Cầm tập sách được tặng “Đời thực và mơ” [1] của
Phạm Ngọc Hiền, tôi thầm chúc mừng ông bạn nhà giáo hơn mấy chục năm gắn bó với
bục giảng, từ Phú Yên đến Sài Gòn, nhưng chưa đọc vội. Vậy mà vèo cái cũng sắp
hết năm rồi, hôm gặp lại, bạn hỏi “Ông đọc thấy sao?”. Tôi hơi ngượng nên
đánh trống lảng: “Mới đọc lướt lướt thôi, để đọc lại đã”. Tôi tự hẹn sẽ xong mọi
việc mới đọc. Nhưng đời nào? Thế là xem qua mục lục, rồi thấy có 1 bài gần gần
với nghề mình, liền mở ra đọc thử “Ở phòng biên tập”. Truyện khá cuốn hút, dí dỏm
và tự nhiên, không làm duyên làm dáng hay gồng mình gồng mẩy gì, tôi thấy
thích. Thế là đọc một mạch hết cuốn sách trong hơn một buổi.
Tập sách được chia làm 2 phần (Phần
1: Truyện, gồm 11 tác phẩm; Phần 2: Ký, gồm 10 tác phẩm). Mỗi phần đều có những
thú vị riêng, phần truyện có quyền “bịa đặt thêm thắt”, thì thú vị một kiểu; phần
ký phải trung thành với “nguyên tác” ngoài đời tuy cũng có thể thêm mắm dặm muối,
thì lại thú vị kiểu khác. Tuy nhiên, phần ký, theo tôi, nên gọi là tản văn hay
tạp bút thì hợp lý hơn, bởi các bài thiên về cảm nhận cuộc sống qua cái tôi trữ
tình của tác giả, không có số liệu, không có sự kiện, không có nhân vật rõ nét
như các bút ký hay phóng sự; nói chính xác hơn thì cũng có những chất liệu đó
nhưng mờ nhòe, nhờ vậy mà cảm xúc của tác giả được đẩy lên, nổi bật, làm trung
tâm cho mỗi bài viết với những cảm nhận tinh tế về cuộc sống xung quanh, và tôi
thích điều này. Đọc tản văn của Giả Bình Ao thuần cảm thì thú vị hơn đọc các
bài ký nặng nề ôm hết vào mọi con số, mọi sự kiện, mọi nhân vật chứ. Chính vì vậy,
tôi thích tản văn của Phạm Ngọc Hiền ở chiều sâu suy tư… không giống ai, là điều
rất cần cho cá tính sáng tạo của mỗi tác giả: “Tôi yên tâm bỏ cái máy cơ yêu
quý để chuyển sang máy vi tính để bàn. Rồi lại bỏ máy vi tính để bàn để chuyển
sang dùng laptop. Bây giờ, tôi lại dùng cái laptop để viết lời tri ân cái máy
cơ… Đó là cái đạo lý uống nước nhớ nguồn, kính già, già để tuổi cho. Nhỡ sau
này, laptop trở nên lỗi thời thì cũng có người tri ân nó chứ. Ngày nay, thỉnh
thoảng, tôi cũng nghe tiếng máy cơ gõ tành tạch, đoán biết người gõ là mấy ông
già. Tôi chợt nghĩ, có bao giờ máy cơ trở lại thời vàng son của nó? Điều đó
cũng có thể xảy ra nếu như cúp điện trên diện rộng dài ngày. Người ta sẽ trân
trọng mang chiếc máy cơ đặt trên bàn, lau chùi cẩn thận và nói thầm vài lời xin
lỗi nó. Chiếc máy cơ sẽ tha lỗi lầm bội bạc của chủ và những tiếng tành tạch lại
vang lên. Những con chữ nhảy nhót reo vui như trở lại mối tình đầu…” (Chiếc máy
đánh chữ cơ).
Ở bài khác, tác giả nhìn về hoa mà
rưng rưng phận người, mà ngậm ngùi về hai mặt đối lập của cuộc sống: “Bây giờ,
đêm ba mươi tết, trước mắt tôi là những chậu hoa xấu xí, hết duyên, chẳng còn
hy vọng có khách mua hoa nào đó ngó ngàng tới. Các nàng hoa ủ rũ, lặng im, nép
mình trong cái lạnh đầu xuân. Người bán hoa mệt mỏi bơ phờ, hết còn sức để chào
mời nữa. Dòng người vẫn tuôn chảy trên phố hoa, họ biết bây giờ ít còn hoa đẹp
nhưng vẫn săm soi các chậu hoa, cò kè trả giá ép chủ hoa bán rẻ cho mình. Mỗi lần
có một chậu hoa được bốc lên xe, người mua hớn hở vì giá rẻ, người bán ủ ê vì
tiếc cho công sức, tiền vốn của mình bị mất. Công lao trồng hoa cũng khổ nhọc
chẳng khác nào nuôi một bé gái đến tuổi trưởng thành, gả cho nơi không xứng
đáng, thật khổ lắm thay! Sau khi bán rồi, chưa biết số phận đứa con của mình
đi về đâu, sống như thế nào. Biết đâu, khách chỉ chơi hoa ba ngày tết, xong là
vứt ra đường, xót công nuôi trồng biết mấy!” (Chợ hoa đêm cuối năm). Đó là những
bài thiên về cảm xúc trữ tình, gần với thể loại tản văn hơn là ký, và neo vào
người đọc bởi chất văn chương đi kèm những cảm nhận độc đáo của tác giả.
Có lẽ, bài “Xóm nhà trọ” là gần với
thể loại ký hơn cả. Ở đây hiện lên những phận người với đủ mọi thành phần xã hội
thông qua từng nhân vật, nhưng tôi có ấn tượng với nhân vật Xông hơn cả. Ở anh,
có sự giằng xé của thời cuộc, nhưng xuyên suốt là tính chất nhân hậu với ăm ắp
cái nhìn nhân văn từ phía tác giả: “Xông không biết chữ nhưng vẫn biết sử dụng
điện thoại di động. Tôi không hiểu anh ta tra tìm danh bạ bằng cách nào. Biết
mình có nhược điểm vừa nghèo, vừa mù chữ nên Xông cũng kiếm một vài ưu điểm gia
đình để khoe: “Má em nói tiếng Pháp giỏi lắm đó!” Tôi không rõ chuyện này có thật
không nhưng thấy má anh có vẻ sang trọng. Cách đối nhân xử thế của bà cũng rất
hay. Anh kể, ba má anh xích mích nhau. Có lần ba anh đánh má anh rớt xuống
sông. Gia đình anh lại xích mích với họ hàng nên phải bỏ xứ lên Sài Gòn. (…)
Tôi im lặng nhìn vào cái ly rượu rót đầy nhưng không ai được phép uống. Mỗi lần
nhậu, Xông đều rót một ly để mời cha mình - người quá cố - về cùng nhậu với
con.” Tôi hình dung Xông giống như lão Hạc đang tâm sự cùng ông giáo trong truyện
của Nam Cao. Cũng vậy, “ông giáo” Phạm Ngọc Hiền cứ dần dà lắng nghe từ cuộc sống
những chuyện đời, chuyện người để sẻ chia cùng bạn đọc.
Với phần truyện, như “Lời nói đầu” của tác
giả, truyện “Khoảng vắng trên sân trường” viết năm 1992 đoạt giải Nhất cuộc thi
sáng tác thơ văn của Trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn. Truyện này rất “học trò”
và hơi “sến” một chút trong văn phong, cũng là điều dễ hiểu. Bởi đó là cuộc thi
sáng tác dành cho sinh viên ở một trường đại học trong thời điểm ấy, nên với
tôi, giải thưởng chỉ mang tính khích lệ động viên, và cũng mang tính kỷ niệm,
không nói lên điều gì về sau này cả. Nếu đọc trúng truyện này, chắc tôi dừng lại,
nhưng may là đọc trước cái truyện như trên đã nói! Ở đây, tôi lại rất thích các
truyện khác với văn phong già dặn và cái nhìn độc đáo: Đắng cay có lúc ngọt
bùi, Bốn bức tranh, Chuyện lão Cố tổ chuột, Tình sử của một bà lão ăn mày, Ở
phòng biên tập, Độc thoại của gã què. Với “Đắng cay có lúc ngọt bùi”, hãy nghe
mụ hàng xóm lắm điều đấu khẩu với anh nhà văn kín tiếng:
“Một hôm, nhà văn cao quý của chúng
ta không chịu nổi phải mở cửa sổ, thò đầu xuống đường hẻm gào lên:
- Này bà kia, im cái miệng một chút có được
không!
