
qua ngang qua gò sấu, hai cha con thằng Thanh đứng dừng lại. Thực ra là bác Tiến
muốn cho thằng Thanh được dừng nghỉ nơi có bóng mát để nó thở. Cho nó lấy lại
hơi sức sau khi nó đã cố dảo những bước chân ngắn cũn cho theo kịp những bước
chân sải dài đều đặn, những bước chân đi đều giống các chú bộ đội tập đội ngũ của
cha nó. Thằng Thanh chưa bao giờ được cùng cha nó đi chơi khi mà ngoài trời còn
nắng rát như thế này. Từ đây nhìn sâu lên gò sấu chỉ thấy rậm rạp và tối u u bí
ẩn.
– Trên gò sấu có ma hả bố?
Thằng Thanh mắt nửa nhắm
nửa mở. Nó có vẻ sờ sợ, đứng nép sát vào người cha mình, hướng câu hỏi lên gò sấu
nó hỏi thì thầm nhưng câu hỏi nghe rất quan trọng.
– Làm gì có ma. Trên đó
chỉ có những con chim lợn đang ngủ thôi.
– Sao chim lợn lại ngủ
ban ngày?
Bác Tiến không trả lời
ngay và cũng không cúi người nhìn xuống đôi mắt vừa lén mở to của thằng con
trai đang ngước lên. Bác Tiến biết, nếu cúi xuống và nhìn vào đôi mắt nửa nhắm
nửa mở của thằng Thanh lúc này sẽ làm nó ngờ vực. Không nhìn tức là dửng dưng.
Dửng dưng tức là không có gì đang ngại, coi như chẳng có chuyện gì phải hãi cả.
– Chim lợn ngày ngủ, tối
bay đi săn chuột.
– Ban đêm tối thế làm sao
chim lợn nhìn được chuột mà săn chuột hả bố?
– Chim lợn nhìn được
trong bóng đêm.
– Như mắt con ma ấy á?
– Ai bảo con thế?
– Con không nhớ. Nhưng chỉ
có ma mới nhìn được mới đi lang thang trong bóng đêm. Chim lợn bay trong bóng
đêm được tức là chúng nhìn được.
Ăn nói lập luận hơi lý sự
nhưng câu nói của thằng Thanh cũng làm ông Tiến phải ngập ngừng. Quả là câu hỏi
kiêm luôn cách giải thích này cũng làm người lớn phải bí. Bác Tiến ngập ngừng
chưa tìm được câu trả lời nào đủ để cho thằng Thanh vừa không sợ vừa hài lòng
cái tò mò trẻ con của nó. Tít trong sâu tít trên gò sấu thoảng vọng xuống tiếng
gì nghe vu vu, nghe rờn rợn. Một thoáng băn khoăn làm bác Tiến nửa muốn thôi
câu chuyện ma quỷ này, nửa lại muốn giải thích cho thằng con trai. Trẻ con đầu
óc non nớt. Nói thật chúng ít tin. Nói đùa chúng tin nhiều.
– Không có ma. Người ta
đùa thôi.
Bác Tiến nói khẳng định.
Đôi mắt chú bé Thanh chưa thôi ngờ vực bởi tiếng vu vu vọng xuống nghe như có
tiếng thổi gió của ai đó đang thổi vào mang tai. Ban đêm mà tự dưng có ai dón
dén lại sau lưng và thổi một luồng gió vào mang tai kể cũng rùng mình. Thằng
Thanh đã đôi lần bị dọa trêu cái trò trêu đùa dọa ma ấy. Nó thêm sợ hãi đứng
nép chặt hơn nữa vào sườn cha mình. Luồng gió lành lạnh cũng từ trong tít gò sấu
bung tỏa xuống chỗ hai cha con đứng khiến người dũng cảm nhất cũng sởn gai ốc.
Thằng Thanh nói lí nhí.
– Có ma thật đấy bố ạ.
– Những người dũng cảm
không sợ ma. Con có dũng cảm không?
– Dũng cảm là gì hả bố?
– Dũng cảm là không sợ…sợ
ma ấy.
– Như các chú bộ đội á?
– Đúng. Các chú bộ đội
không sợ ma.
– Bố là “chú bộ đội”, bố
cũng dũng cảm.
– Sao con biết?
– Vì đã là “chú bộ đội”
thì đều dũng cảm.
Đó là buổi đi chơi đầu
tiên chỉ có hai cha con. Một buổi đi chơi mà mãi sau này thằng Thanh vẫn còn nhớ.
Tâm trí trẻ con tuy nông cạn nhưng những gì đã in đậm thì lại nhớ rất sâu. Chuyện
được đi bên cạnh cha đàng hoàng như hai người lớn với nhau là một ký ức sâu đậm.
Hôm đó cha nó đã cùng nó đi lên con đê làng. Con đê sững sừng chắn dòng nước
sông Thương, mùa này nước sông Thương đỏ ngầu vỗ oàm oạp vào mạn đê. Chiều hè
ran ran nắng. Nắng soi vàng mặt đê nhưng nắng lại làm dòng nước sông Thương đã
đỏ lại thêm thêm óng ánh.
– Con biết không?
– Dạ.
– Mai bố đi chiến đấu.
– Như chuyện ngày xưa
nghĩa quân giết giặc Minh chứ gì?
– Con biết giết giặc là để
làm gì không?
– Nhưng con sợ lại có nhiều
….
– Con sợ có nhiều gì?
– Sợ sẽ có nhiều người chết.
Lại có nhiều ma nữa. Bố ơi, thế bố đi chiến đấu bố có bị chết không?
– Sao con lại nói thế?
– Chiến đấu giết giặc chắc
sẽ có nhiều tên giặc bị chết. Có người chết là sẽ có ma bố ạ. Bố chết bố sẽ hóa
thành ma nhưng ma bố đừng về dọa con nhé. Con muốn ma bố là con ma tốt. Con ma
tốt đi giúp người ấy.
Câu chuyện được chú bé
Thanh chuyển hướng. Thực ra trong tâm trí của chú là cứ ở đâu hễ có đánh trận,
có giết giặc là ở đó sẽ có người chết và hễ có người chết là có lũ quạ đen cùng
bày chim lợn bay về ăn xác thối. Tức là sẽ có ma vậy.
– Bố sẽ không chết. Bố sẽ
sống để trở về với con.
– Bố hứa nhé?
– Bố hứa….
Bác Tiến nói hơi ngập ngừng. Bác kéo thằng Thanh lại sát người mình hơn. Câu nói thật thà và còn ngô nghê của thằng con trai lên bảy làm bác chùng xuống, bác khẽ nhăn mặt để xua đi câu nói ấy trong đầu mình. Những tia nắng lọt qua tán lá sấu bất chợt làm gò sấu bừng sáng. Vẻ thâm u lạnh gáy thoáng chốc biến mất.
Ông Thanh ngước nhanh lên
ô thoáng. Nắng chiều đang chiếu xiên khoai, nắng xiên khoai đã vô tình làm lọt
một tia sáng vào trong buồng giam. Tia sáng in dài xuống nền buồng giam đang vẽ
một dải ánh sáng trên cái nền xi măng thâm nâu và bóng trơn. Nhìn hình ảnh đó
ông Thanh lại buông tiếng thở dài. Vậy là mình đã ngồi trong này được đúng bốn
năm. Bốn năm ngồi tù sao dài đến vậy. Bốn năm ngày nào ông cũng đều đặn vào các
tầm sáng, chiều và tối ngước mắt nhìn lên ô thoáng. Nhưng hôm nay như có gì đó
lạ lắm. Từ sáng tới giờ ông Thanh luôn có tâm trạng bồn chồn. Từ sáng đến giờ
ông Thanh luôn ngẩn ngơ. Ông tự phá cái lệ hàng ngày của mình. Ông đã không nhớ
từ sáng đến giờ mình đã nhìn lên ô thoáng kia bao nhiêu lần. Lần nhìn này lên ô
thoáng ông Thanh đã thấy có một vệt nắng lọt tới như một câu chuyện mới chợt
lóe lên.
Giật mình với ánh sáng của
câu chuyện mới đang lóe lên tình cờ, ông Thanh thẫn thờ trở lại trong cảm xúc
thường ngày. Cảm xúc buồn trống buồn chếnh và buồn tắt lịm mọi hy vọng. Ông tự
hỏi trong mung lung, tự hỏi trong lẫn lộn giữa thực và mơ. Sao lại có những
sự trùng hợp đến kỳ lạ như vậy? Sao tự dưng hôm nay ông lại nhớ về kỷ niệm của
đúng bốn mươi năm về trước? Sao trong đời mình lại có những con số bốn đầy tính
liên tưởng? Bốn tức là tứ. Mà tứ đọc chệch có nghĩa là tử. Tử nghĩa là con
nhưng tử cũng có nghĩa là chết. Con số bốn. Chữ “tứ” và chữ “tử” sao lại đi kèm
bên nhau như sự hiệu báo của số phận?
Bốn mươi năm trước, cũng
vào ngày này, lần đầu tiên ông Thanh được cha mình dẫn đi chơi trên con đê chạy
ôm lấy bìa làng Me. Sông Thương từ nguồn đổ về đến đoạn sắp chảy qua Phủ Lạng
Thương thì con sông chợt uốn vòng như chính dòng sông ấy muốn ôm trọn cái làng
nhỏ đơn sơ có cái tên giản dị được đọc chệch đi từ một cái tên không đẹp đẽ. Lần
đi chơi đầu tiên chỉ có hai cha con không ngờ lại là lần đi chơi cuối cùng. Lần
ấy cha ông được cấp trên cho về nghỉ tranh thủ đột xuất. Đợt nghỉ phép ngắn ngủi
và không hẹn trước chỉ diễn ra đúng bốn ngày. Bốn ngày ông được cha mình dẫn đi
chơi khắp làng. Như có gì đấy rất kỳ lạ mà lúc này ông Thanh mới tạm cắt nghĩa
được. Bốn ngày nghỉ phép ngắn ngủi là bốn ngày cha ông dẫn ông đi chơi khắp chốn.
Hình như cha ông muốn nói câu gì đó trong đợt nghỉ phép ngắn ngủi này. Hình như
cha ông có linh cảm về sự ra đi mãi mãi của mình mà bốn ngày nghỉ phép ngày nào
cha ông cũng đi quanh làng, gặp ai cha ông cũng chào hỏi thân thiết, đến chỗ
nào cha ông cũng đứng dừng lại ngắm nghía hồi lâu. Đôi lúc cha ông đứng lại,
người thẫn thờ như vừa đánh mất thứ gì. Ngày đó thằng Thanh còn quá nhỏ để hiểu
chuyện linh cảm, mà thực ra sự linh cảm là một cái gì đó vô hình nên ai nào
đoán định. Thằng Thanh chỉ tung tăng đôi chân để cố theo kịp bước chân của cha,
nó đang sướng rơn lên vì được đi chơi cùng cha. Từ ngày cha nó đi bộ đội, nhà
nó luôn vắng hình bóng của cha nó, bởi vậy dịp này nó sướng rơn cũng phải, nó
sướng như người bắt được của. Hơn nữa nó lại được cha nó dẫn đi chơi như hai
người lớn với nhau vậy. Hình như cha nó muốn dặn dò nó điều gì mà ông không thể
nói ra. Thi thoảng nó lại thấy cha nó quay đầu nhìn ngiêng sang phía nó chằm chằm.
Đôi mắt cha nó lạ lắm, rất lạ. Từ trong ánh nhìn của đôi mắt cha nó có những
tia sáng ấm áp. Từ trong ánh nhìn của đôi mắt của cha nó có những lời thủ thỉ.
Cha nó lại lắc đầu quay sang nhìn lảng ánh đi hướng khác. Lần này cha nó nhìn
ra xa, cha nó nhìn xa tít sang bờ bên kia của sông Thương. Thằng Thanh cũng
nhìn nhưng nó không nhìn sang bên kia sông. Nó nhìn xuống bến sông với một lối
mòn chạy từ trên đên xuống. Giờ này bến đò sang sông thưa khách. Dưới bến chỉ
có mỗi con đò được níu buộc vào chiếc cọc cắm trên bờ. Không có người chèo đò,
không có ai đứng dưới bến chờ đò. Thằng Thanh ngước mắt lên giật giật tay cha
nó. Cha nó không đáp lại, cha nó vẫn nhìn sang bên kia sông. Cha nó nhìn như
người đang ngóng đò vậy. Rồi cha nó quay hẳn người nhìn về phía cánh đồng làng.
Thằng Thanh cũng hóng đôi mắt nhìn theo. Nó chỉ thấy nắng chang chang, chỉ thấy
toàn những thứ nó đã nhìn thấy, ngày nào nó cũng nhìn thấy nên chẳng có gì là lạ
cả. Sao ánh mắt của cha nó cứ nhìn đăm đắm? Chiều đang nguội ngày. Trên đê gió
đã chuyển mát. Hai cha con đi sóng ngang hàng nhau như hai người bạn. Họ đã đi
như một cuộc dạo chơi cuối cùng?
Đúng là cuộc đi chơi cuối
cùng. Buổi sáng hôm, sau tức là sau buổi chiều hai cha con đi xuôi trên con đường
mòn như dải lụa phơi trên mặt đê, sáng hôm sau khi ngủ dậy thằng Thanh đã không
thấy cha mình đâu nữa. Nó chạy ra sau nhà gọi toáng lên, không thấy cha đâu. Nó
chạy tút ra ngoài bìa làng gọi toáng lên, cũng không có cha nó đứng ở ngoài đó
nhìn xa xăm khắp cánh đồng. Nó chạy cắm cúi đến gần gò sấu, bước chạy của nó chậm
lại, mắt nó nhìn len lén lên gò sấu vì chỉ sợ bất chợt trong tán lá sấu rậm
xanh rì bay vọt ra một con chim lợn. Cũng không có cha nó đứng đó chờ dắt tay
nó. Thằng Thanh nhắm mắt cắm cổ chạy qua gò sấu, nó lao một mạch lên mặt đê,
không có cha nó đứng đó mỉm cười xoa xoa đầu nó. Chiều hôm trước, khi đứng trên
mặt đê lộng gió cha thằng Thanh đã gỡ chiếc mũ tai bèo đang đội xuống, cha nó
đã đội lên đầu nó. Chiếc mũ này thằng Thanh đã mấy lần mân mê ngắm nhìn cha nó
đội, mấy lần nó chỉ nhăm nhăm chực đòi đội thử mà không dám lên tiếng, trong
suy nghĩ của thằng Thanh thì hễ những ai đã được đội chiếc mũ đó phải là những
người như cha nó, nghĩa là người ấy phải cao lớn, người ấy phải biết nhiều chuyện
và nhất là người ấy phải không sợ ma. Chiều ấy nó sướng còn hơn được quà.
Nó đã được cha nó cho đội thử chiếc mũ tai bèo. Thằng Thanh sướng quá, nó chạy
ra mép nước, nó nghiêng bên trái, nó xoay bên phải, dưới mặt nước dập dờn cái đầu
bé tẹo của nó đang ngất ngư chiếc mũ. Nó khoái đến phởn chí quên phắt cha nó
đang đứng trên đê nhìn từng cử chỉ của nó. Mái tóc của cha nó đang bay tung tóa
trước một cơn gió thổi từ dưới mặt sông lên. Nhưng nó chợt buồn vì bây giờ mặt
đê vắng ngắt không một bóng dáng người, không có ai trông thấy nó đội chiếc mũ
bộ đội của cha nó cả. Giá kể lúc này mà có thằng bạn nào của nó trông thấy thì
nó vênh mặt lắm. Làng này đã có thằng trẻ con nào được như nó đâu?
Thằng Thanh cố đưa mắt
nhìn quanh quất như thể nó không bỏ sót một chỗ nào trên đê. Dòng sông Thương lấp
lóa nở ngàn vạn ánh vàng ánh bạc đẹp lung linh dưới nắng và cũng không thấy một
bóng đò. Nhưng lúc này nó đâu có tâm chí ngắm ngàn vạn ánh vàng ánh bạc đó. Nó
tìm cha nó nhưng không thấy. Thằng Thanh sợ hãi gọi toáng lên. Chỉ có dòng sông
Thương chảy đỏ ngầu ngoài kia cất tiếng oàm oạp vào mạn bờ là đáp lời nó.
Thằng Thanh nháo nhào cắm
mặt chạy bổ về nhà. Mẹ nó đang ngồi bên giường, mắt của mẹ nó rân rấn nước. Nó
đã hiểu, cha nó sáng sớm nay đã trở lại đơn vị. Trước khi rời khỏi nhà cha nó
đã đứng rất lâu bên giường nhìn nó ngủ. Mẹ nó giọng còn chưa nguôi thổn thức
nói vậy. Cha nó đã không đánh thức nó dậy. Cha cúi xuống vỗ vỗ vào đôi má nó.
Cái vỗ vỗ êm êm đã vô tình ru thêm cho nó vùi đầu vào gối và ngủ tiếp.
– Bố đi rồi hả mẹ?
– Bố đi chiến đấu rồi.
– Sao bố không cho con đi
cùng?
– Con còn nhỏ. Muốn đi
chiến đấu thì phải lớn lên đã.
– Không có con ở bên bố.
Con sợ…
– Sợ gì?
– Sợ bố sẽ chết.
Mẹ thằng Thanh im lặng. Mẹ nó nghe nó nói những câu khó nghe nhưng cũng không mắng nó ăn nói gở miệng. Mẹ nó kéo nó lại gần, ôm chặt lấy nó như chính trong thâm tâm của mẹ nó cũng đang sợ hãi cái điều như thằng Thanh vừa nói. Mẹ nó khẽ tát yêu vào má nó. Mẹ nó cúi đầu, những giọt nước mắt chảy xuống đầu thằng Thanh nóng hổi.
Ông Thanh run lên như người
đang sốt. Không ngờ câu nói trẻ con thơ ngây ngày nào của mình lại ứng báo. Lần
về phép ngắn ngủi ấy là lần về nhà cuối cùng của cha ông. “Chú bộ đội” có cái
tên là Nguyễn Hữu Tiến được cấp trên cho về nghỉ tranh thủ đột xuất đã không
bao giờ trở về lại nhà được nữa. Người cha ấy đã không bao giờ thực hiện được lời
hứa sẽ trở về với thằng con trai lên bảy của mình được nữa. Người chiến sĩ ấy
đã hy sinh sau lần về phép thăm nhà cũng đúng bốn năm sau. Hè năm 1972, ông Tiến
hy sinh, giấy báo tử gửi về cho gia đình ghi vẻn vẹn dòng chữ “Được an táng tại
nghĩa trang mặt trận phía Nam”.
Ngước mắt nhìn trân trân
lên ô thoáng. Ông Thanh luôn tự dằn vặt mình, luôn tự cho mình là kẻ đã gây nên
cái chết của cha mình vì đã nói câu xui gở. Lòng băn khoăn của một người mắc lỗi
làm ông Thanh thêm run rẩy trong mặc cảm. Hôm nay đúng vào ngày giỗ của cha
ông. Ngày giỗ quan trọng vậy mà ông không có ở nhà, ông không làm được nghĩa vụ
báo hiếu cho cha mình. Con số bốn linh ứng đã trở về cũng đúng vào cái ngày của
bốn mươi năm về trước, ngày hai cha con ông gặp nhau lần cuối cùng. Câu hỏi
ngây ngô nhưng đầy lo sợ của trẻ thơ đã ứng. Cha ông đã chết. Một thoáng thất
thần hiện trên nét mặt. Nhưng cái chết của cha ông năm nào đã giúp ông thoát khỏi
tội chết. Cha ông đã dùng cái chết của mình để cứu sống ông sau bản án nghiêm
khắc được tuyên cho tội “Giết người”. Cái tội của ông. Đấy chính là tình tiết
giảm nhẹ, một đặc ân mà tòa đã xem xét khi công bố các tội danh.
Vì mình là con liệt sĩ
nên mình mới thoát chết ư? Vì mình là con liệt sĩ nên mình mới thoát chết ư? Đã
bao lần ông Thanh hỏi vậy và mỗi lần cất tiếng thầm hỏi ông lại ai oán chính
mình. Cha ơi. Cha đã cứu con thoát chết liệu cha có cứu con ra khỏi nơi này
không? Ông Thanh cúi gằm mặt nức nở. Ông khóc thực sự như một đứa trẻ.
Nắng chiều làm nóng bỏng
những bức tường buồng giam. Không khí oi nồng đến tức thở. Đưa tay lên ghìm đỡ
ngực để cố nuốt miếng nước bọt đang ứ đầy trong miệng, ông Thanh cảm thấy ngột
ngạt tưởng đứt hơi. Buồng giam chiều nay khá tĩnh lặng. Chỉ có tiếng nắng soi
lách tách những chiếc lá bạch đàn ngoài kia đưa vào. Nắng đang hong cháy những
chiếc lá bạch đàn. Không gian như trầm lại. Một không gian trầm đủ khiến những
người vô tâm nhất cũng phải bắt đầu suy nghĩ.
Bốn có nghĩa là tứ. Tứ chệch
nghĩa là tử. Tử có nghĩa là con và tử cũng có nghĩa là chết. Những lập luận
liên tiếp đưa tâm trí ông Thanh vào trận u mê. Kỷ niệm về một thắng bé ngây thơ
bên người cha từ bốn mươi năm trước không ngờ lại trở về trọn vẹn như nó vừa mới
xẩy ra. Không hiểu sao cái chết cứ đeo đẳng vào người mình thế này? Không lẽ
chuyện đời mình luôn gắn với cái chết. Không hiểu sao con số bốn lại gắn với đời
mình như một định mệnh vậy?
Ông Thanh rầu rầu nhớ lại.
Vào đúng cái ngày bố ông hy sinh ở mặt trận Tây Nguyên như tờ giấy báo tử đã
ghi. Tờ giấy báo tử chỉ nhỏ bằng hai bàn tay người lớn, mặt trái tờ giấy sờ tay
hơi ram ráp, mặt phải có vẻ nhẵn hơn được viết những dòng chữ nhập nhòa. Tờ giấy
có màu giống màu của gốc rạ khô đã được mẹ ông thong thả gấp làm tư, bà cất kỹ
tận đáy hòm quần áo. Hồi còn sống, vào ngày 24 tháng 5 hàng năm là mẹ ông lại
mang tờ giấy ố vàng đó ra. Bà cẩn thận vuôn vuốt tờ giấy cho phẳng lại rồi trịnh
trọng đặt lên bàn thờ. Hôm đó là ngày giỗ của liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến. Thằng
Thanh tò mò đứng nép bên cột nhà theo dõi từng cử chỉ của mẹ.
Hôm đó, tức là ngày 24
tháng 5 năm 1972, cái ngày ghi trên giấy báo tử nói về sự hy sinh của liệt sĩ
Nguyễn Hữu Tiến ấy, thằng Thanh như thấy có điềm báo (chuyện này đến giờ ông
Thanh mới nhận ra). Nó đang nằm thiu thiu ngủ trên giường chợt nghe như có tiếng
ai lay gọi. Tiếng gọi nghe thoảng xa như tiếng gió thổi. Tiếng gió thổi giữa
trưa hè nghe oa oa như tiếng trẻ con khóc. Thằng Thanh vội bật dậy, nó ngóng mắt
trông ra cửa. Đôi mắt của nó nhìn trân trân như thể đang có ai đó đứng trước cửa.
Thằng Thanh dụi mắt nhìn kỹ hơn, ngoài sân nhà nắng chang chang. Cái bóng người
mà thằng Thanh hình như vừa nhìn thấy đứng trước cửa có nét hao hao giống cha
nó. Dáng gày gày, mặt xương xương, nước da xanh tái, mái tóc lòa xòa vài sợi
vương trên trán. Cha nó nhoẻn miệng cười để lộ hàm răng bám vàng khói thuốc
lào. Đó là một chú bộ đội. Rõ ràng là một chú bộ đội. Bộ quân phục rung rúc
nhưng xem ra còn tươm tất. Chiếc mũ tai bèo đội trên đầu bị gió thổi hất ngược
làm lộ vầng trán với những nếp nhăn. Chú bộ đội trông giống người cha của thằng
Thanh của buổi chiều bốn năm trước, người ấy đang đứng thẫn thờ bên bậu cửa,
người ấy nhìn xoáy vào người thằng Thanh rồi vụt lảng bay đi. Hoảng hốt và bị
kích động, thằng Thanh nhao vội theo.
Nó lao một mạch lên triền
đê. Nó đã chạy tới đúng chỗ có lối mòn dẫn xuống bến đò. Chỗ ấy nó và cha nó đã
dừng lại. Nắng như rang như đảo. Mồ hôi tứa ra ướt đầm lưng áo nhưng thằng
Thanh không ngại. Nó hăm hở đuổi theo cái bóng người cứ lảng vảng, cứ chập chờn
ngay đằng trước mặt. Trên triền đê lộng gió. Những cơn gió thổi từ mặt sông
Thương lên mang theo hơi nước làm man mát da mặt. Hơi nước làm man mát cái lưng
đang ướt đẫm mồ hôi. Một cảm giác se se từ đâu ùa tới làm thằng Thanh rùng mình
liên tục.
Không có chú bộ đội nào ở
trên đê cả. Bến sông trưa nay cũng vắng. Con đò đang nằm mãi ở bên kia sông. Chỉ
có dòng nước sông Thương đỏ ngầu chảy mải miết vỗ vào mạn bờ oàm oạp. Thoáng sợ
hãi thằng Thanh toan co chân chạy về nhà nói chuyện với mẹ. Đôi mắt nó chợt bắt
gặp ngay sườn đê cạnh bên lối mòn dẫn xuống bến đò một dáng người nhỏ tí tẹo
đang ngồi ôm mặt khóc nức nở. Thằng Thanh đã trấn tĩnh lại, nó quên luôn chuyện
bóng hình chú bộ đội bảng lảng vừa xa vừa gần đang như gọi nó. Tiếng khóc nức nở
hiện hữu chứ không hề mờ ảo. Nhưng rất dón dén, thằng Thanh xuống gần tiếng
khóc nức nở. Tưởng ai hóa ra lại là con bé Chiên, con bé cùng làng Me với nó
nhưng kém nó hai tuổi đang ngồi bệt mà ôm mặt khóc.
– Mày làm sao mà khóc thế
hả Chiên?
– Em sợ lắm.
– Mày trốn nhà đi đâu để
ra đây ngồi khóc?
– Em đi đón mẹ.
– Mẹ mày đi đâu?
– Mẹ sang bên sông đi chợ
mãi không về.
– Mày về nhà đi. Thảo nào
mẹ mày cũng về. Chưa biết chừng mày ngồi đây khóc thì mẹ mày đã ở nhà rồi.
– Nhưng em không về được.
– Sao. Mày bị đau chân à?
– Không.
– Thế thì sao?
– Em sợ.
– Mày nói nhanh lên không
tao về đây.
– Em sợ cái anh kia lắm.
Theo tay chỉ của con bé
Chiên bấy giờ chú bé Thanh mới nhìn thấy thằng Thủ người thôn Chằm đang đứng
trên mặt đê cánh đó không xa. Thằng Thủ đang cười nhăn nhăn. Thằng Thủ này ai
còn lạ gì nó. Nó cùng học trường cấp 2 với thằng Thanh nhưng lại cùng khối bởi
nó bị đúp ngay năm đầu vào cấp học. Cái thằng mà chẳng buổi sáng thứ hai chào cờ
nào mà không bị bêu tên toàn trường. Một thằng con trai hơn tuổi thằng Thanh và
nó to con và nhỉnh hơn thằng Thanh dễ tới một cái đầu. Thằng Thủ đứng cách đó
đoạn ngắn cười nhăn nhăn, trông rất đáng ghét.
– E thằng Thanh còi kia.
Mày động vào tao đánh cả mày đấy.
– Tao động vào cái gì?
– Mày động bênh con bé
kia xem sao. Tao đánh ngay.
– Sao mày lại đi bắt nạt
con gái?
– Việc gì tới mày. Tại nó
đứng chắn đường tao đi.
– Nó mà chắn được đường
mày?
– Chính nó.
– Có mày bắt nạt con gái
thì có.
– E, thằng còi. Mày xéo
đi.
– Mày phải nói với tao tại
sao mày đánh nó.
– Thì tao đánh nó đấy.
Tao còn đánh cả mày nữa.
– Mày dám không?
Chưa bao giờ chú bé Thanh
lại dũng cảm đến vậy. Nhớ lại chuyện này ông Thanh bất giác cười một mình. Một
nụ cười phải mất tới bốn năm mới có dịp trở lại trên môi ông nhưng đấy lại là nụ
cười khi nhớ lại chuyện ngày xưa. Trưa hôm ấy lần đầu tiên thằng Thanh dám dũng
cảm một mình đứng đôi co với thằng Thủ người thôn Chằm ở ngay trên đoạn đê trống
vắng. Hú hồn hôm ấy không hiểu sao thằng Thủ chỉ gân mặt lại. Nó đứng như trời
trồng khi bất ngờ thằng Thanh dám lên tiếng bảo nó bắt nạt con gái là thằng
hèn. Nó bất ngờ vì xưa nay có thằng con trai nào cỡ tuổi như vậy lại dám cãi lại
nó và đứng ra bênh vực cho một đứa con gái. Nó bất ngờ vì tình huống diễn ra
xưa nay chưa hề có. Thằng Thủ Chằm đứng gân mặt, mắt gờm gờm, bàn tay nó nắm lại
thành quả đấm nhưng nó không động thủ. Thằng Thủ Chằm chỉ gờm gờm rồi quay phắt
bỏ đi, nó vừa bỏ đi vừa hát ê ê “Lêu lêu. Thằng Thanh con Chiên là hai vợ chồng.
Lêu lêu. Hai vợ chồng, chống vợ hai. Lấy lá gai cài lá mít. Lấy lá mít dít vào
mông. Lấy lá hồng chồng lá gai. Lấy lá gai gài lá mít….”
Những ai ở thôn Chằm và cả
ở làng Me đều không lạ gì thằng Thủ này. Một thằng con trai mới mười hai tuổi
nhưng đã nổi danh. Nổi danh với biệt danh “Thủ Chằm” nghĩa là thằng Thủ người
thôn Chằm. Cái biệt danh ấy người làng Me, người thôn Chằm ngỡ đã chấm hết nghe
thấy khi hai năm sau nó cùng gia đình chuyển đi nơi khác sinh sống.
Nghe tên nó những thằng con trai hơn nó vài tuổi cũng ngại bởi vì thằng Thủ Chằm vô cùng liều lĩnh. Thằng nào lơ mơ dám đấu chọi với nó coi như ăn chắc thua. Da đen như con dế trũi, đầu húi cua, cặp mắt ti hí và đôi tay chắc như cua gạch, thằng Thủ Chằm hễ đã muốn làm gì là nó làm bằng được. Ví dụ như nó đi ngang qua thấy nhà nào sơ sẩy quen gài cửa thảo nào nó cũng mò vào. Không có ai thì nó thấy gì nẫng nấy. Có người thì nó gờm gờm quay ra coi như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Hễ ai mắng mỏ hay quát đuổi thì nó gân mặt chửi rả. Hễ có thằng nào định đấu với nó thì nó nắm tay lại lao vào đấm đá tới tấp. Thằng này liều lĩnh có mả. Thằng này đã nói là làm. Vậy mà trưa hôm đó nó lại quay đi mới lạ. Thằng Thủ Chằm sau khi ê a hát thì quay mặt lại nói rõ to “Rồi có ngày tao cho mày biết tay thằng Thanh còi kia”. Câu nói răn đe ấy không ngờ ba mươi mốt năm sau thằng Thủ Chằm đem ra làm thật.
Hay là cha đã về cứu con,
cha che chở cho con, cha đã ngáng không cho thằng Thủ Chằm hành động. Ông Thanh
bồi hồi thầm nghĩ. Trưa hôm đó linh cảm về một điều hệ trọng xẩy ra với gia
đình mình mà thằng Thanh vùng dậy nhao lên đê. Thôi đúng rồi. Ông Thanh rớt nước
mắt. Vào đúng thời khắc cha ông trúng đạn ngã xuống nơi chiến trường cũng là
lúc thằng Thủ Chằm nắm chặt hai bàn tay thành hai quả đấm. Thằng Thủ Chằm ban đầu
định gân mặt nắm tay kiểu dọa nạt hay dằn mặt đối thủ trước xem thái độ của đối
thủ chấp nhận đến đâu rồi mới ra tay hành động. Hình như chính thời khắc ấy
linh hồn liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến đã kịp thời có mặt và ngăn nó lại. Bằng chứng
là thằng Thủ đột ngột chững người lại, nó đột nhiên hiền lành, nó từ từ
thả lỏng hai rồi mở hai bàn tay ra, mặt nó bỗng trông tím bặm đầy hung tợn
nhưng nó lại không hành động, nó quay đi. Một điều lạ chưa từng có trong ý thức
liều lĩnh và tợn mình của cái thằng nổi danh bất hảo người thôn Chằm ấy.
Thôi đúng rồi. Linh hồn
cha mình đã kịp thời xuất hiện. Linh hồn tức là ma ấy. Ma thì ai nhìn được, ai
mà trông thấy được. Người không nhìn thấy ma những ma lại nhìn thấy hết mọi
hành động của người. Hình như ma còn nhìn được thấu cả những suy nghĩ của người
nữa. Ông Thanh thở giãn ra. Lại một nụ cười nữa hiện trên đôi môi khô quắt. Đã
bốn năm trôi qua không hiểu sao những hôm như hôm nay ông lại chợt nhớ về những
kỷ niệm xa xưa. Trưa hôm ấy sau khi thằng Thủ Chằm quay đầu bỏ đi, thằng Thanh
đã lại bên con bé Chiên. Khổ thân con bé, nó sợ quá chỉ còn biết ngồi ôm mặt
khó nức nở. Hình như trong thâm tâm con bé lúc nó cúi đầu ngồi ôm mặt như vậy cốt
là để hứng đòn của thằng Thủ Chằm cho đỡ đau hơn. Những thằng con trai, những đứa
con gái làng Me hay thôn Chằm mỗi khi thấy thằng Thủ Chằm nóng mắt lên và nắm
hai bàn tay lại chỉ còn nước cúi đầu chịu trận. Con bé Chiên chắc nghĩ vậy. Nó
cúi đầu nhẫn chờ đợi mà chịu trận đòn của thằng Thủ Chằm.
Con bé Chiên không ngờ
trưa hôm đó lại có thằng Thanh xuất hiện. Nó càng không dám nghĩ tới sao hôm
nay lại có một thằng con trai dũng cảm đến vậy. Cái thằng con trai dáng còi cọc,
nét mặt luôn tư lự lại có thể giang tay che chở cho nó. Cái thằng bé con như vậy
bỗng trở nên mạnh mẽ trong suy nghĩ của con bé Chiên. Con bé Chiên ngước mắt
nhìn lên. Nó nhìn thẳng vào hai con mắt lúc này đang lãng đãng trông xa ngoài
dòng nước. Hình như bên tai thằng Thanh lại vừa nghe thấy tiếng gì như tiếng
nói vỗ về. Nó chạy vội ra sát mép nước. Dòng nước đỏ ngầu chảy mải miết va vào
mạn bờ oàm oạp. Tiếng nước vỗ đều đều giống như tiếng người đang thầm thì đang
thủ thỉ. Đôi mắt thằng Thanh bỗng ngời sáng. Nó hướng ra xa và cũng cất tiếng
thầm thì.
– Anh nói chuyện với ai
à?
– Ừ. À không.
– Sao em thấy mồm anh
đang mấp máy.
– Mình về làng đi.
– Anh đừng mách mẹ em
nhé.
– Mách gì?
– Mách em bị thằng Thủ Chằm
bắt nạt ấy.
Thằng Thanh lúc này lại ớ ra. Thì ra vừa nãy nó đã lãng luôn chuyện con bé Chiên ngồi khóc ngay dốc đê. Thì ra vừa nãy nó lãng luôn chuyện tự dưng nó bỗng tỏ ra dũng cảm không ngờ, nó dám cự nự với thằng Thủ Chằm.
Làng Me chỉ cách con đê
sông Thương chừng một quãng đồng đất bối. Quãng đồng còn che khuất làng bởi cái
gò sấu um um cây lá. Chỉ vì cái gò um um cây lá đó nên quãng đường từ trong
làng đi lên đê vốn chỉ là một quãng không xa lắm bỗng nhiên lại dài ra. Thường
ngày chẳng có đứa trẻ con nào dám một mình chạy lên đê chơi. Trong thâm tâm của
chúng thì, chuyện phải đi qua gò sấu một mình cho dù là giữa ban ngày ban mặt
đi chăng nữa cũng là một sự mạo hiểm chưa đứa nào dám. Không hiểu sao con bé
Chiên lại một mình chạy lên đê chờ mẹ. Không hiểu sao thằng Thanh lại một mình
nhao lên đê tìm cha. Hai đứa trẻ. Một đứa ra bờ sông chờ mẹ và một đứa chạy đi
tìm cha cùng tình cờ lên mặt đê trông ngóng. Với chúng dòng sông Thương chảy ôm
lấy bìa làng chính là sự chia cắt.
Thực ra làng Me là ngôi
làng vốn nhỏ và lại là ngôi làng nằm gần đê nên làng không đông đúc lắm. Không
đông đúc nên làng không có chợ. Người làng Me muốn đi chợ đều phải xuống đò qua
bên kia sông. Bên kia sông, con bé Chiên chưa từng được qua. Bên kia sông thằng
Thanh cũng chưa được một lần bước chân xuống đò. Người làng Me ít ỏi và sống
khá thầm kín như chính sự dựa vào thân đê của ngôi làng. Người làng Me hiền
lành chứ không đáo để như người thôn Chằm. Thôn Chằm tuy cùng xã với làng Me
nhưng lại nằm cách xa sông Thương một cánh đồng khá rộng và nhất là thôn ấy lại
nằm gần đường quốc lộ số 1. Người thôn Chằm quen sự ồn ã bởi xe cộ chạy suốt
ngày còn người làng Me sống quen với thiệt thòi bởi đò giang cách trở. Người
làng Me sống khuôn hẹp nên họ ít giao tiếp. Ít giao tiếp nên người làng Me hiếm
bạn bè. Hơn nữa chuyện ngày xửa ngày xưa vùng đất bên bờ bắc sông Thương từng
là chiến địa nên làng Me cũng đồng nghĩa với một làng quê được gây dựng trên những
xác chết. Đất ấy khó ở và hễ ai đã ở đấy đều là những người nghèo hèn và yếu đuối.
Chẳng biết từ khi nào nhưng chuyện nghèo hèn và yếu đuối đã vận vào người làng
Me. Thực hư chưa biết đâu nhưng quả tình người làng Me đúng là còn nghèo còn
hèn và yếu đuối thật. Chính vì thế cho nên mặc dù con bé Chiên nằng nặc đòi thằng
Thanh phải kín miệng nhưng chính nó lại là đứa nói ra câu chuyện xẩy ra ở trên
đê trưa đó. Thằng Thanh nhanh chóng được bọn trẻ trong làng Me kính nể. Thằng
Thanh dám cự lại với thằng Thủ khác nào như là một sự kiện. Chuyện bọn trẻ con
kính nể nhau đơn giản lắm. Chúng thập thò nhìn sau lưng mỗi khi thằng Thanh đi
qua. Nhìn sau lưng và chúng lẽ lưỡi thán phục. Có đứa cao hứng nhưng chỉ mạnh mồm
nói, sợ gì thằng Thủ, có gì gọi thằng Thanh là xong béng.
Con đê sông Thương đoạn
chạy ôm lấy làng Me có bờ đất rất cao. Về chiều bóng đê ngả che rợp nhìn mát lịm.
Cỏ bám thân đê xanh mướt là chỗ cho bọn trẻ con thả trâu. Nhưng chúng chỉ dám
thả trâu khi ít nhất có hai đứa chăn trâu và có hai con trâu trở lên. Đố đứa
nào dám một mình thả trâu ăn cỏ cho dù cha mẹ chúng có mắng mỏ hay quát tháo thế
nào đi chăng nữa. Đứng hay ngồi bên sườn đê kiểu gì con mắt của lũ trẻ đều phải
nhìn thẳng vào gò sấu. Gò sấu um tùm cành lá ken nhau, tối rì rì, thi thoảng lại
bay vút lên một hai ba con quạ đen. Quạ đen đập cánh bay vút lên không trung để
lại trong suy nghĩ của lũ trẻ hình ảnh ở đâu đó có ai mới chết. Nhất là từ dạo
máy bay Mỹ bay vào ném bom khói bốc kín trời. Có đêm thì máy bay Mỹ thả bom đằng
sân bay hay ngoài ga Kép. Có đêm thì chúng bổ nhao như sắp sửa đâm gẫy mấy cái
cột ống khói bên nhà máy phân đạm. Chớp bom lóe nhập nhằng khía vào màn trời
đêm như những vết cứa trên da thịt. Sau những trận đánh phá của máy bay Mỹ là
có những người chết vì bom. Người mới chết bốc lên thứ mùi không tả được nhưng
cái mùi ấy lại có sức thu hút những con chim lợn. Con chim lợn từ trong lùm sấu
bay vút đi, kêu đánh “éc” làm lũ trẻ dù ngồi trong hầm cũng xanh mắt, run lẩy bẩy,
dáo dác dựa vào nhau sợ hãi thành thử chuyện đem trâu lên sườn đê chăn thả chẳng
mấy đứa trẻ đoái hoái.
Con đê sông Thương, đoạn
chạy ôm lấy làng Me, dĩ nhiên trở thành nơi cho trẻ con làng Me thử thách sức
mình, thử thách lòng dũng cảm của mình. Thằng Thanh và con Chiên là hai đứa trẻ
dám một mình chạy lên đê nên cái tên của hai đứa vô tình cặp đôi với nhau. Hễ
nói đứa nào dũng cảm nhất làng Me là bọn trẻ đồng thanh hô to “Thanh Chiên”. Hễ
nói đứa nào có sức khỏe chạy một mạch lên đê là bọn trẻ đồng thanh chỉ tay
“Chiên Thanh”. Đại loại cặp tên “Thanh Chiên” hay “Chiên Thanh” trở thành câu
nói cửa miệng của bọn trẻ con làng Me. Ban đầu nghe réo tên cặp đôi như vậy thằng
Thanh với con Chiên cũng cảm thấy khoai khoái, mặt mũi hai đứa nở căng như hai
quả thị chín. Mùi thị chín thơm ngòn ngọt làm nước bọt mấy đứa trẻ con ứa ra chảy
cả xuống cằm. Hai đứa như hai quả thị chín làm bọn trẻ chỉ nghe réo tên đã thèm
giỏ rãi. Chúng là niềm tự hào của bọn trẻ cơ mà. Nhưng cứ réo mãi hai cái tên
“Thanh Chiên” cùng lúc cũng thấy phiền. Nghe mãi hai cái tên “Chiên Thanh” như
dính vào nhau mãi cũng ngại. Con Chiên là người đầu tiên phát hiện ra điều ngại
ngùng và phiền hà ấy. Nó là con gái mà, hễ đã là con gái thì thường nhậy cảm sớm
hơn con trai. Con Chiên đâm ra tìm cách trách mặt thằng Thanh hoặc chí ít nếu
nó thấy thằng Thanh đang đi lại phía mình là thảo nào nó cũng vòng qua ngõ
khác. Hai đứa trở nên ít giáp mặt từ đó.
Trẻ con làng Me ít có trò
chơi nên chúng túm ngay lấy chuyện hai đứa tìm cách tránh mặt nhau. Chúng đã
nghĩ ngay ra một trò chơi mới. Chúng chơi trò chế cặp đôi con Chiên với thằng
Thanh. Những đứa con gái khéo tay ngắt những bông hoa dâm bụt nở đỏ chót kết
thành bó to. Những thằng con trai tinh nghịch chạy vòng vòng quanh làng vừa chạy
vừa hát câu hát hôm trước thằng Thủ đã hát. Chúng ỉ a rất đồng thanh “Thằng
Thanh con Chiên là hai vợ chồng. Con Chiên thằng Thanh là hai chồng vợ. Hai vợ
chồng chống vợ hai. Hai vợ chồng chống vợ hai chúng mày ơi”. Đám trẻ con chạy
vòng vòng, bọn con gái kéo tay con Chiên lôi nó xềnh xệch về phía thằng Thanh.
Bọn con trai đẩy lưng áo thằng Thanh, dí người nó vào sát người con Chiên. Bó
hoa dâm bụt được bọn con gái đặt vào tay thằng Thanh, rồi chúng lại đồng thanh
hét rinh ngõ “Chồng trao hoa vợ đi. Vợ nhận hoa của chồng đi”. Tiếng vỗ tay rào
rào bên tiếng hét inh ỏi. Đang giữa mùa hè, lại được nghỉ học nên trò chơi này
ngày nào bọn trẻ cũng rủ nhau cùng chơi trò chơi làm đám cưới. Chúng làm “đám
cưới” cho thằng Thanh với con Chiên. Xem ra đúng là chúng chẳng có trò chơi nào
khác thật. Thằng Thanh xấu hổ đỏ chín mặt. Nó ngoắc ngư người, cựa quậy giữa
vòng vây của mấy thằng con trai hòng thoát ra ngoài. Nó càng cựa quậy vòng vây
của bọn con trai càng xiết chặt hơn. Cái vòng vây xê dịch xê dịch đã ẩn thằng
Thanh xô dúi vào người con Chiên. Hai đứa ngã đè lên nhau, lúng túng mãi không
dậy nổi. Bọn trẻ con đồng thanh hát râm ran, chúng lượn thành vòng quanh chỗ
hai đứa ngã đè lên nhau.
“Cây tre xanh không bao
giờ gãy ngọn
Giờ phút này kén chọn làm
chi
Thanh ơi cứ lấy Chiên đi
Bao giờ Chiên đẻ Thanh về
bế con”.
Bọn trẻ lại hát to hơn, lần
này chúng đua nhau gào lên trong tiếng cười nắc nẻ.
“Cây tre xanh hi hi không
bao giờ gãy ngọn
Giờ phút này kén chọn làm
chi. Hi hi
Thanh ơi cứ lấy Chiên đi
Bao giờ Chiên đẻ hi
hi bao giờ Chiên đẻ Thanh về hi hi bế con
Hi hi hi hi….”
Bọn trẻ con làng Me mải
chơi trò làm “đám cưới”, chúng đùa dai như trâu đái. Thằng Thanh ban đầu
là xấu hổ. Nó đỏ dừ cả mặt nhưng nó càng xấu hổ bọn trẻ càng không buông tha.
Giả sử có trưa nào đó mà thằng Thanh nằm chốn trong nhà bọn chúng cũng mò vào tận
nhà tìm lôi ra bằng được. Chúng lôi thằng Thanh ra đầu ngõ, mấy thằng sợ thằng
Thanh bỏ chạy còn buộc dây thừng ngang lưng nó. Bọn trẻ dong “chú rể” sang nhà
con Chiên để “rước dâu”. Dong như dong thằng giặc lái Mỹ bị dân quân bắt vậy.
Thằng Thanh vừa bị dong đi vừa khóc rấm rức, nó nghĩ rằng nó không đáng bị dong
như thế. Bọn trẻ lại đồng thanh “Chú rể khóc nhè. Chú rể khóc nhè. Ề ề ề”.
“Đám cưới” đi dong dong
khắp làng. Bọn trẻ lại dong “đám cưới” ra tới chân gò sấu. Chúng bỏ con Chiên với
thằng Thanh lại đấy rồi co chân chạy tán loạn. Con Chiên ngồi phệt xuống đất,
nó không muốn bỏ chạy theo bọn trẻ. Nó ngước đôi mắt nhìn thằng Thanh vẫn còn
chưa thôi mếu máo, cái nhìn của con Chiên thể như nó sắp hỏi “Anh Thanh có chạy
đi, anh có bỏ em ở đây một mình không?”.
BA
VHSG- Lần mần, buồn buồn,
rồi tiếp đến là gai gai trên da mặt. Cảm giác rõ dần cho thấy đó không phải là
luồng gió bên ngoài luồn từ ô thoáng phả nhẹ xuống như mọi bữa. Ông Thanh đã tỉnh
nhưng cảnh giác nằm im không mở mắt. Ông giả bộ thở đều đều như đang ngủ say để
theo dõi. Đêm tịch mịch. Buồng giam cũng tịch mịch. Nhưng đấy lại chính là thời
điểm cho những hành động kỳ quái của những người bạn tù.
Nhớ lại đêm đầu tiên nằm
trên bệ xi măng, cái bệ xám lạnh được xây áp dọc theo bức tường trong buồng
giam, cái bệ dành làm chỗ ngủ cho những người thụ án, ông Thanh không sao ngủ
được. Nỗi ám ảnh về cái đêm bất ngờ bị tống vào buồng tạm giam ở trại giam Kế
chưa thể dứt. Vả lại ông đã từng nghe đồn đại, một đồn đại về một thứ “luật” bất
thành văn nhưng lại được áp dụng trong hầu khắp các buồng giam giữ phạm nhân, hễ
đã có kẻ mới tới thì kiểu gì kẻ mới tới ấy cũng phải “có màn ra mắt” tay “buồng
trưởng”. Mỗi buồng giam hình như đều có một người tù, khi thì là một người tù
“có thâm niên” nằm trại, khi thì là một người tù có máu mặt yêng hùng được mọi
người tù cùng chung một buồng giam “suy tôn” làm “buồng trưởng”. Đó là những
tay tù cộm cán mà thành tích bất hảo ở ngoài đời mới chỉ nghe danh kể thôi cũng
làm những ai yếu bóng vía sợ vãi đái. Trại giam nào chả vậy! Những người tới
trước nhắn lại những người tới sau. Người qua rồi kể lại cho người chưa qua.
Nhưng ở mỗi trại giam “luật” lại có những cách “ứng xử” khác nhau. Cách ứng xử
kiểu như ở trại giam Kế được gọi là cách “vùi hoa dập liễu”, cách này làm cho kẻ
mới tới vãi linh hồn ngay phút đầu tiên, nó khiến kẻ mới tới không kịp phản ứng,
cứ tự nhiên mà hứng chịu. Không hiểu ở trại giam Hoàng Tiến này họ đón chào
mình bằng cách nào đây?
Ông Thanh “xộ khám” ở buồng giam số 6, buồng dành cho những người chấp hành án chung thân, lúc nắng chiều đã nguội hẳn. Có một cái “lệ” cũng bất thành văn là, hễ có người mới tới thì không bao giờ người đó được đưa vào buồng giam khi trời còn sáng. Đưa vào buồng giam vào lúc chiều tà hay chập tối cũng coi như là một “thử thách” đầu tiên; nói cách khác là được đưa vào thời điểm đó, kẻ mới tới không có cơ hội để tìm hiểu cặn kẽ nơi mình sẽ ở đó thời gian rất dài thì đã phải “chấp hành luật”. Đòn phủ đầu có tính răn đe này làm nhụt ngay tinh thần của kẻ mới tới khiến kẻ đó chỉ biết răm rắp thực hiện.
Bóng tối nhanh chóng chùm
khắp buồng giam khiến ông Thanh không xác định được mọi góc của căn phòng, cho
dù buồng giam này không lấy gì làm dài rộng cho lắm. (Mãi sáng hôm sau ông
Thanh mới biết đó là một căn phòng dài chừng bảy tám mét và rộng chừng năm sáu
mét gì đó. Hai bên chiều dọc là hai dẫy bệ xi măng cao chừng sáu bảy mươi phân,
mỗi bệ xi măng được xây cách nhau một lối đi đủ cho hai người đứng đối diện với
tay tới nhau). Còn lúc này, ánh sáng lờ mờ dọi từ trên ô thoáng xuống chỉ đủ
nói cho người vừa bước vào biết được là trong căn phòng này đã có nhiều người.
Hình như mọi ánh mắt đều nhìn về phía mình? Ông Thanh ngờ ngợ như vậy khi bên
tai khẽ cất lên câu nói. “Thằng này trông tướng đuổi gà không chạy, vậy mà chịu
án lớn cũng lạ”. Câu nói làm ông ngập ngừng cụp ngay đuôi mắt, ông càng không
dám ngước mắt lên như chỉ sợ lại sắp sửa phải ngồi nghe những câu thẩm vấn triền
miên, những câu thẩm vấn nhai đi nhai lại một chủ ý đến rã rời người.
Không dám ngước mắt lên để
nhìn một ai đó coi như thay câu chào “nhập buồng”, thực tình thì lúc này cũng
không thể nhìn rõ một ai. Ông Thanh miệng lí nhí, mắt len lén, chân cun cút lại
bên cái chỗ mà ngay khi ông vừa bước vào đã có một ánh mắt cùng một cái hất hàm
chỉ về phía đó. Đó là chỗ dành cho mình, ông Thanh xác định rất nhanh và hấp tấp
leo lên chỗ đó. Ông co người nằm xoay nghiêng về một bên. Dù sao thì từ nay
cũng không còn phải ngồi rủ người trong những phiên thẩm vấn nữa. Ông Thanh tự
an ủi như vậy và cố tình tránh để không nằm quay mặt về phía người cũ đang nằm
bên cạnh. May cho ông là chỉ nằm bên cạnh một người nhưng không may cho ông là
cái phía ông quay mặt vào lại chính là “buồng đi vệ sinh”. Một cái ô nhỏ được
che chắn tạm bợ dùng làm nơi cho những người tù trong buồng giam thực hiện công
việc ỉa đái hàng ngày ở chỗ đó. Có lẽ tại cái vị trí không mấy thơm tho này
chính là màn dạo đầu của cách “ứng xử” theo “luật” để dành cho những kẻ mới tới.
Ông Thanh vừa mừng lại vừa không vui nhưng cũng tậc lưỡi, gì thì gì cũng có chỗ
nằm đêm nay. Bao đêm qua đã có đêm nào ông được nằm yên đâu. Nỗi phấp phỏng chờ
ngày phán quyết làm ông có muốn ngủ cũng không mơ tới. Mình sẽ đi tới đâu và đi
bao lâu? Gì thì gì mình cũng đã chính thức thụ án. Có nghĩa là từ đêm nay mình
sẽ gắn bó với nơi chốn này mãi mãi.
Đêm xuống sâu, những người
tù cùng buồng giam đã thi nhau “kéo gỗ”. Tiếng “kéo gỗ” như có hiệu ứng lan rộng
hay sao mà ban đầu chỉ có một người cất tiếng ngáy mới nghe “khò khò” rồi bỗng
chốc tiếng “kéo gỗ” rền như pháo rang. Cả buồng giam đồng thanh tiếng ngáy như
sấm rền, tiếng thở ồng ộc, tiếng nghiến răng buốt hàm, tiếng nói mơ luyên
thuyên. Tạm yên vì thấy chưa có dấu hiệu gì về chuyện phải chịu thi hành “luật”
ông Thanh vẫn không dám ngủ mặc dù nếu không có gì nghi ngại ông đã say như chết.
Hy vọng về một đêm, hy vọng về những đêm được ngủ ngon chưa tới đã tắt vụt. Gì
thì gì cũng coi như số phận đã an bài? Nhưng câu chuyện người trước kẻ lại cho
người sau làm ông lo lắng. Có những trại giam kẻ mới tới đang say “giấc nồng”
chợt bị dựng dậy, đầu tiên là bị dồn vào sát tường và tiếp đó là bị chùm một
chiếc gối lên mặt. Đó là cách “ứng xử” mang tên “nửa đêm vỗ gối”. Cách này làm
kẻ mới tới ngơ ngác không biết có những ai đã tham gia vào trận đòn hội đồng.
Thực ra khi vừa bị dựng dậy và bị đẩy sát chân tường, mắt còn chưa tỉnh đã liên
tiếp bị những cú đấm quặn ruột thì làm sao mà biết được ai với ai. Kẻ mới tới
sau khi bị đánh hội đồng trong đêm chỉ còn biết nằm im, không được kêu rên cho
dù toàn thân đau rã rời. Ông Thanh rùng mình khi chợt nghĩ đến cái cảnh mình sẽ
bị như thế và co quắp nằm theo dạng thế thủ chờ đòn. Vẫn nằm xoay mặt vào “buồng
vệ sinh”, ông vòng hai tay lên ôm đầu như đang che đỡ những quả đấm không biết
là của ai đang giáng xuống.
Mùi khai gắt và thối khẳm
như mùi xác chết càng về đêm càng bốc lên nồng nặc. Ông Thanh lúc nhịn thở, lúc
rướn cổ lên hít một hơi dài để rồi lại nhịn thở tiếp nhưng càng làm như thế cái
mùi khó chịu càng xộc thẳng vào hai lỗ mũi. Xoay người lại ư? Ông không dám.
Dám quay mặt vào người cũ ăn vài cái đạp là cái chắc nhưng cứ úp mặt vào “buồng
vệ sinh” như thế này mãi cũng khốn. Mùi khai khẳm cứ nồng nặc bốc lên làm nhức
cứng hai cánh mũi. Một bên sườn phải đau ê ẩm vì tư thế nằm nghiêng quá lâu.
Sao ở đây bọn họ không ra tay nhỉ? Ông Thanh dù còn đầy nghi hoặc nhưng hết chịu
nổi chuyện nằm nghiêng một bên mãi đành mạnh dạn xoay người nằm ngửa. Dễ chịu hẳn.
Mùi nồng nặc dường như cũng bớt. Sườn phải cũng đỡ ê ẩm nhưng chọn cách nằm ngửa
là một mạo hiểm cho kẻ mới tới. Vô phúc bọn người cũ ra tay thi hành “luật” sự
chống đỡ có hạn, gánh đòn nặng chẳng oan.
Ông Thanh đặt hai bàn tay
lên bụng cốt là để phòng vệ và cố xua đi nỗi trống trải cùng phiền muội. Cố xua
đi nhưng càng cố càng khó ngủ. Ông bỗng thấy có bàn tay ai đó đang lần lần ngay
cạnh sườn trái. Cách thức lần lần ấy không hiểu là người bạn tù nằm bên cạnh
đang thử xem xem ông ngủ say thật chưa hay đấy là khúc dạo đầu của “màn chào hỏi”
dành cho kẻ mới? Ông Thanh run rẩy trong bụng và lo hãi cố nằm ngây đơ như đã
ngủ rất say. Bàn tay người bên cạnh sau hồi lần lần thăm dò nhẹ nhàng bắt đầu lần
lần mạnh dạn hơn. Rồi người bên cạnh xoay người nghiêng hẳn về phía ông, bàn
tay của người bên cạnh nhẹ nhành ve vuốt ngực ông. Ông Thanh vẫn nằm im chưa tưởng
tượng nổi bàn tay ve vuốt lạ lùng của người bên cạnh có ý định gì. Thực ra là
quá sợ hãi và mệt mỏi đã khiến ông phục tùng và nằm im. Ông không hề có phản ứng
gọi là chống đỡ hay đáp trả. Bàn tay lạ lùng thấy vậy lấn tới, nó ôm riết lấy
người ông và tiếp theo là những cử chỉ gần gũi như có người đàn ông đang thân mật
với người đàn bà. Người bên cạnh đang nắn bóp ngực ông, vừa nắn bóp vừa vân vê
đầu vú của ông. Cách thức vân vê rất gợi tình, nó làm ông tê tê và hơi nhồn nhột.
Quả tình đêm sâu lại nằm trên nền xi măng lạnh buốt bỗng dưng được ai đó ôm ghì
và xoa xít ngực cũng thấy ấm áp hẳn. Ông Thanh rướn cong người lên trong cảm
giác lẫn lộn. Rồi người bên cạnh luồn tay thọc nhanh xuống, bàn tay ấy luồn rất
gọn gàng qua cạp quần và cũng rất nhẹ nhành từ từ lần tới đũng quần của ông.
Đến nước này ông Thanh lại
càng thấy khó hiểu. Ông không hiểu điều gì đang diễn ra nhưng đúng là bàn tay của
người bên cạnh đang lần mò như tìm thứ gì đó ở trong đũng quần của ông. Hay người
ta tìm xem mình có giấu tiền bạc gì? Trước khi nhập trại có nhiều người tù được
gia đình giấu cho ít tiền gọi là tiền “phòng thân”, chuyện này ông Thanh đã
nghe tới. Tiền “phòng thân” chính là cái khoản mà kẻ mới tới phải cúng nạp cho
“buồng trưởng” để người này nương tay chút ít. Có tiền “phòng thân” coi như là
yên tâm phần nào. Không cúng nạp khoản tiền “phòng thân” ngày nào cũng ăn đòn
chẳng oan trái. Đã từng nghe nói, có người tù mới được người nhà giấu cho ít tiền
không may ngủ say bị bạn tù nẫng sạch. Nẫng sạch cũng có nghĩa là tiền thì mất
mà tật thì mang. Đòn xử nặng của “buồng trưởng” chỉ còn nước “chết đòn”. Ông
Thanh không giấu tiền ở đó nên không sợ mất cắp. Không sợ bị mất cắp nhưng nhớ
tới chuyện phải có khoản “phòng thân” thì ông bỗng thấy lo ngại. Liệu sáng mai
hay vài hôm nữa tay “buồng trưởng” nhắc ông về khoản “phòng thân” thì làm thế
nào? Lúc được phép gặp gia đình lần cuối ở tòa, bà vợ ông cứ nhất khoát đòi dúi
cho ông ít tiền nhưng ông gạt tay từ chối. Bà ấy hay đau yếu mới cần tiền, chứ
ông đã vào nhập trại rồi tiền nong cầm giữ làm gì cho vướng víu. Bà Chiên nước
mắt vắn dài ngần ngừ cầm lại món tiền ông vừa gạt trả. Nhưng bây giờ đúng là
không có trong tay cái khoản “phòng thân” kể cũng rách việc. Có gì đành nhắm mắt
chịu đòn vậy.
Rồi cuối cùng cái cần tìm
thì bàn tay kia cũng đã tìm được, đó là hạ bộ của ông. Bàn tay ấy bắt đầu từ từ
nắn, từ từ bóp. Rất nhẹ nhàng chứ không làm ông đau hay nhồn nhột như bàn tay ấy
lúc vừa nắn bóp vừa vân vê ở ngực ông. Lần đầu tiên trong đời ông Thanh mới thấy
có một người đàn ông nắn bóp hạ bộ mình. Thoáng chút xấu hổ lẫn tủi nhục làm
ông mấy bận toan đưa tay hất bàn tay của người đang có hành động kỳ quái kia ra
khỏi đũng quần mình. Nhưng ông vẫn không dám, kinh nghiệm từ cái đêm ở trại
giam Kế cho thấy, bất cứ một cử chỉ hay một phản ứng một cách tiêu cực hay quyết
liệt nào đều có thể dẫn tới những điều tệ hại. Hơn nữa hành động kỳ quái kia lại
diễn ra nhanh và thân mật làm ông cứng đờ toàn thân. Ông vẫn nằm ngửa bất động
nhưng là cái bất động của người không dám có một phản ứng nào khác thích hợp
hơn. Cảm thấy như có sự đồng điệu hay sao mà lần này cả hai bàn tay của người
bên cạnh bắt đầu vuốt những cái vuốt vào cần hạ bộ làm cần hạ bộ của ông cứng dựng
lên. Người ông bắt đầu rạo rực, một cảm giác rạo rực khiến ông mụ đi. Đã lâu rồi,
nghĩa là từ ngày bị bắt cho tới giờ ông Thanh chưa được gần gũi vợ. Chưa được gần
gũi vợ nên hành động lạ lùng kia cũng làm ông đi từ ngỡ ngàng tới chấp nhận.
Ông Thanh mụ đi đờ đẫn.
Đêm tịch mịch đang đồng lõa với hành động kỳ quái chưa từng có tên gọi ấy.
Trong bóng đêm đen kịt, bàn tay lạ lùng của người bên cạnh tạm dừng nắn bóp hạ
bộ của ông Thanh. Một cái lật tay rất nhanh đã vật nghiêng người ông Thanh sang
một phía. Hai người nằm kiểu úp thìa vào nhau. Cái lưng nhỏ, gày gò của ông
Thanh nằm trọn trong lòng người nằm bên cạnh. Hai người quấn chặt như đôi con
sam mà ông từng thấy bán ở chợ. Như một cái máy đang vào độ vận hành trơn tru,
vòng tay của người nằm bên cạnh rút nhanh lên, nó buông khỏi hạ bộ của ông. Một
vòng ôm ghì cứng lấy người cùng những luồng hơi thở nóng hổi sau gáy. Luồng hơi
thở gấp gáp liên tục tăng dần nhịp cùng vòng tay ôm chặt lấy người ông hơn. Đôi
chân người ấy quặp chặt khiến ông không thể xoay xở được. Ông Thanh co dúm người
như con tôm vừa cho vào nồi nước sôi. Bây giờ thì là chính cái cần hạ bộ cứng
đanh, nóng hổi của người kia đang thúc thúc liên hồi vào khe giữa hai mông ông,
những cú thúc thúc hăm hở. Hành động quen quen bứt ông ra khỏi thực tại, nó đưa
ông về một nơi xa xôi mà thấy thân gần.
Mặc yên cho những điều kỳ
quái chưa có tên gọi đang diễn ra, ông Thanh như đắm chìm trong cơn mê hoặc.
Đã tới gần bên ngôi nhà mới
dựng ngay trên đỉnh dốc. Không gian đặc quánh một màu đen của bóng tối. Ánh
sáng hắt ra lúc tỏ lúc mờ và như lay động. Ông Thanh đứng thậm thò một bên
chân, kiểu đứng của người nửa muốn gần lại nửa muốn dứt đi, ông ghé mắt nhìn
qua khe cửa. Cô Thoan đang đứng trước tấm gương nhỏ treo trên vách nhà, lưng cô
xoay ra ngoài. Tấm lưng đầy đặn lúc rõ lúc khuất dưới ánh đèn điện nhập nhòa
níu ông cố ghé mắt sát hơn qua khe cửa. Nín một hơi nhịn thở thật dài. Ánh mắt
của ông Thanh không rời khỏi tấm lưng của cô Thoan lấy một giây. Hình như cô
Thoan vừa tắm xong? Cũng có thể là cô Thoan đang chuẩn bị đi ngủ. Tấm lưng để
trần đầy đặn làm ông Thanh thấy lúng túng. Ông thấy toàn thân mình rùng rùng
như có lửa đốt. Không quay mặt ra ngoài, cô Thoan vẫn bình thản đứng chải tóc
trước gương. Đàn bà hay làm như vậy. Họ thường chải tóc trước khi đi ngủ. Cũng
có thể cô Thoan đang chải lại mái tóc sau khi vừa tắm gội xong? Ông Thanh khẽ
quay mắt thoát khỏi khe cửa để từ từ thả lỏng người ra, ông hít một hơi thở rất
sâu rồi lại nhẹ nhàng áp mặt qua khe cửa. Cô Thoan này kể cũng lạ. Cô đứng trước
gương thong thả và chậm dãi chải từng đường lược. Cô chải từ trên đỉnh đầu xuống
đuôi tóc. Chải tới đuôi tóc cô lại dừng tay lược. Cô Thoan nắm chặt đuôi tóc và
đưa nó về đằng trước mặt. Cô nắm đuôi tóc đưa lên miệng căn cắn. Hình như cô
Thoan này đang có suy nghĩ gì đấy. Đàn bà một khi đã đứng một mình tư lự mà cắn
cắn đuôi tóc tức là họ đang có khao khát nhục dục. Ông Thanh đã nghe ai nói vậy
lâu lắm rồi. Cô Thoan vẫn tư lự căn cắn đuôi tóc. Đàn bà đã có khao khát nhục dục
là họ sẵn sàng đón nhận dục cảm. Ông Thanh phân vân tự hỏi nên ghé mắt nhìn tiếp
hay quay đi nhưng sự thôi thúc nhục dục lại đang làm đầu ông rừng rừng như sắp
lên cơn sốt. Mình có nên đánh tiếng không nhỉ? Ông Thanh khẽ lùi người xa khỏi
khe cửa hòng định lấy can đảm cất lên tiếng gọi. Mình có nên đẩy cửa vào trong
nhà không nhỉ? Ông Thanh dập dình chân như định bước vào. Nhưng liệu cô Thoan
này có đúng là đang khao khát nhục dục như mình nghĩ không? Ngộ ngỡ mình bước
vào cô ấy lại sợ hãi thét toáng lên thì sao? Ông Thanh lại hơi chững người lại.
Ông ghé mắt nhìn thêm qua khe cửa. Cô Thoan buông đuôi tóc xuống và thở một tiếng
thở dài. Tiếng thở dài nghe vang to đến nỗi ông Thanh dù đứng thập thò ngoài cửa
cũng nghe thấy được. Hay là cô Thoan đã biết có mình đang đứng ở đây và đang
nhìn trộm qua khe cửa? Cũng có thể lắm. Bằng chứng là tiếng thở dài đầy thất vọng
vừa vọng ra. Chắc cô ấy đang thất vọng vì mình không dám đẩy cửa bước vào?
Bất chợt ông Thanh như muốn kêu lên. Cô Thoan đột nhiên xoay cả người trông ra hướng cửa. Gương mặt cô đỏ rực dưới ánh đèn. Một gương mặt như mời gọi. Ông Thanh không cất nổi đôi chân. Có gì đấy đang giữ chặt đôi chân của ông lại. Cô Thoan nhếch một bên môi lên. Một nụ cười giễu cợt kẻ nhát gan đang đứng ngoài cửa ư? Sau cái nhếch môi cười chế nhạo ấy cô Thoan thõng hai tay xuống để lộ bộ ngực trần lấm tấm những giọt nước. Bộ ngực căng dầy với đôi núm vú mây mẩy đang nâng lên hạ xuống theo nhịp thở mạnh. Ông Thanh cảm như không thể chịu được thêm nữa.
Ông Thanh vừa thiếp đi
không rõ được bao lâu. Một giấc ngủ đến nhanh và đầy huyền hoặc. Hình như ông vừa
từ đâu đó tới chứ không phải là đang nằm trong buồng giam? Còn lẫn lộn chưa
phân biệt ranh giới giữa giấc mơ và hiện tại bởi trong tâm trí ông vẫn còn nặng
nề ảo giác của giấc mộng mị. Cảm giác gai gai lại rộn lên lần mần trên da mặt.
Lần này cảm giác đó có vẻ quyết liệt hơn, có vẻ đánh thức trí não của ông hơn.
Đã tỉnh hồi đôi chút nhưng ông Thanh chưa hết cảnh giác, những tháng ngày ở
trong trại giam đã dạy ông biết cẩn thận từ tốn bao giờ cũng hơn manh động hoặc
gấp vội. Khẽ ti hí mắt và nhẹ nhàng kẹp hai ngón tay vào đúng cái chỗ đang gai
gai trên mặt, ông Thanh xuýt á lên khi bàn tay ông chạm vào một vật thể lạ, một
vật thể có chỗ mềm mềm có chỗ xương xương đang cựa quậy. Khẽ khàng giữ vật thể
lạ giữa hai ngón tay ông Thanh he hé mở mắt. Dù không thể nhìn rõ nhưng ông
Thanh cũng nhận ra vật thể lạ đó không gì khác là một chú bọ ngựa non.
Một con bọ ngựa, ông
Thanh yên tâm từ từ ngồi dậy. Trời đã bắt đầu hơi sang sáng, thứ ánh sáng bên
ngoài hắt qua ô thoáng làm buồng giam đùng đục như phủ màn sương mỏng. Mày làm
thế nào mà lại rơi đúng chỗ tao nằm? Chắc là mày bị gió thổi rơi xuống đây?
Nhưng sao mày mãi chỉ đứng cọ cựa một chỗ? Hay là, hay là….? Ông Thanh thầm suy
đoán. Chú bọ ngựa non nằm yên trong lòng tay ông như thể nó đã tìm được chỗ trú
sau những kiếm tìm vô vọng. Tao thì bị giam ở đây đã đi một nhẽ nhưng vì lẽ gì
mà mày lại tới chốn này kia chứ? Lại phân vân ước đoán. Ông Thanh nhìn lên ô
thoáng. Đây là lần nhìn lên ô thoáng sớm nhất kể từ bốn năm nay. Mọi bữa phải
khi trời sáng hẳn ông Thanh mới dám liếc mắt nhìn lên ô thoáng. Hôm nay là ngoại
lệ. Tự nói với mình như vậy, ông dón dén đứng dậy toan với lên chỗ ô thoáng để
tìm cách thả con bọ ngựa trở về với thiên nhiên của nó. Những có gì đấy làm bàn
tay ông chợt rụt lại, ông không thể với tới chỗ ô thoáng được. Giả sử lúc này
ông cố gắng kiễng chân để ném con bọ ngựa ra ngoài thì cũng khó tới ô thoáng,
có khi còn làm nó va mạnh vào tường mà giập nát. Hoặc giả nếu như ông ném được
nó ra bên ngoài thì liệu nó cũng có thể chịu được cú rơi xuống đất như trời
giáng hay không? Chút hoài nghi chính khả năng của mình đã làm ông Thanh thôi
ngay ý nghĩ. Nhưng giữ nó lại liệu nó có thể sống nổi như ông không? Không tìm
được cách nào khả dĩ, ông Thanh vẫn giữ khư khư con bọ ngựa.
Một con bọ ngựa còn khá
non. Thứ sinh vật tình cờ rơi xuống đúng vào mặt ông Thanh này toàn thân đều
mang màu nâu nhạt, chứng tỏ đây là giống bọ ngựa sống dựa trên thân cây bạch
đàn. Bọ ngựa bạch đàn tuy còn non nhưng đã có cách biến đổi màu sắc phù hợp với
điều kiện sống. Ông Thanh ghé mắt nhìn con bọ ngựa kỹ hơn, đôi cánh mỏng của nó
còn ngắn cũn cỡn không đủ che cái thân hình dài khều khào vẫn còn mềm mềm, còn
lõng nhõng. Một con bọ ngựa non không may bị gió cuốn lỡ lạc mẹ xa xuống chỗ
ông? Đôi kiếm càng vẫn còn bé bỏng với những chiếc chân gai cào cào chỉ đủ tạo
cảm giác lần mần và hơi buồn buồn lòng tay. Những phân vân ùa tới đủ để ông
Thanh phải vắt óc. Lâu lắm rồi ông Thanh mới phải vắt óc để suy tính. Thì ra
mày cũng làm tao phải bận tâm đây.
Từ ngày vào đây tới giờ
ông Thanh hầu như không dám suy nghĩ. Biết suy nghĩ gì bây giờ khi mà đường trở
nhà về hầu như tắt lịm. Hồi còn ở nhà, việc suy tính sáng mai làm việc gì ở đâu
chính là thói quen của một người đàn ông trụ cột. Nếu như không có gì thay đổi
thì năm nay gia đình ông đã có những việc bận rộn. Đầu tiên là việc đứa con gái
lớn lấy chống. Nó có khi đã đẻ hai đứa con rồi ấy? Ông Thanh đoán vậy và thầm
mường tượng ra cái cảnh ông đang được bà vợ giao cho nhiệm vụ trông hai đứa
cháu ngoại. Hai đứa cháu ngoại, đứa cháu gái lên ba và thằng con trai sắp tròn
một tuổi. Thằng cháu trai ngồi trong lòng ông, đứa cháu gái đứng bấu bên cạnh
người ông. Ông Thanh vừa rung rung đùi nựng dỗ cho thằng cháu ngoại khỏi khóc lại
vừa phải méo mồm nhăn mặt đút cho đứa cháu gái là con chị ăn. Chúng nó thật phiền
phức. Trẻ con là vậy, hay khóc quấy rầy và khó cho ăn. Đôi lúc mệt quá ông đã
nghĩ đem trả quách hai đứa cháu cho bố mẹ chúng. Nghĩ thế thôi nhưng ông không
làm thế. Ông lại rung rung đùi nựng dỗ thắng cháu ngoại hy vọng nó nín khóc và
lại méo mồm nhăn mặt cố đút thìa cơm cho đứa cháu gái. Nói vậy nhưng vui. Hôm
nào bố mẹ chúng không nhờ ông trông giúp là ông lại thấy chân tay thừa thãi.
Ông đứng trước cửa nhà nhìn về phía nhà anh con rể nói vu vơ, chúng nó hôm nay
không đi làm à?
Những nhát cào gai gai
còn yếu ớt của con bọ ngựa non đã lôi ông Thanh trở về với thực tại. Khẽ buông
một tiếng thở buồn, ông Thanh lắc đầu chán ngán. Làm gì có anh con rể nhà ở
phía xóm bên, phía xóm mà chỉ cần đứng trước cửa nhà bà vợ ông chỉ ới to một
câu là lát sau đã thấy cô con gái chạy ù về. Làm gì có những đứa cháu ngoại, thằng
cháu trai hay khóc và con chị khó cho ăn. Cái tin ông Thanh, tức là bố của đứa
con gái ông, giết người làm kinh động cả cái làng Me nghèo nằm xa khuất bên
chân con đê sông Thương. Làng Me từ thuở lập làng tới giờ chưa bao giờ có hung
tin nào ghê gớm như cái tin này. Một hung tin bỗng chốc làm thay đổi hết mọi nếp
sống của làng. Người làng Me bỗng sinh ra nghi ngờ lẫn nhau. Người làng Me bỗng
sinh ra cẩn thận với bất cứ một ai. Người làng Me bỗng tối vừa xuống là cài cửa
thật chặt. Một hung tin làm đứa con gái sắp sửa lấy chồng của ông như sụp quỵ
xuống. Đứa con gái không dám tin vào tai mình nhưng sự thực lại vô cùng độc địa,
nó lan nhanh hơn cả dòng nước lũ trên sông Thương đang ồn ào đổ về. Ông Thanh bị
bắt và bị kết án cũng có nghĩa là từ khi đó cô con gái nhỏ vốn được ông yêu chiều
nhất nhà biến mất. Nó biến mất tuổi trẻ nhiều ước vọng của mình để trở thành một
đứa con gái ngày ngày chỉ biết cắm mặt đi trong làng.
Ông Thanh dụi mắt bùi
ngùi. Nỗi nhớ, nỗi lo lắng cho đứa con gái đang ùa tới cồn cào. Trong nhà, mỗi
khi rảnh rỗi ông thường hay hứng lấy việc được chải tóc cho con bé. Đấy là hồi
con Lanh nhà ông còn nhỏ. Con bé Lanh đứng bấu bên người ông, nó nghiêng đầu để
cho ông chải tóc. Mớ tóc còn chưa dài và còn mỏng, lún cún những lọn tóc nhuộm
màu nắng chỉ cần vơ nhẹ đã nắm trọn. Con bé Lanh đứng bấu bên người, đầu chỉ chực
gục vào lòng làm ông không thể chải cho nó gọn gàng được. Ông Thanh kéo con bé
lại sát bên lòng. Ông xoa xoa đầu nó, mắng yêu nó mải chạy chơi ngoài nắng đến
nỗi mớ tóc đỏ vàng như những sợi râu ngô. Con bé nũng nịu vùi đầu vào lòng cha.
Đôi mắt của nó nghếnh lên mở to nhìn cha đầy tinh nghịch. Được cái con bé khá
biết cách lấy lòng cha. Đơn giản như chuyện nó luôn đứng về “phe” ông mỗi khi
ông bị bà vợ cằn nhằn vì “cái tội” chiều con bé quá, để con bé đã mười hai tuổi
mà chưa biết nấu cơm. Nó mở to đôi mắt màu nâu nhìn ông thỏ thẻ. Đã có bố nấu
cơm cho ăn rồi.
Một nỗi buồn còn buồn hơn
nỗi buồn đang xâm chiếm lòng ông. Ông Thanh thấy mình thật có lỗi khi để xẩy ra
chuyện “tày đình”. Chuyện tày đình làm con bé hôm nghe hung tin cứ đứng góc nhà
khóc suốt đêm. Nó khóc mà không thành tiếng. Chỉ vọng ra những âm thanh thút
thít nghe như tiếng chuột cắn bao tải thóc. Bà vợ của ông nói lại như vậy. Bà
Chiên chỉ dám nói điều đó mới đây thôi. Mới nói tức là khi đứa con gái lớn đã
quyết định xin phép mẹ để đi lao động mãi tận Đài Loan. Nó quyết định đi lao động
bên xứ người xa lắc một phần cũng vì muốn xa hẳn những câu chuyện xì xèo sau
lưng và một phần ở lại làng Me nó không thể làm gì khác được. Bà Chiên nói vắn
tắt chuyện đó vào hôm bà được phép tới trại giam để thăm thân. Không bùi ngùi,
không níu giữ, bà Chiên chấp nhận cho cô con gái sang xứ người như một cách
cũng là để đứa con gái quên đi câu chuyện tình duyên bỗng chốc thành lỡ dở của
con bé.
Không hiểu giờ này ở bên ấy
con bé Lanh luôn luôn bé bỏng của ông đã tỉnh dậy chưa? Bên xứ người lại là đi
lao động giúp việc hẳn nó sẽ vất vả và luôn bị thua thiệt. Ông Thanh lại tự
trách mình, ông đã từng nghe nói về những người sang Đài Loan lao động. Nói là
đi lao động nhưng có mấy ai có được công việc an nhàn. Hơn nữa những câu chuyện
bị xâm hại, bị lừa gạt nhất là lao động nữ làm ông cứ bồn chồn. Sáng nay con bé
đã dậy chưa? Hay là cả đêm hôm qua nó phải làm việc mà không được ngủ. Ở trong
nhà ông thì con bé Lanh là đứa có vẻ như biết đón ý của ông nhất. Nó chưa khi
nào cần ông nhắc lại câu thứ hai. Nó nghe ông nói và đứng dậy đi làm ngay chứ
không kề cà rồi nhường việc cho người khác làm thay như thằng Lợi. Trách thì
cũng đáng tội cho thằng Lợi, nó là thằng con trai, lại là con út nên hở ra là
có mẹ đỡ, nên nó hay dựa. Từ hôm ông bị bắt mọi việc nhà dồn hết lên vai con
Lanh. Con bé thương mẹ đau yếu nên dành hết việc. Không hiểu vắng con chị ở nhà
thằng Lợi có chăm chỉ nên không? Vậy là thằng Lợi đã mười tám tuổi. Ngày ông bị
bắt nó mới mười bốn nên không hiểu sâu hiểu sắc như con chị. Thằng Lợi sợ hãi
không dám đến gần bên bố. Nó đứng mãi cuối phòng xử án và chỉ nhìn ông từ xa
lúc người nhà được phép đến bên ông lần cuối. Bà Chiên nói chuyện, thằng
Lợi muốn đi bộ đội như ông nội nó nhưng người ta không nhận. Người ta trả nó về
khi ai đó cho hay chuyện của cha nó. Thằng Lợi giận ông lắm, giận vì chuyện nó
bị trả về đó. “Nó nói, nó chẳng muốn gặp lại ông nữa”. Bà Chiên ngập ngừng nói
vậy. Ông Thanh không trách gì nó mà chỉ hận mình. Ông hận mình mu muội thành u
mê mà hỏng hết chuyện nhà, chuyện con cái. Thằng Lợi đã lớn, nó có quyền phán
xét cha nó. Ông Thanh chìm vào những cảm xúc. Không hiểu bà vợ ông mấy hôm nay
dở trời dở đất có đau chỗ nào không? Không hiểu ở bên Đài Loan con Lanh có an
toàn không? Đầu óc ông miên man trong tưởng tượng. Ông đang mường tượng ra cái
cảnh con bé Lanh nhà ông đang vật vã kêu khóc. Không có ai tới giúp. Không có
ai đứng ra bảo vệ nó. Con bé Lanh đang vật vã trong ê chề sau khi nó bị chính
ông chủ nhà cưỡng hiếp và lại còn bị đánh đập.
Rùng mình như chính mắt
mình vừa nhìn thấy cảnh tượng đó. Rùng mình như chính tai mình vừa nghe thấy tiếng
kêu cứu vật vã đó. Ông Thanh choáng váng, mồ hôi vã ra ướt đầm trên trán. Không
lẽ mình hại người thì đời sẽ hại chính người thân của mình? Không lẽ ở đời còn
có chuyện gây thù thì chuốc oán? Một loạt những hồ nghi liên tiếp dội tới
làm ông bải hoải như vừa qua trận ốm thập tử nhất sinh.
“Nó nói nó sang bên đó cố
gắng kiếm tiền về lo chuyện cho ông”. Bà Chiên nói vớt sau khi đã đứng dậy để
chào ra về. Câu nói của bà thêm một lần nữa cứa vào gan ruột. Con bé đi lao động
mãi tận bên Đài Loan chỉ là để kiếm tiền về lo chuyện cho ông? Biết lo như thế
nào mà lo được? Ông Thanh hoàn toàn mất hết mọi hy vọng. Đã vào nơi chốn này
còn gì mà hy vọng nữa? Tại sao ở đứa con gái luôn luôn là bé bỏng của ông lại
còn le lói chút hy vọng hão huyền. Nó có biết kiếm tiền đã là một khó khăn
không? Kiếm tiền về lo chuyện cho ông khác nào công việc nhặt đá vá trời.
Cái cào nhẹ gai gai của
con bọ ngựa như giúp ông tỉnh lại. Ông Thanh nâng bàn tay lên để nhìn con bọ ngựa
kỹ hơn. Con vật không ý thức này dường như lại muốn nói với ông điều gì thì phải?
bằng chứng là đôi kiếm càng khều khào với những chân gai nhỏ xíu đang gại gại
lòng bàn tay ông. Không hiểu sao từ lúc giữ trong lòng tay đến giờ con bọ ngựa
non này không hề có dấu hiệu muốn bò đi hay cố bò đi. Nó đứng yên trong lòng
tay ông, thi thoảng gại gại như muốn nhắc ông điều gì đó. Ông Thanh lại nhìn
con bọ ngựa kỹ hơn. Một sinh vật từ đâu xa lạ rơi xuống mặt ông như một sự gửi
gắm làm ông băn khoăn. Màu nâu nhạt khiến con bọ ngựa này trông giống như một
nhánh lá bạch đàn hơn là một sinh vật sống. Nhánh lá bach đàn nhỏ đứng yên
trong lòng tay ông và ông biết nó không hề có ý định chuyển dời.
Ông Thanh khum khum lòng bàn tay mình lại làm thành một chiếc tổ con con. Con bọ ngựa non bé xíu đứng vẻ mãn nguyện trong cái tổ con con ấy, nó ngoay ngoáy chiếc đầu với đôi mắt to lồi cũng như đang nghếnh lên nhìn ông. Một cảm giác thân gần hơn là một trách nhiệm len tới tâm hồn ông. Mình sẽ giữ con bọ ngựa này và mình sẽ nuôi nó.
Tiếng kẻng báo giờ điểm
danh sáng vang lên đanh lạnh. Những người bạn tù cùng chung buồng giam ồn ào
choàng dậy như những chiếc máy. Họ đứng sắp thành hai hàng ngang ngay ngắn, đối
mặt vào nhau ở phía cuối bệ xi măng, chỗ khoảng ngăn cách giữa hai bệ xi măng
và cũng là chỗ lối đi. Những người tù xộc xệch sau một đêm, vội vã chỉnh lại bộ
quần áo phạm nhân, bộ quần áo với những sọc to màu đen trên nền vải trắng. Nhìn
họ đứng sắp hàng y hệt như những chiếc cọc tre cắm làm hàng rào bên ruộng ngô
làm ông Thanh suýt bật cười. Ông nhét vội con bọ ngựa non vào trong túi áo.
Một ngày mới nữa lại tới.
Thông thường chỉ những ai yếu mệt hay tỏ ra yếu mệt mới được phép ra ngoài sân
sau khi đã hoàn thành công việc điểm danh hàng ngày theo thông lệ. Mọi sáng ông
Thanh không có ý muốn được ra ngoài sân. Không hiểu sao ông Thanh lại rất sợ phải
ra ngoài sân. Một ý nghĩ trái ngược hẳn với những người tù khác. Ông sợ phải ra
ngoài sân đơn giản chỉ vì ra ngoài đó ông sẽ bật khóc. Ngoài sân là một khoảng
trời không dành cho ông. Khoảng trời với màu nắng mới còn nhàn nhạt và với những
làn gió sớm mơn man rất đỗi bình yên và đỗi thân thương ấy sẽ làm ông thêm đau
đớn. Bốn năm qua là bốn năm với nỗi đau đớn về tinh thần đã vò nát thân thể
ông. Vò nát như người ta vò chiếc áo cũ đã rách bươm. Vò nát như người ta sẵn
sàng vứt bỏ nó đi không thương hại. Ra ngoài sân là được hưởng chút ít thứ gọi
là không khí của thiên nhiên sẽ làm ông sụp ngã. Ánh sáng ban ngày khác nào một
lưỡi dao đang cứa từng nhát cứa sắc lẹm vào người ông. Những vết cứa sắc lẹm sẽ
gặm nát thân thể ông.
Sáng nay tự dưng ông
Thanh lại muốn được ra ngoài sân. Ông cất giọng đáp “có” một cách yếu ớt,
sự yếu ớt hoàn toàn tự nhiên bởi đêm qua ông luôn bị những giấc mộng mị dằn vặt
nên mất ngủ mà giọng nói sinh ra yếu ớt, ông đáp xưng danh sau tiếng đọc to của
người cán bộ quản giáo. Hình như cái giọng yếu ớt đó có tác dụng ngay lập tức.
Người cán bộ quản giáo dừng mắt đọc bản danh sách. Anh ta hướng cái nhìn chằm
chằm về phía ông Thanh. Ông Thanh bỗng phát hoảng. Ông chưa hiểu được cái nhìn
chằm chằm đó là dấu hiệu dành chút thiện cảm cho ông hay đó là cái nhìn mang
tính cảnh cáo. Không hiếm chuyện như vậy, bởi những người tù thường hay đóng kịch.
Đóng kịch giả ốm để được nằm bệnh xá. Nói gì chứ được nằm bệnh xá cũng là một
ân huệ lớn. Đóng kịch để được ra ngoài sân vung vẩy chân tay cho đỡ cuồng. Nói
gì chứ nằm dài mãi trên cái bệ xi măng ngày hè thì ướt nhoét mồ hôi, ngày đông
thì căm căm như băng giá này mà được ra sân chút ít cũng thấy dễ chịu như được
đổi đời.
Ông Thanh giật mình vội
thọc tay vào túi áo một cách đầy lo lắng. Con bọ ngựa khẽ cào cào, khẽ cựa quậy
như muốn nói rằng nó vẫn yên vị ông hãy yên tâm. Động tác của con bọ ngựa càng
làm dấy lên ý muốn sáng nay được ra ngoài sân. Ông muốn ra ngoài sân bứt dăm lá
cỏ làm thức ăn cho con bọ ngựa. Nó hình như không muốn rời xa ông. Ông lúc này
hình như cũng không muốn thả nó về nơi chốn của nó. Có cái gì đấy khó giải
thích đang ràng buộc một con vật vô thức với ông. Người cán bộ quản giáo sau
khi làm xong thủ tục điểm danh thường lệ bước lại gần ông Thanh nói ngắn gọn.
Sáng nay ông được ra ngoài ba mươi phút.
Hồi hộp còn hơn cả bữa
ông run run cầm tay cô Chiên của hơn hai mươi năm trước, ông Thanh lặng lẽ theo
chân người cán bộ quản giáo để bước ra ngoài. Lần đầu tiên sau bốn năm ông mới
biết thế nào là thiên nhiên. Nỗi khát vọng thiên nhiên của ông cho dù nguội tắt
nhưng nó lại âm thầm trong những giấc ngủ. Vậy mà không hiểu sao con bọ ngựa
non trong túi áo của ông lại không hề muốn trở lại thiên nhiên. Cái màu nâu nhạt
của nó run rẩy trước gió khi ông đặt nhẹ nó trên mặt đất. Sự run rẩy của con bọ
ngựa làm ông giật mình như bên tai ông vừa thoảng nghe có tiếng ai nói. Tiếng
nói rất thoảng, không rõ âm nhưng cho ông một cảm giác vô cùng khác lạ. Cảm
giác ban đầu như có một luồng điện xâm nhập vào cơ thể. Luồng điện làm ông thấy
lành lạnh giữa ánh nắng ban mai. Luồng điện làm ông thấy chân tay đột nhiên bủn
rủn. Một cảm giác thấy như bầu trời sầm lại trong giây lát rồi rực nắng. Rồi tiếp
theo là những thanh âm nghe xa nhưng rào rạt. Thanh âm như lời vỗ về đã nhanh
chóng xua tan cái bủn rủn ban đầu. Có gì đấy rất khó diễn đạt đạng rộn rã trong
lòng. Ông Thanh lại khum tay nâng con bọ ngựa lên. Nó đứng im giữa lòng tay
ông, khẽ cào cào gại gại gan bàn tay.
Bứt vội mấy lá cỏ còn
tươi mát ông Thanh giấu vội vào túi áo cùng con bọ ngựa non. Chiếc túi áo phạm
nhân hàng ngày vô duyên bởi sự trống rỗng hôm nay bỗng như chật chội. Thực ra
là ông Thanh chỉ sợ chiếc túi áo gập ép lại sẽ làm con bọ ngựa của ông chết ngạt.
Lại như vang bên tai những
thanh âm không xác định. Ông Thanh mơ mơ cảm thấy như có bóng ai đó vừa láng
qua trước mắt. Một hình bóng vời xa nhưng có gì đấy quen quen làm ông kinh ngạc.
Khoảng sân trước cửa buồng giam vắng hoe. Cái hình bóng vừa láng qua trước mắt
mỏng như ngọn gió. Có lẽ lâu ngày mình không ra ngoài nên bị ảo ảnh? Ông Thanh
tự nhủ như vậy những cảm giác có một hình bóng láng qua làm ông không nguôi bổi
hổi. Tim ông đập những nhịp đập khác thường. Cũng có thể lâu ngày không ra
ngoài nên sáng nay ở ngoài sân nhiều nên hơi lạnh? Ông Thanh lại tự nhủ nhưng
rõ ràng cái hình bóng vừa láng qua cứ như chờn vờn, cứ lượn lờ rồi trong khoảng
chốc trước mắt ông là rất nhiều bóng hình người đang láng qua láng qua. Ông đã
nhận ra đó là một đoàn người đang đi.
Đoàn người lầm lũi đang gắng
gượng vượt một con dốc cao. Con đường như dốc ngược lên đỉnh, lại gập ghềnh với
lối mòn chỉ vừa vết bàn chân và lầy lội. Bùn ngập lưng mắt cá chân. Họ đi thật
vội vã. Đoàn người nhìn rõ dần và cho thấy đó là những người chiến sĩ. Đoàn chiến
sĩ đang hành quân. Trời đang có mưa rào xối xả. Những dòng nước mưa bị gió thổi
tạt khiến đoàn chiến sĩ cũng nghiêng đi rất vất vả. Thi thoảng lại có người trượt
chân ngã dúi mặt vào gót chân người đằng trước. Một người đi phía sau vội xoài
tay kéo lưng người vừa vấp ngã đó giúp người đó đứng dậy. Họ lặng phắc ngã, lặng
phắc đứng dậy và lặng phắc đi tiếp. Chỉ nghe rõ tiếng bùn lép nhép. Nghe rõ từng
tiếng thở nặng nhọc. Ông Thanh đột nhiên nhận ra và bỗng muốn kêu lên thật to,
người vừa vấp ngã thoáng chững lại, người đó đứng xoay mặt lại phía ông để sửa
lại tấm tăng che mưa sắp tuột. Cha mình! Ông Thanh đã nhận ra ngay người cha của
mình trong đoàn chiến sĩ đang hành quân vội vã dưới cơn mưa. Cha ông không để ý
thấy tiếng ông vừa kêu. Cũng có thể là cha ông đang mải cài lại tấm vải tăng nhằm
tránh những giọt nước mưa tuôn xối xả. Bố ơi! Ông Thanh lại kêu thật to. Không
có tiếng đáp trả chỉ có tiếng nước mưa rơi bồm bộp lên những tấm tăng màu xanh
xám. Chỉ có tiếng thở nặng nhọc. Chỉ có tiếng bước chân lép nhép trong bùn và
những cú trượt chân vấp ngã nghe uỳnh uỵch. Ông Thanh đứng đờ người ra nhìn
theo mải miết. Cha ông đang đi gần như ở cuối đoàn chiến sĩ nên cha ông đang phải
cố gắng những bước chân để không bị tụt lại đội hình.
Đoàn chiến sĩ cuối cùng
cũng đã lên tới đỉnh dốc. Họ nhanh chóng tản ra dừng nghỉ lấy sức. Trời đột
nhiên tạnh mưa. Ông Thanh nhìn theo thầm tiếc rẻ. Giá kể lúc đoàn chiến sĩ leo
dốc mà không có mưa thì có phải hay không? Trên đỉnh dốc, gió thổi lồng lộng.
Những tấm tăng che mưa nhanh chóng được tháo khỏi vai. Bây giờ ông Thanh càng
nhìn rõ hơn. Cha ông gày gò, lưng như sắp còng xuống dưới sức nặng của chiếc ba
lô căng phồng. Khẩu súng quàng trước ngực. Không có tiếng ai nói chuyện. Sao họ
im lặng thế nhỉ? Ông Thanh rướn cao cổ lên như để cố xem có nghe được tiếng nói
nào không. Nếu ông nghe được tiếng nói từ đoàn người thì cũng có nghĩa là cha
ông có thể nghe được tiếng ông vừa gọi. Những hy vọng làm ông càng cố rướn cổ
thật cao. Không sao tới được chỗ đoàn chiến sĩ đang dừng nghỉ trên đỉnh dốc.
Trên đỉnh dốc, người cha
của ông Thanh bây giờ mới quay hẳn lại nhìn đăm đắm về phía sau. Không, hình
như cha ông đang nhìn về phía ông. Ông Thanh nghĩ vậy và giơ tay vẫy vẫy. Ông vẫy
mải miết và có bao sức lực ông dồn hết lên cánh tay đang vẫy vẫy. Cha ông mỉm
cười. Một nụ cười đôi chút an ủi khiến ông Thanh buông tay xuống. Ông biết
không thể nào với tới chỗ cha ông đang đứng nghỉ được. Khoảng cách xa quá. Hình
ảnh đoàn chiến sĩ bỗng nhòe đi. Trời lại đổ mưa ầm ĩ. Mưa rừng thoáng qua
thoáng lại. Cha ông lại vội vàng quàng tấm tăng qua vai. Tấm tăng căng phồng
lên như một cánh buồm nở gió. Những cánh buồm nở gió đẩy đoàn chiến sĩ trôi vun
vút về phía chân dốc. Ông Thanh hốt hoảng kêu lên. Ông muốn cơn gió dịu lại.
Đoàn chiến sĩ trôi vun
vút xuống chân dốc. Trôi cồn cào như dòng lũ trên sông Thương vậy. Một nỗi lo lắng
từ đâu bỗng dội ập đến làm ông Thanh ngần ngừ định nhấc chân chạy đuổi theo.
Ông không tài nào nhấc nổi đôi chân của mình được. Lạ thật. Đoàn chiến sĩ trôi
xuống dốc nhanh như vậy mà họ không hề vấp ngã hay bay tung đi. Cả một khối những
con người quấn lấy nhau trôi ào ào. Những tấm tăng che mưa lại phồng lên nối bện
nhau thành một cánh buồm khổng lồ trôi dào dạt. Họ sắp tới chân dốc. Hình bóng
đoàn chiến sĩ đang nhòe đi, đang xa hẳn.
Trời lại bất chợt tạnh
gió và hửng nắng. Ông Thanh dụi mắt. Không hiểu sao ở chỗ cha ông đang cùng
đoàn chiến sĩ mải miết đi nắng mưa cứ như một trò chơi tinh nghịch. Thoắt nắng,
chợt mưa. Chợt gió, thoắt tạnh. Dường như đó là những trò chơi thử thách ý chí
con người thì phải. Ông Thanh thầm nghĩ nhưng trong lòng chưa nguôi bứt dứt. Cú
vấp ngã của cha ông như chạm vào tim ông, nó nhói buốt khiến ông cảm thấy đó là
chính mình bị vấp ngã chứ không phải là cha ông.
Tiếng gọi của ai đó báo
thời gian được ra ngoài sân hóng gió đã hết. Tiếng gọi trở lại buồng giam của
người bạn tù cùng được ra ngoài sân sáng nay làm ông Thanh ngơ ngác. Ông đưa
tay dụi mắt liên tục. Khoảng sân chỗ ông đứng hoàn toàn bình thường. Nghĩa là
thời tiết sáng nay không có gì đặc biệt. Những tia nắng đã rộng ra không còn mỏng
mảnh như lúc ban đầu nữa. Khắp khoảng sân ngập một màu nắng trong veo như nó
chưa từng trong veo đến thế. Một cảm giác khao khát muốn được tận hưởng đầy đủ,
tận hưởng mãi mãi khí trời ùa tới làm ông cay cay sống mũi. Thì ra đó chỉ là ảo
giác. Thì ra đó chỉ là huyễn hoặc. Ông Thanh buồn rầu cúi đầu khi nhớ lại thực
cảnh hiện tại của mình. Câu chuyện hình như vừa được gặp người cha khiến ông vô
cùng xấu hổ. Nó như là một vết nhục không thể tẩy rửa được trước hình ảnh người
cha thân thương. Nó là vết nhơ cho gia đình ông. Là sự hổ danh không tài gì lấp
nổi.
Người bạn tù cùng được ra
ngoài sân đã đứng bên cạnh. Một cái níu tay nhắc ông là đã hết giờ được ra
ngoài. Ông Thanh ngơ ngác đứng bàng hoàng, ông vẫn còn chưa tan hẳn ảo
giác ban nãy. Cuộc gặp mơ hồ và không hẹn trước với người cha cứ gặm nhấm tâm hồn
ông. Không hiểu cha mình có biết chuyện hiện nay của mình không? Ngần bấy năm
xa cách sao trông cha vẫn như không hề thay đổi. Vẫn cái dáng gày gày xương
xương như ông. Ở làng Me ai cũng nói “Ông Thanh giống cha như đúc”. Người ta
nói vậy lại làm ông đau xót. Cha ông đâu có giống ông. Cha ông là một người chiến
sĩ dũng cảm. Còn ông là một con người bị xã hội khinh bỉ. Ngần bấy năm sao cha
mình vẫn không thay đổi? Vẫn chiếc mũ bằng vải mà ngày bé ông thầm ước được đội
nó. Chiếc mũ cha ông vừa gỡ trên đầu xuống và chụp nó lên đầu ông hôm hai cha
con đứng trên đê sông Thương ấy. Chụp lên đầu thằng Thanh hồi nó lên bảy tuổi ấy.
Hôm ấy thằng Thanh sướng mê đi. Nó chỉ tiếc sao lúc đó không có một thằng nào
hay đứa nào nhìn thấy nó đội chiếc mũ. Nếu có đứa nhìn thấy nó còn hãnh diện
hơn.
Tự dưng ông Thanh thấy
mình muốn khóc. Mới hôm qua thôi là ngày giỗ của cha mình. Đã bốn năm, bốn cái
giỗ cha, ông không thể thắp cho cha mình dù chỉ một nén nhang. Bốn cái giỗ cha,
ông chỉ biết nín lòng mong cha thứ lỗi. Hay là cha linh ứng, cha hiện về trách
móc? Hay là cha thương con cha hiện về an ủi? Ông Thanh thấy tiếc sao thời gian
được ra ngoài quá ngắn. Quá ngắn nếu không ông còn được thấy cha mình nhiều
hơn. Được thấy cha mình nhiều hơn cũng có nghĩa là ông sẽ có cơ hội nới với
cha. Có cơ hội để cha ông không trách mắng ông là thằng con hư hỏng. Sao lúc
này ông thèm được nghe câu quở trách của cha mình tới thế. Bao nhiêu năm rồi
không được nghe tiếng nói của cha. Cha ông đã hứa sẽ trở về với ông kia mà.
Không lẽ ở một nơi xa xôi và cách biệt cha đang có ý gì muốn nói với con trong
lần giỗ này?
Những nhát cào gai gai lại
lần mần trong lòng tay. Con bọ ngựa đang nhắc ông hãy nhìn về thực tại. Cũng mới
hôm qua thôi là vừa tròn bốn mươi năm hai cha con ông chia tay nhau mãi mãi.
Không lẽ đây chính là “món quà” cha gửi cho con? Con bọ ngựa khẽ nghiêng
nghiêng cái đầu với đôi mắt lồi to hơn cái đầu. Cũng có thể là con bọ ngựa muốn
nói rằng đúng như thế, cũng có lẽ là nó đang bày tỏ nỗi thông cảm với ông? Mày
là bạn của tao chứ? Tao sẽ kể cho mày nghe những gì tao chưa nói được. Nhưng liệu
mày có hiểu được lời nói của con người không? Đến con người với nhau mà lời nói
còn không hiểu nữa là mày, một con vật vô thức. Đến con người còn dùng lời nói
để hại nhau nữa là mày, một con vật quá non nớt.
Cái cào nhẹ gài gại lại rộn
lên. Hình như có ai vừa nói câu gì? Rõ ràng bên tai ông vừa nghe thấy những âm
thanh gần gũi. Những âm thanh tựa như câu nói an ủi. Ông Thanh lén nhìn quanh
quất. Trước mắt ông là cánh cửa buồng giam số 6 đang mở ra.
BỐN
“Mình ơi!”
Bà Chiên thảng thốt. Hễ cứ
chợp mắt là bà Chiên lại ngồi bật dậy gọi thảng thốt. Hơn bốn năm này kể từ
ngày ông Thanh bị bắt cho tới giờ bà Chiên rất ít ngủ. Nói thẳng ra là bà không
dám ngủ thì đúng hơn. Trong thâm tâm bà, bà rất sợ ngủ. “Ngủ cũng có nghĩa là
xa ông ấy thêm”. Bà Chiên tự nhủ. Bà tự nhủ và lại thảng thốt ngồi bật dậy.
Như thường lệ bà quờ tay sang bên trái. Bên ấy là chỗ ông Thanh, ông chồng của bà hay nằm bên chỗ đó. Hồi còn ở nhà bao giờ ông Thanh cũng nằm bên trái. Bên trái nghĩa là nằm bên trong, nằm sát tường. Thói quen dậy sớm lo cơm nước cho cả nhà. Vả lại bà hay phải dậy đi tiểu vào tầm giữa đêm, nên bà Chiên ý tứ “tranh” nằm ngoài. Bà không muốn khi mình trở dậy lại phải trườn qua người chồng để ra ngoài. “Đàn bà con gái ai lại trèo qua người chồng cơ chứ. Mỗi lần thức dậy rồi lại trèo qua người sẽ làm ông mất ngủ”. Bà Chiên biện luận với chồng từ hồi hai ông bà mới cưới nhau về chuyện tại sao bà lại tranh nằm ngoài, xem chừng cách lý giải của bà có vẻ có lý nên ông Thanh ậm ừ mà đành chấp nhận. Từ đó hằng sáng dậy sớm hay những đêm tỉnh dậy để đi ra sau nhà, bao giờ bà Chiên cũng nhẹ nhàng, đầu tiên là bà giở mình quay mặt ra ngoài trước, tiếp đó mới từ từ ngồi dậy để khỏi đụng vào người ông Thanh. Nhưng mỗi khi bà dậy lúc đêm khuya mới chỉ vừa kịp thò chân khua mò gậm giường để tìm đôi dép là ông Thanh đã biết. Nói ông cứ ngủ tiếp nhưng nào ông có nghe. Bà hiểu, ông lo bà ra ngoài ngộ nhỡ không may gặp gió máy nên không bao giờ để bà đi ra sau nhà một mình. Thành thử khi bà Chiên tỉnh dậy là ông Thanh cũng tỉnh dậy đi theo. Không nói nửa câu, ông lặng lẽ đứng cách bà một đoạn ngắn, tầm ba bước chân. Ông đứng đó, quay lưng lại phía bà, ể oải vươn vai, miệng ngáp, mắt nhìn mông lung vào khoảng đêm đen kịt nhưng đôi tai ông luôn hóng về sau lưng xem thể tình của vợ mình.
Chuyện “tranh” nằm phía
ngoài giường của bà được chính mẹ của bà nói hôm gia đình ông Thanh sang đón
dâu. Mẹ bà còn dặn “đi làm vợ cũng có nghĩa là phải thức khuya dậy sớm. Đàn bà
dậy sớm cứ khua khoắng ầm ĩ còn ra thể thống gì. Mình phận làm vợ người ta phải
có ý có tứ cho trọn đạo con ạ”. Lời răn dạy của mẹ cho con gái ngày đi lấy chồng
đến giờ bà Chiên vẫn đinh ninh nhớ. Nhớ, nên chẳng khi nào bà dám phiền chồng.
Thôi thì cái nghĩa cái tình chồng vợ cũng từ những chuyện đơn giản nhất. Ở với
nhau cả đời chứ một hai ngày đâu mà làm khổ nhau.
Bà Chiên miệng gọi thảng
thốt, như thường lệ bà lại đưa bàn tay lần quờ sang bên trái giường. Chỗ bên
trái giường bây giờ trống trơn và lạnh lẽo. Khoảnh giường vắng lạnh cho bà nhớ
ra. Một thoáng buồn tủi len tới khiến bà nghẹn ngào. Không hiểu ông ấy giờ này ở
trong đó có ngủ được không? trời ấm ráo đã đành nhưng hôm thời tiết rét muốt chắc
gì ông ấy đã ngủ được. Không hiểu giờ này ông ấy không ngủ được ông ấy có nghĩ
tới mình như mình đang nghĩ tới ông ấy không? từ ngày ông Thanh bị bắt đến giờ
bà Chiên luôn hỏi như vậy. Bà lo lắng cho chồng, sức vóc chẳng hơn gì đàn bà
con gái cứ thức đêm trằn trọc chả mấy rồi cũng kiệt?
Bà Chiên hai tay bó gối
ngồi thu lu trên giường. Bà sợ lúc này mà ngả lưng nằm xuống rồi mắt lại chợp
đi. Chợp đi lại thương ông ấy đêm nay không ngủ được. Chỗ đó toàn những người
xa lạ, mà lại toàn là những người chẳng nương tựa chẳng cậy nhờ được. Nghĩ thấy
xót lòng buồn chành chạnh. Chỉ có mỗi một mình ông ấy với ông ấy. Ông ấy không
ngủ được, nằm thức ngóng đêm qua rồi lại nghĩ quanh nghĩ quẩn thì khốn.
Đêm vắng, tiếng con mọt cắn
gỗ kẽo kẹt như hòa đồng với giai điệu của nỗi trống vắng. Dạo này mọt cắn gỗ
khiếp quá. Lũ mọt dường như cũng biết bên giường trống trải nên cứ nhè đêm xuống
mà cắn gỗ nghe phát khiếp. Chiếc giường như sắp rời từng mảnh. Dón dén khẽ dịch
người từng tí một để chiếc giường cũ không thêm cọt kẹt. Giường cũ hễ cựa mình
là giát với thang thi nhau kêu than “răng rắc”. Đêm vắng tiếng răng rắc lại
càng to, càng to bà lại càng sợ. Bà sợ như đấy là tiếng kêu đau đớn của người
đang vật vã với cái chết.
Ngồi mãi đây cũng đau
lưng. Bà Chiên tự nói vậy và quyết định thôi không ngủ tiếp nữa. Bà rời khỏi
giường, vừa dò dẫm từng bước chân nhẹ nhàng trong bóng đêm đi từ gian buồng
trái ra ngoài nhà, vừa để tâm sang gian bên phía đầu hồi, bà chỉ sợ thằng Lợi
biết mà dậy theo. Từ ngày con Lanh đi sang Đài Loan làm nghề giúp việc, thằng Lợi
có thêm “nhiệm vụ” hằng đêm tỉnh dậy đi theo mẹ. Cái thằng đang tuổi ăn tuổi ngủ
vậy mà đêm nào cũng tỉnh dậy đi theo trông chừng mẹ làm bà thấy áy náy. Nói thế
nào nó cũng không nghe. Nói nhiều nói cãi, nó bảo “trông mẹ để mẹ còn có sức mà
lo chuyện cho bố”. Nghe thằng Lợi nói vậy bà Chiên lại ứa nước mắt. Cứ tưởng nó
hận cha nó, cứ tưởng nó không biết thương cha nó, cứ tưởng cái thằng mải chơi
không biết suy nghĩ.
Bà Chiên lặng lẽ đi tới
gian giữa. Căn nhà ba gian một trái ban ngày nhìn bé teo vậy mà sao đêm nay nó
như mênh mông, như vô cùng trống chếnh? bà Chiên khẽ khàng tới ngồi bên bộ bàn
ghế kê ngay dưới ban thờ. Trăng suông bàng bạc. Ánh trăng bàng bạc dọi qua khe
cửa soi những vệt sáng bàng bạc xuống nền nhà như muốn kéo rộng gian nhà thêm
ra. Không bật công tắc đèn hay làm bất cứ thứ gì khác để có thể phát ra tiếng động,
bà Chiên ngồi lặng người trên chiếc ghế cũ. Ánh mắt nhìn ra phía ngoài cửa cho
dù lúc này bà chẳng nhìn thấy bất cứ một thứ gì khác. Cũng như chiếc giường mọt
cắn suốt đêm, bộ bàn ghế gỗ đã cũ và thiếu hơi người cũng đang vang lên những
tiếng kẽo kẹt đến não nề. Từ ngày ông Thanh vào nhập trại tới giờ bà có lòng dạ
nào nữa mà ngồi ghế nhân nha chén nước. Lòng dạ nào nữa mà ngồi ghế bàn tính việc
nhà. Muốn tính việc gì bà đều nằm trên giường mà nghĩ, cái chính là bà không muốn
kéo hai đứa con vào chuyện người lớn. Chúng nó thiệt thòi không để chúng phải
thêm sự lo. Đêm như chùng xuống. Chắc là khuya lắm, cảnh khuya bao giờ cũng đi
cùng sự cô đơn.
Những ngày đầu vắng ông
Thanh trong ngôi nhà bà Chiên rất lo sợ. Đồ đạc trong nhà vốn chẳng sung túc gì
giờ lại buồn tẻ hơn. Ban đầu là bà sợ hãi. Một nỗi sợ hãi mang cái tên “giết
người” bao trùm lên khắp mọi suy nghĩ, mọi hành động. Bà không thể tưởng tượng
nổi, vì sao chồng bà, một người chồng nhường vợ thương con đến thế lại mang một
tội ác lớn đến như vậy. Một tội ác ngay chính bà bà cũng luôn lên án nó. Bà muốn
thổn thức nhưng cố ép từng nhịp khóc để khóc không thành tiếng. Bà tự dằn vặt
mình như chính bà là kẻ phạm tội, như chính bà là “tên đồ tể” dã man ấy.
– Mình ơi. Sao mình lại
làm thế?
– ….
– Sao mình lại làm thế?
– …
– Sao mình lại làm thế?
– ….
– Mình có biết chuyện
mình làm đã khiến vợ con mình lao đao như thế nào không?
– …
– Vợ con mình còn
có mặt mũi nào để nhìn bà con lối xóm nữa.
– ….
– Con Lanh nó nói…
– …
– Nó nói, nó không tin
mình đã làm chuyện ấy.
– …
– Hôm qua người nhà cô
Thoan lại tới đứng trước ngõ nhà mình chửi cả buổi đấy.
– …
– Họ chửi nhà mình mất nết.
Nhà mình không có người dậy dỗ nên sinh hư đốn.
– …
– Họ chửi cả ông bà ông vải
không tha một ai.
– …
– Con Lanh nó tức lắm. Nó
bảo mẹ không việc gì phải sợ. Con không tin là bố đã làm chuyện ấy.
– ….
– Nhưng không tin không
được. Chuyện mình làm cả làng cả nước đều biết. Mình. Sao mình lỡ dại dột làm
chuyện tày đình ấy?
– …
– Mỗi lần người nhà cô
Thoan sang ngõ nhà mình đứng chửi tôi như nát từng khúc ruột.
– ….
– Họ còn chửi…
– …
– Họ còn chửi động đến
vong linh của ông nội thằng Lợi. Nhục lắm mình ơi…
Bà Chiên bóp chặt miệng.
Cơn muốn khóc réo ấm ức từ trong bụng bây giờ đang dồn lên ngang cổ làm bà nấc
nghẹn. Đêm vắng. Chỉ kẽo kẹt tiếng những con mọt đang thi nhau cắn gỗ. Bên gian
đầu hồi thằng Lợi vẫn ngủ say. Ít nhất thì nó cũng được đêm nay ngủ ngon giấc.
Bà Chiên thấy thương thằng Lợi vô cùng. Bạn bè cùng xóm cùng làng thằng nào
cũng như lảng xa nó. Vả lại thằng Lợi cũng chẳng dám chơi bời với một ai. Tội
nhất là nó đã bỏ học. Nó định xin đi làm những hiềm nỗi gia cảnh “không hay ho”
lại học hành dang dở đến chân phụ hồ cũng không ai mướn nói gì đến làm việc gì
cho ra việc. Nó định đi xa khỏi làng nhưng thương mẹ chẳng nỡ đi thành thử nhà
đã neo lại thêm khó. Cảnh nhà bây giờ khác nào cảnh nhà mẹ góa con côi. Thằng Lợi
đứng núp trong nhà mỗi khi người nhà cô Thoan sang đầu ngõ đứng chửi vọng vào
trong nhà. Miệng nó mím chặt. Răng nó nghiến kèn kẹt. Mắt nó nhắm lại ghìm nỗi
phẫn uất. Lúc ấy bà Chiên phải đứng canh chừng nó. Chỉ sợ nó trẻ người non dạ,
thiếu suy nghĩ không khéo manh động lại gây nên chuyện.
– Con Lanh nó nói…
– …
– Nó nói tôi phải tin
mình.
– ….
– Nhưng…
– ….
– Nhưng một mình mình tin
làm sao thay được tất cả. Làng này có ai còn tin nhà mình nữa đâu.
– …
– Tôi cũng không tin
nhưng làm cách nào bây giờ. Nói thế nào bây giờ?
– …
– Con Lanh nó nói. Nó đi
kiếm tiền về cho tôi để tôi tìm cách lo cho mình.
– …
– Nó nói vậy nhưng giả sử
có tiền cũng chẳng biết nhờ cậy ai. Giả sử có tiền cũng chẳng biết cửa nào mà
gõ.
– …
– Tôi nhớ mình lắm. Tôi
thương mình lắm.
– …
– Mình còn nhớ tôi với
mình đến với nhau như thế nào không?
– ….
– Mình còn nhớ cái bữa
trưa năm nào trên đê không?
– …
– Sao ở đời lại có những
chuyện tưởng chuyện trẻ con mà hóa thành chuyện người lớn nhỉ?
– …
– Sao trưa hôm đó run rủi
thế nào để mình giúp tôi. Sao trưa hôm đó run rủi thế nào để mình vì tôi mà mắc
chuyện dây dưa với thằng Thủ? Cũng tại tôi. Tôi xin mình tha thứ, mình có trách
thì trách tôi đây này.
– …
Câu hát chế ghép lứa đôi
của thằng Thủ thôn Chằm cái trưa một ngày tháng năm năm môt ngàn chín trăm bảy
mươi hai ấy không ngờ lại hóa thật. Thằng Thủ Chằm thường ngày hung tợn chẳng
coi ai ra gì, trưa ấy bỗng tự dưng ngừng tay động thủ, nó chợt buông nắm đấm. Mắt
len lén vừa quay đi vừa hát ỉ a “Con Chiên thằng Thanh là hai vợ chồng. Hai vợ
chồng chống vợ hai. Lấy lá gai gài lá mít. Lấy lá mít dít vào mông. Lêu lêu.
Hai vợ chồng chúng mày ơi. Lêu lêu.”. Ai ngờ câu hát chế ghép đôi kiểu trẻ con
của thằng Thủ lại hóa thật. Năm vừa tròn mười chín tuổi cô Chiên về làm vợ anh
Thanh.
Kể cũng lạ. Làng Me ngày
bấy giờ, trong lứa con gái vào tuổi cặp kê thì có lẽ Chiên là một trong những
cô gái ưa nhìn nhất và được nhiều nhà để mắt lăm le nhắm tiếng. Dáng người chắc
gọn. Nước da tươi giòn. Bộ ngực tràn căng sức sống. Đôi mắt lúc nào cũng sáng
long lanh. Nụ cười đằm làm nhiều chàng trai đi đứng xiêu vẹo. Chiên khéo tay lại
chăm chỉ nhất trong đám chị em làng Me thời đó. Nhiều đám trai trong làng có,
ngoài làng cũng có, đánh tiếng nhưng Chiên lại bỏ ngoài tai. Cô Chiên lớn dậy hừng
hực cứ dửng dưng như đang còn chờ ai. Người làng Me nói dỗi, con Chiên cứ ỏng
eo rồi có ngày rước phải anh chồng chẳng may mắn.
Những năm đó, nghĩa là đầu
những năm tám mươi, mỗi khi vào dịp làm lúa vụ xuân, hợp tác xã Vinh Quang lại
tổ chức hội thi cấy lúa để chọn ra ai là người cấy nhanh cấy giỏi nhất trong số
các đội sản xuất của hợp tác xã. Gọi là “thi làng” nhưng cũng làm nhiều người
phải chăm chú theo dõi. Những nhà có con trai độ tuổi hai mươi rủ nhau ra đồng
xem thi cấy lúa cốt là có cơ hội chọn vợ cho con trai nhà mình. Những nhà có
con gái tuổi mới lớn rủ nhau ra đồng xem thi cấy lúa cốt là để nhắc con gái
mình phấn đấu bằng chị bằng em.
Hợp tác xã Vinh Quang có
ba đội sản xuất phân đều trong ba thôn. Đội sản xuất thôn Chằm luôn dẫn đầu về
số người tham gia bởi thôn ấy người đông, ruộng nhiều, lại toàn là những chân
ruộng tốt. Đội sản xuất thôn Chạ tuy ít người hơn đội sản xuất thôn Chằm nhưng
họ cũng ganh đua không kém. Những cô gái thôn Chạ dự thi cấy lúa đều là những
cô hát hay tay khéo. Thôn Chạ luôn đứng đầu hợp tác về khoản văn nghệ. Người
thôn Chạ không ranh như người thôn Chằm nhưng họ cũng là nơi có nhiều phong
trào thi đua sản xuất. Đội thôn Chằm năm nay đi thi rất phấn khởi, hội thi cấy
chưa thi mà họ đã tuyên bố người thắng cuộc năm nay không phải người ở thôn Chằm
thì còn ở thôn nào nữa. Thực ra họ nói cũng chẳng sai mấy bởi năm qua năm nào
người thôn Chằm cũng đều đoạt giải. Họ tự tin lắm, người đi ủng hộ cũng nhiều
chẳng khác nào làng mở hội đầu năm. Đám con trai đến tuổi chọn vợ người thôn Chằm
kéo sang đông nghịt, ánh mắt lơ láo nhìn như dán hết vào những tấm lưng các cô
thợ cấy. Những cô thợ thi cấy mặc áo cánh mới tinh, thắt đai bện bằng dây chuối
ngang lưng càng nhìn lại càng tôn những tấm lưng ong. Quần lụa vắn cao quá gối
để lộ những bắp chân nhìn nõn cả mắt. Đám con trai thôn Chằm xem thi cấy nhưng
mắt lại chỉ nhìn những bắp chân các cô thợ cấy. Họ nhìn rát bỏng như xát muối,
miệng bình phẩm này nọ. Họ khen cô này mông dầy ngực nở chưa động đã phồng. Họ
chê cô kia mông tẹt vú lép có vỗ cả ngày chẳng nổi chẳng mẩy lên được. Ngữ mông
dầy đẻ đái dễ dàng lại khéo chiều chồng. Ngữ mông tẹt đến ỉa còn chưa xong nói
gì tới đẻ, hơn nữa ngữ mông tẹt sờ gai cả tay vô phúc lấy về làm vợ chỉ rước mệt.
Chắc với đám con trai thôn Chằm việc hợp tác xã tổ chức hội thi cấy chẳng bằng
việc họ việc được dịp ra đây đứng ngắm mông, được dịp ra đây nhìn bắp chân trần
con gái. Tha hồ ngắm, tha hồ bàn tán. Nói vậy nhưng cũng làm hội thi cấy đỡ đơn
điệu, đỡ tẻ nhạt. Gì thì những lời bình phẩm cũng làm không khí thêm phấn chấn,
đỡ căng thẳng hẳn.
Đội sản xuất làng Me năm ấy
cử Chiên cùng ba chị nữa ra thi tài với chị em các làng trong xã. Làng Me nằm
ven đê, ruộng ít lại xấu nên việc cấy hái có phần thua kém. Tham gia hội thi lại
chỉ có bốn cô thành thử người đi ủng hộ cũng thưa cũng ít. Những năm đó trai
tráng khỏe mạnh ở làng Me lên biên giới hết nên làng đã neo lại thêm vắng. Người
làng Me hiếm giao du lại ít nói nhưng khoản tích cực đi bộ đội chẳng thôn nào bằng.
Đó là niềm tự hào của người làng Me, chứ không như bên thôn Chằm thôn Chạ chỉ
được cái trốn tránh là nhanh. Trai tráng làng Me vắng nhiều nên việc rủ nhau ra
đồng ngắm gái cũng chẳng có mấy ai.
Chiên hôm dự thi cấy mặc
áo cánh còn tươi màu củ nâu vừa nhuộm, quần lụa đen mới cắt còn óng mượt ôm sát
đùi. Cô cũng vắn quần quá gối để lộ đôi bắp chân nhìn giòn mắt đám con trai.
Chiếc đai lưng bện bằng dây chuối buộc ngang lưng làm bụng cô như thon gọn
thêm. Nhìn cô lúc đứng trong hàng chờ cuộc thi bắt đầu giống như một bó mạ non
bó chặt. Đã có vài tiếng xì xào bàn tán. “Con Chiên làng Me trông được đấy chứ.
Bộ dạng ấy khát trai phải biết. Thằng nào đụng phải không sớm thì chầy cũng
thành tật”. Tiếng xì xào lọt tới tai Chiên, cô nguẩy mặt không chấp. Kể thì cái
nguẩy mặt cũng làm mấy tiếng bình phẩm nhỏ đi. “Tưởng người ta hám chắc. Đàn
ông con trai gì mà chỉ ra đây nhìn mông với nhìn bắp chân con gái. Đằng này
không tiếp ngữ người ấy đâu nhá. Làng Me ít trai thật nhưng trai ra trai chứ
không trai ra hến đâu nhá” Chiên nghĩ thầm, bụng cô đang dồn hết cho cuộc thi.
Chẳng lẽ để người thôn Chằm năm nào cũng tới ẵm hết giải sao?
Sau tiếng trống báo hiệu
cuộc thi chính thức bắt đầu, cánh thí sinh là các cô thôn nữ cười rinh ríc cùng
kéo tay nhau ùa nhanh xuống những ô ruộng thi. Chiên thi cấy ở mảnh ruộng số
20. Mảnh ấy vừa xa lại vừa làm đất xong. Mới làm đất nên ruộng còn chưa ngấu,
còn chưa ngấu nên rất khó cấy. Biết làm sao được. Chuyện cấy thi ở mảnh ruộng
nào là do gắp lá thăm. Lá thăm của Chiên là lá thăm số 20, số 20 nghĩa là cô phải
thi trên mảnh ruộng số 20. Chẳng hiểu là vì tại cái số hay thua thiệt mà ngay
thi cấy người làng Me cũng kém cạnh mọi bề. Chưa thi đã biết chắc gần như bét hội.
Sau tiếng trống rồn rã thúc tưng bừng Chiên còn đứng trên bờ, cô chưa vội xuống
cấy ngay mà đứng mà đi trên bờ, cô lẳng mạnh tay quẳng từng bó mạ rải đều khắp
mảnh ruộng. Cách ấy giúp cô không phải di chuyển nhiều khi cấy để nhặt mạ. Rải
xong từng bó mạ Chiên mới bắt đầu xuống cấy. Ruộng mới làm đất nên còn khá cứng.
Mỗi giẽ mạ cắm xuống ruộng đều phải ấn mạnh tay. Ruộng lại xa trung tâm hội thi
nên cũng chẳng có mấy ai đứng bờ cổ vũ. Hơn nữa cái nguẩy mặt của Chiên lúc trước
hình như cũng làm đám con trai hóng gái phải chờn. Phải chờn nên giờ đám ấy lảng
hết. “Cũng chẳng sao”. Chiên tự an ủi mình và cắm cúi cấy nhưng lòng cô cũng thấy
hơi buồn buồn.
– Cấy giỏi lắm Chiên ơi!
Tiếng ai đó chợt vang lên
làm Chiên tự dưng thấy như được cởi lòng. Không quay mặt lên bờ để nhìn xem ai
vừa nói bởi quay mặt là ngừng tay, mà ngừng tay là chậm chân. Chiên vẫn cắm cúi
ấn nhanh từng giẽ mạ nhưng bụng đã thấy khấp khởi. Cô không đơn độc như cô đã
nghĩ. Trên bờ lại vang lên tiếng động viên. Lần này tiếng động viên liên tục
hơn và to hơn. “Tưởng ai, thì ra là anh chàng “Thanh còi” đang hò hét”. Chiên
cười tủm tỉm. “Anh chàng này cũng được đấy chứ”.
– Chiên cấy giỏi nhất!
Chiên cấy giỏi nhất!
Tiếng hò hét cổ vũ của
anh Thanh mỗi lúc một ráo riết hơn. “Cứ như là chính anh ta đi thi cấy vậy”.
Chiên không ngẩng lên nhưng cô đoán mặt mày anh chàng Thanh lúc này chắc đang đỏ
tía lên. “Hò hét to thế cơ mà”. Cô đoán anh chàng Thanh này chắc sẽ khản giọng
mất thôi. Tiếng hò hét cỗ vũ mỗi lúc thêm náo nhiệt. Đã có mấy người cùng làng
Me kéo đến cổ vũ cùng anh Thanh.
Hội thi cấy càng về cuối
càng tỏ ra náo nhiệt. Cánh thôn Chằm cấy phăng phăng. Cánh thôn Chạ cấy ào ào.
Những tiếng cổ vũ cũng không kém. Người thôn Chằm dậm chân vỗ tay tưởng nát bờ.
Người thôn Chạ bắc tay làm loa hét rầm rĩ. Chỉ có những cô thợ cấy làng Me là
âm thầm cấy nhanh từng giẽ mạ. Tiếng trống thúc hối hả. Hội thi mỗi lúc mỗi rộn
rã.
– Chiên cấy giỏi thật đấy.
Thế mà tôi cứ sợ.
– Sợ gì?
– Sợ..
– Sợ em thua á?
– Ừ.
– Thế ngộ nhỡ em mà thua
thật thì anh Thanh có buồn không?
– Có.
– Buồn như thế nào?
– Như…
– Nhìn cái mặt kìa.
– Sao. Mặt tôi á?
– Chứ mặt ai nữa.
– Mặt tôi làm sao?
– Trông buồn cười chết í.
– Buồn cười thật á?
– Buồn cười thật. Nhưng
mà…
– Chiên giành giải nhất
có vui không?
– Biết mà còn hỏi.
– Phải hỏi mới biết chứ.
– Thế anh Thanh định hỏi
gì?
– Hỏi…hỏi…
– Hỏi gì?
– Tôi nhờ người sang bên
nhà có được không?
– Anh nhờ người sang nhà
em làm gì?
– Để…
– Để gì?
– Để….tôi với Chiên ấy.
– Không sợ em giận, em
không thèm chơi với anh nữa à?
– Vậy là Chiên với tôi
nhá?
– Tôi với Chiên nha… nhá.
Cứ làm như người ta đồng ý rồi ấy.
– Chiên đồng ý rồi à?
– Anh bảo đồng ý cái gì?
– Thì chuyện…chuyện tôi với
Chiên ấy.
– Chả dại
-…
Bà Chiên tủm tỉm cười thầm
một mình trong bóng tối. Câu nói “chả dại” của bà bữa ấy làm mặt anh Thanh lúc
đó đang vui chợt thững người, mặt đần thuỗn, chân tay lúng túng như người bị lỡm
mà đâm tẽn tò. Chiên cúi đầu che nụ cười. Cô cũng đang đỏ mặt. Không ngờ anh
chàng “Thanh còi” này cũng liều ra phết. Dám tự mình đi hỏi vợ mới ghê chứ. Mà
đã biết ý người ta thế nào đâu đã dám nói nhờ người “sang bên nhà”. Ghê thật!
Bà Chiên lại tủm tỉm cười. Nụ cười vui hiếm hoi chợt trở lại khiến căn nhà như
dồn nén lại. Vậy mà đã hơn hai mươi nhăm hai mươi sáu năm rồi. Hai mươi nhăm
hai mươi sáu năm bà về làm vợ ông Thanh, mới thế mà ngỡ như vừa đây thôi. Hình
như trong đầu bà đang vang lên tiếng trống thúc hội thi cấy hối hả. Hình như
bên tai bà vừa nhẹ nhàng câu nói “Chiên cấy giỏi nhất”.
Thanh và Chiên đã đi tới
rặng chuối của nhà bà cụ Hậu ở cuối làng. Từ đây có thể nhìn thấy cánh đồng lúa
mới cấy phơi ánh vàng dưới ánh trăng. Ruộng mới cấy những cây lúa còn thưa thớt
còn mảnh mai bên màu nước óng ánh. Khung cảnh cánh đồng trong đêm trăng thanh
giống hệt như một bức tranh được dệt lên từ ánh sáng. Thanh lặng lẽ đi đằng trước,
anh không dám đi sóng hàng bên cạnh Chiên, thi thoảng anh mới thủng thẳng buông
từng câu nói một, mà toàn những câu nói chẳng ăn nhập gì với chuyện hai người
lúc này cả. Nào là “thi cấy Chiên có sợ thua không?” hay “Chiên đi chơi đã hỏi
mẹ chưa?”. Chiên cũng lẳng lặng đi đằng sau, hai người đi cách nhau tới cả sải
tay với. Nói thực cô hơi trách anh Thanh này “người đâu mà dát thế không biết”.
“Không đồng ý dễ thường người ta lại đi chơi với mình chắc”. Cô trách nhưng
lòng đang dâng niềm vui. “người thế mới tin đươc”. Hẳn lúc này Chiên đang cảm
thấy một sự tin cậy thực sự. Cô từng nghe nói đến có những anh con trai lần đầu
tiên đi chơi với bạn gái chưa nói câu gì đã sấn sổ ôm ghì lấy người ta. Lại còn
quờ quạng đến khiếp nữa. Quờ quạng làm người ta xấu hổ chẳng dám ngước mắt lên,
cứ im thin thít mặc cho quờ quạng. Thấy thế lại tưởng người ta là thứ con gái dẽ
dãi. Tưởng thế rồi đi nói chuyện linh tinh. Nói chuyện con này vú to, con kia
ngực nhỏ. Khiếp. Nhưng nếu như anh chàng “Thanh còi” này thì chán chết. “Đi
chơi với người ta cũng phải …phải động viên người ta chứ”.
Rặng chuối của nhà bà cụ
Hậu ở cuối làng Me mùa này được nắng nên tốt, lá um um. Những cây chuối mập mạp
mọc ken nhau cứ như một cánh rừng toàn chuối vậy. Ánh trăng soi óng từng tàu lá
chuối non vừa tở. Gió thổi từ cánh đồng tới làm bay phần phật những tàu lá chuối
như trăm ngàn bàn tay đang vây vẫy. Chiên đi chậm lại. “Người đâu chẳng có ý gì
cả. Đi nhanh chết đi được”. Càng về đêm gió đồng càng thổi mạnh. Những tàu lá
chuối bay phần phật như cả trăm cả ngàn người đang nói chuyện râm ran. Hai người
đi hết những mười năm vòng từ đầu rặng chuối tới cuối rặng chuối. Chiên đã thấy
lạnh. Họ bắt đầu đi tới vòng đi thứ mười sáu.
– Anh Thanh có….
– Chiên bảo có gì?
– Anh có lạnh không?
– Chiên thấy lạnh à? Hay
là… mình về nhé.
Chao ơi. Người đâu “kém
thông minh” thế. Chiên lẳng lặng chẳng nói tiếp, cô bỗng đi nhanh vượt lên trước
anh Thanh mấy bước.
– Chiên đi nhanh thế. Đợi
tôi với.
– Đi nhanh cho khỏi lạnh.
Chiên đáp vẻ vùng vằng.
Cô dừng lại đột ngột. Chỉ thế thôi nhưng anh Thanh đã đi tới sát bên. Rất bất
ngờ nên anh Thanh như chiếc xe không kịp “hãm phanh” sắp đâm cả người vào người
cô. Cũng như một phản xạ tự nhiên anh Thanh giơ vội tay ra đỡ cho Chiên khỏi bị
xô ngã. Hai người bỗng sầm vào nhau. Một vòng ôm bất ngờ của anh Thanh làm
Chiên run lên. Cô đã chờ nó lâu lắm rồi.
Đêm khuya thanh vắng như
một chứng nhân nhưng lại là một chứng nhân kín đáo nhất. Đêm khuya không tiếng ồn
ào. Những tàu lá chuối bất chợt ngừng bay phần phật. Chỉ có tiếng thở gấp gáp của
Chiên. Chỉ âm thầm hơi thở nóng hổi của anh Thanh. Hai người vừa thở vừa e thẹn
ôm chặt lấy nhau.
– Chúng mình… lấy…. nhau
nhé?
– Em chả dại.
– Chả dại sao lại thế
này?
– Tại vì anh..
– Tại anh á?
– Anh nhát lắm.
– Nhát thế nào?
– Nhát.
Chiên ngẩng mặt lên. Dưới
ánh trăng đêm đôi mắt của cô sáng long lanh. Chỉ tiếc là lúc này anh Thanh lại
nhắm nghiền hai mắt nên anh không nhìn thấy ánh mắt của cô nhưng hơi thở gấp
gáp của cô đã giúp anh Thanh nhận ra mình phải làm gì. Ôm chặt Chiên hơn, Thanh
run run ghé đôi môi cũng đang lẩy bẩy của mình lên đôi môi đang hé đợi của
Chiên. Trời đất như sụp xuống. Chiên hơi khuỵu chân xuống sau nụ hôi nóng hổi của
anh Thanh. Trời đất như đổ sập. Người Chiên lỏng ra, cô thấy mình chới với sắp
ngã. Cảm giác chới với của Chiên khiến anh Thanh ghì chặt cô hơn. Lấy hết sức lực
và can đảm anh Thanh nâng người Chiên đứng thẳng lên. Đôi môi của họ vẫn như
không chịu buông rời.
Sau thoáng chới với của lần
đầu được hôn Chiên đã bình tĩnh hơn. Cô giật người lùi lại tựa lưng vào môt cây
chuối cạnh đó. Hai người chừng đã bện tình, họ háo hức hôn nhau trong vòng tay
siết chặt cùng động tác áp mạnh sát ngực của anh Thanh vào ngực Chiên. Họ đã
quên hết trời đất. Mà lúc này làm gì có trời với có đất. Chỉ có hai người hôn
nhau như dính chặt với nhau.
Người Chiên bỗng từ từ ngả
người ra. Cô đang ngả người về phía sau sau những vòng ôm mạnh đầy riết róng của
anh Thanh. Chiên từ từ ngả xuống. Rồi cả người cô ngã ngửa. Cây chuối nơi cô đứng
dựa lựng không chịu nổi cái áp ngực mạnh mẽ của anh Thanh đổ đánh “rầm” kéo
theo cả hai người vừa ôm nhau vừa ngã đè lên nhau.
– Khiếp. Trông thế mà khiếp.
– Chiên có đau không?
– Đau. Thế em đau anh
Thanh có đền không?
– Đền gì?
– Đền..
– Đền gì?
– Đền. Anh sang nhà em gặp
mẹ em ấy.
– Ngay bây giờ á?
– Làm gì mà vội thế.
– Sao Chiên bảo đền cơ
mà.
– Dốt. Anh dốt lắm.
– Thật á?
– Chứ lại. Không ôm em nữa
à?
– Tưởng..
– Tư…ưởn… tưởng…
Chiên kéo dài chữ “tưởng”
đến ngỡ câu ấy dài lên tới tận trời. Thanh lúng túng chưa biết làm gì tiếp theo
sau cú ngã của cả hai người, anh lúng túng không biết nên đứng dậy hay cứ nằm
đè lên người Chiên như thế này. Một khoảnh khoắc im lặng làm không gian như im
phắc. Bất chợt Chiên vòng hai tay lên. Cô kéo ghì cả người anh Thanh lên người
cô.
– Mai nhà người ta ra
đây, người ta mà biết thì ngượng lắm.
– Biết ngượng sao cứ còn
nằm mãi lên người người ta thế
– Nhưng..
– Nhưng gì?
– Nhưng mai cũng phải gặp
người ta để xin lỗi.
– Thế anh xin lỗi với người
ta như thế nào? Chả nhẽ lại nói là…
Thanh bịt vội mồm Chiên.
Anh sợ Chiên nói to cả làng nghe thấy thì ngượng chết.
– Em cứ nói đấy.
– Nói thế nào?
– Nói tại anh Thanh ôm em
mạnh quá làm đổ cây chuối đấy.
– Mình anh chẳng làm cây
chuối gãy được.
Ái chà. Giờ cũng bạo dạn
rồi đấy. Chiên cười to thành tiếng. Tiếng cười con gái vang trong đêm trăng ngỡ
lên tới tận chỗ chị Hằng. Chiên cười nhưng không đẩy anh Thanh ra mà lại kéo
ghì cả mặt cả người anh Thanh lên người cô. Đến lúc này Thanh đã mạnh dạn hơn.
Cảm giác bồng bềnh đã khiến anh ngây ngất. Bộ ngực căng tràn sức sống của Chiên
đang cương lên bồng bềnh. Có cái gì đấy thể như không cưỡng nỗi. Thanh đặt bàn
tay của mình lên bộ ngực đang bồng bềnh của Chiên. Một luồng điện cực mạnh như
phóng tới khiến người Thanh càng thêm rạo rực. Bàn tay Thanh đã đặt lên đúng
nơi chốn mà bao lần anh bần thần khi vô tình nhìn thấy mỗi lần Chiên cắm cúi cấy.
Hôm thi cấy, Thanh chạy
quanh bờ để cổ vũ cho Chiên. Chiên cấy đến góc bờ nào Thanh chạy đến góc bờ đó.
Thanh vừa hò hét vừa nhiệt tình cúi ghé sát mặt mình vào từng đường cấy của
Chiên. Hội thi càng thêm quyết liệt. Mải hăng hái cấy mà chiếc cúc bấm nơi cổ
áo của cô bung ra, nó kéo tuột cả mấy chiếc cúc phía dưới. Cũng tại chiếc áo mới
may nên vải chưa giãn, chưa kịp giãn nên tấm áo không chịu nổi những cử động
thoăn thoắt cùng bộ ngực căng tràn sức sống của Chiên, nó làm lộ ra bầu vú tròn
mẩy như trái cam chín với đôi núm vú hồng hồng. Thanh thần mặt ra trước đôi bầu
vú đầy khơi gợi đang rung rẩy theo mỗi nhịp cấy hăng hái của Chiên, anh thoáng
sững sờ pha chút xấu hổ vì cứ ngỡ là Chiên đã nhìn thấy ánh mắt nhìn trộm của
mình. Anh đứng thẳng người lên để mắt khỏi chạm vào chỗ ấy. Nhưng đứng thẳng
người Thanh lại thấy tiếc rẻ. “Chắc Chiên mải mê nên không biết đâu” Thanh tự
nhủ vậy và âm thầm vừa nhìn ngực Chiên vừa hò hét.
Bàn tay Thanh lần xuống
phía dưới định đỡ người Chiên cho người cô khỏi dích đất lạnh. Anh đã chạm vào
cặp mông của Chiên. Cặp mông này cũng làm anh bối rối khi anh hò hét cổ vũ
Chiên thi cấy. Mỗi khi di chuyển để cắm từng giẽ mạ theo hàng theo lối Chiên phải
di chuyển kiểu đi ngang. Nếu cấy từ phải qua trái cô di chuyển bằng cách vắt
chéo chân phải qua chân trái rồi mới nhấc chân trái dịch sang ngang. Nếu cấy từ
trái qua phải thì chân trái của cô lại vắt chéo qua chân phải. Lối di chuyền
này không làm người đang cấy tốn thời gian nhấc từng bàn chân. Lối di chuyển ấy
giúp người thợ cấy cấy nhanh hơn và giữ được hàng lúa cấy cho thẳng cho đều.
Thanh ý tứ tránh nhìn trước ngực Chiên, anh chạy về phía sau lưng Chiên để hò
hét. Được nhìn ngực của Chiên kể cũng thấy thích thật đấy nhưng chẳng lẽ cứ
nhìn mãi. Chiên mà biết chắc cô sẽ giận lắm đây. Chiên giận và mình cũng chẳng
có mặt mũi nào. Nhưng khi đứng đằng sau Chiên rồi ánh mắt của anh lại bắt gặp một
tình thế khác. Chiên mải miết cúi người sát mặt ruộng để cắm từng giẽ mạ tự
nhiên làm căng thêm cặp mông dầy khơi gợi. Thanh ớ mặt ra một thoáng rồi ánh mắt
anh háo hức nhìn cặp mông của cô. Nhất là mỗi khi Chiên vắt chéo chân để di
chuyển theo kiểu đi ngang để nối dài hàng lúa cấy, đôi chân cô được thu gọn lại
và đôi chân ấy chợt như chìm khuất dưới làn nước. Mảnh ruộng lênh lang nước bây
giờ trông như một tấm gương soi. Hình hài cô thợ cấy cũng đã biến đâu mất, chỉ
ngời ngợi một hình ảnh đó là cặp mông con gái căng dầy trông giống như một chiếc
lồng bàn ai đó đang úp trên mảnh ruộng.
Thanh thấy tâm hồn mình
bay bay. Một cảm giác như muốn lội phăng ngay xuống ruộng cấy để ôm chầm lấy
Chiên. Nhưng anh đã dụt lại. Dụt lại nhưng trong lòng lại càng thôi thúc và nó
đã cho anh “bản lĩnh”, cho anh sự can đảm để nói với Chiên những câu nói chân
thật và ngốc nghếch của mình lúc chỉ có hai người bên nhau.
Bây giờ Thanh đã chạm vào
được cái điều thôi thúc lúc anh đứng trên bờ. Chiên lịm người đi để mặc cho bàn
tay của anh Thanh “khám phá” mọi nơi mọi chốn trên người cô. Đôi mắt lim dim,
ngực Chiên phập phồng những hơi thở riết róng. Toàn thân cô nóng ran.
– Anh Thanh sau này có đi
kể chuyện linh tinh không?
– Chiên hỏi gì lạ thế?
– Con trai là chúa hay
nói linh tinh. Rồi anh Thanh lại nói rằng em thế này thế nọ ngay mà.
– Chiên là của anh mà.
Anh không nói đâu.
– Của anh mà. Bao giờ thế?
Bà Chiên thấy má nóng bừng.
Cảm giác xấu hổ làm bà nóng bừng cả mặt. Đưa vội mắt nhìn về chỗ thằng Lợi đang
ngủ. May quá nó vẫn ngủ say. Mấy năm rồi lòng với dạ chỉ toàn lo, chỉ toàn sợ
bà đã ngỡ cảm giác được gần gũi chồng đã chôn vùi đâu đó. Cảm giác ấy đêm nay
trở về khiến bà dấy lên nỗi thèm chồng cứ như ngày đầu hai người bên nhau chỗ rặng
chuối nhà bà cụ Hậu. Đêm đó cô thôn nữ tên Chiên đã nhận lời yêu của anh Thanh.
Chiên nhận lời như thể chính cô đã chờ đợi câu nói của anh Thanh lâu lắm rồi.
Chờ đợi từ cái buổi trưa năm nào trên đê sông Thương ấy. Trên dốc đê sông
Thương con bé Chiên đã linh cảm sẽ có một ngày như đêm hôm nay. Trên đê sông
Thương con bé Chiên bị thằng Thủ thôn Chằm bắt nạt đã nhận ra bên mình còn có một
người con trai tên là Thanh đứng ra bênh vực. Cô bé Chiên đã nhận ra sự che chở
của người con trai cùng làng Me với mình như chính nó phải là vậy. Trên con đê
sông Thương, đoạn đê chạy ôm vòng lấy bìa làng ngỡ tưởng nó sẽ bảo vệ, nó sẽ giữ
trọn câu chuyện có hai người yêu nhau ấy.
Vậy mà. Bà Chiên bùi
ngùi. Trong đám con trai làng Me. Trong đám con trai mấy làng hôm hợp tác xã tổ
chức hội thi cấy đã tuôn không biết bao nhiêu lời trách móc lẫn nhạo báng. Đám
con trai trách móc lẫn nhọa báng khi được biết cô Chiên giải nhất hội thi cấy,
cô Chiên người giòn mắt long lanh đã nhận lời yêu anh chàng “Thanh còi” mới lạ
chứ. Đám con trai làng Me biết Chiên với Thanh chơi với nhau từ bé nên cũng
nhanh quên. Nhưng đám con trai thôn Chằm thì thấy như mình bị xúc phạm
ghê gớm. Xưa nay hễ làng Me, hễ thôn Chằm hay thôn Chạ có cô con gái nào lớn
xinh xắn thì y như là cánh con trai thôn Chằm “giật” lấy hết. Lần đầu tiên
trong xã có một cô con gái xinh giòn và giỏi nhất hội thi cấy tự nhiên lại
“rơi” vào tay một kẻ “tầm thường” dưới mắt của bọn họ, đã làm đám con trai thôn
Chằm tức điên lên. Họ bĩu môi dè bỉu. “Thằng Thanh á. Nó đứng bên con Chiên chẳng
khác nào con nhái bén nhảy ôm bó mạ”. “Con Chiên sao mà dại thế. Nó mà lấy thằng
Thanh rồi cũng có ngày khốn khó thôi”. Và….
Bà Chiên giật mình. Hình
như câu nói của đám con trai thôn Chằm giờ mới vận. Hai mươi nhăm hai mươi sáu
năm làm vợ ông Thanh ngỡ đã yên bề đâu ngờ tai họa có ngày giáng xuống. Những
người mê tín nói Chiên “cung sát phu” lấy anh Thanh “cung đoản mệnh” không sớm
thì muộn cũng có lúc hai người phải xa cách đôi nơi. Những người không mê tín
nhưng họ cứ căn cứ vào hình thể thì phán, anh Thanh người bé còi lấy cô Chiên
người mặn lại giòn sẽ “Tốt mái hại sống”. Hại gì không biết nhưng chuyện bây giờ
cũng khác nào sự hại.
Ngoài cửa chợt có tiếng động
nhẹ. Tiếng động của lũ chân chuột chạy trong đêm vắng nghe chờn chợn làm bà
Chiên lại thêm thảng thốt. Mình ơi! Giờ này mình ra sao?
Ngồi co cả hai chân lên
ghế. Nỗi sợ hãi thường nhật lại trở lại bao trùm khắp ngôi nhà. Đêm nay thằng Lợi
có lẽ được một đêm ngon giấc. Thương nó quá. Bà Chiên bùi ngùi. Thằng Lợi càng
lớn càng giống ông Thanh như đúc. Cũng dáng người khều khào. Cũng cách ăn cách
nói chân chỉ. Nhiều lúc đứng nhìn thằng con đã lớn mà cứ ngỡ anh chàng “Thanh
còi” ngày nào. Cứ ngỡ như đang thấy anh Thanh hăm hái đi đằng trước. Anh bước
những bước đi thẹn thùng khi lần đầu hai người đi chơi với nhau.
– Chiên lấy tôi thật nhé?
– Không…
Con gái hay nói không là
có mà nói có mà không mà. Chiên nói “không” nhưng cô lại vùng tay lên kéo ghì cả
mặt cả người anh Thanh ấp lên người mình. Lúc đó Chiên thấy thương anh Thanh vô
cùng. Nhà neo. Bố hy sinh đã lâu. Mẹ thường đau yếu. Thanh không xin đi làm xa
hay học lên mà ở lại làng. Riêng chuyện đó cũng làm Chiên thích thú. Cô rất
ghét những anh con trai mới lớn tí tửng một tí rồi tấp tểnh bỏ làng. Bỏ làng đi
đâu xa lúc trở về làng cứ khệnh khạng nhìn phát ghét. Con trai đâu cứ đi xa mới
đáng mặt. Ở lại làng cũng tốt chứ sao. Cũng tại bởi Chiên có suy nghĩ đơn giản.
“Vợ chồng phải luôn ở cạnh nhau”.
Vậy mà bây giờ ông ấy
không có ở bên mình. Bà Chiên cảm như muốn khóc. Một nỗi nghẹn sầu dâng lên
ngang họng khiến bà không thể cất lên tiếng khóc. Rồi con Lanh nữa. Ở bên xứ
người lạ nước lạ cái nó biết trông cậy vào ai, Nó cũng là phận đàn bà con gái.
Làm phận đàn bà con gái mà thiếu vắng bàn tay người chồng thiếu vắng sự chăm
sóc của đàn ông kể cũng khổ. Nó nhẽ ra đã an phận vợ chồng nếu như không có
chuyện của ông Thanh. Không lẽ ông Thanh, cha nó lại là người vô tình làm hại
nó? Bà Chiên gạt nhanh ý nghĩ đó. Hồi còn ở nhà ông Thanh luôn cưng chiều con
Lanh. Ông có khi nào mắng mỏ hay bắt nó phải làm việc gì quá sức đâu. Người nhỏ
bé nhưng được cái sức vóc cũng dẻo dai nên trong nhà này mọi việc nặng nhọc bao
giờ ông Thanh cũng giành hết. Ngay đến thằng Lợi, thằng con trai có thể giúp việc
gì đó cùng cha nhưng ông Thanh cũng không cho nó động tay. Ông nói, mình khó
mình chịu thiệt thòi đã đi một nhẽ. Giờ ít nhiều cũng có điều kiện nên để chúng
nó học. Để chúng nó được vui.
“Ông ấy là người như thế
cơ mà” Bà Chiên nói thầm như đang khẳng định với ai đó. Bà không tin rằng ông
Thanh lại có thể làm những việc tày đình được. Nhưng biết thế mà đành chịu thế.
Chẳng lẽ mọi chuyện lại bắt
đầu từ chính mình. Bà Chiên bắt đầu thấy nghi ngờ chính mình. Câu nói của cánh
con trai thôn Chằm không phải không có lý. Ít nhất cũng là vào thời điểm này.
“Nó mà lấy thằng Thanh rồi cũng có ngày khốn khó”. Một thứ gì đó mơ hồ chen vào
tâm trí bà. Câu nói của những người mê tín rằng “Hai người rồi cũng có ngày phải
xa cách” khiến bà phân vân. Không lẽ vận hạn đến bây giờ mới vận vào?
Đàn ông là những kẻ chúa
lăng nhăng. Tự dưng câu nói đó lóe lên trong đầu. Đàn ông là những kẻ tham lam
bậc nhất. Không lẽ chuyện ông Thanh đã làm cũng là bởi những “cái chúa” đó.
Thoáng chút nghi ngờ, bà Chiên cúi xuống nhìn người mình. Có khi thật chứ chẳng
chơi. Mình già mất rồi. Thân hình nhẽo ra mất rồi. Ông Thanh ông ấy đi tìm của
lạ cũng có khi? Mà cái nhà cô Thoan kia nữa chứ. Người cứ phây phẩy ra, nhìn
mơn mởn như thế thằng đàn ông nào mà chả thèm. Lại còn cảnh đơn thân nữa. Người
đàn bà đơn thân bỗng dưng có chửa là những người chẳng tin được. Biết đâu cũng
tại cô ta ham hố điều gì. Đàn bà cũng thật phiền phức. Sống đơn thân lại nuôi
con nhỏ thì chuyện “nhử” giai lấy chỗ dựa cũng chẳng sai. Cô Thoan cũng như
mình. Cũng mong thèm có chồng có người đàn ông để mà nương tựa. Phận đàn bà một
thân một mình nuôi con khổ lắm. Ông Thanh xưa nay được cái nét hay giúp người
mà.
Cứ co cả hai chân trên
chiếc ghế cũ, bà Chiên dấm dứt khóc trong bụng. Bà không dám khóc to vì ngại thằng
Lợi nghe được nó lại hốt hoảng tưởng mẹ bị làm sao. Nó tưởng mẹ bị làm sao nó lại
cuống lên. Khổ thân thằng bé. Nó từ nhỏ đến giờ đã phải lo lắng gì đâu. Từ ngày
bố nó đi tù đến giờ trông nó lạ hẳn đi. Không giao du bạn bè. Không chịu tới lớp.
Nó thui thủi giúp mẹ việc nhà nhìn mà thấy tội nghiệp. Nhẽ ra tuổi nó bây giờ
cũng đã ra dáng một anh con trai rồi đấy. Hồi ông Thanh bằng tuổi nó không ngờ
xẩy ra chiến tranh trên biên giới, anh Thanh làm đơn xung phong đi bộ đội. Anh
muốn lên biên giới đánh giặc nhưng xã không cho đi. Họ nói anh là con liệt sĩ
nên không phải đi. Chuyện đó sau này khi hai người đã thành chồng vợ ông Thanh
cứ ngậm ngùi. Ông tiếc nếu không mình cũng đã làm được việc gì đó cho ra dáng
đàn ông hơn. Cũng làm được điều gì đó xứng đáng với cha mình.
Bà Chiên giật mình khi nhớ
tới chuyện “giống cha mình”. Bà giật mình quay phắt mặt nhìn lên ban thờ. Đã
lâu bà không ngó ngàng gì tới ban thờ. Tâm trí rối bời. Lòng đầy lo lắng nên bà
xao nhãng chuyện hương khói. Vả lại từ hôm ông Thanh bị bắt, bà thấy ngượng với
làng với xóm nên đã tự tay cất tấm bằng “Tổ quốc ghi công” của cha ông Thanh
đi. Để đấy người ta tới nhà, người ta nói quở thì nhục lắm. Bốn năm qua, ngày
giỗ cha chồng, bà Chiên chỉ len lén mang thầm chiếc bằng “Tổ quốc ghi công” đặt
lên chỗ đấy. Bà đặt như đặt trộm, thắp xong nén hương là cất vội cất vàng. Nghĩ
mà cơ tủi nhưng để đấy sao đành, ê mặt với làng với xóm.
Ban thờ trống vắng như
chính căn nhà vậy. Chỗ vẫn để tấm bằng “Tổ quốc ghi công” nhìn lạnh lẽo. Lòng đầy
băn khoăn bà Chiên vội đứng lên. Bà muốn thắp nén hương cho cha chồng nhưng vội
rụt ngay lại. Khấn gì, thưa gì với vong linh ông cụ? Vong linh ông cụ chắc
không yên một khi biết chuyện bây giờ? Phận làm vợ, phận làm dâu con còn chưa
trọn nói gì tới làm đạo nghĩa?
Chắp tay trước ngực. Bà
Chiên lâm râm khấn thầm. “Cha thương chúng con. Cha tha lỗi cho nhà con. Cha có
mắng thì mắng con đây này. Cha có giận thì cha giận con đây này. Mong ở nơi xa
xôi anh linh cha hiện về mách bảo. Cha giúp con, cha nói cho con điều gì đi
cha”.
NĂM
– Con cố nghĩ lại xem,
con có làm điều gì để gây nên nỗi không?
Bà Chiên đã ngấm mệt. Đã
gần trọn một đêm sắp trôi qua mà bà vẫn không dám chợp mắt. Cơn buồn ngủ bất ngờ
kéo đến rất nhanh và bà không sao cưỡng nổi. Bà Chiên gục mặt vào giữa hai đầu
gối mình mà ngủ thiu thiu. Tiếng hỏi nghe mập mờ, tiếng hỏi mơ hồ từ một nơi chốn
rất vời xa thoảng tới. Giọng nói quen quen cứ như giọng nói ấy phát ra từ miệng
của một ai đó trong nhà này vậy, nhất là chữ “xem” nghe hơi kéo dài, âm phát ra
bèn bẹt. Bà Chiên cố nhớ mà không nhớ nổi giọng nói nghe quen quen ấy là của
ai. Của ông Thanh ư? ông sẽ không nói với bà bằng kiểu xưng hô như vậy. Hơn nữa
ông ấy còn đang ở trong tù mà ở trong tù thì làm sao có thể về nhà lúc này và
nói chuyện với bà được. Của ai nhỉ? tất cả dường như đều im ắng. Vẫn cố nhớ mà
bà vẫn chưa thể xác định được giọng nói mơ hồ thoảng từ nơi chốn vời xa ấy là của
ai. Câu hỏi mập mờ khẽ thoảng qua tai rồi chìm vào im lặng. Ngôi nhà cũng chợt
im phắc, tĩnh lặng như chưa hề có ai đã đến. Những con mọt cũng thôi không cắn
gỗ nữa. Dấu hiệu cho thấy thời gian đã chuyển từ đêm sang ngày.
– Con cố nghĩ lại xem…
Tiếng hỏi nghe mơ hồ lại mập mờ vẳng từ nơi chốn rất vời xa thoảng tới. Lần này tiếng hỏi không hết câu, tiếng hỏi bỏ lửng như người vừa hỏi không kịp nói hết hoặc như người hỏi còn chần chừ mà sinh ngắc ngứ. Bà Chiên bàng hoàng giật mình choàng mở mắt. Nỗi lo sợ “phải tội” với ông Thanh mỗi khi chợp mắt đã cho bà một phản ứng tỉnh dậy rất nhanh. Bà ngơ ngác, mắt cũng mơ hồ nhìn xung quanh. Khắp ba gian nhà dường như cũng không có gì đổi thay. Cánh cửa ra vào, cánh cửa đóng bằng gỗ thông, thứ gỗ tận thu từ chiếc thùng đựng hàng mà ông Thanh mua rẻ được của người hàng xóm, người ấy có con đi xuất khẩu lao động gửi từ bên Đức về, lâu ngày cũng đã xập xệ. Cánh cửa đóng tạm bằng đinh đã han rỉ làm hở những mảnh ghép để cho ánh sáng lọt từ ngoài sân vào trong nhà, cánh cửa vẫn đóng khép nhưng ràng rạng báo hiệu một ngày mới đang tới, một thứ ánh ngyà đã mờ mờ dần thay thế ánh trăng khuya bàng bạc.
Không có gì khác lạ ngoài
duy nhất một điều bất thường là dưới nền nhà, cạnh ngay bên chân chiếc ghế mà
bà đang ngồi, đôi dép tổ ong rách lờm xờm, đôi dép vốn trước để xộc xệch lúc bà
co cả hai chân lên ghế bây giờ hình như được xếp lại ngay ngắn. Đó chính là biểu
hiện cho thấy đây là sự khác biệt xẩy ra trong lúc bà vừa ngủ thiu thiu. Lo
hãi, bà Chiên dáo mắt nhìn xung quanh thêm một lần nữa. Mọi vật dụng trong nhà
đều không hề suy chuyển. Trên chiếc giường một kê phía gian đầu hồi, thằng Lợi
không biết đã cựa mình chuyển tư thế nằm từ khi nào. Nó quay mặt vào vách. “Vậy
là nó không nghe thấy tiếng ai vừa hỏi. Hay là mình mơ ngủ?”. Bà Chiên sợ sệt đặt
đôi bàn chân mình xuống đôi dép. Cảm giác như có ai vừa mới sỏ chân thể hiện
qua đôi dép còn âm ấm.
Trong đầu chợt thoáng hồ
nghi chuyện tâm linh, bà Chiên nhìn vội lên ban thờ. Chỗ trống vắng trên ban thờ
do việc bà đã cất đi tấm bằng “Tổ quốc ghi công” bây giờ có vẻ như vừa có bàn
tay nào lau dọn. Bằng chứng là lớp bụi bám ở chỗ đó hình như đã được phủi sạch,
để lộ màu gỗ thâm đen. Bàng hoàng trước những điều thay đổi bất thường vừa nhận
thấy đó, bà Chiên chợt hoảng cả hồn, khuôn mặt đầy đầy, khuôn mặt phúc hậu của
bà dại trắng đi. “Không lẽ vong hồn của cha ông Thanh vừa hiện về?”. Những băn
khoăn lẫn hồ nghi dồn dập len vào tâm dạ bà. “Nếu đúng thực là vong hồn cha vừa
hiện về? Con nam mô a di đà phật. Con lạy cha. Con xin cha mách cho con biết
con phải làm gì để giúp được nhà con”. Miệng lầm rầm khấn bái. Bà cuống quýt nhặt
mảnh ghẻ lau bàn, bà vội vã lau những chỗ bụi còn lại trên ban thờ. Vừa lau miệng
vừa lẩm bẩm.
– Con cố nhớ xem là mình
có làm điều gì để gây nên nỗi không?
– Thực tình con không nhớ
nữa.
– Thử cố nhớ xem.
– Con không nhớ nổi.
– Ví dụ như chuyện đã vi
phạm lời nguyền chẳng hạn.
– Lời nguyền nào thưa
cha?
– Các con bây giờ đã quên
hết rồi sao?
– Thực tình con không nhớ.
Xin cha, cha dạy bảo cho con.
– Muộn rồi.
– Con xin cha dạy bảo một
lần nữa.
– Con không nhớ thì ta biết
dậy bảo thế nào.
Như một người vừa bước ra
từ cõi huyễn hoặc. Bà Chiên mặt vẫn còn dại trắng, khắp người run rẩy, toàn
thân nóng lạnh lung tung. Mắt bà lại dáo dác nhìn khắp lượt quanh ngôi nhà như
để kiểm xem mình có sơ sẩy gì không. Vẫn như ngày hôm qua và nhiều ngày trước nữa.
Ngôi nhà gạch cấp bốn được xã xây dựng cho từ hồi thằng Lợi mới lên một tuổi giờ
đã xuống cấp. Những mười bảy mười tám năm rồi còn gì. Ngôi nhà bắt đầu bong
tróc lớp vữa trát tường, làm lộ những hàng gạch non bục tở, chỉ nhẹ tay cào là
bụi đỏ bay rơi lả tả. Mấy chỗ góc nhà từng đám mạng nhện nhuốm màu bụi chăng nhằng
nhịt, chứng tỏ cũng lâu rồi bà và các con chẳng buồn dọn dẹp, chẳng buồn ngó
ngàng. Nỗi trống vắng bao giờ cũng đi kèm với sự trễ nải. “Hay là tại chuyện
này?” bà Chiên thoáng nghĩ nhưng cũng cố tự lý giải chuyện chẳng buồn
quét dọn nhà cửa không có lẽ lại là lý do cho chuyện có thể gây nên nỗi. Bà
Chiên thấy phân vân.
Thực ra bà Chiên phân vân
cũng có lý đúng. Năm thằng Lợi lên một tuổi, ngôi nhà này được xã xây dựng tặng
cho gia đình bà, thay thế ngôi nhà lợp rạ vách trát bùn rơm làm từ hồi cha mẹ
ông Thanh còn trẻ, gia đình diện chính sách mà. Vả lại hai ông bà lấy nhau
ngoài ngôi nhà tranh dựng trên mảnh đất rộng hơn một sào ở giữa làng là của hồi
môn do cha mẹ ông Thanh để cho, còn lại thì của cải của hai ông bà chẳng có gì
đáng giá. Nhà nghèo, con còn nhỏ dại lại hay dặt dẹo, nên dù hai vợ chồng có chịu
khó đến mấy thì nghèo vẫn hoàn nghèo. Đầu những năm chín mươi của thế kỷ trước,
phong trào xây dựng “nhà tình nghĩa” tặng những gia đình chính sách diện hộ
nghèo được nhiều địa phương, nhiều tập thể và cá nhân hảo tâm khắp nơi tích cực
ủng hộ. Xã chọn gia đình bà cũng phải, bởi những năm ấy bà như người dở chứng
sau hai lần sinh nở, chẳng được bồi dưỡng mấy, sinh đau yếu liên miên, ông
Thanh sức lực bản thân cũng chỉ lấy việc chăm chỉ làm để gọi là bù trì mà thôi.
Hai đứa con, một đứa mới một tuổi và một đứa lên sáu, việc dỗ chúng nó ăn, lo
cho chúng nói ngủ đã khó, nói gì đến chuyện chúng nó lo giúp việc nhà làm thay
bố mẹ. Một ngôi “nhà tình nghĩa” với sự đóng góp ngày công của bà con trong
làng Me đã hình thành. Âu nó cũng là điều quý giá mà sự hy sinh của cha ông
Thanh để phúc lại cho con cho cháu.
Ngôi nhà mới xây gạch, ba
gian, lợp ngói tây, hai ông bà coi như tiện thể cũng cố vay mượn góp ít tiền
làm thêm cái buồng trái, nằm lọt thỏm giữa làng Me. Người làng Me bao đời sống
an phận. Người làng Me vốn không ham hố hay kèn cựa với ai. Chuyện vợ chồng bà
may mắn có được “ngôi nhà tình nghĩa” ngày ấy như một sự kiện. Dân làng người mừng
cũng có và người ganh tỵ cũng có. Kẻ ganh tỵ nói bóng nói gió, của cho là của nợ.
Người mừng cho nói tưng tưng, nhà ấy bố liệt sĩ , con độc đinh, xã giúp cho cái
nhà là chí phải. Hai vợ chồng ông Thanh bà Chiên thì khỏi bàn, mừng vui ra mặt,
chỉ thương bà cụ mẹ ông Thanh đã mất trước đó vài năm. Bà cụ nhắm mắt mãi không
xuôi, còn áy náy thương con mồ côi nhà cửa mục cũ mà khi đi cụ cứ dùng dằng.
Hôm khánh thành nhà, ông Thanh trịnh trọng đặt lên ban thờ, thực tình ban thờ ấy
cũng chỉ là chiếc bàn mộc đơn sơ đóng bằng gỗ mít, tấm bằng “Tổ quốc ghi công”.
Ông lý sự vì sao không treo tấm bằng gọi là của quý giá nhất trong nhà lên bức
tường nào đấy hay treo lên chiếc cột gỗ xoan cạnh ban thờ. Ông lý sự rằng, để tấm
bằng trên đấy mắt khi nào cũng nhìn thấy, hương khói lại thuận tiện, nhắc nhở
chuyện đến giờ gia đình mình còn chưa tìm được để cất bốc hài cốt liệt sĩ Nguyễn
Hữu Tiến về nghĩa trang liệt sĩ của xã. Xem ra cũng nhiều tâm ý. Việc ấy bà con
khen mãi.
Bà Chiên ái ngại nhìn
thêm lần nữa. Trên ban thờ chỗ trống vắng cứ như con mắt nào đó đang mỏ to soi
mói nhìn bà trách móc. Nhưng chuyện này đâu có dễ, ông Thanh ở nhà coi như thuận,
nay ông ấy như vậy, mặt mũi nào dám cậy nhờ người kêu vong gọi hồn mách cho nơi
chốn liệt sĩ đang nằm để gia đình tìm mà cất bốc.
– Con trăm lạy cha. Con
ngàn lạy cha. Cha thương chúng con, cha thấy đó là lỗi của chúng con, cha hiển
linh mách bảo.
– ….
Không có tiếng nào đáp trả. Chỗ trống vắng trên ban thờ vẫn hiu hiu như mọi bữa. Bà Chiên thẫn thờ buông người gieo phịch xuống ghế bưng mặt nghẹn ngào. “Hay là tại chuyện khác?”. Ông cụ nhà mình là liệt sĩ cơ mà, chẳng đời nào ông cụ lại đi trách móc con cái cả.
Trong làng Me này, cái
làng lâu đời nhưng cũng không lớn lắm, nhìn trước nhìn sau người khi ít kẻ khi
gần, chỗ thân nơi sơ hầu như cả làng đều có mối liên hệ kiểu “dây mơ rễ má”.
“Không có lẽ đấy mới là nguyên nhân?”. Xét về cái gọi là “dây mơ rễ má” thì ở
trong làng Me này, ông Thanh tính theo đời “cụ tỷ” phải gọi bà Chiên là cô. Họ
hàng theo kiểu “bắc cầu” từ mối thông gia xa lắc. Gọi là cô cũng có thể hiểu là
chuyện ông Thanh bà Chiên lấy nhau là cháu lấy cô. Phức tạp. Nhưng người ở làng
quê, mà ở làng quê những thứ họ hàng loằng nhoằng thường làng nào mà chả vậy. Hồi
hai người làm đám cưới cả họ cả làng có ai đoái hoài hay ngăn cản về mối quan hệ
“cô – cháu” đó đâu. Nói thực ra nếu hồi đó có ai đứng ra ngăn cản cũng bằng
hòa. “Xùy. Họ với hàng gì, xa hàng trăm ki lô mét có bắn ca nông cả ngày cũng
không tới”.
Bà Chiên thấy hốt. Chuyện
họ hàng lấy nhau cũng có khi là “vi phạm” chứ có phải chơi đâu. Nhưng những hai
mươi nhăm hai mươi sáu năm rồi, bây giờ tính chuyện “sửa sai” hòng làm lại nhân
duyên không khéo mình lại còn mang thêm tiếng ác. “Ông ấy đang ở tù. Nói chuyện
họ hàng cô cháu lấy nhau rồi đem ra “xử”, khác nào là mình thấy ông ấy mắc vận
hạn mình tìm cách thoái thác. Tội chết”.
Nắng mới đã le lói ngoài
sân. Nắng tuy đã cuối hè nhưng vừa mới tinh mơ đã trắng rã cả mắt. Thằng Lợi đã
ngủ dậy, nó hốt hoảng thấy mẹ đang ngồi bó gối ngủ gục mặt trên ghế ở giữa nhà.
Nó ngỡ tưởng đêm qua nó ngủ quá say mà không biết mẹ mình đã bị làm sao. Thằng
Lợi băn khoăn dón dén đến bên cạnh bà Chiên. Nó vừa chạm tay vào vai, bà Chiên
đã giật nẩy mình. Nỗi lo sợ chưa kịp tan biến. Bà ngơ ngác như kẻ mất hồn nhìn
thằng Lợi như nghĩ thấy trước mặt mình là ai đó. Bà trân trân nhìn. Đôi tròng
con ngươi mắt bà trắng ra rất mê dại. “Ông Thanh đó ư? có phải đúng là ông
Thanh đó ư?”.
Trước mắt bà màu nắng mới
đã chuyển thành ánh trăng vàng soi vằng vặc. Ánh trăng lên cao, tỏa màu vàng
lênh láng khắp cánh đồng lúa mới cấy. Chiên lấy hết sức đẩy người anh Thanh khỏi
người mình. Cảm giác vừa thích thú vừa xấu hổ khiến cô tuy đã nhỏm được dậy
nhưng cứ ngồi bệt ra đấy mà lúng túng cài cài mãi hàng cúc áo. Thanh đứng cách
đó tầm tay với, anh cũng xấu hổ không dám nhìn Chiên mà quay nhìn mông lung vào
cây chuối vừa đổ. Dưới ánh trăng, cây chuối đổ nằm sóng soài dưới đất phơi thân
trắng lồ giống bắp chân của Chiên hôm cô vắn ống quần cao quá gối mải miết thi
cấy. Hai người chẳng ai nói với ai một câu, chỉ thỉnh thoảng liếc trộm thái độ
của nhau. Mỗi lần đưa mắt liếc trộm họ lại chạm mắt nhau. Lại xấu hổ quay đi hướng
khác. Rất lâu như thế anh Thanh chưa biết phải nói câu gì lúc này.
Cảm giác của những người
yêu nhau lần đầu tiên chạm vào da thịt nhau bao giờ cũng thế. Ngượng nhưng mà
thinh thích. Chiên vẫn là người chủ động. Cô chìa bàn tay ý bảo anh Thanh kéo
cô đứng dậy. Không lẽ cứ một người ngồi bệt ra đấy và một người đứng trơ trơ
như vậy sao? Lúc hai người hôn nhau trời đất như trốn đi đâu cả, giờ đứng bên cạnh
nhau, nhìn mặt nhau rành rẽ dưới ánh trăng thấy thật buồn cười. Mặt anh Thanh
thì dài thuỗn ra ngượng ngịu. Khuôn mặt thật thà của kẻ đang yêu bao giờ cũng vậy.
Mặt của Chiên thì có vẻ tỉnh táo hơn, ánh mắt cô phơi phới. Thì ra trong chuyện
tình yêu đôi lứa, con gái có thế mạnh hơn là họ tự chủ bản thân được ngay. Nói
thật, nếu Chiên không tự chủ được ngay thì có lẽ cô vẫn còn nằm đấy với hàng
cúc áo bị tuột lúc hai người dằn đè lên nhau. Cúc áo tuột làm lộ ra bộ ngực
căng vồng của Chiên, bộ ngực cứ bồng bềnh nâng lên hạ xuống qua từng nhịp thở.
Nhớ lúc anh Thanh quờ tay xuống mông cô, Chiên đã gần như lịm đi tê mê, bàn tay
anh Thanh ấm nóng như thoa bỏng. Chiên bừng tỉnh, cô nhanh chóng thoát khỏi cảm
giác nhục dục đang dồn dập trong người.
– Mình đi… đi chỗ khác
đi.
– Nhưng …
– Nhưng gì nữa?
– Phải dựng cây chuối
lên.
– Khỉ ạ. Nó đổ rồi còn dựng
lên làm gì?
– Nhỡ mai người ta ra,
người ta thấy thì làm sao?
– Bảo …
– Bảo thế nào?
– Bảo nó….à thôi. Mình đi
chỗ khác xa xa hơn đi.
– Đi đâu?
– Lại còn hỏi nữa. Có
thích không?
– Thích gì?
– Khỉ ạ. Người gì lạ thế
không biết.
Thanh được lời như cởi tấm
lòng, anh kéo tay Chiên đi nhanh như trốn chạy. Rặng chuối nhà bà cụ Hậu bỗng
giống như có hàng chục bóng người cùng đứng mà nhất loạt nhìn theo đôi trai gái
vừa vùng chạy. Những bóng người cất tiếng cười khúc khích. Tiếng cười nghe lật
phật những tàu lá chuối nhờ làn gió thổi qua cánh đồng thổi tới. Thanh chạy đằng
trước. Chiên chạy đằng sau. Hai người nối với nhau nhờ cái nắm bàn tay vừa chạy
vừa thở.
– Nhanh lên Chiên ơi. Người
ta mà ra bây giờ, người ta bắt đền thì ngượng lắm.
– Nhưng em không thở được
nữa. Em khô cổ họng lắm
– Chạy tới giếng Bà Cô
đi. Anh lấy nước cho Chiên uống là đỡ khát ngay.
– Tới đó mới được uống chắc
em chết mất.
– Vớ vẩn. Chết thế nào được.
– Thật đấy. Em không chạy
nữa đâu. Em sắp chết khát rồi.
– Chết á? Hay là Chiên ngồi
đây để anh chạy tới giếng Bà Cô lấy nước.
– Chả dại.
– Sao?
– Ngồi đây, ngộ nhỡ ma nó
mò ra nó bắt à?
– Làm gì có ma.
– Làm gì có ma nhưng sao
anh Thanh hay nói ma, nói sợ người chết thế?
– Thì đấy là anh nói chuyện
ngày xưa ấy mà.
– Ngày xưa ấy mà. Người
đâu chỉ hay sợ ma.
– Tại….
– Tại gì?
– Tại làng mình từ ngày
xưa đã kể thế. Thôi không chạy nữa. Chúng mình đi từ từ vậy.
– Nhưng em lại sợ.
– Vừa chê anh nhát cơ mà?
– Ôm chặt em cho em khỏi
sợ đi.
Đôi trai gái chạy như có ma đuổi phía sau, chạy vòng bờ ruộng qua gò sấu, chạy một mạch tới những thửa ruộng lúa mới cấy thì dừng lại.
Bên kia gò Sấu, tức là
cách đầu làng Me một đoạn vừa đủ bằng câu gọi to, nằm ngay cạnh con đường liên
thôn nối làng Me với các làng khác trong xã, có một cái giếng cổ. Giếng đất,
thành giếng không biết tự bao giờ ai đó đã quây gạch cao ngang đầu gối người lớn.
Giếng có hình thù là lạ, giống hình chiếc lá rau má. Giếng nhỏ và hẹp, chỉ rộng
áng chừng bằng nhỏ hơn chiếc nia phơi thóc. Miệng giếng quanh năm được che kín
bởi vô vàn những cây dương sỉ tua tủa những chiếc lá hình lưỡi mác. Lá dương sỉ
xanh rờn, sờ tay ram ráp. Mùa hè cây dương sỉ đua nhau trổ lá non. Những chiếc
lá dương sỉ non ban đầu khi mới nhú khỏi thân cây có màu nâu, dài nhìn như những
chiếc đũa tre. Đấy mới là cọng lá, còn cánh lá dương sỉ thì mới he hé, màu trắng
đục, bám dọc hai bên cọng từ cuống cho tới đầu cọng, nhìn từa tựa như cả trăm
cái chân của con cuống chiếu. Những con cuống chiếu to dài khác thường với
cái đầu uốn cong hình móc câu. Những cành lá dương sỉ non như con cuống chiếu
đang ngoe nguẩy cố ngoi lên khỏi mặt nước. Chẳng hiểu vì bị lá dương sỉ luôn
che kín miệng giếng hay vì những con cuống chiếu đang cố ngoi lên mà nước giếng
cổ này rất trong. Mùa đông, thả gầu chui qua tán lá dương sỉ đang chuyển từ màu
xanh sang màu vàng kéo lên gầu nước còn bốc hơi như nước mới đun. Về mùa hè, thả
gầu qua đám cọng lá non mới nhú hình con cuống chiếu kéo lên từng gầu nước mát
lịm như nước đá. Người làng Me chẳng ai bảo ai nhưng tất thẩy bao đời đều dùng
nước giếng cổ để ăn để uống.
Vào cái năm nảo năm nào
nghĩa là từ rất lâu rồi cái giếng đất cổ này mới chỉ là một mỏ nước tự nhiên nằm
giữa đồng đầy lút dầy cỏ sậy. Mỏ nước dị biệt bởi nó chẳng khi nào vơi cạn hay
chảy tràn miệng. Mưa rào tầm tã cũng như nắng gắt cả tháng, mỏ nước vẫn cứ sâm
sấp cho thứ nước trong vắt và ngọt lịm. Những người đến cạnh gò Sấu lập làng đã
phát hiện ra cái mỏ nước khác thường đó, họ bảo nhau quây bờ thành một cái giếng
lấy nước ăn cho cả làng. Thực ra đồng đất làng Me vốn là đồng đất lấp bồi ven
sông nên trong làng ngoài ruộng thi thoảng đùn lên mạch nước ngầm nhưng lại chỉ
cho thứ nước sỉn vàng lại váng quạch. Chỉ có nước ở mỏ nước dị biệt này là cho
thứ nước trong khác thường.
Người làng Me kể với cháu
con rằng: Hồi làng Me chưa hình thành. Nơi này còn hiu quạnh và thưa thớt dân
cư. Thời bấy giờ nước ta mới bị giặc Minh sang xâm lược. Những tên lính xâm lược
vô cùng tham lam và thâm độc. Chúng đi tới đâu cướp bóc tới đó. Chúng đi tới
đâu người chết chỗ đó. Một ngày nọ, trên con đường dẫn lên biên ải đi qua đây
có một đoàn lính tráng áp tải đoàn ngựa xe từ tận mãi thành Đông Đô. Chúng đang
trên đường áp tải của cải châu bóc do quan quân nhà Minh cướp được trong thành
Đông Quan vận chuyển về phương bắc. Đường về phương bắc ngày xưa rất khó đi. Đó
chỉ là những con đường đất lại độc đạo còn ở dạng giống lối chân trâu và phải
xuyên qua những cánh đồng cỏ sậy cao lút đầu người. Đoàn lính tráng ngựa xe vận
chuyển của cải châu bóc cướp được đi tới đúng cánh đồng đầu làng Me bây giờ thì
phải dừng lại. Con đường đất lại độc đạo đến đúng chỗ này bỗng dưng biến thành
đoạn đường lầy lội khó đi. Đoàn ngựa xe không cất nổi một bước. Cứ thụt lún, thụt
lún dần. Cuối cùng gần như tất cả lính tráng cùng đoàn ngựa xe chở của cải châu
báu chìm trong bùn lầy lẫn cỏ sậy.
Sau này câu chuyện còn được
kể thêm về lý do vì sao lại có chuyện tình cờ nhưng khá hữu ý như vậy. Người có
kinh nghiệm đi đường xa cho rằng, đoạn đường đất này ở ngay cạnh sông Thương
nên nền đất không vững chải. Nó có thể bị sụt lún bất cứ khi nào, đặc biệt là
vào thời kỳ có nhiều trận mưa dài ngày. Cách giải thích này cũng có lý vì vào
đúng dịp lũ lính nhà Minh áp tải đoàn ngựa xe trùng vào những ngày tháng đó mưa
gió liên miên. Người theo phái duy tâm cho rằng, toàn bộ số hàng của cải châu
báu đó đều là đồ ăn cướp, mà cướp bóc đi liền với chém giết nên những oan hồn
đã mượn thế đất nơi này để giữ lại của cải theo kiểu “không lấy lại được thì
cũng không cho kẻ nào được hưởng”. Họ còn giải thích thêm, phàm là của cải có
được từ việc giết chóc đều dẫn tới hậu quả khôn lường. Nghe cũng hay hay vì bởi
lũ lính nhà Minh thời đó nếu không chết vì bị thụt lún là do trời đất vật, thì
cũng bị quan trên chém đầu vì cái tội không mang được châu báu cướp được về
phương bắc.
Chuyện xưa lại kể tiếp:
Những tên lính trong đoàn hộ tống may mắn sống sót hoảng sợ nhìn đoàn ngựa xe bị
đất nuốt chửng mà đầy lo sợ. Chúng ngậm ngùi tiếc rẻ nhưng cũng đành bó tay mà
thất vọng bởi chúng không thể nào lấy được thứ của cải vừa bị chôn vùi đó.
Nhưng lòng tham đâu đã mất. Chúng hy vọng một ngày nào đó sẽ quay lại tìm cách
lấy lại số của cải châu báu. Và để “kho báu” này không lọt vào tay những người
dân quanh vùng những tên lính nhà Minh đã bàn với nhau là cần tìm bằng được một
cô gái trinh làm vật tế mạng để “yểm bùa hộ vệ”. Chúng tin rằng một khi đã được
“yểm bùa hộ vệ” kho báu phải để lại trên đường lên phương bắc này sẽ trở về tay
chúng một ngày nào đó.
Lùng sục gắt gao suốt nửa
tháng ròng mà vẫn không đạt ý muốn, cuối cùng những tên lính nhà Minh sống sót
trong đoàn áp tải kia đành phải vào thành Xương Giang chịu tội. Vừa hay cũng
đúng vào dịp đó, quan quân nhà Minh đang chiếm giữ thành Xương Giang đã bắt được
một thiếu nữ. Cô gái tuổi mười lăm, đẹp như trăng rằm, trinh trắng như tiên nữ
mà chúng bắt được vốn là con gái của một vị hào trưởng người Nùng, vị này họ Từ.
Vị hào trưởng họ Từ ngày đó trấn giữ mạn Hữu Lũng kế trên thành Lạng Giang. Đó
là một vị hào trưởng vô cùng khảng khái, ông nhất khoát từ chối không đem hào
binh của mình hợp tác với quân xâm lược. Quan quân nhà Minh hết dụ dỗ mua chuôc
bằng tiền tài địa vị chúng lại chuyển sang đe nẹt. Vị hào trưởng vẫn không suy
chuyển ý chí. Chúng phải dùng tới thủ đoạn đê hèn là bắt cô con gái yêu của vị
hào trưởng làm con tin để hòng lung lạc tinh thần vị hào trưởng. Mưu ma ấy vẫn
không khuất phục được vị hào trưởng yêu nước và khảng khái. Sẵn lòng thù hận vị
hào trưởng đó lại mang mưu đồ nham hiểm, những tên lính nhà Minh dẫn cô gái
trinh người Nùng, con gái yêu của vị hào trưởng họ Từ, tới đúng chỗ của cải
châu báu bị vùi lấp. Cô gái trinh họ Từ người Nùng cũng xứng đáng với chí khí của
cha mình. Cô không hề run sợ. Cô bình tĩnh đi theo chúng mà không than gào khóc
lóc như quan quân nhà Minh từng nghĩ. Trước đông đặc quan lính nhà Minh, cô gái
không chịu viết thư kêu gọi cha mình nghe theo lời giặc để tính mạng của cô được
bảo toàn. Cô cũng dứt khoát không hợp tác dù, chỉ là hợp tác nhỏ nhất với giặc
Minh.
Quan quân nhà Minh trong
thành Xương Giang khi ấy dụ dỗ không được bèn quyết thực hiện âm mưu ban đầu.
Chúng sau khi làm các thủ tục cúng tế đã phũ phàng dúi đẩy cô gái trinh xuống
chỗ bùn lầy cỏ sậy rậm rạp một cách không thương tiếc, đẩy cô gái vào đúng chỗ
đã nuốt gọn cả đoàn ngựa xe châu báu. Thật lạ lùng, khi cả người cô gái vừa bị
đẩy tọt xuống vũng lầy thì tự dưng vũng lầy thụt lún kia rùng rùng dữ dội rồi
thoắt biến mất, đất đai đang nhầy nước bỗng se lại và khô cứng, tuyệt nhiên
không để lại một dấu vết dù thật nhỏ để chứng tỏ nơi này vừa “nuốt” cả đoàn ngựa
xe chở châu báu vàng bạc. Không thấy đoạn đường lầy lội khó đi đâu nữa, chỗ ấy
sau đợt rùng rùng dữ dội thì im ắng trở lại và đột nhiên xuất hiện một mỏ nước
con con mang hình chiếc lá rau má. Nước trong mỏ nước không nhiều lắm nhưng
cũng không cạn bao giờ, quanh năm mỏ nước chỉ sâm sấp, thò tay khua thấy mát lịm
về mùa hè và lại ấm nóng về mùa đông.
Thực hư của câu chuyện
kho báu bị chôn vùi, thực hư chuyện cô gái trinh con vị hào trưởng họ Từ người
dân tộc Nùng bị chôn sống làm bùa yểm như thế nào cũng chẳng ai bảo là có hay
là không. Nhưng cái giếng nước dị biệt nằm như giữa cánh đồng có thứ nước vừa
trong vừa mát kia là có thật. Có lẽ chính vì sự ngon ngọt và lạ lùng hiếm thấy
của giếng nước mà người dân vùng đất nơi này đã tự huyền hoặc mình mà thêu dệt
nên câu chuyện kho báu cùng cô gái trinh xinh đẹp là con của vị hào trưởng người
Nùng họ Từ. Giếng từ đó được dân làng Me gọi là giếng Bà Cô. Và cách răn bảo
cháu con tốt nhất và có sức truyền đời dai dẳng nhất mà người làng Me đã làm để
giữ gìn mỏ nước hiếm lạ chính là lời nguyền độc. Một lời nguyền độc được cả
làng tuân thủ đời này qua đời khác, nó càng làm câu chuyện chẳng rõ thực hư
thêm huyền bí, càng làm cho giếng Bà Cô thêm thiêng thêm linh.
Chỗ câu chuyện ngày xửa
ngày xưa chính là cánh đồng lúa mới cấy đang trải thứ ánh sáng vằng vặc giống
như một bức tranh được vẽ lên từ ánh sáng. Khi Thanh kéo Chiên chạy tới nơi bức
tranh được vẽ lên từ ánh sáng ấy bỗng mênh mang lạ. Những hàng lúa mới cấy rung
rinh dưới ánh trăng như lời mời gọi. Chiên đứng thở dồn dập, cô nép sát bên người
anh Thanh. Hai bóng người giờ đây như chập làm một, cũng đang rung rinh trên mặt
ruộng.
– Chiên đã thấy hết khát
chưa?
– Người ta đã uống gì đâu
mà hết khát.
– Ừ nhỉ. Anh ra giếng Cô
lấy nước nhé.
– Anh nhớ gì chứ?
– Nhớ gì?
– Nhớ chỉ lấy nước giếng
Cô để uống thôi đấy.
– Nhưng…
– Nhưng gì?
– Nước múc bằng cách nào?
Mình làm gì có gầu.
Thanh bò toài lên thành
giếng để với hai tay xuống mặt giếng. Anh chụm hai lòng bàn tay lại cẩn thận và
từ từ vốc lên vốc nước. Chiên đứng ngay đấy, cô hơi cúi người ghé miệng vào
lòng bàn tay anh Thanh. Nước giếng ngọt lừ, mới chạm môi đã mát tận ruột. Thứ
nước mát lịm lại trong vàng màu ánh trăng như đang rủ rê nên Chiên cứ ghé môi
mình hít mãi lòng bàn tay anh Thanh. Cảm giác âm ấm và mơn man từ đôi môi của
Chiên khiến Thanh ngây ngất. Cảm giác ấm nóng từ bàn tay anh Thanh lại truyền
ngược sang nóng hổi vành môi của Chiên, truyền lan khắp khuôn mặt Chiên. Cứ úp
mặt như dính chặt đôi môi của mình vào hai lòng bàn tay anh Thanh, Chiên ngây
ngất trong hạnh phúc đơn sơ ấy. Cô khẽ rùng mình, co người rướn chân lên. Cả
người cô thêm ghé sát vào người anh Thanh. Thanh cũng thế, anh cong người như để
dồn tâm cố giữ cho hai lòng bàn tay mình thật khít lại. Không một giọt nước nào
rớt khỏi lòng bàn tay của anh. Uống nước giếng Cô, mà lại uống dưới ánh trăng
khuya, thì từ thuở lập làng đến giờ chưa từng có ai được uống. Uống nước giếng
Cô, mà lại uống bằng lòng tay của người yêu, thì cũng từ thuở người dân phát hiện
ra hốc nước đến giờ chưa từng có ai được vậy. Chiên càng thêm ngây ngất như đã
lạc tới một chốn thần tiên.
Bỗng nhiên Chiên thấy có
cảm nhận rất khác lạ. Nước giếng Cô bây giờ không còn ngọt còn mát lịm như ban
đầu cô mới uống nữa. Một thứ vị mằn mặn, một thứ vị nong nóng đang ngấm qua đầu
lưỡi cô, đang thấm vào trong họng cô, nó làm cô thấy vô cùng sửng sốt. Chiên gục
mặt hơn nữa vào lòng bàn tay anh Thanh. Cả lòng bàn tay anh Thanh cũng đang
nóng ran lên khác lạ. Rất khác lạ như chưa hề biết đến bao giờ. Rồi anh Thanh
cũng tan biến đâu mất. Cô rùng mình, ánh trăng lạnh lùng vây chặt lấy cô. Cánh
đồng lúa mới cấy cũng biến mất. Chỉ còn lại một màu trắng bàng bạc mênh mang.
Bà Chiên bảng hoảng. Cả
khuôn mặt bà đang úp vào chính hai lòng bàn tay của bà. Hình như bà đã úp mặt
như thế lâu rồi và bà đã khóc. Nước mắt của chính bà đang thi nhau tuôn chảy và
đọng lại giữa hai lòng bàn tay, ướt nóng hôi hổi cả khuôn mặt bà. Thì ra trước
mắt bà không phải là ông Thanh, càng không phải là anh Thanh của hơn hai mươi
năm trước. Thằng Lợi mặt mày đang đần ra lo âu. Cái thằng càng lớn càng giống bố.
Đến lúc này bà Chiên mới ngờ ngợ câu chuyện nước giếng Cô. Không lẽ đây mới là nguyên nhân gây nên nông nỗi. Ngoài sân nắng mới đã dải trắng mắt. Một nỗi lo sợ còn hơn cả sự sợ hãi đang vây diết lấy người bà. Những linh cảm về lời nhắc nhở của cha ông Thanh càng khiến bà thêm hoảng hốt. Căn nhà trống vắng quá. Ban thờ lạnh lẽo quá. Thằng Lợi đứng cạnh đó, nó muốn hỏi chuyện gì đã xẩy ra với mẹ nó trong đêm qua nhưng nó cũng không há nổi miệng. Chân tay lóng ngóng, thằng con trai mới lớn lóng ngóng đỡ bà Chiên lại chiếc giường nó vừa nằm. Bà Chiên mệt rũ, chẳng nói chẳng rằng nằm thượt trên giường. Mắt nhìn như nhìn vào cõi hư vô như người bị ma ám.
Ba buổi chiều nay, cứ tầm
năm giờ rưỡi hoặc hơn tí chút, khi bà Chiên đã bán xong nồi nước chè xanh của
mình. Bà Chiên lúi cúi thu dọn cốc chén xoong nồi là ông Thanh ngoắc hai chiếc
can, loại can nhựa hai mươi lít, vào giá đèo hàng xe đạp. Đoạn đường từ sân vận
động mới của xã về tới giếng Cô không xa nhưng đạp xe cũng chừng ba mươi phút.
Đoạn đường đi từ thôn Chằm nơi có sân vận động, vòng qua thôn Chạ, lượn qua
cánh đồng đầu làng Me này mới được sửa sang nâng cấp bằng con đường đổ bê tông
rộng hai mét thay thế con đường đất liên thôn nhỏ xíu lại gồ ghề khó đi trước
đó.
Ông Thanh cắm cúi đạp xe.
Gió chiều thổi mát lạnh sau lưng. Ông Thanh phấn khởi lắm. Ba buổi chiều nay
món nước chè xanh nấu bằng nước giếng Cô khá đắt hàng, bán độ hơn tiếng là hết
veo. Thứ nước giếng Cô bình thường đã mát lịm nay nấu chè xanh uống vào càng
thích. Nhất là cánh cầu thủ của các đội bóng mấy làng mấy xã. Đã ba buổi chiều
nay, huyện tổ chức giải bóng đá gọi là “Giải sông Thương”, một giải đấu được kỳ
vọng phát triển phong trào thể dục thể thao của huyện. Hơn nữa, giải năm này lại
được tổ chức ngay tại sân vận động của xã, nên bà Chiên tranh thủ hàng chiều nấu
nồi chè xanh bán kiếm thêm ít tiền. Cái sân vận động này cũng là sân mới khánh
thành. Một sân vận động do huyện đầu tư kinh phí nên bà con xã này hoan hỉ lắm.
Người chơi người xem như kléo hết cả làng cả xã. Lâu lắm rồi ngay tại xa nhà mới
có được một cuộc chơi thi đua hào hứng như vậy. Ít ra thì cũng cho thấy việc đổi
mới có kết quả, huyện xã cũng khấm khá lên. Có chút dư dả mới nghĩ tới chuyện bầy
cuộc chơi vui chuyện bóng bánh chứ. Ông Thanh được vợ giao cho nhiệm vụ chiều
chiều tới giếng Cô đem nước về cho bà nấu nồi nước chè xanh.
Chiều thu mát se se, hai
chiếc can nhựa còn rỗng nhảy tưng tưng va lập cập vào giá đèo hàng nghe vui
vui. Đoạn đường mới nâng cấp có khác, đạp xe chạy bong bong. Ông Thanh khấp khởi
như người vớ được của. Ba buổi chiều bán hàng, vị chi mỗi buổi bà vợ của ông
cũng kiếm dăm chục ngàn. Dăm chục ngàn mà chỉ tốn ít công đi lấy nước đem về kể
cũng nhàn.
Ông Thanh đang phấn khởi,
qua đoạn đường vòng này là tới dốc gò sấu. Giếng Cô nằm bên kia dốc. Đường chiều
vắng vẻ. Gió thổi lành lạnh lại càng thấy thêm vắng vẻ. Dốc gò sấu đã lấp ló đằng
trước, tự dưng ông Thanh thấy lâng lâng. Ông xuống xe, khom người đẩy xe ngược
lên đỉnh dốc. Ông đẩy nhẹ nhàng vì không việc gì phải vội. Chiều đang nguội nắng.
Nắng chiều ngày cuối thu nguội nhanh nhường chỗ cho bóng tối xình xịch tới. Trời
càng nhanh tối càng hay. Ông Thanh nghĩ thầm. Ông đã đẩy xe sắp tới đỉnh dốc. Một
háo hức chợt tới khiến ông vừa tự mỉm cười một mình vừa quay nhanh đầu nhìn về
chân dốc. Dưới chân dốc chẳng nấy một bóng người. Ông rướn mắt lên nhìn lên đỉnh
dốc. Ngôi nhà mới dựng trên đỉnh dốc đã le lói ánh đèn. Cô ấy chắc đã tắm xong.
Ông Thanh vui như trẻ được quà.
Rất nhẹ nhàng, ông Thanh
dựng xe bên gốc cây cách ngôi nhà mới dựng trên đỉnh dốc một đoạn vừa đủ người
trong ngôi nhà đó không phát hiện được có người đẩy xe lên dốc. Ông dựng xe bên
gốc cây rồi lại nhìn trước nhìn sau xem xem có ai tình cờ xuất hiện hay không.
Không một ai cả, yên tâm vì sự vắng vẻ đó ông Thanh lặng lẽ những bước chân như
bước chân mèo đi sát tới ngôi nhà mới dựng.
Khẽ khàng tới bên cánh cửa
đóng kín nhưng ánh sáng trong nhà vẫn lọt ra báo hiệu ngôi nhà đó có chủ nhân ở
đó. Ông Thanh len lén con mắt nhìn qua khe cửa. Dưới ánh sáng của ngọn đèn điện
mới bật cô Thoan, chủ nhân của ngôi nhà, đang thư thả đứng trước tấm gương treo
trên vách. Cô Thoan quay lưng ra cửa. Tấm lưng để trần nhìn mát nuột cả mắt bởi
vì cô vừa mới tắm xong. Ông Thanh nín tiếng thở mạnh bởi vừa đẩy xe ngược dốc của
mình. Ba buổi chiều nay ông vô tình mà được ngắm cô Thoan khi cô ấy vừa mới tắm
xong.
Buổi chiều đầu tiên là do
ông tò mò. Ông tò mò bước lại gần ngôi nhà mới dựng với dụng ý muốn biết người
đang sống trong ngôi nhà ấy sống như thế nào. Chuyện cô Thoan, một cô gái quá lứa
xa làng đã lâu nay đột nhiên về làng đem theo một đứa con nhỏ đã khiến ông tò
mò. Cô ấy sống với đứa con còn đỏ hỏn trong ngôi nhà dựng ngay trên đỉnh dốc gò
sấu kể cũng can đảm. Ông Thanh từ hồi còn nhỏ, chỉ nghĩ chuyện phải đi qua gò sấu
một mình đã hãi vãi tè, đã rùng mình dựng tóc gáy nói gì đi vào lúc chiều
hôm hay tối mịt, vậy mà cô Thoan, cô ấy sống ngày ngày ở đó cũng lạ. Đành rằng
chuyện cũ quá xa xưa. Đành rằng bây giờ gò sấu đã bớt thâm u nhưng đêm đêm những
con chim lợn còn lại vẫn đậu như ngủ gật trên cành cây sấu cổ thụ, chúng ngóng
đôi mắt sáng như đèn pha ô tô ai mà chả hãi.
Đôi lần ông Thanh toan
đánh tiếng như là muốn hỏi cho tường tận chí tò mò. Nhưng ông đã kịp im lặng.
Cô Thoan cuối chiều tắm táp xong lại đứng trước gương để chải tóc. Gái một con
có khác. Tấm lưng trần cùng cặp mông mẩy đang quay lại phía ông càng gợi sự tò
mò. Gợi sự tò mò rồi chuyển sang thích thú. Đã lâu rồi ông Thanh không được
nhìn tấm lưng con gái. Lâu rồi ông không được chạy lòng vòng trên những bờ ruộng,
vừa chạy vừa gào khản giọng, vừa chăm chú nhìn như dán mắt vào cặp mông của
Chiên. Cặp mông căng tròn, mây mẩy như chiếc lồng bàn úp trên mảnh ruộng cấy.
Cô Thoan này cũng lạ nhiều
thứ. Không hiểu cái nhà cô Thoan này có đoán biết có người đang rình nhìn từ
ngoài cửa không nhỉ? Không biết càng hay. Nếu cô ấy mà biết thì mình cũng ngượng
mặt. Nhưng tấm lưng trần cùng cặp mông mẩy căng đang quay lại phía ông càng làm
cho ông Thanh thêm thích thú. Cô này hơn đứt bà vợ già của mình ở nhà. Lại là một
bà vợ hay đau yếu nữa. Ông Thanh chợt so sánh và thầm cám ơn cơ hội cho ông đi
lấy nước giếng Cô. Cơ hội cho ông được nhìn thoải mái tấm lưng trần và cặp mông
đầy khơi gợi của cô Thoan.
Có kiễng chân lên để đôi
mắt dán chặt hơn vào khe cửa. Ông Thanh thấy bụng dạ mình đang réo sôi ùng ục.
Nhưng đấy là cái réo sôi của nhục dục mời gọi. Lâu rồi ông đã thấy chán bà vợ
già của mình. Giá mà có được một chút thôi gần gụi cô Thoan này nhỉ? Ông Thanh
cứ thập thò ngoài khe cửa mà ao ước.
Chiều tối nay cũng vậy. Cô Thoan sau khi tắm táp xong lại thong thả đứng trước gương. Cô đứng thong thả nhưng trong bụng ông Thanh lại thúc giục. Người đâu mà thơm đến thế. Thứ mùi thơm nưng nức đang toát ra từ thân thể cô Thoan. Thứ mùi thơm từ thứ sữa tắm mà cô Thoan đã dùng ba ngày nay làm ông Thanh bắt đầu thấy nhơ nhớ. Ông nhớ thứ mùi thơm lạ lùng chứ không phải thứ mùi mồ hôi khen khét của bà vợ mình. Hít một hơi dài để cố thu vào trong họng thứ mùi thơm lạ lùng đó. Ông Thanh tiếc rẻ quay đi tiếp tục làm nột công việc đem nước giếng Cô về cho bà vợ già của mình. Chắc bà ấy đang ngóng. Mình đi lâu quá bà ấy sinh nghi.
– Có đúng là có lời nguyền
như vậy không hả mẹ?
– Mẹ cũng không nhớ nhưng
chắc là có lời nguyền.
Bà Chiên thôi không nằm
nghỉ nữa, bà ngồi lại chiếc ghế bà đã ngồi gần suốt đêm qua. Thằng Lợi đã hơi
yên tâm. Nó vẫn còn áy náy không hiểu cả đêm qua như thế nào mà nó lại ngủ tít
đi được. Cũng có thể đêm qua trời dịu mát mà nó ngủ mê đi. Cũng có thể mẹ nó
không muốn đánh thức nó dậy. Thằng Lợi băn khoăn hết nhìn mẹ lại nhìn lên ban
thờ. Trên đó mẹ nó vừa lén đặt tấm bằng “Tổ quốc ghi công” ở đúng chỗ mọi khi.
Nó trân trân nhìn tấm ảnh liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến cũng đặt cạnh đó. Đôi mắt của
ông nội nó đang nhìn nó rất nghiêm khắc. Một cái nhìn ngờ vực khiến nó thấy sờ
sợ.
– Lời nguyền nói gì hả mẹ?
Câu hỏi đột ngột cất lên
làm bà Chiên giật bắn mình. Bà vẫn như người mộng du trong cõi mơ chưa tắt. Thằng
Lợi ngừng hỏi, nó im lặng theo dõi từng biểu hiện trên nét mặt của mẹ.
– À…
Bà Chiên sau hồi im lặng
mơi sực nhớ ra thằng con mình vừa hỏi. Bà vẫn để nguyên những ngón tay di di những
vết bụi trên khung kính tấm bằng.
– Lời nguyền nói rằng…
Vẫn chưa nói cả câu. Dường
như trong tâm thức bà Chiên mọi chuyện như đang đâu đây. Bà thong thả ngồi xuống
ghế.
– Lời nguyền nói rằng: nước
giếng Bà Cô là báu vật trời đất ban cho người dân làng Me. Thứ báu vật chỉ dành
cho người làng Me ăn người làng Me uống. Tuyệt nhiên không được dùng nước giếng
Bà Cô để giặt giũ hay rửa ráy. Tuyệt nhiên không được phung phí nước giếng Bà
Cô. Ai đem nước giếng Bà Cô mang bán thì gia đình người đó sẽ chịu vận hạn.
– Vận hạn gì hả mẹ?
– Thì vận hạn như….như
chuyện bố con đã mắc ấy.
– Chuyện của bố con liên
quan gì đến giếng Bà Cô?
– Có đấy. Con có tha thứ
cho mẹ không?
– Mẹ nói gì lạ thế?
– Con có tha thứ thì mẹ mới
yên lòng được. Mà cũng không thể tha thứ được nữa rồi. Lỗi là tại mẹ. Tại mẹ..
Bà Chiên chợt bưng mặt
khóc rưng rức. Thằng Lợi vô cùng hốt hoảng, nó không hiểu chuyện gì đang xẩy
ra, nó không hiểu vì lý do gì mà mẹ nó than có lỗi, nó lại càng không hiểu thế
nào là sự liên quan dẫn tới bố nó mắc vận hạn.
– Mẹ có ngờ đâu mình lại
là người làm hại bố con.
– Mẹ không có lỗi. Chuyện
do bố con gây nên là do …do chính bố con..
– Không. Lỗi tất cả ở mẹ.
Nắng đã chang trắng ngoài
sân. Mấy con gà mái tơ hứng chí vừa chạy đuổi mổ vào lưng nhau vừa kêu những tiếng
“tang tác”, chúng chạy te tái làm rơi những đám phân gà ướt nhõng nhoét. Thằng
Lợi hoang mang thực sự, nó nắm chặt hai bàn tay bà Chiên cố giữ cho bà lấy lại
bình tĩnh. Nhà chỉ có hai mẹ con lúc này. Có chuyện gì thì biết kêu ai tới
giúp.
– Con có nhớ lời nguyền rằng
những ai dùng nước giếng Bà Cô đem bán lấy lời sẽ bị mắc hạn không?
– Có nhưng mà liên quan
gì đến nhà mình.
– Con có nhớ mấy hôm đó mẹ
đun nước chè xanh không?
– Có.
– Đấy.
Thằng Lợi giờ mới ớ ra.
Nó đã hiểu câu chuyện. Chính bố nó mấy hôm huyện tổ chức giải bóng đá “Sông
Thương” đã chiều chiều lấy nước giếng Cô cho mẹ nó nấu nồi nước chè xanh đem
bán cho những người đến xem đá bóng. Lời nguyền đã vận vào bố nó. Vận vào ông
Thanh để không biết trời xui đất khiến thế nào mà ông mắc phải tội giết người.
Phạm lỗi với lời nguyền hàng trăm năm. Phạm lỗi với sự thiêng mà dân làng bao đời
gìn giữ. Một nỗi sợ hãi len tới khắp ba gian nhà khiến không gian như đen quánh
lại.
Để mặc cho bà Chiên ngồi
thừ trên ghế, mặt đang thừ ra bần thần tội lỗi, thằng Lợi lùi nhanh như cố
tránh xa mẹ nó càng xa càng tốt. Trong lòng nó bỗng đâm oán mẹ nó vô cùng. Chỉ
vì một chút hám lợi nhỏ, chỉ vì kiếm mấy đồng tiền lẻ mà mẹ nó dẫn bố nó vào
vòng lao lý. Giá không có những trận bóng đá ngoài sân vận động mới của xã? Giá
như không có giếng Bà Cô linh thiêng? thằng Lợi bỗng đâm oán cả cái làng Me.
Giá làng Me cũng như các làng khác. Nghĩa là chẳng có chuyện huyền bí về cái giếng
cổ với lời nguyền độc. Trời đất như đóng sầm trước mắt thằng Lợi. Thứ ánh sáng
trắng chang chang ngoài sân không làm nó khuây khỏa.
Ông Thanh ngoắc nhanh hai
can nước vào giá đèo hàng. “Chắc giờ này cô Thoan cũng đã tắm xong”. Tự dưng một
nỗi thèm thuồng dâng đến làm ông thấy chộn rộn. “Cái nhà cô Thoan này người đâu
đến là lạ. Nhìn cứ phơi phơi ra mới chết chứ”. Rất vội vã nhưng không vội vàng.
“Gì thì cũng phải đợi trời tối hẳn mới không có ai trông thấy”. Ông Thanh thủng
thẳng đẩy xe đạp ngược lên đỉnh dốc gò sấu. Vừa đẩy xe ông Thanh vừa quay trước
quay sau dò nhìn. “Cẩn thận không khéo lộ ra thì chết”. Tự nhủ như vậy nhưng
ông Thanh thấy trong bụng như có lửa sôi ùng ục. Đã ba hôm rồi hôm nay là buổi
cuối cùng. Ngày mai là hết cơ hội. Tự dưng trong lòng ông Thanh dấy lên nỗi
thèm khát da thịt cô Thoan đến cồn cào. Chiếc xe chợt nặng oằn dưới sức nặng của
hai can nước. “Không biết mình còn thích hay còn lo ngại nhỉ?”. Ông Thanh vừa đẩy
xe đạp vừa tự hỏi. Một là thèm khát đến cồn cào và một là thấy phiền hà. Trời
chiều đã kéo bóng tối đến rất nhanh. Trên đỉnh dốc đã le lói ánh đèn phát ra từ
căn nhà mới dựng. “Cô Thoan này đã tắm xong chưa nhỉ?”. Ông Thanh thoáng dừng đẩy
xe lấy bình tĩnh. “Mình có lại đó không? không lại đó thì tiếc lắm. Nhưng cứ lại
đó mà nhìn trộm qua khe cửa thì cũng phí”.
Đã lên tới đỉnh dốc. Ông
Thanh lại dừng đẩy xe hít một hơi thở dài. Những suy nghĩ phân vân khiến ông chần
chừ mãi chưa quyết định dứt khoát được. Một cơn gió thổi từ trong gò sấu thổi
ra nghe như tiếng trẻ u oa. Ông Thanh nắm chặt hai tay cương quyết. “Cứ đẩy cửa
vào nhà đã rồi tính sau”.
Đám mây xám trôi qua làm
khoảng sân trước nhà vụt sáng trở lại. Thằng Lợi cũng bớt oán giận. Nó nhìn bà
Chiên đang ngồi rũ trên ghế mà thấy thương mẹ vô cùng. Thì chẳng qua mẹ nó cũng
muốn kiếm chút tiền phụ cùng bố nó. Nói giận nói oán mẹ bây giờ phỏng có ích
gì. Cái chính là tìm cách nào giúp mẹ.
– Đêm qua …hình như ông nội
con về.
Bà Chiên như sực tỉnh.
Thôi đúng rồi. Trong giấc thiếp đi bà Chiên đã thấy liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến đứng
tít ngoài sân trông vào nhà. Đầu tiên là câu hỏi trách móc và tiếp theo nhưng
ánh mắt buồn buồn. Trong ánh mắt buồn buồn ấy hình như liệt sĩ đang muốn lại gần
hơn nhưng không thể nào vượt qua khoảng sân để vào nhà được. Khoảng sân như một
thách thức, như một ngăn cản vô hình. Đã bốn mươi năm liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến
xa nhà. Kể từ buổi chiều cái ngày ông dắt tay thằng Thanh đi dạo trên bờ đê
sông Thương lồng lộng gió ấy. Buổi chiều hè đầu tiên và cũng là duy nhất hai
cha con ông Thanh đi bên nhau. Năm đó chú bé Thanh còn quá bé, quá bé để hiểu
được rằng đó là cuộc đi chơi giữa hai cha con mãi mãi không bao giờ lặp lại.
Hồi hai người chính thức
yêu nhau, anh Thanh chiều chiều nắng nguội, gió thổi miên man tung bay mái tóc,
anh kéo tay Chiên đi lên đoạn đê sông Thương đó. Đoạn đê kỷ niệm như anh Thanh
đã nói với cô.
– Nếu không có đoạn đê
này thì có khi Chiên chẳng để ý tới anh đâu nhỉ?
– Ai thèm để ý anh.
– Ai thèm mà lại đi với
người ta thế này.
– Tại vì
– Vì gì?
– Vì …vì anh Thanh chứ vì
gì?
– Chiên nói gì mà anh chẳng
hiểu.
– Không hiểu thì thiệt.
– Thiệt là thiệt thế nào?
– Là. Là làm người ta để
ý tới mình.
Bà Chiên khẽ mỉm cười. Nụ
cười nhớ lại giúp bà đỡ cảm thấy mắc lỗi với ông Thanh. Ngày đó cô bé Chiên
cũng như bọn trẻ con trong làng Me nhìn chú bé Thanh đầy ngưỡng mộ như nhìn một
người anh hùng. Một người anh hùng đã dũng cảm đối chọi với thằng Thủ Chằm hung
tợn. Cô đã thầm để ý anh Thanh từ ngày đó?
– Đêm qua hình như ông nội
con về nhà.
Bà Chiên chậm rãi từng
câu. Thằng Lợi cũng đã bình tĩnh phần nào. Nó chăm chú nghe câu nói của mẹ.
– Ông nội con hình như
đêm qua về nhà thì phải.
– Ông có nói gì với mẹ
không?
– Có.
– Ông con nói gì?
– Ông con hỏi mẹ có làm
gì để gây nên nỗi không.
– Rồi ông nói gì nữa?
– Ông bảo ông muốn vào
nhà mà không vào được.
– Hay là tại mẹ cất tấm bằng
“Tổ quốc ghi công” của ông đi?
– Mẹ cũng nghĩ thế nhưng
không phải.
– Hay là tại mẹ cất ảnh của
ông đi?
– Cũng không phải. Ông nội
con nói ông muốn vào nhà nhưng không vào được vì ông chưa trở về làng.
– Ông chưa trở về làng?
Ông con hy sinh lâu rồi cơ mà?
– Ông xa làng đã bốn mươi
năm. Ông muốn trở về làng như những ai ra đi đều có ngày trở về ấy.
– Ông đã hy sinh rồi về
làng làm sao được nữa.
– Ông nói khi nào ông trở
về được làng ông sẽ giúp mẹ con mình.
– Bây giờ ông về bằng
cách nào?
– Có khi mẹ con mình phải
đi đón ông về thôi con ạ. Khổ thân ông cụ. Xa làng ngần bấy năm. Không biết giờ
này ông nội con nằm ở đâu để đi đón ông về? Mẹ tự dưng nóng ruột lắm.
– Nhưng mẹ con mình có biết
ông nội nằm ở đâu để mà đón ông về?
– Ừ nhỉ.
Bà Chiên chưng hửng. Thực
tình ngày liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến đi B bà còn là một cô bé con con nhà hàng
xóm. Trong thâm tâm bà, thì phận làm dâu con khi về nhà chồng lúc bố chồng đã
hy sinh, là hàng năm lo chuyện cúng giỗ chu tất cũng đã là trọn bề rồi. Trí nhớ
của cô bé Chiên chỉ mang máng “bố anh Thanh” là một chú bộ đội. Một chú bộ đội
với bộ quân phục màu xanh, với chiếc mũ vải mềm đội ngay ngắn trên đầu, chiếc
mũ mà anh Thanh hay nhắc đến. Hồi sớm, khi bà đưa trở lại trên ban thờ tấm bằng
“Tổ quốc ghi công” và tấm chân dung liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến, bà chợt thấy nao
nao. Tấm chân dung liệt sĩ trong bộ quân phục màu xanh đang nhìn hai mẹ con bà
với cái nhìn động lòng khiến bà rưng rưng. Có lẽ bộ quân phục màu xanh là dấu
hiệu khác biệt duy nhất để phân biệt những người đàn ông trong ngôi nhà này.
“Sao ông cháu cha con họ giống nhau đến thế?”. Bà Chiên lén nhìn thằng Lợi đang
ngồi tự lự như nó đang nghĩ cách nào để đi đón ông nội nó về làng, thằng Lợi ngồi
trên chiếc ghế đối diện với bà, để thầm so sánh. Thằng Lợi đã chững chạc nên rất
nhiều kể từ sau ngày ông Thanh vào tù. Cái thằng càng lớn càng có những nét giống
ông Thanh về tính cách và gương mặt. Tính cách ông Thanh thì bà đã rõ. Một con
người giản dị lại thật thà đến cả nể. Nhưng được cái thương vợ thương con, làng
Me này ai cũng đều nói thế.
Ngồi mãi cũng chẳng nghĩ
ra được sẽ làm gì. Nằng hè trải khắp sân nhà một màu trắng. Khoảnh sân vắng hiu
hiu đang lờ mờ những nhân ảnh đang di động. Những nhân ảnh chập chờn, khi thì
là bộ mặt đang đần ra nghĩ ngợi của thằng Lợi, khi thì là nét mặt trông đến dại
khờ của ông Thanh và lúc thì là cái nhìn khích lệ của liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến.
Liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến bây giờ như một nguồn động viên cho hai mẹ con bà
Chiên. Ngôi nhà tự nhiên thấy ấm cúng lạ. “Cũng tại mình thấy nhục với làng mà
cất tấm chân dung ông cụ đi”. Bà Chiên bắt đầu thấy hối hận. “Cứ để tấm hình
ông cụ trên đó”. Để đó để hy vọng ông cụ linh, ông cụ độ về mách bảo rồi chỉ lối
cho hai mẹ con bà tính ngày đi đón ông cụ về lại làng. Bà Chiên lầm rầm chắp
hai tay cầu khấn. Chút mong manh vời vợi đang cho bà linh cảm mơ hồ.
– Nếu con còn tin chồng
con thì con gắng vượt.
Cuống cuồng như sắp bị
rơi mất thứ gì, bà Chiên lật đật đứng phắt dậy chìa hai bàn tay ra hứng đỡ, bà
lại nghe thoảng bên tai mình câu nói vời xa vời xa.
SÁU
Ông Thanh bị dẫn ra
khỏi vào nhà chiều ngày 19 tháng 10 năm 2003, lúc ấy độ ba giờ hay ba giờ hơn
gì đó. Ngoài sân nắng đã bắt đầu dịu, cuối thu nên nắng chiều dịu sớm hơn và
nhanh hơn ngày hè. Cũng như người cha của mình, ông Thanh ra đi khỏi nhà và đi
luôn không trở lại ngôi nhà của mình nữa. Chỉ khác, cha ông ra đi đầy hăm hở,
lao thẳng vào mặt trận và nằm lại cánh rừng vạt đồi đâu đó. Ông Thanh ra đi
không hẹn ngày về.
Một tờ giấy khổ A4 được gọi
là “giấy mời” ông lên công an huyện. Hai người công an viên xã là hai người bước
vào nhà đầu tiên, họ đứng giữa nhà và gọi to tên ông Thanh lên. Khi ấy ông
Thanh đang cùng bà vợ xếp lại những thứ xoong, nồi, bát, cốc, toàn những thứ đồ
mấy hôm trước hai ông bà đã dùng để nấu nồi nước chè xanh rồi đem mang ra bán
ngoài sân vận động mới của xã. Mấy ngày bán nước cũng đem lại cho họ chút niềm
vui nho nhỏ. Tiền với người khó tuy ít nhưng bao giờ cũng quý. Hai người công
an viên của xã ngập ngừng mãi mới giở tờ giấy ra đọc. Họ đọc ấp ủng bởi chính họ
cũng khó tin cái điều được viết ra trong tờ giấy.
Hai người này không lạ gì ông Thanh, bởi họ không chỉ là người cùng xã với ông mà một người trong số hai người ấy chơi với ông từ nhỏ. Nhưng rõ ràng tờ giấy ghi khá đầy đủ khiến họ không chần chừ được. Cũng may cho hai người công an viên xã, đi cùng họ còn có mấy anh công an huyện cảnh phục chỉnh tề cùng nét mặt rất nghiêm trọng. Ông Thanh ban đầu định cất lời chối từ nhưng hai người công an viên của xã động khôn khéo vận động. “Thì ông cứ đi theo chúng tôi đã. Lên huyện mọi chuyện sáng tỏ. Lại về ấy mà”.
Ông Thanh bị dẫn đi ra khỏi
nhà thật bất ngờ, làm sững sờ không chỉ chính ông, chính gia đình ông mà còn
chính cả mọi người dân làng Me. Người làng Me hiền hòa và trầm tính bỗng xôn
xao bàn tán. Đuổi theo đôi tai ông là bao tiếng nói, tiếng này chen tiếng khác,
tiếng nói bênh chen tiếng cười trách móc, tiếng xì xèo chen tiếng chửi móc. Nói
chung là ông bị dẫn đi một cách không đàng hoàng. Theo lệnh, một người công an
của huyện tiến lại trước mặt vào nhanh chóng ngoặc vào hai cổ tay ông chiếc
còng số 8 sáng quắc. Ngay lập tức ông Thanh bị dẫn đi bởi hai người công an kèm
sát hai bên sườn cùng những cái đẩy lưng thúc giục. Trời cuối thu gió se se thổi
nhưng bụng dạ ông Thanh nóng như đốt lửa. “Chuyện gì đã xẩy ra vậy?”. Ông Thanh
tự hỏi và cả làng Me cùng ngoái đầu nhìn nhau hỏi thầm thì.
Họ đi như chạy. Ông Thanh
tưởng không lấy kịp hơi, ngực ông căng lên để hít không khí. Vừa chạy vừa thở,
tới đầu làng thì ông được cho lên một chiếc xe dạng bán tải nhưng được đóng
thùng. Xe chạy một mạch thẳng tới trụ sở công an huyện.
– Thì ra mày là thằng
Thanh còi. Tưởng ai hóa ra là người quen cũ.
Trong bóng tối nhờ nhờ của
căn phòng khá hẹp và thiếu ánh sáng. Mọi thứ như bưng kín lấy mặt bởi còn chưa
hết bất ngờ và chưa tan mệt mỏi. Ông Thanh hơi choáng váng. Ông chưa còn kịp cả
sự định hình để biết căn phòng này đã có bao nhiêu người trong đó. Ông choáng
váng đứng chân không vững, thực tình khi bị dẫn đi như bắt chạy đôi chân ông đã
cuồng mỏi.
– Thằng Thanh còi. Cái
thói vì đàn bà mà sinh táo tợn. Tưởng xa lâu rồi nào ngờ mày vẫn chứng nào tật
nấy.
Không hiểu giọng nói kia
đang nói gì mình nhưng ông Thanh cũng lơ mơ đoán, cách nói ấy chứng tỏ người
đang hỏi ông là một người có lẽ ông và người ấy cũng biên biết tí ti về nhau.
Bóng tối nhờ nhờ càng khiến ông thêm mệt mỏi. Người ngợm chân tay như muốn tháo
rời ông Thanh cảm thấy hai cánh tay mình tê dại đi. Mà cũng phải thôi, ông đã bị
còng chặt như thế này mấy tiếng đồng hồ rồi còn gì.
– Mày vẫn chứng nào tật nấy.
Phen này thử còn mấy lả?
Giọng nói cay nghiệt hơn.
Giọng nói như một nhát búa giáng xuống đầu làm ông Thanh càng thêm choáng váng.
Không ai cho ông ngồi xuống cả. Những loạt câu hỏi bắt đầu vang lên truy tới tấp
làm ông chưa nghe hết câu này đã phải nghe tiếp câu khác. Nhìn chung các câu hỏi
truy tới tấp nhưng đều một giọng và đều lặp lại khiến ông ù hết cả đôi tai. Đôi
tai đã ù ập từ lúc ông bị dẫn đi trong đường làng giờ đây càng ù ập hơn. Ánh mắt
của ông mờ dại hẳn đi, trước mắt ông chỉ một thứ màu trắng nhờ nhờ trong căn
phòng ngột ngạt khỏi thuốc lá và những câu hỏi tới tấp.
– Cho tôi ngồi ..
Ông Thanh cầu khẩn. Đôi
chân tưởng không đứng nổi nữa. Hai bắp chân căng lên, tụ máu cứng dại.
– Mày đứng đấy mà trả lời.
– Tôi. Tôi mỏi quá.
– Thằng này giỏi gớm. Vào
đây còn yêu sách.
– Nhưng … tôi đúng là
không …không đứng nổi nữa rồi.
“Bốp”. Một cái tát nẩy lửa
vào má phải tưởng bỏng cả mặt. Ông Thanh không kịp nhìn người vừa tát mình là
ai. Quả tình cái tát nhanh quả là có hiệu nghiệm. Ông Thanh thấy hết mỏi chân
ngay.
– Nhẹ không ưa. Mày thích
nặng đòn à?
– Sao các ông lại đánh
tôi?
– Chỉ có chúng tao hỏi
mày, chứ mày không được hỏi chúng tao.
– Tôi làm gì mà các ông
đánh?
– Gớm thật đấy. Phàm những
thằng cãi lem lẻm là những thằng ngoan cố. Thanh ơi. Mày đã vào đây rồi đừng có
cứng đầu mà khổ đó.
Không biết ai đó vừa đẩy
ông Thanh tiến lên một bước lại sát gần người đang hỏi. Khói thuốc lá xông lên
mù mịt càng khiến bầu không khí vốn đã thiếu lại thêm thiếu. Ông Thanh bỗng thấy
bụng dạ sôi ầm ào. Cơn đói đưa lên tận cổ khiến họng ông cộm cạo. Cố căng đôi mắt
đã mỏi rũ và cố nén đau đớn để nhìn người đang hỏi mình là ai. Một khuôn mặt
cũng trắng nhờ nhờ như mặt ma đang lượn lờ trước mặt. Người đang hỏi ông không
đứng yên, người này chắp tay sau lưng quay qua quay lại đến chóng cả mặt. Ông
Thanh lí nhí.
– Cho tôi xin..xin tí nước.
– Lấy cho nó cốc nước.
Thanh. Mày có nhận tội không?
Cốc nước được đưa tới và
được dốc mạnh vào miệng. Ông Thanh nuốt không kịp cú dốc mạnh, sặc nước ho rũ
rượi. Nước mắt ông chảy ra gặp khói thuốc lại giàn giụa cay sè.
– Giờ nghe chúng tao hỏi
đây. Mày chỉ được nói “có” hoặc nói “không” thôi.
Im lặng như để những tiếng
quát hỏi lấy lại hơi. Căn phòng đã tối sập. Ông Thanh cố hé mắt để quan sát
nhưng không tài nào nhận ra được căn phòng này dài rộng ra sao. Trước măt ông lại
lờ mờ mấy bóng người lượn qua lượn lại. Một bóng người tiến sát lại gần ông.
Ánh mắt của người ấy dí sát mặt ông. Ông Thanh khẽ quay đầu tránh hơi thở nồng
nặc mùi rượu của người đó.
– Thanh. Nghe tao hỏi
đây.
– Có.
– Chiều ngày mười lăm
tháng mười mày ở đâu?
– Không.
Ông Thanh đáp có trả lời
không như một phản xạ theo điều kiện. Người vừa hỏi tức quá gầm lên.
– Tao hỏi. Chiều ngày mười
lăm tháng mười mày ở đâu?
– Có à không. À. Tôi..tôi
ở nhà.
“Bốp, bốp”. Ông Thanh sa
sẩm mặt mày. Hai cú tát liên tiếp không thương tiếc khiến ông sa sẩm mặt mày chực
đổ gục. Mà ông đổ gục thật. Hai đầu gối bỗng oằn xuống, nó không còn giúp được
đôi chân cũng đã mềm như hai sợi bún để nâng thân thể của ông được nữa. Ông
Thanh ngã chúi người về phía trước. Cú ngã đập mạnh cả khuôn mặt ông xuống nền
nhà. Đau cứng cả lưỡi. Ông Thanh không kêu đau lên được một tiếng.
– Vực nó dậy. Thằng này
còi con mà gan quá.
Ai đó vừa xốc nách ông
Thanh đứng dậy. Có thứ gì mằn mặn đầu lưỡi rồi tiếp theo là cảm giác buốt xót
vành môi. “Còn cảm giác thấy vị mặn và buốt xót là chứng tỏ mình còn sống”. Ông
Thanh tự nhủ. Quả tình sau cú ngã vừa rồi ông hình như ngất đi ít giây. Khi đổ
sập xuống và nằm úp mặt trên nền nhà mát lạnh ông Thanh đã nghĩ mình chết rồi.
Giữa lơ mơ thức tỉnh lẫn lộn ông Thanh hình dung ra nét mặt đầy lo lắng và chưa
hiểu chuyện gì đang xẩy ra trong nhà mình của bà Chiên. Bà Chiên vừa xếp xong
chồng bát vào trạn. “Vỡ đúng sáu cái”, bà lẩm bẩm trong miệng cốt là để ông
Thanh không nghe thấy, bà nói trong vẻ vẫn còn chưa hết tiếc của nhưng ánh mắt
bà bỗng trợn căng lên. Ánh mắt bà sửng sốt khi trong nhà bỗng nhiên xuất hiện
hai người công an viên của xã cùng mấy người mặc cảnh phục đứng nhăm nhăm. Bà
hét to đầy ngạc nhiên nhưng cũng kịp thời giang tay đẩy thằng Lợi và con Lanh
vào góc trái của buồng. Bà sợ hai đứa không hiểu gì, chúng lại còn trẻ người
non dạ sợ chúng làm những điều bậy bạ. Ông Thanh tròn mắt cũng ngạc nhiên không
hơn gì bà Chiên. Hai người trước đó vừa mừng rỡ nói với nhau về khoản thu nhập
mới. Họ còn nói vui hay là chuyển hẳn sang bán nước chè xanh. Ông Thanh sẽ đi lấy
nước, con Lanh nấu nước, thằng Lợi đèo mẹ ra ngoài đầu làng ngồi bán. Mọi kế hoạch
tưởng chừng đã chu tất.
Như để kiểm tra lần nữa,
ông Thanh đưa môi liếm vành mép. Một thứ vị mằn mặn và nong nóng báo cho ông biết
đó là máu. Không biết là do cái tát bốp hay do cú ngã dập mặt mà môi ông rách
toác. Máu chảy mặn đầu lưỡi, chảy mặn vào sâu cuống họng. Nhắm mắt rùng mình,
ông Thanh cố nuốt vội những giọt máu. Trong đầu ông lại hình như thấp thoáng
bóng bà Chiên vừa ngã. Khổ thân bà ấy. Ông Thanh nói thầm trong cổ. Dạo này bà ấy
hay lên cơn huyết áp bất thường. Không hiểu lúc mình bị dẫn đi bà ấy ngã có làm
sao không?
– Thanh. Buổi chiều ngày
mười lăm tháng mười vừa rồi mày ở đâu?
– Tôi ở nhà.
– Thằng này không già đòn
chắc không nhận đâu?
– Tôi ở nhà. Đừng đánh.
Hình như tôi ở…
– Mày ở đâu?
– Ở sân bóng.
– Mày còn ở đâu nữa?
– Tôi không nhớ. Hình như
tôi ở nhà.
– Mày ở nhà mày thì tao hỏi
làm gì.
– Tôi ở sân bóng.
– Láo quá. Thằng này láo
quá.
Lại “Bốp. Bốp” liên tiếp.
Mắt nẩy đom đóm. Muôn ngàn con đom đóm nhảy múa trước mắt ông Thanh. Tai ù lên
và đau tận óc. Ông Thanh lại ngất đi. Hình như trước khi ông lại đổ gục xuống
người vừa quát hỏi ông kịp giơ chân ra ngáng đỡ. Ông Thanh chỉ còn biết như thế
rồi không biết thêm gì nữa. Cơn đói, cái lạnh, bị tát đau và những câu hỏi liên
tiếp đã vắt kiệt sức ông. Khoảng không gian tối như hũ nút bao trùm khắp mọi
tâm tưởng. Ông Thanh ngã chúi xong lệch về một bên sau cú giơ chân ngáng đỡ của
người vừa hỏi. Ông nằm vật trên nền nhà.
Lạnh đến ào ào và ngấm khắp
người. Lúc bị dẫn đi ông Thanh chỉ mặc độc chiếc áo sơ mi mỏng. Đang thu dọn đồ
đạc nhà cửa giúp vợ, người ra mồ hôi nóng bức. Giờ thì cái mệt, thì bị
đánh đau và những cơn đói dồn lên cộm cạo như bào gan ruột khiến toàn thân ông
lạnh toát. Ông Thanh rùng mình liên tục. Lạnh hình như cũng giúp ông tỉnh lại.
Những bóng người cúi xuống nhìn ông chập chờn như những bóng ma.
Không biết ông nằm đó đã
bao lâu. Có lẽ là một phút? Không năm phút? Chắc là gần mười phút? Mọi cảm giác
nhận biết dần dần trở lại. Bên tai ông đã thoáng nghe thấy những tiếng người
lao xao. “Thằng này cùng xã với tôi. Tôi biết nó từ bé. Nó gan lắm”. “Thằng này
trông bé còi thế mà cũng táo tợn ghê”. “Thằng nào ban đầu mà chả chối tội nguây
nguẩy. Cứ tẩn đau vào là nhận hết”….Ông Thanh chỉ láng máng nghe thế rồi lại
chìm đi. Cảm giác nhận biết lại biến mất. Lâu lắm. Chắc độ mươi phút sau ông lại
hồi tỉnh. Những ngón chân bắt đầu cựa quậy. Khắp quanh người đau ê ẩm.
– Nghe tao hỏi đây.
– Có.
– Buổi chiều ngày mười
lăm tháng mười mày làm gì?
– Tôi bán nước cùng vợ.
– Cái đó bọn tao biết rồi.
Sau đó mày làm gì nữa.
– Hình như …tôi đi lấy nước.
– Mày đi lấy nước ở đâu?
– Ở….
– Ở đâu?
– Ở ..ở giếng Bà Cô.
– Có thế chứ. Sau khi lấy
nước xong mày làm gì?
– Tôi mang về nhà.
– Có thực là mày về nhà
không?
– Đúng.
– Có người nhìn thấy mày ở
dốc gò sấu.
– Tôi lấy nước ở giếng Bà
Cô đem về nhà thì phải qua dốc gò sấu chứ.
– Cãi này.
Những cú bạt tai liên tiếp.
Những cú đấm vào bả vai, vào lưng sối sả. Ông Thanh lần này không gục ngã xuống
nền nhà được nữa. Hai bên nách ông bây giờ đã có hai cánh tay chắc khỏe giữ và
xốc người ông lên, người chới với, đầu mũi ngón chân cái khẽ chạm hờ vào đất,
kiểu như người bị treo lủng lẳng. Những cú tát tai và những cú đấm lại liên tiếp.
Không thể chống đỡ và cũng không thể lấy cú ngã gục để thoát đòn. Toàn bộ lưng,
vai, bụng và mặt ông Thanh liên tiếp hứng những cú đấm trời giáng.
– Cho.. cho tôi nói.
– Mày nói đi. Buổi chiều
sau khi lấy nước thì mày làm gì và ở đâu?
– Tôi không nhớ.
– Lại không nhớ này.
Đúng là ông Thanh không
còn nhớ nổi một điều gì nữa. Trận đòn lần này dữ dội hơn lần trước. Cũng có thể
ông đã quá mệt và quá đói. Cũng có thể ông đã chịu mấy trận đòn nên cái đau
chưa giảm lại phải nhận thêm những cái đau mới. Chưa bao giờ ông Thanh thấy
mình phải chịu những cơn đau như thế. Hồi lên chín tuổi ông đã bị một cơn đau
ghê gớm. Cơn đau ruột thừa tưởng thừa sống thiếu chết năm đó mỗi khi nghĩ lại
ông vẫn còn rùng mình. Hồi đó do thiếu kinh nghiệm trước mỗi cơn đau trong bụng
của con mà bà mẹ ông suýt nữa mất ông. May mà giời còn thương, giời còn cho ông
sống.
– Mày có đến nhà cô Thoan
không?
– Không. À có.
– Mày đã làm gì?
– Tôi không nhớ.
– Lại không nhớ rồi. Muốn
tự nhớ hay để bọn tao đánh cho nhớ.
– Có….
Ông Thanh dựng chiếc xe đạp
bên thềm nhà, ông tháo từng can nước khỏi giá đèo hàng rồi tiện thể hai tay
xách luôn hai can nước đem cất vào trong buồng trái. Bà Chiên vốn tính cẩn thận,
lại thương chồng vất vả, nên đã dặn đi dặn lại ông phải cất kỹ hai can nước vào
tận trong buồng trái. “Để kềnh càng bên bậc thềm, thằng Lợi chạy đâu về vô ý va
chân đánh đổ thì mệt”. Bà Chiên sợ ông lại phải ra ngoài giếng Bà Cô lấy lại lần
nữa.
Ông Thanh đứng cạnh cửa
buồng trái còn ngoái nhìn lại xem hai can nước đã cất thật chắc chắn chưa. Biết
tính vợ hay cằn nhằn, nhất là cằn nhằn chuyện ông hay để đồ đạc linh tinh muốn
tìm phải tìm bằng chết. “Ông chỉ được cái không để ý là giỏi”. Nhà này nếu
không có bà Chiên thì có lẽ mọi thứ sẽ cứ rối tung lên. Ông thì vô tâm, bụng dạ
thẳng ngay thì đã đành. Thằng Lợi ham chơi, chân tay lóng ngóng động vào thứ gì
là đổ vỡ thứ nấy. Con Lanh thì khá hơn nhưng nó đôi khi còn lãng trí lắm. Con
gái con lứa đến tuổi lấy chồng rồi mà hễ nhắc đông lại làm tây. Hễ bảo ngồi thì
lại đứng. Đúng là con gái lớn, tuổi cập kê nên tính khí thất thường. Nhưng được
cái nó thương bố thương mẹ nên tuy nhầm lẫn việc này việc khác nhưng còn giúp
được.
Trời đã bắt đầu nhá nhem.
Hôm nay là buổi bán nước cuối cùng ngoài sân vận động nên bà Chiên còn mải ngồi
lại gọi là bán cố, thành thử con Lanh với thằng Lợi cũng phải ở ngoài đó mà đợi
mẹ cùng về. Cũng tại người ta còn chùng chình tan trận rồi còn túm lại bàn tán.
Bà Chiên nhắc ông Thanh về trước, về trước lấy sẵn hai can nước. “Biết đâu mai
lại ra đây bán nữa” bà Chiên nói ngay khi thấy ông Thanh có vẻ chần chừ.
Ông Thanh thấy đoi đói. Cả
ngày phơi mặt ngoài đó rồi còn gì. “Chắc là bà ấy cũng đói lắm đây?”. Ông Thanh
nghĩ thầm, tay vội vàng đong mấy bát gạo, tính chuyện đặt sẵn nồi cơm chờ mẹ
con bà Chiên về cùng ăn một thể. “Nhà có mấy người, ăn trước ăn sau mất cả
vui”. Hơn nữa trong bữa ăn còn bàn thêm tí chuyện.
Bóng tối phủ rất nhanh.
Ngoài đường làng, chốc chốc lại xẹt qua tiếng xe máy chạy. Xẹt qua rồi để vương
lại những đụn khói xanh đen. Chiều tối sương xuống thấp. Sương xuống thấp dồn
mùi khói xăng không đốt hết vào tận cửa nhà. Mùi khói ùa đến cay cay, sộc thẳng
lên mũi làm ông Thanh muốn hắt hơi. Ông đứng đần người ra, đầu cui cúi, mồm há
hốc đợi sẵn, mắt nhắm lại nhưng mãi mà vẫn không hắt hơi được. Hắt hơi cũng là
một thứ khoái cảm. Ai không hắt hơi được sẽ rất khó chịu trong người. Hắt được
một cái thật mạnh lỗ mũi, lồng ngực tưởng như được giãn ra, thấy nhẹ nhõm hẳn.
Lại cúi đầu, nhắm mắt. Cuối cùng thì ông Thanh cũng hắt được một tràng hắt hơi
rõ to rõ dài.
Làng vắng. Nhà ai hầu như
đã về nhà nấy cả nên ngoài đường làng vắng hẳn. Ở làng Me này mỗi khi chiều xuống
là trẻ con người lớn gọi nhau về nhà í ới. Hôm nay tiếng gọi nhau thưa vắng.
“Chắc còn ở ngoài sân bóng?”. Ông Thanh nghĩ thế. Chưa bao giờ người làng Me lại
được xem những trận đá bóng suốt từ sáng tới tận chiều. Những trận đá bóng đã
đem đến cho cái làng xa khuất này niềm hứng khởi mới. Trước kia, chiều về, nhất
lại là chiều cuối thu làng Me buồn phải biết. Việc huyện tổ chức giải bóng đá
ngay tại xã nhà cũng là một cách để người làng Me xua đi cái vắng cái buồn. Thời
buổi người ta đua nhau ra bám mặt đường mà. Làng Me nằm xa đường nên huyện nên
xã ưu tiên cho xem những trận đá bóng tĩ tã. Gì thì gì cũng vui vui. Ông Thanh
đã đặt xong nồi cơm điện. Quay đi quay lại mà chẳng biết phải làm cái gì tiếp
theo. Có tiếng còi xe kêu “Bim. Bim” ngoài cổng, thì ra bà vợ ông gửi thằng
cháu họ đem về giúp bó lá chè xanh. “Giờ mới năm rưỡi. Cô cháu bảo độ hơn nửa
tiếng nữa cô cháu mới về cơ. Cô chú tháng này làm ăn trúng quả quá”. Mỉm cười
chữa thẹn, ông Thanh mời thằng cháu họ vào nhà chơi, cũng định hỏi nhờ nó vài
việc nhưng nó nói vội về. Chiếc xe máy phóng vụt đi. Vắng vẻ lại trở lại vắng vẻ.
Ông Thanh khẽ rùng mình.
Khí lạnh chiều tối ở làng làm ông rùng mình. Cơn muốn hắt sì hơi lại ngọ nguậy
gây cảm giác buồn buồn bên hai cánh mũi. Cũng như lúc trước, ông Thanh lại phải
cố sức cúi đầu, há mồm chờ mãi mới hắt sì hơi được. Lần này tiếng hắt sì hơi
dài hơn và to hơn. Tiếng hắt sì thành chuỗi dài vang lên tận mái nhà. Có tiếng
gì như tiếng con chim đập cánh chực bay đi. Ông Thanh nghe rõ ràng như vậy
nhưng cũng hơi giật mình. Nhà vắng, nghe tiếng động nào cũng sợ. “Bố mày chỉ được
cái hay sợ vặt, sợ đâu đâu”. Có lần bà Chiên đã nói với hai đứa con. Thằng Lợi
nhe răng, thổi phù phù qua kẽ răng làm giả tiếng “ma chơi”. Nó cười sằng sặc chạy
núp sau lưng mẹ. Con Lanh thì tỏ ra cứng rắn hơn. Nó chẳng nói gì chạy vào
trong nhà bật công tắc điện. Ánh sáng bùng lên làm chói hai con mắt. Ông Thanh
cười trừ, mặt méo đi ngượng ngịu. Ông không ngờ bà Chiên, cái bà vợ ông lại nhắc
lại chuyện hay sợ ma của ông có từ ngày bé.
Ngày bé thằng Thanh nhát
như cáy. Cứ chiều xuống là ngồi ro ró trong nhà. Nó chẳng dám xuống bếp chứ nói
gì đến việc mẹ nó sai nó sang hàng xóm vay giúp mẹ nó bơ gạo. Thằng Thanh ngồi
ro ró, mắt len lén nhìn lên nóc nhà. Hình như có tiếng chân chuột chạy rinh
rích. Mấy con chuột không biết vô tình hay chúng cũng có ý trêu thằng Thanh.
Lại vẳng lên tiếng con
chim nào đó đập cánh. Sao dạo này lại có chim về đậu trên mái nhà mà đập cánh
nhỉ? Lòng nhiều hồ nghi, ông Thanh trống ngực đập thình thình, chân luýnh quýnh
bước ra khỏi nhà.
Trong một không gian nhập
nhoạng sáng tối như thế này đến nhận biết còn chưa rõ ràng huống hồ là cảm xúc.
Ông Thanh như bị thôi miên theo tiếng đập cánh bay đi của con chim. Ông vừa chạy
theo tiếng chim đập cánh vừa ngửa mặt lên trời. Bất chợt con chim kêu đánh “éc”
rồi lượn xuống bay là là sát đầu ông Thanh. “Một con chim lợn!”. Ông Thanh chờn
chợn. Con chim lợn sà từ trên mái nhà xuống, nó bay là là và thấp tới những tưởng
với tay là chạm được vào người nó. Ông Thanh vô hồn chạy theo. Mồ hôi vã ra như
tắm.
Ông Thanh đã chạy ra tới
con đường chính chạy giữa làng. Con đường nối làng Me sang các làng khác. Con
chim lợn bay vụt lên đằng trước, nó bay cách mắt ông chỉ chừng sải tay với.
Chưa bao giờ ông lại chạy nhanh như hôm nay. Chưa bao giờ ông lại chạy nhiều
như hôm nay. Ông chạy mải miết theo tiếng đập cánh của con chim lợn bay đằng
trước dẫn đường. Không có cảm giác mệt mỏi hay đói bụng. Tiếng đập cánh của con
chim lợn bỗng như một âm thanh đầy khích lệ. Ông Thanh cố căng mắt trong bóng tối
nhập nhoạng để khỏi bị mất hướng con chim lợn.
Con đường làng mọi bữa
còn có người xe qua lại sao hôm nay bỗng dưng vắng vẻ. Không có một ai nhìn
theo. Không có một ai chạy ra cùng chạy theo ông. Trước mắt ông là tiếng đập
cánh của con chim lợn. Gió thổi vi vút sau lưng ông. Gió trượt qua vai ông. “Nó
dẫn mình đi đâu nhỉ?”. Ông Thanh nghĩ trong hơi thở gấp gáp. Cảm tưởng như sắp
mất một cơ hội nào đấy càng khiến những bước chạy của ông Thanh ráo riết hơn. Cảm
giác như có chuyện gì đấy hệ trọng lắm càng làm cho ông Thanh háo hức. Trời tối
hẳn.
Bóng tối bủa vây mọi hướng
nhìn. Chỉ có tiếng đập cánh của con chim lợn là dấu hiệu duy nhất cho ông Thanh
biết phía trước đang có thứ gì chờ đợi mình. Hình như đã ra tới bìa làng. Bằng
chứng mà ông Thanh nhận ra là đã ra tới bìa làng là khoảng không gian chừng như
rộng mở hơn. Gió thổi tới cũng mạnh mẽ hơn. Những bước chạy của ông càng gấp
gáp.
Phía xa xa và hơi cao cao
lấp ló ánh đèn. Ánh đèn tuy lấp ló nhưng ông Thanh cũng đoán định phía trước đó
là dố gò sấu. Cảm giác sợ hãi tan biến. Có động lực vô hình nào đó đã xua tan nỗi
sợ bóng tối của ông Thanh. Con đường lên dốc hôm nay như thấp xuống. Ông Thanh
không thấy mỏi chân, không thấy mệt đứt hơi. Ánh đèn lấp ló như mời gọi.
Con chim lợn đột ngột dừng
lại. Nó sà xuống đậu trên mái nhà, căn nhà đang lấp ló ánh đèn. Ông Thanh cũng
ngập ngừng chạy chậm lại. “Nhà cô Thoan?”. Con chim lợn giang đôi cánh rộng của
mình đập liên hồi. Thoáng băn khoăn vì chưa hiểu tại sao con chim lợn lại dẫn
mình tới đây. Ông Thanh thôi chạy. Từ phía làng, loa phóng thanh của xã đang vọng
lên những tiếng “Tút. Tút. Tút”. Ông Thanh ngần ngừ. “Mọi ngày mình đi từ nhà
lên đỉnh dốc gò sấu nhanh cũng hơn nửa tiếng. Không hiểu sao hôm nay mình chạy
như ma đuổi ấy?”. Nghĩ vậy nhưng ông vẫn nhấc từng bước chân một tiến sát cửa
ngôi nhà của cô Thoan.
Vụt tiếng kêu “éc” nghe rợn
cả người. Con chim lợn lại cất tiếng kêu sắc lạnh thường có của mình. Trong
bóng tối ung ung kín bủa ông Thanh còn kịp nhìn thấy hai con mắt to tròn của
con chim lợn đang đậu ngay trước mắt ông mở hết cỡ. Đôi mắt con chim lợn màu
xanh lét, lại sáng quắc. Rồi nhanh như một tia chớp. Con chim lợn đập cánh bay
vụt vào sâu trong gò sấu, nó bay về trú đậu trên những cành sấu xanh um như vốn
thế.
Cánh cửa ngôi nhà cô
Thoan đột ngột bị đẩy bung ra. Hình như chính mắt ông Thanh vừa thoáng thấy có
bóng ai đó lao vụt ra và biến mất trong màn trời tối sầm mắt. “Có chuyện gì
không biết?”. Ông Thanh chần chừ định quay đi. “Ban đêm ban hôm thế này mình chạy
đến cửa nhà người ta làm gì?”. Câu hỏi tự trong đầu khiến những bước chân của
ông Thanh chững lại. Hơi lui người, cách thức của những người toan tính quay về,
ông Thanh cảm thấy miễn cưỡng và rất buồn cười nếu như lúc này ông lại sát ngôi
nhà của cô Thoan. “Cô ấy đơn thân. Mình đến vào giờ này liệu có tiện không?
Mình tới nhà cô ấy liệu có ai nhìn thấy không?”. Những băn khoăn dồn dập tới
cùng những câu tự hỏi.
Tít sâu trong gò sấu con
chim lợn hình như biết ông Thanh đang chần chừ nên nó lại đập đôi cánh. Nó đập
đập liên hồi như nhắc ông không được bỏ cuộc. “Nhưng …Tốt nhất là quay về. Mình
lại đó không tiện lắm”. Trong óc ông Thanh còn có sự phân vân khi chắc vào giờ
này vợ và hai đứa con của ông đã về nhà. Họ sẽ nghĩ gì nếu thấy nhà cửa vắng
vẻ và nhất là không thấy ông đâu? Họ có biết là mình đang đứng trước cửa nhà cô
Thoan ở tận đỉnh dốc gò sấu không?
Quay xuống tới gần chân dốc
tự nhiên ông Thanh thấy trong bụng mình như có lửa cháy. Nóng và thôi thúc rất
khác lạ. Ông dừng lại và ngước mắt nhìn lên đỉnh dốc. Con chim lợn đậu sâu tít
trong gò sấu lại đập cánh. Tiếng đập cánh gọi ông quay trở lại. “Chắc phải có
gì chứ?”. Lại tự hỏi mình và như một bản năng, ông Thanh lao một mạch lên đỉnh
dốc.
Ông dừng trước cánh cửa
đã bung sẵn. Ánh đèn điện soi mập mờ trong căn nhà im phắc. “Cô Thoan cô ấy đi
đâu nhỉ?”. Ông Thanh vẫn đứng ngay cửa đưa vội mắt nhìn khắp lượt. Không một
bóng người trong nhà. “Hay là cô Thoan bị làm sao?”. Cũng có thể lắm chứ. Nhà một
mình dựng trên đỉnh dốc. Vắng vẻ và gió máy thế này cô ấy bị làm sao thì ai đến
mà giúp đỡ được. Cũng có thể lắm chứ. Một mình ở đỉnh dốc xa làng cảm mạo biết
lấy ai giúp. Một loạt những nghi ngờ đưa tới làm ông Thanh càng thêm túng nẫu.
Nhưng liệu có một mình ở đây liệu có giúp gì được không? Ông Thanh bước một bước.
Vừa bước ông vừa cất tiếng hỏi coi như là câu đánh tiếng. Ngộ nhỡ người ta tưởng
mình là kẻ gian, người ta la ầm lên có mà bễ mặt.
Cái nhà cô Thoan này kể
cũng lạ. Trong làng còn thiếu gì đất mà lại dựng nhà trên đỉnh dốc gò sấu cho
xa xôi, cho cách trở. Cái nhà cô Thoan này kể cũng buồn cười. Gái một con hớ hớ
như vậy mà ở một mình cũng liều thật. Chắc cô ấy ngại thân phận mình không có
chồng, lại bỗng dưng có con, ở cạnh đông người, người nói ra kẻ nói vào rách việc?
Ông Thanh lại đánh tiếng
thêm một lần nữa. Chẳng có tiếng nào đáp lại. Kỳ lạ thật. Rõ ràng mình thoáng
thấy bóng người vừa chạy từ trong nhà ra kia mà. Bằng chứng là cánh cửa mở bung
ra đấy thôi. Hay là cô ấy có việc gì gấp mà chạy đi không kịp khóa cửa? Ông
Thanh đứng bên ngoài chiếc tủ quầy tạp hóa, mắt ngó ngó. Cái tủ quầy bằng nhôm
kính, kê xoay ngang, hơi thụt vào nửa mét, mặt bưng kính hướng ra ngoài, nó
ngăn cửa ra vào với bên trong nhà. Cái tủ đựng dăm thứ hàng tạp hóa lặt vặt, mà
cô Thoan bán nhì nhằng, bán cho vui chứ trên đỉnh dốc gò sấu này mấy ai qua đấy
mà mua. Chính những chiều ra giếng Bà Cô lấy nước, đi qua đây ông đã nhìn thấy
cái tủ quầy hàng đó. Ông đã nhìn thấy cô Thoan gật đầu chào ông. Cô ấy còn đon
đả chào mời “Bác mua gì giúp em không?”.
Bỗng ông Thanh giật bắn
mình, đứng sững lại khi vừa bước vòng ra sau tủ. Ngay cạnh chân chiếc tủ quầy,
phía bên trong nhà, có một người đang nằm vật ngửa. Người ấy không mặc áo.
Chính xác hơn là chiếc áo bị rách toạc làm hở phần da bụng trắng phôm phốp. Cúi
mặt nhìn thật kỹ. Ông Thanh đã nhận ra đó chính là cô Thoan. Không lẽ cô Thoan
bị cảm. Rõ ràng là cô ấy bị cảm rồi nên mới nằm vật ngửa dưới đất chứ. Cô này
liều quá đi mất. “Đấy, gió máy bất chợt, rồi cảm mạo thế này nếu không có ai tới
kịp thì có giời cứu”. Miệng lẩm bẩm câu trách nhưng ông Thanh cũng cúi sát người
cô Thoan hơn.
Ông Thanh ngần ngừ định
quay ra cửa. Cô ấy trông như người không mặc áo thế này, mình động vào cô ấy tưởng
mình sàm sỡ thì nhục lắm. Ông Thanh ngần ngừ lui lại. Có thứ gì ươn ướt bàn
chân làm ông phải bận tâm. Ông nhấc chân lên, ánh đèn điện vàng ệch nhưng cũng
đủ để soi nhìn, ông Thanh nhận ra bàn chân mình đỏ chót. Ông giật mình đưa tay
sờ thử xem đó là thứ nước gì. “Máu!”. Ông Thanh dường như không tin vào mắt
mình nữa. Quanh chỗ cô Thoan nằm là một vũng máu đỏ tươi. “Máu còn mới!”. Bây
giờ ông Thanh mới hoảng thực sự. Hình như cô ấy bị chảy máu. Kinh nghiệm của
người đàn ông đã lớn tuổi và đã xây dựng gia đình nhiều năm cho ông thầm đoán
cô Thoan bị chảy máu. “Phụ nữ sau sinh cũng hay mắc chứng chảy máu cửa mình lắm”.
Bà Chiên có lần đã nói với ông như vậy. Đó là cái lần đâu như cách đây vài năm,
bên hàng xóm có cô gái đẻ bị băng huyết, máu chảy ồ ạt. Gia đình ấy đã tưởng mất
người đến nơi rồi. “Cô ấy bị băng huyết”. Ông Thanh tự nhớ lại câu chuyện và tự
khẳng định, ông cúi xuống lay gọi. Cô Thoan không hề có một động tĩnh nào cho
thấy cô còn tỉnh. Ông Thanh càng bấn loạn. Mình đàn ông đàn ang thế này biết gì
về bệnh của phụ nữ mà cứu giúp.
Ông Thanh đưa mắt dáo dác
tìm quanh xem xem có thể có cách gì không. thực ra lúc này ông Thanh có tìm được
thứ gì đại loại như bông băng chẳng hạn thì ông cũng chịu. Phụ nữ bị băng huyết
tức là máu chảy ra từ cửa mình. Máu chảy ra từ cửa mình thì băng bó như thế
nào? Mình cứ để tay ở đấy mà bịt để cầm máu thì ngượng chết. Cái ấy của vợ mình
đã đành, cái ấy của người khác thấy không ổn. Nhưng không lẽ cứ để người ta chảy
máu ồ ạt mà không tìm cách giúp?
Không gian như đặc quánh
lại. Thời gian như dài vô tận. Ông Thanh chỉ còn biết ngồi thụp lay vai thật mạnh
gọi cô Thoan tỉnh dậy nhưng ông càng lay gọi càng vô vọng. Cô Thoan nằm bất động,
cô đang thờ ơ trước mọi cố gắng của ông Thanh. “Làm gì bây giờ?”. Càng nghĩ
càng bấn. Đúng là đàn ông không có khiếu trong việc chăm sóc người ốm. Chợt ánh
mắt của ông bắt gặp phải một vật gì sang sáng cách chỗ cô Thoan đang nằm chừng
gần mét. Ông Thanh nhoài tay nhặt vội cái vật sang sáng đó lên. “Một con dao”.
Trên tay ông Thanh là một
con dao gọt hoa quả. Loại dao nhỏ, lưỡi nhọn và dài như lá lúa, cán dao bằng nhựa
màu vàng. Con dao trên tay ông dính máu thâm đỏ. Bấy giờ ông Thanh mới hú hồn
thực sự. Ông chăm chú nhìn khắp lượt người cô Thoan. Bên mạng sườn phải của cô
Thoan nhìn rất rõ có những vết như vết dao đâm. Máu chảy ri rỉ. Máu đã chảy
thành vũng đọng bên sườn của cô Thoan.
Ông Thanh hốt hoảng ra mặt.
Mặt ông cắt không còn giọt máu. “Cô Thoan vừa bị đâm chứ không phải bị chảy máu
cửa mình”. Tuy sợ hãi nhưng ông cũng lấy hết sức bình tĩnh ghé tai sát ngực cô
Thoan. Ngực lạnh toát và im phắc. Không một dấu hiệu cho thấy cô Thoan còn sống.
“Cô ấy chết rồi ư? Mình đến không kịp ư?”
Đứng phắt dậy đầy vô vọng,
ông Thanh tựa lưng vào chiếc tủ quầy nghĩ ngợi. Cánh cửa của chiếc tủ quầy đã bị
bật tung. Dưới đất, ngay chỗ chân ông đứng vung vãi mấy thứ hàng tạp hóa lặt vặt.
Dăm thứ hàng lặt vặt rơi vung vãi, rơi như nó vừa bị ai lục tung như tìm thứ
gì. Ông Thanh đi từ bàng hoàng này tới bàng hoàng khác. Ánh mắt ông dừng lại
trên chiếc giường độc nhất kê tít góc nhà. Bấy giờ ông lại thêm hốt hoảng. Trên
giường đứa con của cô Thoan đang nằm im. “Nó còn sống hay cũng đã chết như mẹ?”.
Vẫn nắm chặt con dao trên
tay, ông Thanh dò dẫm bước lại bên thằng bé. Cái bụng thằng bé đang phồng lên
thụp xuống đã cho ông cảm thấy nhẹ hẳn người. Thằng bé vẫn ngủ ngon lành như
trong căn nhà này chưa có chuyện gì xẩy ra.
Đi đi lại lại bên giường
thằng bé con đang ngủ. Ông Thanh đang suy tính trong đầu. Không biết là trước
tiên hẵng bế thằng bé này về nhà mình cho yên tâm đã hay cứ ở đây chờ đợi xem
thế nào. Cô Thoan chắc đã chết. Im lặng kéo dài như vô tận. Sự im lặng nghe rõ
từng hơi thở đang cuống cuồng trong ngực. Cuối cùng thì ông Thanh cũng nhớ ra.
Ông thục tay trái vào trong túi quần rút ra chiếc điện thoại di động. Màn hình
điện thoại vẫn đen ngòm. Lạ nhỉ, bà Chiên bà ấy về nhà không thấy ông đâu mà bà
ấy không gọi điện xem ông đang ở đâu? Chắc cái nhà bà này tiếc tiền nên không
dám gọi điện thoại đây. Chắc bà ấy chỉ nghĩ ông chạy quanh quẩn đâu đó nhà hàng
xóm nên chẳng gọi làm gì cho phí tiền.
Loay hoay tìm số máy cần
gọi. Ông Thanh run run bấm từng phím bấm. Một giây, hai giây rồi cả phút trôi
qua đầu bên kia mới có người lên tiếng. Ông Thanh khó nhọc nói không ra câu khiến
người bên kia cáu gắt. Máy phụt tắt. Ông Thanh lại run run bấm lại từng phím bấm.
Lần này thì ông đã bình tĩnh hơn đôi chút. Ông nói bằng giọng thở ngắt quãng.
“Cô …cô ….Thoan đã …đã… chết. Có…có ai tới …tới đây giúp …giúp tôi không…?”
Khi mấy người dân trong
làng chạy ùa đến nhà cô Thoan thì ông Thanh vẫn còn đứng trơ giữa nhà. Ông run
cầm cập khi nghe thấy những tiếng chân người chạy xồng xộc chạy tới. Những tiếng
bước chân chạy ồn ào. Những người đã bước vào trong nhà vô cùng kinh hoàng nhìn
thấy cô Thoan đang nằm vật ngửa dưới đất trong tình trạng như không mặc áo. Họ
càng kinh hoàng hơn khi thấy khắp trên quần áo người ngợm của ông Thanh là những
vết máu dính bê bết. Bàn tay phải của ông Thanh đang run lẩy bẩy dư dứ con dao
gọt hoa quả, con dao với những vết máu đã thâm sì.
Ai đó vừa thét lên một tiếng rất to kêu mọi người lui cả lại. Người ấy còn giang hai tay rộng ra theo cách định chống đỡ lại như định ngăn cản. Ông Thanh ngồi thụp xuống. Toàn thân ông chuyển màu da lạnh trắng như ma dại. Ông khóc tức tưởi. Khóc nghẹn trong cổ như một đứa trẻ tủi thân vì bị mẹ mắng oan.
Ngày thứ sáu sau khi bị bắt.
Ông Thanh lại được dẫn vào phòng thẩm vấn. Căn phòng vẫn tối om om như năm buổi
chiều trước. Chỉ khác là lần này người ta cho ông ngồi. Ông Thanh ngồi một
mình, hai tay tuy bị còng nhưng còn được đặt lên mặt chiếc bàn gỗ trống trơn.
Bên đối diện có một chiếc ghế có tựa lưng con đang bỏ trống.
– Thanh. Mày có muốn
nhanh được về nhà không?
– Có.
– Muốn nhanh được về thì
mau chóng nhận tội đi. Nhận tội sớm lúc nào nhanh về lúc đó.
– Không.
Ông Thanh thấy lạ. Suốt
năm ngày qua cái điệp khúc. Chiều tối bị lôi vào phòng thẩm vấn. Bị đứng kiểu
chới với, hai bên sườn có hai người công an xốc nách. Bị nghe những câu truy hỏi
dồn dập. Bị ăn những cái tát tai mảy đom đóm mắt. Bị bỏ đói. Và bị nhấm lạnh đến
tê đờ mặt mày. Đều như vắt chanh. Năm ngày, năm buổi chiều tối. Mỗi buổi chiều
nhập nhoạng tối hai tiếng đồng hồ chỉ được nghe và chỉ được trả lời “Có” hay
“không”. Nghe chán thì bị đưa vào buồng tạm giam của trại giam Kế. Đến đây thì
lại bị ăn đòn của bạn tù. Bị đứng liền tù tì suốt đêm mà hát.
Lòng lại đầy tủi thân.
Ông Thanh rơm rớm nước mắt. Từ bé đến giờ chưa bao giờ ông bị đối xử như thế. Từ
bé đến giờ chưa khi nào ông lại bị người ta bắt nạt một cách hành hạ thể xác đến
như vậy.
– Cái tên Thủ có gợi cho
mày tí gì không?
– Thủ Chằm?
– Mày cũng khôn lên rồi đấy.
Mừng như sắp chết đuối vớ
được cọc. Mặt mày ông Thanh giãn ra sung sướng. “Có người quen biết cũng hơn”.
Một chút nhận biết sót lại từ năm chiều tối trước đem lại cho ông tia hy vọng.
– Thủ Chằm?
Ông run run hỏi lại. Đầu
vẫn không dám ngẩng lên. Bên phía bàn đối diện có bóng người vừa kéo chiếc ghế
hơi lui ra và ngồi xuống. Người ấy chắc là đang nhìn ông chăm chú. Ông Thanh cảm
thấy ánh nhìn đó qua hơi thở còn vương mùi rượu từ bên kia phả nhẹ sang. Người ấy
im lặng như để ông Thanh trấn tĩnh lại. Cũng có thể là người ấy cho ông thêm ít
phút để suy ngẫm?
– Mày có đau lắm không?
– Có.
– Mày có nhận tội cho đỡ
bị đòn không?
– Không.
– Đừng dại. Tao nói thật.
– Có.
– Thế chứ.
– Có đúng là mày giết cô
Thoan không?
– Không.
– Lại thế rồi.
– Mày có nhớ năm nào
chúng mình gặp nhau trên đê không?
– Có.
– Mày có nhớ hôm ấy mày
thế nào không?
– Không.
– Sao nhanh quên thế. Muốn
uống nước không?
– Có.
– Có muốn tối nay lại về
Kế không?
– Không.
– Thế thì nhận tội đi.
– Tội gì?
– Mày không nhớ đã làm gì
ư?
– Không.
– Có nhớ gì về cô Thoan
không?
– Có.
– Thế chứ.
– Nhớ Thủ Chằm không?
– Có.
– Biết Thủ Chằm bây giờ
là ai không?
– Không.
– Có muốn biết không?
– Không. À có.
Sao hôm nay họ lại tỏ ra
nhẹ nhàng nhỉ? Lại còn dỗ dành nữa? Ông Thanh đã tưởng buổi chiều ngày thứ
sáu này ông sẽ lại nghe được những câu hỏi như năm chiều trước.
– Ngẩng mặt lên nhìn tao
này.
Ông Thanh từ từ ngẩng mặt
lên. Nói thực, nếu bất ngờ hay tình cờ mà gặp ngoài đường thì người kia có xưng
danh thì ông Thanh cũng không nhận ra. Ngồi trước mặt ông, ngồi chĩnh chệ trên
chiếc ghế có tựa lưng là một thiếu tá công an. Người ấy mỉm cười nhìn ánh mắt
ngơ ngác của ông vẻ khích lệ nhưng cũng hơi khiêu khích. Ông Thanh hơi cụp
nhanh mắt xuống trước ánh mắt rất gờm gờm của người ấy.
– Sao? Vẫn chưa nhận ra
Thủ Chằm ư?
– Thủ Chằm đó ư?
– Quả đất tròn mà Thanh.
Tao không ngờ lại gặp mày. Mày làm tao khó xử đấy.
– Khó xử?
– Ừ. Mà này, hôm ấy không
hiểu tại sao tao lại không đấm mày nhỉ. Đấm mày từ hôm ấy thì chắc đâu có ngày
hôm nay.
– Tôi không hiểu.
– Mày thì hiểu làm sao được.
Nói thật nhé.
– Tôi…
– Tao nói thật nhé. Mày
cũng liều lĩnh lắm.
– Không.
– Mày liều lĩnh từ bé mà.
– Không.
– Cứ từ từ mà nghe đã
Thanh. Mày liều lĩnh bởi cái thói vì gái ấy.
– Tôi không thế.
– Cãi rồi. Thế cô Thoan
thì là thế nào?
– Tôi không biết.
– Cô Thoan kể cũng nõn nà
thật. Gái một con cho con mắt phải mòn mà.
Ông Thanh đã phát ngán.
Những câu nói chẳng đâu vào đâu làm ông mỏi mệt. Bấy giờ ông mới ngắm kỹ. Quả
tình cái thằng Thủ Chằm ngỗ ngược ngày nào bây giờ trông khác hẳn. Thiếu tá Thủ
ngồi rất chĩnh chệ và nói với ông những câu nói thong thả đến phát mệt. Một người
đàn ông với khuôn mặt to, da mặt đỏ như vừa đi nắng về. Một người đàn ông trông
oai vệ trong bộ cảnh phục màu cỏ úa. Chắc anh ta bây giờ làm to rồi? Có khi còn
có trọng trách lớn nữa? Chắc quan trọng lắm đây? Ông Thanh ngập ngừng nói làm
thân bởi thấy hy vọng.
– Tôi không nhận ra ..ra
anh đấy.
– Lâu quá rồi còn gì. Mà
hình như ba mươi mốt năm thì phải.
– Anh nhớ kỹ thật đấy.
– Nhớ chớ. Chuyện ấy quên
sao được.
– Thế mà tôi quên mất.
– Đáng trách lắm. Nếu nhớ
thì đâu nên nỗi.
– Anh Thủ này.
– Mày cứ nói.
– Anh tha cho tôi đi.
– Cái gì. Tha á?
– Vâng . Tha cho tôi.
– Chỗ người quen cũ.Tao
nói thật nhé.
– Vâng.
– Mày có nhận tội không?
– Không. Tôi không làm gì
cả.
– Mày có nhớ năm hôm trước
như thế nào không?
– Có.
– Vậy thì nhận tội đi.
– Nhưng…
– Còn nhưng gì nữa. Mày
nhanh chóng nhận tội. Tao nhanh chóng xong việc.
– Nhưng tôi không làm.
– Thế theo mày thì ai?
– Tôi không biết. Lúc tôi
đến đã thấy thế rồi. Mà có gì lạ lắm.
– Ừ lạ thật đấy. Mày
không làm thế thì ai?
– Chắc không phải tôi.
Lúc tôi chạy đến có gì lạ lắm.
– Lạ nhỉ?
– Vâng.
– Thế thì nhận tội cho
nhanh đi.
– Anh Thủ này.
– Hả?
– Anh thương tôi.
– Thương mày? Nhưng cấp
trên của tao lại không thương tao. Thương mày thì tao chết à? Mày có nhớ vợ
không? Nhớ Chiên ấy?
– Có.
– Tiếc cho Chiên quá. Tao
nhớ Chiên là đứa con gái đảm và ngoan nhất làng Me hồi ấy. Hồi ấy con trai làng
tao cứ tiếc mãi. Tao càng thấy tiếc cho Chiên.
– ….
– Nhận đi. Rồi sớm được gặp
Chiên. Tao cũng muốn được gặp Chiên. Chẳng biết nếu giờ gặp lại Chiên nghĩ về
tao thế nào nhỉ?
– Không.
– Tùy mày. Hay là để tao
ra ngoài cho mấy người khác vào nói chuyện với mày. Nói như mấy hôm vừa rồi ấy.
– Không. Tôi không làm
chuyện ấy.
– Cũng ly kỳ đây. Tao hỏi
thật nhé. Chỉ có mỗi mình mày. Mình mày với con dao và thái độ sốt sắng cũng kỳ
lạ của mày. Không phải mày thì ai nhỉ?
– Tôi thấy có người hình
như chạy từ trong nhà ra.
– Mày có nhìn rõ là ai
không?
– Không. Tôi đoán vậy.
– Cũng khéo tưởng tượng lắm.
Đừng có mà qua mắt bọn tao.
– Tôi á?
– Ừ. Chỉ ký nhận đi. Đơn
giản là mày sẽ được gặp lại vợ con.
– Nhưng.
– Tao có ít thì giờ lắm.
Mấy người ngoài kia không đợi được đâu.
– Đơn giản thế thôi ư?
– Ừ. Tao chuẩn bị sẵn rồi
đây. Mày chỉ việc ký. Ký xong là xong.
Ông Thanh lặng đi giây
lát. “Ký xong là xong. Có gì ra tòa nói sau”. Không ngờ cũng đơn giản thật. Im
lặng tưởng như đếm được từng hơi thở. Phía bên kia bàn thiếu tá Thủ khoanh tay
trước ngực. Nét mặt cũng căng ra chờ đợi. “Anh Thủ anh ấy là người quen. Anh ấy
chắc sẽ nói giúp cho. Mình mà không nhận chắc hôm nay họ đánh mình chết mất”.
Tối hẳn. Căn phòng đã tối
đi một cách kinh khủng. Trong bóng tối không thể nhận ra một hình thù nào, tâm
can ông Thanh như lạc tới một nơi nào đó. Nơi đó chơi vơi và lạnh ngắt. Nơi đó
mù mù và sặc sụa âm khí. Ông Thanh bỗng thấy lóa mắt, ai đó vừa bật công tắc
đèn điện. Ánh sang vàng vọt đột ngột bừng tỏa tạo cho ông một cảm giác như vừa
đâu đây. Hình như ông đang đứng giữa nhà cô Thoan? Ông đứng vô hồn, trên tay
lăm lăm con dạo gọt hoa quả. Cô Thoan nằm vật ngửa dưới chân ông. Cô ấy đã chết.
Máu chảy ra và đọng lại thành vũng cũng ngay dưới chân ông. Một mình ông đang đứng
đấy bên cái xác của cô Thoan. Cô Thoan đã chết. Máu đỏ lòm dưới ánh đèn vàng vọt.
Có tiếng con chim lợn kêu đánh “éc” vào màn đen.
Ông Thanh ngẩng phắt ngước mắt lên, đôi mắt thất sắc, đôi mắt của kẻ hoảng loạn.
Ông Thanh khẽ đưa đầu
ngón tay đẩy nhẹ cánh cửa. Cánh cửa nhà cô Thoan mở thành một lối nửa
thân người. Êm ru không hề phát ra một âm thanh cọt kẹt nào. Nín thở
ngóng tai nghe ngóng. Trong nhà cô Thoan vẫn điềm nhiên đứng chải tóc trước tấm
gương treo trên tường. Yên chí là cô Thoan không biết. Cũng có thể là cô Thoan
đã biết có người vừa đẩy cánh cửa nhà mình nhưng cô giả tảng làm ngơ? Đàn bà
thường hay làm ngơ và giả tảng khi mà chính họ cũng đang chờ đợi. Ông Thanh nhẹ
nhàng hít một hơi thở dài làm vốn rồi nghiêng người lách qua cánh cửa. Cô Thoan
như tình cờ lại đứng xoay nghiêng. Qua phản chiếu trên tấm gương, ông Thanh
nhìn rất rõ bộ ngực mây mẩy với hai đôi núm vú hồng hồng. Đôi núm vú hồng hồng
đầy khơi gợi làm mặt ông Thanh đỏ lên xấu hổ. Sau cái xoay người cố khoe đôi
núm vú trên bầu ngực mây mẩy ấy cô Thoan lại đứng im tư lự. Hình như cô ấy cũng
đang chuẩn bị tư thế để đón nhận? Hình như cô ấy đang hơi lưỡng lự bởi cảm giác
có tiếng chân người vừa bước vào nhà.
Ông Thanh đã tiến thêm một
bước nữa. Vẫn nhẹ nhàng như bước chân của loài mèo. Lại đứng im nghe ngóng. Lại
tiến thêm một bước nữa. Ông Thanh đã lọt hẳn người vào trong nhà. Ngọn đèn điện
treo lủng lẳng bỗng lắc lư chao chao. Dấu hiệu cho thấy vừa có luồng gió thổi từ
ngoài thổi vào nhà qua khe cánh cửa mở hé. Ông Thoan hơi ngập ngừng. Ông đưa
tay lên cố ghìm những nhịp tim đang đập loạn xạ trong lòng ngực. Hình ảnh phản
chiếu trên tấm gương lại thêm một lần nữa kích thích. Trong tấm gương là một
người đàn bà đầy nhục dục với những biểu hiện khao khát rất rõ ràng. Ông Thanh
đã vòng qua chiếc tủ quầy. Ông đã mạnh dạn hơn và bước vòng qua chiếc tủ quầy.
Ông Chỉ còn cách hình ảnh trong tấm gương treo trên tường chừng một mét.
Đứng ở đây đã nghe rất rõ
từng nhịp thở của cô Thoan. Đã thấy ngây ngây mùi sữa thơm tỏa ra từ chính đôi
núm vú hồng hồng. Mùi thân thể đàn bà mà nhất là thân thể ấy vừa tắm gội xong
sao hút mũi đến thế. Ông Thoan đứng cách cô Thoan chừng một mét mà mê đi. Mùi
thân thể đàn bà từng giây từng giây cứ cuốn vào hai lõ mũi ông mời gọi. Một sự
mời gọi đến không thể cưỡng nổi.
Mụ mẫm quá hóa mê dại.
Ông Thanh đã tiến sát lưng cô Thoan. Chỉ cần một cái với tay nhẹ là ông đã chạm
tới cái mùi đang cuốn hút hai lỗ mũi ông. Chỉ cần một cái tay với nhẹ là ông đã
chạm tới hình ảnh đôi núm vú hồng hồng phản chiếu trên tấm gương. Cô Thoan bây
giờ như một pho tượng. Cô đứng yên lặng tỏ rõ hơn sự chờ đợi.
Thật nhẹ nhàng và chính
xác như được chuẩn bị trước. Ông Thanh từ phía sau lưng thọc luồn hai tay qua
sườn cô Thoan. Ông luồn tay đúng lúc cô Thoan vừa giơ hai tay lên vén vén mớ
tóc cuốn ngược lên đỉnh đầu. Một sự kết hợp ăn ý đến hoàn hảo không chê vào đâu
được.
Như một lời mời được phát
đi và được đón nhận. Ông Thanh đã vòng hai tay qua hết thân người cô Thoan. Lại
như một sự kết hợp hoàn hảo nữa. Hai bàn tay của ông Thanh nhẹ nhàng đặt úp lên
đôi bầu vú của cô Thoan. Đôi bầu vú mà ba buổi chiều nay chiều nào ông cũng
nhìn trộm qua khe cửa. Đôi bầu vú mà những chiều đứng nhìn trộm ông đã thầm ao
ước được đặt tay lên đó. Giờ thì nó đang gọn yên trong bàn tay ông. Ông Thanh
nhắm mắt như để tân hưởng và co những ngón tay lại. Hai bàn tay ông đặt khít ôm
trọn đôi bầu vú. Một cảm giác rần rật như điện lan truyền từ đôi bầu vú cô
Thoan tới tận bụng ông Thanh. Cảm giác khoái cảm mới lạ níu chặt đôi bàn tay
ông nơi đôi bầu vú cô Thoan.
Không phản ứng nào khác.
Cô Thoan vẫn để yên cho đôi bàn tay ông Thanh đặt khít lên đôi bầu vú của mình.
Cô đang lẫn lộn tưởng như đó là hai bàn tay của chính mình. Cô đang lầm tưởng rằng
chính là cô đang tự nắm bóp đôi bầu vú của chỉnh mình.
Cho tới khi ông Thanh
vòng cả người ôm ghì lấy cả thân hình của cô Thoan, ông phả những luồng hơi thở
gấp gáp và nóng hổi lên bờ vai của cô, bấy giờ cô Thoan mới giật mình tỉnh khỏi
cơn mê hoặc. Cô Thoan giật mình tỉnh mê và cựa quậy vùng vằng cố thoát khỏi hai
vòng tay ngày một siết chặt. Cô đã quay người được và hoảng hốt nhận ra có người
đàn ông lạ đang ôm ghì lấy mình. Bằng một phản ứng của bản năng, cô Thoan vươn
người vùng vẫy mạnh hơn. Hình như sự phản ứng của tự vệ cùng với sức khỏe tràn
trề của người đàn bà sau kỳ sinh nở đang mãnh liệt. Cô Thoan đã vùng người
thoát được đôi vòng tay ôm siết của ông Thanh. Cô nhao người về phía chiếc tủ
quầy. Với một người đang sống một mình giữa đỉnh dốc vắng lặng thì bản năng bao
giờ cũng quyết liệt. Cô Thoan đã nhanh tay hơn ông Thanh khi tay cô đã với tới
con dao gọt hoa quả mà cô đã đặt nó trên mặt chiếc tủ quầy. Cô nhẩy lùi sang một
bên giữ khoảng cách giữa cô với ông Thanh đủ để ông không ôm cô được nữa. Cô
Thoan thét lên rất to như một cách để xua đuổi và khua khua con dao về phía ông
Thanh.
Mũi dao nhọn, lại ở trong
tay của một người có phản ứng bất ngờ đang sợ hãi mà khua khoắng loạn xạ, mũi
dao đã làm xoạc rách vạt áo của ông Thanh. Như một sự cùng đường của kẻ dâm cuồng
bị bại lộ, ông Thanh bỗng trở nên quẫn trí. Ông lao đến bất chấp mũi dao vẫn dứ
dứ về phía mình, ông ôm chặt lấy người cô Thoan. Và trong trạng thái đang kích
động mạnh ông Thanh xô cô Thoan ngã ngửa ra. Con dao văng khỏi tay cô Thoan và
rơi cách đó một đoạn nhưng đủ để ông Thanh nhoài tay với được.
Cho tới khi ông Thanh ngừng
tay thì cô Thoan đã nằm im. Máu phun ra xối xả. Máu phun chảy đọng thành vũng
ngay chỗ cô Thoan nằm.
BẢY
Trại giam Hoàng Tiến.
Chớm hè năm 2009.
Cơn mưa rào trút xuống tầm
tã suốt hơn hai tiếng đồng hồ đầu giờ sáng nay đột ngột chấm dứt. Mưa tạnh hẳn.
Nắng hè loang nhanh khắp các triền đồi. Quanh đây đưa lại tiếng lách rách lách
rách của nước mưa chưa kịp thấm hết đang rồi hối hả lách xuyên qua từng gốc cỏ.
Nước đọng chảy thành các dòng nhỏ rồi men theo những khe kẽ trên mặt đất xuôi
xuống chân đồi. Những chùm lá vải theo gió đong đưa trước nắng, chúng có màu
xanh mướt bởi vừa được tắm táp xong nhìn thích cả mắt. Không gian quyện một mùi
hương hoa vải mới nở dìu dịu và sâu lắng lẫn bên hương bạch đàn chanh thoảng hoắc
tạo nên thứ vị nồng ấm và dịu ngọt.
Ông Thanh như vừa bước ra từ ký ức, mắt háo hức nhìn cảnh vật xung quanh đầy lạ lẫm. Lâu lắm rồi ông mới có lại một cảm giác khoan khoái như thế. Nhưng cảm giác khoan khoái nhanh chóng biến mất nhường chỗ cho sự chán chường thường ngày. Từ góc sân này nếu nhìn ra đằng trước ông có thể hình dung ra đoạn đường nối từ quốc lộ 18 dẫn vào trại giam Hoàng Tiến. Hôm được đưa tới trại, qua ô cửa song sắt trên chiếc xe hòm bịt bùng dẫn giải tù nhân, ông đã he hé nhìn thấy con đường đó. Một con đường đất đỏ chạy song song với một con mương thủy lợi, đường đất cao cao giống như một con đê khiến ông bùi ngùi. Cảm giác như được đi trên triền đê sông Thương ở làng Me làm ông thấy nao lòng. Con đường chạy bên con mương chừng hơn hai cây số cho tới khi con mương thủy lợi chạm đầu một xóm nhỏ bên chân khu đồi bạch đàn và đổi hướng thì xuất hiện một ngã ba nhỏ. Ngã rẽ trái ngoặt vào trại giam Hoàng Tiến nằm sâu tít bên trong khu đồi bạch đàn và ngã rẽ phải dẫn vào một ngôi làng có tên gọi là “Làng Phong” ở tận phía cuối cánh đồng. Sau này ông Thanh nghe những người tới đây trước ông nói rằng. “Làng Phong” vốn đầu không phải là một cái tên làng. Mà làng phong là một chỗ mà những người mắc bệnh phong các nơi tụ về sinh sống, lâu ngày tụ thành một ngôi làng và tự nhiên được gọi thành tên. Một đằng là nơi giam giữ tù nhân, còn một nơi là chốn cho những người mắc bệnh phong trú ngụ. Thực cảnh như một mà hai như hai mà một. Đều là chỗ cho những con người bị xã hội ghét bỏ.
Nắng đã nhanh chóng chiếm
lĩnh bầu trời và tràn ngập khắp các triền đồi. Dậy tiếng ong đập cánh bay vè vè
quanh những tán lá vải. Xa một chút, ở phía sau lưng là dẫy núi Đông Triều mù
mù sương khói. Quê ông, tỉnh Bắc Giang ấy, ở mãi phía sau dẫy núi mù sương kia.
Sau vài động tác vươn vai ông Thanh thấy dễ chịu trở lại. Hình như cảm giác như
vừa được nhìn thấy quê hương đã cho ông sự dễ chịu đó? Dạo này ông không còn
đau mỏi chân tay như mấy năm trước nữa. Có thể gần năm năm ngồi tù đã cho ông
cái gọi là sự thích ứng với hiện tại? Có thể buổi sáng hôm nay tiết trời chuyển
tích cực đã cho ông những cảm giác thư thái? Mọi cái đều có thể và mọi thứ đều
có thể. Thực ra mấy tháng gần đây ông Thanh thường xuyên được ra ngoài sân phơi
nắng nhiều hơn. Mỗi tuần một lần vào ngày thứ hai đầu tuần. Lý do chính mà ông
có được điều đó cũng bởi gần năm năm qua trong trại giam này ông là một trong số
những phạm nhân có thái độ cải tạo tốt nhất. Không kêu ca phàn nàn. Không nổi
sung bất chợt rồi chửi bới lung tung. Không cãi cọ hay đánh lộn nhau.
Không chậm chạp hay giả vờ đau yếu. Tất cả những thái độ đó của ông Thanh đã được
anh cán bộ quản giáo trông coi buồng giam số 6 ghi nhận.
Nắng lên sau mưa thật
khác lạ. Bầu trời cao xanh và trong veo. Gió mơn man thổi và không khí cũng trở
nên trong veo. Cảm giác dễ chịu trở lại khiến ông Thanh tự nhiên thấy hứng khởi.
Ông Thanh rút chiếc vỏ lon bia từ trong túi áo ra và từ tốn đặt nó xuống cạnh
chân mình một cách cẩn thận quá mức. Ông đặt nằm chứ không đặt đứng. Hình như
ông sợ đặt mạnh hay đặt đứng sẽ làm chiếc vỏ lon bia đó đổ kềnh và thêm gió thổi
nó sẽ lăn trôi nhanh theo sườn đồi thoải thoải của khoảng sân trước trại. Đúng
vậy, chiếc vỏ lon bia nhẹ tênh khẽ chùng chình theo hình dạng tròn vốn có, nó
chùng chình lăn nhẹ chưa nổi một vòng rồi khựng lại bên một hòn đá nhỏ cỡ chỉ bằng
viên bi ve. Ông Thanh đã khôn khéo đặt chiếc vỏ lon bia cạnh chỗ có một hòn đá
nhỏ đó, đấy là vật chèn tình cờ nhưng lại có dụng ý.
Chiếc vỏ lon bia này vốn
nằm lăn lóc cạnh bờ cỏ bên khoảng sân trước mặt buồng giam số 6, ai đó chưa kịp
thu dọn sau một cuộc liên hoan của cán bộ trại, là một “đặc ân” mà anh cán bộ
quản giáo còn khá trẻ có tên là Kiên đối với ông Thanh. Người cán bộ quản giáo
phụ trách buồng giam số 6 ban đầu chưa hiểu ông Thanh định làm gì. Quy định
trong trại giam nêu rõ, không cho phép bất cứ một người tù nào được đem những đồ
vật bằng sắt hay thứ gì cưng cứng vào trong buồng giam, nhưng lần này thì phá lệ.
Anh cán bộ quản giáo còn khá trẻ nên chắc dễ động lòng, sau khi nghe ông Thanh
dụt dè trình bày mục đích của mình trong thái độ có vẻ không chút hy vọng, ông
nói bằng cái giọng như chực khóc đã làm anh đồng ý. Lúc ấy ông Thanh đứng rập
rình trước cửa buồng giam, ông chưa vào trong buồng giam ngay như mọi bữa sau
khi đã hết giờ ra ngoài, ông đứng trước mặt anh cán bộ quản giáo cất giọng rụt
rè nhưng đầy năn nỉ, ông xin anh cho phép mình được giữ nuôi con bọ ngựa non
cùng lời thỉnh cầu được đem vào buồng giam chiếc vỏ lon bia. Nhìn bộ mặt tồi tội
cùng mục đích hết sức đơn giản là xin giữ nuôi con bọ ngựa non của ông Thanh;
anh cán bộ ngần ngừ suy nghĩ, khẽ rướn mắt qua vai ông Thanh để nhìn vào sâu
tít trong buồng giam để kiểm tra, thấy vẻ ôn ổn, thấy bên trong không có biểu
hiện nào đặc biệt thì anh gật đầu. “Lần đầu và lần cuối đấy nhé”.
Ông Thanh mừng hơn trẻ
con được mẹ đi chợ về đưa cho mẩu quà. Ông lắc lắc mãi bàn tay anh cán bộ quản
giáo để nói lời cảm ơn. Thực ra anh quản bộ quản giáo không lấy làm lo lắng cho
hành động của ông Thanh. Ở trại giam nào cũng vậy. Nhất là những trại giam được
giao nhiệm vụ giam giữ những tù nhân phải thụ án cao, thường người tù hay xin
cán bộ quản giáo cho những đặc ân. Khi thì là một hơi thuốc lá. Khi thì là nhờ
gửi mấy dòng thư. Chẳng có người tù nào đi xin một đặc ân khác lạ như ông
Thanh, được nuôi một con bọ ngựa non. Trong thâm tâm anh cán bộ quản giáo thì
không chóng thì chầy con bọ ngựa non này sẽ chết và ông Thanh thể nào cũng phải
nghĩ cách đem chiếc vỏ lon bia rỗng ra ngoài bờ cỏ mà thôi. Cho ông ta tí chút
gọi là được thỏa nguyện cũng là cách để ông ta cải tạo tốt.
Ông Thanh đứng yên vài
giây, mắt đăm đắm nhìn chiếc vỏ lon bia đã nằm an tọa cạnh viên đá nhỏ. Đúng ra
ông làm như thế cũng là để con bọ ngựa đang ở trong đó được ổn định sau “chuyến
công du dập dình trong túi áo”. Hình như phải như vậy ông mới yên tâm. Còn sớm,
mỗi lần người tù được ra ngoài sân phơi nắng chừng hai mươi phút nên ông Thanh
không vội vã. Một chiếc vỏ lon bia không có giá trị gì với người khác nhưng với
ông Thanh thì nó vô cùng quý giá. Sau khi được phép của anh cán bộ quản giáo,
ông Thanh hí hửng mang vào trong buồng giam. Chính ông đã dành cả buổi sáng hôm
đó để ngồi bệt dưới sàn buồng giam, nhẹ nhàng mài mài phần đầu của chiếc vỏ lon
đó. Ông mài mài vừa độ để có thể cậy phần đầu vỏ ra được để làm thành một cái nắp
vỏ lon mở ra lắp vào vừa khít mà không hề phải cắt gọt hay đục rập. Hài lòng với
kết quả của mình, ông Thanh mới thong thả nhẹ nhàng thả con bọ ngựa non vào
trong đó. “Mày sẽ ở trong đó”. Ông Thanh nói với con bọ ngựa và ghé mắt nhìn
vào trong ruột vỏ lon bia qua lỗ hở mà phần giật nắp lon bia để lại. Thật hoàn
hảo.
Yên tâm nhìn khoảng trời
trong veo đến mát mắt, ông Thanh hít một hơi thở dài. Bao giờ cũng vậy, ông
Thanh hít một hơi thở thật dài ngỡ luồng khí vào sâu tới tận dạ dày rồi mới nít
thở nhẹ nhàng cậy nắp chiếc vỏ lon bia. Ông vẫn nít thở như vậy mà từ từ
nghiêng dốc phần đầu đã mở của chiếc vỏ lon, ông dốc dốc thật từ từ để con bọ
ngựa tự chui ra khỏi chiếc vỏ lon bia. Mọi động tác đều cẩn thận đến chậm chạp.
Cũng như chủ nhân của
mình, con bọ ngựa sau khi chui ra khỏi chiếc vỏ lon, nó không nhấc những chiếc
chân dài của mình để tạo ra một bước đi đầu tiên, nó ngẩng đầu đứng thẳng như
cũng đang vươn người lấy lại tư thế, bởi suốt tuần nó bị nhốt khòng khòng trong
lòng vỏ lon bia. Mới qua mấy tháng mà con bọ ngựa đã lớn trông thấy. Bộ cánh mỏng
tơ ngắn cũn ngày nào giờ đã dài chấm đuôi. Đôi kiếm càng ngỡ chỉ chực gẫy giờ
đã cứng cáp. Con bọ ngựa sau khi đã lấy lại được tư thế dáng hình của mình thì
nó trông khá vẻ oai vệ, nó vươn vươn và ngoay ngoáy đôi kiếm càng trước không
khí một vài lượt về phía trước như để tỏ sự lẫm liệt của mình và tỏ rõ sức mạnh
của đôi kiếm càng rồi mới hạ xuống rất khiêm tốn. Nó đứmg yên lặng trên đám cỏ,
không hề cúi đầu ăn nhanh thứ cỏ mới non sau mưa. Nó đứng yên lặng như chủ nhân
của nó đang đứng ngay đó rất lặng yên. Rất lạ, con bọ ngựa này không hề tỏ dấu
hiệu sẽ bước đi nữa hay đập đôi cánh mỏng như tờ giấy để chực bay đi. Cũng có
thể suốt mấy hôm bị nhốt trong chiếc vỏ lon bia con bọ ngựa này cũng cuồng chân
bó cẳng. Nó cuồng chân bó cẳng nên không thể cất mình bay lên được. Nó cuồng
chân bó cẳng nên không thể bước đi tiếp được. Nó đứng đó yên lặng nhưng khẽ run
rẩy thân mình trước làn gió thổi qua chân, không bước đi và cũng không bay đi.
Con bọ ngựa đứng song hàng với chủ nhân của mình và lia lia đôi mắt to tròn
nhìn cảnh vật xung quanh.
– Rước cái của nợ ấy làm
gì cho mất thời giờ
– Anh bảo cái gì ạ?
– Tao thấy mày cũng lạ.
Thân mình lao tù lại rước thêm một con bọ ngựa tù lao làm gì. Tao á. Được ra
ngoài thế này thì tranh thủ mà hít tí khí mà ngắm tí trời. Đợi lúc hết giờ trở
lại trong kia nằm chờ qua ngày.
– Nhưng con bọ ngựa này lạ
lắm anh ạ.
– Lạ cái cóc khô. Nhưng
sao ngần bấy ngày rồi mà nó chưa chết nhỉ?
Người bạn tù cùng ra
ngoài sân sáng nay với ông Thanh là người không hề xa lạ. Một người đàn ông
dáng cân đối, cao hơn ông Thanh nửa cái đầu và chắc cũng cùng tuổi với ông
nhưng sự từng trải đến uy quyền được thể hiện qua đôi chân mày díu vào nhau và
đôi mắt sâu luôn nhìn mọi thứ xung quanh rất lạnh lùng. Ông ta nhìn bề ngoài có
vẻ lụng thụng trong bộ quần áo sọc đen nhưng cơ bắp chân tay của ông ta đủ làm
ông Thanh phát ngại. Chính ông ta là người đã cho ông Thanh biết thế nào là sức
mạnh của cơ bắp ngay trong cái đêm đầu tiên ông Thanh “xộ khám”. Người đàn ông
trong bóng đêm đã ôm diết lấy cả người ông Thanh mà huých huých vào mạng sườn,
huých huých vào mông ông Thanh những cú huých huých hối hả. Mãi mấy ngày sau,
nghĩa là khi hai người đã tạm quen quen thì người bạn tù này mới nửa đùa nửa thật
nói cho ông Thanh biết vì sao mình lại có những hành động kỳ quái chưa có tên gọi
ấy. “Thằng tù nào chả vậy. Như tao với mày ấy. Biết đến khi nào mới được gần vợ.
Không làm thế nó bức bối lắm”. Ông Thanh ngượng chín cả mặt như chính ông là
người đã làm cái hành động kỳ quái đó. Ông ngượng nhưng không dám “từ chối” cái
hành động đó. Nỗi sợ bị đánh còn ám ảnh nhất là nỗi sợ không làm hài lòng những
người bạn chung tù.
– Mày chắc còn hy vọng
cái gì.
– Anh hỏi gì ạ?
– Nẫu. Tao không hiểu sao
mày cứ vâng dạ ngoan ngoan thế. Đã gọi là thằng tù với nhau rồi thì trên dưới
làm gì có.
– Nhưng…
– Mày biết tao thế nào
không?
– Dạ. Em không biết.
– Có tao ở đây và chơi với
mày những thằng khác phải tránh đấy.
– Vâng ạ. Em biết ơn anh
lắm.
– Lại khuôn phép rồi. Tao
có nói là mày ngoan ngoãn với tao đâu.
– Thế là gì ạ?
– Mày có nhìn thấy cái
này không?
Người bạn tù vén tay áo
lên. Thật hiếm lại có môt người nằm tù mấy năm lại có những cơ bắp còn chắc đến
thế.
– Sức mạnh của tao đấy.
– Dạ em thấy đúng thế ạ.
– Lại một thằng ngố nữa.
Thái độ của mày ngố lắm. Tao bắt đầu nghi ngờ rồi đấy.
– Không ạ. Em không dám.
– Tao có nói nghi ngờ cái
sự “ngoan ngoãn” của mày đâu. Tao nghi ngờ cái khác kia.
– Dạ. Em đâu có.
– Thôi mày cứ lo chuyện
con bọ ngựa của mày đi. Tao còn theo dõi tiếp. Khi nào thật chắc tao sẽ cho mày
biết.
Người bạn tù quay đi. Ông
ta cảm thấy đã phí thời gian khi đứng nói chuyện với ông Thanh. Ông ta lảng ra
một góc sân và ngồi xuống. Ngồi khoanh chân bằng trên nền sân. Hai bàn tay ông
tay đặt ngửa chồng lên nhau. Dáng ngồi thẳng. Mắt nhắm lại. Toàn bộ thân hình
ông ta tập trung vào sự thu hút khí trời. Với ông ta thì thời gian lúc này chẳng
gì quý hơn là tranh thủ hít thở bầu không khí thật sự. Lát nữa vào trong kia chỉ
còn ngửi thấy mùi thân thể của những người tù lâu ngày không được tắm rửa cẩn
thận, nó hôi mù mù đến lợm giọng.
Ông Thanh ngần ngừ liếc
nhìn trộm người bạn tù đang ngồi như người ngồi thiền cánh đó không xa, ông
chưa dám làm công việc của mình. Câu nói của người bạn tù làm ông chợt hai hãi
như sắp phải chịu một thứ gì đó. Người này thật lạ? Ban đêm là ôm diết lấy người
mình một cách hùng hục như làm chuyện ấy với vợ vậy. Đến sáng thì lại dửng dưng
như chưa hề có chuyện gì xẩy ra. Hôm nay ông ta nói “nghi ngờ” là nghĩa làm
sao? Tuy mải chăm sóc cho con bọ ngựa nhưng lòng dạ ông Thanh thấy rối bời. Những
tưởng đã qua nỗi ám ảnh về những ngày ông bị triệu lên công an huyện thẩm vấn.
Những tưởng đã qua nỗi lo lắng về những trận đòn do bạn tù gây ra. Ông Thanh lo
sợ điều gì sẽ xẩy ra nên vội vàng đẩy đẩy ngón tay cố lùa con bọ ngựa chui trở
lại vào trong chiếc vỏ lon bia. Thật lạ lùng. Con bọ ngựa ngúc ngoắc đôi kiếm
càng rồi giương lên như chống đối. Con bọ ngựa lui lui những chiếc chân gai cào
tỏ ý không muốn vào trong chiếc vỏ lon. Nó ngơ ngơ đôi mắt to tròn và trong như
giọt sương nhìn thẳng vào mắt ông Thanh. Rất lạ lùng. Ông Thanh hơi hốt mà dừng
ngón tay đang run run lại.
– Không có gì phải sợ.
Không tưởng tượng được điều
gì đã và đang xẩy ra. Ông Thanh ú ớ, mắt mờ dại đi. Nắng sau mưa sáng rực rỡ
khiến ánh nhìn của ông cũng bị nhòe đi. Con bọ ngựa thôi nhìn vào đôi mắt của
ông Thanh. Nó quay đôi kiếm càng khua khua lên trời như thách thức những làn
gió đang thổi sát mặt đất. Ở trên triền đồi gió thổi luôn cọ sát mặt đất, thổi
làm bay dạt những chiếc lá cỏ non. Như sợ không kịp, ông Thanh vơ tay bứt bứt
những chiếc lá cỏ non nhất nhét vội vào trong chiếc vỏ lon bia. Hàng tuần ông đều
bứt cỏ cho vào đó. Khẩu phần ăn của con bọ ngựa từ hôm nay cho tới sáng lần sau
ông mới được ra ngoài sân.
Giọng nói không biết từ
đâu đưa tới đó ông Thanh đã từng nghe. Chỉ khác ông đã từng nghe vào lúc ban
đêm. Lúc đó trong buồng giam chỉ vang lên thứ âm thanh duy nhất là những tiếng
ngáy như sấm rền của những người bạn tù. Đêm đầu tiên xin được nuôi con bọ ngựa
ông đã cẩn thận đặt chiếc vỏ lon bia ngay sát bên cạnh gối. Ông chỉ sợ ngủ quên
ngộ nhỡ người bạn tù nằm bên cạnh ôm diết lấy mình mà đè bẹp chiếc vỏ lon bia
thì con bọ ngựa sẽ chết lòi ruột. Ông đặt nó bên cạnh gối những phía trên gần đỉnh
đầu. Cẩn thận vẫn hơn vì nếu ông bị người bạn tù đó lại ôm diết thì chiếc vỏ
lon cũng không sao.
Nửa đêm im ắng, ông Thanh
vẫn chưa ngủ được. Tự dưng có con bọ ngựa khiến ông thấy bồn chồn. Thấy mình phải
có trách nhiệm nuôi giữ nó. Đó là niềm an ủi đối với ông cho qua ngày đoạn
tháng. Đêm chìm sâu trong tiếng ngáy của những người bạn tù. Ông Thanh nhẹ
nhàng tranh thủ lúc người bạn tù hay ôm diết lấy người mình giờ đã lăn ra ngủ mới
dón dén kéo chiếc vỏ lon bia lại. Ông hơi nghiêng nghiêng vỏ lon bia nghe
ngóng. Trong chiếc vỏ lon bia, con bọ ngựa chừng như biết chủ nhân của mình
đang có ý kiểm tra bèn gài gại nhè nhẹ những chiếc chân gai cào của mình. Kê
sát bên tai, tiếng gài gại chân của con bọ ngựa đủ để ông Thanh biết rằng con bọ
ngựa vẫn còn sống. Ông hé mắt nhìn qua chỗ giật nắp bia hy vọng nhìn thấy rõ
con bọ ngựa. Trong đó tối mù mù.
Bất chợt thoảng xa vời một
giọng nói chỉ mình ông nghe thấy. Giọng nói khẽ khàng đủ cho ông biết là có âm
thanh đang vọng từ trong chiếc vỏ lon bia ra nhưng ông không thể nghe được giọng
nói ấy đang nói gì. Một chút hồ nghi lẫn lộn làm ông thấy lạnh lưng. “Có lẽ
mình tưởng ra thế”. Ông Thanh tự vẫn và ngủ thiếp đi.
Vài ngày rồi vài tháng. Hễ
đêm xuống sâu là ông Thanh lại tỉnh dậy. Ông dón dén kéo chiếc vỏ lon bia lại
sát đầu mình. Thời gian hình như cũng dần định hình. Thứ âm thanh ban đầu mà
ông Thanh ngỡ là tiếng chân con bọ ngựa gài gại vào thành vỏ lon cũng đã rõ
ràng. Nó gài gại như thứ âm thanh nghe quen quen. Cố nặn óc để nhớ, cuối cùng
ông Thanh cũng nhớ ra đó là tiếng rào rào của đoàn bộ đội hôm nào hành quân dưới
mưa mà ông đã thấy. Lần này mắt không nhìn được những tiếng rào rào của nước
mưa rơi bồm bộp lên những tấm vải mưa. Tiếng rào rào của những bước chân lép
nhép cất từng bước nặng nhọc ngược lên đỉnh dốc. Tiếng rào rào của những hơi thở
gắng gượng. Đoàn bộ đội đã tới đỉnh dốc. Ông Thanh đã nhìn thấy cha mình. Cha của
ông quay mặt lại phía ông giơ giơ ngón tay như đang vẫy.
Hốt hoảng, ông Thanh chồm bật dậy. Thì ra ông vừa nằm mơ. Nhưng thực là lạ. Chỉ từ hôm ông nuôi con bọ ngựa trong chiếc vỏ lon bia thì những âm thanh nghe quen quen kia mới trở lại. Thực là lạ, những âm thanh đó chỉ vọng lên mỗi mình ông nghe thấy
Người bạn tù nằm cạnh ông
Thanh thì ra cũng tuổi Sửu như ông. Đó là một người có bản tính khác hẳn với
ông Thanh. Ông ta không âu sầu như ông Thanh. Ông ta không có nỗi sợ hãi lẩn quất
như ông Thanh. Một người luôn tỏ ra có bản lĩnh trong mỗi hành động. Những ngày
tháng nằm bên người bạn tù ấy tự nhiên ông Thanh thấy như có “chỗ dựa”. Không
phải vì những cái ôm diết tới nóng bỏng sau lưng mà có một điều gì đó từ ông ta
truyền tới. Nhưng sáng nay ông ta nói “nghi ngờ” là nghĩa làm sao? Ông Thanh
chưa ngủ được. Câu nói tưởng chơi chơi vậy mà nó làm ông phải bận tâm. Hình như
người này đọc được suy nghĩ của người khác? Hình như người này biết được sự thật
mà chính ông không nghĩ ra.
Đêm rất sâu. Ngoài khoảng
sân trước cửa buồng giam hương hoa vải luồn theo gió tới chỗ ông nằm đem theo cảm
giác thân thuộc làm ông Thanh thấy nhơ nhớ như đang nhớ một điều gì mà ông
không nhớ nổi. Ở trại giam Hoàng TIến này ban giám thị trại đã bắt buộc những
người tù thụ án thấp, những người tù phạm tội không phải là tội trọng hoặc những
người tù cải tạo tốt, vào công việc lao động hàng ngày như một liệu pháp cho
công tác cải tạo, lại đồng thời cải thiện đời sống cả trại. Chính khu đồi đầy bạch
bàn cao vút sau lưng các buồng giam là công sức của những người tù. Chính những
gốc vải được trồng thành từng dẫy thẳng đẹp trong khu vườn trước mặt mỗi buồng
giam cũng là công sức của những người tù. Ông Thanh đã vài lần được phép ra
ngoài và được tham gia vào công việc chăm sóc những thứ cây đó. Thu năm ngoái,
dẫy vải cho lứa bói quả dầu tiên. Những người tù như ông dĩ nhiên đã được hưởng
đôi chút thành quả đó. Đang mơ màng tận hưởng hương hoa vải trong đêm bỗng người
bạn tù nằm bên cạnh khẽ cựa mình. Ông Thanh cảnh giác nhưng trong bụng đã sẵn
sàng đón nhận những vòng tay ôm diết lấy người mình như mọi đêm.
– Mày không ngủ à?
Tiếng hỏi làm ông chột dạ.
Vẫn nằm ngửa, hai tay chắp trên bụng, người bạn tù lại cất tiếng hỏi.
– Tao biết mày không phải
thế.
Một câu hỏi nhỏ nhưng giọng
từ tốn không hề làm phiền những người tù khác cùng buồng giam cũng đủ cho ông
Thanh biết người bạn tù đó đang hỏi mình. Ông cẩn thận hỏi lại.
– Anh bảo sao cơ?
– Trông cái tướng nhát chết
của mày, trông cái mắt ngơ hiền của mày và nhất là nhìn thái độ chăm chút của
mày với con bọ ngựa, tao biết mày không phải như thế.
– Em không hiểu.
– Mày không hiểu là phải.
Thoáng dừng vài giây người
bạn tù lại nói tiếp.
– Nếu mày biết thì mày
không thế.
Ông Thanh vẫn chưa hiểu.
Nín lặng để suy nghĩ nhưng càng nín lặng ông lại càng lâm vào ngõ cụt.
– Mày có giết người ta
đâu mà nhận.
Hoảng sợ thực sự. Năm năm
rồi ông Thanh đã ngỡ quên được câu chuyện đó không ngờ đêm nay người bạn tù này
lại khơi lại. Trong tù đã có luật bất thành văn là những người tù chẳng bao giờ
tự nhắc lại chuyện mình đã làm và chẳng khi nào hỏi han nhau về quá khứ. Đó là
điều cấm kỵ bởi hễ những ai đã vào đây thì chẳng có ai là người tốt đẹp cả. Câu
nói đầy tính khẳng định của người bạn tù trong đêm nay khiến ông hoảng sợ. Ông
sợ phải nhớ lại và sợ phải nói lại chuyện cũ.
– Thôi mày ngủ đi. Ngủ
say vào.
Người bạn tù quay mặt đi
ngủ tiếp. Ông ta thật dễ ngủ. Vừa quay đi đã cất tiếng ngáy ầm ầm làm ông càng
thấy phân vân. Câu nói của ông ta khiến ông bắt đầu nghi ngờ lại chính mình.
Nghi ngờ tất cả những gì ông đã tin là thật.
Ômg Thanh nghi ngại nhưng
thuận tay kéo lon bia lại gần đầu mình. Tiếng gài gại quen quen lại vọng ra
nhưng lần này tiếng gài gại như thúc giục hơn. Tiếng gài gại nho nhỏ nhưng rõ
ràng là đang định bày tỏ điều gì. Ông Thanh ghé mắt nhìn qua lỗ giật nắp lon.
Không thấy gì sất, bên trong lon bia tối om om.
– Mày vẫn không ngủ được
à?
Người bạn tù bỗng hỏi lại.
Câu hỏi của ông ta lần này khá thân tình.
– Mày dại lắm.
– Anh bảo ai dại.
– Mày.
– Em không hiểu.
– Tao có nghề nên tao biết.
– Anh biết.
– Ừ.
– Nhưng….
– Mình cùng tuổi sửu. Cái
tuổi con trâu cày vất vả nhưng chỉ được người ta cho ăn cỏ thôi. Mà cỏ thì cũng
lắm loại. Tao được ăn thứ cỏ ngon còn mày được ăn thứ cỏ dại.
– Cỏ dại.
– Mày ăn cỏ dại nên mày mới
dại. Tao ăn cỏ ngon nên tao mới tưởng ngon. Tưởng ngon mà hóa ra cũng dại chẳng
khác gì mày.
– Anh cũng như em á?
– Không. Mày khác, tao
khác. Chỉ giống nhau là bây giờ cùng nằm ở đây thôi.
Người bạn tù thở dài ngao
ngán. Ông ta lại quay mặt đi ngủ tiếp. Người đâu thật lạ? Ngủ rồi thức. Thức rồi
ngủ. Nói chuyện hỏi han rồi ngủ. Ngủ tưởng say lại quay ra nói chuyện hỏi han.
Ông ta cứ như ma ấy? Một con ma còn sống nằm sờ sờ ngay bên cạnh mình? Ông
Thanh thấy muốn vùng dậy chạy ra ngoài nhưng ông biết là không thể làm thế được.
Trân trân nhìn lên trần
buồng giam. Mắt ông không thể nhìn thấy được gì ngoài một màu mông lung chập chờn
trước mặt. Người bạn tù đã ngủ say. Lần này ông ta ngủ say thật sự. Bằng chứng
là chờ mãi ông Thanh cũng không thấy người này quay mặt lại và hỏi tiếp. Không
có gì là sự thật và không có gì là không phải là sự thật. Trước mắt là khoảng
mông lung chẳng rõ ràng. Trước mắt là những băn khoăn kèm nỗi sợ khi người
bạn tù bỗng dưng nói những câu nói làm ông khó hiểu. Đêm sâu như giấu kín. Ông
Thanh nằm ngửa, hai tay vòng ra sau gáy làm gối. Đôi mắt trong trong không muốn
nhắm. Ông sợ nếu bây giờ nhắm mắt và ngủ đi thì những câu nói của người bạn tù
ban nãy sẽ tan biến.
Thực ra những câu nói của
người bạn tù đã làm ông Thanh thấy bận tâm. Nhưng là cái bận tâm để lắng nghe
chứ không phải là cái bận tâm lo sợ ban đầu. Cái bận tâm của suy xét.
Ông Thanh giơ tay đẩy mạnh
cánh cửa. Cánh cửa như chưa hề khóa chốt bật mở tung và giang rộng ra. Cô Thoan
không hề giật mình hay hốt hoảng. Cô vẫn đứng trước tấm gương treo trên vách.
Ông Thanh chựng lại vài giây. Căn nhà trống vắng không có lấy một chiếc ghế. Ngần
ngừ định quay ra nhưng tấm lưng để trần của cô Thoan làm ông thấy tiếc rẻ. Hình
như cô Thoan này cô ấy đang chờ đợi? Ông Thanh nín một hơi thở dài rồi từ từ tiến
lại gần cô Thoan hơn. Đứng ở đây ông đã cảm thấy hơi nóng từ thân thể cô đang tỏa
về phía mình. Cái hơi nóng của người đàn bà đang độ cho con bú còn ngây ngất
mùi thơm của sữa. Ông Thanh lại hít một hơi thở dài. Ông hít cái mùi thơm da thịt
đàn bà đang như khỏa trần trước mắt mình. Dừng lại hay bước tiếp? thoáng phân
vân và thoáng thấy chuyện tội lỗi sắp xẩy ra làm ông Thanh lúng túng. Nhưng cái
mùi thơm da thịt cùng mùi sữa ngầy ngậy cứ hút lấy hai lỗ mũi của ông. Ông
Thanh dón dén bước thêm hai bước chân nữa. Từ đây chỉ cần với tay là ông đã có
thể chạm tới da thịt của người đàn bà hơ hớ thân hình đang đứng trước mặt. Cô ấy
có chờ đợi như mình đã nghĩ không? Cô ấy có mong được như mình đã nghĩ không? Một
loạt các câu hỏi lần lượt xuất hiện trong đầu khiến ông Thanh như ù hết cả đầu.
Bước thêm một bước chân nữa là ông đã tới sát người cô Thoan. Bước thêm một bước
chân nữa là ông đã chạm tới điều mà ba buổi chiều hôm nay ông đứng ngoài cửa
lén nhìn qua khe cửa. Bước thêm một bước chân nữa là ông đã có thể thảo được niềm
khao khát bấy nay. Bước thêm một bước chân nữa là ông đã…..
– Không!
Bất chợt ông Thanh hét
lên rất to. Tiếng hét làm cả buồng giam cùng ồn ào như tổ ong vỡ. Ông vùng ngồi
dậy, mắt hoảng loạn nhìn khoảng mông lung đang kín đặc trong buồng giam.
– Không phải tôi!
Vẫn hoảng loạn như chưa dứt
ra khỏi dòng cảm xúc ông Thanh lại hét lên. Người bạn tù nằm bên cạnh tỏ ra rất
có kinh nghiệm với những trường hợp một người tù nào đó tự dưng sinh hoảng loạn,
ông ta đã ôm chặt lấy người ông. Vẫn ôm và giữ như vậy ông ta nói bằng thứ giọng
đầy quyền uy của mình.
– Mọi người ngủ tiếp đi.
Thằng này mê sảng đấy mà.
Buồng giam trật tự trở lại.
Hơn nữa những người tù ở đây chẳng lạ gì những chuyện xẩy ra như cơm bữa như vậy.
Một người tù mới tới còn chưa hết bàng hoàng tỉnh dậy giữa đêm la hét là chuyện
vặt. Một người tù nhớ vợ nửa đêm mò dậy khua khoắng loạn xạ là chuyện thường
tình. Một người tù quá dằn vặt với những tội lỗi mà mình gây ra đêm đêm thức dậy
ngồi ôm đầu bịt tai rồi la hét chẳng có gì mới. Một người tù cảm thấy lạc lõng
hoặc u sầu đêm không dám ngủ nói lảm nhảm cũng là chuyện thường thấy. Đám người
tù cùng buồng sau khi đã buông vô số câu chửi thề rồi lại lăn ra ngủ tiếp. Nếu
như không có người bạn tù nằm bên cạnh luôn có sức mạnh lạ lùng và uy quyền thì
có lẽ đêm nay thế nào ông Thanh cũng bị những người đã bị ông vô tình quấy rầy
kia chùm chăn đánh cho một trận nhừ đòn. Trong tù thường cũng là như vậy, kẻ
nào làm người khác cảm thấy bị quấy rầy nếu không phải ăn đòn ngay trong đêm
thì hôm sau cũng phải chịu hình phạt. Thứ hình phạt rất tùy hứng do người được
gọi là “buồng trưởng” nghĩ ra. Án phạt hết sức đơn giản. Đổ phân cho cả buồng một
tháng tròn.
Khéo léo vừa ôm vừa đỡ
ông Thanh nằm xuống. Người bạn tù nằm bên cạnh vẫn giữ chặt ông Thanh trong
vòng tay mình vừa dỗ dành hệt như một bà mẹ dỗ dành đứa con mình thôi khóc. Ông
Thanh ngắc ngứ đầu vì bị ôm chặt tới ngột thở. Ông cựa quậy cố lấy hơi thở dồn
dập như vừa trải qua một việc vô cùng cực nhọc. Tiếng thở dồn dập cũng dần dần
nhỏ lại.
– Mày bình tĩnh lại chưa?
– Em bị làm sao à?
– Lại còn hỏi nữa. Thôi để
tao ôm cho mà ngủ.
– Em thấy lạ lắm. Em
không thế.
– Tao cũng biết như thế.
Sao mày lại chịu.
– Em cũng không biết nữa.
Nhưng…
– Nhưng gì?
– Hình như đúng là như thế.
– Nẫu quá. Mày đi tù là
phải.
Đúng là không có người bạn
tù nằm bên cạnh thì ông Thanh chắc không thoát đòn. Người đàn ông này thực sự
có uy quyền trong buồng giam này cho dù ông ta không làm “buồng trưởng” hay đại
loại như một thứ “đại ca” trong tù. Cánh tay săn chắc đầy cơ bắp của người bạn
tù đã cho ông Thanh một vòng ôm chặt cứng. Ông cứ nằm nguyên trong vòng tay ấy
mà lịm thiếp đi. Ông mơ mơ như đã tới một nơi nào đó. Nơi đó ông chưa hề tới
bao giờ.
Ông Thanh đã đi tới một vạt
đồi rộng mênh mông nhưng trơ trọi không có lấy một mầm cây nào gọi là sống. Chỉ
chĩa thẳng lên trời vô số những mỏm cây cụt thân, cụt đầu trơ trơ màu than đen.
Không gian đặc sặc một mùi khét cháy đến khó thở. Đâu đây thi thoảng lại bật
lên tiếng lửa cháy sèo sèo, tiếng nổ lép bép. Lửa vẫn âm ỉ cháy trên mặt đất.
Chân không có giầy, không có dép, ông Thanh chân trần lò dò đi trên những vạt đồi
đang cháy nham nhở đó. Nhưng thật lạ là ông không hề thấy bỏng gan bàn chân hay
bàn chân bị bỏng rộp. Vạt đồi mênh mông quá và không một bóng người. Ông Thanh
lo ngại cất tiếng gọi to. Từ phía dẫy núi xa xa đằng trước mặt vọng lại thành
chùm âm thanh nghe rờn rợn. Lúng túng không biết là làm thế nào mà mình đến được
nơi đây nhưng quay về thì ông cũng không thể nhận ra được lối. Hình như
có một cơn gió vô hình nào đã đưa ông tới đây. Bộ quần áo tù với những sọc dọc
màu đen bản rộng khiến ông như một cái cây sắp bén lửa. Hoảng sợ ông lại cất tiếng
gọi. Không có tiếng nào đáp trả. Vạt đồi lại bật lên tiếng lửa cháy sèo sèo, tiếng
củi cháy nổ lép bép. “”Đây là đâu?”. Ông Thanh đành tự hỏi và không thể tự trả
lời câu hỏi của mình được. Vòm trời đọng khói tạo thnahg đám mây mù giăng
kín không cho con mắt của ông có thể nhận dạng đây là xứ sở nào. Bỗng đâu đưa tới
mùi thịt cháy. Thứ mùi ban đầu khen khét như mùi thịt nướng rồi chuyển sang
thành thứ mùi như mùi người chết. Không gian đậm đặc mùi tử khí lờm lợm.
Ông Thanh thất kinh. Hình
như ông lạc tới một nơi vừa xẩy ra những cái chết. Bằng chứng là mùi tử khí
ngày thêm nồng nặc. Chới với tay giơ về phía trước như tìm chỗ bấu víu. Không
có gì. Đôi tay ông càng chới với thì người ông như bị kéo gục xuống mặt đất.
“Mình sẽ nằm cùng những xác chết ư?”. Hoảng sợ lên tới tột đỉnh thì tự nhiên
ông nghe thoảng bên tai tiếng gì rất nhỏ. Mùi tử khí cũng bay đâu mất. Vạt đồi
mênh mông chỉ còn lại những tiếng lửa cháy sèo sèo cùng tiếng củi nổ lép bép.
Tiếng lạ lùng thoảng bên tai lại dội lên. Lần này thì ông nghe rõ đó là tiếng đập
cánh của con bọ ngựa. Mừng hơn bắt được của, ông Thanh quýnh lên định chạy. Tiếng
đập cánh của con bọ ngựa nghe lượn bên tai. Ông Thanh ngẩng nhìn lên. Phía trước
mặt ông con bọ ngựa không biết bằng cách nào đã thoát ra khỏi chiếc vỏ lon bia.
Nó không đập cánh để bay nữa mà hạ xuống mặt đồi âm ỉ cháy nhảy choi choi, nó
nhảy choi choi đằng trước mặt ông Thanh như một kẻ làm nhiệm vụ dẫn đường. Nó
nhảy choi choi trên vạt đồi nóng rẫy lên vì lửa cháy. “Nó chết cháy mất?”. Ông
Thanh vội nhao theo con bọ ngựa hy vọng đỡ nó lên nhưng hễ ông nhao gần tới chỗ
nó thì nó lại bật đôi kiếm càng nhảy ra xa cách ông một đoạn. Nó nhảy ra xa và
tiếp tục dụ dẫn ông đi theo nó.
Không biết ông đã đi theo
con bọ ngựa được bao lâu nhưng rõ ràng là ông và con bọ ngựa đã đi gần hết vạt
đồi cháy. Sắp tới một con suối cạn, ông Thanh đoán là vậy. Thấp thoáng đằng trước
hiện rõ một cái bãi sâu và dài, ở đó thấy vô vàn những viên đá mồ côi hình
tròn, hòn to như cái cối đá, hòn nhỏ cũng bằng quả bưởi. Đá mồ côi nằm chòng chọc,
nằm lổm nhổm, cơ man là đá mồ côi nằm đè lên nhau chứng tỏ cũng lâu rồi con suối
này không có nước chảy qua.
Con bọ ngựa vẫn nhảy choi
choi chưa có dấu hiệu nó sẽ dừng lại hoặc là ông có thể với tay chạm tới nó.
Ông Thanh đã nản vì mỏi và vì thấy mình đã thua trong cuộc dượt đuổi này. Bỗng
bên tai ông vọng lên tiếng ai đó thủ thỉ.
– Cố lên con.
– Ai vừa nói đấy?
– Cố lên con.
– Ai nói đấy?
– Con không nhận ra ai ư?
– Không ạ.
– Cố lên. Cố lên rồi hẵng
tin và hẵng khẳng định là không phải là mình.
– Sao không phải là mình?
– Thì chính con đã hét
lên như vậy sao.
– Không!
Ông Thanh hét lên. Tiếng
hét to và vang làm dẫy núi phía xa xa vọng lại hàng trăm hàng vạn tiếng
“Không”.
Con bọ nhựa dừng lại cách
ông Thanh tầm tay với. Nhưng nó không biểu hiện cho thấy nó muốn ông Thanh với
tay bắt lấy nó. Ông Thanh cũng thôi ý định bắt con bọ ngựa trở lại. Ông không
có chiếc vỏ lon bia trong tay. Con bọ ngựa dừng lại nghênh đôi kiếm càng lên
như chỉ trỏ. Nó chỉ trỏ rất quyết liệt như bắt buộc ông Thanh phải để ý theo hường
chỉ của nó. Thận trọng và hơi chần chừ, ông Thanh nhìn chăm chú về phía hướng
chỉ của con bọ ngựa. Đôi kiếm càng của con bọ ngựa lại chỉ quyết liệt hơn. Bây
giờ thì ông Thanh thấy mạnh dạn hẳn, ông dò dẫm đôi bàn chân không giầy không
dép trên đất bỏng tiến tới bên con suối cạn.
Trong lòng con suối cạn
cơ man là đá mồ côi lớn nhỏ nằm chồng đè lên nhau ấy ông Thanh bỗng thất kinh
nhận ra, dải dác và nằm lẫn bên những hòn đá mồ côi là những hộp sọ người. Những
chiếc hộp sọ người màu sáng ngà nhìn nổi bật, nằm dải dác, những chiếc hộp sọ
người phơi ngửa lên nhìn bầu trời qua hai hốc mắt to tròn như hai con ốc nhồi
đen hoắm. Ông Thanh co dúm người lại không dám bước tiếp nữa. Cảnh tượng hãi
hùng làm ông cứng đờ đôi chân. Ánh mắt ông bỗng chạm vào một vật lạ còn mơi mới
và có vẻ như không hề hấn gì qua thời gian và qua lửa cháy. Dưới mặt đất, ngay
trước mắt ông, ngay trên nền đồi cháy bỏng có một chiếc mũ mềm, chiếc mũ bộ đội
màu xanh lá lúa như ánh tươi lên và độc lạ giữa bao la chết chóc. Ông Thanh
không tài nào hiểu nổi bởi sự thật lạ lùng là chiếc mũ vải mềm nằm rơi trên đất
đang âm ỉ cháy mà nó vẫn còn nguyên vẹn. Ông Thanh sờ sợ nhưng không cưỡng được
bèn cúi xuống nhặt chiếc mũ lên. “Mũ của bố”. Ông kêu lên hốt hoảng nhưng lóe
lên sự trông đợi. “Mũ của bố”. Không còn nghi ngờ gì nữa. Chiếc mũ trên tay ông
đúng thật là chiếc mũ vải mềm mà hơn bốn mươi năm trước ông đã được cha mình
cho đội thử một lần. Ông mừng rú lên, cuống cuồng chạy bổ về phía con suối cạn.
“Bố nấp ở đâu thế? Bố ra với con đi. Con không nhìn thấy bố đâu cả?
Ông Thanh cứ hét gọi như vậy. Chiếc mũ rõ ràng là ông đã cầm nắm rất chặt bỗng nhiên buông đâu và biến mất. Trên tay ông chỉ là một nắm đất cháy đen.
– Ông cụ mộng báo như vậy
chắc là ông cụ rất muốn về đấy.
– Bố em muốn về?
– Đúng.
– Nhưng thân em tù tội
như thế này thì đón ông cụ về bằng cách nào? Hơn nữa nếu ông cụ mà về thấy em
như vầy chắc cụ lại muốn đi thôi.
– Ông cụ không tin mày
làm nên tội.
– Nhưng ….nhưng đúng thế
mà.
– Còn vợ con mày chứ. Nói
vợ con đi đón ông cụ về.
– Anh nói em mới nhớ ra đấy.
– Mày nhớ cái gì?
– Tháng trước vợ em lên
trại thăm nuôi. Vợ em hình như cũng nói như anh.
– Tao đã bảo mà. Nói thật
nhé. Tao cũng là con liệt sĩ nên tao biết.
– Anh ….mà cũng…cũng là
con liệt sĩ?
– Đúng. Nhưng chuyện ấy
nói sau, giờ nói chuyện tìm cách đi đón ông cụ về. Này, không phải nhà nào cũng
đi đón được liệt sĩ đâu nhé. Không phải liệt sĩ nào cũng muốn về đâu nhé.
– Em không hiểu.
– Nhiều nhà cậy nhờ thày
này thợ kia tới nhà làm lễ cúng gọi hồn, có nhà còn bỏ ra cả đống tiền để thuê
ngoại cảm mà có tìm và đón được liệt sĩ đâu. Tao cũng là con liệt sĩ nên tao biết.
Chẳng tin cái bọn lường gạt đó được. Liệt sĩ là chuyện tâm linh. Mà chuyện tâm
linh không phải hễ muốn là ứng báo được. Ông cụ nhà mày đã ứng báo thế là ông cụ
linh lắm. Phải những người thực sự muốn về mới mộng về ứng báo.
– Em tưởng.
– Mày cứ tưởng, thế nên
mày cũng đáng phải học bài học.
– Anh nói tiếp đi.
– Có nhà vợ chồng con cái
lục đục. Anh em tỵ nạnh chẳng thèm ngó mặt nhau, có nhà anh em tranh giành nhau
mà đâm ra mất hết tình thân. Liệt sĩ về mà làm gì cho khổ tâm. Lại có nhà có
người chuyên làm chuyện mất nhân tâm, ví dụ như cướp của giết người hay tham ô
hoặc luồn lách tìm cách thăng quan tiến chức mà giẫm đạp lên nhau, giẫm đạp lên
cương thường đạo lý chẳng hạn. Liệt sĩ về làm gì cho xấu mặt.
– Em…
– Mày từ từ đã. Tao đã
nói hết đâu. Liệt sĩ là chuyện tâm linh. Mà tâm linh tức là chuyện của cái tâm.
Cái tâm sống ở trên đời của con cháu có sống tốt, có ăn hiền ở lành, liệt sĩ mới
mộng báo đón về. Cái tâm đục, cái tâm ác thì có đem cả núi tiền mời thầy mời thợ,
liệt sĩ cũng cạch mặt. Mày biết không. Người chết đi là chết cái thân xác, còn
linh hồn thì không mất. Linh hồn bay đâu đó nhưng những người trần như tao với
mày làm gì đúng hay sai linh hồn nhìn thấy hết. Chỉ ác nỗi linh hồn đâu phải là
con người nên linh hồn chỉ thấy chứ không ngăn cản hay đồng tình được. Linh hồn
trông thấy hết nên chuyện có muốn về hay không muốn về đều là do linh hồn quyết
định. Người sống không làm thay không quyết định được.
– Anh nói hay quá. Nhưng
em…
– Mày còn cấn cá chuyện của
mày chứ gì?
– Vâng.
– Linh hồn thấy hết.
Người bạn tù không nói tiếp
nữa. Ông Thanh thấy hoang mang nhưng cũng bắt chước cách ngồi như người bạn tù.
Ông ngồi xếp bằng, hai lòng bàn tay để ngửa đặt chồng lên nhau. Đó là cách tốt
nhất để ông và ông Dương, tên của người bạn tù nằm bên cạnh ông, trao đổi mà
không làm ai để ý, không làm phiền ai và nhất là không ai được biết họ trao đổi
gì. Sáng nay nắng vắng, vòm trời âm u báo hiệu sắp có mưa. Đó cũng là biểu hiện
có tính thất thường của thời tiết buổi giao thời cuối xuân chuyển sang đầu hạ.
– Anh cũng là con liệt sĩ
thật à?
– Tao với mày có nhiều thứ
giống nhau lắm.
Ông Dương vẫn chăm chú ngồi
như ngồi thiền mà tranh thủ hít thở không khí. Vẫn không nhúc nhích người, ông
Dương thong dong đáp.
– Tao với mày giống nhau
trước hết là hai thằng cùng tuổi sửu, thứ nữa là cùng là con liệt sĩ, cùng vào
tù bởi cái tội liên quan đến người. Nhưng lại khác…
Ông Dương lại im lặng.
Trên trời một đám mây xám lững lững trôi qua khiến mặt đất cũng tối sầm lại.
– Anh nói em không hiểu.
– Đấy khác nhau là ở chỗ
đó. Mày dại quanh năm.Tao dại một lần. Nhưng tao nhìn mặt mày, tao thấy mày còn
có cơ, còn tao thì mất. Mất vĩnh viễn. Mất không bao giờ lấy lại được.
– Em không hiểu.
– Số mày như có đám mây
xám trôi qua. Mây trôi qua trời trong trở lại. Số tao thì khác. Mày vào tù vì tội
“giết người” còn tao ở ngục vì tội “giúp người thân”.
– Giúp người thân mà phải
vào tù? Anh nói thế em chịu.
– Mày dại do là mày mù
quáng mà sinh ngộ nhận. Mày ngộ nhận nhưng còn có linh hồn che chở. Tao khác
mày chỗ đó. Là vì tao cũng ngộ nhận. Nhưng tao ngộ nhận về sức mạnh của bản
thân. Mày biết sức mạnh của bản thân là gì không?
– Em chịu.
– Sức mạnh của bản thân
chính là quyền lực ở đời. Tao tin tao có quyền lực, tao tin tao có chức có quyền
và hơn nữa tao lại quá tin vào những người có thể che chở cho tao. Hóa ra nhầm,
làm gì ở đời này làm gì có chuyện người ngoài máu mủ lại dại dột đi che chở hay
hứng cho mình.
– Em chịu.
– Mày chịu là phải. Tao
nói thật nhé. Hóa ra ở đời cứ thường dân như mày lại sướng.
– Em mà sướng á? Em sướng
đâu nỗi thế này.
– Mày sướng vì mày không
có chức có quyền. Chức quyền như tấm áo mặc. Áo mặc dù đẹp dù tốt đến đâu cũng
còn có ngày rách ngày phải thay, huống hồ chức quyền chỉ như thứ phù du. Mà đã
là thứ phù du thì người ta vứt bỏ hay không thèm ngó ngàng cũng là chuyện thường
ở đời.
– Như em thì sướng. Lạ thật
đấy.
– Chứ sao.
Lại lặng im như để những
câu nói nhấm vào trong dạ. Ông Dương vừa tỏ ra hiểu biết vừa tỏ ra chẳng hiểu
gì cả. Ông Thanh thấy mừng bởi ông Dương xem ra cũng chẳng hơn gì mình. Cũng dại
đấy thôi.
– Người tính chẳng bằng
trời định.
– Đúng. Do trời định hết.
Con người ta có số thật mày ạ. Khôn hay dại cũng đều có số. Chẳng ai cưỡng được
cái số nên ráng mà chịu. Đấy là tao nói chung chung thế. Tao khuyên mày đừng
tin vào số. Không ai cưỡng được số nhưng không lẽ cứ chấp nhận cái số không
dưng quàng vào mình.
Ông Thanh sững sờ không
tin. Ông đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Thì ra ông Dương này cũng rất
đặc biệt. Thế mới biết tại sao trong trại giam này, trong buồng giam này, tuy
ông Dương không phải loại “đầu gấu” hay “buồng trưởng” vậy mà tất thẩy người tù
và kể cả cán bộ quản giáo của trại cũng tỏ ra tôn trọng. Một con người không dữ
tợn trong tù hay bất hảo ngoài đời vậy mà ai cũng vị nể. Thì ra ông Dương vốn
là một sĩ quan cấp cao công an thành phố H. Một cán bộ công an từng nổi tiếng với
những chiến công đánh án táo bạo. Một người từng khiến bao kẻ giang hồ đất cảng
phải xanh mắt.
– Tao cũng vì tình thân
mà dại một lần. Ở đời, mà nhất là đã làm con người không thì đơn giản như mày
nghĩ đâu.
– Dạ.
– Mày có cam tâm nhìn người
thân của mình sắp nguy khốn không? Không chứ gì. Mày có cam tâm thấy người thân
của mình sắp chết mà không giang tay ra đỡ không? Không chứ gì. Nhìn mặt mày
tao biết mày còn có cơ đấy.
– Em chưa hiểu lắm.
– Mấy lần vợ mày lên thăm
nuôi mày tao nhìn là biết ngay.
– Anh biết gì?
– Tao biết vợ mày rất tin
mày. Vợ mày không chịu cam tâm nhìn cảnh mày lao ngục đâu.
– Vợ em á. Bà ấy làm thế
nào?
– Vợ mày làm thế nào tao
không biết được và cũng không nói vào được. Nhưng mắt vợ mày luôn ẩn giấu một
điều gì muốn làm cho mày. Miễn là bà ấy không làm cái điều dại dột như tao đã
làm ấy.
Ông Dương từng là một cán
bộ cao cấp trong ngành công an. Ông vào tù vì tội “Tổ chức đưa người phạm pháp
trốn đi nước ngoài”. Mà người kia đâu xa lạ, người ấy chính là anh ruột ông.
Đúng là không nỡ cam tâm nhưng không phải hành động nào cũng đáng ngợi khen cả.
Ông Thanh thấy những điều ông Dương nói với mình nó cứ như một linh cảm mơ hồ.
Đêm hôm qua, trong giấc mơ ông đã tới một nơi xa vắng đầy chết chóc. Hình như
ông đã được gặp cha mình mà ông không tài nào thấy mặt được. Không lẽ người chết
đi rồi nhưng linh hồn còn lẩn khuất đâu đây? Không lẽ cha ông đã hiểu tường tận.
Nhưng tận sâu trong lòng mình ông Thanh vẫn còn nghi hoặc chính bản thân mình.
Nghi hoặc mà ông không thể lý giải được. Chính ban nãy ông Dương có nói: “Người
có dã tâm ác độc nhìn mắt là thấy ngay. Những người ấy đôi mắt nhìn ngược lên
thấy tròng con người trắng rã. Người khác nhìn vào tự dưng thấy chùn tay. Người
ngay lòng thẳng dạ tròng con người có màu nâu nhẹ. Mắt mày nâu nhẹ thấy biết
ngay là người dễ bị kẻ khác bắt nạt”.
Ông Dương ể oải đứng lên.
– Mày tin những điều tao
vừa nói đi.
– Thế anh có đón được ông
cụ nhà anh về không?
– Tao đùa đấy. Mà này, ở
đời làm gì có chuyện người dưng đỡ đần nhau. Họ sẵn lòng hại nhau chứ nói gì đến
việc đi làm gì đấy giúp nhau. Chỉ có người thân thôi. Người thân biết dại cũng
cố giúp, huống hồ người thân của mình biết mình mắc hàm oan.
Ông Thanh cũng vội vã đứng
lên theo. Hai mươi phút ra ngoài sân phơi nắng đã hết. Theo bản năng và cũng là
theo thói quen, con bọ ngựa sau cái gẩy ngón tay nhẹ của ông Thanh đã tự giác rồi
ngoan ngoãn chui vào trong chiếc vỏ lon bia. Ông Thanh nhấc chiếc vỏ lon bia
lên. Không ghé mắt nhìn qua lỗ giật nắp lon n hư mọi lần mà lần này ông nâng dí
chiếc vỏ lon bia lên sát tận tai. Từ trong chiếc vỏ lon bia những chiếc chân
gai cào của con bọ ngựa đang gài gại. Thứ âm thanh thủ thỉ và an ủi ông suốt
bao tháng ngày qua cứ âm thầm vọng ra.
TÁM
Nắng lên cao.
Trời rất trong và rất
xanh.
Và mây trắng.
Từng đụn mây xốp nhẹ như
những đụn bông trắng tinh ai đó mới vãi lên nền trời tạo nên nét chấm phá cho bầu
trời cao nguyên mùa xuân xanh ngăn ngắt. Từng đụn mây trắng chậm dãi phiêu du.
Bà Chiên hết ngước nhìn bầu trời lại quay ngang nhìn qua ô cửa kính ô tô. Núi đồi
hai bên đường, bầu trời trước mắt, tất cả đang hòa cùng vẻ nõn xanh của màu lá
cây cà phê điệp điệp trùng trùng tưởng mênh mông đến vô tận.
Con đường mềm mại như một dải lụa dài vô tận và đen óng. Dải lụa vừa mới nhuộm xong đem trải phơi, nằm thở phập phồng trong gió sớm. Con đường dải lụa dập duềnh, khi trồi lên lúc hạ xuống, khi lại uốn mình lượn qua những khúc quanh của triền đồi càng khiến cảnh vật hai bên đường thêm ngút ngát. Choáng ngợp trước bức tranh thiên nhiên cứ lần lượt trải ra, lần lượt mất hút, rồi lại lần lượt xuất hiện. Lần đầu tiên được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên rừng núi Tây Nguyên vừa mang nét hoang sơ lại vô cùng kỳ vĩ càng mỗi lúc càng hút hết tầm mắt của bà Chiên. Thằng Lợi thì lại háo hức hơn, nó nhấp nhổm ngồi không yên trên ghế, luôn miệng xít xoa đi từ ngạc nhiên này tới những bất ngờ khác. Với nó chuyến đi này, hay chính xác hơn là tại thời điểm này không khác gì một chuyến du lịch mà trước đây nó chưa bao giờ nghĩ tới. Trong giấc mơ của nó nó cũng chưa khi nào mơ thấy.
Tạm quên mục đích của
chuyến đi, bà Chiên mạnh dạn hơi nhô đầu ra khỏi cửa kính xe, gió thổi hất bay
mái tóc. Gió sớm trên cao nguyên thổi lành lạnh đem tới sự tỉnh táo. Bà Chiên
hơi so người che cái mát lạnh giữa khung trời đã ngập nắng. Mùa xuân trên cao
nguyên thật độc đáo. Ánh nắng lên nhanh và trải ngập một màu ngà ngọc lại non
mướt trên những tán lá xanh. Cảm giác như trở lại thời thiếu nữ làm bà ngất
ngây. Lâu lắm rồi bà Chiên mới có lại cảm xúc nao nao của ngày xưa.
Ngày xưa tức cái ngày bà
và ông Thanh lần đầu tiên đi chơi với nhau dưới ánh trăng vậy. Dưới ánh trăng
thanh từng gốc lúa vừa ấm chân đang rùng mình e thẹn trước ánh sáng vàng vàng từ
trên trời dọi xuống. Những gốc lúa như những cô gái vừa chạm tuổi trăng tròn e
lẹ nửa muốn giấu nỗi niềm thầm kín nửa muốn khơi ra trước thiên nhiên. Đêm càng
khuya ánh trăng càng huyền ảo. Tựa đầu bên vai anh Thanh, Chiên thấy lòng mình
thổn thức. Nhưng đó là cái thổn thức của người con gái lần đầu tiên cảm nhận thực
sự hơi thở của chàng trai ở ngay bên cạnh. Một cảm giác tin cậy đến sẵn lòng
khiến Chiên chỉ còn biết mặc nhiên cho những nụ hôn tưởng không bao giờ dứt của
anh Thanh đặt trên môi mình.
Đêm càng khuya cảnh vật
càng tĩnh lặng. Trong cái tĩnh lặng đến ngọt ngào ấy Chiên thấy mình như người
hạnh phúc nhất trên đời này. Cô khẽ ngước lên nhìn anh Thanh. Cả hai chưa tan
được cảm giác xấu hổ của nụ hôn đầu đời. Mặt cô đỏ ửng lên, hai má nóng bừng
như hơ lửa. Bên cạnh cô, anh Thanh cũng mơ màng trước phút giây đầu tiên được
có cạnh mình một người con gái. Cả hai vừa yên lặng vừa khao khát, chốc chốc lại
quấn lấy nhau hôn không dứt. Ngoài xa xa, cánh đồng như được ai đó tô những màu
vàng lóng lánh. Mặt ruộng khẽ xao động trước những cơn gió thổi nhẹ. Gió thổi
là là mặt nước làm gợn lên những lớp sóng nhỏ lăn tăn.
Bất giác bà Chiên thấy xấu
hổ. Cảm giác ngào ngạt ngày nào làm bà chợt đỏ hây gò má. Thằng Lợi không biết
là mẹ nó đang có những dòng hồi ức tươi đẹp, nó nghĩ tại gió thổi mạnh quá nên
hai má mẹ nó mới đỏ lên như thế. Vòm trời cao nguyên như nới rộng ra. Vòm trời
cao nguyên như đẩy cao lên. Đọng mãi trong ánh mắt là màu xanh bạt ngàn của cây
cà phê. Dọc hai bên đường 14, cà phê ngút ngàn đang trổ hoa. Từng chùm hoa cà
phê trắng tinh khôi nở bừng trên từng mắt lá. Nhắm mắt nhìn xa xa mà tưởng tượng,
những vạt đồi cà phê đồng loạt trổ hoa giống hệt như một dải rừng cây bên châu
Âu đang được tuyết rơi phủ trắng. Hình ảnh đó hai mẹ con bà Chiên chỉ có thể thấy
được trong phim ảnh, còn bây giờ hình ảnh đó gần đến nổi có thể ngửi thấy được
cả hương vị của những bông tuyết trắng. Bất chợt hiện ra. Bất chợt biến mất rồi
lại bất chợt hiện ra. Hoa cà phê nở trắng ngần, không rực rỡ sắc màu, không
kiêu sa, chỉ khiêm nhường nơi đầu cành nhưng nó lại làm những vạt đồi điệp
trùng như một bức tranh sáng tạo độc nhất của thiên nhiên, một bức tranh màu trắng
chen màu xanh thật gợi cảm.
Bà Chiên bỗng tư lự.
Trong đầu bà, bà không thể tưởng tượng ra nổi nơi đây từng là một chiến trường
rộng lớn và vô cùng ác liệt. Những điều thấy trong giấc mộng lần lượt hiện ra
như một cuốn phim được quay chậm lại. Gió thổi mạnh, khói bốc lên mù mịt, khói
phủ kín mọi quả đồi cháy khét. Tiếng nổ chát chúa ngỡ vỡ đất vỡ trời. Tiếng la
hét ồn ã. Tiếng kêu la khủng khiếp. Những bóng người lao lên. Những bóng người
đổ xuống. Mặt đất giẫy lên dưới những tiếng nổ ầm vang. Bầu trời rách toạc sau
những ánh sáng chớp lóe.
Xe lại lượn qua một khúc
quanh. Những vạt đồi nương cà phê được thay thế bởi những cánh rừng cao su cũng
bạt ngàn và cũng ngút ngát mênh mông. Từng thân cây cao su cao lớn vươn thẳng,
xòe lên trời những chùm lá xanh thẫm đung đưa trước gió. Xe lướt bên cánh rừng
cao su như đang đi xuyên qua bức tranh được vẽ nên từ cây và lá. Thằng Lợi mở
to đôi mắt đầy phấn chấn. Ở vào cái tuổi mười chín nhiều ước vọng nên nó cảm
như mình đang viễn du trong một cuộc chu du không dứt. Thực phí nếu như nó
không được tham gia chuyến đi này. Xe vừa ra khỏi cánh rừng cao su lại lạc vào
những vạt đồi nương cà phê nối tiếp nhau. Rồi lại mất hút phía sau những vạt đồi
nương cà phê hoa nở trắng ngát. Một cánh rừng cao su với những hàng cây thẳng
hàng đứng vút cao nữa lại xuất hiện. Cứ thế và cứ thế. Những bức tranh xanh trắng
tưởng không bao giờ dứt.
Càng gần tới trưa nắng
càng lên cao. Gió thổi lồng lộng. Bóng những vạt đồi nương cà phê ngả nghiêng
cành lá. Bóng những cánh rừng cao su dào dạt đầy sôi động. Xe đã đi vào địa phận
huyện Ngọc Hồi. Đã thấp thoáng những ngôi nhà phía xa xa, những ngôi nhà như những
bông hoa dị biệt nở trên triền đồi. Những ngôi nhà ẩn khuất trên những vạt đồi
nương cà phê, những ngôi nhà dần tiến lại phía con đường rồi dần lùi xa sau xe.
Chưa bao giờ hai mẹ con bà Chiên lại có được những hình ảnh sống động đến thế.
Thò tay qua cửa kính, thằng Lợi làm như nó đã túm được một bông hoa cà phê cánh
trắng. Nó hí hửng nắm chặt bàn tay lại vì ngỡ bông hoa trắng ngoài kia đã nằm gọn
trong đó. Nhất định lúc quay về nhà nó sẽ kể cho chị Lanh nghe. Chị Lanh nó dạo
này cứ hai ba ngày lại gọi điện về nhà. Nghe nó nói nó sẽ cùng mẹ vào Tây
Nguyên chị nó ghen ra mặt. Bằng chứng là giọng chị nó qua điện thoại cứ nghèn
nghẹn. Giọng nói của chị nó đầy tiếc nuối. Nhất định nó sẽ kể cho chị Lanh nghe
như chị đã yêu cầu. Chị Lanh đã dặn. “Đi trong đó về nhớ kể hết cho chị nghe đấy
nhé”.
Bà Chiên bất giác buồn buồn. Bà co người lại như để tránh gió tạt vào mặt như để che đi cảm xúc. Tiếng bánh xe đều đều nghe ràn ràn, vòng quay bánh xe liên tục cuốn vào bụng xe dải lụa đen bóng. Lấp ló bên khóm cà phê là những bóng người lúc hiện lúc ẩn. Đó là những người đi chăm sóc, đi tưới nước cho cây. Không biết họ có nhận ra trên chuyến xe này có hai mẹ con mình không nhỉ? Với những ai lần đầu tới miền đất lạ thì họ đều có chung suy nghĩ là những người dân nơi họ đi qua đều nhìn họ suy đoán. Suy đoán xem trên xe kia là ai? Suy đoán những người xa lạ ấy tới chốn này làm gì? Và nói chung mọi hành động của hai mẹ con bà chắc những người dân đang lúi cúi trong nương cà phê kia nhìn thấy hết. Cảm giác vừa ngài ngại muốn che giấu lại vừa muốn cho mọi người biết làm bà Chiên thêm đỏ hồng gò má.
Anh Thanh cúi xuống nhìn
sâu vào hai đôi mắt của Chiên. Đôi mắt của cô lúc này trông như đôi vầng trăng
đang soi anh vằng vặc. Hình như cả cánh đồng lúa mới cấy cũng dồn hết trong đôi
mắt ấy. Hình như tất cả những ngôi sao trên vòm trời đều sa hết trong đôi mắt ấy.
Còn Chiên, cô cũng mở to đôi mắt. Cô muốn thu nạp hết hình ảnh anh Thanh trong
đêm nay vào cả mắt cô. Cô muốn những hình ảnh thân thương ấy mãi mãi nằm yên
lành trong đó. Mãi mãi không rời xa cô.
Buồn rầu trở lại, bà
Chiên buông tiếng thở dài. Bà áy náy là chuyến đi này không có ông Thanh. Bà tự
dằn vặt mình. Bà tự chua xót với mình. Những ao ước đã tan vụn thành mây thành
khói. Tan vụn từ buổi chiều cuối của một ngày đầu thu cách đây gần sáu năm ấy.
Chiều muộn ngày ấy nếu bà cùng về với ông Thanh thì đâu nên nhẽ. Chiều muộn
ngày ấy nếu bà không nấn ná bên sân vận động mới của xã để cố bán thêm chút nước
chè xanh thì đâu nên nỗi. Cái ngày ấy nếu….
Từ sau buổi nói chuyện với
thằng Lợi, cuối mùa thu năm ngoái, về linh cảm của bà thấy như ông nội của nó
muốn trở về làng, làm bà Chiên trong người lúc nào cũng như có lửa đốt. Bất cứ
làm gì hay nghĩ gì bà đều có cảm giác bồn chồn. Cũng phải thôi, khi người ta đã
nói ra ý nghĩ định làm một thứ gì đó mà chưa làm được thì trong lòng luôn áy
náy. Hơn nữa đây lại là câu chuyện tâm linh nên bồn chồn cứ nối tiếp bồn chồn.
Khổ thân cho vong linh ông cụ, ngần bấy mươi năm nằm xa quê hẳn vong linh ông cụ
luôn đau đáu nỗi nhớ quê nhà. Ông cụ ra đi xa quê cũng đã bốn mươi mốt năm rồi
còn gì. Thời gian quá dài để một con người sinh ra và phương trưởng. Thời gian
quá dài để nỗi nhớ quê hương thêm dằng dặc. Ở làng Me, ở xã Hùng Tiến này đã có
bao gia đình đi tìm và đã đón được hài cốt liệt sĩ về làng. Nhà người ta làm được
sao nhà mình lại không làm được? Ý nghĩ nung nấu lớn dần thành câu hỏi, thành nỗi
băn khoăn khiến bà Chiên cứ như người đang mắc nợ. Món nợ tâm linh hay cũng là
ước nguyện của ông cụ.
Nhưng có biết bao khó
khăn trước mắt mà bà không tài nào tự giải quyết được. Đầu tiên là sự chấp thuận
của địa phương. Chuyện này mới nghĩ ba đầu xem ra tưởng dễ hóa mà lại khó. Hôm
bà đi cùng ông trưởng thôn, một người bà con họ hàng, trong làng tới gặp ông chủ
tịch xã bà đã bao ngần ngại. Ông chủ tịch xã Hùng Tiến mới được bầu, đâu như do
huyện thuyên chuyển về, lại là người thôn Chằm nên bà ít hy vọng. Không hiểu
người ta có thông cảm với mình không? Không hiểu người ta có đồng tình với mình
không? Mặc dù ông trưởng thôn nói khích lệ nhưng bà vẫn e ngại.
Quả đúng như bà Chiên băn
khoăn. Ông chủ tịch xã Ngọc Hùng chắp hai tay sau lưng đi đi lại lại. Bà Chiên
giống như một con “đông tây nam bắc”, bà cứ ngúc ngoắc cái đầu quay qua quay lại
theo từng bước chân đi qua đi lại của ông chủ tịch. Đến khi bà mỏi nhừ cổ thì
ông chủ tịch xa mới dừng những động tác đi qua đi lại lại. Khẽ đẩy hai chén nước
mới rót còn nóng hổi về phía trước mặt hai người, bà Chiên và ông trưởng thôn,
ông chủ tịch xã hắng giọng vài lần rồi mới lên tiếng.
– Nhà nước đã có chính
sách với liệt sĩ. Các địa phương có liệt sĩ nằm lại đều đã tiến hành quy tập
vào nghĩa trang của địa phương đó. Mình tự nhiên tới và xin mang về chắc cũng
làm họ phật lòng. Làm như vậy khác nào nói địa phương người ta không làm tốt
chính sách. Chắc họ không đồng ý đâu.
– Nhưng đây lại là liệt
sĩ chưa được quy tập.
Ông trưởng thôn nhanh
chóng giải thích thêm. Ở nhà tức là trước lúc tới gặp ủy ban xã, ông trưởng
thôn đã dặn bà Chiên rất cụ thể “Lên ủy ban bà cứ để tôi nói. Bà nói không đâu
vào đâu không khéo làm khó thêm”.
– Đấy. Liệt sĩ chưa được
quy tập lại càng khó. Biết người nằm ở đâu mà tìm. Nghe linh tinh nguy hiểm
lắm. Mấy vụ ngoại cảm lùm xùm các ông các bà nghe cả rồi chứ?
– Chúng tôi không nhờ ngoại
cảm.
– Không ngờ ngoại cảm thì
phải có ai biết chứ, ví dụ như người cùng đơn vị chẳng hạn. Người cùng đơn vị
…nhưng đã gần bốn mươi năm rồi còn gì. Dễ gì tìm được, mà tìm được không chắc
người ta đã nhớ. Vả lại bây giờ các ông các bà đã có ai cùng đơn vị với ông cụ
chưa?
– Không có.
– Thế thì không ổn rồi.
– Nhưng …chúng tôi tin chắc
là tìm được.
– Tôi tin các ông các bà
nhưng còn vấn đề nữa. Phức tạp lắm.
Ông chủ tịch xã im lặng hồi
lâu, ông giả tảng thổi phù phù chén nước nóng để tránh câu nói tiếp. Một sự im
lặng kéo dài làm bà Chiên chực khóc. Sống mũi cay cay. Khóe mắt ngân ngấn nước.
Phụ nữ vốn nhậy cảm và bà Chiên đã quá hiểu thực cảnh nhà mình nên sự im lặng
và câu nói “Phức tạp lắm” của ông chủ tịch xã là bà Chiên biết ngay là ông chủ
tịch xã muốn nói gì. Ông ấy đã nại ra mọi lý do để thể hiện sự chần chừ, thể hiện
sự vướng mắc tế nhị. Ông trưởng thôn quá nhiệt tình nên không dự đoán có tình
huống khó xử, ông nhấp nhổm mấy lần toan lên tiếng nhưng bà Chiên ý tứ kéo nhẹ
vạt áo. Căn phòng làm việc của ông chủ tịch xã im lặng như đã đóng cửa. Im lặng
đến độ nghe rõ từng nhịp chuyển động giật cục của kim giây trong chiếc đồng hồ
chạy pin để trên bàn.
Xe đi qua một đoạn đường
đang sửa chữa. Cú xóc nẩy người đã lôi bà Chiên trở lại thực tại. Quả tình từ
khi bắt đầu rời nhà tới giờ, bà luôn mang trong mình hai tâm trạng. Một tâm trạng
của trách nhiệm trước vong linh cha chồng. Và một tâm trạng trước những tự
trách móc, tự dằn vặt mình. Thằng Lợi đã thôi không ngoái đầu ngoái cổ nhìn ngắm
nữa. Thanh niên là thế. Hăng hái nhưng chóng chán. Cũng có thể là nó đã mệt mỏi.
Chặng đường đi những cả ngàn ki lô mét chứ có ít đâu. Nó chưa bao giờ được đi
xa mà nhất là lại đi xa như thế này. Hơn nữa lại đi trong một trách nhiệm thay
thế cha nó. Người lái xe mấy hôm trước còn thỉnh thoảng nói chuyện. Chú tài xế
đi nhiều nên qua đâu cũng có chuyện để nói, đến đâu cũng có người để quen.
Không hiểu sao sáng nay chú tài xế này lại không nói năng gì? Cũng có thể chú
tài xế muốn để cho hai mẹ con bà tự hỏi và tự trả lời. Tự cũng có cái hay là
sau đó thì rất nhớ. Nhưng tự thì khó tới cái đích được.
Hết tết. Rồi hết tháng
giêng ta. Tháng hai năm Kỷ Sửu cũng trôi vèo. Bụng dạ bà Chiên càng thêm lửa đốt.
Bà không oán trách ông chủ tịch xã bởi ông ấy cũng có cái đúng. Xét về tình thì
gia đình bà là gia đình chính sách. Nhà bà là gia đình liệt sĩ. Xã không ủng hộ
thì ủng hộ ai. Nhưng nói về lý thì gia đình bà lúc này lại là gia đình có người
phạm trọng tội đang thụ án. Xã mà đi giúp gia đình tội phạm khác nào bảo xã
dung túng cho những hành động trái pháp luật. Ông chủ tịch xã im lặng và nói phức
tạp là cái phức tạp đó. Trách họ không được nhưng bụng dạ bồn chồn khiến bà ăn
ngủ thấy bứt dứt. Hình như vong linh ông cụ biết được điều còn khó khăn đó nên
càng đến gần tiết thanh minh vong linh ông cụ càng thôi thúc. Nguyện vọng của
người đã khuất tuy không thể hiện nghe thấy được hoặc nhìn thấy được nhưng cứ
qua ánh mắt của ông cụ trong tấm hình là biết. Ánh mắt nhìn bà Chiên, nhìn cô
con dâu của ông cụ, cứ chập chờn, cứ hờn trách. Mỗi lần thắp một nén hương trên
ban thờ khấn vong linh ông cụ là mỗi lần tim bà Chiên cứ nhoi nhói. Lòng dạ
thêm bồn chồn càng làm bà thêm rối bấn. Nói chuyện qua điện thoại với con Lanh
nó cứ động viên. Con bé xa nhà mới được gần một năm mà đã tỏ ra hiếu biết. Đúng
là nó đi xa nhà như đã được học thêm được một sàng khôn.
Về gần trưa vòm trời càng
cao thêm. Mây loãng ra, chúng không vón thành từng đụn nữa mà loãng ra dài và mảnh,
nhìn như những làn khói đốt gốc rạ ở giữa cánh đồng chang chang nắng. Khí lạnh
mát cũng giảm. Những đụn mây trắng đã phiêu bồng sang xứ khác. Ánh nắng soi óng
những chiếc lá xanh của vạt đồi nương cà phê nối nhau hai bên đường. Ánh nắng
soi làm con đường như dài rộng ra. Ánh nắng như mời thêm gió. Từng cơn gió cao
nguyên thổi tung tăng qua những vạt đồi. Thổi lao xao chùm lá cao su. Những gốc
cây cao su vẫn đứng im trước từng cơn gió thổi. Ánh nắng làm con đường xa thêm
bảng lảng. Con đường bỗng biến thành dải lụa đen vàng xao động. Vẻ biến đổi của
cánh rừng cao su. Vẻ biến đổi của những vạt đồi nương cà phê và nhất là vẻ biến
đổi của con đường dưới nắng làm ánh mắt của hai mẹ con bà Chiên đi từ ngạc nhên
này tới ngỡ ngàng khác. Thằng Lợi đã háo hức trở lại. Tuổi trẻ là thế, ít sâu sắc
nhưng được cái thích ứng rất nhanh. Nó không buồn buồn, không tư lự như mẹ nó.
Xe từ từ dừng lại và nép
bên đường.
Chỗ ấy, bên phải con đường
dải lụa đang nằm trải phơi có nhánh đường đất đỏ, dạng đường mòn, hằn lõm vệt
bánh xe máy dẫn vào nương cà phê. Nhánh đường nội bộ nối những vạt đồi nương cà
phê này với nương cà phê khác, nối dẫn tới tận những chân dẫy núi cao xa hút.
Đã tới địa điểm hai mẹ con bà cần đến. “Cách thị trấn Plei Kần chừng mười tám
cây số thì con xuống xe”. Bà Chiên nhẩm lại lời dặn dò mà bà được mộng báo. Đưa
mắt quan sát để khẳng định địa điểm xuống xe là đúng, bỗng bà Chiên lúng túng
ra mặt và thấy hoang mang. Sự lúng túng và hoang mang thể hiện qua đôi mắt ngơ
ngác của bà. Trước mắt bà là một khoảng xanh vô tận chứ không phải những vạt đồi
nham nhở và cháy khét. Trước mắt bà là khoảng không gian yên bình đến lặng im
chứ không phải là cánh rừng ầm vang tiếng súng. Trước mắt bà là một nơi xa lạ
mà bà chưa một lần đặt chân tới. Hoang mang và lúng túng, bà Chiên liếc nhìn
thái độ của thằng Lợi. Thằng Lợi chưa hiểu câu chuyện, nó còn đang ngẩn ngơ trước
những chùm hoa cà phê nở thành dãy dọc hai bên cành cà phê. Hoa cà phê trắng
tinh khôi càng trắng hơn dưới ánh nắng. Thằng Lợi có mối quan tâm lớn lúc này
là muốn được ngắt chùm hoa cà phê. Nó cười một mình, nụ cười của chàng trai đã
có dấu hiệu thích nhìn bạn gái. Trong đầu nó đang mường tượng ra nếu như bên cạnh
nó lúc này là một cô bạn gái. Nó sẽ dắt tay cô bạn gái mới quen kia chạy hút
vào nương cà phê. Hai đứa tuy dắt tay nhau nhưng mỗi đứa lại tự chọn lựa chùm
hoa cà phê cho riêng mình để quay ra khoe với nhau xem chùm hoa của ai ngắt được
là chùm hoa trắng nhất, là chùm hoa đẹp nhất.
– Lợi. Con xem giúp mẹ là
có đúng chỗ này không?
– Tôi chạy xe qua đây nhiều
lần rồi, tôi biết đúng là chỗ mà chị đã nói.
Chú tài xế bây giờ mới
lên tiếng. Giọng chắc nịnh đầy tin cậy.
– Chỗ này nghe nói năm bảy
hai đánh nhau dữ lắm. Chắc quá đi rồi.
– Nhưng tôi thấy nó lạ lắm
không giống như…
– Bà chị của tôi ơi. Ngần
bấy năm qua rồi. Cảnh vật không thay đổi mới là lạ. Tin tôi đi.
– Nhưng mà Lợi con cứ xem
giúp mẹ. Chú tài chú ấy nói cũng không sai nhưng con cũng xem lại giúp mẹ.
– Con xem bằng cách nào?
– Ừ nhỉ.
Bà Chiên càng hoang mang.
Nắng ban trưa soi lấp lóa càng làm bà thêm hoang mang. Cánh rừng cà phê xanh
ngút ngàn nở vẽ muôn hoa trắng như thử thách nhận thức của bà. Một thoáng ngần
ngừ, bà Chiên tủi thân khẽ rơi những giọt nước mắt. Đã đến đây rồi không lẽ chịu
bó tay mà đành quay về? Đã đến đây rồi mà không làm trọn được tâm nguyện thì
day dứt lắm. Bà Chiên cứ đứng thở ngắn than dài, chịu chưa nghĩ được cách nào để
xác định. Thằng Lợi đã thôi dòng mơ mộng yêu đương. Nó băn khoăn nhìn mẹ rồi lại
nhìn những cây cà phê rung rinh hoa trắng. Thực tình nó cũng chưa nghĩ gì hơn mẹ
nó. Hai mẹ con đứng thẫn thờ suy tính.
Một cơn gió thổi từ sâu trong những hàng cà phê thổi vọng ra. Gió man mát như làn gió ấy vừa thổi qua mặt nước. Cơn gió thổi thoáng qua nhưng đủ cho hai mẹ con bà thấy đỡ tủi. Mùi hoa cà phê thơm nồng nàn thơm quyến rũ theo làn gió bủa ra vây quanh chỗ hai mẹ con bà Chiên đang bần thần đứng. Lẫn trong mùi hoa cà phê đang tỏa ra ngan ngát là một mùi hương thoảng nhè nhẹ, mùi hương tuy là lạ nhưng có thể nhận ra được giữa mùi thơm của muôn hoa. Khen khét giống như mùi của lửa cháy.
Tiếng đạn đại bác nổ, tiếng
đất đá rơi rào rào đột ngột im phắc. Trời đã hửng nắng song không có nấy một
tia nắng nào có thể xuyên qua được màn khói bụi vây bủa như bưng lấy mắt. Trung
đội phó Nguyễn Hữu Tiến nhảy vội lên bờ công sự. “Bên ấy còn ai không?”. Tiếng
gọi quay sang bên trái. “Bên ấy còn ai không?”. Tiếng gọi quay sang bên phải. Vừa
chụm tay làm loa, trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến vừa ngó trước quay sau, quay phải
ngó trái gọi to. Giọng đã khản đi mà vẫn không có tiếng nào đáp trả. Im lặng
quá. “Anh em mình hy sinh cả rồi sao?”. Trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến bỗng
nhiên thấy đơn độc giữa đỉnh đồi khét trơ, đất đá cây cối nháo nhào trộn lẫn
vào nhau đang âm ỉ cháy.
Đêm cách đây hai ngày,
khi tiểu đoàn được lệnh “nhổ” điểm cao 875, một điểm cao tiền duyên của căn cứ
Plei Kần. “Nhổ” được điểm cao 875 cũng có nghĩa là xé toang cánh cửa chốt chặn
đường 14, làm bàn đạp cho quân ta bao vây tiến tới đánh tiêu diệt địch trong
căn cứ Plei Kần. Nhiệm vụ rất cụ thể và cũng rất khó khăn bởi quân địch ở điểm
cao 875 tuy không đông, chừng một đại đội nhưng chúng được pháo binh từ các căn
cứ quanh đây luôn chi viện. Đặc biệt là pháo 155 ly của địch ở Plei Kần lúc nào
cũng có thể bắn tới dữ dội. Nổ súng bất ngờ và nhanh chóng, tiểu đoàn đã đẩy
lùi số quân ngụy đóng trên điểm cao xuống chân núi. Lũ lính ngụy bị đòn đánh
choáng váng không kịp kháng cự, hoảng sợ bỏ chạy về co cụm trong căn cứ
Plei Kần. Tiểu đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ ban đầu và được bổ sung nhiệm vụ mới.
Đó là để lại một đại đội có tăng cường làm nhiệm vụ chốt chặn trên điểm cao 875
không cho quân ngụy tái chiếm lại điểm cao 875.
Trung đội phó Nguyễn Hữu
Tiến chạy đi chạy lại hy vọng tìm được anh em mình. Đợt pháo 155 ly dập lên điểm
cao của địch vừa rồi kéo dài và dữ dội tưởng không mở được mắt. Khói đạn bao phủ
mù mịt khắp trận địa, những tiếng nổ chát chúa ngỡ nát vụn cả trời. “Bọn này lắm
pháo nhiều đạn thật”. Trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến đã mấy lần bị đất lấp vùi lại
mấy lần tự gạt đất ngoi lên. Giờ trận địa bỗng nhiên im phắc như nơi đây chưa hề
hứng chịu những trận pháo kích của địch. Mắt ngó từng căn hầm, mắt dòm từng hố
đạn. Tuyệt nhiên vắng lặng. Những đoạn chiến hào hoặc bị pháo bắn sạt đổ hoặc bị
lấp đầy đất đá. Những căn hầm biến dạng, chỉ còn lại là những hố đạn đen sì.
Không gian sặc một mùi khét lẹt. Mắt cay sè vì khói và vì thấy lẻ loi, trung đội
phó Nguyễn Hữu Tiến ngồi thụp ngay trên bờ công sự.
“Làm gì tiếp theo đây?”.
Trong đầu bắt đầu vang lên những câu hỏi. “Bỏ về phía sau? Không được. Như thế
là bỏ trận địa. Bỏ trận địa tức là đảo ngũ”. Nghĩ tới đây trung đội phó Nguyễn
Hữu Tiến thấy như mình vừa phạm vào một điều gì hệ trọng lắm. “Lệnh của trên
là, bằng mọi giá phải giữ được điểm cao ít nhất là ba ngày. Ba ngày đủ để cho đội
hình trung đoàn hành tiến theo đường 14 tiến đánh bao vậy Plei Kần”. Đinh ninh
nhớ lại nhiệm vụ, trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến lẩm nhẩm. “Sáng nay nữa là đã
sang ngày thứ ba. Không hiểu đội hình của trung đoàn đã vượt hết đường 14
chưa?”.
Sau khi mất điểm cao 875,
quân địch trong căn cứ Plei Kần không tổ chức cho bộ binh đánh ra mà chúng lợ dụng
sức mạnh của pháo binh liên tục pháo kích lên điểm cao. Chúng hy vọng gây sát
thương lớn cho quân ta ở đó. Những đợt pháo kích suốt hơn hai ngày qua quả tình
cũng đã làm quân ta thương vong nặng nề. Anh em hứng chịu hết đợt pháo này chưa
kịp khôi phục công sự chiến đấu lại phải hứng chịu đợt pháo kích mới. Hơn hai
ngày trằn mình giữa tiếng đạn nổ, trằn mình giữa khói bụi và thương vong nên
quân số hao đi trông thấy. Đại đội trưởng đã phân công trung đội của trung đội
phó Nguyễn Hữu Tiến giữ hướng chính diện. Hướng chịu nhiều đạn pháo của địch nhất.
Cố căng tai ra để kiểm
tra lần nữa. Vẫn không có một tín hiệu nào cho thấy anh em mình đang ở đâu.
“Không có lẽ mọi người đã được lệnh rút mà mình không hay? Không lẽ lúc mờ sáng
nay anh em đã rút”. Trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến đâm phân vân, lúc mờ sáng nay
pháo địch bắn lên dữ dội. Sức ép của một quả đạn 155 ly nổ gần đã hất trung đội
phó Nguyễn Hữu Tiến văng lên khỏi công sự và ngất đi. Đất đổ rơi xuống ào
ào vùi lấp nửa người, phải gắng lắm trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến mới tự gạt đất
ngoi lên được. “Anh em đã rút đi không kịp tìm mình. Hay là mình cũng rút?
Không được. Không được nghe lệnh chính thức mình không thể rời trận địa được.
Nhưng liệu quân ngụy đánh lên mình một mình làm sao giữ được?” Cả đống băn
khoăn khiến trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến lâm vào trạng thái khó xử.
Bầu trời đã quang trở lại.
Từng cơn gió mạnh mẽ thổi thốc từ chân điểm cao làm bốc vung lên những đám bụi
đỏ lòm. Khắp trận địa phủ đặc một màu đỏ của bụi. Nhảy xuống một đoạn giao
thông hào còn khá nguyên vẹn để tránh gió bụi, trung đôi phó Nguyễn Hữu Tiến vừa
lau lại khẩu AK vừa kiểm tra số đạn còn lại. “Chết rồi. Còn mỗi một băng. Làm
sao bây giờ?”. Như một người bị dồn vào thế khó, trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến
toan ngóc đầu lên nhìn quanh quất xem anh em mình còn bỏ sót băng đạn nào không
thì loạt đạn pháo tiếp theo chụp xuống nổ dậy đất. Báo hiệu cho một đợt pháo
kích dữ dội mới. Chúi đầu cố tránh đất đá cây cối khỏi vung vào người, trung đội
phó Nguyễn Hữu Tiến đưa tay gạt chốt an toàn. Súng đã lên đạn. Những tiếng nổ dậy
đất vang lên không ngớt. Mặt đất rung lên bần bật. Mặt đất giẫy lên như con cá
còn tưoi nằm trong chảo nóng.
“Chắc giờ này ở nhà thằng
Thanh con mình đã được nghỉ hè. Không biết nó có chạy chơi đâu không? Chơi đâu
thì chơi chứ chạy chơi ngoài đê nguy hiểm lắm. Sơ sẩy chân tay mà ngã thì khốn”.
Trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến mơ mơ nhớ về nhà. “Bây giờ mà mình được về nhà
thì thằng Thanh khoái lắm đây. Đã bốn năm mình xa nhà rồi còn gì. Năm nay nó đã
mười một mười hai tuổi rồi. Nó học lớp mấy rồi nhỉ?”. Luồng suy nghĩ bị cắt
ngang bởi một quả đạn 155 ly nữa nổ gần miệng chiến hào. Đất vung lên rồi đổ xuống
đánh rầm. “Khiếp. Chúng bắn mới khiếp chứ”. Trung đôi phó Nguyễn Hữu Tiến chỉnh
lại tư thế ngồi. Sức mạnh của quả đạn vừa rồi đã đẩy người xô lệch đi như ngã
ngửa ra.
“Thằng Thanh chắc nhớ bố
lắm đây. Hôm mình dẫn nó lên chơi trên đê nó cứ hỏi mãi những câu hỏi vớ vẩn.
Thôi kệ đi. Trẻ con ấy mà. Chúng hỏi nhưng chúng có biết chúng đang hỏi câu gì
đâu”. Trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến tự an ủi. Một cành cây văng ụp xuống che
kín bầu trời vốn sặc sụa khói bụi. Cành cây làm đoạn chiến hào mà trung đội phó
Nguyễn Hữu Tiến đang ngồi nấp đã tối đen lại thêm tối đen. Những tiếng nổ dậy đất
liên tiếp như không muốn dừng. “Chúng bắn xong là xua quân lên đấy”. Tự nói như
vậy, trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến lại sốc lại khẩu AK.
Dứt đợt pháo. Trung đội
phó Nguyễn Hữu Tiến lại nhảy lên bờ công sự. “Ngồi mãi đây không ổn. Lên đó xem
xem chúng có hành động gì tiếp theo chứ. Bọn này chắc cay cú lắm đây? Chúng còn
chưa quên đòn choáng váng ban đầu mà. Chúng còn bắn pháo thăm dò chán?”. Trên
trận địa khói bụi đang bốc lên dầy đặc. Không một tia nắng mặt trời nào
có thể dọi xuống điểm cao 875 được. Không thể nhận ra bất cứ một thứ gì. Cuối
tháng năm rồi mà tối om om như giữa đêm tháng chạp vậy. “Thằng Thanh nhà mình
khoái trò đánh trận lắm. Cái thằng chỉ thích nghe kể chuyện ngày xưa cánh đồng
làng mình là một bãi chiến trường rộng lớn. Mà đúng quá đi chứ”. Ý nghĩ nhớ nhà
lại ùa tới làm trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến chợt thấy buồn buồn. “Không hiểu
thằng Thanh đã lớn bằng ngần nào rồi nhỉ? Chắc cũng lại thấp nhỏ như bố nó
thôi”
Một cơn gió thổi mạnh thốc
cuốn từ chân điểm cao lên. Bụi đỏ bám kín mặt mày. Trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến
vơ chiếc mũ tai bèo đang đội trên đầu xuống định lau mặt. Như sực nhớ ra điều
gì, trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến dừng vội tay. Gió vẫn thổi thốc lên. Chiếc mũ
tai bèo chợt lật bật kiểu như có ai đó đang níu tay hỏi muốn cầm. Cảm giác rất
rõ ràng đang giật giật đang thúc giục mãnh liệt. Trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến
đã nhớ ra. “Thằng Thanh nhà mình thích chiếc mũ này lắm. Mình đã hứa với nó là
lần về thăm nhà sau sẽ lại cho nó đội”. Trận địa lại im lặng nhưng đó là sự im
lặng của chờ đợi điều khủng khiếp hơn.
Nhảy nhanh xuống và lần
theo đoạn giao thông hào tới căn hầm sập gần đó. Quáng quàng như chỉ sợ không
còn thời gian. Trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến vội vã bới đất lục tìm. Căn hầm sập
này đêm hôm qua mấy người còn lại trong trung đội đã trú ở đó. Nó phải còn thứ
gì chứ? Trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến vừa bới đất vừa hy vọng. Đây rồi. Có thế
chứ. Một mảnh tăng bộ đội, thứ vải ni lông quàng che mưa sót lại sau những đợt
pháo dập của địch giờ rách nham nhở. Ngoắc tay lấy con dao găm giắt bên sườn,
trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến lại vội vã cắt cắt những chỗ rách. Vừa đủ thành một
mảnh lành lặn cỡ bằng khổ một tờ báo.
“Tốt rồi”. Trung đội phó
Nguyễn Hữu Tiến đặt chiếc mũ tai bèo vào giữa mảnh tăng, “Cất đi để mang về làm
quà cho thằng Thanh”. Vừa nói vừa cẩn thận vuốt gấp mảnh tăng ni lông cho vuông
vức, cho chặt chẽ, cuối cùng thì chiếc mũ tai bèo đã được bọc kín. Trung đội
phó Nguyễn Hữu Tiến còn cẩn thận đút “gói quà” vào trong chiếc ăng gô, loại vật
dụng được trang bị để chứa khẩu phần ăn hàng ngày. Đậy nắp ăng gô thật chặt lại
lúc đó trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến mới thực sự hài lòng. “Mình còn chiếc mũ
còn”. Tự yên tâm với thành quả vừa làm và yên chí với món quà vừa cất kín,
trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến giắt đeo chiếc ăng gô vào dây thắt lưng và lại nhảy
lên bờ công sự.
Gió thổi lồng lộng, điểm cao 875 lúc này giống như một cái cây to đơn độc bị gió xô nghiêng ngả. Bầu trời chao đảo. Mặt đất chao đảo. Tiếng đạn nổ long óc. Tiếng lửa cháy xèo xèo. Tiếng đất đá vung lên rồi đổ xuống rào rào tung bụi đỏ mịt mù. Trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến thấy cả người mình như được ai đó hất bổng lên. Chới với trên mặt đất và như đang quay tròn lơ lửng. Cả người trung đội phó Nguyễn Hữu Tiến xoay tít mù như một chiếc chong chóng. Rồi bỗng nhiên chiếc chong chóng bị trăm ngàn bàn tay thi nhau giằng xé. Bộ cánh làm bằng giấy của chiếc chong chóng rách tua tủa, trơ khấc cái khung thân làm bằng tre nhưng cũng đang bén lửa. Chiếc chong chóng vừa rơi phịch xuống mắt đất như bị ai đó ném phũ phàng, vừa bốc cháy đùng đùng. Lửa cháy tứ tung khắp điểm cao, khói đạn và bụi đỏ dầy đặc. Chiếc chong chóng, mà giờ chỉ còn là cái khung bằng tre đang cháy, lăn tuồn tuột xuống chân điểm cao 875, nó lăn bằng một sức đẩy vô hình không gì níu giữ được.
Cuối cùng thì mẹ con bà
Chiên cũng có được một người dẫn đường. Chú tài xế sau khi nói hai mẹ con
bà ngồi trú tạm trong nương cà phê vừa nghỉ ngơi vừa tranh thủ ăn bữa trưa đã
chuẩn bị sẵn thì đánh vụt xe đi. Chiếc ô tô loại bảy chỗ ngồi, hiệu Inôva,
phóng đi đâu không rõ, bà Chiên đâm hốt hoảng. Không lẽ anh ta bỏ mặc cho hai mẹ
con bà cứ ngồi đây rồi không biết sẽ làm gì tiếp theo? Nhưng anh ta bảo cứ đợi
thì đành ngồi đây mà đợi chứ sao. Hơn nữa chú tài lái chiếc xe này do đích thân
ông trưởng thôn tìm thuê giúp. “Một người thạo đường đất và quen biết lắm người
trong đó. Toàn chỗ những người có thể giúp ta được”. Ông trưởng thôn nói như
đinh đóng cột.
Hôm cùng bà Chiên lên ủy
ban xã xin ý kiến chỉ đạo không thành, trên đường quay về chừng như ông trưởng
thôn cũng rất áy náy. Dọc đường ông luôn phác ra một loạt những kế hoạch làm bà
rối tung cả đầu. Thực tình là chỗ bà con họ hàng trong làng nên ông cũng có
nghĩa vụ đền đáp với liệt sĩ. Đấy cũng là trách nhiệm nhưng việc ông có nghĩ,
có phác ra bao nhiêu kế hoạch cũng chẳng đủ. Và một kế hoạch mới nhất sau bao
ngày suy tính mà ông trưởng thôn đưa ra đã dẫn tới chuyến đi này của hai mẹ con
bà Chiên. “Coi như việc này do gia đình tự nguyện tiến hành làm lấy. Địa phương
coi như gia đình quên chưa báo cáo. Hợp tình và hợp lý”. Ông trưởng thôn tỏ ra
tâm đắc với kế hoạch của mình. Ông sốt sắng tìm thuê xe và dặn kỹ trước khi hai
mẹ con bà đi. “Khi nào về tới gần làng thì gọi điện báo”. Đơn giản như cách để
xem hai mẹ con bà đi có đến nơi về có đến chốn không.
Chú tài xế đã đánh xe
quay lại, chú tài còi bấm bim bim gọi hai mẹ con bà Chiên. Bà Chiên mừng suýt
khóc. Đàn bà là vậy, dễ xúc động và luôn cảm thấy yếu đuối trước những thử
thách, trước những chờ đợi. Chú tài xế đánh xe quay về đúng lúc hai mẹ con bà
đã tưởng bị bỏ rơi, chú dẫn tới trước mặt hai mẹ con bà một người đàn ông chừng
sáu mươi hai sáu mươi tư tuổi. Một người đàn ông Tây Nguyên đích thị. Ông này mặt
tròn tròn, tóc quăn lượn sóng nhưng đã bạc cước, nước da màu đỏ đồng. Ông ta ăn
mặc mới lạ kỳ. Chiếc áo kiểu vạt buông, may bằng vải thổ cẩm màu đen, với những
sọc đỏ dài chạy suốt thân trước, tay áo được khoét hở nách lộ căng những cơ bắp
trên cánh tay. Ông ta mặc một chiếc quần bộ đội cũ, ống sắn tới gối, có thể ông
này vừa đi nương về hoặc cũng có thể đoạn đường sắp tới sẽ dài dài . “Còn hơn cả
sự trông đợi. Ông đây đã nhận giúp là xong phéng”. Chú tài nói dứt khoát ngay
khi hai mẹ con bà thấy tiếng chân người đi tới bèn ló mắt ra khỏi bụi cà phê.
Thằng Lợi đứng ngẩn mặt ra nhìn cái ông người dân tộc Giẻ Triêng, như lời giới
thiệu của chú tài xế. Với nó hình ảnh này cũng lạ lẫm và đầy bí ẩn như những
cánh rừng cao su hay những vạt đồi nương cà phê mà nó đã nhìn không chán mắt.
Bà Chiên lí nhí cất câu
nói cám ơn ông người dân tộc Giẻ Triêng đã nhận lời giúp hai mẹ con bà. Bà bấy
giờ mới thực sự tin câu nói của ông trưởng thôn về người lái xe. Chú tài nhay
nháy mắt, vẻ tỏ ra tự mãn về sự thông thạo của mình với thằng Lợi. Hai chú cháu
nó suốt dọc đường đi đã nên thân. “Sao ở đời còn lắm người tốt thế?”. Bà Chiên
tự nhủ sau khi chú tài hẹn tầm trưa hôm sau quay xe lại đón đúng ở chỗ này.
Nhánh đường đất đỏ in hằn
vết bánh xe máy chui qua những lùm cà phê. Chui qua mùi hương nồng nàn vây bọc
làm thằng Lợi thích mê tơi. Nó căng căng chân đi kiểu đi nhay nhảy. Từng hàng
cây cà phê cao hơn tầm tay với xòe rộng tán lá che rợp con đường, càng vào sâu
trong nương cà phê ánh sáng càng giảm đi, có đoạn con đường thẫm lại. Ông người
Giẻ Triêng chẳng nói chẳng rằng chân bước lên phăm phăm đi trước. Tay lăm lăm
con dao phát cây, chứng tỏ ông ta rất biết đường dẫn tới địa điểm mà bà Chiên
nói lúc họ gặp nhau. Địa điểm bà Chiên có được trong giấc mộng báo chỉ đại khái
nói là điểm cao 875. Họ đi vội vã. Vừa hết nương cà phê này lại chui qua một
nương cà phê khác, tưởng chừng khắp nơi đây chỉ có cà phê với cà phê. Nhánh đường
đất đỏ cũng lần lượt hiện ra như nó chẳng bao giờ chấm dứt. Ông người Giẻ
Triêng vẫn lầm lũi đi trước dẫn đường và vẫn chẳng nói chẳng rằng như lúc họ mới
gặp nhau. Hình như những người dân tộc đều ít nói? Chốc chốc ông lại quay mặt lại
nhìn xem hai mẹ con bà Chiên đi theo có kịp không. Quay đầu lại nhìn hai mẹ con
ông người Giẻ Triêng lại ngước nhìn bầu trời. Có vẻ như ông muốn nhắc đi nhanh
kẻo không kịp tới nơi trước khi mặt trời lặn. Con đường mòn chạy xuyên những
nương cà phê ướt sũng nước. Thằng Lợi đi khá khó khăn bởi nó chưa quen đi đường
đất ướt. Mỗi bước chân của nó dường như ngày mỗi nặng nề. Đất đỏ dưới nền đường
đã biến đôi dép của thằng Lợi thành một đôi dép có đế bằng đất dầy bám chặt. Lưỡng
lự giây phút, thằng Lợi quyết định tụt dép đi chân trần giống ông người Giẻ
Triêng. Quả tình những bước chân của nó đã nhẹ nhàng hơn và đỡ bị hút xuống đất
hơn.
Ông người Giẻ Triêng vẫn
phăm phăm đi với những bước đi chắc chắn. Người dân tộc hình như đã đi là đi một
mạch cho tới đích chứ không ngần ngừ hay vừa đi vừa tính nghỉ. Tính cách của họ
thật dứt khoát chứ không có tính lưỡng lự . Lần đầu tiên được gặp và được một
người dân tộc Tây Nguyên đích thị dẫn đường đã làm bà Chiên hơi ngỡ ngàng. Bà cứ
ngỡ những người dân nơi này chắc gì đã nhiệt tình tới mức bỏ cả việc nhà để đi
giúp những người từ nơi xa đến. Bà nghĩ như vậy trong lúc đầu bà phân vân đặt
ra bao câu tự hỏi. Những người dân tộc ở đây liệu họ có khắt khe hay tò mò
không? Bây giờ cứ nhìn thái độ của ông người Giẻ Triêng này cũng đủ biết người
dân tộc Tây Nguyên thật thà và không có tính thóc mách. Họ dường như không quan
tâm đến thái độ dò hỏi của người đi theo mình. Họ dường như không muốn biết những
người mà mình đang dẫn đi này ở đâu tới và nhằm mục đích gì.
– Bác ơi! Sắp tới chưa ạ?
– Dà. Đi mỏi chân thì tới
thôi.
Thằng Lợi nghe vậy mà đầy
ngao ngán. Với nó thì đôi chân đã mỏi nhừ từ lâu rồi nhưng với ông người Giẻ
Triêng này mà mỏi chân thì còn xơi. Còn xơi nghĩa là nó còn phải gắng sức cố
lên mà đi nữa. Chiếc ba lô học sinh trên lưng nó lúc này sao bỗng nặng ghê gớm
dù thực tình tuy nó căng phồng nhưng cũng chỉ những thứ lặt vặt đơn giản và nhẹ.
Thằng Lợi nhăn mặt ngán ngẩm luồn tay vén hai dây quai bô lô. Nó không dám nói
tới chuyện xin được nghỉ ít phút. Nắng đã ngả sang chiều nhưng dường như những
vạt đồi nương cà phê nối nhau còn chưa dứt. Điều này làm thằng Lợi thêm lẫn bấn.
Chiếc ba lô này do ông
trưởng thôn cho mượn chứ nó làm gì có. Ngày bố nó, tức ông Thanh bị bắt đi, nó
mới mười ba tuổi. Mười ba tuổi nghĩa là nó đang học lớp 7. Cái tuổi còn quá nhỏ
để hiểu được sự đời nhiều phức tạp. Vậy mà nó hiểu. Đơn giản là nó không dám trở
lại lớp học nữa bởi những ánh mắt bi phẫn và sự xa lánh của lũ bạn cùng lớp.
Không đứa con gái hay thằng con trai nào trong lớp lại gần bên nó chứ nói gì
chúng nghịch chơi với nó. Dại gì chơi với con của một kẻ “giết người”. Dại gì
chơi để rồi những đứa bạn khác cũng tránh xa mình. Thế là thằng Lợi bỏ học. Nó
bỏ học mặc cho mẹ nó nói thế nào cũng không nghe. Nó chạy một mạch từ trường về
nhà. Nó chạy tút vào tận buồng rồi cài then trái cửa lại khóc dấm dức. Khóc cho
tới khi bà Chiên đi làm về cứ tưởng nó mải chơi đâu mà bổ đi tìm. Bà chạy tìm
khắp làng cũng không thấy thằng Lợi đâu. Bà đứng bần người giữa nhà mà lo lắng.
Không hiểu thằng Lợi do mải chơi gì mà mãi tối rồi vẫn chưa về, hay là thằng
này bỏ đi đâu thì khốn? Mấy hôm nay bà thấy nó buồn buồn ra mặt.
Cho tới khi con Lanh vào
buồng lấy gạo nầu cơm mới thấy cửa buồng được cài then trái mới phát hoảng. Thằng
Lợi khóc chán mệt quá ngủ tít mít. Con Lanh phát hoảng kêu mẹ tới, hai mẹ con
nghe tiếng thở lẫn trong tiếng thút thít vọng ra mới bớt tá hỏa. Thằng Lợi bỏ học
từ hôm đó. Tội nghiệp thằng bé nhưng bà Chiên cũng chịu. Bản thân bà cũng phải
chịu nghe nhiều lời ong tiếng ve, mà toàn là những lời độc địa. Là người lớn,
hơn nữa bà không vững thì hai đứa trẻ còn biết bấu bám vào ai. Con Lanh tuy
cũng bị ghét bỏ lây nhưng nó thương mẹ. Thương mẹ mà cố gạt mọi chuyện bên tai
để cùng mẹ lo chuyện đồng áng. Lúc này mà nằm nhà hay chạy trốn thì chết đói.
Con Lanh nghe mẹ nó nói thế nên cũng gượng theo mẹ ra đồng. Nhưng thằng Lợi còn
quá nhỏ. Nó quá nhỏ để có thể gạt được ưu phiền mà đứng lên.
Lại một vạt đồi nương cà
phê nữa. Mùi hoa cà phê nồng nàn không xua được cảm giác mệt mỏi của hai đôi
chân thằng Lợi. Bà Chiên với tay vỗ vỗ vào lưng ba lô. Bà muốn cầm giúp thằng Lợi
chiếc xẻng mà nó đã vác suốt từ lúc rẽ vào con đường mòn chạy xuyên nương cà
phê đến giờ. Với bà Chiên thì lúc này không thấy mệt. “Con cứ đi hết những vạt
đồi thấp thì tới điểm cao 875”. Lời dặn dò trong giấc mộng báo làm bà thấy cái
đích cần tới. Đã xác định được đích tới nên bà không thấy mệt. “Con tới nơi cha
sẽ chỉ bảo tiếp”.
Họ rồi cũng vượt hết những
nương cà phê. Đã thấy trước mặt dẫy núi xanh thẫm rậm rì cây lá. Mắt bà Chiên
sáng lên. Lúc này ông người Giẻ Triêng mới bảo dừng lại. Họ phải vượt ngược lên
đỉnh điểm cao 875 rồi mới sang được sườn đồi bên kia. “Cha nằm dưới chân điểm
cao 875”. Bà Chiên thận trọng nhắc lại với ông người Giẻ Triêng như vậy.
Trời bắt đầu chuyển về
chiều tối. Mặt trời đã thôi tỏa ánh nắng. Mặt trời đã mất hút sau dẫy núi phía
tây. Cảm giác se se lạnh dần lan khắp cơ thể lúc họ ngồi nghỉ lấy sức vượt dốc.
Ông người Giẻ Triêng bấy giờ mới ngừng hút thuốc. Suốt dọc đường đi luôn kèm
bên tiếng thở phì phì là những làn khói thoát ra sau mỗi lần tiếng “bập bập”
phát ra từ chiếc tẩu mà ông người Giẻ Triêng luôn ngậm lệch một bên miệng. Một
người hút thuốc phát khiếp. Bà Chiên thầm nghĩ nhưng cũng thấy vui vui. Mùi
khói thuốc tỏa về phía sau, về phía hai mẹ con bà khen khét làm không gian bên
đường đi như được ai đốt củi sưởi lửa. Có thứ mùi vị ấy cũng làm ấm lên, làm
không khí đỡ lạnh mát.
Ông người Giẻ Triêng dốc dốc nõ tẩu váo lóng bàn tay. Dốc xong ông tra tiếp một mồi thuốc rõ to vào đó. Chắc mồi thuốc này đủ tới chỗ mình phải tới? bà Chiên ước đoán. Nắng đã tắt hẳn. Bầu trời cao nguyên vụt cao cao và tải mênh mông. Bầu trời trong thanh nhè nhẹ đủ để tầm nhìn được rõ ràng. Về tối cao nguyên vẫn anh ánh sáng.
Điểm cao 875 nổi bật trên
nền trời đã bắt đầu chuyển từ anh ánh sáng sang màu xanh đâm đẫm. Nó càng nổi bật
cũng bởi vì giữa rất nhiều những vạt đồi lúp xúp nối nhau được phủ đầy cây cà
phê thì điểm cao 875 nhô hẳn lên. Ánh sáng mặt trời chiếu dọi ban ngày dường
như đã hút hết vào những cánh hoa cà phê và giờ là lúc những cánh hoa cà phê trắng
tinh trả lại cho không gian màu trắng sáng ấy. Ông người Giẻ Triêng cười khà
khà vẻ tự mãn nguyện, nụ cười đầu tiên kể từ khi họ đi với nhau đến giờ. Nụ cười
hồn nhiên cũng làm bà Chiên chẳng biết mô tê nhưng cũng cười theo. Thằng Lợi thấy
thế cũng nở một nụ cười. Nó đã bớt mệt. Đôi chân dù nghỉ ít phút nhưng cũng đỡ
nặng nề. Gió thổi khoáng đạt, từng làn gió thổi trong buổi chiều tối chạy thung
thăng trên những chùm lá cây cà phê. Đâu đây vọng lại những tiếng u oa bởi gió
khi chạy thung thăng đã xoa xít những chùm lá xanh làm phát lên tiếng động. Lao
xao như trăm ngàn lời nói khiến vẻ ban đêm đang chậm rãi tới gần bỗng như thân
thiện hẳn.
Vượt qua một con suối cạn,
dấu hiệu ngăn cách những vạt đồi nương bạt ngàn cà phê với điểm cao 875 mọc dầy
những cây rừng cao lớn. Đoàn người cứ ngược thẳng lên đỉnh điểm cao. Phải ngược
lên như vậy mới xác định được chính xác phương hướng. Ông người Giẻ Triêng nói
như vậy và liên tục vung dao phát lá cây mở lối. Con dao phát cây từ trưa đến
giờ mới có dịp phát huy tác dụng. Lá cây rừng phát tới đâu bàn chân của ông người
Giẻ Triêng đặt tới đó. Hai mẹ con bà Chiên cứ tuần tự cắm cúi đi theo dấu chân
của ông người Giẻ Triêng.
Ngược thẳng dốc lên đỉnh
nên khá vất. Thằng Lợi nghiến răng cố gắng sức để khỏi tụt lại. Nói thực nếu
bây giờ mà nó tụt lại thì chỉ có nước lạc trong rừng. Đường đi vừa đi vừa phát
lá. Bây giờ bị tụt lại mà lạc thì chắc có nước chết. Nghĩ vậy nên thằng Lợi
không dám nhụt ý chí. Ông người Giẻ Triêng dường như càng đi xa, dường như đường
đi càng khó khăn, dường như trời càng tối thì ông càng dẻo dai. Mỗi bước đi của
ông bao giờ cũng bắt đầu bằng một động tác vung dao lên phát lá. Người dân tộc
dẻo dai quá. Bà Chiên thầm cảm phục.
Chừng hơn giờ đồng hồ ngược
lên đỉnh điểm cao. Hơn một tiếng đồng hồ vất vả cuối cùng họ cũng lên tới đỉnh
điểm cao 875. Trên này cây cối khá rậm rạp và bóng tối bủa bưng che mọi tầm mắt.
Phía bắc là phía nào bây giờ? Bà Chiên lại thần người hoang mang. Bốn bề vây
quanh là cây lá và bóng tối. Thật như lạc vào nơi chốn của sự bưng bít. Thằng Lợi
thì lộ rõ vẻ thất vọng hơn mẹ nó. Với nó bây giờ chỉ toàn một màu đen của bóng
tối.
Ông người Giẻ Triêng lại
trở lại thái độ lầm lũi ít nói ban đầu. Ông bập bập liên tiếp mấy hơi thuốc rồi
mới ngửa đầu lên nhìn trời. Hai bàn tay ông giơ thẳng hướng lên trời như đang
nói lời cầu khấn với trời đất. Mà đúng là ông người Giẻ Triêng cầu khấn thật.
Ông cất lên những câu nói bằng tiếng địa phương nghe rất ma mị và thành kính. Hồi
lâu như vậy ông mới từ từ buông đôi tay xuống. Ông lại bập bập mấy hơi thuốc.
Nõ của chiếc tẩu ngậm lệch bên miệng ông đỏ lừ lửa cháy.
Thả một làn khói thuốc sặc
mùi khen khét, bấy giờ ông người Giẻ Triêng mới thong thả chỉ tay về phía trước
mặt. “Phía bắc đó”. Bà Chiên nhớn mắt nhìn theo hướng tay chỉ của ông người Giẻ
Triêng. Chỉ có màn đêm đen thẫm bưng bủa. “Từ đỉnh điểm cao 875 con đi xuôi xuống
chân theo đúng hướng bắc. Tới gốc cây cụt có hình thằng người thì dừng lại. Cái
cây này mới bị đạn pháo địch bắn cụt ngọn hồi sáng”. Bà Chiên nhắm mắt, khẽ thầm
thì.
Cũng như lần đi ngược
lên, lần đi xuống này ông người Giẻ Triêng lại lầm lũi đi trước. Lại vừa đi vừa
vung dao phát lá cây. Nói thực lên dốc đã vất xuống dốc lại càng vất hơn. Cả
thân người lúc nào cũng chỉ chực ngã dúi về phía trước. Từng bước chân chồn dồn
làm đầu gối run bần bật. Thằng Lợi hết quờ tay bám cây rừng làm chỗ vịn lại lo
lắng ngoái cổ xem mẹ nó đi đứng thế nào. Đoạn đường đi xuống hoàn toàn dựa vào
cảm giác và trông cậy vào việc ông người Giẻ Triêng phát lá tới đâu. Mấy bận bà
Chiên bủn rủn đầu gối chực ngã. Mấy bận bà vịn kịp được vào cây bên lối đi.
Trong bóng tối che mắt họ lẳng lặng đi xuống chân núi.
Bà Chiên bỗng thấy hoảng
hồn. Chân dốc đã trước mặt như lời ông người Giẻ Triêng vừa nói mà không thấy gốc
cây cụt có hình thằng người đâu cả. Khắp quanh đây toàn những thân cây cao vút
và xum xuê tán lá. Một thoáng chơi vơi trong lòng khiến bà trượt chân ngã khuỵu
xuống. Chẳng cây cối nào cho bà kịp với tay đứng vững. Thằng Lợi cũng chẳng kịp
chìa lưng đỡ mẹ. Bà Chiên ngã khụyu xuống nhưng rất may là bà không bị lăn trôi
xuống dưới chân. Bà ngã khuỵu theo kiểu nằm bò ngay chỗ bà vừa run run chồn dồn
đầu gối.
Chợt ngay bên sườn bà có
gì đấy rung mạnh. Sự rung động chỉ có mỗi mình bà nhận ra bởi nó rung ngay
trong túi áo của bà. Một thoáng lúng túng rồi bà cũng nhớ ra trong túi áo của
bà có chiếc điện thoại di động. Bà cất nó ở đó và quên phắt rằng đã mang theo
nó. Thực ra từ lúc rời nhà vào đây tới giờ bà có việc gì phải gọi điện thoại
đâu. Ông trưởng thôn dặn khi nào gần về tới làng mới gọi kia mà. Con Lanh cũng
thế. Bà đã nói với nó khoảng năm bảy hôm nữa mới gọi về nhà. Bà áng chừng tầm
ngày đó hai mẹ con bà mới về mà.
Chiếc điện thoại rung hối
thúc. Bà Chiên vội móc túi áo lấy nó ra. Thật kỳ lạ, màn hình điện thoại đang bật
sáng nhưng không có tín hiệu nào cho thấy có người gọi vào máy. Hay là do lúc
ngã khuỵu mình đè phải phím nào đấy? Hay là lúc móc túi áo mình lấn bấn đụng
tay mở máy? Bà Chiên run run giơ chiếc điện thoại lên trước mặt. Ánh sáng trên
màn hình điện thoại vẽ ra xung quanh một màu sáng nhờ nhờ. Ánh sáng yếu ớt
nhưng cũng đủ cho bà nhìn được xung quanh là gì. Quái lạ, bà Chiên lẩm bẩm, cột
báo sóng trên màn hình không hề có lấy nửa vạch. Quái lạ, chính bà đã nhắc thằng
Lợi đặt cho bà chế độ ánh sáng màn hình chỉ có năm giây thôi mà. Không hiểu sao
màn hình vẫn sáng lâu lâu như nó không muốn tắt.
Ngần ngừ giây lát để tự định
vị linh tính mách bảo, bỗng bà Chiên nói thất thanh. “Đây rồi! Đây rồi! Ông cụ
linh báo cho biết chỗ ông cụ nằm đây rồi!”. Như một phép nhiệm màu. Cả thằng Lợi,
cả ông người Giẻ Triêng cùng đồng thanh reo lên mừng rỡ. Họ đã được linh báo rằng
họ đã tới đúng chỗ cần tìm. “Cha nằm dưới đất sâu chừng một mét. Con nhớ
nhé”. Bà Chiên quýnh lên cuống quýt. Người bà nóng hầm hập như đang lên cơn sốt.
Không gian bỗng quang quẻ lạ thường. Chợt thoảng lên thứ mùi khen khét nhưng
không phải là thứ mùi từ chiếc tẩu của ông người Giẻ Triêng.
Thận trọng và rất nhẹ
nhàng. Bà Chiên đặt lên mảnh ni lông mà thằng Lợi vừa trải ra những thứ đồ mà
bà đã chuẩn bị sẵn. Một nải chuối chín vàng. Năm quả cam cũng vàng ửng. Một tệp
tiền vàng xếp ngăn nắp. Một bao thuốc lá và một lạng chè. Bầy xong những thứ đó
bà Chiên mới nở nút chai rượu và rót đầy vào ba chiếc chén sứ. Lại thận trọng
và thành kính. Bà Chiên cắm bảy nén hương xuống đúng chỗ đất mà bà vừa ngã khuỵu.
Trong thâm u của rừng cây. Trong bóng đêm bưng bủa. Mùi hương trầm ngan ngát dần
loang ra khắp xung quanh. Thằng Lợi vẻ hai hãi đứng nép bên người ông người Giẻ
Triêng. Ông người Giẻ Triêng hình như đa quen với những tình huống như thế này
nên không rằng không nói. Ông giắt con dao phát cây vào bên sườn rồi đưa tay cầm
chiếc xẻng thằng Lợi đang giữ. Mọi cử chỉ của ông người Giẻ Triêng đều cho thấy
ông đã sẵn sàng xúc những xẻng đất sau khi bà Chiên xong các thủ tục.
Dưới ánh sáng nhờ nhờ của
màn hình điện thoại. Từng xẻng đất đỏ au được xúc lên và đổ gọn sang bên cạnh.
Ông người Giẻ Triêng quả đúng như lời giới thiệu của chú tài xế. “Ông ấy đã nhận
lời giúp mình là xong phéng”. Chưa đầy mười lăm phút cái hố xúc đất đã sâu một
mét. Đất đỏ ướt mềm mềm lại khá tơi xốp nên việc xúc lên cũng thuận lợi. Bà
Chiên vô cùng kinh ngạc khi độ sâu của cái hố vừa người đứng xúc tới khoảng
cách một mét. Dưới đỏ màu đất đỏ au ban đầu đã biến mất. Nó nhường chỗ cho một
lớp đất cháy đen. Mùi tanh tanh như mùi gỉ sắt của đất cháy đen bốc lên làm bà
Chiên rùng mình lợm giọng. Bà ứa nước mắt xúc động.
“Thân thể cha đã tan hòa
với đất. Con sẽ không tìm được xương cốt hay gì khác đại loại như xương cốt
đâu”. Bà Chiên lại lẩm nhẩm những lời nói bà đã nghe được. Nhưng làm thế nào
bây giờ? không tìm được xương cốt thì biết mang gì về làng cho gọi là đã đón được
ông cụ? Những băn khoăn dồn dập đưa tới khiến tâm can bà bấn loạn. Ông người Giẻ
Triêng cũng cảm thấy lúng túng. Dưới lòng hố chỉ còn lại toàn thứ đất cháy đen
và tanh tanh như mùi sắt gỉ.
“Ở dưới lớp đất cháy đen
còn có một thứ quà nhỏ. Con hãy lấy nó lên và mang về. Đó là quà cha gửi cho thằng
Thanh, chồng con. Nó thích thứ quà đó lắm”. Thật nhẹ nhàng như sợ làm hỏng một
thứ đồ vật dễ vỡ, ông người Giẻ Triêng từ từ đưa từng lưỡi xẻng lách bóc lần lần
qua lớp đất cháy đen. Lại cũng vô cùng kinh ngạc khi ông đưa lên mặt đất một vật
thể lạ. Đó là một chiếc ăng gô bằng nhôm không hề méo mó hay gỉ thủng, vỏ ăng
gô sám đen. Mở nắp ăng gô ra, mọi người cùng thất kinh khi trong đó là một gói
ni lông nhỏ gấp vuông vức, khá chặt chẽ và chỉ to bằng cỡ bàn tay. Gói vải tăng
ni lông bộ đội qua năm tháng vẫn nguyên vẹn không hề mục rách. Mọi người lại
nhanh chóng tháo giở chiếc gói ni lông đó ra. Qua ánh sáng của màn hình điện
thoại di động. Một chiếc mũ tai bèo bộ đội giải phóng vẫn còn tươm tươm và cũng
không hề mục rách, không hề biến màu. Quá kinh ngạc và khâm phục sự linh ứng đến
diệu kỳ mọi người cùng chấp tay khấn bái.
Ông người Giẻ Triêng đưa
tay gạt những giọt nước mắt đang lăn trên gò má. Không ngờ cái ông dân tộc cả
ngày chẳng nói năng gì lấy hơn một câu nói này lại xúc động thực sự. Bà Chiên vừa
mếu máo khóc gọi tên liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến vừa giục thằng Lợi xúc ba xẻng đất
cháy đen. Bà thanh kính gói ba xẻng đất cháy đen đó vào vuông lụa đỏ. Bà gói rất
khẽ khàng như sợ làm đau ai đó. “Con hãy mang chút đất cháy đen này về đồng
làng mình. Cha được như vậy là toại nguyện lắm.
CHÍN
Bà Chiên đã sắp
xong mâm cơm cúng.
Chưa tới trưa mà nắng đã
như hun như đúc, khí nóng phả hầm hập. “Không hiểu sao năm 2013 này nắng nóng sớm
thế? từ đầu năm tới giờ đợt này đã là đợt thứ ba rồi. Đợt nắng nóng này chẳng
biết còn bao lâu?”. Lẩm nhẩm như người mới học được điều mới mẻ, bà Chiên xoay
xoay sửa lại cho mâm cơm cúng được đặt ngay ngắn trên ban thờ. Bà cũng không
quên đặt bên tấm ảnh chân dung liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến ba “linh vật” mà bà đã
cùng thằng Lợi mang từ điểm cao 875 về. Đó là chiếc ăng gô bộ đội, mảnh tăng ni
lông và chiếc mũ tai bèo. Ba “linh vật” này cứ đến ngày giỗ liệt sĩ Nguyễn Hữu
Tiến là bà lại cung kính đặt lên ban thờ.
Hẵng còn sớm. Thằng Lợi nghe mẹ nhắc bèn vụt đi, nó chạy sang xóm bên mời ông trưởng thôn. Nhà có mỗi hai mẹ con, mâm cơm cúng cũng đủ đầy, mời thêm ông ấy sang dự cho ấm cúng. Coi như tiện thể được cám ơn ông ấy. Hơn nữa ông trưởng thôn làng Me này đâu phải người xa lạ. Họ hàng làng xóm đỡ đần nhau khi có công có việc đã đành nhưng việc ông ấy đứng ra lo liệu việc đón liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến về làng trang trọng quá làm bà Chiên cứ ơn mãi mà chưa có dịp bầy tỏ.
Loanh quanh một nhoáng đã
xong hết mọi việc, bà Chiên thấy chân tay trở nên thừa thãi. Nắng chói chang thổi
những luồng hơi nóng khiến không gian như dồn lại. Chật hẹn và thiêu đốt. Chốc
chốc lại nghe tiếng “tách” của viên ngói nứt. Chốc chốc lại giật nẩy mình bởi
tiếng nổ đánh “bốp” của ống tre nào đấy trên nóc nhà. Những âm thanh tuy không
mới lạ nhưng nó kêu trong hoàn cảnh vắng vẻ này làm bà Chiên thấy ngài ngại.
Ngước mắt nhìn lên ban thờ. Tấm ảnh liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến đang mở to nhìn xuống
vẻ hài lòng.
“Vậy là ông cụ về đồng
làng đã được bốn năm”. Bốn năm qua trong lòng trong dạ bà Chiên tuy có
đôi chút thanh thản nhưng nỗi trống vắng và mặc cảm thì chưa khi nào nguôi dứt.
Bốn năm qua là bốn năm bà trông chờ vào sự linh ứng của vong linh liệt sĩ Nguyễn
Hữu Tiến. Nhưng cũng đã đi qua bốn năm mà bà chưa nhận được một tín hiệu nào gọi
là khả dĩ. Làng mạc vẫn thế. Nghĩa là vẫn nhìn mẹ con bà bằng những ánh mắt dị
nghị. Làng mạc vẫn thế. Nghĩa là dư luận đàm tiếu quanh chuyện cũ thi thoảng lại
dấy lên làm bà không yên trong dạ. Những con mắt xa lánh, tránh như tránh hủi
càng khiến mẹ con bà thấy khó sống. Trầy trật qua ngày lắm lúc chỉ muốn đi
quách đâu cho nhẹ. Đấy là bà Chiên nghĩ thế chứ đi đâu ở đâu bây giờ. Làng mình
sờ sờ ra đấy còn khó nói gì tới một nơi chốn mới lạ.
Hè này ông Thanh cũng đã
xa nhà được chín năm bảy tháng. Thời gian quả là một thử thách ghê gớm. Thời
gian cứ ngày này qua ngày khác bào xói tâm can bà. Nó cứ làm bà nhức nhối đêm
đêm. “Cứ thế này không khéo ông ấy chết rục trong tù cũng nên”. Bà Chiên rùng
mình nghĩ đến một hôm nào đó, sẽ cũng lại là bà với thằng Lợi, tới trại giam
Hoàng Tiến để nhận xác ông Thanh. Nghĩ thế tuy biết là nghĩ quẩn nhưng mù mịt
thế này biết làm sao được.
Mắt ngóng ra ngoài đầu
ngõ. “Sao chưa thấy ông trưởng thôn tới nhỉ?”. Bà Chiên vẻ sốt ruột. Cơm canh đợi
lâu nguội ngắt ăn kém ngon đi. Đã mấy bận bà đánh tiếng ngỏ ý muốn được cám ơn
ông trưởng thôn cho chu tất nhưng ông ấy cứ gạt phắt. Bữa nay làm mâm cơm cúng
ngày giỗ liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến, bà phải nói mãi ông ấy mới nhận lời. “Hay là
ông ấy lại giữ ý?”.
Buổi sáng cách đây bốn
năm, hôm bà cùng thằng Lợi ở trong Tây Nguyên về tới đầu tỉnh, bà mới gọi điện
báo cho ông trưởng thôn biết. Vậy mà bà không ngờ mọi việc lại diễn ra ngoài sức
tưởng tượng khiến bà xúc động. Xe mới vừa rẽ vào đầu con đường dẫn vào làng đã
thấy ông trưởng thôn đứng đợi. Ông trưởng thôn sáng nay ăn mặc khác hẳn với mọi
ngày. Mọi ngày ông ấy ăn mặc xềnh xoàng như sắp sửa đi cày ruộng. Sáng nay ông
trưởng thôn chỉn chu trong chiếc áo vét màu đen không biết mượn của ai đó. Chiếc
áo vét rộng thùng thình và vẻ mặt ngường ngượng của ông trưởng thôn lúc ấy làm
thằng Lợi phì cười. Bọn trẻ, nhất là bọn mới lớn thường không biết che giấu cảm
xúc. Chúng thấy sao là nói vậy. Ông trưởng thôn cười hề hề, thái độ chân thành
và cử chỉ nhiệt tình. Ông xăng xái lại bên hai mẹ con bà cứ như ông đang làm việc
nhà ông ấy vậy. Bà Chiên thở nhẹ, như trút được nỗi lo lắng trong người, cảm
giác mệt mỏi đường xa biến mất. Xe chạy tới nhà văn hóa của làng Me thì dừng lại.
Bà Chiên bỗng thấy nghẹn ngào pha chút bối rối. Trước mắt bà, gần như cả làng
Me, gần như cả xã Ngọc Hùng cùng ra đón di hài liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến. Ông chủ
tịch xã cũng có mặt. Bà Chiên có nằm mơ cũng không dám mơ tới quang cảnh long
trọng và uy nghiêm này.
Chiếc tiểu sành đựng
trong đó vuông lụa đỏ bọc ba xẻng đất đen, gọi là di hài của liệt sĩ Nguyễn Hữu
Tiến, được chuyển ra khỏi xe. Rất nhanh chóng chiếc tiểu sành được phủ một lá cờ
đỏ. Có những người cựu chiến binh của làng, của xã ăn vận như những người chiến
sĩ thực thụ. Quần áo đồng loạt như nhau, đều là bộ quân phục màu trắng. Mũ kê
pi cũng màu trắng, vành mũ gắn ngôi sao vàng, đội ngay ngắn trên đầu. Trông
đoàn người ra đón cứ như họ chuẩn bị đi dự lễ giao quân đầu năm vậy. Bà Chiên
quá sững sờ trước những gì đã thấy, bà quá xúc động mà bật khóc. Đoàn cựu chiến
binh tản ra thành hàng đôi, trật tự nhưng nét mặt thì biểu lộ vẻ đầy phấn khởi,
đi sau di hài liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến; di hài do đích thân ông chủ tịch xã, ông
trưởng thôn và hai cựu chiến binh làng Me ghé tay đỡ bước đi, tiếp đó là dòng
người già trẻ lớn bé trai gái. Ai ai cũng chậm rãi cất từng bước chân một. Họ cẩn
trọng rước di hài liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến về nhà. Rất trang nghiêm và xúc động
trong âm thanh réo rắt bi ai của tiếng kèn thổi, trong âm thanh ỉ a não buồn của
tiếng nhị kéo, trong âm thanh trầm chắc rắn rỏi của tiếng trống đánh, tất cả đều
do “phường bát âm” của xã bên thể hiện.
Từ lối ngõ rẽ vào tới tận
sân nhà là những lá cờ chuối màu đỏ được cắm dọc hai bên. Sáng nay nắng đẹp nên
màu đỏ của những lá cờ chuối thêm rực đỏ. Trong sân nhà một chiếc bàn độc được
phủ vải trắng kê chính giữa. Chiếc bàn độc đã được bầy biện đầy đủ những thứ lễ
nghĩa của một buổi viếng người quá cố. Di hài liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến được đặt
trên chiếc kệ vững chắc ngay phía dưới chiếc bàn lễ. Âm thanh xúc động do phường
bát âm trình tấu tạm ngừng khi lễ truy điệu chính thức bắt đầu, ông chủ tịch xã
đọc bài điếu văn ngắn gọn. Không biết ai đó đã kịp choàng lên người bà Chiên,
choàng lên người thằng Lợi bộ quần áo vải xô trắng, họ cũng đã kịp thắt giúp
vành khăn tang trắng. Hai mẹ con bà lúc này hoàn toàn quên hẳn chuyện mệt mỏi
đường xa, đứng chắp tay cám ơn bà con làng xóm.
“Vậy là ông cụ nhà mình
đã mồ yên mả đẹp trong nghĩa trang liệt sĩ”. Thế mà trên đường trở về, ngồi
trên xe bụng dạ bà Chiên cứ lo canh cánh. Lo không biết đón ông cụ về làng làng
sẽ đối xử ra sao? Lo không biết chính quyền xã có làm khó dễ không? Lo chỉ có
hai mẹ con biết xoay xở công việc thế nào? Còn bao thứ lo khác mà bà chưa nghĩ
ra. “Không có tay ông trưởng thôn ghé vào giúp thì không biết ra sao” Thầm cám
ơn ông trưởng thôn lần nữa, bà Chiên lại ngóng mắt nhìn ra đầu ngõ. Nắng trải
trắng trên từng ngọn cây.
Chờ đợi sinh rỗi việc. Bà Chiên ngồi thừ trên ghế. Mắt lúc ngóng ra đầu ngõ, lúc ngước nhìn ban thờ. Tuần hương mới cháy được một phần ba. Chắc còn đợi thêm ít nữa. Đằng nào cũng phải đợi hương cháy hết thì mới bưng mâm xuống rồi sau đó mới thụ lộc được. Những tiếng nổ “tách’ những tiếng nổ “bốp” ran ran khiến căn nhà tưởng như đang có nhiều người quây tụ. Vậy là vui rồi. Con Lanh mới gọi điện về sáng hôm qua, giọng nó hồ hởi lắm. Những năm năm hơn rồi còn gì nữa. Nó xa nhà chừng bấy năm là cũng chừng bấy năm bà Chiên luôn canh cánh thương phận đứa con gái sớm phải gánh gian truân. “Quả tình nếu như không có mấy món tiền con Lanh gửi về thì có lẽ mình cũng chịu”.
Lần vào Tây Nguyên đón
ông cụ cách đây bốn năm, bà Chiên đã nẩy sinh suy tính. Bà ấp ủ suy tính đó chờ
dịp nào thuận thì mới đem ra bàn. Sáng nay con Lanh gọi điện về nhà, bà mới chỉ
nói nhắc nó thu xếp chuyện ở bên đó để về nhà sơm sớm. “Đợi nó về rồi bàn tính
hay cứ nói trước xem ý thằng Lợi ra sao? Chả có gì để nghĩ, bà Chiên lại sực nhớ
tới suy tính hôm nào. Nắng nóng gay gắt ngồi trong nhà vẫn thấy ngột ngạt. Trên
ban thờ khói hương chậm tỏa đang luẩn quẩn những vệt khói vừa thanh vừa mỏng.
Mùi hương nồng thơm nhẹ tỏa xuống chỗ bà Chiên đang ngồi.
“Trong đó đất đai màu mỡ.
Người dân tộc tốt bụng lại chan hòa”. Bà Chiên bồi hồi nhớ lại. Bà nhớ những vạt
đồi nương cà phê ngút ngát nối nhau tưởng không dứt. Bà nhớ cái ông người Giẻ
Triêng người thì chân chất, tuy ít nói nhưng việc đâu ra đấy. “Trong ấy người
ta cư xử tốt. Mình tới ở chắc họ cũng không làm phiền”. Nghĩ tới đây thì những
suy tính mới gọi là manh nha chợt như thúc giục. “Phải rồi. Có lẽ nhân bữa cơm
giỗ này cứ thử thăm dò ý tứ ông trưởng thôn xem sao, cứ thử bàn sơ sơ chuyện
bán căn nhà này đi lấy ít vốn, cộng với tiền con Lanh gửi về nữa. Vào trong đó
sinh sống”.
Trước mắt bà Chiên đang vẽ
ra hình ảnh gia đình bà đang sinh sống trong Tây Nguyên. Nhà bà cũng sẽ có những
vạt đồi nương cà phê mùa xuân nở ngàn hoa trắng muốt. Nhà bà cũng sẽ có những
người hàng xóm vui tính và tốt bụng. “Phải rồi. Con Lanh đã hăm nhăm hăm sáu tuổi”.
Tuổi ấy ở làng này, người bình thường đã chẳng có thằng con trai nào đánh tiếng
dạm hỏi về làm vợ, huống hồ con Lanh lại là con ai. Ở làng Me đã bao năm nay
thành tục, con gái chỉ hăm mốt hăm hai đã con bồng con bế. Có khi phải vào
trong đó sinh sống may ra con Lanh nhà mình mới lấy được chồng. Là cha là mẹ ai
mà chẳng muốn con cái lớn khôn có nơi có chốn. Nhà có con gái tuổi cưng cứng
như trong nhà có họa rình sẵn.
“Phải rời làng vào Tây
Nguyên sinh sống thôi”. Ý nghĩ rất cương quyết làm bà Chiên như sắp tháo được
gánh nặng. Vào trong đó, lạ người lạ nước, ai biết chuyện ra sao đâu mà dị nghị.
Vào sống trong đó có khi dễ thở mình lại đỡ hẳn đau yếu. “Chốc nữa ông trưởng
thôn tới mình cứ thử nói. Chí ít thì ông ấy cũng là trưởng thôn, là người có
trách nhiệm với làng với xóm”. Ngóng mắt lần nữa ra ngoài đầu ngõ, bà Chiên
đinh ninh trong đầu “kiểu gì ngồi ăn bữa cơm trưa nay sẽ nói”.
Tiếng kêu “tách” của viên
ngói nứt trên mái nhà khiến bà thấy bàng hoàng cứ như việc đã định xong xuôi vậy.
Không được, bỏ làng đi như vậy khác nào chạy trốn? Ông Thanh ở tù chẳng biết có
ngày về. Mình còn ở làng nghĩa là còn dăm tháng nửa năm cũng có được một lần
lên trại thăm nuôi ông ấy. Mình còn ở làng tức còn trông chờ phận may biết đâu
ông ấy lại có khi sớm về nhà? Vào trong đó, đường xá xa xôi, thời gian cách trở,
không có điều kiện thăm nuôi khác nào bỏ mặc ông ấy. Bỏ mặc ông ấy là có tội.
“Một ngày nên nghĩa vợ chồng kia mà”. Ông ấy dù sao cũng là với bà ngần bấy
năm. Con cái lớn khôn dễ gì chúng cũng theo mẹ mà bỏ mặc bố nó.
Thấy như vừa mắc tội, bà
Chiên bùi ngùi vén vạt áo lên lau nước mắt. Vô tình khi ngước lên mắt bà bắt gặp
cái nhìn của liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến, cái nhìn từ trong tấm ảnh trên ban thờ
nhìn xuống bà bằng vẻ mặt trách móc. “Không được. Ông cụ mới về làng chưa được
bao lâu. Mình cùng các con bỏ vào trong đó biết lấy ai hương khói, biết lấy ai
chăm nom ngôi mộ cho ông cụ”. Buồn phiền thêm buồn phiền, bà Chiên mặt thừ ra tội
nghiệp
Khói hương trên ban thờ chậm tỏa, khói ngưng quền quện, khắp ba gian nhà đọng một mùi thơm ngây ngây. Bà Chiên lại ngóng mắt nhìn ra ngoài đầu ngõ, nắng soi nhoang nhoáng như có bóng ai đó vừa ngang qua. Bóng người quen quen, dập dình ngoài đầu ngõ rồi quay đi vội vã. Nắng chang trắng mặt sân nhà như những ảo hình lay động. Cảm giác khi ngồi nhìn nắng chờ đợi một mình đúng là dễ tạo ảo giác và gây buồn ngủ. Bà Chiên hơi thiu thiu. Đầu nghẹo nghiêng vào bên thành ghế, mắt lơ mơ, những tiếng nổ “tách” hay “bốp” trên nóc nhà không làm bà bận tậm nữa. Cơn buồn ngủ kéo đến cũng làm bà thôi nghĩ ngợi. Căn nhà im ắng vắng. Thứ im ắng vắng trong mùi hương đang chậm trôi.
Từ thị xã Ninh Hòa, bà
Chiên bắt chuyến xe khách lên thành phố Buôn Mê Thuột. Đấy là đích đến của chuyến
xe, chứ còn bà, bà không đi lên tới tận Buôn Mê Thuột. Chuyến xe đã xếp đủ
khách nổ máy rù rù chuyển bánh. Nó bắt đầu hành trình lên cao nguyên theo đường
quốc lộ số 26. Cũng như đường quốc lộ số 14 của chuyến đi lên cao nguyên bốn
năm về trước, đường quốc lộ số 26 trải dài như dải lụa đen mới nhuộm, uốn lượn
men theo các triền đồi. Trên xe đã râm ran câu chuyện. Xe chở khách có khác, mấy
chục con người đủ mọi lứa tuổi đã kịp làm quen với nhau. Những vị khách người
dân tộc ăn vận như đi hội. Người dân tộc hình như bao giờ cũng như đi hội vậy?
Bà Chiên thầm đoán. Đã quen với hình ảnh người dân tộc Tây Nguyên nên bà Chiên
không tò mò. Bà cúi người luồn tay đẩy chiếc túi đeo vai, hành lý mang theo, xuống
gầm ghế và chậm rãi ngắm nhìn cảnh vật hai bên đường. Đang giữa hè nên nắng
chói chang làm những chiếc lá cây ánh lên vàng vàng.
Lần đi này bà Chiên đi có
một mình. Thằng Lợi phải ở nhà trông coi nhà cửa. Hơn nữa chuyến đi này bà
không hề nói rõ sự thực đi để làm gì cho thằng Lợi biết. Nói cho thằng Lợi biết
nó lại cười cho. Thanh niên bây giờ làm gì có đứa nào tin vào chuyện cũ nói lại,
tin vào sự ứng báo mộng mị. Thằng Lợi còn trẻ người non dạ, nói cho nó
nghe không khéo nó can ngăn lại làm hỏng chuyện. Cũng vả lại đã đâu vào đâu
đâu. Lần đi này trong lòng bà có những cảm xúc lẫn lộn. Hy vọng mơ hồ và mong
manh như đốt lửa tìm kim trên rừng. Có thể đúng và có thể sai.
Đúng hai tuần sau hôm làm
giỗ cúng cha chồng, bà Chiên khăn gói vào Tây Nguyên. Bà không nói với ông trưởng
thôn là đi đâu và làm gì, bà chỉ nói với thằng Lợi là bà đi chơi như kiểu đi
cho khuây khủa vậy. Thằng Lợi hỏi đi đâu bà cũng mập mờ nói tránh. Nói thế
nhưng nào giấu được nên bà cũng phải vòng vo cái ý định đưa cả nhà vào Tây
Nguyên lập nghiệp. Thằng Lợi mới đầu nghe mẹ nói chuyện rời làng vào Tây Nguyên
thì mừng ra mặt. Thanh niên mới lớn thường thích bay nhảy mà. Nó tưng tửng mặt.
Nhìn cái mặt của nó ai không biết cứ ngỡ ngày nay ngày mai là nó cùng mẹ nó đã
rời làng rồi. Thằng Lợi đi đi lại lại chân tay vung vẩy. Nó tưng tửng phác ra
ôi bao là dự định. Nào là nhà mình cũng sẽ có những nương cà phê nở hoa trắng
muốt. Nào là nhà mình cũng sẽ có những chiếc xe ô tô loại bán tải chạy ngoằn
nghèo khắp các vạt đồi. “Nhà mình giàu đến nơi rồi!”. Thằng Lợi phấn khích nói
oang oang làm bà Chiên phải bật dậy giơ tay bịt mồm nó lại.
Bà Chiên vào Tây Nguyên lần
này có một mình. Bà đâu có ý định đưa cả nhà vào trong đó lập nghiệp. Cái ý
nghĩ đó bà đã gạt phắt trước khi thằng Lợi mời được ông trưởng thôn sang dự bữa
cơm giỗ liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến. Cũng may là bà đã gạt phắt nên cuộc ăn không
bàn gì tới chuyện rậm rình bỏ làng. Bữa ăn chỉ nói về sắp tới đây phải lo việc
gì làm cho thằng Lợi. Ông trưởng thôn tỏ ra thông cảm nên nói hứa sẽ tìm việc
gì đó. Ngặt nỗi thằng Lợi bỏ học từ cấp 2 nên lo việc gì cũng thấy khó. Thời buổi
bây giờ học xong cấp 3 hẳn hoi cũng chẳng xin nổi một chân phụ hồ nói chi mới đầu
cấp 2 đã nghỉ học. Biết thế nhưng ông trưởng thôn cũng động viên. “Thiếu gì việc.
Không làm xa thì làm gần. Ở ngay làng cũng làm giàu được cháu ạ”. Thực ra ông
trưởng thôn không nói chiều lòng. Ông ấy nói cũng có cái đúng. Nuôi gà nuôi lợn
đấy thôi. Làm kinh tế là phải biết mạnh dạn mà đầu tư. Ở làng nuôi gà nuôi lợn
cũng khối nhà khấm khá. Đợi con Lanh về, hai chị em nó làm kinh tế hộ như ông
trưởng thôn nói cũng tốt. Bà Chiên an ủi thằng Lợi.
Xe gừ gừ leo dốc. Tư thế
ngồi chợt hơi ngả ra cùng chặng đường đi cũng đã dài dài làm mấy người ghế trước,
ghế sau chập chờn ngủ. Chẳng còn nghe những tiếng nói chuyện râm ran ban đầu nữa.
Bà Chiên che mồm ngáp rõ dài tưởng sái quai hàm. Suốt hai ngày qua toàn ngồi
tàu, bà đâu có ngủ được giấc nào cho ra giấc. Tiếng bánh tàu hỏa nghiến ray
sình sịch chẳng giây nào ngớt, những toa tàu chốc chốc lại giật giật va nhau
kêu loảng xoảng làm bà khó ngủ. Hai ngày ngồi gà gật trên ghế trong những âm
thanh khó chịu. Giờ ngồi trong ghế xe khách êm êm, tiếng xe chạy đều đều nghe
rù rù như những lời ru rỉ khiến hai mắt bà nhíp lại.
“Con đi theo đường quốc lộ
số 26, tới thì trấn Ea Kar, cách Buôn Mê Thuột chừng năm mươi cây số thì xuống
xe”. Mắt vẫn nhắm cho đỡ mỏi, miệng lẩm nhẩm, bà Chiên cố căng đầu ra để nhớ.
Mình mà ngủ quên thì lỡ. Đinh ninh như vậy nhưng cơn buồn ngủ nào có buông tha.
Nắng chiếu gay gắt qua cửa xe. Nắng soi nóng bỏng những tấm kính chắn gió, ngồi
trong xe mà mồ hôi nhễ nhại như người đi làm đồng vừa về. Bà Chiên thấy ngột ngạt.
Chính cơn ngột ngạt đã giúp bà tỉnh lại.
Hôm ông trưởng thôn sang
nhà dự bữa giỗ, bà Chiên đã bóng gió nói tới việc bà không tin tội lỗi là do
ông Thanh gây ra. Hình như ông trưởng thôn cũng đồng tình. Những là cách đồng
tình kiểu an ủi chứ nói ra lấy đâu căn cứ. Chuyện rõ ràng mười mươi như vậy nói
làm sao khác được. Nhưng tính nết của ông Thanh thì ông trưởng thôn còn lạ gì.
“Ông Thanh nhà bà nhát như cáy ấy. Người vậy làm chuyện ác không được”. Được
câu nói mát cả ruột, bà Chiên rưng rưng. Hóa ra ông trưởng thôn cũng là người
hiểu biết. Ông ấy có hiểu biết nên ông ấy còn biết động viên. Chứ cứ như những
người khác thì chỉ còn nước bán cả nhà đi nơi khác may ra mới sống được. Người
ta có thể chịu đựng được khó khăn, chịu được bệnh tật những chẳng thể chịu được
điều tiếng, chịu được búa dìu dư luận. Đã bao lần bà Chiên muốn gieo mình xuống
sông Thương chết đi cho rảnh. Nhưng nghĩ tới thằng Lợi gnhĩ tới con Lanh sẽ bơ
vơ bà lại thôi ngay ý nghĩ. Cha nó đang tù tội. Mẹ muốn chết khác nào đem con bỏ
chợ.
Ông trưởng thôn là người
hiểu biết. Không có ông ấy thi thoảng động viên hay giúp đỡ thì gần mười năm
qua bà chẳng biết dựa vào đâu. Bây giờ khó nhất là chuyện phải lo việc gì cho
thằng Lợi, cho con Lanh. Chúng nó sống tinh thần đã khổ không lẽ để chúng nó khổ
cả vật chất.
Quay quay đầu, vặn vẹo
người cho đỡ mỏi. Bà Chiên đưa mắt nhìn qua cửa kính của xe. Cũng những vạt đồi
cà phê nối nhau tưởng không bao giờ dứt. Trong này đất tốt thật đấy. Kể không
vào trong này sinh sống cũng thấy tiếc. Giá mà không có chuyện gì xẩy ra nhà
mình vào cả đây có hay không? Giá mà ông Thanh không lâm vào cảnh tù tội có hay
không? Nhưng nói đi thì phải có nói lại. Không có “chuyện” của ông ấy chắc gì
mình có được chuyến đi này? Đúng là con người thật. Có cái này lại ước cái
khác. Thôi lo chuyện cho ông ấy xong xuôi đã. Tính lúc nào mà chẳng được.
“Tới thị trấn Ea Kar con
hỏi đường về xã Ea Kmút, thôn Đoàn Kết. Nhớ đừng hỏi lầm đường đấy”. Bà Chiên lại
lẩm nhẩm. Từ đây tới thị trấn còn chưa đầy mười cây số nữa. Chú phụ xe vừa
cho mình biết mà. Tự dưng bụng dạ bà Chiên thấy nôn nao. Gần mười cây số nữa là
bà sẽ xuống xe. Gần mười cây số nữa bà sẽ đi tới một nơi của tia hy vọng cuối.
Bụng dạ nôn nao nhưng là cái nôn nao của tâm trạng bồn chồn. Hy vọng có. Sợ thất
vọng có. Không hiểu có đúng như mình được biết không? Không hiểu khi mình tìm tới
đúng nơi đó liệu có được những gì mình mong muốn không? Không hiểu một mình
mình có làm được điều gì không? Có bao nhiêu khó khăn bầy ra trước mắt ngay từ
khi còn chưa tới nơi định đến.
Thằng Lợi ban đầu nghe mẹ
nói sẽ trở vào Tây Nguyên lần nữa đã không tin vào tai mình. Nó ngỡ bà Chiên
nói vui. Nó ngỡ bà nhớ phong cảnh trong đó đẹp như tranh vẽ mà nói cho vui.
Cũng có thể mẹ nó thử xem ý tứ của nó ra sao? Thằng Lợi đứng phắt dậy khi bà
Chiên nói xong câu thứ nhất. Nó há to miệng thể hiện sự vui mừng của mình.
Nhưng cuối cùng thì nó ỉu xìu mặt, ngồi phịch xuống mép giường khi bà Chiên nói
cho nó biết, bà vào Tây Nguyên một mình thôi. Vào thử xem xem thế nào. Biết đâu
thuận thì trở ra rồi tính sau. Cũng phải đợi chị Lanh nó về nhà nữa chứ. Vả lại
bây giờ mà bỏ đi vắng hết người làng lại thêm lời dị nghị. Lần trước nói đi đón
ông cụ thì không sao. Bây giờ nói đi đâu và làm gì là có chuyện dị nghị ngay.
Làng Me bé như lòng bàn tay. Chuyện trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã tường mà. Được
giải thích như vậy nên thằng Lợi im lặng. Nó không nghe lời mẹ thì nghe lời ai.
Với nó chuyện mẹ nó vào Tây Nguyên lần này là chuyến đi tính chuyện làm ăn. Ai
mà chẳng phải làm ăn. Không làm chết đói nhăn răng cũng chẳng ai cho.
Xuống xe ở thị trấn Ea Kar, hỏi đường về xã Ea Kmút nhưng bà Chiên không gọi xe ôm. Mặc dù mấy bác xe ôm vừa thấy chuyến xe khách chạy tà tà rồi dừng đỗ bên lề đường là ùa ra chào mới rối rít, có bác xe ôm còn nhiệt tình giằng cầm hộ túi đồ như bắt chẹt phải ngồi lên xe. Bà Chiên tay giữ chặt chiếc túi, xua xua, lắc lắc từ chối mọi lời mời mọc của mấy bác xe ôm, bà quyết định đi bộ. Không vội vàng được. Bà nghĩ thế và quyết định đi bộ để vừa đi vừa nghĩ. Nghĩ làm thế nào tới được đúng địa chỉ. Nghĩ làm thế nào để công việc không bị hỏng. “Con cẩn thận. Chỉ dò la manh mối thôi đừng dò hỏi kỹ. Dò hỏi kỹ quá sinh động là hỏng việc đấy”. Đang giữa trưa nắng đổ gắt, con đường liên xã như được nhuộm thêm màu đỏ. Con đường xuyên qua những nương cà phê ngút ngát. Có lúc con đường lại trằn mình ra không gì che chắn mặc cho nắng chiếu nóng ran mặt đường. Càng đi càng thấy mệt. Nắng cao nguyên thật khó chịu. Những ánh nắng nóng thổi khô khốc, thổi táp héo cỏ cây. Đã bắt đầu vào mùa mưa ở Tây Nguyên nhưng năm nay không hiểu sao nắng nóng vẫn còn kéo dài tới cuối tháng năm sang đầu tháng sáu mà chưa dứt. Mặt mũi bà Chiên đỏ phừng phừng, mồ hôi thấm đẫm lưng áo, bà cố bước từng bước chân nặng nhọc. “Con nhớ nhé. Thôn Đoàn Kết”. Lại lẩm nhẩm như học sinh không học thuộc bài, bà Chiên cắm cúi bước đi.
Thôn Đoàn Kết hóa ra lại
là một thôn không khó tìm, những căn nhà cất dọc hai bên con đường đất đỏ hình
thành nên thôn, con đường trong thôn chạy thông với con đường liên xã. Làng của
người Tây Nguyên không giống làng của người miền Bắc? Những căn nhà đủ kiểu lô
nhô không bám hẳn mặt đường mà tách xa ẩn khuất trong những khu vườn cà phê.
Trong thôn, nhà của người Kinh, dân đi kinh tế mới, thường là nhà xây. Nhà nào
khấm khá thì bốn năm gian, đổ mái bằng. Nhà nào vừa phải thì làm ba gian, mái lợp
tôn màu đỏ. Những căn nhà người Kinh bao giờ cũng có khoảng sân trước cửa. Nhà
của người dân tộc, những căn nhà của hộ định cư vẫn mang dang dấp phong cách
truyền thống, nhà có sàn thấp và xây gạch chứ không làm bằng gỗ. Nhưng đều là
nhà xây dựng kiểu đồng loạt giống hệt nhau. Đó là những căn nhà do nhà nước đầu
tư nhằm khuyến khích bà con định cư được ổn định đời sống và xây dựng nếp sống
mới.
Bà Chiên thấy hồi hộp, bà
đã đi tới giữa làng, tim đập thình thịch như trống trận. Có gì đấy làm bà ngập
ngừng dừng chân. Những hồ nghi dồn dập khiến bà thấy tưng tức trong lồng ngực.
Đè tay chẹn nhịp tim đang dồn dập bà Chiên chợt phân vân. Mình có đường đột
không? Mọi lý lẽ đều là giả thiết và đều do bà được ứng báo. Ngộ nhỡ không phải
thì đáng trách lắm? Ngộ nhỡ mình ngộ nhận thì ăn nói ra sao?
Vịn tay vào một thân cây
to bên đường để thở. Nắng gay gắt cộng với chặng đường đi bộ dưới nắng giữa
trưa cùng trạng thái hồi hộp làm mặt bà đỏ bầm. Cảm giác nghẹt thở làm bà hoa
mày chóng mặt. Người như kẻ ốm dở vậy? Bà Chiên tự an ủi và cố vịn tay vào thân
cây. Bà run run lảo đảo đầu óc quay cuồng, chân tay chới với.
– Bà gì ơi! Bà làm sao thế?
Giọng con gái nghe ngọt
thừ chợt vang lên, câu hỏi thảng thốt cùng tiếng chân chạy lại. Bà Chiên cũng
chỉ nghe được có thế. Bà ngã khuỵu xuống ngay dưới chân gốc cây. Bàn tay của bà
không còn đủ vững để vịn đỡ vào thân cây được nữa.
– Thôi chết. Bà này. À
không, cô này bị say nắng rồi.
Vẫn cáo giọng con gái ngọt
thừ lay gọi làm bà Chiên muốn trả lời mà không tài nào cất nổi một câu nói.
Bóng người con gái vừa chạy tới cúi xuống xốc hai nách bà lên. Đứng lên rồi lại
khuỵu xuống. Phải ba bốn lần như vậy bà Chiên mới lê lết chân theo cô gái vào
nhà. Khổ thân cô gái, sức người mỏng mảnh mà lại vừa xốc nách vừa dìu người bà
đi nên cô cũng thở to thành tiếng. Hai người dìu nhau vào được bên trong nhà.
– Cô bị say nắng rồi ha.
Cô ngồi tạm đây, để cháu cởi bớt chiếc áo, quạt mát một chốc là dịu ngay ấy ha.
– May quá. Nếu không gặp
cháu thì.
– Cô ở ngoài bắc mới vô
ha?
– Sao cháu biết?
– Cô nói giọng bắc ha. Ở
làng này cũng có nhiều người miền bắc vô nhưng ở lâu lâu họ cũng nói theo cách
trong này. Cô vô đúng ngày nóng nhất đấy.
– Vậy à cháu?
– Dạ.
Cô gái quay đi. Quả tình
được ngồi thở trong nhà, được cởi bớt áo và được quạt mát nên bà Chiên cũng
nhanh hồi sức. Thực ra bà là dân lao động nên chuyện như hôm nay rất hiếm. Hiếm
nhưng còn có sức vóc nên cũng nhanh hồi. Cô gái đã quay lại. Được cốc nước mát
cảm thấy nhẹ đi đến tám chín phần.
– Cô đi có một mình ha?
– Ừ. Cô đi có một mình.
Cháu cũng ở một mình à?
– Dạ không. Chồng cháu ảnh
kêu lên Buôn Mê Thuột có chút công việc. Cháu mới đi gửi cơm cho con nhỏ nhà
cháu về. Cháu về vậy mà kịp thời ha.
Bà Chiên suýt bật cười.
Cô gái này ăn nói nghe thật ngọt, mát cả lòng. Lại còn cái âm “ha” nhấn nhá ở
cuối mỗi câu nói nữa chứ. Đúng là con gái trong này ngoan hiền thật. Thằng Lợi
nhà mình vào đây mà lấy được gái trong này chắc nhà mình vui lắm. Bà Chiên đã
tinh tỉnh đôi chút. Nỗi mong ước có con dâu lại dội về làm bà thấy nhẹ hẳn người.
Cô gái này dáng người thanh mảnh. Người thanh mảnh là chịu khó lắm. Bấy giờ bà
Chiên mới để ý tới cô gái. Cô chừng chạc tuổi thằng Lợi hoặc ít hơn một hai tuổi.
Nhưng chắc là bằng tuổi. Chính cô ấy vừa nói qua bên hàng xóm gửi cơm cho đứa
con nhỏ đấy thôi.
– Cô còn mệt ha. Hay là
cô ở tạm nhà cháu với hai mẹ con cháu. Chồng cháu đi vắng chưa biết khi nào về.
Có cô nhà thêm vui chứ một mình cháu buồn thấy mồ ha.
Rất tự nhiên và chân
thành, cô gái không ngần ngại giữ bà Chiên nghỉ lại. “Mình ở lại nhờ nhà cô gái
này ít hôm cũng được. Tiện thể còn dò la”. Bà Chiên vẻ trong lòng đã đồng ý
nhưng vẫn nói từ chối.
– Cô ở lại có tiện không?
– Tiện mà cô ha. Chồng
cháu cũng người ngoài bắc. Cháu là con dâu ngoài đó. Có cô mới vô ở lại nói
thêm câu chuyện ngoài mình, cô ha.
– Cháu có con trai hay
con gái?
– Dạ bé gái cô ha.
– Hay đón nó về bà cháu
chơi với nhau.
– Dạ.
Cô gái thấy mừng vội chạy
ào ra ngoài đường. Người trong này chân thật và tốt tính thật. Tự dưng cái suy
tính rời làng vào Tây Nguyên hôm nào lại réo giục. Bà Chiên bần người ra nghĩ
ngợi. “ Con không được dò hỏi mà chỉ quan sát rồi tính lựa chuyện thôi. Dò hỏi
sinh động không khéo không được việc”.
– Con vô nhà chào bà đi.
– Dạ. Con chào bà …chào
bà ngoại bắc.
Con bé chừng lên hai.
Khuôn mặt tròn tròn đứng khoanh tay chào. Nó còn “con chào bà ngoại bắc nữa chứ”.
Bà Chiên thấy vui lây. Với trẻ con cứ hễ ai là bà thì đều là bà ngoại cả. Bà
ngoại yêu bé nhiều hơn mà.
Chiều đang xuống. Căn nhà
tuy mới xây nhưng xem ra nó còn tềnh toàng lắm. Chững tỏ cặp vợ chồng trẻ này mới
ở riêng chưa lâu. Bà Chiên đã khỏe hẳn. Nắng chiều cao nguyên dịu đi trông thấy.
Gió rừng thổi tới làm không khí dễ chịu hẳn. Mát và sảng khoái. Có trẻ con nên
trong nhà líu lo. Con bé có vẻ bện bà Chiên, bằng chứng là nó bám bà suốt. Cũng
có thể nó ít khi được gặp bà ngoại thật của nó nên nó bám mình? Bà Chiên thầm
nghĩ. Cô gái này sao tốt tính thế nhỉ? hình như người trong này rất tin người?
Không tin người mà họ dám đặt vấn đề giữ mình nghỉ lại? Không tin người mà sao
họ chẳng có lấy một chút phân vân.
– Cô vô làm gì vậy ha?
– À. À…cô vào xem sao. Cô
tính chuyển nhà vào cả trong này sinh sống cháu ạ.
Không ngờ bà Chiên kịp biến
báo. May mà bà con kịp nói như vậy. Chứ nói vào đây để tìm người thì hỏng bét.
– Thế thì cô may rồi đấy
ha.
– Cháu nói may là nghĩa
làm sao?
– Dạ. Ở trong này cũng có
nhiều người muốn bán rừng bán nương lắm cô ha.
– Sao họ lại muốn bán.
– Dạ. Người dân tộc không
quen trồng cà phê. Họ chỉ thích đốt rẫy thôi. Cùng lắm là làm thuê cũng được.
Thôn này có mấy nhà bà con tính chuyện bán lại nương đấy cô. Cô muốn mua để hôm
nào chồng cháu về. Chồng cháu biết những ai muốn bán.
– Người dân tộc không
thích trồng cà phê à?
– Dạ. Họ không quen thôi. Hơn nữa trồng cà phê lại đòi hỏi nhiều vốn. Bà con lấy đâu vốn. Bán lại rồi đi làm thuê còn lợi hơn ha.
Một buổi chiều và đêm được
nghỉ ngơi đủ để bà Chiên hồi phục hoàn toàn. Một ngày mới đã tới. Thong dong bước
ra trước sân nhà để hít thở không khí sớm mai, bỗng bà Chiên rùng mình ngoái vội
vào trong nhà. “Khi nào vào thôn thấy một cây cẩm lại to đứng đơn độc chắn trước
cửa nhà là con đã tới đúng nhà ấy”. Trước mắt bà là một cây cẩm lai cao chừng
hai mươi nhăm ba mươi mét, cây cẩm lại đang mở xòe tán lá hình chiếc ô. Không
hiểu sao giữa những vạt đồi chỉ toàn cây cà phê đang trĩu quả đỏ quả xanh này lại
có một cây cẩm lại đứng sừng sững một mình.
Bà Chiên hốt hoảng lại
ngó vội vào trong nhà lần nữa. Hóa ra như một sự sắp đặt, trưa hôm qua bà đã tới
đúng cái nhà của con người mà bà muốn tìm để lôi ra sự thật thì bà bị say
nắng. “Không lẽ cô gái ngoan hiền kia lại là vợ của thằng ấy?”. Bà Chiên lúng
túng. “Tìm được thằng ấy là ra mọi chuyện”. Câu nói bâng quơ của bà Thìn làm bà
thấy lo âu. Cả đêm qua bà đã ngủ ở trong căn nhà đó. Cả chiều qua, cả đêm qua
bà đã rất vui vẻ với vợ con của thằng ấy? Trời đất như quay cuồng. Sao ở đời lại
có những éo le đến vậy? Cô gái kia sao lại dây vào mối duyên phận oan nghiệt thế?
Bà Chiên bỗng không biết phải làm gì lúc này. Quay vào nhà và tiếp tục vui cùng
đứa con của thằng ấy? Hay bỏ đi như trốn chạy? Không được. Bà vào đây là để tìm
cách lôi ra ánh sáng kẻ thủ ác đích thực chứ đâu phải vào đây để rồi bỏ đi? Một
loạt những băn khoăn làm bà rối bời. Cô gái này tốt và ngoan quá.
– Chồng cháu tên là gì?
– Dạ. Ảnh tên Lý. Nguyễn
Chung Lý mà cô. Nhưng sao cô lại hỏi vậy?
– Cô hỏi để biết thôi. Mà
này…
– Dạ.
– Chồng cháu người ngoài
bắc à?
– Dạ. Ảnh người ngoài bắc.
– Có phải làng Me không?
– Dạ. Nhưng sao cô biết?
– À không. Cô tình cờ hỏi
hú họa vậy thôi. Ngoài bắc người ta hay đặt tên làng đại loại như Me như Mận.
Con nhỏ đâu rồi cháu?
– Cháu cho nó sang bên
hàng xóm. Cô chưa khỏe hẳn, nó quấy chơi lại làm cô mệt thêm. Vả lại, cô còn đi
đâu đó thăm làng chứ.
– Bao giờ chồng cháu về
nhà?
– Cháu không rõ.
– Liệu chồng cháu hôm nay
có về không?
– Ảnh nói ảnh đi
xong công việc thì về. Mà sao cô lại muốn hỏi chồng cháu.
– Là cô hỏi thăm thế
thôi.
– Cô ơi. Cháu cứ thấy lạ
là không hiểu sao chúng cháu lấy nhau mà chồng cháu không cho cháu hay gì về
gia đình nhà ảnh cả. Cũng chẳng thấy có ai từ ngoài bắc hỏi han cháu. Làm dâu
như cháu nghĩ tủi thấy mồ cô ha.
Bà Chiên im lặng. Cô gái
cũng im lặng. Mỗi người theo đuổi một suy nghĩ. Vậy là mình đã tìm đúng nơi
đúng chỗ. “Thằng Lý, thằng con riêng của chồng bà Thìn? Đúng là nó rồi”. Ở làng
Me ai mà không biết bà Thìn. Một người đàn bà chạc tuổi bà Chiên nhưng luống tuổi
mới xây dựng gia đình. Chồng của bà Thìn nghe đâu người mãi tận Lạng Sơn kia.
Ông ấy góa vợ. Không hiểu do ai manh mối mà về tận làng Me hỏi lấy bà Thìn làm
vợ. Lấy bà Thìn rồi ông ấy ở luôn lại làng cùng với thằng Lý con riêng của
mình. Thằng Lý đâu như hơn tuổi thằng Lợi lẫn cả con Lanh. Tính khí nó lì lợm lại
chẳng chơi thân với đứa trẻ nào. Chắc là nó ở nơi khác tới nên ít bạn bè. Ít
chơi bời với trẻ con trong làng.
Từ ngày thằng Lý con
riêng của bà Thìn bỏ đi đâu biệt tăm, người ta thấy ngôi nhà củavợ chồng bà
Thìn kín đáo hẳn. Ông chồng của bà Thìn là người Sán Dìu, lại về quê vợ ở rể
nên cũng chẳng mấy giao du nhưng từ sau hôm thằng Lý bỏ nhà đi ông ấy chẳng biết
làm gì mà cả ngày ở sau vườn đào đào bới bới. Có người đã thấy ông ấy hì hụi
đào một chiếc hố dài dài, đã đùa. “Ông tìm vàng hay đào hố chôn mình đấy?”. Thằng
Lý bỏ đi, đâu như cũng trùng với dịp ông Thanh bị bắt đi? Trẻ con lạ làng, lạ bạn,
lại chắc không ở được với dì ghẻ nên bỏ về quê trên Lạng Sơn ở với họ hàng? Gì
thì giọt máu đào hơn ao nước lã mà. Con cháu nhà người ta người ta cưu mang.
Mong gì ở thứ dì ghẻ, lại là thứ dì ghẻ không đẻ đái sinh con. Đàn bà không có
con khác nào cái giỏ không có hom. Có gì đưa vào tuột ra hết. Cũng có lẽ
vì vậy nên từ khi thằng Lý bỏ đi vợ chồng bà Thìn đâm lánh mọi người. Họ mặc cảm
chuyện riêng tư chuyện gia đình ấy mà.
Mấy tháng lại đây tự dưng
bà Thìn hay tình cờ đảo qua ngõ nhà bà Chiên. Ánh mắt bà Thìn nhìn rất nhanh
vào nhà, vẻ mặt lấm lét như người mắc lỗi. Thực ra tuy cùng làng nhưng hai bà
ít quan hệ. Thời trẻ bà Thìn đi công nhân lâm trường mãi trên Sơn Động. Đi công
nhân lâm trường mãi nên muộn chồng? Chắc thế nên khi bỏ lâm trường về lại làng
bà Thìn không quan hệ chơi bời với ai cho dù bà ấy cũng cùng tuổi với bà Chiên.
Thực ra bà Thìn về làng và lấy chồng chưa được bao lâu thì xẩy ra “chuyện ông
Thanh”. Chuyện xẩy ra ấy cả làng Me đều xa lánh nhà bà Chiên chứ đâu có mỗi bà
Thìn xa lánh. Nghĩ vậy nên bà Chiên cũng bỏ qua. Người ta xa lánh cũng có lý
đúng của người ta. Mình thích hay không cũng không được.
Bà Thìn như tình cờ đi
ngang qua và dừng lại trước ngõ, bà nhìn trước ngó sau chừng như không thấy ai
thì nói bâng quơ. Giọng nói gấp gáp và thái độ thì sợ sệt. Câu nói vọng vào nhà
đủ cho bà Chiên nghe được. “Tìm được thằng ấy là ra mọi chuyện”. Ban đầu nghe
câu nói vọng vào bà Chiên thấy dửng dửng. Chẳng biết bà Thìn nói thằng nào? Chẳng
biết bà Thìn nói ám chỉ cái gì? Nhà mình đã lắm chuyện lắm rồi nghĩ làm gì câu
nói bâng quơ của người qua đường. Nhưng bà Thìn đâu chỉ tình cờ ngang qua một lần,
bà ấy đâu có nói bâng quơ một lần. Chết nỗi bà Chiên đâu có để tâm. Người làng
hay nói điều dị nghị ấy mà.
“Kẻ giết người là một thằng
còn trẻ. Nó bỏ làng Me trốn đi rồi”. Bà Chiên giật bắn mình. Ba gian nhà vẫn vắng
lặng. Ông trưởng thôn và thằng Lợi chưa thấy đâu. Trên ban thờ hình như vừa vọng
xuống tiếng nói ban nãy. Bà Chiên cuống cuồng chắp tay khấn vái. “Con nam mô a
di đà phật, con lạy cha. Nếu đúng như cha vừa chỉ con xin cha dẫn đường cho con
đi tìm kẻ đã làm gia đình con tan nát. Con xin cha nói cho con biết kẻ rắc họa
vào nhà con đang ở đâu? Con xin cha thương vợ chồng con, xin cha thương hai
cháu”.
Không gian vắng lặng như
chưa hề có chuyện gì xẩy ra. Khói hương đã cháy gần hết. Từng đụn khói không
bay tỏa hết mà quền quện như không muốn bỏ đi. Mùi hương trầm thơm ngát nồng nồng
làm ba gian nhà ấm cúng hẳn. Bà Chiên vẫn ngơ ngác như chưa tỉnh lại. Ánh mắt
bà vẫn nhìn lên tấm chân dung liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến như cố van nài. Không có
âm thanh nào đáp lại. Chỉ chi thoảng dội từ trên nóc nhà xuống tiếng “tách” của
viên ngói nứt. Chỉ thi thoảng dội từ trên nóc nhà xuống tiếng “bốp” của gióng
tre nổ. Bấy giờ bà Chiên mới mang câu nói vọng vào nhà của bà Thìn để đối chứng.
Vậy là linh tính mách bảo hay chính vong linh của ông cụ mách bảo trùng với câu
nói của bà Thìn. Bà ấy biết chuyện nhưng giấu suốt. Tại sao bà Thìn lại đi giấu
chuyện kia chứ? hay là bà ấy bị ông chồng người dân tộc Sán Dìu của mình bỏ bùa
mê thuốc lú bây giờ mới tỉnh? Hay là bà ấy vì sợ quá mà mắc bệnh cấm khẩu?
– Cô đang nghĩ gì vậy ha?
– Không. Cô xin phép đi
quanh thôn một lát.
– Trưa cô nhớ về ăn cơm,
cô ha.
Cô gái nói với theo. Vẫn cái giọng ngọt thừ ấy nhưng bà Chiên thấy ngài ngại. Bà cảm thấy sờ sợ.
Nhẩn nha từ đầu làng tới
cuối thôn cũng vừa đẫy một buổi sáng. Thảo nào mà người ta lại gọi thôn này là
“Thôn Đoàn Kết”. Một thôn mới lập bao gồm cả người Kinh lẫn người dân tộc, Ba
Na có, Ê Đê có. Những căn nhà xinh xinh nhìn thích mắt, lấp ló giữa những vườn
cà phê. Những căn nhà nhìn lạ lẫm với những ánh mắt ngồi trên sàn ngó xuống
nhìn người đàn bà xa lạ đang đi dọc con đường màu đỏ mịn. Sáng nay nắng lên sớm.
Ánh nắng soi cao thêm gốc cây cẩm lai đứng chơ vơ. “Con nên cẩn thận. Thằng ấy
nó dễ manh động”. Bà Chiên vừa đi vừa chắp mối lại các hiện tượng cùng những
câu nói.
Đầu tiên là bà Thìn. Bà ấy
chắc biết chuyện ngay từ đầu nhưng sao lại giấu suốt? Giấu những gần mười năm
còn gì? Đã giấu kỹ vậy sao tự dưng bà ấy lại nói ra? Cũng có thể lương tâm bà
Thìn day dứt. Thôi đúng rồi. Làng Me còn lan truyền, còn dặn lại nhau đời này
qua đời khác. “Những ai đã ăn, đã uống nước giếng Bà Cô mà không trung thực sẽ
bị đầy đọa mà không sống nổi”. Lời nguyền mắc họa khi đem nước giếng cô làm
hàng hóa cùng với lời thề độc về sự không trung thực đã giúp người làng Me bao
đời nay sống với nhau tình thân như ruột thịt. Làng Me tuy bé nhỏ nhưng những
người làng lớn bên cạnh có bao giờ bắt nạt được đâu. Tuy bé nhỏ nhưng được cái
biết bảo ban nhau, biết giúp đỡ nhau. Thảo nào gia cảnh bên nhà bà Thìn mấy năm
nay như rối loạn. Nghe đâu thằng con trai lớn của ông chồng Sán Dìu của bà Thìn
làm ăn chẳng biết ăn chia thế nào để bạn hàng đâm chết. Rồi thằng Lý bỏ đi. Rồi
nhà ấy cửa giả luôn im ỉm như buôn hàng cấm. Bà Thìn nói ra cũng có nghĩa như
tháo được ách, được cùm. Cởi được lòng cho nhẹ vợi. Cũng có khi bà Thìn ban đầu
không biết chuyện. Nếu biết chuyện chắc không giấu được. Đàn bà dù kín đáo đến
đâu cũng chỉ “sâu sắc như cơi đựng trầu”. Hay là bà ấy bị ông chồng người Sán
Dìu khống chế. Có thể lắm. Bà ấy chỉ như tình cờ ngang qua nhà mình thôi mà. Bà
ấy chỉ nói bâng quơ thôi mà.
Rồi ông cụ nhà mình hiện
về ứng báo đúng ngày giỗ nữa chứ. Vong linh ông cụ thiêng nên biết chọn dịp nào
thích hợp để ứng báo. Vậy mà mình đã trót có lời trách ông cụ chần chừ mãi. Bà
Chiên suỵt sùi ngân ngấn nước mắt. Vong linh dù có thiêng đến đâu cũng chỉ là
cái vong vô hình vô ảnh. Trách hờn cái vô hình vô ảnh khác nào mình đi trách
linh tinh. Vong linh có thể nhìn thấy được chuyện trần gian nhưng vong linh
không làm gì để ngăn cản được. Ông cụ là vong linh nên ông cụ kín kẽ và cẩn thận.
Mỗi lời nói của vong linh là lời nói độc đùa làm sao được. Bà Chiên chắp tay
như khấn vái. Tự đáy lòng bà biết mình có lỗi với vong linh cha chồng. Bà Chiên
nhớ lại chuyện ông cụ ứng báo cho bà và thằng Lợi đi đón về làng. Chỉ riêng
chuyện chiếc mũ tai bèo thôi cũng đủ cho bà mối khi nhớ lại rùng mình thành
tâm. Ông cụ đã ứng báo là không trật được.
Giời đất run rủi thế nào
để mình đến đúng cửa nhà thằng Lý ở thì say nắng. Say nắng rồi để cô gái xinh
ngoan là vợ của “thằng ấy” lại rước mình vào nhà nghĩ dưỡng. Run rủi như định mệnh
vậy. Lại còn đứa con gái lên hai nữa. Nó mới lên hai tuổi, tức là còn quá nhỏ để
ăn nói lượn lờ theo kiểu người lớn. Nó khoanh tay “Con chào bà ngoại bắc chắc
là có lý do gì chứ?”. bà Chiên phân vân, con bé chào như vậy cũng có nghĩa là
trong đầu óc non nớt của nó không có hai từ “bà nội”. Có thể cha nó, tức thằng
Lý ấy không bao giờ nói chuyện với vợ với con về người mẹ của mình. Thằng Lý
không công nhận bà Thìn là mẹ đã đi một nhẽ nhưng nó không nhắc hai từ “bà nội”
với con chứng tỏ thằng Lý còn đang giấu vợ giấu con chuyện gia đình nhà
mình ở ngoài bắc.
Thằng Lý muốn giấu tiệt
chuyện nó đã làm, tức là nó đã biết ngần bấy năm tội lỗi do chính nó gây ra đã
có người chịu thay. Tội lỗi của nó qua ngần bấy năm chắc đã chôn vào quên lãng.
Mấy ai còn cất công tìm lại chuyện cũ mà chuyện cũ lại không hề có một căn cứ
gì để lần ra. Chẳng có một căn cứ gì để kết luận nó là thằng gây án. Bà Chiên bất
giác lo âu. Ngần bấy năm thằng Lý giấu kín tung tích. Cũng ngần bấy năm chuyện
tày trời đã khép lại. Bây giờ mình đường đột đến và gặp nó. Gặp nó rồi nói với
nó rằng: “Mày là thằng tội phạm” thì có khác nào câu nói hàm hồ. Không khéo nó
nổi sung lên thì hỏng thêm nhiều việc. Mình chờ nó về để gặp nó và chỉ với chứng
cứ là câu nói bâng quơ của bà Thìn, bà mẹ ghẻ của nó, nó sẽ cười và trả lời, chắc
do bà dì ghẻ cay nghiệt với con chồng nên đặt điều vu khống. Hơn nữa câu nói
bâng quơ của bà Thìn chẳng có gì là chứng cớ. Bảo nó tự giác nhận tội ư? Họa là
nói chuyện bảo nó lên trời.
Đấy ông Thanh nhà mình đấy.
Ông ấy ra tòa một mực kêu oan mà có ai thèm nghe. Ông ấy ra tòa còn có cả ông
luật sư cũng nói có dấu hiệu oan sai mà tòa có thấu. Bà Chiên bùi ngùi nhớ lại.
Hôm tòa xử, ông Thanh với đầy đủ chứng cứ không thể chối cãi. Nào là có mỗi
mình ông ấy có mặt tại hiện trường. Nào là trên tay ông ấy còn con dao dính
máu. Nào là khắp người cô Thoan toàn vết tay vết chân của ông Thanh. Như thế là
tội mười mươi rồi còn gì. Khổ thân ông Thanh, cả đời chưa bước chân ra khỏi
làng Me thì nói gì không bị người ta bắt nạt. Đàn ông đàn ang gì mà lành hiền
quá. Ra tòa, tòa đổ diệt cho cũng chấp nhận. Sau lần này, nếu như được thế,
không hiểu ông ấy có sáng lên tí nào không.
Ngay mình nữa. Trách chồng
thì hãy trách mình trước. Ông Thanh bị dồn đẩy đến mu muội đã đành, đằng này
mình đường đường chính chính mà cũng có khá hơn đâu. Mỗi năm một lá đơn kêu oan
cho chồng. Vị chi mười năm đủ mười lá đơn mà đơn kêu có tới nơi đâu. Cũng tại
mình là người nhà quê. Người nhà quê biết chỗ nào để gửi đơn nên cứ qua huyện
qua tỉnh. Huyện với tỉnh hứa lần một rồi hứa lần mười. Toàn là hứa không thôi.
Thời buổi này có nhiều tiền thì tội to thành tội nhỏ. Thời buổi này có ít tiền
thì tội nhỏ thành tội to. Không tiền có mà đi kiện củ khoai. Không tiền thì có
mà đợi đến mùa quýt. Không tiền có mà chờ vào mắt. Thấy mình tất tả không xong
có người đã nói vậy. Nào là còn “Nhất thân nhì quen nữa”. Tội nặng nhẹ cũng tùy
vào vị thân sơ. Mình là người nhà quê chẳng quen biết, thiếu học hành, tiền
nong ăn đong từng bữa, người ta cứ dựa vào chỗ yếu của mình để chèn ép. Nhưng
ơn giời, giờ còn có lúc có mắt. Giời thương vợ chồng mình nên giời còn cho ông
cụ nhà mình cái anh linh. Ông cụ anh linh là do giời thương cảm. Nhưng đấy mới
là vong linh ông cụ thay giời báo ứng, dễ gì giời với đất hòa hợp được với
nhau?
Cảm thấy chuyện đang đi
vào ngõ cụt, bà Chiên mặt tần ngần, mắt ngơ ngác đứng giữa nắng nhìn cây nhìn
lá. Màn xanh kín mít như phủ kín mọi suy tính của bà. Hôm ở giữa tòa, ông Thanh
đã nói đến là ông ấy hình như nhìn thấy có bóng người chạy vụt từ trong nhà cô
Thoan ra trước khi ông ấy bước vào mà có ai để ý. Người ta đã khép cho ông
Thanh nhà mình toàn những tội tầy đình. Nào là ý định thông dâm không thành
sinh ý đồ cưỡng dâm. Nào là cưỡng dâm không được sinh giết người diệt khẩu. Ông
chánh tòa hôm ấy tuyên đọc mà đến bây giờ bà Chiên còn hãi hùng, còn kinh sợ.
Giọng ông chánh tòa nghe như sấm dậy khiến bà Chiên suy sụp, bà đổ gục người
trong sự thất kinh. Ôi chao. Giọng ông chánh tòa đanh sắc và lạnh lùng, ông ấy
tuyên án một cách dửng dửng trong tiếng thét tuyệt vọng của mình, trong tiếng nấc
nghẹn oan ức của ông Thanh. “Ông ấy cũng đáng lắm. Ông chánh tòa ấy”. Bà Chiên
bật cười xong vội tắt ngay nụ cười vừa hé. Mình nói như vậy là không được, nói
vậy là nói ác cho người ta. Chuyện ông ấy bị tai biến giờ sinh lú lẫn là chuyện
sức khỏe con người. Con người ta ai nắm tay được từ đêm đến sáng. Sông
Thương kia kìa, sông ấy còn có khúc đục khúc trong đấy thôi.
– Cô đã tìm được nhà nào
kêu bán nương cà phê chưa?
Giọng con gái ngọt thừ
làm bà Chiên giật bắn cả mình. Cô gái trẻ, vợ thằng Lý đang đứng ngay trước mặt.
– Cháu chỉ lo cô không
quay lại nhà cháu nữa?
– À.
Bà Chiên ấp úng. Quả tình
lúc này bà tự nhiên bỗng thấy ghê ghê cô gái. Nụ cười hiền và giọng nói ngọt thừ
làm bà tự dưng thấy sờ sợ, muốn nhụt chí.
– Cháu đợi cô mãi ha.
Nét mặt cô gái tỏ vẻ mừng
rỡ nhưng giọng nói chuyển run rẩy.
– Chồng cháu đang giấu
cháu điều gì. Cô ơi, không lẽ cô biết mà cô cũng giấu cháu?
MƯỜI
Đêm trên cao
nguyên.
Không khí chuyển mát lạnh
giúp thân thể nhớp bức ban ngày nhanh chóng trở lại khô thoáng. Tinh thần cũng
trở nên dễ chịu. Đứa con gái nhỏ lên hai đã ngủ say ấm trong lòng bà Chiên.
Nghĩ cũng thấy tội, con nhỏ này chắc từ lúc sinh ra đến giờ hình như đã thiếu
bàn tay chăm sóc của bà nội, bà ngoại hay sao mà mới chập tối đã bám diết đòi
mình bế ngủ? Được nằm trong lòng bà Chiên, lại được bà vỗ vỗ lưng nên con bé vừa
đặt là ngủ ngay. Bà Chiên ngồi dựa lưng vào thành giường, đầu hơi cúi xuống ngắm
nghía mặt con nhỏ. Con nhỏ này trông kháu đáo để. Cái miệng xinh xinh mở he hé
làm toát lên mùi thơm thơm sữa mẹ. Cái mũi tèn tẹt trông ngộ nghĩnh trên gương
mặt bụ bẫm.
Đã lâu lắm rồi bà Chiên mới
có lại cảm giác được ôm ấp một đứa trẻ trong vòng tay. Những hơn hai mươi năm rồi
còn gì. Hơn hai mươi năm bà không phải nuôi con nhỏ. Và còn suốt mười năm qua nữa,
mười năm qua bà mải lo toan gồng gánh việc nhà thay ông chồng đi tù nên chẳng
có khi nào được rảnh để bế đứa trẻ nào đấy. Ngắm nhìn con nhỏ ngủ yên lành
trong lòng làm bà Chiên thấy bẽ bàng. Ước muốn được bế những đứa cháu của mình
lại ập đến. Đợt này nếu việc được xong xuôi thế nào cũng phải giục hai đứa nhà
mình lập gia thất.
– Không hiểu ở ngoài bắc,
chồng cháu, ảnh ấy đã làm chuyện gì?
Cô gái ngồi tựa vai bên cạnh
vai bà Chiên rụt rè mở đầu. Chiều tối nay cơm nước xong sớm. Ba bà con cô cháu
tính lên giường ngồi nói chuyện. Trời đêm trên cao nguyên thật tĩnh lặng. Nhà
không có ti vi, cũng không đài báo. Bóng đèn điện lại mập mờ, tỏa thứ ánh sáng
hiu hắt. Không tính lên giường ngồi nói dăm ba thứ chuyện lai rai, đợi cơn buồn
ngủ tới thì còn biết làm gì. Thực tình bà Chiên đã dịu đi đôi chút. Giọng nói
ngọt thừ cùng cử chỉ chân thật của cô gái, vợ thằng Lý, đã giúp bà nhanh chóng
xua đi ác cảm. “Cô gái này chẳng qua cũng là cái số không may. Không may nên
không biết mình đã mắc vào duyên phận oan nghiệt”. Tự trong lòng bà, bà cũng cảm
thấy thương thay cho cô gái. “Cô ấy chưa biết chuyện gì. Nếu biết chuyện không
hiểu cô gái non nớt này có chịu đựng nổi không?”. Bà Chiên mặt đần ra thương cảm.
– Không hiểu ảnh còn đang
giấu cháu điều gì mà cháu thấy lạ lắm cô ha?
Vẫn là cô gái lên tiếng.
Bà Chiên lòng còn ái ngại. Biết có nên nói chuyện thật với cô gái này không nhỉ?
Mục đích của mình vào đây là để dò hỏi tìm ra kẻ thủ ác đích thực kia mà? Nhưng
nói ra cho cô gái này nghe không hiểu cô ấy đón nhận thế nào? Sẽ nổi đóa lên và
gào thét đuổi bà ra khỏi nhà chỉ vì cái tội mồm miệng ác khẩu? Sẽ ôm mặt khóc tức
tưởi vì đã bị lừa dối? Nhưng liệu mình nói ra cô ấy có tin không? Không tin là
cái chắc. Ai lại vớ vẩn đi tin vào lời nói của một cái bà lạ hoắc chẳng biết từ
đâu tới? Lòng dạ đàn bà vốn dĩ hẹp hòi, bình thường thì nghi ngờ, bình thường
thì nói không hợp. “Nhưng cứ thử động vào chồng bà mà xem, nhất là bét nhé”.
Cũng như mình đấy thôi. Có khi nào mình chịu buông đâu. Mười năm qua mình hễ
nghe thấy ai nói gì gì về ông Thanh là mình đâu chịu để yên. Không chửi giả được
thì đành nín nhịn nhưng bụng thấy căm cái mặt con người nào nói tệ về ông
Thanh. Nhưng không nói thật cho cô ấy biết thì mình cũng chẳng biết làm cách
nào để thằng Lý nhận tội. Thằng ấy không tự giác nhận tội thì công mình khác
nào công cốc. Tất cả trông chờ vào cô gái này. May ra chỉ có cô ấy lựa lời thằng
Lý mới nghe ra?
– Chồng cháu luôn có hành
động lạ lùng lắm cô ha.
– À à.
– Chúng cháu mới cưới
nhau chỉ được có ba năm mà đêm nào nằm bên chồng cháu cứ ngỡ như nằm bên ác mộng.
– Con chó con của bà, ngủ
trông đáng yêu quá.
Bà Chiên nói lảng nhưng
thực bụng đang rất nóng lòng muốn nghe cô gái nói tiếp. Bà cúi xuống ghé môi
thơm vào má con nhỏ.
– Mỗi khi ảnh nằm bên
cháu là ảnh lại có những cử chỉ kỳ quặc.
– Kỳ quặc sao?
– Ảnh đang nằm bỗng chồm
lên nhìn cháu chằm chằm. Mắt sợ lắm cô ha. Mắt ảnh nhìn cháu cứ như định ăn thịt
cháu vậy.
– Vợ chồng trẻ nào mà chẳng
yêu nhau quá. Chắc là yêu quá nên mới mạnh mẽ thế. Tại cháu cũng xinh nữa.
– Không đâu cô ơi. Ảnh
luôn miệng nói là nhà có ma.
– Có ma. Con trai gì mà
nhát thế. Chú ….chú ấy nhà cô cũng …nhát ma lắm.
– Con trai thì nhát ma
ha? Cháu nghĩ khác.
– Nghĩ sao?
– Ảnh đang ngủ bật ngồi dậy
kêu cháu đóng chặt cửa lại. Cháu đã đóng cửa chặt lâu rồi mà. Cứ đêm xuống vợ
chồng đang ngủ là ảnh tỉnh dậy mắt trợn tròn nhớn nhác miệng nói lảm nhảm. Ảnh
nói ảnh toàn gặp ma thôi. Đêm thì ảnh nói có người đàn bà đầu tóc ướt đẫm nước
như vừa mới gội, đứng cuối giường nhìn chằm chằm vào mặt ảnh chắp tay van xin.
Có đêm ảnh hốt hoảng ngồi dậy chỉ tay nói có người đàn ông mặt mũi mình mẩy đầy
máu. Người ấy xuất hiện chập chờn đứng từ ngoài xa mà chửi rủa ảnh. Có đêm ảnh
lại nói người đàn bà tóc ướt mọi đêm lại đến, người ấy thôi chắp tay van xin ảnh
mà thẽ thọt ngồi xuống cạnh giường, người đàn bà ấy đưa tay dắt tay ảnh kéo dậy
rủ đi chơi.
– Chắc là chồng cháu mắc
bệnh hoang tâm?
– Hoang tâm là bệnh chi
cô ha?
– Là bệnh luôn ảo giác tự
phác ra những chuyện ma mị ấy.
– Mà ảnh đi chơi đêm thật
cô ha.
– Đang ngủ bật dậy đi
chơi ngoài đêm một mình?
– Dạ. Ảnh bật dậy tự ra mở
cửa rồi đi ra ngoài trời đêm cứ như đi chơi với ai đấy. Cháu sợ ảnh mộng du đi
đứng không khéo vấp ngã nên ra gọi về thì ảnh lại vùng chạy. Chạy vấp thì ngồi
thụp xuống ôm mặt khóc tu tu.
– Cũng lạ lùng thật.
– Gần đây mỗi tối trước
khi đi ngủ, ảnh kêu cháu trói tay ảnh lại. Hỏi sao vậy thì ảnh trả lời “trói đi
không thì chết đấy”. Cô bảo có sợ không?
– Cháu có thấy chồng cháu
nói chuyện gì không? Chuyện trước kia ấy?
– Không cô ha. Nhưng dạo
này ảnh hay gọi điện thoại vào nửa đêm lắm.
– Gọi cho ai?
– Cháu không rõ, vì ảnh dậy gọi điện thoại là ra khỏi nhà. Ảnh đi mãi tận cuối vườn cà phê mới gọi điện thoại. Gọi xong là ảnh tháo sim vứt đi luôn. Để cháu lấy cho cô xem mấy cái sim. Ảnh vứt đi nhưng không biết cháu đã dậy theo ra, cháu núp cạnh chỗ ảnh đứng gọi điện thoại. Cháu biết hết nhưng lại không nghe rõ ảnh nói gì hết. Lại gần sợ ảnh làm bậy. Hôm sau khi ảnh đi đâu đó cháu mới ra chỗ đêm qua nhặt cái sim ảnh vứt cất đi. Phải mười mấy cái sim chứ bộ. Toàn sim rác thôi cô ha.
Bà Chiên không còn nghi
ngờ gì nữa. Đích thị thằng Lý là hung thủ thật sự rồi. Câu nói của bà Thìn bữa
nào “Tìm được thằng ấy là ra mọi chuyện” lại thêm cho bà sự củng cố của những
gì vừa chắp mối. Vong linh ông cụ nhà mình cũng chỉ khá tường tận. Chỉ có điều
làm cách nào cho ra chuyện bây giờ?
– Có phải ngày còn ở
ngoài ấy, ở ngoài bắc đó cô, chồng cháu đã làm chuyện gì ghê gớm lắm phải không
cô? Mà sao khi vô trong này, nhà ảnh chỉ có mỗi ảnh thôi?
– Cô không biết.
– Thế cháu với chồng cháu
thế nào mà quen nhau?
– Dạ. Chuyện kỳ cục lắm
cô. Ảnh làm thuê cho xưởng sơ chế cà phê của ông Năm Hùng cạnh nhà cháu, trông ảnh
mặt mũi cũng đường được. Lại chỉ có mỗi mình. Cháu thấy thương ảnh thì nhận lời
thương ảnh thôi.
– Ừ. Đàn bà con gái chúng
mình hay thương người.
– Có gì sai hả cô?
– Thương người thì tốt chứ
đâu có sai.
– Những ngày đầu ảnh cũng
chăm chỉ và thương cháu lắm.
– Cháu vừa xinh lại vừa
ngoan. Cô mà có con trai cô gả cho cháu ngay.
– Dạ. Con cám ơn cô.
Nhưng sao gần đây ảnh lại tỏ ra lạ lùng. Ảnh nhìn cháu như nhìn người xa lạ. Ngồi
trong nhà mình mà mắt ảnh cứ lấm la lấm lét. Chốc chốc lại giật mình rồi nhìn
trộm cháu nữa kia.
– Thế chồng cháu nói đi
khi nào về?
– Ảnh đâu có nói khi nào
về. Cô ơi, cô có cách nào giúp cháu không?
Bà Chiên im lặng. Tiếng
gió thổi ngoài vườn cà phê vọng vào u oa như tiếng con trẻ đang khóc. Âm thanh
rờn rợn khiến cô gái nép chặt vào người bà Chiên. Hình như thằng Lý cũng linh
tính biết chuyện mình đi tìm nó nên nó trốn đi? Thằng Lý lần này lại trốn đi nữa
thì mình biết tìm nó ở đâu? Nó trốn biệt tăm đã gần mười năm. Mười năm đủ để
người ta quên rằng còn có nó tồn tại. Mười năm đủ để mọi chuyện chìm vào quên
lãng. Mười năm cũng là thời gian chẳng có ai đi lật lại chuyện cũ để tìm ra sự
thật. Và cũng có nghĩa là ông Thanh đành an phận với những ngày còn lại của đời
mình ở trong trại. Hy vọng đã tắt rồi ư? Không lẽ ông giời cũng chỉ thương vợ
chồng mình đến đường đây thì cạn? Còn cô gái này nữa. Liệu cô ấy có hiểu vợ chồng
mình đã chịu oan nhục như thế nào không? Liệu cô ấy có dám giúp mình không?
– Cô ơi. Có phải chồng
cháu đã làm gì nên chuyện không cô?
– Cô không biết.
– Có phải là chuyện này
không cô?
– Cháu nói chuyện gì?
– Hồi sáng qua, trước lúc
cô tới, cháu có đem giặt cái vỏ gối của chồng cháu. Ảnh chẳng chịu cho cháu đem
giặt. Cháu giặt vụng đấy.
– Hả.
– Cháu thấy trong vỏ gối
có mấy tờ báo cũ. Toàn báo Pháp luật thôi cô ha.
– Cháu có xem không?
– Mới đầu cháu nghĩ chồng
cháu hay kêu đau đầu. Nghĩ ảnh để báo cũ trong vỏ gối để thấm mồ hôi cho đỡ đau
đầu. Nhưng lạ lắm cô ha.
– Lạ sao?
– Toàn là báo nói về vụ
án. À phải rồi. Cháu nghĩ ra rồi. Toàn là báo nói về vụ án giết người ở làng …
làng Me thôi ha.
Bà Chiên bất ngờ. Nhưng
bà vẫn bình tĩnh được. Giả như không quan tâm đến chuyện vụ án. Bà Chiên lấy
tay vỗ vỗ lưng con nhỏ.
– Mà vụ án ấy người ta xử
xong rồi. Báo còn đăng cả ảnh tên giết người nữa. Không hiểu chồng cháu giữ mấy
tờ báo cũ ấy để làm gì? Cô có cách nào giúp cháu hiểu được không?
– Cháu hỏi cô có cách nào
giúp cháu được không ư?
– Dạ.
– Thôi cô cháu mình cùng
ngủ đi. Cũng mệt rồi. Sáng mai có khi cô mới nghĩ ra cách.
– Cô hứa đấy ha.
Mình có nên nói thật ngay
bây giờ với cô gái này không? Hay là sáng mai hẫng nói? Nói thật với cô ấy may
ra mình còn có chút hy vọng cuối cùng? Cô gái này thật nhậy cảm và rộng lượng.
Nhìn những gì cô ấy đã cư xử với mình là đủ biết. Cô gái này có đủ nghị lực của
tuổi trẻ để dám đương đầu với thử thách. Cứ trông vào thời gian vừa qua của cô ấy
là biết. Nói ra để cô ấy lựa lời khuyên nhủ chồng. Thằng Lý chắc quá dằn vặt mà
sinh ác mộng. Hẳn tâm can nó đang day dứt, đang lên án chính mình. Nó đã biết
nghĩ chuyện năm xưa nó gây nên tội. Thằng Lý biết cuộc chạy trốn của nó đã đến
nước cùng. Nhưng tự nó nó không thể tự vượt qua được. Có thể nó đang cần một ai
nó giúp nó? Nói ra với cô gái này đi.
Không. Như thế là mình sẽ làm cô gái ngoan hiền này tan nát cõi lòng. Nhưng chỉ có mỗi cô gái này là mới có thể làm được cái điều mười năm nay mình không làm nổi. Nói cho cô ấy biết, có thể nói ra cô ấy sẽ đau khổ. Nhưng đau một lần để rồi cô ấy làm lại hạnh phúc của cái gia đình nhỏ của cô ấy. Đau một lần mới có được những ngày yên ấm.
Sáng sớm, bà Chiên vội vã
rời khỏi giường. Hai mẹ con cô gái vẫn còn ngủ say. “Mình cũng là đàn bà con
gái. Mình cũng là vợ, mình cũng là mẹ. Mình đâu có muốn người khác cũng lâm vào
cảnh ngộ như mình. Mình đâu có muốn người khác cũng phải gánh chịu thiệt thòi,
phải gánh chịu điều tiếng. Rồi đây khi mình, khi gia đình mình yên ổn trở lại
thì cô gái này. Chính cô gái này sẽ phải sống trong sự dầy vò, sống những năm
tháng trong cảnh chia lìa. Phận làm đàn bà mấy ai được sung sướng”.
Bà Chiên đã rẽ vào nương
cà phê, lối đi tắt sang con đường liên xã để ra ngoài thị trấn Ea Kar. Đêm qua
khi cả hai cùng ngả người nằm xuống là cô gái ngủ say tít. Được nằm trong vòng
tay ôm giữ của bà nên cô gái thấy như có chỗ che chở. Đêm qua, khi cô gái đã ngủ
say bà Chiên vẫn không sao ngủ được. Bà không muốn ngủ.
Mạnh mẽ lên và dũng cảm
chấp nhận nhé cô gái ngoan hiền.
“Chỉ còn mỗi cách đó thôi, con gái ạ!”.
Bốn tháng sau.
Tiếng chân cào gài gại của
con bọ ngựa làm ông Thanh thêm trằn trọc. Không hiểu đêm nay làm sao mà ông khó
chợp mắt. Cũng có thể tiết trời đã chuyển sang thu, một chút hanh hao, một chút
bức bối, làm ông khó ngủ. Một mùa thu nữa đang tới. Nghĩ tới mùa thu là trong cổ
họng ông Thanh lại nghẹn ngào dâng cục. Ông không ngờ mùa thu đối với mình lại
là một mùa của nghiệt ngã. Mùa thu của mười năm trước gia đình ông bất ngờ bị gặp
tai ương. Mùa thu của mười năm trước ông bất ngờ bị lâm vào cảnh oan khốc. Tiếng
chân gài gại vào vỏ lon bia của con bọ ngựa làm ông giật mình thổn thức. Mới chốc
mà đã mười năm. Mới chốc mà bay tan mọi mơ ước. Thời gian thật quá tàn khốc, nó
có thể làm con người ta già đi. Và nó cũng có thể làm con người ta vĩnh viễn mất
đi mọi thứ.
“Mình ơi!”.
Khẽ khàng ngồi dậy và đưa
tay gạt những giọt nước mắt vừa tứa ra nơi khóe mắt. Hình như ông vừa nghe thấy
tiếng vợ mình gọi. Tiếng của bà Chiên không lẫn được. “Mình ơi!”. Tiếng gọi ấy
đã mười năm nay ông không được nghe lại. Chắc là mình nhớ vợ quá nên sinh ra lầm
tưởng thôi. Ông Thanh tự an ủi. Nỗi nhớ vợ làm ông thấy quặn trong bụng. Không
hiểu giờ này bà ấy cũng thức như mình hay đã ngủ say. Mỗi lần bà ấy cùng thằng
Lợi lên trại giam thăm ông là mỗi lần sau khi bà ấy về ông Thanh lại khóc. Ông
đã làm vợ con khổ ải. Ông đã làm hại cuộc đời của vợ của con. Những lần bà ấy
lên rồi bà ấy về, ông Thanh lại nghĩ quẩn. Hay là tìm cách gì chết đi?. “Mày mà
nghĩ quẩn tìm cách chết đi thì vợ con mày lại khổ thêm đau khổ. Gắng quên đi để
sống tới ngày ấy chứ”. Người bạn tù nằm bên cạnh ông, ông Dương ấy, quả là một
người tinh tế. Dường như ông ấy đọc được hết mọi ý nghĩ trong đầu ông Thanh. Quả
tình nếu không có ông Dương tinh tế nhận ra suy nghĩ của mình, rồi kịp thời can
ngăn có lẽ mình đã sang thế giới bên kia rồi. Tự cười mắng mình vu vơ quẩn dại.
Dại mãi không khôn được. Dại mãi đâm khổ vợ khổ con. Ông Thanh nhắm mặt lại cố
xua đi ý nghĩ dại dột vừa xuất hiện trong đầu
Ông Thanh thẫn thờ, đang
hiện hữu trước mắt ông những hình ảnh khó phai mờ. Ông đang trở lại tuổi thơ của
mình. Chú bé Thanh lên bảy tuổi háo hức theo chân cha lên bờ đê sông Thương
hóng gió. Mùa này sông Thương nước réo rắt. Dòng nước đỏ ngầu từ thượng nguồn đổ
về ầm ầm đang chen lấn dòng nước trong xanh chảy lững lờ. Chỉ có một điều lạ là
dòng nước màu đỏ trưa hôm nay lại chuyển dòng. Nó vốn chảy bên bờ hữu chợt chuyển
hết sang bên bờ tả. Bên tả tức là bên hai cha con chú bé Thanh đang đứng. Tiếng
nước vỗ oàm oạp kiên trì gặm nhấm thân đê. Gió thổi lồng lộng. Cha chú bé Thanh
nhấc chiếc mũ tai bèo đang đội trên đầu xuống và chụp lên đầu chú bé Thanh.
Vành mũ xòe rộng che rợp ánh mắt của chú. Trong vành mũ đang che rợp ấy chú bé
Thanh không nhìn thấy gì cả.
– Mai bố đi chiến đấu à?
– Ừ. Con ở nhà ngoan nhé.
– Bố ơi!
– Gì nữa hả con?
– Thế bố đi chiến đấu bố
có bị chết không?
– Không. Làm sao mà phải
chết?
– Nhưng nếu mà bố chết bố
đừng làm ma hiện về trêu con nhé.
– Không có ma. Mà nếu có
ma thì ma chẳng thể trêu được người.
– Vì sao hả bố?
– Ma à? À là vì ma vô
hình vô ảnh. Có ai nhìn thấy ma đâu mà thấy sợ.
– Sao mọi người cứ nói dọa
ma?
– Ma không dọa được người.
Chỉ có con người dọa con người thôi.
– Nhưng con sợ.
– Nếu dũng cảm thì không
sợ. Dũng cảm thì chẳng ai dọa được mình.
– Lớn lên con cũng muốn
dũng cảm như bố.
Hai cha con đã đi một đoạn
đường đê khá dài. Nước vẫn vỗ oàm oạp vào thân đê như thách thức. Dòng nước ngầu
đỏ đã lấn hết dòng nước trong xanh.
– Bố ơi.
– Gì con?
– Tại sao nước màu đỏ lại
lấn hết nước trong hả bố?
– À là vì nước màu đỏ nhiều
hơn và chảy nhiều hơn.
– Thế cái gì nhiều hơn đều
có thể lấn cái ít hơn hả bố.
– Đúng. Nhiều hơn là mạnh
hơn. Mạnh hơn nên có thể áp đặt ít hơn.
– Thế áp đặt là gì?
– À, áp đặt là dùng sức mạnh
bắt kẻ yếu phải khuất phục. Ví dụ như bố đi chiến đấu ấy. Quân ta mạnh hơn đã
khuất phục quân địch yếu hơn, bắt quân địch phải đầu hàng.
– Thế cứ hễ quân ta là mạnh
còn quân địch là yếu hả bố?
– Con hỏi lôi thôi quá đấy.
Đại loại như thế.
– Nhưng..
– Con nhớ nhé. Mạnh mẽ
thì không sợ gì cả. Yếu đuối thì dễ bị bắt nạt.
Ông Thanh phì cười. Sao hồi
đó mình trẻ con thế nhỉ? mà đâu có trẻ con. Cha mình đã nói đúng: Ai yếu hơn sẽ
bị bắt nạt. Sao bây giờ mình mới nhận ra chân lý ấy nhỉ?
Hình ảnh năm xưa biến mất.
Khắp trong buồng giam đang ồn ào những tiếng người ngủ ngáy. Ông bạn tù nằm bên
cạnh, ông Dương ấy, cũng đang ngáy ồng ộc. Người khỏe là người ngủ ngáy to. Ai
ngáy to là người ấy khỏe. Ngày bé chú bé Thanh đã được mẹ giải thích như vậy
khi cái đêm mà cha chú ngủ ở nhà. Cha chú cũng ngáy ầm ầm. Tiếng ngáy làm chú
khó ngủ nhưng khi được nghe mẹ giải thích như vậy thì chú bé Thanh cũng kêu ò ò
trong cổ. Chú rất muốn được là người ngủ ngáy to.
Chắc là nửa đêm về sáng.
Nửa đêm về sáng không khí thường ngưng lại. Dấu hiệu của sự chuyển giao trời đất.
Ông Thanh nằm ngửa. Hai tay bắt sau gáy nghĩ ngợi. “Vậy là mình bị bắt đã được
ba ngàn sáu trăm hai mươi bốn ngày”. Từ khi bị bắt đến giờ ông Thanh luôn đếm mỗi
ngày qua đi bằng một sợi tóc mà ông tự nhổ ở trên đầu mình. Mọi ngày phải sáng
hẳn ông mới nhổ sợi tóc nhưng hôm nay ông đã nhổ sợi tóc sớm. Cũng chẳng biết
làm gì. Nhổ cất luôn đi cho xong một việc. Nhổm dậy cất sợi tóc vừa nhổ vào vỏ
bao thuốc lá ông Thanh vừa nghĩ. Nhưng sao hôm nay mình lại mong ngày mới đến sớm
thế nhỉ?
Mung lung và lẫn lộn. Một
thứ cảm giác lạ lùng chợt tới khiến ông Thanh cứ lẫn lộn giữa không gian mung
lung khó đoán định. Tiếng gài gại của con bọ ngựa như lời nói thủ thỉ càng làm
ông thấy trong lòng khó tả. Linh cảm mơ hồ chợt tới. Vui không ra vui. Buồn
không ra buồn. Chỉ phảng phất một cảm giác chờ đợi điều gì đấy sắp xẩy ra.
Đêm vắng tanh. Có gì đấy
rất xa xôi níu hai mắt ông lại. Ông Thanh chập chờn nhắm mắt, lòng dạ lơ mơ. Một
tiếng nổ cực lớn đã dựng ông Thanh dậy. Tiếng nổ cực lớn kèm theo cột khói bốc
cao. Khói tỏa mù mịt khắp đỉnh đồi. Khói bao chùm lên vạn vật. Giữa làn khói mù
mịt ấy ông Thanh bỗng thấy có bóng người đang lảo đảo cố đứng dậy. Người ấy
nhìn xa xa không rõ mặt nhưng rất rõ cái bóng người lảo đảo đứng lên rồi lại
ngã. Ngã xuống rồi lại lảo đảo cố đứng lên.
Trên đỉnh đồi mịt mù khói
bụi chỉ duy nhất có bóng người đang lảo đảo ấy. Người ấy đã đứng lên được và
vùng chạy. Cách chạy có vẻ cuống quýt như sợ không kịp. Vừa chạy bóng người ấy
vừa đặt tay phải giữ chặt một bên sườn. Bàn tay giữ chặt như bóng người ấy đang
cố giữ bằng được một thứ gì.
Cố dụi mắt để nhìn cho rõ
hơn. Ông Thanh bây giờ đã nhìn bóng người đang lảo đảo vùng chạy kia là ai. Ông
kêu lên giọng thất kinh. “Đúng là bố rồi”. Tiếng kêu của ông Thanh hình như
cũng vọng tới chỗ bóng người đang vùng chạy. Bóng người ấy thoáng ngập ngừng dừng
lại. Mắt quay nhìn về phía ông Thanh. Rất rõ ràng. “Đúng là bố rồi. Bố ơi, bố
chạy đi đâu thế?”. Cha ông Thanh ngập ngừng dừng lại, quay cái nhìn về phía ông
Thanh. Một cột khói nữa bùng lên sau một tiếng nổ chát chúa. Bóng người cha của
ông Thanh bị hất tung lên. Hai tay vung ra bơi bơi, hai chân đạp đạp chới với.
Rồi cả người cha ông Thanh bị ném mạnh xuống mặt đất. Rồi cả người cha ông
Thanh bị cuốn nhanh xuống chân đồi. Cả người cuốn đi như gió lốc. “Thanh ơi.
Cha đi đây”.
Ông Thanh choàng người. Không gian trong buồng giam vẫn im ắng. Mọi hoạt động lúc này chỉ duy nhất là những tiếng ngáy ậc ậc. Cuống quýt như vừa bị mất thứ gì, ông Thanh vơ tay tìm chiếc vỏ lon bia. May quá nó vẫn ở phía trên gối. Từ trong lòng chiếc vỏ lon bia lại thẽ thọt vọng ra những tiếng gài gại của con bọ ngựa. “Mình vừa mộng mị ư?”. Lo hãi lại tới. Ông Thanh lật đật cậy nắp vỏ lon bia. Ông nghiêng nghiêng chiếc vỏ lon nhưng vô ích. Không thấy con bọ ngựa đâu cả. Ông đưa mắt nhòm vào trong lòng vỏ cũng tuyệt nhiên không thấy gì trong đó. Mặt thừ ra tiếc nuối. Con bọ ngựa này đã làm bạn với mình năm năm qua. Năm năm qua nó thường gài gại chân động viên mình. Năm năm qua nó như người bạn tâm tình. Nhưng rõ ràng mình vừa còn nghe thấy tiếng nó gài gại chân kia mà? Lòng đầy nghi vấn ông Thanh lại đóng nắp lon bia lại. Ông từ từ ghé tai lắng nghe. Trong lòng chiếc vỏ lon bia lại vọng ra tiếng chân gài gại. Hay là mình mơ ngủ sinh lú? Ông Thanh lại cậy nắp vỏ lon. Ông từ từ dốc nhẹ nhàng hy vọng con bọ ngựa sẽ chui ra như mọi ngày. Tuyệt nhiên không. Lòng chiếc vỏ lon bia trống không như nó chưa từng có thứ gì ở trong đó.
Trạng thái chưa hết lâng
lâng, tinh thần tràn đầy phấn chấn. Thượng tá Đỗ Đình Thủ quay người bên phải
quay người bên trái trước tấm gương đủ soi toàn thân treo trong phòng ngủ của
hai vợ chồng. “Ngạc nhiên chưa?”. Đầy vẻ tự hào, thượng tá Đỗ Đình Thủ nhìn
hình ảnh mình phản chiếu trong tấm gương cất to câu hỏi. Không có tiếng đáp lại.
Trong tấm gương hiển hiện đầy đủ một sĩ quan công an với bộ cảnh phục màu xanh
mạ. Người sĩ quan công an đó trông khá oai vệ và thái độ tỏ vẻ cương quyết. Tất
cả những gì gọi là đẹp đều được tấm gương phản chiếu khá chân thực ngoại trừ về
hình dáng. Đó là một người đàn ông chừng năm mươi nhăm năm mươi bảy tuổi, dáng
đậm, đặc biệt là vòng bụng. Vòng bụng không biết che giấu sự dư thừa về lượng mỡ
của nó, cho dù bộ cảnh phục đã ôm gọn lấy thân hình nhưng vòng bụng vẫn lộ ra
khó coi. Một người đàn ông với vòng bụng nổi vồng thành cục tròn như người đó
đang cất quả bóng đá trong bụng áo. Không sao, vấn đề là nhìn hình ảnh vẫn cho
ta cảm giác về một người đàn ông mạnh mẽ và đầy phong độ là được.
Thượng tá Thủ nhướn mắt
nhìn qua vai mình trong tấm gương và chợt nhăn mặt. Trên chiếc giường nệm ga
thơm sức, như một hình ảnh làm phông nền trong tấm gương, cô vợ trẻ vẫn ngủ tít
mít. Tiết thu hanh hao, trời gần về sáng hơi se lạnh khiến cô vợ càng vùi đầu
vào gối ngủ say sưa. “Đúng lúc người ta cần một lời khen thì lại ngủ”. Giọng
hơi tranh trách, thượng tá Thủ quay người lại để mục sở thị. Cô vợ trẻ nằm nửa
ngiêng nửa ngửa trễ nải khoe thân hình trên chiếc giường một cách như có chủ ý.
Chiếc áo váy ngủ cổ khoét trễ để lộ bộ ngực nây nẩy phập phồng theo nhịp thở. Cảm
giác xác thịt ồ ạt kéo tới khiến thượng tá Thủ lại nhăn mặt. Đêm qua cuộc nhậu
kéo dài. Lại liu tiu hơi rượu nữa nên mọi ham muốn hụt bay đâu mất. Bây giờ đã
tinh tỉnh cảm giác ham muốn lại dồn về làm thượng tá Thủ muốn nhảy phắt lên giường
đè sấp lên người cô vợ. Vợ trẻ cũng đáng lắm. Các cụ chẳng nói “Sướng như lấy
được vợ trẻ là gì”.
Nhưng thượng tá Thủ không
làm như thế. Ở người đàn ông này từ lâu đã hình thành một sở thích hành lạc khá
kỳ quặc. Đó là không bao giờ cho phép vợ, bồ hoặc bất cứ người đàn bà nào được
trút bỏ xiêm y ngay trước mặt mình. Hành động khám phá thân xác phụ nữ qua những
động tác tự tay mình cởi bỏ dần áo quần của đối tác luôn là điều thượng tá Thủ
ham thích. Đàn bà cho dù có là con điếm đi chăng nữa vẫn phải là đàn bà. Nghĩa
là phải tỏ ra sự ngôn hạnh. Hơn nữa, tự tay khám phá dần mới tạo hứng thú hoan
lạc. Chứ cải ngữ đàn bà chưa chi đã cới áo quần thật khó coi. Thượng tá Thủ
nhăn mặt lần nữa nhìn cô vợ trẻ quần áo vẻ trễ nãi năm lả lơi trên giường. Nếu
như hôm khác thế nào cô vợ trẻ cũng bị dựng dậy và bắt phải ăn mặc đầy đủ. Thôi
chuyện hôm nay để đấy. Cũng tại mình mải mê giao lưu với anh em quá mà cô ấy
không đợi được. Cũng phần vì mình con vui. Tha cho một lần cũng chẳng chết ai.
Căn nhà mua lại, nó mới
chỉnh trang xong và gia chủ mới chính thức làm lễ tân gia chiều tối qua, tọa lạc
trên đường phố Xương Giang, một đường phố nằm giữa lòng thành phố Bắc Giang. Một
căn nhà bốn tầng, toàn bộ mặt tường phía ngoài, với những ô cửa sổ và cửa ra
vào tất tật đều được sươn màu trắng cổ điển nhưng sang trọng. Tự hào về “chiến
tích” tậu được và sửa chữa nhà thấy ưng ý đã tăng thêm cho thượng tá Thủ cảm
giác viên mãn. Mấy ai được như mình. “Ôi, Tôi phục tôi quá”. Thượng tá Thủ mỉm
cười và quay lại dí dí cái miệng đang cười sát tận mặt tấm gương. Đến lúc này mới
thấy rõ, phản chiếu lại là một bộ mặt nổi sần mụn với những cục thịt mần đỏ,
tác hại của rượu bia và thuốc lá, cùng cặp mắt lúc nào cũng như thèm ngủ. Bực
mình với tấm gương, thượng tá Thủ lùi nhanh người lại. Cảnh giác nhìn nhanh cô
vợ trẻ đang nằm. “Cô ấy không thấy điểm xấu đó”.
Căn nhà này là kết quả của
việc “chia tay tình cũ đón tình mới”. Hú vía. Những năm tháng chung sống với bà
vợ cũ thượng tá Thủ đã chuẩn bị cho mình một kế hoạch dài hơi, “lúc nào cũng có
thể ra đi mà không tiếc nuối”. Hú vía. Những năm cùng bà vợ cũ thượng tá Thủ đã
khôn khéo che giấu “quỹ đen” mà bà vợ không hay. Gọi là “quỹ đen” nhưng thực ra
nó gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần “quỹ đỏ” đưa cho bà vợ giữ hàng tháng.
Bà ấy có muốn cũng không nắm được bởi món quỹ đen đó nằm ngoài tầm kiểm soát.
Là một điều tra viên kỳ cựu nên thượng tá Thủ luôn biết cách “dồn” vào cái quỹ
đen của mình những khoản tiền khá khá. Địa bàn phân công phụ trách thì rộng lại
vô cùng phức tạp. Án gần như tuần nào cũng có. Và dĩ nhiên có án là có tiền. Ở
đời họa có là người dở hơi hay loại người thiểu năng trí tuệ mới không chuyện
đem tiền “chạy án”. Đấy tiền “quỹ đen” ở đấy mà ra chứ còn đâu nữa. Lại còn tiền
thưởng do đánh án nhanh, đánh án thành công nữa. Tiền được “chi màu” của việc
hóa giá tài sản do phạm tội mà có nữa. “Chào, xin chào những chiến công của
tôi”. Thượng tá Thủ giơ tay làm động tác điều lệnh khá thuần thục. Chuyện ở
trong ngành những ba mươi năm rồi chứ có ít đâu.
Thượng tá gãi gãi nốt mụn
đỏ cạnh sống mũi, mình cũng khôn đấy chứ. Khi ký vào tờ đơn ly dị, thượng tá Thủ
giả như đàng hoàng không mẩy may trước ít vốn nhỏ cùng ngôi nhà xây hai tầng ở
quê, thôn Chằm. Để lại cho mẹ con bà ấy hết. Rất thanh thản và nhẹ nhàng thượng
tá Thủ chuyển về ở tạm trong cơ quan vài tháng, rồi như anh em đồng nghiệp
thương tình, kẻ ít, người nhiều cho mượn tiền để tậu và sửa chữa căn nhà trên
thành phố chỉ có mỗi bốn tầng nho nhỏ. Và như một tất yếu. Cô bồ trẻ hằng xưa
phải che che đậy đậy giờ chững chạc đàng hoàng trong vai trò “bà thượng tá trưởng
phòng”.
Nghĩ tới đây thượng tá Thủ
lại mỉm cười viên mãn. Ở đời không có gì là không làm được. Ai liều thì thành
công. Ai hèn thì thất bại. Tổng kết lại cuộc đời mình tính cho đến đêm nay thượng
tá Thủ luôn hài lòng về bản thân. Hài lòng về cô bồ trẻ xinh đẹp phải dấm dúi vụng
trộm ngày nào, giờ cô bồ trẻ xinh ấy đang thỏa thê nằm phơi mộng đẹp trên chiếc
giường hạnh phúc. Thượng tá Thủ cảm thấy bức bối chỉ muốn lao thật nhanh lên
giường cho bõ những ngày chịu đựng che che giấu giấu.
Nhưng để tạo sự bất ngờ
và lãng mạn. Vợ trẻ thích lãng mạn chứ không ưa lối vồ vập kiểu ăn thịt người
ta. Lại cũng là thói quen của mình, thượng tá Thủ nhớ lại những lần trước vì
quá mạnh tay mà cô vợ trẻ “cấm vận” mấy bữa. Với lại không có gì phải vội, sáng
nay là chủ nhật cơ mà. Cứ tà tà và thật lãng mạn vào cho cô ấy thích. Nghĩ vậy,
thượng tá Thủ mở tủ lấy ra và gắn lên ngực áo tấm huân chương. Tấm huân chương,
lý do nữa để cuộc nhậu hôm qua kéo dài, lý do đã quá khuya muộn rồi mình vẫn
chưa lên giường. Hôm qua thực sự là một ngày đáng nhớ trong cuộc đời của thượng
tá Thủ. Buổi sáng, cơ quan làm lễ trao thưởng huân chương và trao quyết định đề
bạt chức vụ trưởng phòng. Buổi chiều, bản thân làm lễ “tân gia” mừng nhà mới và
đón cô bồ trẻ về nhà chính thức tuyên bố là vợ. Mân mê tấm huân chương trên
tay, thượng tá Thủ vê vê từng cánh sao nhỏ. “Đeo vào để chứng tỏ mình là một
chiến sĩ công an lừng lẫy”. Thầm nghĩ như vậy và cũng để cho cô vợ trẻ khi được
đánh thức và mở mắt nhìn lên sẽ thấy một vị “anh hùng” quỳ bên cạnh nàng đang nằm
và cất lên những câu nói hào hoa.
Quá đắc chí với dự định của
mình, thượng tá Thủ thong thả làm vài động tác khởi động. “Cũng coi như vận động
chân tay”. Đi thong thả và hết sức dón dén, thượng tá Thủ từ từ đến bên cạnh
giường cô vợ trẻ đang nằm. Từ từ hạ người thấp xuống, chân phải duỗi về phía
sau, chân trái chống gập rất lãng mạn. Từ từ hít thở cho nhịp tim được nhẹ
nhàng, thượng tá Thủ vừa chuẩn bị cất lên câu nói đánh thức vợ dậy thì nghe như
có tiếng lật bật dưới tầng một. Tiếng lật bật nghe như tiếng cánh cửa sổ quên
không cài, bị gió đêm thổi lật bật cắt đứt dòng suy tưởng lãng mạn. Tiếng lật bật
này cũng có dấu hiệu khả nghi bởi hình như ngoài trời không hề có cơn gió nào.
Tiếng động bất ngờ đã cắt đứt niềm ham muốn dục vọng. Bằng phản xạ của một điều
tra viên lão luyện, thượng tá Thủ từ từ thu hai chân lại và từ từ đứng thẳng
người lên. “Cái quái gì không biết?”.
Đảo nhanh và nhẹ nhàng một
lượt quanh tầng một. Không có gì khác. Hơn nữa mấy cánh cửa sổ đều đóng khóa chặt
chẽ. “Vậy tiếng động giống tiếng cánh cửa bị gió thổi là ở đâu ra?”. Thượng tá
Thủ băn khoăn ngồi phịch xuống chiếc ghế phô tơi bọc da màu be hồng êm ru và thụt
lún. Ngồi như co mình giữa bao bọc thật dễ chịu và tin cậy. Thượng tá Thủ lim
dim nhắm mắt tận hưởng. Tiếng lật bật giống tiếng cánh cửa sổ quên không cài lại
khẽ khàng vang lên. Phía đối diện với chỗ thượng tá Thủ đang ngồi có một người
đàn ông cũng đang ngồi im lặng. Người đối diện hướng đôi mắt nhìn thẳng vào thượng
tá Thủ. Người đối diện này chừng bốn mươi tuổi nhưng có vẻ khắc khổ. Bằng chứng
là nước da không sạch sẽ cho lắm, bộ quần áo kiểu bộ đội đã rung rúc nhìn nhầu
nhĩ. Người đối diện này hình như đang chờ đợi gì ở thượng tá Thủ.
– Này. Đằng ấy vào nhà bằng
cách nào đấy?
– Tôi vào đây lâu rồi.
Tôi đợi ông lâu rồi.
Thôi chết. Thượng tá Thủ
giật mình. Không lẽ chiều qua hoặc đêm qua mình mải mê giao lưu với anh em đồng
chí thì con vợ trẻ ranh này đem giai vào nhà? Thật quá đáng. Nó dám giỡn cả
mình nữa à? Theo thói quen thượng tá Thủ giật tay về phía cạp quần tìm khẩu
súng giắt ở đấy.
– Không như ông điều tra
viên nghĩ đâu.
– Gì? Đằng ấy nói gì?
Không như nghĩ là thế nào?
– Cô vợ trẻ của ông không
mở cửa cho tôi vào. Tôi cũng chẳng có tình ý gì với cô vợ trẻ của ông cả. Tôi
chờ ông. Ông thượng tá kính mến.
– Vậy đằng ấy vào bằng
cách nào và vào đây đợi tớ có việc gì?
– Dĩ nhiên là có việc rồi.
Nhưng ông điều tra viên cứ thư thư đã.
Vậy là người đối diện này
đã chờ tới tận lúc này để gặp mình. Hẳn là có việc quan trọng đây? Dù sao mình
vẫn là chủ nhà, thượng tá Thủ rót chén nước chè nóng đẩy về phía người đối diện.
Cha này chắc tìm mình để chạy án đây? Dạo này án cũng thưa thưa. Án thưa thưa
mình cũng thưa thưa tiền hẳn. Nhưng sao cha này muốn chạy án mà cứ lừ lừ như
ông từ vào đền vậy? Thế thì phải ra giá cao vào cho chừa cái tội cứ lòng vòng
chậm rãi kia đi.
– Cũng không phải như ông
điều tra viên vừa nghĩ đâu.
– Cái gì? Đằng ấy nói tớ
nghĩ cái gì?
– Tôi tìm gặp ông không
phải để đưa tiền cho ông để chạy án.
– Vậy gặp tớ có việc gì.
Nói nhanh lên. Sốt ruột quá. Này tớ còn chưa ngủ đêm nay đâu đấy.
– Ông điều tra viên không
cần ngủ đêm này làm gì.
– Dở hơi à. Nào có việc
gì nói nhanh lên.
– Ông cứ bình tĩnh đã.
Thượng tá Thủ đã khó chịu
ra mặt nhưng cũng cẩn thận nhìn kỹ người đối diện. Quái, cha này nhìn quen
quen. Quen lắm kia. Đặc biệt là thái độ khá nhún nhường. Thượng tá Thủ cố nhíu
đôi lông mày rậm của mình để nhớ xem là người đối diện này là ai.
– Đằng ấy là … là thằng
Thanh làng Me. Đúng không?
– Không phải.
– Ừ không phải. Thằng
Thanh là thế quái nào được. Nó đang rục tù kia kìa. Có mà phép trời cũng không
đưa nó tới đây được.
Nói vậy nhưng thượng tá
Thủ hơi run run. Không lẽ là thằng Thành thật cũng nên. Nhìn giống lắm. Thằng
này chắc trốn tù về đây tìm mình để trả thù đây?
– Đằng ấy không phải thằng
Thanh thật chứ?
– Thật.
Ngả người chìm sâu vào ghế
phô tơi, thượng tá Thủ thở phảo như vừa trút được gánh nặng. Mắt nhắm lim dim tỏ
rõ sự đã yên tâm, thượng tá Thủ mỉm cười. Cái thằng Thanh còi làng Me thật ngu
hết chỗ. Chỉ việc mang tiền ra là xong tội cũng hèn. À mà ngu thì chết chứ có bệnh
tật gì. Hồi ấy nó cứ như một thằng đần bậc nhất vậy. Thút thít khóc như trẻ con
mới lạ chứ. Lại còn van xin mình bỏ qua chứ. Bỏ qua cho nó ư? Họa có mà hâm. Nó
chạy tiền thì mới lo được. Ở đời này, lại dính nghi an không nôn tiền ra có mà
rục tù con ạ. Rất thích chí với những gì vừa phân tích, thượng tá Thủ lại mỉm
cười.
– Nhưng mà này. Đằng ấy
vào đây cũng phải có chuyện gì chứ?
– Có đấy.
– Không chơi nó suông đâu
đấy. Nói suông thì tớ cũng chịu. Còn cấp trên cấp dưới nữa. Không ai sống bằng
nước bọt đâu.
– Ông điều tra viên vừa
có nhắc tới thằng Thanh làng Me.
– Ừ phải rồi. Một thằng
đàn ông kém cỏi nhất thế giới này.
– Nhưng chính ông điều
tra viên đã đẩy thằng Thanh kém cỏi ấy vào tù.
Thượng tá Thủ cười khẩy.
Tay vỗ vỗ thành ghế tỏ ý xem thường người đối diện với câu nói của người ấy.
– Dĩ nhiên là không phải
tôi.
– Vậy thì ai? chính ông
đã ép cung thằng Thanh đấy thôi.
– Tôi đâu có ép cung nó?
– Vậy ai?
– Cơ chế này. Tôi chỉ
hoàn thành công việc của một điều tra viên. Có án cũng có nghĩa là phải có đối
tượng nghi án.
– Có án cũng có nghĩa là
có nghi án?
– Đúng. Có đối tượng nghi
án cũng có nghĩa là phải có án phạm.
Người đối diện có vẻ đuối
lý. Ông ta ngồi im vẻ mặt tư lự. Cũng có thể là người đối diện đang tìm câu phản
đòn lại. Thượng tá Thủ thấy hứng thú với con người lạ lùng bỗng dưng xuất hiện
này. Quả tình vụ án làng Me xẩy ra đã mười năm. Một vụ án không khó để nhanh
chóng xác định nghi án. Một vụ án không khó để bắt nghi án cúi đầu nhận tội.
Thượng tá Thủ lại cười khẩy. Nụ cười khẩy lần này hàm ý hơi giễu bản thân mình.
Một vụ án mà chỉ đánh vèo một cái “xong”.
Người đối diện cựa quậy.
Từ bộ quần áo rung rúc của ông ta tỏa ra thứ mùi khen khét như mùi lửa cháy. Từ
bộ quần áo rung rúc của ông ta khẽ rơi bay ít bụi đỏ. Người đối diện có vẻ khó
nhọc với những câu nói của mình. Ông ta hít hơi rất dài rồi mới nói tiếp được.
– Ông điều tra viên không
thấy dấu hiệu oan sai ư?
– Oan á? Cũng có khi.
– Nghĩa là ông điều tra
viên cũng công nhận thằng Thanh bị oan?
– Cứ cho là thế đi.
– Ông cho là thế sao ông
không minh oan cho người ta?
– Cái gì? Đằng ấy coi thường
tớ quá đấy.
– Tôi không có ý ấy.
– Mới đầu tớ cho thằng
Thanh là hung thủ thật. Nhưng qua điều tra thấy có nhiều dấu hiệu cần sáng tỏ
thêm.
– Ông biết thế sao không
làm?
– Đằng ấy cũng vui tính
ra phết nhỉ. Muốn làm thì phải nôn ra chứ. Ai làm không công cho. Hơn nữa đây lại
là một vụ trọng án xẩy ra trên địa bàn tớ phụ trách. Cũng nghi nghi thằng Thanh
không phải nhưng hiện trường chẳng để lại gì. Phải điều tra lại biết ngày nào mới
phá được án. Đằng ấy biết không?
– Ông nói biết gì?
– Cái gì mà không có chỉ
tiêu. Mà chỉ tiêu nào mà không có mốc thời gian hoàn thành.
– Tôi không hiểu?
– Không hiểu thật à?
– Vâng.
– Ví dụ thế này nhé. Cấp
trên giao chỉ tiêu trên địa bàn mỗi năm dự kiến xẩy ra bao nhiêu vụ án. Có mấy
án trọng, mấy án thường. Rồi án trọng thì bao lâu phá xong án. Án thường
thì xử thế nào?
– Tôi không hiểu?
– Chán đằng ấy lắm. Cái
gì cũng có chỉ tiêu kế hoạch hết. Bên điều tra chúng tớ để xẩy ra án trên địa
bàn mình phụ trách nếu chậm phá án coi như thành tích năm đó đi tong. Thành
tích đi tong cũng có nghĩa là lên lương, thăng quân hàm, lên chức cũng theo đó
mà chậm lại. Ở đời ai mà không thích thành tích. Này tớ trông đằng ấy cũng hình
như là bộ đội thì phải?
– Vâng.
– Bộ đội đằng ấy có đăng
ký thi đua không?
– Có.
– Đấy. Bộ đội đằng ấy có
thích lập chiến công không?
– Có.
– Đấy. Thành tích rồi được
khen thưởng ai mà chẳng hám. Thành tích nó giống như cái chứng chỉ để mình tiến
thân vậy. Không có thành tích thì mong nước mẹ gì.
– Nhưng chuyện oan khuất
của thằng Thanh thì khác.
– Chẳng có gì khác. Phá
án là lập thành tích rồi.
– Nhưng để phá án ấy các
ông đã bỏ sót nhiều tình tiết ngoại phạm. Mà những tình tiết ấy là cơ sở cho
suy luận vô tội.
– Ái chà. Đằng ấy cũng
thông thạo đấy nhỉ.
– Các ông không làm thế?
– Đằng ấy thông minh còn
ngắn lắm. Việc đầu tiên là phá án đã. Muốn phá án nhanh thì phải tẩn, kể cả
mình chuẩn bị cho nghi phạm lời khai. Còn khi ra tòa nghi phạm kêu oan kêu gì
gì đấy sau.
– Nghĩa là chỉ biết việc
mình còn việc người đẩy cho người?
– Chứ sao. Thời buổi cả
nước thích thành tích mà. Bên điều tra bọn tớ xong việc, lĩnh thưởng và đi làm
án khác. Bên tòa án thì lo chuyện xử án. Chắc bên họ cũng vậy thôi.
– Ông nói vậy nghĩa là thế
nào? Vậy ai đẩy thằng Thanh vào tù?
– Cơ chế này.
– Ông điều tra viên nói
tôi không hiểu.
– Đằng ấy chán bỏ mẹ. Ở
đâu cũng có chỉ tiêu hết. Chỉ tiêu phá án này. Chỉ tiêu xử án này và chỉ tiêu
thành tích nữa. Cơ chế nó thế mà.
– Cơ chế?
– Phải. Do cơ chế hết. Cơ
chế bảo sao thì nó là như vậy. Có ai xử được cơ chế đâu. Họa có giời.
– Các ông không nghĩ tới
thân phận con người?
– Xưa rồi Diễm. Bây giờ
ai biết phận người nấy. Có tiền nhiều thì phận phúc. Tiền ít thì phận hẩm hiu.
– Bất chấp vô tội hay có
tội?
– Cũng vậy thôi. Ai khôn
hơn thì người ấy hưởng.
Thượng tá Thủ cười sằng sặc.
Lần đầu tiên mới được nói chuyện với một người dở hơi nên cũng đáng cười lắm. Kể
người đối diện này cũng kỳ lạ. Đột nhập vào nhà mình chỉ để nói chuyện đẩu đâu
thôi. Chuyện thằng Thanh còi ấy mà. Xưa quá rồi Diễm ơi. Mười năm qua nó đã an
phận với bức tường trại giam rồi.
Thượng tá Thủ bỗng ngơ
ngác. Phòng khách đặt dưới tầng một cửa giả vẫn im ỉm. Không có dấu hiệu nào
cho thấy có kẻ nào vừa đột nhập. Không có dấu hiệu nào cho thấy mình vừa nói
chuyện với ai đó. Con chó lai to xù vẫn nằm áp tai xuống nền nhà ngủ ngon lành.
Cô vợ trẻ trên chiếc giường kê trên tầng hai chắc vẫn say sưa với những giấc mơ
của cô ấy. Người đối diện không có. Chiếc ghế phô tơi đối diện đang trông
không. Lạ nhỉ? Không lẽ mình đứng mà mơ? Nhưng rõ ràng là mình vừa ngồi nói
chuyện với người đối diện kia mà?
Thượng tá Thủ bước lại
chiếc ghế đối diện. Chén nước chè khô tận đáy chứng tỏ trong đó không hề có một
giọt nước. Đặt tay sờ sờ mặt ghế, chỗ người đối diện vừa ngồi. Cảm như âm ấm
như ai vừa đứng dậy. Thoảng bốc lên thứ mùi tanh tanh giống như mùi cá ươn.
Phân vân và hoang mang, thượng tá Thủ không hiểu chuyện gì vừa xẩy ra. Tất cả
như một giấc mơ và tất cả như một hiện thực. Thằng vừa nói chuyện với mình biến
đâu rồi nhỉ? Phải tìm thằng ấy lại. Nó mà đi nói linh tinh thì mình chết.
Đẩy toang cánh cửa ra vào của ngôi nhà. Thượng tá Thủ chạy vội ra đường phố, dớn dác đưa mắt tìm. Bên ngoài màn trời còn đang mơ màng sương sớm đầu thu. Một chiếc ô tô tải sầm sầm lao tới. Tiếng phanh xe kêu cháy đường.
Vụt tiếng kêu đánh “éc” của
con chim lợn bay ngang qua.
Ông Thanh ngửa mặt nhìn
quanh ngơ ngác. Rõ ràng là tai ông vừa nghe tiếng con chim lợn kêu ngang qua. Nỗi
tiếc nuối con bọ ngựa còn chưa khuất lấp lại vẳng bên tai tiếng kêu báo điềm gở.
Trời hẵng còn mờ mờ. Vẫn chưa tới sáng kia mà. Rõ ràng tiếng kêu vừa nghe thấy
không thể nhầm lẫn với tiếng kẻng báo thức được. Trong buồng giam những người
tù còn cố ngủ thêm ít phút.
Ngước mắt nhìn lên ô
thoáng. Bên ngoài gió thổi nhẹ, những cành lá bạch đàn đu đưa lòa xòa chạm vào
ô thoáng tạo ra âm thanh như tiếng chân của con bọ ngựa đang gài gại. Hôm nay
đã là ngày thứ ba ngàn sáu trăm hai mươi bốn của mình. Tự dưng ông Thanh run bắn
người. Sẽ lại có ngày thứ bốn ngàn, ngày thứ năm ngàn, ngày thứ sáu ngàn và
ngày thứ bao nhiêu ngàn nữa? Tuyệt vọng như không có lối thoát, ông Thanh trong
lòng thẫn thờ tiếc nuối con bọ ngựa. Nó bay đi đâu mất không biết? Nhưng sao
mình còn như vẫn nghe thấy tiếng chân nó gài gại? Con bọ ngựa này không biết là
thực hay là mơ? Năm năm qua nó đã gắn bó với mình sao bỗng dưng biến mất không
dấu vết?
Những ngày gần đây ông
Thanh thấy con bọ ngựa chợt phình ra và cao lớn khác thường, nó tỏ ra chật chội
khi ở trong lòng của chiếc vỏ lon bia, ông Thanh đã tính kiếm cho nó một chiếc
tổ mới. Có khi nó chờ đợi tổ mới không được mà nó đã tự tìm tổ lấy cho mình rồi?
Hay là hồi đêm mình quên đậy nắp? Hay là ai đó trêu mình lựa lúc mình ngủ say
đem giấu nó đi? Việc mình giữ nuôi con bọ ngựa này không ít lần bị bạn tù dọa vứt.
Vậy thì mình thật đáng trách. Mình vô tâm quá. Nó như người bạn với mình mà
mình vô tâm kể cũng đáng trách thật. Nghĩ tới đây ông Thanh tự đấm vào ngực
mình như một sự trừng phạt.
Không biết con chim lợn
nào ăn đêm bay ngang thế nhỉ? Nó cất tiếng kêu đánh “éc” sởn hết gai ốc. Mỗi
khi nghe tiếng con chim lợn kêu là mỗi lần ông Thanh còn chưa thấy hết hú hồn.
Tiếng kêu oan nghiệt của con chim lợn trong một chiều tối năm nào đã khiến ông
phải nằm ở đây. Giá như chiều tối hôm ấy không có tiếng con chim lợn kêu.
Thật nhẹ nhàng và chính
xác như được chuẩn bị trước. Ông Thanh từ phía sau lưng thọc luồn hai tay qua
sườn cô Thoan. Ông luồn tay đúng lúc cô Thoan vừa giơ hai tay lên vén vén mớ
tóc cuốn ngược lên đỉnh đầu. Một sự kết hợp ăn ý đến hoàn hảo không chê vào đâu
được.
Như một lời mời được phát
đi và được đón nhận. Ông Thanh đã vòng hai tay qua hết thân người cô Thoan. Lại
như một sự kết hợp hoàn hảo nữa. Hai bàn tay của ông Thanh nhẹ nhàng đặt úp lên
đôi bầu vú của cô Thoan. Đôi bầu vú mà ba buổi chiều nay chiều nào ông cũng
nhìn trộm qua khe cửa. Đôi bầu vú mà những chiều đứng nhìn trộm ông đã thầm ao
ước được đặt tay lên đó. Giờ thì nó đang gọn yên trong bàn tay ông. Ông Thanh
nhắm mắt như để tân hưởng và co những ngón tay lại. Hai bàn tay ông đặt khít ôm
trọn đôi bầu vú. Một cảm giác rần rật như điện lan truyền từ đôi bầu vú cô
Thoan tới tận bụng ông Thanh. Cảm giác khoái cảm mới lạ níu chặt đôi bàn tay
ông nơi đôi bầu vú cô Thoan.
Không phản ứng nào khác.
Cô Thoan vẫn để yên cho đôi bàn tay ông Thanh đặt khít lên đôi bầu vú của mình.
Cô đang lẫn lộn tưởng như đó là hai bàn tay của chính mình. Cô đang lầm tưởng rằng
chính là cô đang tự nắm bóp đôi bầu vú của chỉnh mình.
Cho tới khi ông Thanh
vòng cả người ôm ghì lấy cả thân hình của cô Thoan, ông phả những luồng hơi thở
gấp gáp và nóng hổi lên bờ vai của cô, bấy giờ cô Thoan mới giật mình tỉnh khỏi
cơn mê hoặc. Cô Thoan giật mình tỉnh mê và cựa quậy vùng vằng cố thoát khỏi hai
vòng tay ngày một siết chặt. Cô đã quay người được và hoảng hốt nhận ra có người
đàn ông lạ đang ôm ghì lấy mình. Bằng một phản ứng của bản năng, cô Thoan vươn
người vùng vẫy mạnh hơn. Hình như sự phản ứng của tự vệ cùng với sức khỏe tràn
trề của người đàn bà sau kỳ sinh nở đang mãnh liệt. Cô Thoan đã vùng người
thoát được đôi vòng tay ôm siết của ông Thanh. Cô nhao người về phía chiếc tủ
quầy. Với một người đang sống một mình giữa đỉnh dốc vắng lặng thì bản năng bao
giờ cũng quyết liệt. Cô Thoan đã nhanh tay hơn ông Thanh khi tay cô đã với tới
con dao gọt hoa quả mà cô đã đặt nó trên mặt chiếc tủ quầy. Cô nhẩy lùi sang một
bên giữ khoảng cách giữa cô với ông Thanh đủ để ông không ôm cô được nữa. Cô
Thoan thét lên rất to như một cách để xua đuổi và khua khua con dao về phía ông
Thanh.
Mũi dao nhọn, lại ở trong
tay của một người có phản ứng bất ngờ đang sợ hãi mà khua khoắng loạn xạ, mũi
dao đã làm xoạc rách vạt áo của ông Thanh. Như một sự cùng đường của kẻ dâm cuồng
bị bại lộ, ông Thanh bỗng trở nên quẫn trí. Ông lao đến bất chấp mũi dao vẫn dứ
dứ về phía mình, ông ôm chặt lấy người cô Thoan. Và trong trạng thái đang kích
động mạnh ông Thanh xô cô Thoan ngã ngửa ra. Con dao văng khỏi tay cô Thoan và
rơi cách đó một đoạn nhưng đủ để ông Thanh nhoài tay với được.
Cho tới khi ông Thanh ngừng
tay thì cô Thoan đã nằm im. Máu phun ra xối xả. Máu phun chảy đọng thành vũng
ngay chỗ cô Thoan nằm.
“Không. Không. Không”.
Ông Thanh gào lên tức tưởi. Dường như ông bất lực hoàn toàn. “Không phải tôi.
Không phải tôi. Tôi bị oan…oan….”. Ông Thanh vẫn gào lên thảm thiết. Tiếng gào
nức nở.
Sáng hẳn. Tiếng kẻng báo
thức vang lên kịp thời đã lôi tâm thần ông Thanh trở lại trạng thái bình thường.
Những người tù ồn ào ngồi dậy. Vẫn những cái ngáp dài cùng những câu chửi tục tằn.
Vẫn những tiếng bẻ đốt xương ngón tay ngón chân kêu khùng khục cùng những tiếng
người vội vã đi tiểu xối nước ầm ĩ. Vẫn những câu mắng mỏ cùng những ánh mắt
ngái ngủ nhìn nhau càu cạu. Vẫn những thứ mùi khai khẳm bốc lên cùng thứ mồ hôi
nách khét ngạt. Vẫn những động tác tranh nhau như cướp giật cùng những bãi nước
bọt bắn vung vãi. Vẫn là tiếng người cán bộ quản giáo buồng ghé mắt ngó vào nhắc
nhở. Vẫn và vẫn không có gì khác.
Ông Thanh ể oải đứng dậy.
Thói quen nhường nhịn từ ngày mới xộ khám đã làm ông trở nên chậm chạp. Mấy bận
cán bộ quản giáo buồng đã nhắc nhở nhưng ông không sửa được. Ông không dám sửa
thì đúng hơn bởi vì nếu ông sửa sẽ làm mếch lòng những người tù khác.
– Phạm nhân. À không. Ông
Nguyễn Hữu Thanh. Khẩn trương mặc quần áo, thu dọn tư trang lên gặp Ban giám thị
trại.
– Thanh ơi. Mừng cho mày
rồi.
Khi ông Thanh còn chưa hiểu
câu gọi nhắc vừa rồi của người cán bộ quản giáo buồng là thế nào thì ông Dương,
người bạn tù nằm bên cạnh, đã bật người nhao tới bên cạnh, ông Dương nắm nắm lấy
tay ông Thanh lắc lắc.
– Thanh ơi. Thế là mày mừng
rồi. Cuối cùng thì mày cũng đã được có ngày mừng nhất.
Ông Thanh chưa rõ thực
hư. Mặt đần ra cười ngượng ngịu. Những người tù khác đang dở việc riêng cũng bỗng
xôn xao. Họ xúm lại bên ông Thanh sờ sờ nắn nắn. Có người còn thẳng tay nắn vuốt
hạ bộ của ông Thanh rồi nhe bộ răng vàng ỉn cười hềnh hệch.
– Về nhà với vợ hì hì….
làm chuyện ấy thật oách vào nhé. Làm hộ bọn tao nữa.
Ông Thanh vẫn đần thối ra
ngỡ ngàng.
Ngày thứ ba ngàn sáu trăm
hai mươi bốn.
– Thanh. Về với vợ không
được kể chuyện tao nghe không. Tao cấm đấy.
Ông Dương vừa nói vừa đẩy mạnh người ông Thanh ra khỏi cửa buồng giam.
18/3/2014
Nguyễn Trọng Văn
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét