Thứ Tư, 23 tháng 1, 2019

Những mảng màu Tây Nguyên

Những mảng màu Tây Nguyên
Chắc chắn một khi không còn rừng, văn hóa của những tộc người Tây Nguyên sẽ mai một dần.
Tôi rùng mình khi nghe cô gái nói: "Em đã chặt được một hécta rừng". Thốt nhiên tôi thấy cô giống con mối khổng lồ đang ăn rừng. Giấc mơ sống và tồn tại ở đất này của cô, của những người như cô đang ăn hết mảng màu xanh đậm của những cánh rừng già Chư Sê, Kong Kloong, ăn hết cái mảng đen còn lại của rừng cháy vừa tắt, ăn hết cái mảng xanh non bật lên của Tây Nguyên...
Không còn "Con đường xanh Tây Nguyên"
Con đường xanh ấy đã được đặt lên bản đồ du lịch 13 năm trước, với những cái tên gợi biết bao cảm hứng. Các công ty du lịch mặc định nó được bắt đầu từ Đà Nẵng, chỉ sau 3 giờ lái xe, điểm đến sẽ là đèo Lò Xo - nơi mà Đông Trường Sơn bắt đầu trùng điệp.
Con đường xanh sẽ đi qua những vùng đất lừng danh của đại ngàn như núi Ngọc Linh, Ngọc Hồi, Đắk Tô, Buôn Đôn, thủy điện Yaly rồi lướt qua khí hậu mát mẻ của Đắk Nông với thảm dã quỳ nở cuối xuân và điểm đến cuối là Đà Lạt. Bây giờ màu xanh của rừng không còn thẫm, nó là một màu nham nhở của đất bạc và rừng thưa, rừng chồi, mùa khô nhìn nhức mắt.
Trên "con đường xanh", giờ đây du khách chỉ được thả sức ngắm rừng cao su, được nhảy múa thâu đêm trong tiếng chiêng của những bản làng làm du lịch, ngắm vẻ đẹp của những cô gái ở Đắk Nông mà ông bà của họ có pha chút dòng máu châu Âu thời Pháp khẩn hoang đồn điền.
Vừa có dịp đi một vệt theo biên giới Đông - Tây Trường Sơn, chúng tôi chìm sâu vào ái ngại khi nhìn Đông Trường Sơn trơ trụi nắng cháy. Phía bên kia biên giới là Tây Trường Sơn, tỉnh Ratanakiri của Campuchia bạt ngàn màu xanh của rừng nguyên sinh, không biết có giữ được vẹn nguyên không.
Nhớ cách nay vài năm, bạn tôi - đạo diễn phim tài liệu Trương Vũ Quỳnh mời xem một phim tài liệu. Nhân vật chính - một cô gái gầy gò xanh tái vì sốt rét từ đồng bằng Bắc Bộ theo đoàn nông dân vào Tây Nguyên với cơn khát đất, cơn khát mưu sinh ở vùng đất mới. Giấc mơ sống của cô đang ăn hết cái màu xanh đậm tôi tối của những cánh rừng già Chư Sê, Kong Kloong, ăn hết mảng đen còn lại của rừng cháy vừa tắt, và giấc mơ mới là mảng xanh non của những vạt cà phê hay tiêu.
Cuộc khai phá làm kinh tế thời đó đã đem lại cho Tây Nguyên một diện mạo khác, sau đoàn nông dân hàng vạn lượt người vào rừng khai phá, thì đến các đồn điền, nông trại, đến thủy điện.
Rừng vỡ ra từng mảng, từng mảng, văn hóa, bao gồm cuộc sống, cách làm ăn, tập tục phải vỡ theo, mà xấu tốt cần một độ lùi của thời gian để thẩm định, nhưng chắc chắn một khi không còn rừng, văn hóa của những tộc người Tây Nguyên sẽ mai một dần. 
Đạo diễn Trương Vũ Quỳnh nói với tôi, khi quay đoạn phim này, anh thấy sợ hãi trước cái chết của những cánh rừng Tây Nguyên, anh đau nỗi đau cảm nhận từ giấc mơ dữ dội về đất đai của cô gái mảnh dẻ yếu ớt khao khát sống kia. Những đoàn người di cư đi tìm nguồn đất đai cho họ sự sung túc đã phải trải qua biết bao gian khổ, và để họ được sống thì những cánh rừng cứ lùi dần.
Nam Tây Nguyên mùa xanh lá
Thiên nhiên chu đáo đến mức tạo ra bạt ngàn rừng nhưng không quên xen vào những trảng cỏ như là nơi "thư giãn" của muôn loài, ở Tây Nguyên, ở Đông Nam Bộ hay suốt dãy Trường Sơn đều thế.
Thiên nhiên chu đáo đến mức tạo ra bạt ngàn rừng nhưng không quên xen vào những trảng cỏ như là nơi "thư giãn" của muôn loài, ở Tây Nguyên, ở Đông Nam Bộ hay suốt dãy Trường Sơn đều thế.
1. Sử chở tôi trên chiếc Honda PCX 125 mới mua vài hôm, như cách nói của Sử là tiện thể chạy roda. Tôi thì quá áy náy, vì chiếc xe có giá đến 50 triệu đồng mà chạy roda băng qua những đường lô cao su trơn trượt, nhão nhoét thì khác nào "phá xe". Nhưng Sử an ủi tôi, không sao, một đời ta nhiều đời hắn. Cùng lắm là xe giảm độ bền, cũng là cơ hội để mua xe khác.
Tôi biết Sử không nói chơi, vì hai ngày qua, tình cờ được sống với bà con vùng Nam Tây Nguyên này, thấy kinh tế nhà nào cũng khá giả, thu nhập một năm năm bảy trăm triệu đồng là bình thường. Vợ chồng Sử có trên chục hecta cà phê, điều, cũng chỉ là mức trung bình của dân ở đây.
Vừa tìm cách băng qua một đường lô bùn ngập vành xe, Sử vừa nói: "Chút nữa có xe tải chở mủ cao su lui tới thì chiếc PCX 125 này không chạy được. Đất đỏ gặp mưa vừa trơn vừa bám dính. Dân tụi em đi rẫy đều dùng xe Honda 50, 67 cũ mèm, đôn dên, xoáy nòng, chỉnh gió, chỉnh lửa, lột trần chỉ còn khung và máy rồi quấn xích, kích chặt cả hai vành mới trị được loại đất này. Mười tám năm nay em không đến Bù Lạch và rừng già từ lúc ấy dần thành rừng cao su nên có thể lạc đường...".
Hơn 10km băng qua rừng cao su, lâu lâu xen kẽ những vạt rừng tự nhiên còn sót lại (hay chưa bị "làm trắng" vì chính quyền đang kiểm soát chặt), quẹo phải, rẽ trái không biết mấy lần, trước mắt là trảng cỏ nối tiếp trảng cỏ - đích đến của chúng tôi. Quả là Sử "định hướng" rất giỏi nên không bị lạc như anh "cảnh báo"!
Thiên nhiên chu đáo đến mức tạo ra bạt ngàn rừng nhưng không quên xen vào những trảng cỏ như là nơi "thư giãn" của muôn loài, ở Tây Nguyên, ở Đông Nam Bộ hay suốt dãy Trường Sơn đều thế. Nhưng trảng cỏ Bù Lạch khác với rất nhiều trảng cỏ tôi đã từng biết trong chiến tranh là cỏ quá thấp, chỉ có cỏ kim đan xen cỏ chỉ mọc là là mặt đất và thi thoảng mới có vài bụi mua cằn cỗi cho những cánh hoa tím rịm.
Nghe nói đã có lúc lâm nghiệp trồng cây từ rừng bản địa ở trảng cỏ này, chăm sóc rất cẩn thận nhưng chúng không sống được. Có một khác biệt nữa, rất độc đáo, là Bù Lạch có đến 20 trảng cỏ tổng diện tích 500ha, có trảng rộng đến 10ha, tất cả phẳng phiu như sân bóng đá, nối nhau bằng những cánh rừng.
Rừng xanh và trảng cỏ hàng ngàn năm nay "đất ai nấy ở", không xâm lấn nhau mà nếu muốn cũng không thể xâm lấn! Các già làng nơi đây giải thích rằng, dưới các trảng cỏ có một vị thần canh giữ không cho rừng lấn sang để chúng mãi mãi là tấm thảm xanh của trời trải ra cho các tiên nữ xuống đùa vui vào những đêm trăng rồi khỏa mình dưới làn nước trong veo của hồ Bom Be, hưởng chút trần tục trần gian...
Một góc Bù Lạch
Bù Lạch (bù là buôn, Lạch là tên riêng, tức buôn Lạch - tiếng S'Tiêng) đã trở thành khu du lịch từ nhiều năm trước ở huyện Bù Đăng, cũng có đơn vị chủ quản, công ty tư nhân thực hiện nhưng chỉ thu hút được nam thanh nữ tú, những gia đình trẻ quanh Đồng Xoài, Bù Đăng, Bù Đốp trong những ngày lễ, Tết, lâu lâu có dân phượt từ Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Sài Gòn lên cắm trại.
Và như đã có từ bao đời, mỗi năm một lần, người S'Tiêng sống quanh những trảng cỏ này tổ chức lễ hội đâm trâu, lễ hội đâm cá ở hồ Bom Be vào tháng Ba. Thời gian còn lại là vắng lặng.
Không thể bỏ phí mãi một tài nguyên du lịch như Bù Lạch, tháng 6 vừa qua, tỉnh Bình Phước đã công bố dự án Khu phim trường kết hợp khu du lịch sinh thái Trảng cỏ Bù Lạch diện tích 405ha, gồm Khu A (268ha) dành cho phim trường và du lịch sinh thái rừng tự nhiên, du lịch dã ngoại, ăn uống, nghỉ dưỡng ven hồ Bom Be.
Khu B (59ha) là khu văn hóa làng nghề các dân tộc thiểu số trên địa bàn. Khu Thác Voi (12ha) kết hợp du lịch sinh thái, du lịch về nguồn, khám phá cuộc sống của đồng bào S'Tiêng, M'Nông và Châu Mạ.
Trở về, Sử chở tôi ngược con đường duy nhất từ ngã ba Minh Hưng rẽ vào Bù Lạch, bên phải quốc lộ 14 nối Bình Dương với Tây Nguyên, chừng 20km, chật hẹp, toàn ổ voi, uốn lượn dốc đèo giữa lớp lớp vườn cà phê và điều. Dù Dự án đã bắt đầu thực hiện tại Khu A nhưng tôi không mấy tin sẽ thu hút được khách du lịch nếu con đường này không được nâng cấp, mở rộng.
2. Đọc cái tựa đề phóng sự này có người sẽ nghĩ Tây Nguyên có những mùa "không xanh lá”. Thưa rằng, đúng vậy. Đó là tình trạng Tây Nguyên mấy chục năm trở lại đây. Khi rừng Tây Nguyên chưa bị "làm cỏ", "tháng Ba (đã là) mùa suối rừng sôi sục", "Tháng Ba sớm sớm mẹ ra rừng theo dấu chân rùa đi tìm nấm mối" (lời bài hát Tháng Ba Tây Nguyên, của Văn Thắng và Thân Như Thơ, sáng tác giữa những năm 1960).
"Suối rừng sôi" và "mẹ ra rừng tìm nấm mối" thì chỉ có trong mùa mưa và rừng thì không bao giờ thôi xanh. Bây giờ đến cuối tháng Sáu, có năm tháng Bảy, tháng Tám, Tây Nguyên vẫn nắng bụi, dân trồng cà phê, tiêu, điều,... đào giếng sâu hàng trăm mét chưa chắc tìm được nước tưới.
Trên 40.000km2 rừng không còn, theo dự báo của nhiều nhà khoa học, không lâu nữa Tây Nguyên sẽ biến thành sa mạc một phần do trái đất nóng lên, phần quan trọng là do không giữ được nước trong mùa mưa, mà cao nguyên này có độ cao trung bình 800m so với mực nước biển, lại nghiêng về phía Đông.
Nhà văn Nguyên Ngọc là người gắn bó máu thịt với Tây Nguyên suốt hai cuộc chiến tranh giữ nước, đã từng thốt lên: "Những giới hạn quan trọng đến mức sinh tử ở đây đã bị vượt qua: phá sạch rừng, đảo lộn dữ dội cơ cấu dân cư, hủy hoại tất cả các dòng sông lớn, hút cạn nước ngầm, phá vỡ các làng,... để cuối cùng phá nát văn hóa.
Người nhập cư khá giả ở Nam Tây Nguyên 
thư giãn trên quê hương thứ hai
Ở nơi vốn là một vùng văn hóa vào loại độc đáo và đặc sắc nhất nước, nay chỉ còn văn hóa Tây Nguyên dỏm. Hầu như không còn có thể quay trở lại, và đang thật sự không có đường ra. Nhiều lần tôi tự hỏi: Vì sao? Có ai đến Tây Nguyên để học? Học sự hiền minh bất tận của rừng, và của những dân tộc từng biết cách sống với rừng, nghĩa là với tự nhiên, hàng nhiều ngàn năm nay. Một bài học có thể cho cả nhân loại và nền văn minh đang lúng túng ngày nay". (Nguyên Ngọc và Thomas J. Vallely: "Giáo dục - Giá trị vĩnh cửu của hoà bình". Minh Nguyễn phỏng vấn).
Đọc Nguyên Ngọc, tôi lại nghĩ đến các tổ chức kinh tế quốc doanh, cụ thể là những liên hiệp nông lâm trường bao chiếm gần hết đất đai Tây Nguyên. Như ở Đắk Lắk, đến năm 1985, ba xí nghiệp liên hiệp nông lâm quản lý 90% đất đai toàn tỉnh. Ở Gia Lai và Kon Tum con số đó là 60%.
Tính chung, đến năm 1985, quốc doanh đã quản lý 70% diện tích toàn Tây Nguyên. Sau năm 1993, dù có sự chuyển đổi cơ chế quản lý, nhưng con số này cũng chỉ giảm được 26%. Chính các tổ chức quốc doanh này chủ yếu "làm sạch" rừng Tây Nguyên, phá vỡ toàn bộ quy hoạch đất đai của một địa bàn chiến lược quan trọng nhất nước.
Và tôi không thể không nghĩ đến Sử và đại gia đình của anh. Vốn là dân di cư theo kế hoạch, từ Hải Dương, mấy mẹ con anh định cư ở Nam Tây Nguyên cách nay 22 năm, lúc anh mới qua tuổi thiếu niên. Từ "bến đỗ” của mấy mẹ con anh, bà con xa gần cùng tìm đến, tạo nên một quần thể dân cư mới giữa rừng để phá rừng làm rẫy và nhờ đất đỏ bazan mà làm giàu khá nhanh.
Một thôn, rồi một xã được lập nên, nghe cái tên đã là rất mới: Tân Sơn, nhưng chỉ có vườn cà phê, điều, tiêu, cao su là mới, còn rừng thì biến mất.
Lúc gia đình Sử mới đến (1993), dân Tây Nguyên (số tròn) đã tăng lên 2.380.000 người (từ 1.220.000 người năm 1976, chủ yếu là người dân tộc thiểu số bản địa) với 35 dân tộc (năm 1976 là 18 dân tộc), bây giờ Tây Nguyên đã có trên 5,5 triệu người với gần đủ mặt các dân tộc của Việt Nam, mà đa số là người Kinh, người bản địa như Êđê, Bahnar, Jarai, M'Nông, S'Tiêng... đang trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ.
Sử tâm sự: "Tụi em phá rừng là dựa theo các lâm trường, nông trường quốc doanh. Cả trăm mẫu rẫy của thân tộc em ở Tân Sơn một phần là mua lại của nông trường khi người ta làm ăn thất bại, gần như giải thể, chỉ còn bộ khung mấy ông cán bộ giàu sụ nhờ bán gỗ khai thác lậu, và mua lại của người HMông, người Tày, Nùng di dân tự do. Em cũng không biết tại sao huyện Bù Đăng còn lại gần ngàn hecta rừng, nhiều nhất là ở Bù Lạch. Nhưng mà mỗi nơi mỗi khoảnh, không biết rồi đây có giữ được không, vì chỉ cần sơ sẩy chút xíu là trong một vài ngày, rừng sẽ thành rẫy!".
Năm nay, tháng Bảy Tây Nguyên mới mưa nặng hạt, mới tạo nên mùa xanh lá. Suối thì càng sôi sục bào mòn đất đỏ bazan đổ ra biển, nhưng không bao giờ còn cảnh "sớm sớm mẹ ra rừng theo dấu chân rùa đi tìm nấm mối". Bởi đúng như sự thảng thốt của nhà văn rất đáng kính Nguyên Ngọc: Tây Nguyên bị phá sạch rừng, hủy hoại tất cả các dòng sông lớn, hút cạn nước ngầm...
Đắk Nông, tháng 7/2015
Cách nay 6 năm, chúng tôi được mời lên huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam. Ông chủ tịch huyện khi ấy dẫn chúng tôi đi xem một khu rừng nguyên sinh nằm trong kế hoạch bảo vệ chặt chẽ để phát triển du lịch.
Từ khi nào mà những tộc người thiểu số chủ nhân của núi rừng đã phải coi rừng nguyên sinh là một đặc sản du lịch? Phải khoanh một khoảnh rừng còn sót lại và tự hào cùng nó. Người Cơtu sống ở Đông Giang gọi nơi sinh sống của họ là Mẹ Rừng, là chốn thiêng, nhưng cũng chỉ còn bấy nhiêu thôi!
Báu vật của Tây Nguyên
"Con đường xanh Tây Nguyên" lòe loẹt, ồn ào và không hề làm cho du khách hiểu thêm gì về lịch sử phát triển của vùng đất này. Những nhà đầu tư đã cố gắng làm cho hạ tầng du lịch ở Buôn Ma Thuột, Kontum và một vài điểm du lịch khác phát triển hệ thống khách sạn ba hoặc bốn sao. Quốc lộ và tỉnh lộ cho phép tiếp cận nhiều bản làng sát biên giới Lào hoặc Campuchia.
Nhưng Tây Nguyên không chỉ có những đỉnh núi mây mờ, những thác nước hùng vĩ trắng xóa, và tiếng cồng chiêng với vũ điệu núi rừng ở các khu du lịch.
Đạo diễn phim tài liệu Đoàn Huy Giao được coi là người cả đời chỉ làm những thước phim về Tây Nguyên, nói với tôi: "Du lịch đặc sắc nhất là du lịch văn hóa. Phải giúp cho du khách thẩm thấu văn hóa đa sắc tộc thì du lịch Tây Nguyên sẽ bền vững".
Nhưng làm sao có những tour để du khách cảm nhận những báu vật văn hóa của Tây Nguyên khi mà những người làm tour không có đủ khả năng thẩm thấu văn hóa chiều sâu mà những tộc người Gia Rai, Ê Đê, Mạ, Cơtu đang lưu giữ?!
Nhìn vào các tour đang quảng cáo về "Con đường xanh Tây Nguyên" hiện nay xiết bao tầm thường, và có thể hiểu đó chính là lý do du lịch Tây Nguyên thì cũng chỉ như du lịch Bản Đôn, nó na ná trong cung cách trình diễn và dễ làm nhất. Làm tour kiểu đó và để cho du khách thiếu hiểu biết, đâm ra phê phán về lễ hiến sinh đâm trâu thật sự là một phỉ báng đối với văn hóa và tôn giáo đa thần của đồng bào Tây Nguyên.
Mỗi khi đọc những ý kiến về "sự man rợ của tục lệ đâm trâu", chúng tôi ít kìềm chế được sự tức giận bởi cái lối phê phán vô trách nhiệm và lộ rõ văn hóa nền tảng thấp như vậy.
Và đâu đó, bất chấp ai đó nghĩ gì, giữa những khu rừng, những bến nước còn sót lại ở làng Tơ Nung 1 ở huyện Kong Chro cách thành phố Pleiku 120 kilômét, lễ hiến sinh mừng lúa mới, tạ ơn thần linh vẫn diễn ra, với tất cả sức mạnh về tinh thần tôn giáo và chiều sâu của tập tục truyền thống.
Ai đó sẽ chỉ nhìn thấy con trâu ngã khuỵu dưới giáo mác mà tuyệt đối không nghe được cuộc trò chuyện với thần linh bắt đầu từ những vò rượu quý được đưa đến nhà rông, những thanh niên ngồi trang điểm cái mặt nạ mà họ nghĩ sẽ nhận diện dễ nhất khi các thần linh nhìn vào lòng thành của họ. Và lễ hiến sinh chính là cuộc giao tiếp giữa những người sống trong rừng và các vị thần rừng, thần bến nước, chứ không phải là cuộc tàn sát man di. Nhà tổ chức tour nào làm được điều đó?.
Nhà thờ gỗ Kontum
Và những báu vật giữa rừng đã từng có đang ít dần. Lễ hội "Uống nước giọt" vào ngày đầu năm mới chỉ còn ở vài làng Bana tại Gia Lai và Kontum. Lễ cúng rừng đã lùi dần vào những vùng đồng bào Gia rai thuộc xã Êa Son, huyện Êa HLeo, Đắk Lắk. Lễ hội ăn cơm mới tập trung tại nhà rông của làng Sê Đăng Kon Hring (xã Êa HĐing, huyện Cư Mgar, Đắk Lắk).
Đó là những gương mặt nguyên thủy văn hóa lễ hội với sự hiện diện của tín ngưỡng đa thần, phong tục tập quán, lễ nghi, rồi nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn, văn học truyền miệng, ẩm thực bộ tộc lẫn sự phát triển của các nghề thủ công đặc thù nhất của nền văn minh nương rẫy.
Có những người đàn bà bộ tộc Êđê-Bih sở hữu tiếng chiêng đặc quyền dành riêng cho người phụ nữ đánh khi thực hiện nghi lễ cúng thần, vui chơi. Ở đó đàn ông không được đánh chiêng. Tiếng chiêng đàn bà, tiếng chiêng Jhô làm cho lòng dạ người đàn ông đi săn bắt xa nhà trong những cánh rừng rậm thổn thức rảo bước, làm thuyền độc mộc hẹp như lá tre lao vun vút về bến nước. Đó là báu vật văn hóa Tây Nguyên.
Văn hóa Tây Nguyên là văn hóa của rừng, nơi con người vẫn được thiên nhiên cưu mang che chở ngàn đời đã phát sáng. Chỉ mong rằng cuộc sống đừng tước đi tinh thần căn bản là niềm tin linh thiêng vào mối quan hệ giữa con người và vạn vật hữu linh xung quanh. Rồi người Giarai, Êđê, người Bana hay Mơnông lớn lên, già đi liệu có cần tiếng chiêng, bởi tiếng cồng chiêng chắc chắn không được cảm nhận linh thiêng khi vẫn tấu lên hằng ngày trước một đoàn du khách bước vào khu du lịch.
Kỳ lạ Tết Tây Nguyên
Mùa lễ tết ở Tây Nguyên kéo dài hằng tháng, gọi là mùa Ăn năm uống tháng, mùa con người sống hết mình, nồng nàn, đắm đuối với nhau, với thần linh và bao la đất trời.
Có lẽ chỉ Tây Nguyên mới có mùa lễ tết kéo dài hằng tháng gọi là mùa Ăn năm uống tháng, mùa con người sống hết mình, nồng nàn, đắm đuối với nhau, với thần linh và bao la đất trời. Đêm dường như bất tận, ngày cứ dài miên man với sinh hoạt cộng đồng tưng bừng, độc đáo.
Tết mừng cơm mới
Già làng Krajan Plin (buôn Đăng Ja, huyện Lạc Dương, Lâm Đồng) cho biết Tết của người Tây Nguyên không theo ngày tháng nhất định mà phụ thuộc vào vòng đời của mùa rẫy, bắt đầu ngay sau khi thu hoạch lúa đến khi chuẩn bị vụ mùa mới.
Ngày bắt đầu thu hoạch thường là 27 tháng Chạp âm lịch bởi đó là ngày tốt nhất, ngày của thần linh. Ban đêm trời tối om, sâu mọt bị che mắt không nhìn thấy gì nên không đục phá lúa.
Trước đó bà con dùng nghệ vẽ hình chiêng, ché, xà gạc và những hoa văn lạ mắt lên bồ lúa như một thủ tục gặp gỡ thần linh, ma quỷ để gửi đi bức thông điệp cầu xin sự an lành, no ấm.
“Nếu như con trâu là động vật hiến tế linh thiêng nhất thì nghệ là loài cây cỏ đứng đầu bảng để dâng cúng thần linh. Chất lỏng từ củ nghệ được xem như máu của các loài cây” - già Plin giải thích.
Bà con phát quang, làm lễ để dọn đường rước Mẹ lúa từ rẫy về kho, sau đó tiếp tục làm lễ đóng cửa bồ lúa. Trước khi mở cửa bồ để ăn hạt lúa đầu tiên lại phải làm lễ ăn cơm mới. Đây là lễ hội lớn bậc nhất ở Tây Nguyên nên làng tổ chức đâm trâu và dĩ nhiên không thể thiếu món cốm. Lúa còn non được tuốt về, luộc sơ rồi cho vào chảo rang.
Các sơn nữ mắt đen láy, lúng liếng bên bếp lửa hồng, tay trần đảo như múa trong cái chảo thơm phưng phức mùi đòng đòng. Các cô còn trổ tài nấu cơm lam, loại cơm dẻo thơm với hương vị lạ vì nấu trong ống nứa.
Ăn cơm mới. Ảnh: KP/TP
“Cơm này ăn kèm với những món chỉ Tây Nguyên mới có như cà xóc, muối kiến... thì no căng bụng vẫn chưa muốn dừng”- sơn nữ Cil Mup K’Hoa vui vẻ nói rồi giải thích thêm muối kiến là những con kiến vàng béo ngậy được giã cùng với một số loại lá rừng như lá é, teng neng... Cà xóc là dạ dày và sách bò được luộc, thái nhỏ rồi bóp với dịch trong ruột non cùng ớt xanh, cà đắng, lá giang...
Xuất phát từ nhà già làng, đoàn cồng chiêng đến từng nhà khác trong buôn để mừng cơm mới. Đoàn đến đâu, gia chủ đặt lễ vật, cắt tiết vật hiến sinh bôi vào cây nêu bên cạnh kho lúa.
“Ơ Yang, lúa đã suốt về, heo đã mổ, rượu đầy ché. Mời các Yang cầm cần rượu, ăn miếng thịt heo và bát cơm mới đầu mùa. Mong Yang cho mùa sau lúa lại sai bông, mẩy hạt, thu hoạch đầy gùi, ngập kho” - già làng khấn rồi vẩy rượu lên kho lúa, bếp lửa, dàn chiêng để chúc phúc.
Nữ chủ nhà là người đầu tiên vít cần rượu rồi mời khách thưởng thức, lần lượt từ già đến trẻ, người trong họ trước, người ngoài họ sau. Mọi người thoải mái ăn uống, nhảy múa trong tiếng cồng, chiêng huyễn hoặc.
Khi tiễn khách, gia chủ trao cho mỗi người một gói thức ăn ngụ ý chia đều sự may mắn cho mọi bếp. Thông thường phải mất từ 7 - 10 ngày đoàn mới dự xong lễ ăn cơm mới của tất cả các gia đình trong buôn.
Đêm hội cồng chiêng. Ảnh: HH/TP
Theo già Plin, dịp này người Lạch còn làm lễ xin thần linh cho phép ông Pơ nôh được mãn kiêng để tự do ăn uống, nhảy múa, hưởng lạc thú như những người bình thường.
Pơ nôh là người có uy tín, tâm đức cao vời, được cộng đồng giao chức trách giữ mối quan hệ giữa dân làng với thần linh trong suốt vòng đời của mùa rẫy. Hơn chín tháng ròng, ông phải hoàn toàn chay tịnh, không uống rượu, không ăn cua, lươn, cá lóc...
Cồng chiêng Tây Nguyên.
Ăn Tết ở nhà mồ
Đi chơi Tết ở Lạc Dương, tôi tình cờ được dự lễ Pơ thi, lễ tiễn người chết vĩnh viễn rời khỏi thế gian. Gọi là đám tang nhưng thực tế lại là lễ hội tưng bừng. Trước sự ngỡ ngàng của tôi, già Plin mỉm cười giải thích: Với người Tây Nguyên, rừng là tất cả, là mẹ của muôn loài. Con người do rừng tạo ra. Đến khi chết được làm lễ Pơ thi tiễn về với rừng - mẹ vĩnh hằng, còn gì hạnh phúc hơn? Bởi thế những người tiễn biệt cũng không buồn khổ, đớn đau.
Già kể, với người vừa chết, bà con chôn trong ngôi mộ tạm, chôn cạn lắm, chừng 1m trở lại để người chết dễ thở. Dẫu đã tiến hành chôn cất nhưng vì tin rằng hồn người chết chưa rời khỏi trần thế nên hằng ngày gia đình vẫn mang cơm nước ra mộ để nuôi. Vài ba năm sau đắp cho mộ cao thêm 1 - 2m, dựng nhà mồ ở trên, rồi tổ chức lễ Pơ thi. Sau lễ này, người chết mãi mãi trở về rừng - cội nguồn của mình, không vương vấn gì với thế gian; ngôi mộ cũng bị bỏ hoang, không ai chăm sóc, viếng thăm gì nữa.
Các già làng kể, cách đây vài thập niên, người Xê Đăng còn giữ phong tục tắm gội trong cội nguồn nguyên thủy giữa mùa Ăn năm uống tháng. Dân làng cởi bỏ quần áo, để lại tất cả những gì của thế giới văn minh rồi kéo nhau vào rừng theo già làng sống đời sống nguyên thủy chừng mươi ngày, nửa tháng.
Vì là lần gặp gỡ cuối cùng nên Pơ thi được tổ chức linh đình vào mùa Tết khi mà thóc lúa đầy bồ, trâu được vỗ béo, ché rượu xếp hàng dãy quanh sàn nhà. Gia đình người chết mổ con trâu lớn, vài ba con bò, dê, lợn… để mời cả làng ăn uống linh đình trong nhiều ngày.
Các con vật đã mang ra hiến tế là giết thịt ăn hết, thịt dư không mang về nhà. Những gia đình giàu có, gia thế còn mời các làng lân cận sang dự và cùng ăn uống, nhảy múa, đánh chiêng suốt 7 ngày 7 đêm.
Trong ánh lửa bập bùng, những chàng trai ngực nở, bụng thon, da nâu chắc lẳn khom lưng đeo chiêng lên vai. “Bing beng! Bing beng!”… chiêng lên rồi. Sau vài bản dạo đầu để thăm dò, bắt nhịp, các chàng trai điệu nghệ hào hứng đọ chiêng, nói chuyện bằng chiêng, đối đáp bằng chiêng. Càng về khuya tiếng chiêng càng hư ảo, mê hoặc như kích thích hết bản năng sống.
Dựng tượng nhà mồ. Ảnh: TL/TP
Các đôi trai gái dìu nhau vào vòng xoang. Sơn nữ mắt sáng long lanh, áo ló vai trần, ngực căng tràn trề nhún nhảy nhịp nhàng theo tiếng chiêng. Những cú ra chân nhẹ nhàng, lắc hông uyển chuyển, những vòng tay mềm mại đung đưa.... Sau vài tuần rượu, nhiều cặp đôi lâng lâng, rạo rực, ánh mắt nhìn nhau đã tỏa men, núi rừng như nghiêng ngả.
Ở những góc khác, các cụ già người thì kể khan, người thì chok (tâm sự với hồn người chết). Dù kể hay nói đều vần có điệu, lên bổng xuống trầm, lúc nghẹn ngào như khóc, lúc lại ngân nga như hát. Một số cụ có thể nói nhớ nói thương, tỉ tê với hồn người chết cả ngày; nhiều người khác ngồi hàng giờ để thưởng thức, khen người này khóc hay, người kia hát dở.
Già Plin còn cho biết ngay trước lễ Pơ thi, bà con họ hàng tạc nhiều bức tượng đặt xung quanh mồ để người chết khỏi cô đơn, hiu quạnh. Khi chọn gỗ để đẽo tượng phải kiêng kỵ nhiều thứ. Nếu đêm trước ngủ mơ thấy nhà cháy, bến nước cạn kiệt thì sáng hôm sau phải hoãn việc lấy gỗ; khi vào rừng lấy gỗ mà gặp rắn bò ngang đường thì phải quay về vì đó là điềm gở.
Trước kia, tượng nhà mồ thường được làm bằng loại gỗ tốt như hương, cà chít… nên dù phải hứng chịu nắng mưa, gió bão hàng chục năm, tượng vẫn vẹn nguyên. Nay, gỗ quý ngày càng hiếm nên phần lớn tượng nhà mồ được làm bằng các loại gỗ tạp.
Nghĩa địa thì hoang vắng nhưng thế giới tượng nhà mồ phong phú, sống động đến mức có lúc chúng tôi cảm giác như đang chứng kiến cảnh sinh hoạt của buôn làng. Hầu hết các bức tượng đều diễn tả trạng thái động với nhiều sắc thái biểu cảm buồn, vui, đau khổ, hạnh phúc và hoan lạc. Này đây là tượng chim cất cánh bay, hổ vồ mồi, ngực trần sơn nữ, giã gạo chày đôi, còn kia là thanh niên thổi kèn, phóng lao và cả những bức tượng nam nữ khỏa thân, ân ái…
Bích Hồng
Theo https://doanhnhansaigon.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...