- Gớm, ông thường nói đến tự do ngôn luận,
thế ông có quyền gì cấm tôi nói?
- Gia đình bà bất hòa thì đóng cửa lại bảo
nhau. Còn với xóm làng có gì không vừa lòng thì phát biểu ở cuộc họp dân phố,
không được làm ầm ĩ ở đây!
- Tôi không ham phát biểu trong cuộc họp
như cái thứ nhà thơ của các ông. Gớm, cái ông gì nhà thơ ở phường ấy, cứ thấy chỗ
nào hội họp là xách thơ lên đọc. Mấy lần bị người ta lôi cổ xuống đấy, có vinh
dự không!
- Nhưng thơ là thứ cao quý nên có xuất bản miệng
cũng không rác tai như lời lẽ của bà đâu.
- Lời của tôi là văn xuôi đấy, thế ông nói văn
xuôi không cao quý à! Thế ông viết có hay hơn tôi nói không?”
Đọc đến đây, khó mà nhịn cười với bà hàng
xóm lắm điều này, và cũng khá buồn cho anh nhà văn không thể nào đưa văn chương
“cao quý” của mình đến với cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đa phần còn bận bịu với
những thứ khác hơn văn chương: “Nhà văn hận lắm, định viết một truyện nói xấu mụ
nhưng khổ nỗi mụ chẳng bao giờ đọc sách báo. Mà cả cái xóm này cũng vậy. Văn
chương không có tác dụng nhiều đối với người mù chữ.” Mù chữ ở đây không đơn
thuần là mù bảng chữ cái!
Truyện “Chuyện lão Cố tổ chuột” viết về thế
giới loài vật quanh ta (chó, mèo, và nhất là chuột), với cái nhìn nhân bản về
quyền đòi được bình đẳng của mọi sự sống nhưng bất thành, bởi “thân phận” khác
nhau (chuột làm mồi cho mèo, trẻ con vặt đầu cánh côn trùng để chơi v.v…). Và
đây là đoạn kết cảm động bi thiết của vợ chồng lão chuột khi chuột vợ bị dính bẫy
keo của loài người: “Đến chiều, vợ lão đã kiệt sức và gục đầu xuống vũng keo, từ
đó, không thốt lên được lời nào nữa. Đôi mắt ươn ướt của nàng nhìn lão một hồi
lâu rồi nhắm lại dần, tắt thở. Lão đứng lặng giây lâu rồi đưa mõm hôn vợ lần cuối,
chẳng may, mấy cọng râu dài dính vào vũng keo. Lão rùng mình xoay xở một hồi
lâu mà vẫn không rút ra được. Lão than thở: hay là Định Mệnh bắt ta phải chết
cùng nàng đây? Không, ta phải sống! Lão gắng chịu đau và giật đứt mấy cọng râu
đã bạc màu sương gió. Lão không muốn nhìn cái bẫy quỷ quái đó chút nào nữa và lầm
lũi ra về. Trong lòng tràn ngập nỗi thương nhớ đầy vơi người vợ quá cố. Chỉ
trong vài ngày nữa thôi, tấm thân ngọc ngà năm xưa của nàng sẽ bị bọn dòi bọ rỉa
tan tành. Sự đời sống chết vô thường, chẳng biết đâu mà lường.
Mặt trời chầm chậm buông cuối phố. Lão
đang đi về phía hoàng hôn.”
Đọc nhiều truyện về thế giới loài vật của
các nhà văn nổi tiếng Việt Nam và thế giới, tôi vẫn thấy thú vị với Phạm Ngọc
Hiền ở truyện ngắn trên.
Trong “Tình sử của một bà lão ăn mày”,
dung lượng của tác phẩm có sức khái quát như một tiểu thuyết nếu triển khai
theo hướng này, bởi một đời người (bà lão ăn mày) đã trải qua nhiều thời đoạn của
lịch sử với vô vàn biến cố, như lời người vợ của nhân vật du khách bên bờ sông
Hương: “Cuộc đời bà ấy phức tạp thật. Cứ nhìn vào lịch sử bà lão ăn mày, có thể
biết được những thăng trầm của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX." Ở
nhân vật này, những thăng trầm của thời đại được dồn nén nơi bà, và nếu bà chết
đi, thì không chỉ đơn thuần là cái chết của một sinh linh như nhân vật
“tôi" đã nhận xét: “Một làn gió lạnh thổi lại làm tôi run rẩy cả người.
Tôi chợt nghĩ đến một nấm mồ hoang lạnh. Nơi ấy, có một linh hồn đã mang một phần
lịch sử dân tộc ra đi." Vì vậy, sức khái quát của truyện này khá cao. Chỉ
có một chi tiết còn thiếu tính thuyết phục; đó là khi bà lão ăn mày mới gặp vợ
chồng nhân vật “tôi" tại bờ sông lần đầu, mà đã tự kể tất tần tật mọi điều
về cuộc đời bà!
Đọc “Ở phòng biên tập” cứ giống như
đọc truyện của Azit nêxin. Có rất nhiều nhân vật “quái kiệt” hay lui tới phòng
biên tập, nhưng xin trích một đoạn về nhân vật này: “Cốc… cốc… cốc. Một cái
đầu rối bù nằm trên một bộ quần áo rách rưới được vá bằng vô số mảnh vải nhỏ
nhiều màu sắc. Một ông già lãng tử bước vào, kéo theo cái mùi hôi thối được
tích hợp từ rất nhiều mùi vị khác nhau của cuộc sống trần ai. Dân thị xã này
thường gọi ông là “ông già Nô ben”. Nhưng không giống với các “nhà thơ vĩ đại”
khác, ông rất ít nói. Ông lẳng lặng ngồi vào bàn và không nói gì, mắt hau háu
nhìn vào bình nước lọc. Văn Nhu định rót nước mời ông nhưng sợ bẩn cái ly nên
thôi. Anh hỏi xã giao:
- Dạo này chú làm thơ có nhiều không?
Ông già Nô ben trợn mắt nhìn Văn Nhu:
- Anh quên nghiên cứu tôi rồi à? Dạo này
tôi chỉ viết tiểu thuyết, hình như tạp chí của anh không đăng tiểu thuyết thì
phải?
- Dạ, đúng vậy!
Văn Nhu thở phào, vui ra mặt. Lặng im một lúc,
ông già Nô ben hỏi:
- Muốn gửi tác phẩm dự giải Nô ben thì phải làm
thế nào nhỉ, phải đăng ký chỗ Hội Văn học nghệ thuật của anh à?
- Cháu cũng chả rõ, chú đã viết tới đâu rồi?
- Đây này! – Ông giơ cái túi nhàu nát ra – Đây
là bản thảo cuốn tiểu thuyết sẽ đoạt giải Nô ben trong tương lai. Anh không tin
là một nhà văn tỉnh lẻ như tôi đoạt giải Nô ben à?
- Ấy, cháu đâu dám nghĩ thế!
- Hay là anh nghĩ để đoạt giải Nô ben thì nhà
văn phải ăn mặc sang trọng, đeo cà vạt, xức nước hoa thơm phức? Anh có nghe nói
Bùi Giáng chứ? Ông ấy ăn mặc còn lôi thôi lếch thếch hơn tôi. Nhưng ở miền Nam
này hiếm có ai làm thơ hay như ông ấy.”
Thật đúng là những tình huống dở khóc dở
cười. Còn đây là sự lý giải cũng rất “quái đản” của tác giả về hiện tượng này:
“Chờ cho nhà thơ Nô ben ra ngoài, Văn Nhu mới dám bật cười và nghĩ thầm, ai viết
văn mà không mơ ước giải Nô ben! Mình cũng vậy. Nhưng chỉ có những người khùng
mới dám nói công khai điều đó”.
Theo tôi, truyện ngắn này đã “gánh” cho cả
tập sách với tiêu đề “Đời thực và mơ”!.
Ghi chú:
Huỳnh Văn Quốc
Nguồn: Tạp
chí Văn nghệ






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét