Đọc “Phía Tây không có gì lạ” của Erich Maria Remarque, NXB
Văn học 2017 Chiến tranh là đề tài không mới của văn học, nhưng
nó vẫn là đề tài muôn thuở và hấp dẫn. Bởi lẽ, tự ngàn xưa đến nay, thế giới
chưa khi nào tắt lửa chiến tranh. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc hàng ngày,
hàng giờ, lúc nào cũng có những số phận phải chấm dứt tức tưởi, những con người
phải ngã xuống oan uổng, những cuộc đời dang dở một cách phi lý bởi chiến
tranh. Dù nhìn ở góc độ nào đi chăng nữa, chiến tranh luôn vô nhân đạo với cuộc
sống con người. “Phía Tây không có gì lạ” là cuốn tiểu thuyết về chiến tranh
thế giới thứ nhất của nhà văn Erich Maria Remarque (Đức). Cuốn sách viết bằng
trải nghiệm, bằng hồi ức chân thực của một chàng thanh niên từng lăn lộn trong
thế chiến thứ nhất, khi chưa kịp hết tuổi thơ đã bị gọi thẳng ra mặt trận. Nhập
ngũ khi vừa 18 tuổi, cuốn sách ra đời năm Remarque tròn 31 tuổi, với độ
lùi thời gian chưa nhiều đó, những ký ức chiến trường vẫn tươi nguyên. Điều đó
lý giải vì sao “Phía Tây không có gì lạ” hoàn toàn “không có gì lạ” trong nội
dung: không có những tình tiết ly kỳ, không có cốt truyện giật gân, nghẹt thở…
cũng “không có gì lạ” trong thủ pháp nghệ thuật: vẫn là lối viết tuyến tính
quen thuộc, nhân vật chính đứng ở ngôi kể chuyện thứ nhất, xưng “tôi”, không có
những tìm tòi, cách tân trong bố cục, kết cấu, hành văn… lại hấp dẫn người đọc
đến thế. Bởi lẽ nó là tiếng nói trung thực nhất của người trong cuộc về chiến
tranh. Cái Thật, tự bản thân nó đã mang giá trị thẩm mỹ rất thiêng liêng. Sự thật
về bộ mặt trần trụi, khốc liệt của chiến tranh đã chạm đến những vấn đề quan trọng
nhất của nhân sinh, nhất là đối với những người chỉ biết đến “những lời hào
nhoáng về chiến tranh” (chữ của Lưu Quang Vũ) qua sách vở. Nói đến chiến tranh thế giới thứ nhất mà Đức là một trong các
quốc gia tham chiến, có lẽ không cần nói nhiều thêm về quy mô, độ khốc liệt
cũng như những tàn phá của nó lên cuộc sống của những người dân vô tội. “Phía
Tây” được nhắc đến trong tác phẩm là mặt trận phía Tây do quân đội Đức mở ra,
khi tràn qua Luxembourg và Bỉ để giành quyền kiểm soát quân sự tại những vùng
công nghiệp quan trọng của nước Pháp. Chiến đấu tại mặt trận phía Tây, chàng
lính trẻ Paul Baumer cùng đồng đội đã trải qua những tháng ngày khốc liệt nhất
của cuộc đời. Bộ mặt thật của chiến tranh hiện lên thật ám ảnh trong mỗi mẩu hồi
ức của Paul. Đầu tiên là sự vô nhân đạo khủng khiếp khi chiến tranh tước
đoạt tuổi trẻ và toàn bộ đời sống tinh thần của cả một thế hệ. Những tàn phá về
mặt vật chất vẫn còn thống kê và khắc phục được, còn những tàn phá tinh thần
thì vô phương cứu chữa, và để lại những ám ảnh khôn nguôi tận khi chiến tranh
đã kết thúc từ lâu. Paul và bè bạn “từ một lớp học đi thẳng vào cuộc chiến”.
Ném những đứa trẻ chưa qua tuổi 18, đang ngồi trên ghế nhà trường vào lò lửa
chiến tranh là đất nước đã phải dốc đến cái vốn cuối cùng vào cuộc chiến. Những
đứa trẻ- người lính đó đột ngột đối mặt với cái chết, đột ngột phải trưởng
thành nhanh chóng để sinh tồn. Chiến tranh đã dạy cho họ những điều chưa từng
được nhà trường, mẹ cha dạy dỗ. Và ngược lại, tất cả những điều họ được dạy đều
trở nên vô dụng tại chốn đạn bom này. Và thật đau xót khi họ, chưa chớm tuổi
đôi mươi đã nhận thấy: “Tuổi trẻ sao? Cái đó qua từ lâu rồi. Chúng tôi là những
ông già” (trang 30). Sự già nua trong tâm hồn mới khủng khiếp làm sao. Bởi
vì trước mắt họ không có hoài bão, không khát vọng, ước mơ, không tương lai. Chỉ
có cái chết. Sự hủy diệt của chiến tranh lên sự sống không kinh khủng bằng
sự hủy diệt tâm hồn. Những chàng lính trẻ sớm chai lỳ trước cái chết hiện diện
hàng ngày, bởi đó là cách duy nhất khiến họ tồn tại được trên mặt trận. Không
có chỗ cho run sợ, đau xót viển vông. Vào trận đánh là 150 lính trẻ, trận đánh
kết thúc còn 80. Những người sống sót hân hoan trước 150 suất ăn đã được chuẩn
bị sẵn, giờ chia cho 80 người. Chi tiết đau đớn đến lặng người. Khi cái chết hiện
diện ngay bên cạnh, người ta không thể suy nghĩ lan man nhiều ngoài những bản
năng sinh tồn mãnh liệt. Tưởng chừng tâm hồn những người lính đang vào sinh ra
tử kia đã chết. Đó là sự vô nhân đạo nhất của chiến tranh. Có những con người
không chết vì bom đạn, nhưng cuộc đời họ đã vĩnh viễn bị chôn vùi. Anh lính Paul, nhân vật chính của truyện là một người như vậy.
Trong khi bạn bè, đồng đội ngã xuống rất nhiều, Paul chỉ bị thương, thần chết
chưa gọi đến tên. Tuy nhiên, cuộc đời anh đã vĩnh viễn chết, không thể hồi
sinh. Ra khỏi mặt trận, về nghỉ phép với gia đình, chính Paul không thể quay lại
nhịp sống cũ, không thể nào hòa nhập với cuộc đời. Anh thấy mình bị thừa ra. Thừa
ra giữa căn phòng quen thuộc của mình. Thừa ra giữa gia đình. Thừa ra giữa cộng
đồng, giữa vô vàn ký ức sống động của quãng đời trước khi vào quân ngũ, vốn vẫn
rất gần thôi. Chiến tranh như con quái vật, thò bàn tay gớm ghiếc vào khuấy đảo
cuộc sống bình lặng của con người, và thế là cuộc sống ấy vĩnh viễn không thể
trở lại bình yên. Chiến tranh đã giết chết cả một thế hệ theo cách ấy, chứ
không chỉ đơn thuần là cảnh đầu rơi máu chảy. Không chỉ là những lời miêu tả trung thực nhất về chiến tranh
tàn khốc, “Phía Tây không có gì lạ” còn là nỗi day dứt lớn về căn nguyên và ý
nghĩa đích thực của chiến tranh, và đây mới là giá trị lớn nhất của tác phẩm.
Buộc phải cầm súng ra trận, nhưng Paul và đồng đội dù đổ máu hàng giờ, vẫn
không hiểu tại sao lại phải chiến đấu, tại sao phải có chiến tranh. Câu chuyện
phiếm của cánh lính trẻ trong những phút giây yên tĩnh hiếm hoi ngoài mặt trận
tưởng chỉ tếu táo cho vui, lại để lại những dư vị đắng cay không thể nào gột rửa:
“…Kropp lại là một nhà tư tưởng. Cậu ta đề xuất nghi thức tuyên chiến nên là một
lễ hội của dân chúng, có vé vào cửa và âm nhạc đàng hoàng, giống như thi đấu bò
tót. Sau đó trên đấu trường, các ngài bộ trưởng và các vị tướng của hai nước sẽ
mặc quần bơi, cầm gậy xông vào phang nhau. Vị nào trụ được thì nước của vị ấy
thắng trận. Được thế sẽ đơn giản và tốt hơn là ở đây, nơi toàn những người chả
thù oán gì cứ phải choảng nhau” (trang 49). Cũng bởi “chả thù oán gì cứ phải
choảng nhau” nên khi Paul đâm chết một “kẻ địch” dưới chiến hào, anh đã rơi vào
tâm trạng kinh khủng: hoang mang, day dứt, hối hận, đau xót đến cùng cực: “Này
anh bạn, tôi không muốn giết cậu (…) Hãy tha thứ cho tôi bạn ơi (…) Các cậu
cũng chỉ là những con chó khốn khổ như chúng tôi, rằng những bà mẹ của các cậu
cũng sợ hãi cho con mình như những bà mẹ của chúng tôi, rằng chúng ta đều sợ chết
như nhau, đều chết một cách giống nhau và chịu đựng những nỗi đau đớn như nhau…
Hãy tha thứ cho tôi, bạn ơi, làm sao cậu có thể từng là kẻ thù của tôi được chứ.
Nếu chúng ta ném bỏ vũ khí này, tháo bỏ bộ quân phục này, thì cậu hoàn toàn có
thể là người anh em của tôi” (trang 207, 208). Đó không phải cảm giác của người
chiến thắng vừa tiêu diệt kẻ thù mà là cảm giác của một con người vừa nhẫn tâm
tước đoạt sự sống của một con người khác, mà chính bản thân mình không muốn.
Còn gì vô lý hơn chuyện “chả thù oán gì cứ phải choảng nhau”? Lý lẽ nào cho chiến tranh? Cánh lính trẻ không ngừng tranh luận
về việc đó: “Càng nghĩ càng thấy kỳ cục, Kropp nói tiếp “bọn mình ở đây để bảo
vệ tổ quốc mình. Nhưng bọn Pháp cũng đang ở đây để bảo vệ tổ quốc của bọn
chúng. Vậy ai đúng?” (trang 190) “Nhưng các giáo sư, các linh mục và báo chí của
phe ta đều nói rằng chỉ có phe ta mới có chính nghĩa, và tớ cũng mong sẽ là như
thế. Trong khi đó bọn giáo sư, linh mục và báo chí Pháp cũng lại quả quyết rằng
chỉ chúng nó mới có chính nghĩa, vậy nên hiểu thế nào đây hả” (trang 191) . “Tớ
không hiểu. Một quả núi ở nước Đức thì sao có thể xúc phạm một quả núi ở nước
Pháp được. Hay một con sông, hay một cánh rừng, hay một cánh đồng lúa mì cũng
thế thôi (…) Thế thì tớ chẳng có việc gì ở chiến trường này cả (…) tớ không cảm
thấy bị ai xúc phạm” (trang 191) Câu hỏi day dứt nhất vang lên trong cuốn sách: “Vậy tựu trung
có chiến tranh để làm gì? Tjaden hỏi. Kat nhún vai: “Hẳn phải có kẻ kiếm chác
được trong chiến tranh” (trang 192). Và chân lý giản dị được các chàng lính trẻ
rút ra: “nhưng không hề có chiến tranh thì còn tốt hơn nữa” (trang 193). Giản dị
vậy nhưng thật xa vời! Paul đã đi qua những năm tháng quân ngũ may mắn (theo cách
nhìn thông thường): “Tôi là người cuối cùng trong đám bảy thằng bạn cùng lớp
đăng lính một ngày còn có mặt ở đây” (trang 264). Nhưng anh không lấy làm hạnh
phúc, kể cả khi có tin đình chiến và hòa bình sẽ đến trong nay mai, vì anh biết
cuộc đời mình đã bị chiến tranh hủy diệt hoàn toàn, chỉ còn lại một thứ tài sản
duy nhất là “đơn độc và vô hy vọng”. Phần xác còn lại chẳng để làm gì khi chiến
tranh đã giết chết tất cả phần hồn: ước mơ, cảm xúc, hy vọng, khát vọng… Không
còn phần hồn nữa, con người không thể nào sống tiếp. Tuổi trẻ của Paul đã chết
giữa chiến trường, chết theo những cái chết của bạn bè, đồng đội và cả những
cái chết của kẻ thù – những người lính vô tội phía bên kia chiến tuyến… Kết thúc tác phẩm có chút “lạ” trong thủ pháp nghệ thuật:
“Anh ta chết vào tháng 10 năm 1918, trong một ngày khắp mặt trận yên tĩnh và êm
đềm đến nỗi bản báo cáo về tình hình chiến sự hôm đó chỉ gói gọn trong một câu:
“phía Tây không có gì lạ”. Anh ta ngã chúi về phía trước và nằm dài dưới
đất như đang ngủ. Khi lật anh ta lên, người ta thấy rõ anh ta đã không phải chịu
đau đớn gì nhiều; gương mặt anh ta toát lên một vẻ bình thản đến mức có thể
nghĩ anh ta gần như hài lòng về cái kết cục như vậy”. Nhân vật chuyển từ “tôi” sang “anh ta”, từ ngôi thứ nhất sang
ngôi thứ ba, từ chủ thể sang khách thể. Sau những dằn vặt trong bình thản về
chiến tranh và cuộc sống, Paul đã chọn cho mình một con đường tốt nhất: cái chết!
Có vẻ vô lý khi trong cuộc chiến, người lính ấy tìm mọi cách để sinh tồn giữa đạn
bom và hơi ngạt thì trước ngưỡng cửa hòa bình, anh lại tự tìm đến cái chết, chết
trong một ngày “khắp mặt trận yên tĩnh và êm đềm”. Nhưng đó là con đường duy nhất
đúng mà anh lựa chọn. Bởi vì tất cả bạn bè đã chết trong cuộc chiến, anh còn sống
chỉ là “đơn độc”. Bởi vì chiến tranh đã tước đoạt và dập tắt mọi ước mơ và khát
vọng, cho nên chỉ còn lại nỗi tuyệt vọng vô bờ. Hậu họa của chiến tranh còn khốc
liệt đến tận ngày hậu chiến. Điều đó cũng lý giải vì sao sau thế chiến thứ nhất
lại xuất hiện một thế hệ hoang mang, nổi loạn và chán chường đến cùng cực. Bóng
đen khủng khiếp của chiến tranh đã ôm trùm lên cả những tháng ngày hòa bình hậu
chiến và tiếp tục tàn phá cuộc sống con người. “Bản báo cáo về tình hình chiến sự hôm đó chỉ gói gọn trong một
câu: phía Tây không có gì lạ”. Không có gì lạ vì “khắp mặt trận yên tĩnh và êm
đềm”. Không có gì lạ ngay cả khi một chàng trai vừa chớm tuổi đôi mươi ngã xuống.
Đúng là “không có gì lạ” bởi ở mặt trận, trong chiến tranh, những cái chết hàng
phút, hàng giờ là điều phổ biến và quen thuộc. Những điều không lạ ấy gieo day
dứt thật nhiều cho những người cầm cuốn sách trên tay… Gấp lại cuốn sách, trong đầu tôi cứ vang lên bài thơ “Những
bông hoa không chết” của nhà thơ Lưu Quang Vũ. Có sự trùng hợp lạ lùng giữa Lưu
Quang Vũ và Erich Maria Remarque trong cảm nhận về chiến tranh. Bởi họ đều là
những người lính trẻ đã lăn lộn trong lửa đạn và đều mang trái tim nghệ sỹ nhạy
cảm, nặng lòng trước những đau đớn nhân sinh: … “Tuổi thơ bỏ ta bay mất như chim Tiếng bom nổ những khu nhà đổ sụp Chúng ta ra đi chiến tranh mùa đông Ta kịp biết gì đâu Vừa hết trẻ con đã là người lính (…) Đừng nói với ta những lời hào nhoáng về chiến tranh Tuổi trẻ ta đã qua bao bạn bè ta đã chết Ta đã vượt bao đèo cao chót vót Bao điều nhà trường chẳng dạy cho ta Nghĩ lại giễu cười những giấc mộng tuổi thơ Giờ trong ta vui buồn đều nín lặng Một thế hệ cứng đi như thỏi sắt Mà xoáy ngầm vẫn cuộn ở lòng sông…” (Những bông hoa không chết, 1971) “Xoáy ngầm” đó là những dằn vặt, đớn đau cho thân phận con
người trong chiến tranh bật lên từ sự chai sạn, thản nhiên của những chàng trai
sống giữa cái chết ở chiến trường!. 4/6/2018 Nguyễn Thị Việt Nga Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét