Tiếng Việt là thứ tiếng ghi âm bằng công cụ chữ quốc
ngữ, có đặc điểm cơ bản “nói sao viết vậy”. Từ đó, tình trạng nói sai dễ dẫn đến
tình trạng viết sai. Trên diễn đàn truyền thông lâu nay đã có nhiều ý kiến bày tỏ
sự quan tâm về vấn nạn “sai chính tả”, thậm chí có bài viết còn có “tít” cảnh
báo tình trạng sai chính tả ở nước ta đã đến hồi “báo động”. Qua thực tế công việc là một giảng viên hơn 30 năm đứng trên
bục giảng, trong đó có phân nửa thời gian giảng dạy tiếng Việt ở trường sư phạm,
chúng tôi muốn bày tỏ vài điều trăn trở. Nói sai chính tả hay viết sai chính tả? Trước hết, cần phân biệt rõ có hai loại phương tiện ngôn ngữ
là ngôn ngữ nói/ tiếng nói và ngôn ngữ viết/ chữ viết. Nói không đúng so với tiếng
chuẩn gọi là lỗi sai chính âm, viết không đúng so với từ/ tiếng chuẩn gọi
là lỗi sai chính tả. Chính tả là “cách/ phép viết đúng” theo quy tắc của một ngôn
ngữ nhất định. Do đó, chỉ có thể nói: viết sai chính tả, chứ không có
khái niệm nói sai chính tả. Tiếng Việt là thứ tiếng ghi âm bằng công cụ chữ quốc ngữ, có
đặc điểm cơ bản “nói sao viết vậy”. Từ đó, tình trạng nói sai dễ dẫn đến tình
trạng viết sai. Vậy mà, hiện nay, trên đất nước ta, tiếng nói ở cả ba vùng
phương ngữ Bắc – Trung – Nam hầu hết đều có lỗi sai chính âm, trừ một số rất ít
vùng phương ngữ được các nhà Việt ngữ học xác định là gần/ trùng với âm chuẩn
hiện đại. [Theo hai nhà Việt ngữ học, GS. Nguyễn Kim Thản và GS. Nguyễn
Văn Tu, thổ ngữ xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng (thuộc phương ngữ
Bắc Bộ) có thể xem là âm chuẩn của ngữ âm hiện đại nước ta.] Mỗi vùng phương ngữ lại có những lỗi khác nhau, nên việc khắc
phục không hề đơn giản. Trong lúc, nghề dạy học phải vận dụng đủ cả hai công cụ
truyền đạt là nói và viết. Ai có thể sai chính tả? Không riêng gì giáo viên mà tất cả mọi người Việt Nam chúng
ta đều có thể viết sai chính tả, nếu không thận trọng, cầu toàn khi sử dụng từ
ngữ. Tuy nhiên, giáo viên là đối tượng cần thận trọng nhất trong
việc nói và viết cho đúng chính âm, chính tả, vì họ là đội ngũ truyền đạt kiến
thức nói chung cho các thế hệ, trong đó có kiến thức, kỹ năng nói và viết đúng
tiếng mẹ đẻ. Trong các trường sư phạm hiện nay, đối tượng giáo sinh/ sinh
viên lại đến từ nhiều vùng phương ngữ, thổ ngữ trên cả nước, cho nên lỗi chính
âm, chính tả của họ cũng khá đa dạng, phong phú theo sắc thái vùng miền. Hơn nữa, qua quan sát, chúng tôi cũng nhận thấy, hiện nay,
theo xu hướng dịch chuyển địa bàn cư trú chung, nhiều giáo viên phía Bắc đang
giảng dạy tại các tỉnh vùng Trung và Nam Bộ, chứ không có nhiều giáo viên phía
Nam ra giảng dạy tại vùng phương ngữ Bắc Bộ. Bên cạnh những lỗi chính tả mà học sinh cả nước đều có thể mắc
phải, không phân biệt vùng miền, như các phụ âm đầu cùng ghi một âm nhưng có
nhiều cách viết: d/gi, ng/ngh, g/gh, c/k/q… thì có nhiều lỗi chính
âm/ chính tả theo vùng phương ngữ. Nhưng một số giáo viên phương ngữ Bắc vẫn bê nguyên cách sửa
lỗi chính tả cho học sinh phía Bắc vào áp dụng để sửa lỗi cho học sinh phía
Nam. Cụ thể chữa lỗi phát âm âm đầu [l/n] bằng cách dạy
học sinh phân biệt “lờ cao – lờ thấp”, tương tự, phân biệt phụ âm đầu [s/x] bằng
“xờ nặng – xờ nhẹ”, phụ âm đầu [tr/ch] bằng “chờ chó/ chờ trâu”, phụ
âm đầu [r/d] bằng “rổ rá/ dạy dỗ”… Mà những lỗi chính tả này học sinh
phía Nam hiếm khi phạm phải. Trong lúc học sinh phía Nam hay phạm các lỗi chính tả phân biệt
dấu thanh điệu hỏi/ ngã, phụ âm đầu [v/d], âm cuối [n/ng], [t/c]… thì
lại ít được giáo viên chú tâm khắc phục. Tất cả những điều bất cập trên góp phần làm cho việc sửa lỗi
chính tả cho học sinh tuy đã được quan tâm tiến hành lâu nay, nhưng chưa đạt hiệu
quả như mong muốn, dẫn đến hiện trạng “báo động sai chính tả” đến cả đội ngũ
giáo viên. Sửa lỗi chính tả thế nào? Trở lại vấn đề phương ngữ, qua hàng ngàn đời nay, cư dân sinh
ra và lớn lên ở địa phương nào, cố nhiên họ sẽ phát âm theo tiếng của địa
phương đó, và đó chính là cơ sở để hình thành nên các vùng phương ngữ như hiện
hữu. Giả sử giáo viên, học sinh cùng gốc gác một vùng phương ngữ
thì giao tiếp dạy – học giữa họ với nhau không gặp vấn đề gì ngoại trừ có những
lỗi sai chính âm/ chính tả theo vùng phương ngữ đó. Nhưng nếu người giáo viên ở vùng phương ngữ này lại đứng lớp
với học sinh ở vùng phương ngữ khác thì họ lại gặp phải đến hai lần lỗi chính tả
theo hai vùng phương ngữ: nơi sinh trưởng và nơi công tác. Gần đây, tại các trường sư phạm, đặc biệt ở ngành Giáo dục tiểu
học, giáo sinh đã và đang được học một học phần về chính tả là “Dạy chính tả
phương ngữ” cho học sinh. Mà cuốn tài liệu giáo khoa của TS. Võ Xuân Hào “Dạy học chính
tả cho học sinh tiểu học theo vùng phương ngữ” là cuốn sách đáng tin cậy và có
lẽ sẽ hữu ích không chỉ đối với giáo sinh, giáo viên mà cho tất cả chúng ta
trong nỗ lực thoát khỏi tình trạng “báo động” sai chính tả hiện nay. Để giảm thiểu sai chính tả Trước hết, trên cơ sở nắm vững kiến thức về ngôn ngữ học đã
được trang bị, giáo viên cần khắc phục lỗi chính âm/ chính tả theo vùng phương
ngữ của chính bản thân mình bị ảnh hưởng từ vùng phương ngữ mà mình sinh trưởng. Phấn đấu nói chuẩn chính âm, viết chuẩn chính tả trong mọi hoạt
động dạy học như giảng bài, trao đổi với học sinh, ghi bảng, phê sổ đầu bài, soạn
giáo án, phê bài làm học sinh… Tiếp theo, giáo viên cần thấu hiểu đối tượng học sinh vùng mình
đang giảng dạy, biết rõ các em đang tồn tại những lỗi chính âm/ chính tả nào phổ
biến/ cá biệt để uốn nắn, điều chỉnh, rèn luyện cho các em thói quen nói – viết
đúng chính âm – chính tả tiến đến hình thành kỹ năng nói đúng, viết đúng tiếng
Việt mọi lúc mọi nơi. Việc sửa lỗi chính tả cho giáo sinh nói riêng, và người đang
công tác trong mọi ngành nghề cũng như học sinh các cấp nói chung mãi là chuyện
“con gà – quả trứng” khi đề cập đến chuyện khởi sự. Tuy nhiên, hãy bắt đầu từ giáo sinh ở trường sư phạm. Dù dạy
môn gì, cấp học nào, người giáo viên, giáo sinh cũng cần thường trực tâm thế “sửa
lỗi chính tả” cho chính bản thân mình. Hơn thế nữa, tất cả mọi người Việt cũng cần chú trọng sửa lỗi
chính tả vì người Việt phải nói và viết đúng tiếng nước nhà trong cố gắng giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt. Đó không chỉ là biểu hiện của lòng tự trọng bản thân mình mà
còn là biểu hiện sơ khởi nhất của tinh thần quý trọng tiếng mẹ đẻ giàu đẹp, của
lòng yêu nước. 2/3/2018 Đỗ Thành Dương Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét