Tưởng nhớ thế hệ Hữu Loan Hoàng Cầm,
hiện thân uy mỹ của thi ca và sĩ khí
Cái Đẹp như ám ảnh sáng tạo của nỗ lực tư duy
Như đã nêu ở phần trên *, điều thú vị trong thể
nghiệm thẩm mỹ không phải chỉ là sự hài lòng, thích thú - cho dù là thích thú vô
tư và phi cứu cánh, theo cách nói của Kant - mà chính là sự kiện nó ám
ảnh, thôi thúc con người từ đó tạo ra cái gì mới. Đối với nghệ sĩ, nó dẫn
đến sáng tạo nghệ thuật đã đành, nhưng rộng hơn thế nữa - đối với
chủ thể nói chung - nó là xuất phát điểm của suy tư và truy tầm chân lý:
chân lý từ cái Đẹp và về cái Đẹp.
Tìm hiểu lịch sử Mỹ học, ta không khỏi bị choáng ngợp trước
khối lượng tác phẩm to lớn được dành cho đề tài này ở phương Tây, chẳng những
trong thời cận kim hay đương đại - với con số ấn tượng của những biên khảo đã
xuất bản 29 - mà phải kể chí ít cũng từ thế kỷ thứ V tr CN, nếu ta
chỉ dựa riêng trên những áng văn còn lưu truyền lại.
Nếu trên vách động nguyên sơ đã có mặt những nét mỹ thuật bất
ngờ của người tiền sử, thì ở đây - trong lịch sử thành văn - sức sống của
tư duy cũng đã được bộc lộ mãnh liệt, đủ để lay động bất cứ ai quan tâm
đến sự ra đời và trưởng thành của những nền văn minh rực rỡ đáng chiêm nghiệm
và học hỏi, thông qua những đóng góp thâm thúy và đa diện của các nhà tư tưởng
trong cuộc, dù chỉ mới xét trên một chủ đề: cái Đẹp.
Đặc trưng của nỗ lực trí tuệ
Điểm đáng lưu ý trước tiên là dấu tích của suy tưởng được
lưu lại qua chữ viết: từ việc thấy cần thiết phải động não tư
duy (bởi có tư duy mới nhận ra hiện hữu!), những bậc hiền nhân các
nền văn minh từ cả ngàn năm trước đã làm thêm một bước nhảy vọt khác là biết ghi
lại những dấu vết tư tưởng đó.Việc này không “quá thường” như nó có vẻ,
mà là một hành động lớn. Rất lớn và không tự phát: tổ tiên nhiều dân tộc - trong đó ai cũng dễ nhận ra phần mình - đã không đạt đến trình độ ý thức này
và điều đó dẫn đến nhiều hệ quả không lường hết.
Với những ghi chép và trước tác, các nhà tư tưởng đã thực sự
đặt niềm tin ở việc tích lũy và truyền bá kiến thức, ở tiến bộ
cộng đồng, ở văn hóa (hiểu như tiến trình chuyển hóa để sống
một cách nhân văn [văn 文là vẻ đẹp]).
Nói cách khác, họ ý thức rõ ràng về một chiến lược chinh phục tri
thức để làm chủ ngoại giới và chính mình. Descartes đã chẳng từng tuyên bố (Discours
de la méthode, Phần 6) rằng nhờ hiểu biết, con người mới trở thành “giống
như làm chủ và sở hữu chủ thiên nhiên” là gì? (Xin lưu ý tầm quan trọng của
hai tiếng giống như trong câu nói)30.
Họ đã đánh cuộc về giá trị cao quý của việc kiến tạo cho hậu
thế những lâu đài sáng giá của trí tuệ, để đẩy lùi bóng tối của mê muội, dốt
nát và cuồng tín. Giữa họ có một quy ước ngầm, một cuộc chuyền lửa tuyệt
đẹp từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tuyệt đẹp: không phải vì nó thanh bình, dễ chịu, “đề huề”,
mà ngược lại vì đã có những pha gay cấn, sôi bùng tranh luận, bút chiến, qua
đó từng tác giả một đã dám lập thuyết, phản biện và chấp nhận phản
bác, đấu tranh không khoan nhượng để có được một bầu không khí học
thuật làm giàu trí tuệ, cho phép sự tự do cọ xát, “so tài” giữa
những đa nguyên tư tưởng khác nhau. Để chiến thắng được thuộc về
cái hay nhất.
Nhưng chiến thắng không nhất thiết là vĩnh viễn, mà thường
chỉ có một thời. Bởi kiến thức nhân loại không ngừng đi tới. Kant (1724-1804)
góp phần xây dựng cho Mỹ học - nếu chỉ kể lãnh vực này - một cách xuất chúng
như vậy, thế mà chỉ cần có một Hegel (1770-1831) thiên tài giương cao cường lực
trí tuệ, là đã nhanh chóng bị mờ nhạt. Rồi đến phiên chính Hegel cũng phải “hạ
cánh”, nhường chỗ cho một Nietzsche (1844-1900) bay bổng đăng quang. Lạ lùng
hơn: những diễn biến đó hoàn toàn không cấm tư tưởng Kant về sau được “phục
hồi” dưới một ánh sáng mới (Trường phái Marbourg). Cứ thế, quy luật
về chuỗi phủ định được áp dụng cho chính bản thân hành trình tri thức con người.
Cái tuyệt vời của sáng tạo và tự do, cho nhân loại, là ở đó.
Hai thiên niên kỷ rưỡi qua, phương Tây đã chứng minh hùng hồn
sức mạnh của một tập quán thông minh, một truyền thống ưu việt : tận
dụng trí não để tra vấn thực tại, đi đến cùng của sự tò mò muốn hiểu
biết, một cách “bài bản”, có nền nếp, quy cũ. Họ ý thức một cách tập thể tầm
quan trọng của vận động trí tuệ, bất luận là đối với khoa học chính xác hay
chỉ liên quan đến những gì thoạt trông có vẻ xa vời - thậm chí “xa xỉ” - như
thẩm mỹ. Mơ mộng hão huyền ư? Ảo tưởng về sự hiểu biết ư? Đúng là không ai có
thể nắm chắc chân lý tuyệt đối, nhưng khước từ tư duy là đồng nghĩa với truất
phế tồn tại.
Khuôn mặt Diadumène, theo tượng nguyên thủy,
được cho
là của Polyclète (http://fr.wikipedia.org/wiki/Diadumène)
Không phải chỉ có triết gia độc quyền suy tưởng về cái Đẹp.
Nhiều người làm nghệ thuật, trên cơ sở nghiệm sinh “xương máu” của mình, đã khái
quát hóa và nâng cao tầm suy nghĩ: từ dấu vết quyển Canon “huyền
thoại” của nhà điêu khắc cổ Hy Lạp Polyclète (thế kỷ V tr CN) đến “rừng
sách” lý luận do chính các nghệ sĩ viết ra khoảng vài trăm năm trở lại
đây, đã xuất hiện - trong suốt những chặng đường lịch sử trung gian - rất
nhiều công trình của đông đảo họa sĩ, kiến trúc sư, mà đồ sộ nhất có lẽ là bộ
sách gồm tới 10 quyển De architectura của Vitruve (thế kỷ I tr CN),
cũng như hàng loạt tác phẩm thời Phục hưng chẳng hạn, của Alberti (De Pictura,1435),
Vasari (cha đẻ các biệt từ “Phục hưng”, “gothique” và quyển sách được xem như
mở màn cho thể loại lịch sử nghệ thuật Le Vite hay «Les Vies
des meilleurs peintres, sculpteurs et architectes», 1550), Palladio (Antichita
di Roma, 1554; Les Quatre Livres de l'architecture,1570),
Zaccolini (1574-1630, tác giả của 4 sách kinh điển về phối cảnh), Lomazzo
( Traité de l’art de la peinture, 1584) và Léonard de Vinci (Traité
de la Peinture, 1651)!

L’homme vitruvien - Léonard de Vinci (http://fr.wikipedia.org/wiki/Vitruve)
Sẽ rất dễ chóng mặt cho chúng ta nếu phải tiếp tục nhắc đến - vì không muốn phạm lỗi bỏ sót - những mỹ thuật gia khác, như của Pháp chẳng
hạn, đã có cống hiến về lý thuyết thẩm mỹ cũng trong thời kỳ này, hoặc ngay
sau đó: Poussin (1594-1665), Du Fresnoy (1611-1665), Félibien (1619-1695),
De Piles (1635-1709)…
Nồng độ tư duy cao, mật độ trước tác dày đặc. Đối thoại với
hiện tại và cả với quá khứ, những nhà tư tưởng kế thừa một cách có phê phán,
biết đọc lại một cách nghiêm túc, tôn trọng nhưng không tôn thờ,
tác phẩm của người đi trước để đánh giá lại, triển khai hoặc xây đắp cái mới.
Trò vượt thầy không hề là “phạm thượng” mà chính là điểm son trong
lịch sử tư tưởng phương Tây và góp phần tích cực đẩy nhanh tri thức nhân loại: những điển hình nổi bật nhất từ xa xưa- trên bình diện Mỹ học - là trường
hợp Platon (427-347 tr CN) đối với Socrate (470-399 tr CN), rồi Aristote
(384-322 tr CN) so với Platon; gần chúng ta hơn, có Baumgarten (1714-1762)
khi sánh với Leibniz (1646-1716) là người vốn được ông coi như “danh sư tinh
thần” của mình, hay ví dụ cặp “danh thủ” đồng môn Schelling (1775-1854) và
Hegel khi đối chiếu với Fichte (1762-1814)…
Cái chết của Socrate, tranh vẽ J-L. David
(1787) [http://fr.wikipedia.org/wiki/Socrate]
Nghĩ cho cùng, không phải ngẫu nhiên mà gần như toàn bộ tác
phẩm của Platon đều được viết dưới dạng những đối thoại. Rồi trong suốt
thời trung đại - hoặc ít ra cũng đến thế kỷ XIII -, tranh cãi (disputatio)
đã là một phương thức chủ yếu được dùng trong nghiên cứu, giảng
dạy và trao đổi về những vấn đề lý luận, phần lớn diễn ra trước công
chúng: rõ ràng từ cổ chí kim, chỉ những kẻ bất trí, điên rồ hoặc gian
trá mới coi nhẹ tri thức và đặt phản biện ra ngoài vòng pháp luật!
Vì tất cả những lý do trên, lịch sử tư tưởng châu Âu - không chỉ riêng trong lãnh vực Mỹ học - đã sáng chói với những lý thuyết, trường
phái muôn màu muôn vẻ. Có cái chiếm lĩnh sân khấu học thuật ngay từ lúc mới
ra lò. Cũng có cái được “tái hiện” - sau một thời gian hết còn “thời thượng”
vì chưa được hiểu hết hoặc do có “đối thủ cạnh tranh” tạm thời lấn lướt -, dưới
dạng tân chủ thuyết nảy nở phong phú (chẳng hạn trường hợp triết học
của Platon và Kant). Thêm vào đó, đã diễn ra một cách sinh động và hào hứng
những cuộc đấu lý kéo dài mà nổi tiếng nhất là những đợt “Cãi nhau
giữa hai phái theo Xưa và theo Hiện đại” 31, khởi đầu ở Pháp cuối thế kỷ XVII
rồi lan ra châu Âu thêm hai thế kỷ nữa, mà dư âm còn vang vọng mãi đến thế kỷ
XX ! Điều đó không lạ. Sự tập hợp và phát triển vận động trí tuệ cũng như sự
tương tác, cộng hưởng của nó với thời đại không bắt nguồn từ đâu khác hơn là ở
“cửa thánh hiền” truyền thống: nếu không kể Trường Pythagore đã quá xa
xưa, thì cũng còn hàng loạt những cái nôi, bệ phóng của tư duy, nổi bật trong
lịch sử với những cái tên rất gần gũi như Académie (do Platon thành
lập), Lycée (Aristote), Portique (Zénon de Citium), Jardin (Epicure).
Đó là mô hình khởi thủy của những không gian học thuật lẫn thưởng
ngoạn đã liên tục ra đời ở châu Âu nhằm đề xướng, truyền bá, trao đổi và
sàng lọc những sản phẩm trí tuệ, làm tròn xuất sắc vai trò đối với xã hội và
nhân loại, đặc biệt trong thế kỷ Ánh Sáng…
Mặt khác, không chấp nhận những khái niệm mông lung, tối
nghĩa (thực ra là trống rỗng hoặc không xử dụng được để phát triển), những lối
nói úp mở, “hư hư thực thực” (như để ngụy trang bất lực tư duy), châu Âu vận
dụng trí óc một cách có phương pháp, phân tích tỉ mỉ, chứng minh rành rọt,
kết luận thấu đáo và nhất là có hệ thống. Ngôn ngữ, phương pháp, hệ thống: những nhân tố cơ bản giúp tư duy đi xa, thực hiện được điều mà Ngô bảo Châu 32 có
lần gói ghém qua cụm từ “phép mầu Hy lạp” và khẳng định “chính tư duy
hình thức đã cho người phương Tây cái can đảm để đứng lên vai của người khổng
lồ”. Quan điểm này đồng quy với phát biểu của Einstein năm 1953 về phát
triển khoa học, cũng như với những phân tích phê phán của Dương Chấn
Ninh (Yang Zhen Ning), giải Nobel vật lý 1957, đối với tình trạng tư duy bị
xem là trì trệ ở xứ gốc Trung quốc của ông.33
Một điểm đáng chú ý khác là trong quá trình phân tích và lý
giải, triết gia châu Âu sẵn sàng “chẻ sợi tóc làm tư” - nếu cần - để phân biệt
rành mạch, chuẩn xác, tinh vi, tế nhị: họ đã đạt đến sự tinh tế của
tinh tế (mà ví dụ điển hình có lẽ là những khái niệm Kant đưa ra trong
tác phẩm kinh điển đã dẫn ở phần trên* hoặc - gần đây hơn - những kiến giải
thú vị của Walter Benjamin [1892-1940] khởi từ chỉ một chi tiết nhỏ như chuyện
mất “vầng sáng”[aura] của hình ảnh sao chụp so với bản gốc34).
Nói chung, họ không e dè núp bóng sau cái “đại hồn của vũ
trụ” để câm lặng tự xóa mình mà ngược lại luôn luôn cố gắng lên
tiếng, tự khẳng định, xoay vấn đề mãi đến khi “lảy” cho ra được hạt
tư duy. Mặc dù vậy, sự im lặng vẫn có, nhưng chỉ xảy ra một khi đã mổ xẻ rốt
ráo vấn đề, đã bày tỏ tường tận, dẫn đến kết luận đòi hỏi phải tiếp cận bằng
thứ ngôn ngữ phù hợp nhất với bản chất đối tượng: vô ngôn (trường
hợp của “thần học phủ định luận” [théologie apophatique] liên quan đến những
khái niệm siêu hình do Plotin [205-270] đề xuất 35 và được triển
khai bởi Damascios 36 [458-538]). Im lặng triết học, như vậy, không
phải “chỉ có riêng” ở phương Đông như ta thường nghe nói đó đây!
Trong bối cảnh sinh động đó, vì sao cái Đẹp đã không ngừng
là đối tượng của tư duy?
Lý do thôi thúc tư duy
Có những nguyên nhân hiển nhiên, đơn giản hoặc tiềm tàng
sâu xa, mà mức độ tác động thay đổi tùy tác giả và thời đại.
Trước nhất là vì, từ Platon đến Thomas d’Aquin (1224-1274)
qua Plotin, Augustin d’Hippone (354-430) rồi rất nhiều triết gia trung đại,
cái Đẹp được xem là biểu hiện khả giác (sensible) - nhận biết nhờ giác quan - của cái khả tri (l’intelligible) là cái tinh anh “thuần túy tinh thần” mà con
người có thể lãnh hội được nhờ trí tuệ. Hơn thế nữa, cái Đẹp còn được tôn
vinh bởi vì nó dự phần vào cái khả tri. Với Platon và các triết gia thuộc
phái tân-Platon, nó đến từ Ý tưởng giới siêu nghiệm, vĩnh hằng. Vì vậy, chưa
nói đến nhãn giới thần học Kitô giáo soi khắp châu Âu trong rất nhiều thế kỷ,
cái Đẹp từ lâu đã bao hàm một kích thước tâm linh.
Điều này không có gì đáng ngạc nhiên trong giai đoạn đầu của
suy tưởng nhân loại.Vả lại, nói cho cùng - từ góc nhìn thế tục -, thì chính
vì mang sắc diện của cái khả giác nên mỹ thể nào cũng căng tràn sức quyến rũ
(nhưng phải đợi mãi đến Kierkegaard [1813-1855], lần đầu tiên mới có một ý đồ
“lý thuyết hóa” tính nhục cảm [érotique] sâu xa của thẩm
mỹ, đặc biệt thể hiện - theo ông - qua kiệt tác Don Giovanni của Mozart [Ou
bien…ou bien, 1843] ) và do đó, triết học duy linh 37(spiritualiste) thời
trước không thể không quan tâm đến nhu cầu “tâm linh hóa” nét đẹp trần
gian…
Nhưng không chỉ có thế. Đối với Schiller (1759-1805) sau
này, cái Đẹp còn được nhìn nhận qua tầm vóc siêu nghiệm của nó, có
thể tạo nên những ảnh hưởng thanh cao nhất trên con người (Lettres sur
l’éducation esthétique de l’homme, 1795). Và Hegel - hai mươi ba thế kỷ sau
Platon! - cũng vẫn xác nhận “cái đẹp được định nghĩa như là sự biểu hiện khả
giác của ý tưởng” (“Le beau se définit comme la manifestation sensible de
l’idée”, Esthétique, ấn bản Flammarion, coll. Champs, 1979, tr.160).
Bước sang lý do thứ hai thúc đẩy suy tư Mỹ học: có nhiều
liên hệ sâu sắc đến khía cạnh bản thể, là một trong những - nếu không phải
chính là - vấn đề trung tâm của Triết học. Thời trung đại Kitô giáo coi cái Đẹp
là tính chất của Hữu thể (nguồn 27[*], tr.17). Ở đây, cần mở ngay một
dấu ngoặc lớn: toàn bộ nền Triết học phương Tây - sau những ý tưởng mở đường
của Parménide d’Élée38 ( vào khoảng thế kỷ VI - giữa thế kỷ V tr CN) về bản
thể học (ontologie) và kể từ Aristote trở đi -, không phải đã “bỏ quên bản thể”
như Heidegger (1889-1976) kết án một cách cực đoan và ngoạn mục trong tác phẩm
nổi tiếng của ông39, mà thiết tưởng chỉ vì bản thể luận được xác lập sau đó - bởi rất nhiều triết gia - đã không làm Heidegger thỏa mãn. Chính ra, theo thiển
ý, một trong những điều giúp Triết học phương Tây đi tới trong suy tư liên
tục - không thể chối cãi! - về hữu thể là sự kiện họ đã mượn nhiều con đường
trong đó có lối này: không nhất thiết phải nhắm thẳng vào đối tượng mà có thể
“đi vòng”, đặc biệt là thông qua những mối tương quan với cái
Đẹp. Hấp lực và áp lực của chủ đề cũng như nỗ lực tư duy qua các thời đại đã
chứng minh con người chưa hề “bỏ quên” những vấn nạn triết học cơ bản. Chỉ có
thể công nhận rằng cách tiếp cận của Heidegger hoàn toàn khác với
những người đi trước. Tuy vậy, ngay cả Heidegger, trong phạm vi Mỹ học 40 - mặc dù kiểu đặt vấn đề rất ấn tượng và những ý tưởng độc đáo của ông -, cũng
không đi đến khám phá nào “cách mạng” hơn là sự khẳng định vai trò mặc
khải chân lý của thi ca, nghệ thuật trước cuộc đời: nghệ phẩm - với tư
cách vừa là môi giới, hiện trường (site) của những tác nhân can hệ (sự vật/ con
người/ nghệ sĩ/ mỹ giới), vừa là hiện thân của cái Đẹp - có tác dụng làm cho bản
thể xuất lộ 41.
Đó không phải là điều hoàn toàn mới lạ mà thực ra đã bàng bạc
trong những suy tưởng mỹ học có từ trước, đặc biệt là của Schelling42 và
trường phái lãng mạn phương Tây (nguồn 27[*], tr.78). Họa sĩ lừng
danh Paul Klee (1879-1940) cũng đã từng phát biểu (trong diễn thuyết năm
1924) về chức năng «hiển thị» chân lý của nghệ thuật: «nghệ thuật
không sao lại cái hữu hình; nó làm cho trở nên khả kiến» («l’art
ne reproduit pas le visible; il rend visible», Théorie de l'art
moderne). Ngay cả thái độ “trọng thị” khác thường - cho tới nay hầu như chỉ
có đối với người hay với những đối tượng “phi vật tính” - mà Heidegger chủ
trương phải dành cho giới tự nhiên và cho nghệ phẩm, cũng rất gần với cách tiếp
cận tạo vật đầy «ưu ái», khẩn khoản và hồn hậu, trong tư duy nghệ thuật Cézanne
[1839-1906] 43, 44 (và ngay bản thân sự tiên phong về tư tưởng, dưới trời Tây,
hết sức đáng trân trọng của họa sĩ tài năng này - trong một chừng mực nào đó - dường như cũng là dẵm lại, dù ngẫu nhiên tình cờ, con đường mà một số danh
họa và thi hào Trung Hoa đã đi qua, theo cách riêng của họ45).

Buổi Sáng (1820/1821) của Caspar David Friedrich
(1774-1840),
đại diện hàng đầu của hội họa lãng mạn Đức
(http://fr.wikipedia.org/wiki/Fichier:Caspar_
David_Friedrich_006.jpg
[Bức tranh Đức này không thể không làm ta liên tưởng đến
hội họa truyền thống Trung Hoa - mà tác phẩm nổi tiếng dưới đây là tiêu
biểu - mặc dù rằng sự lập thuyết tương đối dồi dào và khá cao siêu
của nền nghệ thuật ấy, theo thiển ý, vẫn không bù đắp được cho những
hạn chế nhất định do tính đơn điệu, thiếu phát triển của nó, so với phương
Tây].
Xuân sớm (1072), của Guo Xi
(Quách Hi) [1020 - 1090?]
Một trong gần… 80 phiên bản khác nhau về hòn núi
Sainte-Victoire, ám ảnh nghệ thuật độc đáo của Cézanne, đã trở thành bất tử
(http://fr.wikipedia.org/wiki/Fichier:Paul_Cézanne_112.jpg)
Cái Đẹp luôn luôn mở ra môt thế giới trong đó chủ thể ngụp
lặn với những khám phá về sự vật, về người, về mình. Heidegger đã có những
câu sáng đẹp, đầy vẻ uy nghi, để nói lên vai trò khai thế của tác
phẩm nghệ thuật, chẳng hạn: “Khi nghệ phẩm - từ chính nó - trỗi dậy, thì lúc
ấy cả một thế giới mở ra, mà nó sẽ giữ cho cái ngôi vì ngự trị được luôn vững
bền46 ”...
Chính vì vậy, một thế giới lung linh kỳ ảo đã có lần mở
ra với người thơ, qua cửa sổ tâm hồn mỹ thể:
Những buổi đó, ta nhìn em kinh ngạc
Hồn tan dần trong cặp mắt lưu ly
Ôi mắt xa khơi, ôi mắt dị kỳ
Ta trong đó thấy trời ta mơ ước
Thấy cả bóng một vầng đông thuở trước
Cả con đường sao mọc lúc ta đi…
(Kỳ nữ, Đinh Hùng)
Ngược lại, chủ thể cũng nương nhờ vào cái Đẹp, mượn
nghệ thuật để xua đi nỗi khắc khoải cô đơn, những bất khả tương thông trong
cuộc đời:
Sao người đi sâu vào không gian trong
Bức tường vô hình nên bức tường dày mênh mông
Và sao lòng tôi không là vô tận
Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song…
Cái Đẹp lay động con người, kích hoạt tiến trình nắm bắt và
tái tạo những thực tại. Ở đó, được nhận diện những mảnh đời muôn mặt
: hạnh phúc lẫn khổ đau, lương duyên cùng bất hạnh. Vì thế, đã có một Màu
Sim bất tử. Có Lá Diêu Bông của khát vọng tuyệt đối.
Nhưng những thực tại đó không chỉ mang âm hao tình cảm mà
còn có đầy đủ cả diện mạo ý thức: không chỉ một Phùng Quán “dựa câu thơ
mà đứng dậy”47, mà đã có ít nhất một Hoàng Cầm vững tin “nghệ thuật đã rửa
hồn chúng tôi”48. Và cụm từ “bận việc làm người” hay “ cây gỗ
vuông” của Hữu Loan49, tự nó, đã toát lên nét kiêu hãnh tuyệt vời của
cái Đẹp : vắt óc, đổ mồ hôi - khi không phải là máu và nước mắt! - để ngẩng
cao đầu đi hết hành trình tại thế, không chối chân lý, không
phản ước mơ.
Hiển nhiên, cái Đẹp và nghệ thuật luôn đẩy con
người đi sâu trong truy tầm và thể hiện sự thật, tra vấn ngoại giới lẫn
chính mình. Cái Đẹp đi đôi với hiện hữu và, trong thế tương tác giữa
nó với con người, được hình thành những cách thế tồn tại mà - trong
lịch sử phát triển tư tưởng nhân loại - nội dung thân phận ngày
càng hiện ra rõ nét.
Toàn bộ những điều vừa xét qua, như vậy, đã là lời đáp thứ
hai cho câu hỏi tại sao tư duy về cái Đẹp: bởi vì nó mang một kích
thước bản thể (bản thể hiểu theo nghĩa trọn vẹn nhất, thông qua những
đòi hỏi và phê phán của Heidegger). Đó là điều cơ bản, mấu chốt, mà nghệ thuật
chân chính nào cũng không thể bỏ lơ, trừ phi tự phủ nhận. Nhận định này
có thể khác với chiều hướng của một số quan niệm mới trong Mỹ học
đương đại, nhưng như thế không có nghĩa là nó không còn giá trị.
Lý do thứ ba giải thích sự đầu tư cao độ của tư duy vào Mỹ
học - từ xa xưa, trước khi được Baumgarten đặt tên (1735) - chính là sự cần
thiết phải lý giải cho mảng rất quan trọng này của đời sống con người (hãy
thử tưởng tượng một thế giới thiếu cái đẹp, không nhạc, không tranh, không văn
thơ, không nghệ thuật!) và nhu cầu tạo dựng nền tảng lý luận cho
bộ môn mới được hình thành từ đó. Ngôi nhà tri thức không thể được xây từ một
mớ ý tưởng mông lung mà phải dựa trên những nền móng vững chắc. Yêu cầu này tất
yếu dẫn đến sự ra đời của một triết học về cái Đẹp.
Trong tâm thức cổ đại, sự ám ảnh bởi những điều chưa hiểu hết - trong đó có cái Đẹp - thường hòa quyện với khao khát yêu chân lý. Platon đã
xác nhận thế này: «Ham muốn hiểu biết và tình yêu tri thức, hay
triết học, thì cũng chính là một thứ?” [«Désir de connaître et amour du
savoir, ou philosophie, c'est bien une même chose?» (La République, II,
376b)]. Theo “chiết tự” tiếng Hy Lạp cổ, từ triết học (philosophia) có nghĩa
là “lòng yêu sự khôn ngoan, hiểu biết”. Chính định nghĩa này đã xác
quyết định mệnh của Triết học: vì yêu nên mãi mãi đi tìm những đối
tượng không bao giờ có hết đó, khiến chúng ngày càng sinh sôi nảy nở,
và bản thân Triết học ngày càng rời xa cái nôi nhỏ bé của sự “khôn ngoan”
(sophia, sagesse) ban đầu (mà ta gọi là Minh triết) để tiến lên đến
những tầng cao trong bầu trời tri thức.
Thiết tưởng Minh triết là cội nguồn - và cũng có thể là
điểm dừng - của Triết học, nhưng rất khác biệt với cái sau này. Bởi Minh triết
là một trạng thái tự tại, một thái độ, một chọn lựa, một cái nhìn tổng
thể, dựa trên một trình độ thông hiểu nào đó, ở một thời điểm nhất định.
Còn Triết học là không gian của những ý niệm (concepts), là tiến
trình sản sinh vô tận của chúng trong cuộc tìm kiếm khôn nguôi của con
người nhằm tiến tới chân lý và, qua đó, xây đắp một cách có hệ
thống những hiểu biết ngày càng mở rộng, chủ yếu trên bình diện nhận thức.
Tính hệ thống này là cốt lõi của cái đáng mang tên Triết học.
Baumgarten, trong phần dẫn nhập tác phẩm suy tưởng về thơ của mình (Méditations…)50 đã
nhấn mạnh đến sức mạnh của một lý thuyết, một “khoa học thi pháp”cho phép
trình bày mạch lạc và suy diễn dễ dàng những quy luật
liên quan. Ông viết: “Chỉ khởi từ riêng cái ý niệm về bài thơ - vốn đã ăn sâu
trong tâm hồn -, ta có thể chứng tỏ rất nhiều điều mà bấy lâu nay tuy đã được
khẳng định đến cả trăm lần nhưng gần như không có nổi lấy một chứng cứ nào cả”.
Sức mạnh đó chỉ có được từ Triết học. Không Triết học thì
đã không có Luận lý học (Lôgic), không có lý luận về phương pháp, nghĩa là
không có điều kiện cho khoa học ra đời nốt. Công lao to lớn của Triết học là ở
đó. Thậm chí, hình như chỉ có Triết học mới cho phép con người tự tin đến độ
đã có nhiều bộ óc xuất chúng dám toan tính việc “thâu hết tri thức nhân loại
về một mối”! Có hề chi, nếu ước muốn đó tỏ ra là quá tham vọng hoặc chưa
thành: dám tư duy vẫn là điều tích cực nhất.
Và đặc điểm cơ bản của cái «nghề triết gia»,
nói như Gilles Deleuze (1925-1995) trong một cuộc phỏng vấn nổi tiếng51,
chính là « làm ra những ý niệm”, trong khi “nghề của nghệ sĩ là làm
ra những cảm niệm (percepts)”. Khi viết, Gilles Deleuze diễn tả đầy đủ
hơn: “triết học là nghệ thuật hình thành, phát minh, chế tạo ra những ý
niệm”; hoặc ngắn gọn: “triết học là bộ môn nhằm sáng tạo ra những
ý niệm”. Còn “nghệ thuật hoạt động bằng cảm niệm và tình niệm (affects), trên
một bình diện sáng tác với những hình tượng thẩm mỹ”.52
Công thức của Gilles Deleuze giúp ta xác định được đâu là
Triết học, ai là triết gia («Liệu có giá trị gì chăng, một triết gia mà
người ta có thể nói về ông ta rằng ông ta đã không sáng tạo ra ý niệm nào hết
?53»). Dĩ nhiên với điều kiện là phải nắm vững nội dung của chính từ “ý
niệm”này (mà tác giả đã dành một chương sách để định nghĩa và sáu chương còn
lại để làm rõ tương quan giữa nó với những phạm trù khác). Sẽ không còn cách
thẩm định thuần “cảm tính” nữa mà phải dựa trên tiêu chuẩn khách quan, nay đã
tìm ra. Nó tháo gỡ cho ta không ít những băn khoăn, ví dụ trong việc phân định
biên giới giữa Minh triết và Triết học, như ta vừa thấy. Hoặc nó cũng có thể
giúp ta có cơ sở đánh giá những khẳng định chẳng hạn như quan điểm của Marcel
Granet (1884-1940) cho rằng Trung Hoa không có Triết học mà chỉ có
Minh triết54, là điều được lập lại - gần đây hơn - bởi các tác giả Michel
Gourinat55 và Roger Pol Droit56, kể cả cho trường hợp Ấn Độ.
Vấn đề trở nên khá lý thú và tế nhị, đáng để được mở ra một
dấu ngoặc ở đây: nó liên quan đến bản sắc văn hóa, nếu không đụng cả
đến bản chất. Gilles Deleuze khẳng định là có triết học Đông
phương, nhưng đồng thời cũng nêu ra hai giới hạn đặc thù: một là, theo thuật
ngữ trong mô hình của ông, cái “Bình diện nội tại” (“Plan d’immanence”) ở
đây không đích thực là có tính triết học mà chỉ “tiền-triết học”, và nó chỉ
chứa những hình tượng (figures) chứ chưa phải những ý niệm (concepts) [sđd,
tr.89]; hai là “ phương Đông đã tư duy cái khách thể tự nó như là trừu tượng
thuần túy, cái phổ biến trống rỗng thành đồng nhất với cái riêng lạ đơn thuần: như vậy là đã thiếu mất mối tương quan với chủ thể [,hiểu] như phổ biến cụ
thể hoặc như cá thể phổ biến (“l’Orient pensait l’objet en soi comme
abstraction pure, l’universalite vide identique a la simple singularite: il
lui manquait le rapport au sujet comme universalite concrete ou comme
universelle individualite” [sđd, tr.90]).
François Jullien, trong một công trình mới đây57, thì cho rằng
người Trung Hoa “ít tỏ ra nồng nhiệt đối với một cái phổ biến
thuần túy lôgic” vì họ không thể “rời khỏi kinh nghiệm để thiết lập
nền tảng trên một bình diện khác (…), không thấy có lợi ích để tiến tới việc
vượt quá mức nhằm trừu tượng hóa”( sđd, tr.172). Và ông nói rõ ra rằng “chính
tư duy về Đạo,“con đường”, (…) cản trở việc phát triển của cái trừu tượng”, rằng “tham
vọng điều hành thế giới (…) không giống như tham vọng của một dự phóng thuần
túy tri thức: thế giới những nhà Nho (…) được kết thúc tại đây, và không phải
của những triết gia” (sđd, tr.174). Tóm lại, “tư duy Trung
Hoa đã không thể đặt vấn đề, hoặc hơn nữa đã không cần đặt
ra vấn đề mà đối với chúng ta lại là vấn đề không thể tránh” (sđd,
tr.180-181; xin được gạch dưới).
Từ toàn bộ những nhận định triển khai trên, ta hiểu vì sao - chứng kiến sự thiếu thốn, nghèo nàn về tư tưởng bày ra trước mặt -, nhiều người tâm huyết hiện nay đã phải kiên tâm nhắc lại tầm quan trọng của lý
thuyết58, của “tư duy trừu tượng”59 hoặc đã biểu lộ rõ rệt sự không đồng
tình60 với tình trạng xem nhẹ, thậm chí đánh giá thiếu chuẩn xác, vai
trò của Triết học đặc biệt trước cái hiện tượng mà Đỗ Lai Thúy61 gọi rất
đích xác là “thời thượng hóa vấn đề minh triết”…
Suy tưởng mỹ học thực ra đã không đợi cho bộ môn ra
đời rồi mới hâm nóng tư duy. Nhưng sự chính thức khai sinh này đã giúp suy tưởng
châu Âu làm được những bước khổng lồ. Nhìn nỗ lực của người, dù chỉ mới lướt
qua trên bề mặt Mỹ học, cũng đã đủ để nhận ra những thâm hụt (déficit)
to lớn của ta. Trong hoàn cảnh đó, không thể nào “tự hào” bám víu cái xơ
xác “ao nhà” mà - ngược lại - phải ra sức ươm trồng tinh thần triết học, xây
lại từ đầu cái lõi cốt tư duy, như là điều kiện của một tồn tại có
ý thức.
Do một sự tương đồng quan điểm đáng mừng, nội dung những điều
vừa trình bày cũng phù hợp với một số kết luận được rút ra từ buổi nói chuyện
của François Jullien62 tại Trung tâm Minh triết Việt, ngày 8/9/2008: “Minh
triết ở giai đoạn này phải đưa tư tưởng vào công trường của mình để làm ra những ý
niệm [concepts] (…). Tôi định nghĩa Minh triết là hạ tầng của tư tưởng; hạ tầng
này là cái nền cho sự phát triển của Triết học. Triết học phải trở về nó, lấy
tài lực của nó để tiếp tục phát triển”(xin được thay chữ «khái niệm»
trong nguyên văn bằng những chữ in thẳng để thống nhất ngôn từ ở đây, BĐH).
Từ nghệ cảm đi tới ý niệm, triết học về cái Đẹp đã khái
quát hóa những gì liên quan đến thẩm mỹ, điểm tô cho vườn hoa tri thức nhân
loại. Nhưng điều đó không có nghĩa là Triết học chỉ biết có cái “thuần lý”.
Đã quan tâm đến tri thức, do nhu cầu tất yếu tìm tòi hiểu biết (tầng
cao trên kim tự tháp Maslow7,*), thì lẽ nào Triết học - nhất là về sau này - lại bỏ qua việc thăm dò những “miền đất lạ” như cái ngoại lý (l’irrationnel)
hoặc vùng vô thức, nằm ngoài lý trí và có tác động mạnh mẽ trên con người?
Dù là bạn, là kẻ yêu mê (nói như Pythagore [580-497 tr CN], cha đẻ
của từ «triết gia» theo Cicéron [106-43 tr CN]) hay là người tình(nói
như Gilles Deleuze) của Minh triết, thì Triết học cũng biết dùng mọi cung bậc
của trí tuệ và tình yêu chân lý để quyến rũ, xáp lại gần sự khôn
ngoan hiểu biết. Không do dự, không giáo điều. Không dẫm chân qua ngưỡng của
Nghệ thuật, Triết học luôn tìm ra cho mình một giải pháp để bày tỏ, trần tình: Platon đã từng chọn dạng huyền thoại63 để chuyển tải những nội
dung không hoàn toàn phù hợp với ngôn ngữ thuần lý. Ẩn dụ nghệ thuật thay cho
diễn ngôn luận thuyết: trong một chừng mực nào đó, cách xử lý của Platon - từ
hai mươi bốn thế kỷ trước - đã nằm đúng trong hướng triển khai một số luận đề
đương đại của Heidegger!
Như vậy, những ám ảnh thẩm mỹ sâu xa đã khiến con người dốc
công sáng tạo vô số những khái niệm (notions), ý niệm và hình tượng, làm tăng
vốn phi vật thể của nhân loại: từ cái lý tưởng - hoặc không tưởng - nhất, đến
cái hữu dụng - thậm chí thực dụng - nhất, đầy thú vị, phong phú lạ lùng, mà
dĩ nhiên không thể - và không phải chỗ - nêu hết ra đây. Nhưng bởi vì điểm
qua thành tựu của người cũng là cách để soi lại chính ta, xin được đề cập - trước khi kết thúc - đến một số khía cạnh đáng lưu ý ở phía thượng nguồn của
dòng chảy tư duy phương Tây, trong phần đầu lịch sử Mỹ học.
Đôi nét về những bước suy tưởng Mỹ học tiền hiện đại
Định đề cơ bản mà mọi người nhìn nhận trong giai đoạn “tiền
sử” của Mỹ học (trước Baumgarten) có thể được phát biểu như sau: cái Đẹp là
khách quan, phản ánh của một trật tự vũ trụ ở ngoài và ở trên chủ thể;
nó bộc lộ - một cách khả giác - yếu tính (l’essence) của cái khả tri, mang một
nội dung siêu hình (métaphysique) và có quan hệ khắng khít với cái Thiện.
Dựa trên cơ sở của tính khách quan đó, người ta
đã tìm cách xác định những đặc trưng hình thức của cái Đẹp. Đối với
người Hy Lạp cổ, vẻ đẹp có thể giải thích được bằng sự hài hoà, sự cân đối giữa
cái từng phần đối với toàn thể. Aristote nói rõ: «Những hình thức cao
nhất của cái đẹp là trật tự, sự đối xứng, sự xác định và - nhất là - đó
chính là những gì mà khoa toán học làm hiện rõ ra» (“Les formes
les plus hautes du beau sont l'ordre, la symétrie, le défini et c'est là
surtout ce que font apparaître les sciences mathématiques”, Métaphysique). «Con số vàng» (le Nombre d’or) huyền thoại đã đi vào lịch sử nhân loại từ đó - có lẽ dưới xung lực ban đầu của người khổng lồ Pythagore -, thâm nhập rất
nhiều lãnh vực khác nhau, và gần đây vẫn còn tính thời sự64.
Môt người khổng lồ khác, bên cạnh những tác phẩm tri thức
đa dạng như đã biết, cũng để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong việc khắc họa cái
Đẹp trên vòm trời tư tưởng nhân loại: Platon65. Cha đẻ của lý thuyết về Ý tưởng
giới (théorie des Idées), Platon không quên dành chỗ trong những Đối thoại của
ông (phần Le Banquet, chủ yếu nói về tình yêu) để đưa ra một phương thức
truy tầm hạnh phúc: đi từng bậc - từ thấp tới cao - khởi đầu ở mức đẹp trần
thế của thân xác, qua nhiều bậc trung gian trong đó có mức đẹp của tình
cảm rồi của tri thức, để cuối cùng lên đến mức tột đỉnh là yếu
tính của cái Đẹp. Chưa hết. Trong Phèdre (De la beauté) viết về
sau, Platon còn lập lại chủ đề dưới một dạng khác, cho rằng linh hồn con người
do trong tiền kiếp đã có lần tiếp xúc với Ý tưởng nên giữ mãi những hồi ức (réminiscence),
luôn mơ tưởng tìm lại cái Ý tưởng giới ấy nhưng chỉ gặp toàn những “bản sao”
thiếu sót, bất toàn, ở chốn trần gian này: cho nên, chỉ với tình yêu - qua người mình yêu - và bằng nỗ lực không ngừng để vượt qua chính mình, con
người - trong quá trình kiếm tìm cái Đẹp - mới có cơ tiến gần tới Ý tưởng
thuần túy, mà sự chiêm nghiệm sẽ đưa những kẻ yêu nhau lên đến tầm cao
vĩnh cửu.

Có thể nói Platon là triết gia của tình yêu, tình yêu vẻ đẹp
tuyệt đối. Nhìn nhận «chỉ có vẻ đẹp mới được hưởng cái đặc quyền là đối
tượng dễ thấy nhất và hấp dẫn nhất», ông lên án những kẻ phàm phu
tục tử «chẳng chút tôn trọng vẻ đẹp khi được diện kiến mà chỉ biết nhượng
bộ cho những khoái thú theo kiểu súc vật», và ông cho rằng «người
mới được truyền dạy hoặc đã quen chiêm nghiệm cõi trời, khi thoáng thấy - trên một khuôn mặt - mỹ ảnh của vẻ đẹp thiên thần, hoặc chút ý tưởng nào đó
trên mỹ thể đang gặp, thì thoạt tiên anh ta sẽ xúc cảm đến run lòng, chợt thấy
hiện về mấy cơn xao xuyến đã qua; rồi thì - trong niềm tôn quý đối tượng đã
khiến mình rung động - anh ta sẽ sùng bái nó như một vị thần» [«La
beauté seule jouit du privilège d’être l’objet le plus visible et le plus
attrayant (…) loin de se sentir frappé de respect à sa vue, il cède alors au
plaisir, à la façon des bêtes, (…) l’homme, qui a été récemment initié, ou
qui a beaucoup contemplé dans le ciel, lorsqu’il aperçoit en un visage une
belle image de la beauté divine, ou quelque idée dans un corps de cette même
beauté, il frissonne d’abord, il sent survenir en lui quelques-uns de ses
troubles passés; puis, considérant l’objet qui émeut ses regards, il le
vénère comme un dieu.», Phèdre, 250-251]
Ta tưởng chừng như thấy lại ở đây cảnh Đoàn Dự sụp lạy trước
tượng giai nhân, đã được đề cập trong phần trên*,11: trùng hợp quan điểm
tình cờ giữa Kim Dung và Platon, hay đoạn văn cuối này chính là một «biện
minh triết học» nho nhỏ cho «thẩm mỹ Thiên Long Bát Bộ»?
Bên cạnh đó, có một cái gì khá «phổ quát» trong ý niệm hồi
ức, mà Platon đã dành một trong những Đối thoại của ông để diễn giải (Ménon)66:
những khái niệm về «tiền kiếp», «linh hồn bất tử», «đầu thai»…, được
nêu ra trong đó - thú vị thay - là những điều khá quen thuộc đối với phương
Đông (mà chắc hẳn Hy Lạp đã chịu ảnh hưởng, trước khi Pyrrhon [360-275 tr CN]
theo chân Alexandre Đại đế sang Ấn Độ67). Thêm nữa, hồi ức của
Platon cũng có nét tương đồng (tuy không đồng nhất) với hoài niệm của
Nguyễn văn Trung, người đã «chuẩn đề hóa» (thématiser) một số vấn đề thú vị
được gợi ra từ các truyện «Bích Câu kỳ ngộ», «Từ Thức lên tiên» và «Lưu
Nguyễn nhập Thiên thai» (như để hội thoại, từ góc độ triết học, với môt Văn
Cao nghệ sĩ đã chắp cánh cho những Hình tượng tuyệt vời ấy thăng
hoa cùng âm nhạc?): «… Thiên thai là gì? Là Thanh Bình, Tuyệt Mỹ,
Toàn Thiện, Vĩnh Cữu (…), là hoài niệm một cuộc đời hồn nhiên, thế giới tự nhiên
bên kia ý thức, đời sống luân lý, tội phúc. Nhưng làm thế nào để trở về với
cuộc đời vô tư hồn nhiên hạnh phúc đó? Làm thế nào đi đến Thiên thai để được
gặp những nàng tiên, tượng trưng của vẻ đẹp thuần túy, tuyệt đối, không bao
giờ phai nhạt?68». Thì ra, không phải chỉ khách lãng mạn Tây
Âu mới luyến tiếc những «thiên đường đã mất» của «hoàng kim thời đại».
Bất luận nguồn gốc nó thế nào, phải chăng cũng chính hồi ức
đã đưa một Trịnh Công Sơn về với Rừng xưa đã khép để thảng thốt nhận
ra: «Ta thấy em trong tiền kiếp, bên mặt trời lẻ loi…»? Và hẳn cũng bằng
hoài niệm mà một Huy Cận đã Đi giữa đường thơm, bâng khuâng tự hỏi:
Một buổi trưa không biết ở thời nào,
Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao…
Quả thực, cái Đẹp chưa bao giờ ngừng đeo đuổi con người - kể
cả trong hồi tưởng -, và từ những cuộc giao duyên đó với tư duy đã nảy sinh
nhiều khái niệm phong phú. Thời đại Platon Aristote chứng kiến sự ra đời của
hai ý niệm cơ bản cho nghệ thuật (ngay từ lúc nó chưa được mang tên này):
mimêsis và catharsis.
Mimêsis chỉ việc «bắt chước », được coi - trong thời cổ đại - là cách vận hành của văn học nghệ thuật nhằm chủ yếu mô tả lại thiên nhiên.
Platon đã đề cập tới mimêsis trong La République (quyển X) và một
phần dư âm của nó trong Le Sophiste (theo nguồn 27, tr.23). Đương
nhiên coi mọi sự đều bắt nguồn từ Ý tưởng - là cái «gốc» mà con người hễ
càng rời xa sẽ càng kém thật -, ông khẳng định rằng khi người họa
sĩ vẽ một chiếc giường chẳng hạn do thợ mộc làm ra, thì anh ta bị rời xa Ý tưởng
nguyên thủy đến hai lần: sao chép lại một sự sao chép (đã diễn ra lần thứ
nhất, lúc người thợ bắt tay thực hiện cái ý có sẵn “trong đầu”). Và càng xa
cái thật thì càng dễ thành «lừa dối», nghĩa là càng đáng bị lên án. Chẳng
những họa sĩ mà cả người viết kịch thời ấy - tức hai loại nghề «bắt chước»
chính - cũng bị Platon coi là «làm nhiễm độc sự phán đoán của người
nghe» (La République, 595b), «đánh thức và nuôi dưỡng phần hạ đẳng
của tâm hồn, làm suy sụp phần khả năng suy luận của nó» (sđd, 605b). Những
suy diễn rất ư… lôgic, trong hệ tư tưởng do chính ông dựng nên và đã khiến
ông tự mình ngồi tù trong đó. Cho nên, kết luận sau cùng của Platon
là: phải đuổi các giống họa sĩ và thi sĩ ấy ra khỏi chốn Thị đô (Cité)
lý tưởng của ông (trong khi Platon lại rất thán phục thi hào Homère)!
Rõ thật ghê gớm, cái sức hủy hoại của sản phẩm trí tuệ một
khi người ta chỉ nhân danh cái «lôgic» nội tại của nó mà bỏ rơi
thực tế sinh động, ngay cả đối với một bộ óc tầm cỡ như Platon. May thay, đã
có những tư duy mới mẻ khác của học trò ông, Aristote, để cứu cho
Chân lý không bị che mờ, bị bức tử như trường hợp của bậc chân nhân
Socrate trước bạo quyền.
Aristote không quan niệm mimêsis69 theo lối suy diễn
máy móc và xa thực tế của Platon. Ông để qua một bên mô hình Ý tưởng của thầy,
không «ác cảm» với thế giới cảm giác như Platon, mà - ngược lại - nhìn ra giá trị cơ bản của nó, đặc biệt trong quá trình nhận biết đối
tượng. Ông phân tích sâu sắc từng bước một của tiến trình thao tác lẫn cảm nhận
thi ca kịch nghệ và đề ra nhiều ý niệm mới - phải nói tân kỳ mới
đúng! - làm nền tảng cho nghệ thuật nói chung về sau: tầm vóc bộ La
Poétique70 của ông (dù chỉ còn lại cho hậu thế có quyển I) đã tạo ảnh hưởng
to lớn, chẳng những trong các thời Phục hưng và Cổ điển mà còn gợi hứng cho tới
cả công cuộc đổi mới của khoa thi pháp ở thế kỷ XX!
Với Aristote, mimêsis không phải là sao chép tầm thường mà
là tạo tác, là làm như thiên nhiên. Nghệ thuật không nhắm cái
hiện hữu (l’existant) mà là cái khả thể (le possible) và nghệ phẩm - dù mô phỏng, lấy cảm hứng từ thế giới thực - là một cái gì hoàn toàn mới:
một vật thể hư cấu (être de fiction). Nó không thực (vrai) mà chỉ giống thực
(vraisemblable). Ông nhấn mạnh về khoảng cách giữa vật gốc được thể
hiện và cái làm ra do «bắt chước»: cái sao chép trông giống bản gốc nhưng
không phải là nó, mà là kết quả lao động của người nghệ sĩ, của cái cách anh
ta đã nhào nặn, tạo dựng nên; bản sao, do đó, có thể đẹp với tư cách là công
trình của nghệ sĩ, bất luận xuất phát từ mẫu nào, ngay cả khi mẫu ấy tự
nó không đẹp.
Cũng trên phương diện này, đặc biệt về mối quan hệ với tiến
trình hiểu biết, François Cheng - dưới con mắt trí thức gốc Hoa - cho rằng
chính nhờ yếu tố nhận thức do Aristote chỉ ra trong ý niệm mimêsis toàn
diện ấy mà - so với phương Đông -, một mặt, nghệ thuật phương Tây mang ý
hướng chinh phục thực giới (le réel) rõ rệt và mặt khác, hội họa
châu Âu đã đạt tới những đỉnh cao, thông qua một quá trình tích lũy kiến thức
sâu rộng về hiệu ứng quang học, tác dụng của bầu không khí, các chất màu v.v... và nhất là về luật phối cảnh [nguồn 44, tr.139].
Trong Mỹ học, Aristote được xem là người đầu tiên đã đưa ra
khái niệm thích thú thẩm mỹ (plaisir esthéthique) hay mỹ cảm, xuất phát
từ cảm xúc do tác phẩm tạo ra: «Đây chẳng những là việc bắt chước một
hành động nói chung trong toàn bộ của nó, mà còn là việc những sự kiện có khả
năng kích dậy sự kinh hoàng lẫn lòng trắc ẩn; và những xúc động đó nảy sinh
nhiều nhất là khi những sự kiện cứ nối tiếp diễn ra ngược với sự chờ đợi của
chúng ta» ["Il s'agit, non seulement d'imiter une action
dans son ensemble, mais aussi des faits capables d'exciter la terreur et la
pitié, et ces émotions naissent surtout et encore plus, lorsque les faits
s'enchaînent contre notre attente" (La Poétique, ch.IX, theo
nguồn 69)].
Từ nhận xét xác đáng rằng, đối với một nghệ phẩm được trình
diễn, «chúng ta thích ngắm những hình ảnh trung thực nhất của những cái
mà trong thực tế chúng ta sẽ khó lòng chịu nổi khi nhìn thấy, như những dạng
thú gớm ghiếc hay những tử thi»[«nous prenons plaisir à contempler les
images les plus fidèles de choses dont la vue nous est pénible dans la
réalité, comme les formes d'animaux les plus repoussantes et des cadavres» (sđd,
1448b10)], Aristote đã đi đến một ý niệm tinh tế và quan trọng: catharsis,
tức là sự «tinh luyện», gột rửa cho con người khỏi bị những đam mê sơ đẳng dẫn
tới hậu quả xấu khi chứng kiến những màn quá «ấn tượng» trong nghệ thuật.
Thật thế, trình diễn nghệ thuật nào cũng là sự tái hiện dưới
một ánh sáng khác, trong khuôn khổ một không gian hình tượng hóa dị
biệt, so với những gì mà mỗi nhân vật, quang cảnh có thể là, khi nó thật
sự xảy ra ngoài đời. Bầu không khí trong một vở kịch chẳng hạn sẽ không bao
giờ y như cảnh thực trong câu chuyện gốc đã đưa tới sự ra đời của
tác phẩm. Ai lại chẳng ghê khiếp khi phải chứng kiến cảnh mẹ giết con, thế mà
mọi người đều có thể thích thú ngồi xem một vở kịch về nhân vật thần thoại Hy
Lạp Médée (giết con, anh em và vua): chính cái thủ pháp kịch nghệ đã «thanh
lọc», xả bỏ những cảm xúc thái quá tột cùng mà người thường ít ai tránh khỏi
khi phải thực sự trải nghiệm trong cuộc sống.
Aristote đã phát hiện qua đó một quy luật cơ bản độc đáo:
nghệ thuật chuyển hóa và làm thăng hoa thực tại. Đó là một
thực tại được cách điệu và nhân văn hóa. Catharsis cho con người lột
xác từ tục sang thanh, từ thô tạp trở nên tinh tế, từ nhục cảm biến
thành nghệ cảm. Trong ý nghĩa đó, nó là một liệu pháp cứu con người
thoát khỏi sự khống chế của cái khả giác.
Thêm vào đó, nghệ phẩm - một khi đã giúp khách thưởng ngoạn
vượt lên chính mình - thì đồng thời nó cũng tạo ra «đường thoát» cho những
đam mê được bộc lộ một cách tự nhiên, đường hoàng - trong sự chiêm nghiệm tác
phẩm -, mà không làm phương hại đến đạo lý hay trật tự chung quanh: Aristote
không phải «đuổi» nghệ sĩ ra khỏi cái Cité như Platon - mà ngược
lại - đã chứng minh rằng, bằng tác dụng «giải tỏa tâm hồn», nghệ thuật cần
cả cho sự duy trì trật tự xã hội.
Sau Aristote, đến lượt Mỹ học ghi nhận vai trò nổi bật của
Plotin - đại diện sáng giá của hàng triết gia La Mã -, người đã đẩy
tư tưởng Platon đến cùng cực: chủ thuyết tân-Platon (thực chất là
chủ thuyết Plotin), đối nghịch với nhãn quan bị cho là quá «hình học » của
tác giả La Poétique, đã đi tới một quan niệm «siêu nhiên» tối thượng (bao hàm ý niệm Toàn Nhất [l’Un]) và một thẩm mỹ «phi vật thể», thẩm mỹ của
sự trong suốt và ánh sáng: «cái đẹp đúng là nằm trong vẻ
sáng của sự cân xứng hơn là trong chính sự cân xứng» («la beauté
consiste davantage dans l'éclat de la proportion que dans la proportion
elle-même» [Plotin,Ennéades, VI, vii, 22]). Khái niệm về cái vô
hình tượng (l'in-forme) của Plotin được cho là đã gợi hứng cho mỹ thuật
Byzance, theo cách hình dung của A. Grabar71, chuyên gia về mỹ học này: «Sẽ
thật lý tưởng khi nhãn quan trở nên «trong suốt», nghĩa là khi mọi vật sẽ
không tự lập riêng lẻ mà cũng chẳng phải là không thể xuyên thấu được, khi
không gian bị hấp thụ, ánh sáng đi qua các vật rắn không chút trở ngại và khi
chính người xem sẽ có thể không còn phân biệt được nữa những giới hạn ngăn
cách anh ta với vật được chiêm ngưỡng» («Sera idéale la vision qui sera
‘‘transparente’’, c'est-à-dire où les objets ne seront ni autonomes ni impénétrables,
où l'espace sera absorbé, où la lumière traversera sans encombre les objets
solides et où le spectateur lui-même pourra ne plus discerner les limites qui
le séparent de l'objet contemplé»).
Plotin xác định: «Không bao giờ một tâm hồn thấy được cái
Đẹp nếu chính nó không đẹp. Tất cả trước hết phải trở nên thánh thiện và đẹp,
nếu muốn chiêm nghiệm Trời và cái Đẹp» [nguồn 27, tr.17]. Cũng trong cái
nhìn tuyệt đối hóa ấy, ông đặt cho vẻ đẹp một vai trò «tiền - trí tuệ luận»
(pré-noétique) sau này trở thành đề tài biện luận71 cho nhiều thế hệ triết
gia như Eckhart (1260-1327), Shaftesbury (1671-1713), Schopenhauer
(1788-1860) và cả Bergson (1859-1941).
Thời trung đại đến, với gần ngàn năm lịch sử, đã tiếp tục
xây dựng Mỹ học trên cơ sở những di sản cổ đại và tư tưởng Plotin: nghệ thuật
siêu nghiệm hóa (transcender) chẳng những cái khả giác mà cả cái khả tri.
Đó là thời thống trị tuyệt đối và toàn diện của hệ tư tưởng Kitô giáo ở
phương Tây. Cái mới nó đem lại, trước hết, là ý tưởng về Sáng tạo, mặc
dù phải qua lăng kính thần học: trong chừng mực nào đó, chính từ người nghệ
sĩ đã toát ra cái uy linh của Động tác tối thượng (Acte suprême) này. Nghệ
thuật thời ấy lệ thuộc vào Đức tin và chủ yếu là một nghệ thuật linh thiêng
(sacré), tuy rằng - bên cạnh sự minh họa về Hy vọng đầy chất giáo tín -, nó
cũng đã nêu bật lên được - một cách rất người - những gì dễ gây lo lắng ưu tư
chứa trong thông điệp thiên chúa giáo, phản ánh cái sức căng (tension) nội tại
của chính tâm linh (spiritualité)71: cảm nhận về cái ác, cái xấu, về tội lỗi.
Điều này được đánh giá là đã tạo nên một sắc giọng (tonalité) thẩm mỹ mới.
Trên mặt lý luận, những lý thuyết gia đã kế thừa một cách
thông minh, tìm cách hòa hợp những gì có thể được trong Kinh thánh với các ý
tưởng của Pythagore, Platon (trường hợp vũ trụ quan mang dấu ấn toán học lẫn
âm nhạc của nhân vật La Mã xuất chúng Boèce [480-525]72), cũng như
với chủ thuyết tân-Platon (trường hợp nhà thần học Pseudo-Denys [thế kỷ V]72).
Đó là nét đặc thù của giai đoạn lịch sử này, trong đó đã có sự đối mặt, giao
thoa giữa nhiều luồng tư tưởng khác nhau: mỹ học âm nhạc và mỹ học màu sắc cùng
những suy diễn siêu hình liên quan, lý thuyết về sự cân xứng (proportion),
về mối tương quan giữa cái đa phân (multiple) và cái duy nhất (unité),
lý thuyết về ánh sáng tâm linh như là vẻ sáng của hình tượng…
Albert le Grand [thế kỷ XIII]72, nhà thần học bác học Đức - thầy của Thomas
d’Aquin -, là người đã kết thúc ngoạn mục tiến trình tổng hợp của thời trung
đại chủ yếu Kitô giáo này: mỹ học của sự cân xứng và của ánh sáng là một. Những
suy tưởng về cái Đẹp từ Aristote và Plotin, như vậy, đã được hợp nhất một
cách nhất quán không ngờ: thành tựu này được xem là điểm nổi trội nhất của
tư duy mỹ học trung đại.

Tiếp đến, thời Phục hưng đã chứng kiến sự rộng mở tầm nhìn
con người, sự đột phá của những giao lưu phát triển tri thức và tài năng sáng
tạo. Về mỹ thuật, sự kiện lịch sử quan trọng hàng đầu là sự lương [thế tục] hóa
(laïcisation) của nghệ thuật, song song với sự ra đời của chủ nghĩa nhân
bản mà nó chuyển tải, cho phép nó quan tâm đến con người thay vì Thượng
đế, mặc dù đề tài trong Kinh thánh vẫn còn chiếm đa số. Với hội họa kiểu mới
thực hiện trên vải và giá vẽ, chủ nghĩa duy tự nhiên (naturalisme) đã chuyển
dịch trường hoạt động và đối tượng của họa sĩ từ cái vô hình (l’invisible)
chiêm nghiệm mông lung sang cái khả kiến(le visible) ngồn ngộn từng
chi tiết cụ thể. Thiên nhiên từ đây có giá trị nội tại, do chính sự hiện
diện của nó chứ không còn phải do là biểu tượng của cái siêu nghiệm xa xôi.
Chủ đề phong cảnh được phát triển, đặc biệt bởi các họa sĩ miền
Flandres. Nghệ thuật - nhất là nghệ thuật tạo hình - không ngần ngại mô tả những
gì gợi cảm nhất - thực và gần người nhất - của vẻ đẹp trần truồng tự
nhiên.

Mercure bắt cóc Psyché - Adrien de Vries (1545-1626) http://fr.wikipedia.org/wiki/Adrien_de_Vries
David(1504)–Michel-Ange http://fr.wikipedia.org/wiki/Fichier: DavidMichelAnge.jpg
Những giá trị chính yếu và cảm hứng mỹ thuật của thời cổ đại
được tôn vinh và tái hiện, đặc biệt là chủ đề thần thoại. «Nghệ thuật bản
năng» (hay bản năng nghệ thuật?) đã nhanh chóng cống hiến cho xứ Ý những kiệt
tác khỏa thân, theo truyền thống điêu khắc cổ đại, mà - lạ thay - phải chờ đến
hơn cả «tam bách dư niên hậu73» mới có được một Hegel để lý giải74 (bằng
những lý lẽ hùng hồn, vừa thông minh vừa thanh lịch, dù ta có đồng tình hay
không): thân hình con người là dạng tự nhiên hoàn mỹ nhất trong
trời đất, do đó là trung gian nghệ thuật phù hợp nhất để biểu hiện
cái tinh thần (l’esprit), cái Tuyệt đối (l’Absolu) cùng sự hợp nhất hai yếu tố
«nhân» (l’humain) và «thiên» (le divin). Ai làm sứ mạng ấy? Nghệ thuật,
qua con đường khả giác cố hữu của nó. Muốn biết đến hiệu quả ư? Đã
có thước đo là cảm xúc, là rung động do nghệ phẩm tạo ra (điều mà phải cả
thế kỷ sau thời Phục hưng người ta mới nhìn nhận).
Bởi thế, trước một La Fornarina chẳng hạn, bất ngờ,
diễm lệ và thách thức như một lời xướng vô ngôn, không khách
chiêm ngưỡng nào - theo phong cách phương Đông - lại cưỡng được câu họa, chỉ
chực tuôn trào theo ngọn bút Đường thi:
Môi thơm đượm thắm tình hoa bướm
Ngực ngát vun đầy mộng gió trăng...
Đâu là khả giác, đâu là khả tri? Có lẽ chỉ Raphaël mới biết
rõ điều ấy. Và, phải chăng chỉ nghệ thuật mới vượt được những ngăn cách trần
gian và Thượng giới, cõi thế và Thiên thai, người với người, tôi với chính
tôi?
La Fornarina (~ 1516/1518) Raphaël
L'Éducation de Marie de Médicis (1621/1625) Rubens
(1577-1640)
Tưởng chừng như có phép lạ đã cho tinh hoa đồng loạt rộ nở
trên xứ sở thần tiên ấy, nơi sắp đón chào sự xuất hiện của Galilée
(1564-1642). Hãy thử ngắm những ngôi sao dễ nhận ra nhất trong tinh tòa (constellation)
kỳ diệu này.
Thiên tài Léonard de Vinci (1452-1519), ngoài những công
trình khoa học nổi tiếng, đã để đời nhiều tác phẩm bất hủ - không phải chỉ La
Joconde - và những cách tân quan trọng trong kỹ thuật hội họa, mở đường
cho Raphaël (1483-1520) và cả Michel-Ange (1475-1564) trong lãnh vực này. Nửa
thế kỷ trước, Alberti (1404-1472) - một thiên tài bách khoa khác - đã là đại diện xuất sắc của chủ nghĩa chiết trung (syncrétisme) Phục hưng Ý: từ
Aristote và Thomas d’Aquin, đó là sự kế thừa quan điểm cho rằng cái Đẹp gắn
liền với nhận thức, tri thức thuần lý và thao tác «bắt chước» của người nghệ
sĩ chính là tham dự vào Hành vi tối thượng của Tạo hóa; từ chủ thuyết
tân-Platon, đó là khía cạnh vũ trụ luận (cosmologie) của các con số; và sau cùng, từ
khoa học tân tiến, thì không gì khác hơn là việc ứng dụng những khám phá
về quang học, đặc biệt trong phép phối cảnh.
Mặt khác, những cây bút lớn nhất thời ấy như thi hào Dante
(1265-1321), nhà thơ khởi xướng chủ nghĩa nhân bản Pétrarque (1304-1374) và
ông tổ văn xuôi Ý Boccace (1313-1375), tất cả đều đã viết về hội họa. Một sự
kiện tưởng như giai thoại là, phát xuất từ việc đảo nghĩa câu nổi
tiếng của thi sĩ la tinh Horace (65-8 tr CN) («ut pictura poesis erit»: thi
ca giống như hội họa), ut pictura poesis nghiễm nhiên trở
thành khẩu hiệu cho cả một học thuyết về… hội họa: xem nó cao quí
ngang hàng với thơ văn (là điều rất cách mạng, thời bấy giờ!); biến đổi cả
định nghĩa lẫn tính chất của nó bằng cách gán thêm vào đó những phạm trù vốn
thuộc khoa thi pháp và biện luận, coi nó là phải có cùng một cứu cánh kể
chuyện như văn học…
Như vậy, không phải không lý do mà thời Phục hưng được coi
là đỉnh điểm (apogée) của nghệ thuật phương Tây: cái thực tế và cái lý tưởng,
thế tục với linh thiêng, không gian cùng mặt phẳng, đường nét lẫn sắc màu,
tĩnh cũng như động, tất cả đều như đã đi tới chỗ hòa giải, hội tụ, như quấn
quyện vào nhau trong sự hài hòa, sung mãn.
Nhưng, như mọi thời đại, nắng Phục hưng rồi cũng nhạt phai.
Buổi hoàng hôn được đánh dấu - trên mặt nghệ thuật - bằng sự xa rời cái thuần
khiết ban đầu để cuối cùng tan biến trong khuynh hướng «kiểu cách»
(maniérisme), rồi phức tạp «dị kỳ» (baroque): dù tân kỳ độc đáo75, trường
phái sau này không còn dính dáng gì với mỹ học nguyên thủy mà thời đại Phục
hưng - qua chính tên gọi của nó - đã muốn làm sống lại.
Lịch sử tiếp diễn bằng sự đăng quang của chủ nghĩa cổ điển
(classicisme) vào thế kỷ XVII, thoạt đầu với một nền nghệ thuật thi ca đậm chất
mỹ học Aristote, rồi sau đó tiến tới độ bứt phá của một kỷ nguyên
hoàn toàn mới: kỷ nguyên của ý thức về chính mình, của ý niệm cogito do
Descartes (1596-1650) khai sinh.
Cogito là rút gọn của cụm từ la tinh nổi tiếng «cogito ergo
sum»: «tôi tư duy tức là tôi hiện hữu». Rất quan trọng cái ngôi tôi ở
đây (là chủ của động từ, không ở nguyên thể [infinitif] mà đã
được «chia» [conjuguer]: tuy không thấy tiếng đại danh từ [pronom]
trong câu nhưng phải hiểu ngầm nó vẫn có đó, chứ không như một
văn hữu đã hiểu nhầm trái ngược, rồi từ đó suy diễn quá xa76).
Chính cái tôi tư duy đã mở đường chẳng những cho chủ nghĩa duy lý
(rationalisme) mà, quan trọng hơn, cho cả nền triết học hiện đại77. Thực vậy,
nếu chủ nghĩa duy lý - với những hạn chế nhất định của nó - đã không ngự trị
mãi mãi, thì đóng góp của Descartes - ngược lại - vẫn rất to lớn ở chỗ, nhờ cogito, con
người nhận ra chính mình: chính là dựa trên chủ thể tư duy mà
con người dựng xây mọi hiểu biết, đạo lý và quyền của
mình. Về Mỹ học, duy lý là nền tảng triết học của chủ nghĩa cổ điển mà
Boileau (1636-1711) là lý thuyết gia (với câu nổi tiếng «Rien n’est
beau que le vrai» [chỉ có cái thật mới đẹp], L’Art poétique)
và được tiếp nối bởi môn đệ là Charles Batteux (1713-1780), tác giả một loạt
sách mỹ học trong đó «Les Beaux-arts réduits à un même principe» (1746) có
tham vọng «thu về một mối» toàn bộ các ngành mỹ thuật trên cơ sở thuần lý
và chủ trương…«bắt chước» thiên nhiên: «Các môn nghệ thuật chẳng hề
sáng tạo ra quy tắc lề luật cho mình: quy tắc thì độc lập với tính khí thích
muốn thất thường của nghệ thuật, và được vạch ra một cách bất di dịch trong
điển hình thiên nhiên» («Les arts ne créent point leurs règles: elles
sont indépendantes de leur caprice et invariablement tracées dans l’exemple
de la nature», sđd, tr.13). Nhưng thiên nhiên ở đây không phải hoang
dã nguyên khai, mà đã được chắt lọc cái tinh túy, cái «bản chất của
thiên nhiên» (nói theo kiểu chữ nghĩa: «la nature de la nature»), sao cho phù hợp với lý trí phổ quát. Cái hỗn tạp rừng rú»,
chẳng hạn, chỉ làm che khuất cái tự nhiên «thực sự».

Điển hình thú vị và cụ
thể nhất của chủ nghĩa Descartes trong thẩm mỹ «sống» có lẽ không gì hơn là
mô hình vườn «kiểu Pháp», đối nghịch với vườn «kiểu Anh»: tính toán, sắp
xếp, tỉa xén, gò gọt, càng «hình học hóa» (géométriser) vườn cây thì càng làm
lộ rõ giá trị cái Đẹp trong bản chất lý tính thuần túy - đáng chiêm
nghiệm nhất - của nó, để xuyên thấu vào yếu tính của tự nhiên, vào chân
lý - một chân lý rất ư toán học! - của vũ trụ. Tính đối xứng, hài hòa của
những dạng hình học gợi ra ý tưởng về một trật tự thiên tiên (le
divin) trong khi cái tự nhiên hoang dại nguyên thủy (vierge) thì chỉ làm liên
tưởng đến sự dung tục hỗn mang. Thiên nhiên thực không phải là cái
bề ngoài như ta nhận biết tức thời qua giác quan, mà là cái ta nắm bắt bằng
thông minh trí tuệ. Trên mặt sáng tác, khi Molière (1622-1673) tuyên bố «khắc
họa theo tự nhiên» trong những vở kịch của mình, ông ta không hề mô tả cuộc
sống hàng ngày của những con người bình thường, mà chỉ vẽ chân dung lý
tưởng tiêu biểu những cá tính chủ yếu của các nhân vật (nguồn 77,
tr.53).
Tự nhiên giới của chủ nghĩa cổ điển là tự nhiên đã được cày
xới, sửa soạn, làm chủ: một thiên nhiên hết còn xa xôi kỳ bí, mà đã nằm lọt
trong tầm kính viễn vọng của một Gallilée, hoặc dưới gót chân của một Christophe
Colomb (1451-1506) dọc ngang trời biển...
Một ví dụ vườn kiểu Pháp
http://www.lesjardinsdefrance.com/photos/francais.jpg
Trang bìa ấn bản lần đầu Discours de la méthode (1637)
http://fr.wikipedia.org/wiki/Fichier: Descartes_Discours_de_la_Methode.jpg
Descartes không trực tiếp xây dựng một Mỹ học riêng mới
nào, nhưng Triết học kể từ ông đã chắp cánh cho tính chủ thể (subjectivité)
bay bổng, dẫn tới nhiều tư duy mới mẻ trong đó cho dù có lắm cái hoàn toàn nghịch duy
lý, được mệnh danh là phi hoặc phản Descartes theo đà
phát triển phong phú và đầy đủ tính phê phán của trào lưu tư tưởng châu Âu,
nhưng tất cả - theo thiển ý - đều đồng quy ở chỗ cùng tôn vinh cái tôi.78 Đó
là trường hợp của Shaftesbury, Hutcheson (1694-1746) và Henry Home
(1696-1782) trong luận thuyết về trực giác và thiên tài sáng
tạo. Đó cũng là chuyện đã gặp ở một Leibniz (1646-1716) cho rằng vũ trụ phản
ánh cái hài hòa bên trong của từng đơn tử 71 (monade), chứ
không phải ngược lại.
Cũng vậy, vượt lên trên óc hình học duy lý, Pascal
(1623-1662) đã nói đến óc tinh tế (esprit de finesse); Roger de
Piles đề cập đến cái thật riêng lạ (le vrai singulier) để bác cái
thật lý tưởng của Le Brun (1619-1690); Linh mục Dubos (1670-1742) đề cao
tính quyết định của tình cảm so với lý trí trong nghệ thuật. Còn
Dominique Bouhours (1628-1702), một linh mục Pháp đầy tài năng khác, thì nhấn
mạnh đến tính phi thuần lý của nghệ thuật cùng bản chất bất khả
diễn ngôn của cái Đẹp: mỹ học của «tư duy tế nhị» (pensée
délicate) luôn có một chút « bóng mờ không gì rọi sáng»79, không phải do nghệ
sĩ kém tài mà bởi đó chính là cái yếu tính thầm kín của nó. Bouhours
không ngần ngại dùng «công thức» rất ư Pascal để khẳng định: «Con tim
tài tình hơn trí óc» («le cœur est plus ingénieux que l’esprit»,
sđd, tr.81). Xa hơn nữa, ông ta còn bảo vệ cái ngoại lý nơi con người, chất
đa nghĩa trong những ẩn dụ («luôn sót lại một cái gì mà trí năng không
bao giờ nắm bắt được» [sđd, tr.20]) và tính hư cấu trong văn chương
(sđd, tr.225-226).
Tất cả đều trân trọng tiếng nói không sao nhầm lẫn được của cá
thể vừa được trỗi lên, bằng cả khối óc lẫn con tim, lý trí và tình
cảm, của con người không thể giản lược vào riêng một chiều kích đơn nhất nào.
Con người cogito tiến lên vị trí trung tâm, nhưng
là con người chứa chan tình cảm, chối bỏ cái khô cứng duy lý nhạt nhẽo. Cái Đẹp
giã từ quy chế «khách quan» được phong cho thuở trước. Và nghệ thuật thôi
phản ánh cái siêu nghiệm xa xôi, để từ nay soi rọi thực tại chủ quan hóa của
mỗi cảnh đời, thăm dò vũ trụ nội giới: vũ trụ đầy cá tính, hoang mê và mộng ảo,
mà trào lưu Lãng mạn sẽ mở rộng vòng tay chào đón từ ngưỡng cửa thênh thang
thời hiện đại...
Mỹ học là cửa sổ tâm hồn nhân loại. Trình độ của nó nói lên
tầm cỡ trí tuệ và cảm thức mỗi dân tộc. Từ cái Đẹp, nỗ lực tư duy đi đôi với
sáng tạo nghệ thuật và cả hai song hành làm nên lịch sử.
Lịch sử Mỹ học cho thấy loài người - từ thời cổ đại Hy Lạp
đến thế kỷ Ánh sáng - đã phải trả giá bằng hơn hai mươi ba thế kỷ suy tưởng
và tạo tác mới tách mình ra khỏi được sự khống chế của Thượng giới. Việc ra đời
của bộ môn riêng biệt về thẩm mỹ, lấy thế giới khả giác làm đối tượng, là một đoạn
tuyệt với quá khứ siêu hình và thần học: nó nhắm cái cảm năng (sensibilité)
nên trao lại giá trị cho con người, con người được nhìn nhận chẳng những qua
tư duy, ý thức mà trọn vẹn với cả nhục cảm, ngũ quan. Cái Đẹp từ đó đã đắp
thêm da thịt cho Triết học và chắp cánh cho suy tưởng bay xa.
Nhưng không con đường khai phá nào là trơn tru hay chỉ toàn
bóng mát. Mỹ học phải đợi đến Kant mới thực sự hoàn tất cơ sở triết luận về sự tự
lập của cái khả giác đối với cái khả tri. Rồi phải chờ thời khắc xuất hiện
của một Nietzsche bản lĩnh ra tay cắt nốt cái khả tri, sợi dây cuối cùng còn
ràng buộc con người với Thượng giới. Hết cái khả tri, cái Đẹp đương nhiên bước
sang vùng ngoại lý, cùng lúc với một thách thức mới - chưa từng có - sừng sững
dựng lên trong lịch sử nhân loại: không còn thế giới nào khác cho con người
ngoài chính nó.
Triết học là động lực của tiến bộ, là vận động của tư tưởng,
tư tưởng lì lợm sống hết mình với chân lý: đền đài, kinh sách, thần tượng đều
có thể sụp đổ, nhưng chân lý thì mãi mãi còn ở phía trước. Triết học
không tự mãn mà hoài nghi tất cả - kể cả chính nó - và do đó, có khả năng tự
hoàn thiện.
Nó có thể đến muộn, như Hegel nhìn nhận qua hình ảnh “con
chim cú của nữ thần Minerva [nữ thần của sự minh triết] chỉ bắt đầu
cất cánh lúc hoàng hôn”80. Nó cũng có thể vắng mặt, như André
Malraux đánh giá trong La Métamorphose des dieux về các tác phẩm
xa xưa «được tạo ra bởi những nghệ sĩ mà - với họ - ý tưởng về nghệ thuật
không hề hiện hữu».
Nhưng mọi tác phẩm nghệ thuật đúng nghĩa đều ngầm chứa lời hò
hẹn ân tình với Triết học.
Triết học không vạn năng và con người không nhất thiết lúc
nào cũng phải gọi đến nó. Nhưng tư duy là nguồn nhiên liệu cần được
đốt lên để giữ lửa cho nghệ thuật.
Trước cuộc «hội nhập và phát triển» trong một thế giới
hoàn toàn không «phẳng», đánh thức và vun bồi trí tuệ là mục tiêu hướng tới
của biết bao nỗ lực đáng quý81. Duyệt lại hành trình Mỹ học, do đó, không phải
là mơ mộng cuộc dạo chơi trễ tràng mà là để ý thức về những bước khổng lồ của
nhân loại, trong đó dường như ta chưa dự phần.
Trước chông gai mà tư duy thường xuyên đối mặt, cái giá phải
trả cho sự chùn chân nhượng bộ là điều mà Hoàng Ngọc Hiến có lần chỉ tên: “Với
cái thói né tránh mâu thuẫn, chữ "hòa" của phương Đông không khéo trở
thành dễ dãi và «dớ dẩn», chỉ tạo ra những ảo tưởng về cân bằng, hài hòa,
nhiều khi chữ "hòa" được đưa ra cốt để che đậy sự lười biếng của tư
duy ngại mâu thuẫn, không có tinh thần tích cực giải quyết mâu thuẫn”.82
Và hậu quả của bất động, trong hoàn cảnh hiện nay, là sự
trôi dạt đến miền của viễn tượng khủng khiếp mà Phan Huy Đường đã từng cảnh
báo: «Xã hội rất có thể ít nhiều quay về thú giới chỉ nội vài thế hệ
thôi, nếu thế hệ trước chẳng còn bao nhiêu kiến thức, trí tuệ và giá trị đáng
kể để truyền lại cho thế hệ sau». 83
Thẩm mỹ - «động tác cao nhất của lý tính (Vernunft)84» -, vì thế, là chìa khóa giải mã nhân giới và chống chọi hư
vô.
Chú thích:
* Xem Phần I đã đăng trong Giai Phẩm Xuân Canh Dần - Diễn Đàn Forum
29 Théodore M. Mustoxidi, «Histoire de l'esthétique franc̜aise,
1700-1900: suivie d'une bibliographie générale de l'esthétique franc̜aise des
origines à 1914», (É. Champion, 1920); phiên bản điện tử (một phần) do
Ayer Publishing xuất bản năm 1968 mang tên «Bibliographie
générale de l'esthétique française des origines à 1914» par
Thodostos M.Mustoxydes:
30 Tham khảo ý kiến về câu của Descartes ở:
http://jchichegblancbrude.blog.lemonde.fr/
31 Chi tiết ở: http://fr.wikipedia.org/
32 Blog Thích Học
Toán, «Yêu ngôn»,
(Về cụm từ “phép mầu Hy Lạp”, dường như người đầu tiên nói đến là Ernest
Renan trong «Prière sur l'Acropole»:
http://www.lexilogos.com/
33 Nguyễn Hải Hoành, «Từ giải Nobel đến “nổ súng” vào Kinh
Dịch», http://bee.net.vn/, và ở http://nld.com.vn/
34 Walter Benjamin, «Petite histoire de la photographie»,
1931 (bản điện tử tại đây: http://www.rae.com.pt/ và «L’œuvre d’art à l’époque de sa reproductibilité technique», xuất bản
(xb) lần đầu 1935 (phiên bản 1939, «Œuvres III», Paris, Gallimard, 2000).
35 Theo Wikipedia: http://fr.wikipedia.org/
36 Theo Wikipedia: http://fr.wikipedia.org/
37 Theo thuật ngữ Nguyễn Văn Trung dùng trong “Nhân đọc Đi
tìm một căn bản tư tưởng”, Nhận Định II, nxb Nam Sơn, Sài Gòn, 1964, tr. 127.
Cũng trong bài viết này, tác giả có đưa ra một số từ cơ bản
thiết tưởng rất bổ ích để góp phần giải quyết vấn đề dịch thuật ngữ triết học
không mấy “chuẩn” tại Việt Nam mà điển hình là ví dụ sau đây, trong Từ điển
Triết học, nxb Sự thật, Hà Nội, in lần thứ ba (1976): cùng một chữ Pháp “entendement”, mà dịch ra tiếng Việt thì có khi là “giác tính”, có khi lại
thành “ngộ tính” (Bản thân quyển từ điển này cũng là bản dịch Việt ngữ từ
nguyên tác tiếng Nga, mà dịch giả thì không rõ là ai vì chỉ “ký” vỏn vẹn bằng
hai chữ “Người dịch”)
38 Theo Wikipedia: http://fr.wikipedia.org/
39 «Sein und Zeit», 1927; dịch ra tiếng Pháp «Être et
Temps», Gallimard tái bản coll. «Bibliotheque de philosophie», 1986;
bản kỹ thuật số tại đây: http://t.m.p.free.fr/
40 Đặc biệt trong một thuyết trình năm 1935 mang tên
"L'origine de l'oeuvre d'art", được in lại trong «Chemins qui ne
mènent nulle part» (lần đầu 1950, Ed. Gallimard tái bản 1962): tr.31 có câu
nổi tiếng: «Nous devons nous tourner vers l’étant, penser à son
contact même, ayant en vue son être, mais précisément de telle sorte que nous
le laissions reposer en lui-même, dans son éclosion.» (tạm dịch: «Ta
phải hướng tới cái hiện tồn, nghĩ ngay cả tới sự tiếp xúc với nó,
biết rõ trong đầu là ta đang nhắm cái bản thể của nó, nhưng đích
xác là phải làm sao để nó ở yên, trong sự khai nở [tự nhiên] của nó»).
41 Nguyễn văn Trung dùng từ này (hình như trước tiên, trên
diễn đàn triết luận) trong bài «Thi ca và triết lý», Đại Học số 26 (Sài
Gòn), tháng 4/1962 (và có lẽ cũng là người đầu tiên đã giới thiệu Heidegger
với độc giả tiếng Việt, trước khi Bùi Giáng xb «Martin Heidegger và tư tưởng
hiện đại» [1963]).
42 Mỹ học Schelling, qua các tác phẩm được viết trong giai
đoạn 1800-1807 (Système de l’idéalisme transcendantal, Bruno,
Philosophie de l’art, Rapport entre les arts figuratifs et les arts de la
nature), cho rằng nghệ thuật là hoạt động tối thượng của cái tôi, giúp ta nhận
ra cái Tuyệt đối, làm ta gắn chặt với Thiên nhiên và khiến nó hòa giải với
Tinh thần; nghệ thuật được coi là cao hơn cả triết học bởi nó biểu hiện cái
Tuyệt đối trong Ý giới.
43 Theo Joachim Gasquet, «Cézanne», 1921 (tái bản 2002,
Ed. Encre Marine); xem thêm:
i) Ronald BONAN, «Cézanne et Merleau-Ponty: une approche philosophique», ở: http://webasp.ac-aix-marseille.fr/, và ii) Marcelle CHIRAC ở: http://academie.sla.mars.free.fr/
44 Theo Maurice Merleau-Ponty, «Le doute de Cézanne», xb
lần đầu 1945, in lại 1996 trong «Sens et non-sens», Éd.
Gallimard, NRF, coll. «Bibliothèque de philosophie», tr. 13- 33; xem thêm «L’œil et l’esprit», xb 1961, tái bản 1964 Éd. Gallimard (kể từ 1985, trong
coll. «Folio/Essais»)
45 Theo François Cheng trong «Cinq méditations sur la
beauté», Albin Michel, 2006, tr.103 (so với lý thuyết của Shitao (Thạch
Đào) [1641-1720]) và tr.144 (so với Guo Xi (Quách Hy) [1020-1090?]); ngoài ra tác giả còn cho là có sự gặp gỡ quan điểm hoặc
đồng cảm với Đào Tiềm (365-427), tr.100-101, và Lý Bạch (701-762), tr.103.
46 Martin Heidegger, sđd ở nguồn 39, tr.47: «Quand
l'oeuvre d'art en elle-même se dresse, alors s'ouvre un monde, dont elle
maintient à demeure le règne»
47 Xem thêm về Phùng Quán: http://chutluulai.net/
48 Trong«Vĩnh biệt Hoàng Cầm, thi sĩ đất Kinh Bắc»,
http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=2354
49 Nguyễn Duy, «Người thơ bận việc làm người», http://tuoitre.vn/
Huu-Loan-cay-go-vuong-mau-tim.html
50 Baumgarten, «Méditations philosophiques sur quelques
sujets se rapportant à l’essence du poème» (1735), trích theo nguồn 27,
tr.50: «Il est possible, a partir du seul concept de poeme qui est depuis
longtemps gravé dans l’ame, de prouver de nombreuses affirmations qui ont ete
tenues cent fois, mais ont a peine fait l’objet d’une seule preuve»
51 Theo Wikipedia, trích dẫn «L'Abécédaire de Gilles
Deleuze» (phỏng vấn quay phim truyền hình 1988): «Le métier du philosophe
c’est de faire des concepts, le métier de l’artiste c'est de faire des
percepts»
52 Gilles Deleuze, «Qu'est-ce que la philosophie?»,
Paris, Éd. de Minuit, 1991(tr.8: «la philosophie est l’art de former,
d’inventer, de fabriquer des concepts»; tr.10: «la philosophie est la
discipline qui consiste a créer des concepts»; và tr. «210» [ bìa sách]: «l’art opère par percepts et affects, sur un plan de composition avec des
figures esthétiques»)
53 Gilles Deleuze, sđd, tr. 11: «Que vaudrait un
philosophe dont on pourrait dire: il n’a pas créé de concept»?
54 Marcel Granet, «La pensée chinoise» (1934), Albin
Michel tái bản, 1999, tr.10: «La Chine ancienne, plutôt qu’une
Philosophie, a possédé une Sagesse. Celle-ci s’est exprimée dans des œuvres
de caractères très divers. Elle s’est très rarement traduite sous la forme
d’exposés dogmatiques.”
55 Michel Gourinat, «De la Philosophie», Tome
1, chap. 4, 4° éd. 1982, Hachette, tr.186: «On baptise aujourd'hui à tort
et à travers "philosophie indienne" ou "philosophie
chinoise" les vieilles sagesses indienne ou chinoise, ou
"philosophie tragique" le sentiment pessimiste de la vie, qui - dans
la sagesse grecque - a précédé l'apparition de la philosophie.»
56 Roger Pol Droit, «L'oubli de l'Inde», 1989 PUF
(hoặc Livre de Poche, coll. Biblio essais N°4150).
57 François Jullien, «Tính khả tri của văn hóa»
(Nguyên Ngọc - Phạm Dõng dịch), nxb Lao Động - Cty Bách Việt, 2010
Chia sẻ kinh nghiệm. Đây là một ví dụ điển hình
cho thấy - bên cạnh vấn đề thuật ngữ vốn chưa chuẩn xác và thống nhất - giới
hạn to lớn của tiếng Việt nhìn chung (về cấu trúc lẫn cách diễn đạt, như người
viết bài này đã tự thấy cho chính mình!) trong việc dịch thuật triết học
(là rất cần thiết và hết sức đáng trân trọng) hiện nay, đến nỗi có nhiều đoạn
đòi hỏi người đọc phải cố vận dụng óc tưởng tượng để đoán nghĩa các câu chữ:
đường chúng ta đi quả rất còn dài.
58 Nguyễn Hưng Quốc, «Thời đại của lý thuyết»,
http://www1.voanews.com/
59 Từ Huy, «Tại sao không yêu thích vẻ đẹp của cái khó?»,
http://amvc.free.fr/
60 Giáp văn Dương, “Minh triết: Cô gái đồng trinh”,
http://tuanvietnam.net/
61 Đỗ Lai Thúy, «Hoàng
Ngọc Hiến và triết lý hai bàn chân»,
http://www.vanhoanghean.com.vn/
62 François Jullien, “Bàn về Minh triết” (Buổi
nói chuyện tại Trung tâm Minh triết Việt, ngày 8/9/2008), http://www.viet-studies.info/
63 Theo Wikipedia, ở http://fr.wikipedia.org/wiki/Mythe,
đoạn: “Les philosophes de l'époque post-mythique, tels que Protagoras,
Empedocle et Platon utilisent le mythe comme une mise en scène allégorique afin
de faire percevoir leurs propos d'une manière concrète. Platon crée des
mythes originaux (par exemple lemythe de la caverne),
ou réadapte des mythes antérieurs. À sa suite, d'autres philosophes ou
certains auteurs de discours argumentatifs ont, eux aussi, eu recours au
mythe, dans un même emploi»; và ở http://fr.wikipedia.org/wiki/Platon (phần «Utilisation du mythe»)
64 Xem thêm ở http://fr.wikipedia.org/(và
đặc biệt là:
http://www.iforum.umontreal.ca/
65 Platon được coi là lớn đến nỗi nhà toán học kiêm triết
gia Alfred North Whitehead [1861-1947] (thầy của Bertrand Russel [1872-1970]) phải có nhận xét đại ý: «… Triết học phương Tây là một
chuỗi những chú thích phía dưới trang [các tác phẩm] của Platon» (Whitehead
A.N., Process and Reality - An Essay in Cosmology, New York, The Free Press,
1969, tr.53: “The safest general characterisation of the European
philosophical tradition is that it consists of a series of footnotes to
Plato”)
66 Theo Wikipedia ở: http://fr.wikipedia.org/
67 Gérard Potdevin, «La Vérité», Ed. Quintette, tr. 17-18 ; xem thêm ở: http://fr.wikipedia.org/
68 Nguyễn văn Trung, “Về những nàng tiên của chúng ta”, Nhận
Định II, nxb Nam Sơn, Sài Gòn, 1964, tr. 48&55
69 http://fr.wikipedia.org/
70 http://fr.wikipedia.org/
71 Theo Daniel CHARLES, «Esthétique - Histoire»,
Encyclopaedia Universalis 2009
72 Xem thêm http://fr.wikipedia.org/
73 Mượn chữ câu thơ nổi tiếng của thi hào Nguyễn Du trong
bài «Độc Tiểu Thanh ký»: «Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ
thùy nhân khấp Tố Như» («Ba trăm năm nữa trong thiên hạ, Chẳng biết ai người
khóc Tố Như», lời dịch của Thảo Nguyên, «Đọc và dịch thơ chữ Hán của Nguyễn
Du, nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009, tr.133)
74 Các ý chính Hegel trình bày trong Cours Esthétique về
mặt này đã được Nguyễn Văn Trung tóm lược trong «Thân xác và nghệ thuật nhân
cái chết của Marilyn Monroe», Bách Khoa số 137, ngày 19/5/1962, in lại trong Nhận
Định III, nxb Nam Sơn, Sài Gòn, 1966, tr. 277.
75 Văn Ngọc, «Cảm
xúc Rôcôcô»,
76 Trong http://amvc.free.fr/ có
đoạn: «... Cogito và sum đều là động từ. Tư duy, vậy là (…) Thể thống nhất, thể đồng nhất lờ mờ giữa tư duy và thực thể trong câu văn la tinh bị
thay đổi tận gốc qua «bản dịch» tiếng Pháp: Tôi tư duy, vậy tôi là (có thực,
tồn tại). Trong câu này: Hành động tư duy tách rời với chủ thể tư duy một
cách hình thức: tôi; chủ thể ấy được cung cấp thuộc tính thực thể: tôi là. Do đó, chủ thể tư duy biến thành một thực thể độc lập với
hành động tư duy…».
Nhưng thực ra, không hề có việc dịch thiếu chính
xác từ tiếng la tinh ở đây, bởi lẽ giản dị là chính Descartes đã trình bày ý
niệm của mình, đầu tiên bằng tiếng Pháp («je pense, donc je suis») trong Discours de la méthode, phần 4 (1637), rồi sau đó mới sang
tiếng la tinh trong Méditations métaphysiques (1641) dưới một dạng
khác (ego sum, ego existo) và cuối cùng trở về dạng đầy đủ như ban đầu trong Principes
de la philosophie (1644).
77 Luc Ferry, “Le sens du Beau”, Le Livre de Poche,
12/2008, tr.35
78 Nguyễn Đình Chú, trong «Nguyễn Công Trứ: sự lên
ngôi của cái Tôi - cá thể» http://www.viet-studies.info/, đã nêu rõ khái niệm về cái tôi - không hiển nhiên trong xã hội Việt
Nam -, đồng thời cũng đã góp phần cho thấy cái tầm vóc độc đáo của bậc anh
tài Nguyễn Công Trứ (1778-1858). Xem thêm Huy Thông, «GS
Hoàng Ngọc Hiến: Thôi thì lúc nào đấy, nghỉ luôn thể!», trong đó
có đoạn sau đây về cá thể:
«Cá nhân luận văn hóa quan trọng nhất vẫn là cá
tính và sự tự do, độc lập của cá nhân trong từng suy nghĩ. Hiện đại hóa là
quá trình giải phóng cá nhân để phát huy tài năng, tiềm lực của chính mình.
Văn hóa phát triển phải là sự kết hợp của hai quá trình. Một là giải
phóng cá nhân, hai là phải tích hợp cá nhân với cộng đồng. Nếu chỉ có giải
phóng cá nhân không thôi thì cá nhân đó sẽ dần dần mất liên hệ với cộng đồng
và dẫn đến nguy cơ cá nhân đó sẽ trở lại với bơ vơ, cô đơn và bệnh hoạn». tr.432à79 Theo nguồn 77, trích dẫn Dominique Bouhours: “Des manières de bien penser dans les ouvrages de l’esprit”, xb lần đầu
1687, tái bản 1743
80 Câu bất hủ của Hegel, trong lời tựa cuốn «Principes de
la philosophie du droit» (“Các nguyên lý của triết học pháp quyền”, Bùi Văn
Nam Sơn dịch và chú giải, nxb Tri Thức, Hà Nội, 2010; phần trích dẫn lấy từ
lời giới thiệu ở
đây.
81 Thể hiện đặc biệt qua bài phỏng vấn
Có
hai "ông già" lãng mạn (bởi Trịnh Tú), cùng với những đóng
góp bền bỉ, lớn lao và đa diện của rất nhiều khuôn mặt tâm huyết khác, không
thể nào kể hết ra đây.
82 Hoàng Ngọc Hiến, Minh triết là "trí tuệ
được nhào nặn bởi kinh nghiệm", http://www.tuanvietnam.net/
83 Phan Huy Đường, «Vốn
là thú, ta…»
84 Theo Hölderlin, trích dẫn bởi Thái Kim Lan trong «Thi
ca từ mỹ học cảm quan…- Nhân
đọc bài thơ Hälfte des Lebens (Nửa đời) của Friedrich Hölderlin
(1770-1843)».
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét