Lời gọi thâm sâu 2
- 6 -
Bảo Vân quan niệm Tục Ngữ,
Ca Dao có trước thời kỳ Trung Hoa đô hộ và do những người bình dân diễn tả tư
tưởng, tâm tình bằng những câu văn truyền miệng: "Riêng về mặt Văn học, Tổ
tiên chúng ta đã học chữ Nho, viết chữ Nho, hấp thụ tư tưởng và học thuật của bọn
người thống trị. Mãi tới đầu Thế kỷ thứ 13 (đời nhà Trần) mới có một số Nho sỹ
Việt Nam, mô phỏng theo văn thơ chữ Hán mà sáng tác ra một số thi ca bằng chữ
Nôm. Tuy vậy trước đó, những người bình dân đã đem tư tưởng, tâm tình của mình
ra mà diễn tả bằng những câu văn vần rồi truyền miệng đi với nhau. Đó chính là
hình thức đầu tiên của Tục Ngữ và Ca Dao. Trải qua năm, tháng, các câu đó được
thêm bớt, sửa chữa, gọt giũa để rồi tới ngày nay, chúng ta đã có một kho tàng
vô cùng quý giá trong nền Văn học Bình dân..." (Tục Ngữ Ca Dao và Dân Ca;
tr. 3)”.
Nơi phần "Nhận Xét
Chung về Ca Dao," Đào Vân Hội cũng cho rằng Ca Dao là sản phẩm của dân
quê: "Ca dao tức là những câu hát thông thường của dân gian, là sản phẩm
chung của dân tộc, truyền tụng từ thế hệ này sang thế hệ kia, là tiếng nói của
tâm hồn nam nữ ở những nơi đồng lúa, rừng rú, núi đồi" (Phong Tục Miền Nam
qua Mấy Vần Ca Dao; tr. 7). Nguyễn Tấn Long và Phan Canh có đồng quan điểm về
văn học bình dân như tiếng nói phản ảnh của giới bình dân: "Trái ngược với
văn học bác học, nền văn học bình dân phản ảnh tâm tư đại đa số quần chúng
nghèo khổ, dốt nát, tiếng nói của họ là tiếng nói chung của lớp người cùng sống
trong một hoàn cảnh, mà cũng là tiếng nói chân thành nhất của mỗi dân tộc trong
sinh hoạt xã hội" (Thi Ca Bình Dân Việt Nam; tập 1; tr. 12).
Nguyễn Hữu Nghĩa, Diệu Tần,
Minh Đạo, và Triều Khê trong những bài viết nơi Nguyệt San Làng Văn số 102
tháng 2 năm 1993; Toronto, Canada có những quan điểm hơi khác về Tục Ngữ, Ca
Dao. Theo Nguyễn Hữu Nghĩa, "...bên cạnh đó, văn chương truyền khẩu lại rất
phong phú, và là phương tiện phổ biến một phần các sáng tác của nhà
nho..." (Làng Văn; số 102; "Sơ Thảo về Tục Ngữ, Ca Dao;" tr.
12). Diệu Tần cho rằng: "Không như văn chương bác học, văn thi sĩ thường
chọn câu lựa chữ đẽo gọt lời ý rất chau chuốt; văn chương bình dân đơn giản, mộc
mạc nhưng không thô tục." (Làng Văn; số 102; tr. 41). Nơi phần cuối bài viết
khi đưa lên "cái khôn, cái nghịch ngợm dí dỏm của phái nam," Diệu Tần
viết tiếp: "Tuy là tưởng tượng nhưng anh nông dân đã khéo dùng ngoa ngữ để
biểu lộ tình thương yêu..." (Làng Văn; số 102; 1993; "Những Chữ Tài
Tình Trong Ca Dao;" tr. 43). Có thể nói Diệu Tần cũng đồng ý kiến Ca Dao
phát xuất từ giới bình dân mặc dầu quan niệm "Ca dao là thơ là nhạc của đại
chúng được gạn lọc qua nhiều văn thi nhạc sĩ khuyết danh" (tr. 41). So
sánh một số câu Tục Ngữ, Phong Dao được phổ biến nơi miền Nam và miền Bắc Việt
Nam, Minh Đạo xác quyết văn chương bình dân do người bình dân sáng tác:
"Người bình dân miền Nam dùng nhiều câu, nhiều tiếng gốc Hán hơn người
bình dân miền Bắc..." (Làng Văn; số 102; 1993; "Vai Trò của các Tiếng,
các Câu Gốc Hán trong Văn Chương Bình Dân VN;" tr. 45). Minh Đạo đưa ra nhận
xét văn chương bình dân là thành lũy ngăn chận văn hóa Hán cho nên ngày nay
chúng ta có ngôn ngữ Việt mà không phải học tiếng Tàu: "Trong gần 1000 năm
đô hộ người Việt, văn hóa Trung Hoa đã ảnh hưởng rất sâu đậm nơi triều đình và
các tầng lớp sĩ phu, nhưng lại không thấm nổi xuống tầng lớp quần chúng. Cuối
cùng người Trung Hoa bại cả về quân sự lẫn văn hóa. Nhờ thế ngày nay chúng ta mới
có ngôn ngữ văn tự mà nói, mà viết, không cần phải học tiếng Tàu." (tr.
47-48). Trong khi Triều Khê lại quan niệm hơi khác qua bài viết "Cụ-Thể-Hóa
và Kịch-Tính Trong Ca-Dao": "Trái với văn chương bác học, văn chương
quần chúng là ca dao, không đủ từ ngữ trừu tượng để diễn tả ý tình, cho nên các
tác giả khuyết danh của ca dao đã lấy những gì tả thực, có đủ kích thước ba chiều,
để đưa vào những câu thơ bình dị." (Làng Văn; số 102; tr. 48). Tuy thế,
qua bài viết, Triều Khê cho rằng hai đặc tính cụ thể hóa và kịch tính của Ca
Dao có thể đã là nguồn phát xuất cho các bộ môn khác: "Thế mới biết, người
Việt chẳng những đã giàu hồn thơ, mà ca-dao còn có kịch tính. Có lẽ chính vì
hai đặc-tính này mà sau ca-dao, các bộ môn ca nhạc kịch bình dân như tuồng,
chèo, hát bộ, cải-lương,... đã phát-triển mạnh và phổ-biến rất nhanh" (tr.
51).” (Trích từ Hương Hoa Dân Việt; Lã Mộng Thường; Xuân Thu; CA, USA; 1993;
Tr. 5-8).
- Đọc Tục Ngữ, Ca Dao thấy
phê ơi là phê, thế mà các vị ấy nhận định như vậy khiến cháu đặt vấn đề, tự
mình suy nghĩ, vì nói điều gì, viết sự chi cần phải sao cho hợp lý, thuận tình.
Thử hỏi bác, sao người dân quê khởi xướng được câu nói, “Khôn ngoan ở chốn nhà
bay; dù che ngựa cưỡi, đến đây cũng hèn;” ai là người có đủ vị thế để nói lên
câu ấy, thế nên, gặp được câu, “Đầu ngòi có con ba ba, kẻ gọi con trạnh, người
la con rùa,” cháu thấy tuyệt vời không bút giấy nào tả xiết. Chính gia tài Tục
Ngữ, Thành Ngữ, Phong Dao, Ca Dao khuyến khích cháu suy tư nhiều hơn khi đọc
sách. Tuy nhiên, đúng là “Cao nhân tắc hữu cao nhân trị.” Đụng đến kinh sách
Đông phương đầu óc cháu trở thành mù tối, bí cứng, không biết cách nào xoay xở.
Thí dụ, cháu nghĩ bác biết bộ Kinh Thánh của Kytô giáo được phát xuất ở Trung
Đông và đặc biệt nơi phần Tân Ước có những câu ngang ngược, kỳ cục; chẳng hạn,
“Ai có tai thì nghe,” cháu đếm được tám lần (Mt. 11:15; 13:9,43; Mc. 4:9,23;
7:16; Lc. 8:8; 14:35). Một câu ngờ nghệch như thế mà những tám lần được nhắc
đi, nhắc lại nơi Phúc Âm nhất lãm. Đến khi vô tình đọc nơi cuốn nào chả biết,
thuộc sách nhà Phật, hình như nơi kinh Kim Cang thì phải, lại gán nơi miệng
Thích Ca câu, “Lời ta nói như chiếc bè,” và đồng thời cháu cũng phải ngỡ ngàng
với câu, “Ngón tay ta chỉ mặt trăng, nhưng ngón tay ta không phải là mặt
trăng.”
- Ai chả biết thế; chuyện
đơn giản, bình thường như vậy đâu cần phải in vào kinh sách. Thế nhưng, khi đặt
vấn đề tại sao phải dùng câu ngây thơ đó để nhắn nhủ, nó mới khơi ra ý định
thâm trầm của câu nói. “Lời ta nói như chiếc bè, ngón tay ta không phải mặt
trăng,” thách đố độc giả, hành giả tự mình tìm kiếm, theo dõi, chứ cái bè, ngón
tay của ta, không phải là đích cho người đọc nhắm tới. Phúc Âm thì thâm trầm
hơn, “Ai có tai thì nghe,” hiểu sao thì hiểu, biết được gì thì biết. Một hôm,
chẳng hiểu sao cháu lại ngang ngang cò bứa đặt câu hỏi, tại sao lại nói “Ai có
tai thì nghe;” chẳng lẽ có tai như không có tai, và cái tai có thể tự nó nghe
được không? Mấy câu hỏi này cứ luẩn quẩn nơi tâm trí, và thế rồi cháu nghe tin
đâu đó có người chết. Câu trả lời đến với cháu, tai hết nghe, và như vậy, tai
chỉ là phương tiện cho cái gì nghe chẳng khác chi cái bút. Mình nói ai viết chứ
không ai nói cái bút viết mặc dầu bút dùng để viết. Và từ nhận thức quá tầm thường
này, cháu đặt vấn đề về cái gì dùng cái tai để nghe, cái đó liên hệ đến thân
xác, cuộc đời cháu thế nào, cũng như hoạt động của cái đó ra sao, để rồi cháu
chứng minh được một cộng một bằng ba. Ba là một và một cũng là ba, bất khả phân
ly ngoại trừ chết.
- Một cộng một là ba
nghĩa là sao?
- Thì cái hồn dùng cái
tai để nghe, dùng cái mắt để nhìn, dùng cái miệng để nói, dùng bộ óc để truyền
tư tưởng, ý nghĩ, ước muốn, ước mơ.
- Anh không tin vào khoa
học à?
- Các ông khoa học gia vẫn
cứ vênh váo cho rằng tai nghe, miệng nói, mắt nhìn, óc suy nghĩ như mọi người,
nhưng đã không thèm suy nghĩ; nên họ có biết cái hồn của họ là gì đâu. Bác thử
nghĩ, các ông ấy nói óc suy nghĩ. Bộ óc thuộc về vật chất, mà vật chất thì
không thể phát sinh tư tưởng, ý định, ước muốn. Nếu vật chất có thể suy nghĩ
thì sao các ông ấy có thể ở trong nhà, hoặc coi chừng đêm đang ngủ bị hất tung
ra khỏi giường. Thử hỏi, khi cái hồn rời khỏi cái xác, các ông ấy còn có thể,
nghe, nói, nhìn, suy nghĩ được nữa không?
- Thế 1+1,
- Bình thường, ai chả biết
1+1=2; nhưng, bác thấy đó, nếu cái xác không, chỉ đem chôn; nếu chỉ hồn không,
thì ai biết đấy là đâu. Tuy nhiên, khi hồn nhập vào xác lại phát sinh ra ước muốn,
tham vọng, yêu thương, ham hố, tựu trung gọi là tâm trí. Như thế, một cộng một
không ít nhất bằng ba thì bằng gì. Nó cũng chính là cái đạo âm dương nhất
nguyên, hai nửa âm dương trong một vòng tròn, tăng trưởng đối nghịch nhưng
không hề tách rời nhau, cũng chính là tâm điểm của dịch, của mọi sự biến chuyển.
Cháu không ngờ, cái câu, “Ai có tai thì nghe,” lại thách đố người ta suy nghĩ,
suy tư thâm trầm đến như thế. Chính lúc nãy khi bác phân tích, phân cốc “biết
và hiểu” cháu mới nhận ra “Kẻ nói không biết” là thế nào, thì thấy nó lại liên
hệ ám định với câu ca dao, “Đầu ngòi có con ba ba; kẻ gọi con trạnh, người la
con rùa.” Người dân quê chân lấm tay bùn, suốt ngày mặt bán cho đất, lưng bán
cho trời dưới ánh nắng gay gắt, thì sao có thể phát sinh câu nói đối nhau từng
cặp chữ chát chúa như thế. Giả sử lúc này, bác hay cháu thấy con ba ba đầu ngòi
thì chỉ một phản ứng ắt có và đủ, và đó là bắt chú ta về làm thịt, xào nấu uống
rượu chứ hứng thú nào mà nghĩ đến người nói thế nọ, kẻ tuyên truyền thế kia. Có
lần khi nghĩ tới câu này, cháu đặt mình vô trường hợp vô tình thấy chú ba ba
nơi đầu ngòi nên giả sử phân tích phản ứng sẽ ra sao, chợt thấy hứng thú với ý
nghĩ, “Đầu ngòi thấy con ba ba, bắt về làm thịt tha hồ nhậu chơi,”chẳng có giờ
nào mà nói đến người này, kẻ kia chút nào. Cháu cũng là sinh viên, sinh hòn rồi
chứ bộ mà chỉ có thể phản ứng như thế phương chi đối với dân quê thì sao. Đúng
là “Kẻ nói không biết.”
- Vậy anh nghĩ thế nào về
Tục Ngữ, Ca Dao?
- Cháu nhận thấy những
câu Vè, Phong Dao, Thành Ngữ, Tục Ngữ, Ca Dao, phải là sản phẩm của các bậc trí
giả, thức ngộ tuyệt vời từ ngàn xưa tức cảnh sinh tình nên hứng khởi cảm ứng viết
thành những câu nói lồng trong thể thức thơ văn. Những câu này mangý nghĩa ám định
nơi những trường hợp độc lập nào đó nên dễ nhớ, thuận miệng phát biểu nơi ngôn
ngữ Việt, nên được truyền bá rộng rãi nơi dân chúng. Bác thử nghĩ, nơi một xó rừng,
một hốc bà tó nào đó, có anh dân quê và chị lầng nhầng nào đó hợp ý, thuận tình
lên tiếng đối đáp dưới ánh nắng gay gắt, mồ hôi nước mắt đầm đìa thì lấy gì mà
ghi chép lại. sao có thể phổ biến, và năng lực cảm ứng nào có thể phát sinh những
câu đối đáp hoặc câu vè tuyệt vời lại mang đầy sắc thái văn chương như vậy?
Đúng là mấy ông học giả chứ không phải học thiệt, chẳng khác gì các nhà khoa học,
khoa môi múa mép tầm bậy, thiếu nhận thức, nghiệm xét.
- Thật là thú vị, hèn chi
anh học ban C. Thế sau này anh có theo ban Văn Khoa ở đại học không?
- Cháu ghi danh theo học
hàm thụ bên Văn khoa trong thời gian đi nghĩa quân.
- Tại sao đi nghĩa quân
trong khi anh có tú tài hai?
- Có gì đâu bác, vào năm
1972, cháu đã xong tú tài I, ngay cái mùa hè đỏ lửa đó, sĩ quan vừa tập tễnh ra
đơn vị thì đã được phủ tấm cờ vàng kèm thêm danh hiệu “Tổ quốc ghi ơn,” cháu bị
rơi vào lệnh động viên, lại muốn học cho xong tú tài II nên giấu biệt văn bằng,
và bỏ nhà vô miền Vũng Tàu tham gia nghĩa quân vì có bà chị họ lập gia đình
sinh sống ở đó. Thế rồi nhờ khả năng sinh ngữ, làm thêm công việc dịch công
văn, giấy tờ từ Anh sang Việt nên cũng vương giả lại được ưu đãi thì đi sĩ quan
làm chi cho mau được phủ cờ trở về. Đại khái cũng chỉ là sợ chết non mà thôi,
nhưng đúng ra chẳng những sợ chết mà còn e bố mẹ cháu đau lòng. Và thế rồi đang
dang dở năm thứ hai Văn khoa, 30 tháng tư ập tới nên giờ đang ở đây.
- Anh có thể minh chứng Tục
Ngữ, Ca Dao là sản phẩm của các bậc thức giả không.
- Khó gì đâu bác, cháu
theo Văn khoa ban Hán Việt, tất nhiên phải học tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh,
thường được gọi là truyện Kiều của cụ Nguyễn Du. Trong vè có câu, “Chữ tâm kia
mới bằng ba chữ tài” đó là vế cuối của hai câu kết nơi truyện Kiều, “Thiện căn ở
tại lòng ta; chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.” Thử hỏi bác, là dân quê, không
biết ngay cả ký cái tên của mình thì làm sao biết được thế nào là chữ tâm, thế
nào là chữ tài. Hơn nữa, câu nói ám định về tâm thức so sánh với khả năng học vấn,
tài năng, thì ngoài công việc đồng áng, cuốc đất vạt khoai, khai mương, xẻ
rãnh, sao có cơ hội dầu chỉ nghĩ tới tài, phương chi tâm. Thế mà một số nhà học
giả, học thiệt, dám cả gan cho rằng những câu nói thuận miệng, mang đầy tính chất
bình dân, văn vẻ ấy là sản phẩm của những người không biết chữ nhất bẻ đôi là
gì thì có bực sôi máu lên không. Đúng là trí thức với trí ngủ, chán mớ đời, tôi
thở dài. Bác có nhớ đã một thời giai thoại “Chicken soup” không?
- Tôi biết chứ, tôi biết
luôn cả gốc gác và biến thể của bài thơ “Hà Nội Tức Cảnh” của thi sĩ Dương Khuê
nữa. Số là Dương Khuê, tiến sĩ, làm quan thời nhà Nguyễn. Bài thơ của ông ấy được
viết là,
“Phất phơ ngọn trúc trăng
tà,
Tiếng chuông Trấn Vũ,
canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn
sương,
Tiếng chày Yên Thái, mặt
gương Tây Hồ.”
Ở Hà Nội có ngõ Thọ Xương
và làng Thọ Khương. Nhưng nơi Huế lại có chùa Thiên Mụ bên bờ sông Hương và
làng Thọ Xương nơi bờ bên kia. Thế rồi sau này trên báo Nam Phong lại có mấy
câu thơ,
“Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ,
canh gà Thọ Xương.”
- Nói cho đúng, tôi cũng
đồng ý với nhận định của anh, Tục Ngữ, Ca Dao gốc gác là những lời văn thơ của
các bậc thức giả được truyền bá trong dân gian đôi khi bị hay được chuyển dịch
hay đổi chữ, hoặc danh địa cho hợp với địa phương hay ý nghĩa ám định nào đó.
Chẳng hạn câu tục ngữ, “Dâu ông ném tằm bà,” câu nói chỉ về sự bày tỏ ý tình lại
bị nói thành, “Râu ông cắm cằm bà,” mang nghĩa tréo ngoe nơi cuộc sống. Tìm hiểu
và thâm trầm nhận định chín chắn, chúng ta mới thấy đặc tính linh hoạt, sắc sảo,
cũng như sức sống lạ kỳ nơi giòng giống dân Việt. Đọc lịch sử anh nhận biết, từ
bao đời trước, Trung Hoa xâm chiếm mấy lần tổng cộng hơn kém 1008 năm đô hộ và
cố đồng hóa dân Việt nhưng kết quả thế nào? Thời kỳ đô hộ dài nhất là hơn 700
năm, từ năm 111 trước Công nguyên tới năm 602 sau Công nguyên, họ có đồng hóa
được mình không hay lại bị mình đồng hóa ngược lại nơi văn học. Mình đọc được
chữ Hán Nho của họ, họ có đọc và hiểu chữ Nôm của mình không. Anh thấy rõ, tiếng
Việt của mình bây giờ, mấy dân tộc láng giềng mơ tưởng và cố gắng bỏ công sức
suy nghĩ kiếm cách nọ, kiểu kia, hầu thay thế chữ lăng quăng khó sử dụng, rườm
rà ngô khoai, phát âm chồng chéo, bằng chữ Latinh mà có được đâu. Thử hỏi, nếu
anh sống ở Trung Hoa, Đại Hàn, Đài Loan, Nhật Bản, hay Lào, Căm Bốt, Thái Lan,
biết được tiếng nói của họ thì phải bao lâu mới viết được? Trong khi tiếng Việt
mình, nếu đã biết nói, tôi bảo đảm với anh, chỉ nội tối đa hai tuần, mỗi tuần
10 tiếng học đánh vần, ghép chữ, là có thể đọc truyện, đọc sách ngôn ngữ Việt
được. Nhưng, đất có tuần; dân có vận; không biết Trời định cho dân Việt mình
rơi vào vận hạn này những bao lâu nữa; tiếng than hòa lẫn mồ hôi, nước mắt bốc
hơi vượt quá cả ngàn tầng trời, nào biết sao hơn. Anh chưa nhận rõ thao thức
nơi anh, nhưng tôi nhận biết qua gần hai năm dẫu vô tình theo dõi. Đâu phải vô
lý mà tôi rủ anh về đây; tất nhiên, anh cũng biết ý định của tôi là không tự
nhiên rước anh về làm của nợ đâu. Nhưng mệnh trời, đành chấp nhận đánh bạc với
ông Xanh theo bước chân của tiền nhân dân Việt. Còn thành quả ra sao, tôi không
dám nghĩ tới, chỉ biết làm những gì mình cho là phải và trong tầm tay với mà
thôi. Có điều, tôi thành thật yêu cầu anh kiên nhẫn, chịu đựng trong thời gian
đọc sách ít hôm. Mình sẽ nói chuyện sau. Thôi, cũng đã muộn rồi, chúng ta đi
nghỉ.
Kinh Viên Giác, Kim Cang
Đại Định, hai cuốn này thuộc Kim Cang Đại Thừa. Có lẽ hai tác giả không biết
“Kiến tính thành phật” nên còn giải thích, giải nghĩa, đảnh lễ, phải tu hạnh,
phải lắm thứ, nào chứng, nào đắc. Thế là quên luôn cái duyên. Thử hỏi, nhận thức
không thể học, chẳng thể dạy, không thể cầu, thì nếu không có duyên lại càng luẩn
quẩn vô minh. Nếu cứ theo pháp mà hành thì sao mà định. Thế rồi, ngay đầu sách
Trang Tử Nam Hoa Kinh, cụ Nguyễn Duy Cần trích lời Dịch Kinh, “Sách không hết lời,
lời không hếtý,” và thêm một đoạn của Trang Tử, “Có nơm là vì cá; đặng cá hãy
quên nơm. Có dò là vì thỏ; đặng thỏ hãy quên dò. Có lời là vì ý; đặng ý hãy
quên lời. Ta tìm đâu đặng người biết quên lời, hầu cùng nhau đàm luận.” Đã “Đặng
ý hãy quên lời,” mà cụ ND Cần còn giải thích, giải nghĩa chi cho mệt. Dịch hay
diệt thì cứ để độc giả tự nhiên quên lời dẫu đặng ý hay không. Xem ra, cái
duyên của nhà Phật không còn chỗ đứng. Vì nếu cứ cố gắng tu tập mà có thể kiến
tính thì đâu cần duyên. Đàng khác, nếu đã “Kiến tính thành phật” rồi thì đâu cần
các pháp của Viên Giác hay Kim Cang cho dù đại định hay tiểu định, Đại thừa,
hay Tiểu thừa.
Tôi tự hỏi, vậy họ viết để
làm gì. Theo Lão Tử, “Trong khi Khổng thì người trị nước phải hành theo đạo hữu
vi, nghĩa là chữ Lễ, tác Nhạc và ‘làm’ rất nhiều… còn bậc trị nước theo Lão,
trái lại, càng ‘làm ít’ càng hay, và ‘không làm gì cả’ lại càng tốt hơn. Là vì,
theo Lão, việc đời đa đoan, việc người mà rối rắm chẳng phải vì những việc người
ta đã lo cho đời quá ít, mà chính vì những việc mà người ta đã lo cho đời quá
nhiều” (Lão Tử Tinh Hoa; ND Cần; Tr. 62-63). Bậc trị nước là chính tôi với cuộc
sống, với những tập luyện, mới mơ ước, tham vọng; chẳng khác gì kẻ đứng giữa
ngã ba, ngã bốn, ngã năm, nào Phật, nào Ấn, nào Lão, lại còn cái gốc Phúc Âm
nơi mình nữa. Ối giào! Nào kinh Viên Giác, kinh Kim Cang, kinh Đại Niết Bàn,
kinh Lăng Già Tâm Ấn, kinh Nam Hoa, Đạo Đức kinh, Kinh Thánh, kinh Badgavad
Gìta… muôn thứ kinh; kinh nào cũng tuyệt vời; kinh nào cũng giúp con người
thăng tiến. Lại còn mấy cuốn Đông Phương Huyền Bí, Xứ Phật Huyền Bí, Ai Cập Huyền
Bí, Tây Tạng Huyền Bí; rồi mật tông, đường tông, thêm cả ba trang ghi danh sách
biên khảo nơi tập bản thảo; coi chừng, “Lắm thày nhiều ma; đông cha con khó lấy
chồng” thì chỉ khổ thêm, chỉ càng rối rắm như rợ vô rừng, hay đâu, tốt đâu chẳng
thấy, lỡ thành nồi cám heo thì phiền.
Suy đi, tính lại, nghĩ tới,
nghĩ lui, so sánh thiệt hơn, cuối cùng tôi quyết định thử sự đơn giản nhất, “Kiến
Tính thành phật,” yếu chỉ của Huệ Năng. Lục tổ Huệ Năng không biết dù ngay cả
chữ ký tên của mình mà có thể là lục tổ. Thế thì sao ngài có thể đọc bất cứ
sách vở nào, bỗng hốt nhiên chứng ngộ khi nghe được câu, “Ưng vô sở trụ, nhi
sinh kỳ tâm.” Kiến tính chỉ cần ưng vô sở trụ; hèn chi nhà Lão, càng làm ít
càng tốt, càng không làm gì lại càng tốt hơn. Ha ha… ít nhất, tôi đã nhận ra được
hai nhà Phật và Lão đồng quan điểm. Vậy còn nhà Ấn, và Kinh Thánh thì sao? Chúa
của tôi đâu khác chi Brahma nơi Ấn. Các nhà Đông phương gọi linh hồn là Thượng
Đế nội tại thì cũng đồng nhận thức với Atman, Thượng Đế hành động, hoạt động
nơi mỗi người. Tính của nhà Phật, Tào nơi nhà Lão, Thiên Chúa của Kinh Thánh,
Brahma bên Ấn học, cũng chỉ là một nơi mình mà cụ Nguyễn Duy Cần gọi “Thực Tại
Siêu Việt” ở mỗi người.
Những cuốn sách tuyệt vời
đến độ không thể nào áp dụng những sự việc được trình bày nơi tâm não. Thì sách
nào không tuyệt vời bởi do tâm huyết của tác giả nặn trí, bóp óc viết ra, dẫu
chỉ là phóng tác, tưởng tượng. Ah, hèn chi nhà Lão khuyên, “Càng làm ít càng tốt,
càng không làm gì lại càng tốt hơn.” Thế sao lục tổ Huệ Năng lại bảo phải kiến
tính? Cái sự “làm” nơi nhà Lão chỉ về những động tác hữu vi; trong khi “kiến” của
tổ Huệ Năng là tâm tưởng nhận biết, tìm tòi. Chao ôi, mỗi đấng mỗi kiểu, mỗi
thày mỗi hay, khiến cho kẻ lần mò lạc lối. Lúc thì cái tâm như hoang ngựa, khi
thì đồng bản thể với Chân Như, nào quán tưởng, nào ma chướng, nào pháp, nào định,
nào hành tỏi, nào thiền tông, mật với đường, rối tung lên. Câu thơ nào đó của
Trần Tế Xương nổi lên ỡm ờ trong tâm trí, “Biết thế ngày xưa đi làm quách; chẳng
ký không thông cũng cậu bồi.” “Cái học nhà Nho” của Tú Xương thời ấy “đã hỏng rồi,”
vậy cái đọc sách của tôi sẽ đi tới đâu? Càng đọc càng rối, càng chẳng biết phải
thế nào, phải suy nghĩ làm sao.
“Kiến Tính” chính là nhận
thức mà nhận thức không thể cầu, chỉ có thể ngộ. Vậy ngộ làm sao nếu chẳng có
duyên, há không làm chi chờ ngộ tới, ngộ mà không tới, hỏng một đời. Hừ, học võ
không luyện tập sao biết đánh; đánh võ vô quyền múa huênh hoang! Muốn kiến
tính, muốn nhận thức phải suy nghĩ, không suy nghĩ sao có thể ngộ. Cơ hội chỉ tới
với những ai kiên trì nỗ lực trong những điều kiện mình đang cố gắng theo đuổi.
Tôi đang theo đuổi gì, đã sẵn có những gì nơi bản thân? Thì ít nhất gần đệ tứ đẳng
huyền đai, tiếp tục luyện võ thăng cấp rồi sẽ tính; tôi tự nhủ. Hơn nữa, còn ít
sách nên đọc may ra biết thêm được gì.
Cuốn Thiếu Lâm Dịch Cân
Kinh có “Sơ đồ chuyển pháp luân ‘Hườn Tinh Bổ Não,’” đâu thể so sánh với chuyển
vận khí huyết lúc chạy của tôi. Vận chuyển khí huyết bao gồm ý dẫn khí; khí dẫn
huyết; huyết đả thông kinh mạch. Ah, không là hành thiền thì là thứ chỉ. Không,
không thiền, vì thiền thuộc về tâm tưởng, tôi thực hành pháp luân; có điều tôi
dẫn khí thuận chiều đốc mạch, chưa bao giờ thực hành nghịch chiều nhâm mạch. Phỏng
thử vận hành dẫn khí nghịch chiều khi chạy có hậu quả tai hại chi không, tôi thầm
hỏi, và quyết định thử, bởi cùng lắm, nếu đau lưng, mỏi cổ tôi đã có cách giải,
“Bởi vậy, nếu ai liều mạng muốn thử, khi nào cảm thấy mỏi phía đàng sau gáy hay
ê ẩm ngang thắt lưng tất nhiên đã bắt đầu bị tẩu hỏa nhập ma. Muốn chữa thì đứng
thẳng người một cách bình thường, dồn hết tâm trí vào hơi thở, từ từ hít hơi dẫn
vô nơi nhức mỏi trong khi hai tay theo luồng hơi đang hít vào giang ra và từ từ
đưa cao ngang bằng với vai. Khi không khí đã đầy phổi, từ từ thở ra và hai tay
xuôi dần xuống hai bên thân. Làm như vậy ít nhất là năm lần thì máu huyết tắc đọng
nơi đó sẽ được thông” (MBVN; Tr. 230).
- 7 -
Cái bản thảo với ba trang
ghi chú tên sách được trích dẫn khiến tâm trí tôi bàng hoàng từng chập trong
khi đọc. Dẫu diễn tiến câu truyện đầy mường tưởng (fiction) nhưng lại dùng những
trích dẫn thực dụng nơi diễn trình suy nghĩ, suy tư để hướng dẫn độc giả thực tập,
áp dụng nghiệm chứng, thực chứng, nghiệm xét, nơi hành trình nhận thức. Bản thảo
xào xáo và thách đố tâm trí độc giả vật lộn với những công án, những thực nghiệm
suy tư, suy nghĩ, phân định, đồng thời thách đố độc giả tự nghiệm chứng, nghiệm
xét diễn tiến phản hồi nơi tâm trí hầu nhận biết diễn biến đang xảy ra nơi hành
trình suy nghĩ của mình. Tôi hiểu được, chính sự phản hồi này nơi tâm trí được
Huệ Năng gọi là kiến, nhận biết diễn biến trong diễn trình nhận thức “Tính,”
cũng như khai phá tâm tư để giải đáp công án “Tôi là ai,” hầu nhận thức thực thể
thực sự của mình là gì.
Tác giả cũng có lý khi
dùng ngôn ngữ và lý lẽ khi đặt vô miệng những tay bán trời không văn tự lúc rượu
bia ngà ngà, nói năng bất chấp ngôn từ, thứ tự, luật lệ trên dưới, hoặc tôn ty
trật tự. Ưng là nói, nói lấy được, không cần biết đến ai nghe hay không, chọc
chạch, bới móc bất cứ gì, từ quan niệm, luân lý, nghi thức đạo đức, thờ phượng
cho tới ý đồ cố ẩn dấu vô tình lỡ miệng bị phanh phui, hay bị gán ép với mục
đích nào đó, nửa đùa, nửa thật trong lúc say xỉn. Nếu không để ý đến những lời
ngang ngược, bất thường, được trích dẫn từ sách nào đó, mà đọc như đọc truyện,
tập bản thảo chẳng khác gì sự diễn tả nồi cám heo, muôn thực phẩm thừa, người
ăn chẳng hết, nhào nháo quăng vào và khuấy lên đổ vào máng.
Dẫu theo đạo Công giáo,
nhưng tôi giật mình vì câu nói, “Gặp phật giết phật, gặp tổ giết tổ” được trích
từ Lâm Tế Lục; “không tin ai hết, không để ai lừa dụ.” Ah, nào khác gì thánh
Phao lô khuyên nhủ, “Đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi đánh bã anh em
theo thể thống người phàm, theo nhân tố trần gian, chứ không theo đức Kitô”
(2Thes, 2:3). Tại sao nhà Phật thì “Gặp phật giết phật, gặp tổ giết tổ,” trong
khi Phao lô lại khuyên, “Đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi đánh bã,” mà lại
còn“theo đức Kitô?” Dĩ nhiên, là người Công giáo, lại theo học trong chủng viện
mấy lời Kinh Thánh nơi Tân Ước đương nhiên đã trở thành nền tảng đối chiếu nơi
tâm trí. Nghĩ như thế, tôi lại tự hỏi, theo thánh Phaolô, “Theo đức Kitô” mang
nghĩa gì, áp dụng thế nào trong suy nghĩ, suy tư nếu “Đừng để ai đánh bã?” Theo
nhà Phật, dẫu cố ép mình giảm bớt tham sân si để được giải thoát, và dẫu muốn tạo
phước để cầu giải thoát thì vẫn còn bị ràng buộc bởi chính ý định muốn được giải
thoát. Kiến có nghĩa nhìn thấy, nhưng nơi văn tự hay ngôn từ nhà Phật, kiến tức
là nhận ra, nhận thực được. Kiến tính thành phật là nhận thực ra tâm Phật đã ở
nơi mọi người. Tính là Chân Như, Thượng Đế nội tại. Ah, đức Kitô cũng là Thiên
Chúa nội tại, Atman, Đại Ngã nội tại, Thần Khí, Thánh Thần nơi câu, “Thân mình,
thân xác anh em là đền thờ của Thánh Thần ngự trong anh em” (1Cor, 4:19). Theo
đức Kitô là tự nghiệm, tự suy nghĩ mà thôi.
Tuy nhiên, tôi tự hỏi, nếu
tùy thuộc duyên sao lại đặt vấn đề kiến tính? Nếu có “Tính” để kiến mắc mớ chi
nói đến duyên. Nếu duyên hội hợp tự nó vô chừng không lệ thuộc ý thức con người
sao phải kiến tính bởi “Tính” đâu tùy thuộc duyên. Nhà Phật có tâm hay tính
cũng là Chân Như nơi mỗi người, tại sao còn bày ra lý thuyết nhân duyên. Thân
xác chỉ là hội hợp của tứ đại, chẳng lẽ duyên là cơ hội hay trường hợp của tâm
tùy duyên hòa cùng tứ đại. Vậy định luật, sự sắp xếp nào để duyên tuân theo khiến
ai cũng có hai mắt, một mũi, một miệng, hai tai đầy đặn đúng phương vị, muôn thứ,
loài nào giống ấy, ngay cả cây cỏ, hoa lá. Phật học phát sinh từ Ấn Độ nên có lẽ
lý thuyết phần tâm linh con người bắt nguồn từ Ấn học do đó lý thuyết tâm Chân
Như chỉ khác tên và lối trình bày như nơi bản thảo được viết, “Như vậy, con người,
các vật chung quanh, không khí, cây cối, là hiện thể của Chân Như, Quyền Lực Hiện
Hữu… Tu chứng là hành trình đạt đến nhận thức này. Kiến tính là thời điểm thực
sự đạt đến trạng thái này. Bởi thế, Phật học quan niệm mình không phải là mình
mà chính là Chân Như hiện thể trong diễn trình biến chuyển. Nói cách khác, tất
cả mọi sự, mọi vật, mọi ý niệm, ước muốn, toan tính, chỉ là những biến chuyển của
Quyền Lực Hiện Hữu liên tục.”
Như thế, “Cái Tâm,” “Cái
Tính,” nào khác gì linh hồn, Thượng Đế nội tại, Atman. Nơi Lão học, “Tào như nước,”
“Thượng thiện nhược thủy,” động từ của nó là gì? Bực thật, không biết chữ Nho,
chẳng hiểu luật chữ Hán, Nhưng thử đặt mình trong câu văn, “Thiên địa bất nhân,
dĩ vạn vật vi sô cẩu. Thánh nhân bất nhân, dĩ bách tính vi sô cẩu.” Nếu đặt
mình nơi vị thế thánh nhân nơi hành trình kiến tính, thì vạn vật là tất cả những
mơ ước, tham vọng, ý nghĩ, giận, yêu, thương, ghét; bởi, “Thị dĩ thánh nhơn, xử
vô vi chi sự; hành bất ngôn chi giáo, vạn vật tác yên nhi bất từ, sanh nhi bất
hữu, vi nhi bất thị, công thành bất cư, phù duy phất cư, thị dĩ bất khứ.” “Vậy
nên thánh nhân dùng vô vi mà xử sự, dùng bất ngôn mà dạy dỗ để cho vạn vật nên
mà không cầu, sống mà không chiếm đoạt, làm mà không cậy công, thành công mà
không ở lại, vì bởi không ở lại nên không bị bỏ đi.”Đây chính là diễn trình kiến
tính. Tính, Tào, đã sẵn nơi mình, nhận biết, nhận thức, suy tưởng thì không “vô
vi mà xử sự” thì là gì. Ối giào, dịch với diệt, luận với bình, lọ với chai!
Thế tư tưởng, tham vọng,
cái dục, ở đâu mà có? Bộ óc thuộc vật chất không thể nào kiến tạo hay phát sinh
tư tưởng. Vậy bản năng, khả năng chốn nào dựa dẫm. Một khi linh hồn thoát ra khỏi
xác được gọi là chết thì mọi hoạt động hữu vi, nhân sinh, và khả năng bản năng
cũng như suy tưởng, suy tư, hoàn toàn mất hết. Như vậy, bản năng, tâm trí đều
phát xuất, lệ thuộc linh hồn, cái tâm, cái tính, cái thượng đế nội tại. Đánh võ
lệ thuộc phản ứng do tập luyện cộng với nhận định phát sinh quyết định phản ứng.
Cái ý phát sinh từ linh hồn; ý dẫn khí; khí dẫn huyết; huyết đả thông kinh mạch.
Gốc của mọi hoạt động, ước muốn, ý nghĩ, tham vọng đều do linh hồn, cái tính,
cái tâm, chủ động.
Yoga, dùng cái ý, định
tâm, dẫn hơi thở đào luyện thân xác thì cũng chính là ý dẫn khí, khí dẫn huyết
đả thông kinh mạch. Nhà Phật chỉ “Kiến Tính,” nhận biết, đối diện để nhận thức
cái tính, cái linh hồn. Kiến tính cần định tâm. Hành thiền, tâm trí dồn về một
mối suy tư trong khi làm việc. Nhà Ấn, mật tông Tây Tạng, mật tông Ấn, quán tưởng,
dùng ý dẫn khí, khí dẫn huyết đả thông kinh mạch phát sinh lắm chuyện. Phỏng
đây là cách luyện tập nội lực? Thế tôi vừa chạy vừa dùng ý định vận chuyển hơi
thở theo đốc mạch thì sao?
Chạy và dùng tâm ý chuyển
vận khí theo kinh mạch là áp dụng hành thiền, lúc nấu ăn hay trong khi ăn cũng
hành thiển, trước khi ngủ cũng để tâm vận khí theo đường đốc mạch, nhưng không
biết trong lúc ngủ có vận khí được chăng. Thực hiện như thế, bởi luôn luôn để
tâm chuyển vận khí, tôi thực hành định tâm luôn luôn nên không để ý đến những
chuyện xung quanh dẫu mắt vẫn nhìn thấy, tai vẫn nghe. Cũng phải cảm ơn tác giả
bản thảo đã bày ra hay có chủ đích mượn cớ rượu bia say sưa cho thành viên nhóm
nhậu phát biểu những điều khó nói, đôi khi bị coi như lãng nhách nhưng lại là
những vấn đề then chốt cho hành giả thực tập hành thiền. Ít nhất, tôi đã nghiệm
được định tâm trong khi các sách vở chỉ nhắc đến hay nói lên sự quan trọng của
định tâm mà chẳng bao giờ đưa ra được phương pháp thực hành. Chẳng hạn, lục tổ
Huệ Năng nêu lên, “Kiến Tính” với lý do, “Ngồi nhiều sinh bệnh;” Đạt Ma sư tổ
phát minh Dịch Cân kinh, sau này Thiếu Lâm sửa đổi, bổ túc để có Thiếu Lâm Dịch
Cân kinh, nhưng lại bị bó buộc nơi những thế tập luyện, vẫn không giải thích tại
sao hay chứng minh sự phát triển, khai triển, các thế luyện tập đó tiến triển
ra sao, chẳng khác gì các giáo điều nơi tôn giáo.
Cả thời niên thiếu của
tôi được hướng dẫn và dưỡng dục với những giáo điều tôn giáo, cứ như từ trời
rơi xuống. Đọc sách vở, truyện hay biên khảo cũng thế, sách vở chỉ nói lên cái
nhìn phiếm diện, rồi giỏi lắm thì trình bày một cách khách quan tâm tình của
tác giả chứ không đào sâu, hoặc nói gì về hiện trạng của thực thể vấn đề, giúp
độc giả một cách nào đó liên tưởng hoặc nhận biết thực trạng cảm nhận, hay diễn
tiến nơi lòng mình, hầu nhận biết phản ứng nội tâm của mình ra sao. Thí dụ nơi
sách Thiếu Lâm Dịch Cân Kinh, phần “Cách Luyện Chưởng Phong,” lời khuyên được
viết, “Làm lập đi lập lại như trên nhiều lần khi mỏi thì đổi tập tay trái.” Thử
hỏi những cử điệu, thế luyện chưởng như vậy không có ý định, chuyển vận năng lực
nơi thế đánh, nào khác chi một người máy đánh võ; và nếu để một người máy đánh
chưởng như thế liên tục cả ngàn năm phỏng có phóng được chưởng nào khiến tắt nến
được không? Ý dẫn khí; khí dẫn huyết; huyết đả thông kinh mạch. Ý dẫn khí; khí
dẫn năng lực phát huy thành chưởng phong. Tôi không luyện “Bàn Tay Xuyên Chuối”
và chưởng phong vì lý do riêng nên miễn bàn sự diễn tiến, thành quả phát triển
của chúng, nên chỉ dám nói đến sự quan trọng thiết yếu, hay ắt có và đủ chính
là định tâm, dồn tâm ý dẫn khí nơi hành động thì mới đem lại kết quả tiến triển.
Ai thực hành, sẽ biết.
Từ sự nhận thức về định
tâm nơi hành thiền, tôi nhận ra sự thiếu sót của mình, hay của bất cứ ai, khi đọc
sách đạo học, nói cách khác, đọc các kinh sách căn bản của tôn giáo. Ít nhất,
suốt hơn kém mười năm, đầu óc tôi bị ray rứt, khốn khổ với câu Phúc Âm, “Kẻ yêu
cha mẹ hơn Ta, không đáng là môn đệ Ta” (Mt. 10:37). Tôi rất thương bố mẹ tôi;
bởi chẳng những được bố mẹ ưu ái, cưng chiều. Cũng chỉ vì ốm yếu, mẹ tôi đã phải
tiêu pha tiền để thuê thày dạy võ cho tôi dẫu gia đình tôi không khá giả gì, hầu
tôi khỏi bị trẻ ở nhà trường bắt nạt. Mỗi khi nghĩ về lòng thương, lòng ưu ái của
bố mẹ, tôi muốn khóc vì cảm nhận tình của bố mẹ đối với mình, với anh chị em
tôi. Làm sao tôi có thể chấp nhận kính mến Chúa hơn yêu thương bố mẹ.
Nơi nhà trường, các thày
cô dạy giáo lý giảng dạy về lòng kính mến Chúa, hết lòng hết sức, thì cũng chẳng
khác gì lặp lại những thành ngữ, phát biểu giống như như những chiếc máy thâu
băng, phét lác. Thực tế chứng minh, họ dùng tiền lo cho con cái họ hơn là đóng
góp cho nhà thờ, mua sắm, nuôi nấng con cái họ hơn tiền cho nhà thờ trong khi
hùng hồn giảng thuyết về tin, về kính mến Chúa nơi những giờ giáo lý. Đồng thời
tôi cũng dược dạy dỗ rằng, Phúc Âm là lời của Chúa. Lời của Chúa là lời hằng sống,
lời để mà sống, để thực hiện, thực hành trong cuộc đời, theo quan điểm luân lý,
đạo đức nhân sinh, thế tục thay đổi, biến chuyển theo thời điểm khác biệt.
Nơi tòa giảng, các linh mục
cũng lặp đi lặp lại phải kính mến, thờ phượng Chúa trên hết mọi sự, trên hết
ngay cả gia đình, bố mẹ, anh chị em, phải hy sinh vì Chúa, lại phải yêu thương
người khác như chính mình. Nói thực lòng, tôi yêu thương bố mẹ tôi vì tôi cảm
nhận được lòng của bố mẹ tôi đối với tôi; chứ đối với anh chị em tôi, sao tôi
có thể yêu thương họ như chính tôi, phương chi người ngoài. Cha thì quyền năng,
nhưng không phải vất vả làm lụng như những người khác nên khuyên dạy phải đi lễ,
đi nhà thờ, phải thế nọ, phải thế kia, phải tin vào Chúa dẫu chẳng biết Chúa là
gì, phải sống tốt lành kẻo mất linh hồn cho dù không biết linh hồn của mình là
chi, thế nào, nhưng chỉ sợ bị phạt. Chúa gì mà kỳ cục, tôi nghĩ. Đôi khi làm điều
gì không nên, bố mẹ tôi chỉ răn dạy, đâu có đánh tôi. Thật khó cho tôi hiểu bị
xuống hỏa ngục đời đời là thế nào, chỉ được dạy rằng kinh khiếp lắm, nào lửa
sinh, lửa diêm, thiêu đốt liên lỉ.
Lớn dần, tôi cảm nhận được
lòng yêu thương của bố mẹ tôi bao nhiêu thì tôi lại thấy sự kính mến đối với
Thiên Chúa mờ nhạt bấy nhiêu. Đọc Phúc Âm, đọc lời Chúa thì cứ cảm thấy vô lý,
kỳ cục. Đang nói chuyện nọ lại xọ sang chuyện kia không thể sao hiểu nổi. Dẫu
theo học nơi chủng viện, nhưng sao lời Chúa đối với tôi chỉ giống như những lời
dạy cách ăn ở sao cho thuận với luân lý, đạo đức nơi nhà thờ. Các cha giảng thì
cũng phân tích, giãi bày Phúc Âm theo lối sống được cho là tốt lành, được chấp
nhận đứng đắn nơi xã hội. Tuy nhiên, tôi có cảm nghĩ mình bị coi là có lối sống
hư hỏng, hoặc các cha đang dạy cho mình biết những điều chẳng ra gì. Kính mến
Chúa là kính thế nào, phải làm sao, phải đi nhà thờ, phải đọc kinh cầu nguyện.
Cầu nguyện thế nào, được gì, không biết, không hiểu. Có lời giải thích, cầu
nguyện là nói chuyện với Chúa. Không biết Chúa là gì, mông lung, cứ bày tỏ hy vọng,
ước muốn rồi tưởng tượng được nghe, được nhận lời dù có được chuyện gì xảy ra
hay không. Cầu thì cầu, chỉ nghe hay đọc nơi sách vở thấy ai được ơn nọ, phúc
kia, chứ tôi thì không; Chúa có bao giờ nghe lời tôi cầu đâu; Ngài chưa làm cho
tôi bất cứ chuyện gì. Bảo rằng Chúa ban cho gia đình tôi thuận hòa, an bình. Nếu
bố mẹ tôi không chịu khó, làm lụng cực khổ để có cơm ăn áo mặc thì sao có thuận
hòa, sao có an bình. Tôi thấy, cầu thì cầu, cầu cho an bình tâm tưởng, cầu để
có hy vọng theo đuổi mà thôi.
Dĩ nhiên, tôi chăm học
cho đẹp lòng bố mẹ bởi chẳng biết cách nào làm hài lòng bố mẹ hơn. Hơn nữa, học
giỏi nơi chủng viện được các cha giáo cưng chiều, khen thưởng nên tôi thấy mình
tốt lành, sáng giá, thích học, và càng cố gắng học hơn. Ai không thế, nếu mình
khá về môn học nào thì thích ông thày ấy và lại chăm chỉ học môn ấy. Nơi chủng
viện đa số theo học ban C, tôi lại thích đọc sách. Đọc sách biết thêm nhiều thứ
mới, lại thăng tiến khả năng sinh ngữ. Hơn nữa, nơi thư việc của chủng viện, đa
số sách được viết về Phúc Âm, về giáo lý Công giáo nhưng không có được sách nào
thực tiễn minh chứng con người có linh hồn, minh chứng về Thiên Chúa để mình có
thể rờ thấy được, chỉ tin, tin, và tin, chẳng khác gì huyền thoại khiến tôi cứ ấm
ức, làm thế nào, phải thực hành những gì để có thể kính mến Chúa hơn yêu cha mẹ.
Lòng thì luôn luôn ấm ức
bởi không biết cách nào để thực hiện kính mến Chúa hết lòng hết sức, hơn cả yêu
cha mẹ, ngoại trừ sống tốt lành, siêng năng đi lễ, đi nhà thờ. Sách tây, sách
ta đọc được thì chẳng có gì hơn lời các cha giảng về luân lý, đạo đức nhân
sinh. Lớn dần, tiếng Anh, tiếng Pháp cũng thêm phần tiến triển, tôi tìm đọc
sách ngoại quốc, thuộc các loại triết lý, tư tưởng mới; biết thì biết, hiểu thì
hiểu nhưng tất cả, chẳng ăn nhập gì tới cuộc sống của mình, có chăng chỉ đem lại
cho tôi cảm nghĩ mình biết nhiều thứ nên đôi khi nói chuyện, những tư tưởng, lý
thuyết nào đó ăn nhập sâu nơi tâm trí vô tình thoát khỏi cửa miệng, đối nghịch
hoặc phá ngang quan niệm hay luân lý nơi giới hạn cuộc sống bình thường, có người
đã cho rằng tôi có óc bùn.
Cho tới thời gian đọc một
số sách đạo học, đặc biệt nơi cuốn thứ nhất của bộ, Life and Teaching of the
Masters of the Far East, khi đọc tới phần những con nhệch mới lớn đã tự bơi về
nguyên quán của bố mẹ chúng, tôi chợt tỉnh, những gì được viết nơi sách vở là để
khêu gợi nơi tâm trí tôi sự nhận thức, nhận biết điều gì đó tác giả không viết
ra. Từ đó tôi kiếm những sách viết về Phật, Lão, Ấn, Điểm Đạo Ai Cập, mật tông
Tây Tạng, mật tông Ấn v.v… Thực ra, đọc thì đọc kể như đọc để biết, để thỏa mãn
biết thêm, nhưng cứ thấy ngang ngang thế nào ấy. Đến khi đọc tới bản thảo, gặp
mấy lời ăn nói bán trời không văn tự, tôi mới nghiệm được nên đọc và suy nghĩ
thế nào.
- 8 -
Không sợ xấu hổ vì sự dốt
nát của mình, nói cho đúng, đã bao năm, tôi đã không biết cách đọc sách nên đã
bị ấm ức với câu Phúc Âm nghịch thường, “Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta, không xứng với
Ta.” Thực ra, nếu bất cứ ai vẫn chưa biết cách nào áp dụng câu này nơi cuộc sống,
có lẽ cũng chỉ dốt như tôi mà thôi; điều này có nghĩa, đã tiêu phí thời gian,
tiêu phí mạng sống một cách ngu dốt như tôi để có cảm tưởng mình biết nhiều, hiểu
lắm trong khi bị tác giả khinh bỉ từ bao năm trước, ít nhất hơn kém hai ngàn
năm. Xin đừng vội cho tôi là nói ngoa; bởi có câu nói, “Một trăm năm sau khi chết
cái hạnh phúc nhất cho bậc vĩ nhân là có được nhiều kẻ thù” (Stendhal; CCCTN.
Tr. 390). Họ thuộc về bậc vĩ nhân vì họ nói lên cái dốt của mình nhưng chính
mình đã chẳng nghĩ tới.
Nói có sách, mách có chứng;
đã biết bao lần nghe được câu, “Ai có tai thì nghe,” hoặc, “Ngón tay ta chỉ mặt
trăng, nhưng ngón tay ta không phải là mặt trăng,” hay, “Hãy để kẻ chết chôn kẻ
chết của chúng,” tôi đã chẳng hiểu chi, không biết cách nào áp dụng những câu
này nơi cuộc sống. Không nói chi xa vời, tôi tin, tôi nghĩ, tôi cho rằng mình
có linh hồn, thử hỏi, linh hồn là gì, thế nào đối với một người? Nó hình dáng
ra sao, mầu gì, liên hệ với thân xác và cuộc đời một người thế nào. Tin rằng
mình có linh hồn nhưng không biết nó, không cảm nhận được nó thì tin có nghĩa
gì?
Đọc sách lại càng tệ hại
hơn bởi nếu tin vào sách thà đừng đọc sách, “Tận tín ư thư bất như vô thư,” (Mạnh
Tử). Đọc sách mà không suy nghĩ từng câu xem phản ứng hoặc diễn trình tâm tưởng
của mình như thế nào đối với câu đó, hợp hay không hợp, áp dụng vào cuộc sống
thế nào, thì thà đừng đọc, chỉ giết thời giờ, giết cuộc đời mình một cách vô
ích. Đọc để kiếm niềm vui, kiếm nụ cười, người đọc là kẻ đáng thương; không biết
sống để làm gì; có thể nói, đọc mà không suy nghĩ, không nghiệm chứng để sao có
thể áp dụng, thăng tiến nhận thức của mình chỉ là cách tự tử từ từ, thật uổng
phí cuộc đời.
Tôi cảm thấy tiếc cho
quãng đời son trẻ vì đã đọc sách chỉ để lấy kiến thức, không suy nghĩ, không kiếm
cách áp dụng vào đời mình những điều nên, đáng học theo. Lý do cũng bởi nghĩ rằng,
cho rằng mình hiểu, biết câu đó nói gì, nhưng thực ra chỉ hiểu phiếm diện theo
nghĩa từ chương, hữu vi. Thí dụ, “Ai có tai thì nghe.” Tôi đã bị bật ngửa sau
khi thực sự trả lời câu hỏi “Tôi là ai” trên giấy trắng mực đen bằng cách chia
tờ giấy làm hai phần trái phải, với thực tâm, chân thành, một bên ghi xuống những
sự tôi nghĩ, đã làm, tốt lành thánh thiện, và bên kia những gì không nên không
phải tôi đã thực hiện. Ai không nghĩ mình biết rõ về chính mình, nhưng, bé cái
lầm, mình mới thực sự lừa đảo mình hơn ai hết; mình không thực sự dám đối diện
với chính mình. Vị nào bày ra câu hỏi “Tôi là ai,” có lẽ cười, bỡn cợt tôi đến
trẹo quai hàm đã bao năm trước.
Có lẽ, tâm hồn tôi đã bị
tôn giáo mê hoặc quá nặng; nói rằng mê hoặc thì cũng phần nào oan cho tôn giáo;
mà nói rằng tại tôi quen thói ỷ lại chấp nhận những giáo điều được dạy dỗ như
trong hệ thống gia đình thì cũng không sai. Tôn giáo nào không quảng bá những
thánh nọ thần kia phù trợ, giúp sức, nên cầu khẩn, tin tưởng nơi họ đến nỗi in
trí. Ngược lại, nếu tôi nhớ không lầm thì có câu kinh nào đó, “Chớ trông cậy
quá lẽ kẻo khi sa ngã chẳng trở lại cho kíp.” Thế nên khi đọc bản thảo tới câu,
“Ý định cứu giúp người, giải thoát người khỏi những lo âu phiền não vẫn chỉ là
dục. Mà đã là bồ tát thì hoàn toàn đã diệt dục theo lý thuyết nhà Phật, sao còn
có thể giúp ai giải thoát. Vì vậy, nếu nói rằng đức Thích Ca vì thấy con người
trầm luân khốn khổ trong vòng sinh, bệnh, lão, tử, mà kiếm đường giải thoát cho
họ, quả là sự bôi nhọ lớn lao tới danh phận của ngài; vì còn muốn giải thoát
chính mình hay giải thoát cho người vẫn còn là dục,” tôi giật mình vì lý luận
đơn sơ nhưng vững chắc của tác giả. Thế ra, bao lâu nay, niềm tin, sự tin tưởng
của bao người đã rơi vào khoảng không, đã bị những thành phần thiếu suy nghĩ,
nghiệm xét, lừa đảo. Suy nghĩ cho cùng, thực ra, họ không có ý lừa đảo mà chỉ
vì tin theo sách vở theo nghĩa từ chương, hoặc những vị thầy trong chức vụ huấn
luyện họ chẳng khác chi tôi đọc sách hiểu theo nghĩa đen, thiếu suy nghĩ, nghiệm
chứng nên cứ bị bé cái lầm.
Càng đọc, tôi càng thấy mấy
anh chàng to mồm lúc say sưa, đấm đá lung tung với cái miệng, chọc chạch niềm
tin kẻ nọ, bêu riếu điều lỡ miệng của kẻ kia trong nhóm, chẳng khác gì nêu lên
những câu hỏi nghịch luận thách đố tôi phải suy nghĩ. Tới khi ấy, tôi mới nhận
ra các tác giả kinh sách quá tuyệt vời, nói đấy, nhưng thách đố, kích thích người
đọc suy nghĩ, nghiệm xét, và nếu ai đọc mà không suy nghĩ, tưởng là chỉ có thế
thì chẳng khác chi kẻ chết; kẻ chết đâu suy nghĩ gì. Viết đến đây, tôi chợt hiểu
được câu Phúc Âm, “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết của chúng” (Lc. 9:60). Tôi như kẻ
chết đã bao lâu nay giờ mới biết. Nếu không để tâm nghiệm xét, độc giả đều cho
rằng tác giả bản thảo (Không biết đã được in chưa) viết truyện lăng nhăng mua
vui độc giả.
Như vậy, những kinh nọ,
kinh kia nơi sách vở đạo học đều là kết quả nghiệm chứng, nghiệm xét của những
tác giả trước tác, được viết ra làm phương tiện hay cơ hội cho độc giả suy nghĩ
hầu thăng tiến nhận thức. Dĩ nhiên, nhận thức không thể học được, không thể cầu,
mà chỉ có thể ngộ chẳng khác chi ăn uống. Ai ăn người ấy no bụng, ai uống người
ấy hết khát; không ai ăn dùm hay uống dùm được cho ai thì cũng không ai suy
nghĩ dùm được cho ai. Cũng chính nhận biết sự thể không cưỡng cầu được như thế,
tôi cũng hiểu được tại sao Phúc Âm cứ lặp đi lặp lại câu, “Đức tin con chữa
con, đức tin con cứu con” (Mt. 9:22; 15:28; Mc. 5:34; 10:52; Lc. 8:48; 17:19),
mà không có câu nào nói Chúa chữa, Chúa cứu, như thiên hạ huênh hoang truyền
bá. Quả thật mất lòng, phỏng họ không nghiệm xét Phúc Âm như thánh Phao lô đề
nghị, hay không được dạy dỗ cần nghiệm chứng, hoặc có thể được dạy nhưng coi
thưởng bởi, “Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng
chẳng thấy; vì lòng dân này đã ra đần độn” (Mt. 13:15). Quả thật, tôi đã bị coi
là đần độn suốt cả cuộc đời thanh xuân cũng chỉ vì không suy nghĩ.
Suy nghĩ thế nào, theo
chiều hướng chi, bằng cách nào để thăng tiến nhận thức. Nhận thức đã không học
được thì cũng như cảm nghiệm, thực chứng. Hai người nhai hai trái ớt tương
đương vừa bất (hái) từ một cây, mỗi người cảm nhận, thực chứng, và sẽ có những
phản ứng khác nhau. Cùng một sự việc xảy ra, mỗi người có cảm nhận khác với những
người khác tùy thuộc kinh nghiệm, nhận thức riêng của họ. Cũng một ngôn từ,
cũng một lời nói đến tai hai người sẽ gây phản ứng, cảm nghĩ khác nhau. Ah, hèn
chi Huệ Thi bỡn cợt, “Lửa thì không nóng, nhưng tại mình cảm thấy nó nóng.”
Hoàng Xuân Việt chưa nghiệm được sự thể này nên ghi chú, “Không ai hiểu câu này
nói gì.” Như vậy, những câu nói nơi các sách đạo học bày tỏ cảm nhận, phản ứng
của người trong cuộc, không thể diễn tả bằng lời. Hương Nham của nhà Phật ngộ
thế nào, ra sao, chỉ Hương Nham biết, dù được kể ra, cũng không ai có thể biết.
Nhưng phương pháp suy nghĩ, cách nào suy tư để có thể nhận thức, cảm nhận, cảm
nghiệm, những câu nói ngang ngang, ngửa ngửa, nghịch thường nơi sách vở đạo học?
Tại sao câu, “Ngón tay ta
chỉ mặt trăng, nhưng ngón tay ta không phải là mặt trăng,” câu nói quá thường
tình, đứa trẻ lên ba cũng biết sao được nhiều học giả, tác giả nhắc nhở đến nơi
kinh sách cả ngàn năm trước. Lý do gì câu nói, “Ai có tai thì nghe,” những tám
lần được nhắc lại nơi Phúc Âm? Ai không hiểu được những câu này? Tại sao không
nói tai cần nghe, hay nên để tâm, chú ý nghe những gì mà chỉ khơi khơi buông
câu nói, “Ai có tai thì nghe?” Tại sao phải đặt vấn đề, “Nhưng ngón tay ta
không phải mặt trăng” đang khi chỉ mặt trăng?” Câu nói chỉ về thái độ, tâm trạng,
điểm đích, chiều hướng. Mặt trăng mới là đích điểm cho người nhìn chú ý tới chứ
không phải ngón tay. Ah, thiên hạ thường để tâm hướng về người nói, người rao
giảng chứ không cần biết điều gì được rao giảng, được nói. “Ai có tai thì
nghe,” không nói về cái tai nhưng nói về điều được nói tới. Cái tai tự nó không
nghe được, nó chỉ là phương tiện cho cái hồn nghe. Thế nên, câu nói thách đố
tìm hiểu về cái hồn, thách đố độc giả đặt vấn đề cái gì nghe. “Ngón tay ta
không phải là mặt trăng,” ngón tay chỉ mặt trăng mà không để ý nhìn về mặt
trăng lại cứ chú tâm về người nói như thế nào; mà điều cần biết là mặt trăng chứ
không phải ngón tay hay người chỉ thì biết được điều chi. Thích Ca chỉ đường lối
nên thực hiện thế nào để được giải thoát, thì không theo mà cứ nghĩ, cứ cho rằng
Thích Ca giải thoát cho con người khỏi vòng sinh, bệnh, lão, tử. Đức Giêsu rao
giảng Tin Mừng Nước Trời thì không cần biết Tin Mừng là gì, lại cứ tuyên xưng
Chúa đến chịu chết vì tội lỗi thiên hạ.
Làm sao, tôi phải thực
nghiệm thế nào để có thể giải đáp, nhận thức những câu nói kỳ cục nơi sách vở đạo
học, và phỏng những sự nhận thức này đem lại ích lợi gì mà ông Tầm đề nghị tôi
đọc hết đống sách này. Phúc Âm thì không có gì mới đối với tôi, nhưng điều lạ,
hình như đòi hỏi tôi phải tìm cho ra cách suy nghĩ, suy tư; đại khái tôi cần đặt
mình nơi vị thế nào để nghiệm được những câu nói kỳ cục, đang được hỏi thế này,
câu trả lời lại có kết luận nghịch thường, không đâu vào đâu. Bản thảo diễn tả
cảnh rượu chè be bét, ăn nói tào lao thiên tướng, nhưng cũng giúp cho tôi hiểu
và áp dụng định tâm vào vận chuyển khí huyết; kết quả ra sao, nào ai biết vì mới
thử được một tuần lễ. Và tôi quyết định để một buổi sáng thư giãn, không suy
nghĩ cho tâm hồn thảnh thơi.
Làm sao cho tâm trí ngừng
suy nghĩ trong khi nỗi thao thức kiếm tìm phương cách suy tư cứ lởn vởn áp sát
tâm tư. Hơn nữa, càng không làm gì, càng thảnh thơi thì đầu óc càng lộn lạo
oánh nhau với lý này, lẽ kia cố tâm tìm cho ra, hoặc giải đáp vấn đề nào đó. Bởi
vậy, sau khi ăn sáng, tôi chạy bộ ra chợ mua đồ nấu ăn cho bữa trưa. Mười lăm
phút vừa chạy vừa vận chuyển khí huyết theo đường đốc mạch của Dịch Cân Kinh,
tôi có gần hai tiếng lăng quăng nơi chợ. Mua thực phẩm sớm rồikè kè đem chúng
theo hơi phiền, thấy quán cà phê có gần chục khách đang rôm rả nói chuyện, tôi
ghé vô. Nơi quán, có bốn tay mặc đồ xanh, đeo băng đỏ bên cánh tay trái tụ nhau
tại một bàn; ba người đàn ông trung niên có vẻ dân buôn bán thoải mái chuyện
trò nơi góc phải gần quầy tính tiền. Còn lại ba người ăn bận lam lũ có lẽ thuộc
loại dân phu xe chở mướn cho các hàng quán.
- Chú dùng đồ chi, cô
thâu ngân rời ghế đến bàn tôi vừa ngồi xuống hỏi.
Tôi buột miệng nói, “Cho
tôi cái nồi ngồi trên cái cốc,” theo thói quen diễu, dễ học khó chừa, mỗi khi
ghé qua Sài gòn, nếu thấy nơi quán xá hay chợ trời có những anh bộ đội mới vào
trong Nam hoặc công an từ miền Bắc mới được sai phái vô, mới chợt nhận ra bị hớ
vì nơi miền khỉ ho, cò gáy này chưa có bộ đội hoặc ông an được sai phái tới mà
chỉ là những người theo cái gọi là “Giải phóng miền nam” của địa phương trước
thời 75. Có điều, tôi nói giọng Bắc nên sự thể vô tình biến tôi trở thành đối
tượng được đặc biệt chú ý. Một vài cặp mắt hướng về phía tôi, nhưng dẫu vừa chợt
tỉnh, nhận ra mình lỡ lời không đúng nơi, tôi giả vờ như dân Bắc mới vào Nam
nên tiếp tục lên giọng.
- Cô vừa nói đồ là cái đồ
chi?
- Quán em có bánh cuốn chả
lụa, cháo lòng heo, cháo gà cho buổi sớm.
Cô này gọi tôi là chú,
xưng em, dáng người son sẻ, khá hấp dẫn, tuổi chừng hơn hai mươi, có lẽ chưa chồng.
Lùi vô phía trong quầy tính tiền, có người đàn bà trung niên đang sắp xếp ly,
đĩa, muỗm, đũa, mới được rửa, vừa nghe thấy tôi nói, “Cái nồi ngồi trên cái cốc,”
chợt quay ra nhìn, hình như mang vẻ có cảm nghĩ hơi lạ. Tôi cố tình làm ra vẻ
dân “Bắc kỳ rốn” mới vào trong Nam, hỏi tiếp,
- Ở đây có phở không?
Cháo ăn chán thấy mẹ.
- Dạ thưa không. Cháo
lòng heo ở đây ăn hết xẩy, chú dùng thử sẽ biết, không nơi đâu có thể địch lại
được. Chú nhìn coi, ai đến đây cũng gọi món này hoặc cháo gà. Vừa nói, cô vừa
đưa tay hướng về phía những người đang ngồi trong quán; nơi đó, đa số là những
tô, muỗm, và đũa trên bàn, cùng với những ly cà phê đang uống dở. Chú ở Bắc mới
dzô Nam phải “hôn?” Người miền Nam chỉ dân Sài gòn mới ăn phở sáng. Dân miệt
Tây dùng cháo sớm mai, nhẹ bụng lại dễ xơi. Chú dùng cháo lòng nghen, thử cho
biết; coi chừng thử rồi từ “mơi” ghiền cho coi.
Cô bé này ăn nói hấp dẫn,
dễ thương, lại chứng tỏ hiểu biết nhiều, đồng thời pha lẫn khả năng quảng cáo
chuyên nghiệp. Chỉ mấy câu nói đã phân biệt được đặc tính của dân Sài gòn và
dân tỉnh lẻ miền Tây, rồi nào là quảng bá cho món cháo lòng heo, nào là hỏi dò
gốc gác của khách, lại khuyến dụ khách ăn thử. Có lẽ cô bé này cũng được ăn học
nên cho đến nay vẫn chưa kiếm được người xứng đôi vừa lứa làm chồng nơi miền
quê này chăng. Nghĩ thế, tôi mở lời hứa hão, đò đưa,
- Thôi để lần sau thử
nghiện xem sao, cô làm ơn cho tôi một cà phê phin là được. Thế sao cháo của
quán cô tuyệt vời như vậy mà cô vẫn giữ được vẻ thanh bai, hấp dẫn như thế. Cái
miệng của tôi dẻo chưa? Tôi định nói, sao cô không mập như những người bán quán
khác, nhưng, lần đầu, dùng cách đơn sơ, chất phác nịnh đầm rõ ràng, trắng trợn,
mang vẻ thật thà, chân thành, mộc mạc, thấy sao nói vậy; quả là táo bạo, chừng
như cá chưa kịp câu đã vội đớp.
Thì tướng mạo tôi cũng
không đến nỗi tệ, cao ráo, sạch nước cản, lại có niềm tự tin mình thuộc dân
sinh viên, sinh hòn, võ vẽ đâu thua kém ai mà chỉ có hơn. Đàng khác, với tuổi
thanh niên quen thói ba hoa phóng đãng, tự cho mình là cái rốn của vũ trụ nơi
trường hợp độc thân, cao ngạo quen thói thì nào tôi đâu cần kiêng nể chi ai. Có
lẽ mấy người khách dùng sáng tại đây đã biết gia cảnh hoặc thân thế, vị thế của
cô ra sao nơi miệt tỉnh lẻ này; nên không ai có thái độ bất thường nào khác,
cùng lắm chỉ có người đưa mắt liếc thoáng qua tôi rồi tiếp tục uống cà phê hay
ăn cháo. Tôi thấy vậy nên yên tâm đò đưa với cô bé. Thực ra, lòng tôi không
ngán bất cứ ai nơi quán nên thả lỏng tâm tình tán hươu, tán vượn một cách thoải
mái, nhưng cũng phải canh chừng chiếc miệng vì cảm thấy hình như cô bé này thuộc
loại người được học hành ít nhất cũng hơn kém bậc trung học. Vả lại, bị nhiều lần,
khi nói chuyện với bạn bè, tôi đã vô tình phát biểuý nghĩ, nhận định, điều thực
sự đang xảy đến nơi tâm trí đôi lúc trái ngược với quan niệm bình thường do đó
trở nên bất thường và bị coi là thế nọ, thế kia, óc bùn.
- Anh nên thử cho biết;
không thử cho biết lại nghĩ rằng em nói láo.
- Tôi nào lạ gì cháo
lòng, không tin cô thử ghé qua Bà Điểm, Hàng Xanh, Hố Nai, Gia Kiệm, hoặc Túc
Trưng, Bàu Cá, đâu thiếu gì nơi bán cháo lòng. Nơi quán bà Tân ở Gia Kiệm còn
có nem thính Bắc kỳ hoặc bê thui và cháo lòng, rượu đế Long An, cũng như bách
nhật nếp than hay đế đậu nành.
- Sao anh biết nhiều thứ,
nhiều nơi dzậy, bộ anh là Bắc kỳ 54 sao?
- Dĩ nhiên, không vậy sao
có thể trôi lạc đến đây. Thế sao cô biết dân Sài gòn thích ăn phở buổi sáng?
- Em đi học ở Sài gòn mà;
năm 75 sau khi thi tú tài hai, làm ăn khó khăn nên em trở về đây buôn bán với mẹ.
- Sao cô không tiếp tục học
đại học mà ngưng ngang?
- Ba em còn đang ở trong
trại cải tạo, đâu ai giúp mẹ em lo hàng quán và thăm nuôi ba.
- Ông là sĩ quan ở binh
chủng nào?
- Sao anh biết ông là sĩ
quan?
- Thì sĩ quan mới còn ở
trại cải tạo. Những cấp bậc từ chuẩn úy trở xuống đâu ai phải ở trại cải tạo
đâu.
- Thế sao anh không phải
đi cải tạo?
- Tôi đâu thuộc loại sĩ
quan. Năm 72 tôi vừa xong tú tài hai thì lệnh động viên xảy đến, và vì muốn lấy
cử nhân văn khoa và luật khoa nên tôi gia nhập nghĩa quân để tiếp tục học, thì
75 tan hàng, rã nghé, có học thêm cũng chẳng làm gì được nơi xã hội này, và thế
là ngày ngày chạy ăn từng bữa cho qua kiếp người. Thử hỏi, cử nhân văn chương
thì làm được chi bây giờ trong khi người người phải lo từng miếng cơm, manh áo.
Luật sư, kiến trúc sư ai thuê nơi xã hội hợp tác xã, bao cấp. Cô không nhớ Trần
Tế Xương đã than sao, “Biết thế ngày xưa đi làm quách, chẳng ký không thông
cũng cậu bồi.” Cô còn “Bồi bàn lắm khi buồn ngơ ngẩn,” phương chi tôi, thì cũng
đành rơi vào cảnh, “Tứ cố vô thân chán chửa đời.” Cô hãy còn hơn tôi, còn có
công việc cho quên ngày tháng cũ; riêng tôi, đối diện với “mộng ước xa xôi đã lỡ
rồi,” nào có chi mà nói.
- Trúng đài, đúng là dân
văn khoa, hèn chi khác người.
- Có chi mà khác, thời thế,
thế thời phải thế mà thôi.
Bà trung niên thấy con
gái tiếp tục nói chuyện, bưng cà phê ra cho tôi. Cô gái lên tiếng,
- Đây là mẹ em, chủ cái
quán này. Má à, anh này là dân 54 giống ba đó. Thứ mà má hay nói Bắc kỳ dẻo miệng…
- Chào cậu; thế cậu về
đây có việc chi.
- Cháu mới về đây được
hai tuần, đang định kiếm công việc làm sống qua ngày, nhưng chưa biết tính sao.
- Thế gia đình cậu ở mãi
đâu lận? Định về đây mần thì mần thứ chi?
- “Phi thương bất phú,”
cháu đang tìm kiếm có thứ gì mang về Sài gòn buôn bán được không, chẳng hạn như
trái cây hoặc rau quả.
- Lúc này, gạo còn không
có mà ăn, phải ăn bo bo thì lấy tiền đâu mà mua rau quả. Hơn nữa, từ đây tới
Sài gòn nào xa xôi gì, người ta thường dùng xe máy hoặc đi xe đò mang rau quả
lên Sài gòn. Tôi nghĩ, buôn rau quả, trái cây không thuận đâu. Chi bằng mở quán
ăn hay tiệm bán thực phẩm, cá khô, mắm muối, mới có tiền dzô ngay.
- Ở đây đâu có bao nhiêu
dân cư mà mở thêm quán ăn!
- Nếu mở quán ăn thì mở
nhỏ thôi, miễn sao sống qua ngày, mà mở nơi khu gần chùa Bà Đen. Tín đồ thập
phương nhiều nơi thường về cúng bái, xin xâm, lễ hội. Nếu phát triển, sau này mở
lớn thêm, và nếu thất bại thì cũng không đến nỗi nào. Thực ra, vấn đề làm ăn đều
lệ thuộc phận số; bởi vậy, chỉ nên giới hạn trong tầm tay với. Nếu vung tay quá
trán, và không tìm hiểu cũng như nhận định cho kỹ, coi chừng, “Chưa buôn vốn vẫn
còn dài, buôn thì vốn đã theo ai mất rồi.”
- Sao bác nói năng văn
chương quá vậy, tôi hỏi.
- Nhờ ba em đó, má em học
từ ba em, ông bắc kỳ dẻo miệng, má em thường nói vậy, nghe riết rồi cũng quen.
- Sao cô gọi là ba mà
không gọi là tía như tiếng địa phương?
- Ngày còn nhỏ, em gọi là
tía, nhưng từ khi đi Sài gòn học, nói chuyện với bạn bè, nghe qua lại rồi nói
theo luôn.
Có người gọi tính tiền,
cô gái bỏ đi và bà mẹ cũng trở về bếp. Còn gần tiếng đồng hồ, tôi đi rảo qua
các cửa tiệm quanh chợ. Ghé tiệm thuốc bắc, hỏi thử xem ai có mẻ xin một ít về
gây giống, và được ông cho biết, chỉ cần, “Cho một chén cơm nguội và một ít nước
đường vào một lọ thủy tinh sạch, rồi đậy thật kín. Sau hơn một tuần là có mẻ để
sử dụng.” Thế thì dễ rồi, tôi sẽ thử, và nếu được, chỉ một tuần sau có gỏi nhậu.
Vườn nhà có đủ mọi thứ lá thơm, rau, húng, ngò gai, lá mơ. Có cây vọng cách nơi
góc vườn cạnh chân đồi. Ah, còn thiếu cây đinh lăng; ghé qua vườn bán cây kiểng,
tôi mua chậu đinh lăng; trả tiền, hẹn sau khi mua đồ trở lại lấy. Trưa nay ăn
món gì, tôi thầm tính, giả cầy nấu với bột me, ăn với bún, nhúng rau cải xanh.
Cũng nhanh thôi, rau nhà có sẵn, riềng, hành tỏi không thiếu. Tới tiệm hàng
xén, mua gói me chua, đoạn vô chợ mua cái chân giò, trở về vườn bán cây kiểng lấy
cây đinh lăng. Thấy tôi ôm cây đinh lăng về tới, ông Tầm hỏi,
- Anh kiếm cây đinh lăng
về làm gì vậy?
- Cháu mua về để ăn gỏi,
nhưng bác có biết trồng và phân bón thế nào để nó phát triển nhanh không?
- Nhanh là thế nào, cỡ
bao lâu?
- Cỡ tám đến mười ngày.
Cháu muốn ăn gỏi cá rô phi với dấm mẻ bắc kỳ. Cháu đã biết cách làm mẻ, cỡ một
tuần là có mẻ để nấu giấm ăn gỏi cá rô phi.
- Thế anh muốn uống rượu
gì khi ăn gỏi?
- Bộ bác thừa tiền để uống
rượu ngoại à?
- Vậy anh nghĩ tôi nuôi
cá rô phi để làm chi? Anh nghĩ chỉ mình anh biết ăn gỏi dấm mẻ theo kiểu Bắc kỳ
ư?
- Vậy bác định uống rượu
gì?
- Rượu đậu nành! Ngạc
nhiên hả, để đến lúc đó rồi sẽ biết. Nếu tôi không lầm thì hôm nay anh làm quen
thêm được người đẹp mới phải không?
- Bác nói đúng, nhưng
cháu vẫn chưa biết tên.
- Sao không hỏi, cô bé
xinh xắn và có học thức đấy chứ?
- Cháu lỡ miệng chọc bộ đội
nhưng không có bộ đội ở đó, quê quá, cháu kiếm cớ lãng đãng nói chuyện với cô
bé thâu ngân; ai ngờ nàng chính là con bà chủ quán. Nói cho đúng, có lẽ tại
cháu không có chút ý nghĩ, mơ ước, hay ý định, chiều hướng gì về có một gia
đình nên chẳng cần biết gì thêm chăng. Mục đích sáng nay của cháu là kiếm dịp
cho đầu óc thảnh thơi, không muốn suy nghĩ gì. Thực ra, nếu có ý định lập gia
đình, có lẽ Lan, em của Ba như bác biết là sự lựa chọn tốt nhất. Nhưng…
- Được rồi, để tôi gây mẻ,
nấu rượu đậu nành. Còn cây đinh lăng này thì trồng khôngkhó chi, miễn là không
nơi đọng nước, đất xốp, có độ ẩm trung bình với phân chuồng. Thôi, tôi sẽ trồng
cây; anh đi nấu ăn; mà hôm nay anh định ăn món gì vậy?
- Hôm nay nhân nghĩ đến
giấm mẻ, cháu nhớ đến món giả cầy ăn với bún. Chưa có mẻ nên đành nấu với me vậy,
nhúng rau cải xanh. Có lẽ mai, cháu sẽ ghé vô tiệm thuốc bắc cân lấy một vài
thang lao tâm lao lực về ngâm, lỡ đôi khi có món khoái khẩu nhâm nhi cho cuộc đời
thêm thi vị. Cũng đã lâu rồi, cháu chưa có cơ hội quên trời quên đất, quên cả
thân mình.
- Cũng tốt thôi, trưa nay
mình sẽ dùng rượu ngâm thuốc chống tê bại của đại tá hải quân Hồ Tấn Quyền cho
thông máu. Tôi ngâm đã sáu tháng rồi.
- Bác để nơi nào mà cháu
không thấy?
- Tại anh không có con mắt
gián điệp.
- Bác nói con mắt gián điệp
là sao?
- Nói chuyện với người ta
cả tiếng đồng hồ mà không thèm biết tên. Tôi phải đi mua rượu để pha thêm cho dễ
uống, rồi mình thử quên trời đất một buổi xem có thảnh thơi hơn không.
Ngày tháng vụt trôi, mới
đó mà đã ba tuần, cái bản thảo khiến đầu óc tôi quay mòng mòng nhưng cũng giúp
tâm trí lối nhìn mở rộng, chẳng những chân thành chấp nhận chính mình thực sự
thế nào, giới hạn ra sao, mà còn nhìn sự việc, sự thể cuộc đời với nhãn quan nhẹ
nhàng, thuận theo. Dĩ nhiên, trời nóng thì mặc đồ mát và rán chịu đựng nếu có
thể; còn không, đành ở trong bóng râm cho dễ thở. Tối nay trong lúc uống trà
sau khi ăn cơm, ông Tầm bỗng hỏi,
- Anh đã nhận ra con mắt
nhìn trong giấc mơ của mình và đã biết cách áp dụng nó chưa?
- Nhận ra thì được, cách
sử dụng thì chưa.
- Tôi không hỏi cách sử dụng,
tôi muốn nói đến áp dụng.
- Bác nói áp dụng là sao?
- Con mắt nhìn trong giấc
mơ chỉ có thể xuất hiện khi lòng mình thực sự định tâm. Nơi trạng thái ấy mình
mới nhận biết mình nơi vị thế nào của sự việc hay sự thể để nhận ra ẩn ý được gọi
là nhận thức.
- Bác có thể nêu lên một
thí dụ được không?
- Hãy nói cho tôi biết,
câu nói nào làm phiền tâm trí anh nhất, nó như đóng băng sự suy nghĩ của anh.
- Đó là câu nói nơi Đạo Đức
Kinh, “Thượng thiện nhược thủy; thủy thiện lợi vạn vật,” được cụ Nguyễn Duy Cần
dịch là, “Bậc thượng thiện giống như nước; nước thì hay làm lợi cho vạn vật mà
không tranh.”
- Đó là sự hiểu biết, nhận
địn của cụ Nguyễn Duy Cần, không phải của anh.
- Cháu đâu biết chữ nho
nên…
- Thế anh không nhớ câu
nơi Trang học, “Được chim quên ná, được cá quên nơm, được ý quên lời” rồi ư?
Tôi cũng không biết gì về chữ nho, chữ hán, nhưng chỉ biết nguyên tắc ắt có và
đủ để đọc mấy sách đạo học, và đó là những câu nói ngang ngang, bất thường đều
là kết quả của những nghiệm chứng. Tác giả buông câu nói không đầu, không đuôi,
hoặc có đầu thì đầu nói về chuyện này nhưng đuôi nói chuyện gì xảy ra nơi chính
tâm tư người đọc; nói cho đúng, về chính trạng thái tâm tư, tâm hồn của anh; điều
đã xảy đến nơi tâm tư của tác giả. Thí dụ, nơi cuốn Trang Tử và Nam Hoa Kinh, cụ
Nguyễn Duy Cần có ghi lại câu nói của Huệ Thi, “Lửa thì không nóng, nhưng tại
mình cảm thấy nó nóng.” Nên để ý, trong tâm tư làm gì có lửa, nhưng tại sao lại
nói “Tại vì mình cảm thấy nó nóng?” Có phải lửa đây được dùng để chỉ về điều gì
khiến mình cảm thấy bực điên lên không? Được ý quên lời là thế, sấm đàng đông,
động đàng tây là thế. Đặt mình vào vị thế nào đó của câu nói, suy nghĩ, đặt vấn
đề sự việc, sự thể nơi trường hợp, trạng thái nào hầu biết được nhận thức của
mình ra sao. Bây giờ, tự đặt anh vô câu nói, “Thượng thiện nhược thủy; thủy thiện
lợi vạn vật,” anh có thể phân tích diễn biến, diễn trình suy nghĩ được không?”
- Thượng thiện nhược thủy,
tôi lẩm bẩm lặp lại. Tôi đã thực hiện đặt mình nơi vị thế nào đó của câu nói
nhưng vẫn cảm thấy áy náy bởi vì cho rằng thượng thiện chỉ được dành cho Thiên
Chúa; thế nên lên tiếng hỏi lại,
- Nếu đặt mình nơi vị thế
thượng thiện thì phỏng có là phạm thượng không, thưa bác.
- Trong suy nghĩ, tư tưởng,
vấn đề xảy đến hoặc liên tưởng tới không đúng sai, phải trái chi hết, chúng hiện
hữu chứ không đụng chạm đến thần thánh nào hay bất cứ ai. Chẳng hạn câu nói,
“Cái bóng của Thượng Đế là quỷ vương.” Anh thử nghĩ xem, anh nên đứng nơi vị thế
nào. Thượng Đế là toàn hảo, tuyệt hảo; quỷ vương là dối trá, đốn mạt. Mọi câu
nói nghịch thường đều nói về chính mình, thì anh nhận thức được gì nơi câu nói
này? Không phải là chính anh sao? Anh có những điều tốt lành, thánh thiện; đồng
thời anh cũng có những điều đốn mạt chính mình cũng không chấp nhận nổi. Thượng
Đế cũng là anh; quỷ vương cũng là anh thì có phạm thượng không?
- Cảm ơn bác, cháu đã hiểu.
- Anh đã đọc xong cuốn
Thiếu Lâm Dịch Cân Kinh; thế anh đã có thể áp dụng nguyên tắc vận khí của
Taekwondo vào hành thiền chưa?
- Cháu không hiểu bác muốn
nói áp dụng thế nào.
- Anh có biết tại sao tôi
nói đi chợ không đi xe đạp chứ?
- Cháu chạy thay vì đi bộ.
Trong khi chạy, cháu dẫn khí theo đốc mạch, chưa dám thử ngược lại theo nhâm mạch,
đồng thời điều hòa nhịp thở vô hay ra mỗi chiều mười bước mới được hai tuần, thấy
có điều gì khác lạ đôi chút nơi bản thân.
- Anh liều nhưng áp dụng
kiến tính giỏi hơn tôi có thể nghĩ tới.
- Nghĩa là sao, thưa bác.
- Sở dĩ tôi muốn anh đi bộ
với chủ đích anh có thể ngộ ra được thế nào là hành thiền. Thực ra, trước khi
biết được hành thiền cần phải biết định tâm, không lệ thuộc giải thích nơi sách
vở, nghĩa là không tin ai hết, không lệ thuộc quan niệm, lý thuyết nào để rồi
áp dụng nguyên tắc ý dẫn khí khi đi bộ. Đàng này, anh áp dụng vào chạy bộ và
hòa hợp với nhịp chạy. Tôi nghĩ, qua hai tuần, anh đã có thể chạy 15 bước mỗi
nhịp thở ra hay hít vô. Anh đã thử chưa?
- Chưa, bởi cháu e người
ta sẽ chú ý.
- Anh luyện võ có thấy
khác chút nào không?
- Hình như dễ dàng và
nhanh hơn trước, nhưng chưa thực sự áp dụng hành thiền vô khi luyện vì còn phải
chú ý tới thế đánh để phát huy biến thể.
- Mới đầu, chỉ có thể dồn
năng lực vô từng thế đánh tới giai đoạn khí công đạt tới mực độ nào đó mới tự
nhiên phát huy được. Tôi nghĩ, nội trong một tuần nữa, anh sẽ nhận ra nhiều điều
bổ ích khi đọc tới phần Ấn học, mật tông Ấn. Nếu có lớp dạy võ, anh có đồng ý
làm võ sư không?
- Đó cũng là điều tốt
thôi, lại có nhiều giờ luyện hơn nữa. Nhưng việc nhà…
- Cảm ơn anh đã có lòng
chiếu cố. Tuy nhiên, xưa nay anh chưa về đây, tôi vẫn tự xử được mà. Có điều,
dàn xếp để anh dạy võ, nhưng tôi không dạy đâu. Nếu cần, tôi sẽ bàn luận và giải
quyết trong vòng bí mật.
Một tuần sau, tôi được
dàn xếp để trở nên võ sư của lớp luyện võ. Lớp luyện võ chỉ có 7 người. Tôi
không muốn dạy nhiều người cùng một lúc bởi muốn theo dõi kỹ lưỡng sự tiến bộ của
từng người, đồng thời muốn biết rõ tâm tính cũng như ước mơ của họ. Hy vọng có
người tiếp tục có thể thực hiện gì, hầu giải tỏa bớt nỗi khốn khổ của dân
chúng. Hơn nữa, với nhận xét và suy nghĩ của tôi, chỉ có 10 bài quyền cho cấp
đai đen nếu học viên biết áp dụng nguyên tắc luyện khí vào vận khí phát triển nội
công, tất nhiên sự thăng tiến chắc chắn sẽ vượt bực. Suốt 12 năm, kể từ thời
tôi học lới tư đến nay bởi đã không biết thế nào là vận khí áp dụng vào luyện
võ, dầu đã cố gắng vượt bực nhưng tiến bộ chẳng khác gì con rùa lê lết trong
vũng bùn.
Một tuần từ khi nghe ông
Tầm có ý định muốn tôi dạy võ, tôi đã tiêu tốn khá thời gian suy nghĩ phương
pháp và lịch trình giảng dạy cũng như tập luyện chẳng những của chính tôi mà
còn sao có thể áp dụng cho những học viên. Làm cách nào, thực tập ra sao để mấy
người trẻ nhận ra nguyên tắc luyện khí và áp dụng vận khí để thực hành “Hành
thiền” trong đời sống hằng ngày. Suy nghĩ đến đây, tôi mới nhận ra chính mình
đã không để ý thực hiện nó. Cũng phải cám ơn mấy cuốn sách, nhất là tập bản thảo
ông Tầm đã khuyến khích tôi đọc. Và thế là, sau một ngày suy nghĩ, tôi áp dụng
vận khí nơi hành thiền, chỉ sáu ngày trước khi lớp luyện võ được khai sinh, tôi
đã có sẵn một lý thuyết thực nghiệm hầu giúp học viên nhận thực được phương
cách ý dẫn khí, khí dẫn huyết, huyết đến đả thông kinh mạch áp dụng nơi hành
thiền.
Nghĩ thì nghĩ như thế,
nhưng với những đầu óc non trẻ của học viên, tôi lại phải đối diện với mớ ngôn
từ hoàn toàn khác lạ nơi cuộc sống. “Ý là gì; khí là gì; ý dẫn khí là thế nào;
thực tập ra sao để nhận ra ý dẫn khí. Kinh mạch là gì, trung tâm kinh mạch, huyệt
đạo ở đâu. Huyệt đạo là gì v.v… Thiền là gì; thực thể là gì; chưa biết kiến
tính là thế nào sao biết hành thiền. Rồi nào quán tưởng, định tâm, sao mà lắm
thứ thế. Người ta nói không thể “Dạy thằng yếu đánh vật,” thế sao có môn “Nhu đạo”
của Nhật? Không suy nghĩ nhiều, cứ để từ từ từng bước, đến đâu suy nghĩ đến đó,
căn gốc, thực hành chưa có gì thì lấy chi mà đòi dàn trận diễn tiến.
Bài học đầu tiên phải thế
nào, luyện tập ra sao, nói năng, giới hạn hiểu biết của học viên nơi trình độ
nào, không thể theo phương thức “Monkey see, monkey đo” như nơi sách tiếng Anh
dùng để chỉ sự việc học theo không hiểu biết. Tôi không phản đối lối học xưa,
nhưng thật khó chấp nhận thành ngữ, “Bọn ngu xuẩn hữu ích.” Tôi thích và thường
lẩm bẩm bài hát, “Không phải là lúc” của Nguyễn Đức Quang, “Không phải là lúc cứ
ngồi đặt vấn đề nữa rồi, phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới. Hàng chục năm
qua ta ngồi ngó nhau, nghi ngờ nhau, khích bác nhau cho cay cho sâu, cho thật
đau. Không phài là lúc cứ ngồi mà cãi suông, Không tin nơi nhau, thế ta định nhờ
ai dẫn đầu?” Những lời hát đơn sơ, bình dân, nhưng thâm thúy, cay đắng, nói lên
sự thiếu nhận thức nơi con người. Đồng ý rằng, “Công bình bác ái không phải là
phép tiên, đem ra rêu rao bốn năm ngày là ta có liền,” nhưng làm theo kiểu
“Monkey see, monkey đo” thì tiến bộ thế nào, sáng kiến ở đâu? Thiếu suy nghĩ,
không phát triển nhận thức thì suốt đời chỉ “Trâu chậm uống nước đục.”
- 9 -
Nhìn lại thực tế, người
Việt rất thông minh, ham tìm hiểu, dám thử bất cứ chuyện gì, đến nỗi, chẳng ít
khi “Lợn lành chữa thành lợn què.” Chỉ cần để ý nơi phương diện ăn nói, chúng
ta thường dùng lối nói ngụ ngôn hay dùng Tục Ngữ, Ca Dao, trong lời phát biểu để
cho câu nói ngắn gọn và mang ý tứ đầy đủ hơn. Chả thế mà cuộc sống dân chúng
thuận theo luân lý, đạo đức xã hội; gia đình nề nếp trong cương kỷ. Những sự
khôn ngoan nơi kho tàng văn chương bình dân trãi qua bao thế hệ thấm nhuần nơi
giòng máu, xương tủy dân Việt phát sinh sáng kiến, óc tìm tòi, học hỏi hiểu biết.
Tuy nhiên, cuộc sống khó khăn, luôn phải đối đầu với miếng cơm, manh áo đã vô
tình tạo thành thói quen suy nghĩ hữu vi, nhân sinh, chỉ lo giải quyết nhu cầu
vật chất, cùng lắm khuyến khích ham hố vô bổ, tiếng tăm, nhà cao cửa rộng, hào
nhoáng bên ngoài một cách thiếu nhận thức.
Không nói gì xa xôi hay
vượt tầm với, ngay như sự thể đọc sách, đã có câu nói, “Quyển sách là một cái
gương soi; nếu một con khỉ nhìn vào, dĩ nhiên không thể có hình ảnh của một vị
thánh hiện lên” (G.C. Lichtenberg). Đọc sách để tìm kiến thức nào khác chi loài
khỉ chỉ biết, “Monkey see, monkey do.” Đọc sách cần suy nghĩ để thăng tiến nhận
thức; sách chỉ là phương tiện cho con người phát triển nhận thức, phát huy tiềm
năng kiến tạo nơi độc giả. Sách không phải mẫu mực cho mình theo, ngoại trừ loại
kỹ thuật; thế nên, người đọc sách cần suy nghĩ. Đọc sách mà không suy nghĩ thì
nào khác chi con khỉ ngó vô đám chữ. Thật tội cho những ai đã vô tình đọc sách
theo loài lông lá đầy mình. Thế nên, nơi lớp đầu tiên, tôi phải giúp mấy người
trẻ nghiệm được thế nào là ý, cái gì là khí, thế nào là ý đẫn khí, định tâm,
hành thiền. Tôi có quá tham vọng không? Thử sẽ biết, chưa thử nghiệm, chẳng nên
dự đoán.
Tôi đã chia sẻ nhận định
trên với ông Tầm mấy ngày trước nên lớp học võ đầu tiên chỉ có 7 em, nhỏ nhất
14 tuổi và lớn nhất 17 tuổi. Quanh một chiếc bàn dài, các em ngồi ngay ngắn và
đứng lên khi tôi bước qua cửa. Tiến đến chiếc ghế đầu bàn, tôi lên tiếng,
- Chào các em, mời các em
ngồi. Sau khi mọi người ngồi xuống, tôi tiếp tục, tôi tên là Hoàng, các em gọi
tôi là chú Hoàng. Tối nay là buổi hội ngộ đầu tiên, tôi muốn biết mục đích hay
ý định của mỗi người khi muốn học võ. Nào, bây giờ tôi xin mời từng người giới
thiệu tên của mình và nói lên điều mình ước muốn tại sao mình học võ. Mời em,
tôi đưa tay hướng về em ngồi bên phải, em này coi bộ lớn tuổi nhất.
Nói chung, các em đều biết
nhau nơi miền tỉnh lẻ này và sống không xa vùng chợ. Mọi người muốn trở thành một
thứ gì, muốn tăng thêm sức khỏe, và muốn có thể giúp ích gì cho gia đình cũng
như cải thiện mức sống. Sau khi cảm ơn các em đã trình bày mơ ước, tôi lên tiếng,
- Mục đích luyện võ không
những phát triển thể xác bản thân, mà điều quan trọng nhất lại là thăng tiến
tinh thần, thăng tiến nhận thức, và tuân giữ luật thượng võ hầu giúp con người
của mình, cuộc đời của mình hoàn thiện hơn. Tôi nói hoàn thiện chứ không dám
nói đến toàn thiện; bởi không ai có thể toàn thiện. Nói đúng ra, người mà không
ai thấy họ có những thiếu sót, sai lầm chỉ là kẻ tuyệt vời giả dối, giả dối để
lừa đảo người khác. Có câu hát, “Ai nên khôn không khốn một lần.” Nơi cuộc sống,
lầm lỗi do thiếu suy xét là chuyện thường tình. Học võ không phải để bảo vệ
mình mà để tránh bị nguy hại. Tinh thần thượng võ không phải để khoe khoang sức
vóc, huênh hoang ra bộ ta đây tài giỏi mà sống thực với con người của mình, nhận
biết mình hay, dở thế nào. Các em nên nhận thức rõ ràng, bất cứ ai, nơi một
phương diện nào đó đều đáng bậc thầy của mình, cho dù ngay nơi tính chất gian xảo,
đểu cáng. Mình không thể đểu cáng như họ, không có nghĩa mình hơn họ, nhưng
không dám, không đủ khả năng muối mặt như họ, thì thua vẫn là thua; dẫu mình
khinh chê sự xấu xa nơi họ. Bởi vậy, cho dù người khác thế nào, nên nhớ, thái độ,
cách cư xử của mình đối với bất cứ ai đều cần biết lễ độ. Nên nhớ một điều, đã
học võ rồi, cái giơ tay, giơ chân dẫu vô tình cũng có thể làm chết người hay ít
nhất tổn thương đến người khác; do đó cần phải để ý từng cử động. Muốn kiểm
soát cử động của mình thì phải nhận biết thái độ; muốn nhận biết thái độ, cần
nhận biết tính khí con người của mình, cần suy nghĩ, nhận định thói quen, những
sự thường tình, cho dù bình thường đến mức độ nào. Tôi muốn nêu lên một câu
nói, tôi mời mỗi người giải thích mình hiểu thế nào. Chẳng hạn, “Đi khám bác
sĩ, đi khám bệnh.” Mời anh Tân nói lên điều mình hiểu.
- Thưa thầy, là đến gặp y
sĩ để chẩn mạch khi ốm ạ.
Cả 7 em đều phát biểu
tương tự, dẫu có đôi ngôn từ khác nhau. Sau khi mọi người trả lời, tôi hỏi,
- Thế sao lại nói, “Khám
bác sĩ?” Các em thử nghĩ coi, bác sĩ khám mình hay mình khám bác sĩ; y sĩ chẩn
mạch mình hay mình chẩn mạch y sĩ mà nói đi khám bệnh; mình khám hay bị khám?
Tôi chỉ đặt vấn đề để từng em tự suy nghĩ trả lời cho mình. Nào, bây giờ chúng
ta đặt khuỷu tay phải lên bàn, để đứng tay lên, điều chỉnh ghế và cách ngồi cho
thật thoải mái, đưa lưng thẳng lên, khép mắt lại, nghe và thực hành theo những
gì tôi nói. Trước hết, từ từ hít hơi vào theo lỗ mũi theo nhịp đếm của tôi từ một
đến năm. Nào bắt đầu, 1, 2, 3, 4, 5. Ngưng, từ từ thở ra, 1, 2, 3, 4, 5, thở
bình thường. Có ai bị trục trặc gì không?
- Thày đếm hơi chậm làm
em hụt hơi.
- Em nói đúng. Mọi người,
từ nay, nhớ tập thở chậm lại bất cứ lúc nào. Nếu ai muốn thực hành thở chậm và
dài hơi hơn, tập thổi harmonica, tập thổi kèn, hay tập nín hơi và từ từ hít vô
và từ từ thở ra. Không khí mà mình thở ra, thở vô đó được gọi là khí. Nào bây
giờ chúng ta để ý tới không khí khi thở ra hoặc hít vô nghen. Đưa ngón tay trỏ
thẳng lên. Nhắm hờ mắt lại, từ từ hít vô, tưởng tượng rằng không khí hít vào từ
mũi, chạy xuống cổ, chuyền qua vai, qua cánh tay, chạy tới ngó trỏ. Từ từ thở
ra, tưởng tượng không khí từ ngón trỏ theo cánh tay, ngược về lỗ mũi, ra ngoài.
Có ai cảm thấy gì không?
Em nhỏ tuổi nhất, lên tiếng,
- Thưa thầy, ngón tay em
nó giật giật.
- Đúng, em đã làm đúng.
Nào, chúng ta làm lại như thế cỡ ba phút, đến khi nào mọi người cảm thấy ngón
tay trỏ giật giật thì ngưng. Mọi người, bắt đầu, khép hờ mắt lại, từ từ hít hơi
vô, dẫn không khí tới ngón trỏ.
Chưa được hai phút, mọi
người đã bỏ tay xuôi xuống bàn. Tôi nói tiếp,
- Sự để ý dẫn không khí
được gọi là ý hay cái ý; để tâm dẫn không khí được gọi là định tâm. Như vậy, định
tâm là để ý, dồn tâm trí, ý nghĩ, ý định của mình vào sự việc, sự kiện nào đó.
Không khí được gọi tắt là khí. Xét thế, hành động của các em vừa thực hiện dẫn
không khí tới ngón tay là ý dẫn khí. Nơi hoạt động thường ngày, mỗi khi thấy bất
cứ phần nào, nơi nào trong cơ thể hơi khó chịu, hoặc cảm thấy nhức, cũng từ từ
hít hơn vô, dẫn không khí đến nơi đau, ngưng lại một chút khi đã đầy hơi, đoạn
từ từ thở ra trong khi tưởng tượng và ép cái đau nhức theo không khí thoát ra
ngoài đi qua lỗ mũi. Hôm nay chỉ học như thế. Các em nhớ, tập từ từ hít vô và từ
từ thở ra bất cứ lúc nào, nghĩa là luôn luôn. Tối mai chúng ta gặp lại và cho
tôi biết kết quả. Xin chào các em.
Giảng lý thuyết, nói
buông dẫu các em hiểu, nhưng vô ích chẳng khác gì những năm tháng tôi theo học
võ. Định tâm thế nào, ý dẫn khí, khí dẫn huyết, huyết đả thông kinh mạch ra
sao, vận hành khí thế nào vẫn mu ti mù tịt, thì đánh võ chẳng khác chi múa chân
múa tay huênh hoang làm trò cho giống các chiêu thức, hèn chi suốt 12 năm mà
tôi vẫn chưa đạt tới cấp bốn huyền đai. Nói đúng sự thật, mới chỉ ba tuần áp dụng
vận khí theo chiều đốc mạch khi chạy đi chợ cũng như lúc chạy về, và dĩ nhiên bất
cứ lúc nào nhớ đến, tôi thấy có phần tiến bộ khá nhiều nhưng chưa nói chuyện với
ông Tầm.
Tôi so sánh sự thực hành
chuyển vận khí lực này với sự luyện võ ngày trước, mới nhận ra kiến thức thiếu
nghiệm chứng, thực hành, chẳng khác chi sự đọc sách mà không để ý, để tâm suy
nghĩ. Cái thói quen, nói cho đúng, tưởng rằng hiểu điều gì là đủ khi đọc đã làm
tiêu phí bao thời gian, tiền bạc mua sách, đồng thời chận đứng nhận thức từ bao
lâu nay. Hèn chi Phúc Âm lên án, "Khốn thay cho các ngươi, Ký lục và Biệt
phái giả hình, vì các ngươi khóa Nước Trời chận người ta lại! Các ngươi sẽ chẳng
vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào!” (Mt.
23:13). Giảng giải Phúc Âm dưới quan điểm luân lý, đạo đức nhân sinh, thế tục
khiến cho người ta tưởng rằng đã hiểu, đã biết, tất nhiên chặn đứng sự suy nghĩ
nơi họ. Như vậy, chìa khóa nước trời chính là sự suy nghĩ. Đọc, nghe, mà không
suy nghĩ cũng chẳng khác chi con khỉ xem sách; dĩ nhiên, nước trời, vị thánh chẳng
thể nào hiện lên.
Ông Tầm còn đang thức, ngồi
uống trà, thấy tôi bước vô, lên tiếng hỏi,
- Lớp đầu tiên thế nào,
khá không? Các em có cảm thấy hứng thú không?
- Không có thể nói chi,
cháu chỉ mới cho thực nghiệm dẫn khí và giải thích mấy ngôn ngữ căn bản khi thực
hành; chẳng hạn khí là gì, định tâm là gì. Tối mai, còn mấy khái niệm nữa, cháu
muốn cho các em thực hành để dần dần phát huy nội lực, sự thể mà suốt hơn mười
hai năm luyện võ cháu đã không biết. Cũng cảm ơn bác khuyến khích và cung cấp
cho cháu một số sách để đọc, đặc biệt là tập bản thảo. Nói đúng ra, cháu mới chỉ
thực nghiệm đúng đắn diễn trình dẫn khí huyết theo đốc mạch được ba tuần, thế
nhưng, khi luyện lại những bài quyền, cháu thấy có nhiều điểm cần gia tăng biến
hóa. Cháu đang suy nghĩ để phân tích những thế đánh nơi những bài quyền ra
thành những thế đánh riêng biệt rồi xắp xếp theo nhiều diễn trình, bằng cách
xáo trộn các thế đánh với nhau, đồng thời, thử khai triển từng thế đánh qua các
dạng khác nhau. Bác nghĩ thế nào?
Ông Tầm yên lặng nhìn tôi
một vài giây và nhẹ nhàng lên tiếng,
- Anh thừa biết có câu
nói, “Không có đệ tử ngu mà chỉ có lão sư dốt.” Và vị lão sư tuyệt vời nhất của
mình lại là chính mình. Thử nhìn lại căn bản cho luyện võ chỉ là các thế đánh
trong 10 bài quyền mà sự thăng cấp cao thấp lại tùy thuộc người sử dụng các thế
quyền. Nói cách khác đó là phản ứng đúng lúc, đúng trường hợp để thắng đối
phương. Anh đã bao giờ nghĩ, thử biến phóng tác của Kim Dung trong truyện kiếm
hiệp thành sáng kiến riêng của mình chưa? Phương tiện, cơ hội đầy ngập, nhưng
chúng ta có dám thử hay không. Hãy nhìn cách nằm thoải mái, thư giãn của con
mèo, so sánh với lối nghỉ ngơi của chính mình, anh học được gì, có được nhận
xét gì, có thể áp dụng trong cuộc đời mình điều chi?
Nơi ngành võ học; nếu chỉ
luyện theo bất cứ phương thức nào thì cũng chỉ đạt tới cực hạn nơi giới hạn của
phương thức đó, và khả năng hoặc kỹ thuật, phản ứng vẫn không phải là của anh;
nói cách khác, anh sẽ không bao giờ đạt tới cực hạn của mình trong khi, thực
ra, không có giới hạn nào cả. Học theo người khác, cái giơ tay, cú đấm không phải
là của anh, dẫu anh đấm; bởi vậy, cú đấm không thể đạt tới cực hạn. Võ công có
thể học người khác mà thành cao thủ, nhưng muốn đạt đến mức tuyệt đỉnh lại chỉ
có thể học từ chính mình. Có thể nghiên cứu, tìm hiểu để có bằng cấp cao, nhưng
muốn tiến đến thức ngộ cần tự nghiệm chứng. Kinh nghiệm này có lẽ anh đã rõ
trong ba tuần qua. Thế nên, bất cứ chuyện gì, hãy mở rộng lòng để thử, miễn là
đừng để bất cứ di chứng nào phiền hà đến chủ đích của mình.
- Riêng nơi dạy các em
luyện quyền, anh có ý định gì không?
- Cháu đã suy nghĩ vấn đề
này ngay từ hôm bác nói dạy võ. Cháu đặt ra mấy phương án có thể, nếu không thực
hiện được cái này thì mình làm cái khác. Tiện lợi và nhanh nhất, vì chỉ có bẩy
em, với cái phòng nơi tiệm thuốc bắc, chỉ cần dẹp bàn ghế, trãi một lớp nệm
trên nền nhà là được. Cháu thấy, điều quan trọng nhất là luyện khí công bằng
cách áp dụng “Hành thiền;” có điều, làm cách nào để ngay từ ban đầu các em có
được hứng thú tập luyện tại nhà. Cháu biết, dục tốc bất đạt, nhưng phải làm sao
để nội trong hai năm, nghĩa là 100 tuần các em có thể thực tập hết 10 bài quyền;
như thế, cứ ba tuần đầu của mười tuần, các em cần được thông suốt bài quyền,
phân tích, và chỉnh sửa những thế quyền cho hợp với từng em. Hai tuần tiếp
theo, các em tự thực tập cho nhuần nhuyễn. Tuần thứ sáu và tuần thứ bẩy, phân
tán bài quyền thành từng thế đánh riêng biệt; tuần thứ tám, tổng hợp thành võ tự
do của tất cả thế đánh nơi những bài quyền đã học, và tuần thứ 10 giảo nghiệm,
điều chỉnh. Riêng tuần thứ 20 của mỗi khóa, thì lên đai. Như thế, nội trong 100
tuần, nghĩa là hai năm, phải xong căn bản cho đệ nhất đẳng huyền đai. Cháu thấy
chương trình bốn năm, mỗi năm một cấp quá uổng phí thời giờ, nhưng điều quan trọng
là cần phải thực hiện thế nào để các em thực hành “Hành thiền” luôn luôn, bất cứ
lúc nào, mới là điều chính yếu. Tiến triển hay không đều tùy thuộc sự thực hành
này. Thế nên, lớp luyện võ lại cần được quy tụ mỗi tuần hai tối, mỗi tối ba tiếng,
hai tiếng ngồi luyện khí; một tiếng luyện quyền.
- Thế còn nơi chốn?
- Đây là lý do tại sao
cháu không muốn nhiều em tham dự. Tuy nhiên, nơi trường hợp không sử dụng được
phòng ở tiệm thuốc, có thể đưa các em về đây; nếu ở đây không tiện, cháu nghĩ,
cần liên lạc với nhà chùa xin được dùng phòng nào đó, và nếu cùng lắm, phải
huênh hoang làm to chuyện, cho các em thực tập tại chợ. Sau hai năm, các em đã
đệ nhất đẳng huyền đai, mỗi em có thể tự mở một lớp nho nhỏ, 7 người; đồng thời
hàng tuần tiếp tục một tối diễn tập, chia sẻ sáng kiến và thao luyện, lên đai.
Cháu nghĩ, nếu thực hiện được như thế, chỉ nội 10 năm, chúng ta đã thiết lập
xong một hệ thống làng võ và để nó tự vận hành.
- Tôi muốn biết nguyên tắc
chính yếu, theo anh thế nào?
- Đối với 7 em hiện giờ,
dứt khoát, nội trong 20 tuần không lên được một đai, cháu sẽ loại bỏ vì thiếu tự
luyện; mặc dầu hành thiền mới là điều quan trọng nhất. Phụ với hành thiền, đó
là nguyên tắc của nhà Phật, “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm.” Riêng phương diện
này, cháu quan niệm cần khuyến khích mỗi em phát triển sáng kiến bất cứ kiểu
cách nào cho thuận hoặc hợp với thể chất hoặc thân xác của em đó. Phiếm diện,
nó được coi như Taekwondo, nhưng có những thế võ Thiếu Lâm thực dụng để phá đối
thủ mạnh hơn mình cũng cần được trọng dụng. Nói cho đúng, mỗi em là một thực thể
riêng, có lối đánh hoặc phản ứng chuyên biệt tùy thuộc cơ thể của mình, sao cho
khả năng và năng lực phát triển đến mức tối đa trong tinh thần thượng võ. Dĩ
nhiên, sự phát triển tùy thuộc sáng kiến và thể chất của mỗi em thế nào, dứt
khoát sẽ không lệ thuộc cháu mà tùy thuộc chính em ấy. Thực ra, cháu nghĩ, nếu
các em còn trẻ, lắm sáng kiến, mà có thể áp dụng, “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ
tâm,” các em không sớm thì chầy, sẽ vượt qua cháu là chuyện bình thường. Đó là
chuyện nên xảy ra và phải xảy ra; “Chẳng có gì lạ dưới ánh mặt trời” (Ecc,
1:9).
- Sao anh có thể tiên
đoán như thế?
- Cháu nghĩ, đó là lẽ thường
vì tất nhiên, sóng sau đè sóng trước. Nói thì nói vậy, chứ thực ra, như bác biết,
căn bản thực nghiệm của võ học là nội lực, nội công, mà dẫu luyện võ, cháu đã
không biết. Nay nếu các em thực hành “Hành thiền,” thì kết quả chắc chắn phải
hơn cháu, nào có chi lạ. Cháu thực sự không dám nhận định, “Không có học trò
ngu mà chỉ có vị thầy dốt;” cháu nghĩ, các vị thầy đã không để tâm nghiệm chứng
mà chỉ học theo; đồng thời có lẽ họ cũng đã không có cơ hội đọc sách về tâm
linh hầu phát triển nhận thức để áp dụng vô ngành võ thuật.
- Tôi hỏi anh, biết bao
người đọc sách mà tại sao nhà Phật vẫn chưa có thất tổ; cả ngàn năm trôi qua, vẫn
chỉ được nhắc đến lục tổ; mà lục tổ lại không biết chữ thì chẳng lẽ lục tổ xem
phim trong khi thời đó nào có phim đâu mà xem. Như vậy, phải giải thích sự thức
ngộ thế nào đây? Đồng ý rằng, trãi qua thời gian hiện hữu, tất có nhiều vị thức
ngộ mà không ai biết, chỉ người ấy biết; bởi nhận thức không học được, không dạy
được, không cầu được, mà chỉ có thể ngộ. Đổ cho vận số thì lấy gì chứng minh;
tuy nhiên, nếu nhận xét theo thực tại, tất nhiên sự thức ngộ phải là con đẻ của
suy nghĩ, suy tư, không phải học thức, vị thế, hoặc cầu mong. Cầu mong mà không
thực nghiệm thà đừng cầu. Anh thử nghĩ coi, bao nhiêu người đọc sách và được mấy
người biết cách đọc trong khi những lời khuyến dụ cách đọc sách đầy rẫy kiếm
đâu không có. Cứ thử xét nơi trường hợp của anh, bất cứ ai luyện võ đều thuộc
lòng đến độ nhập tâm, “Ý dẫn khí; khí dẫn huyết; huyết đến đả thông kinh mạch.”
Thử hỏi, được mấy ai có thể áp dụng hầu phát triển nội lực, khí lực? Nếu tôi
không lầm, biết được anh theo học ban C nơi trung học và đọc rất nhiều sách chẳng
những nơi tiếng Việt mà còn nơi tiếng Anh, tiếng Pháp, mà mãi đến nay mới có thể
nhận ra đã lãng phí mười mấy năm không biết cách phát triển, thăng tiến nội
công, nội lực. Nói cho đúng, lần đầu tiên trong cuộc đời tôi được nghe từ miệng
anh nói lên ý nghĩ sẽ tách rời những thế quyền từ những bài quyền thành những
thế riêng biệt, và sắp xếp thành những bài quyền mới hầu biến từng thế quyền
thành phản ứng tự nhiên; đồng thời lại khuyến khích các em thực hành cũng như sử
dụng sáng kiến phát triển thế đánh tùy thuộc cơ thể cũng như khí chất của mỗi
người. Phỏng sách nào viết khuyến khích sự việc này hay do suy nghĩ, nhận xét
đưa đến nhận định từ nơi anh. Nói cho đúng, nên và cần làm như thế thì mới có
thể phát triển khả năng võ nghệ của một người tới cực hạn.
Tối tiếp theo, tôi vẫn để
các em ngồi quanh bàn và hỏi về sự thực tập thở chậm lại cũng như thực tập ý dẫn
khí; các em đều trả lời hay bị quên nên tôi đưa ý kiến,
- Nếu hay quên, hãy đeo sợi
dây thung vào cổ tay, tay nào cũng được, và muốn cho dễ nhớ, đeo thêm chiếc lục
lạc; mỗi lần cử động là nó nhắc nhở các em. Có điều các em nên để ý, tôi chỉ
nói một lần, không muốn phải nhắc lại lần thứ hai. Những gì tôi nói đều là sự
thực hành; ai không muốn thực hành hay không thể thực hành dẫu chỉ một lần, tôi
không chấp nhận người đó tham gia lớp võ thuật.
- Có ai thắc mắc gì về ý
dẫn khí không?
- Thưa không.
Phát cho mỗi em một bản
“Sơ đồ vận chuyển pháp luân” theo đồ hình nơi cuốn Thiếu Lâm Dịch Cân Kinh mà
tôi đã mất cả tiếng đồng hồ hí hoáy vẽ dẫu chẳng đẹp đẽ gì. Đoạn hỏi,
- Có ai không biết đọc tiếng
Việt không, và được trả lời không.
- Đó là đồ hình các trung
tâm huyệt đạo nơi mỗi người. Khi áp dụng vận hành ý dẫn khí; khí dẫn huyết, từ
từ hít không khi vô đàng mũi, tưởng tượng không khí chạy lên tới giữa hai chân
mày, lên tới đỉnh đầu, xuôi xuống gáy, tiếp tục theo xương sống ngang trái tim,
xuyên dọc xương sống xuống thắt lưng ngang rốn và tới cuối xương sống. Lúc này,
hơi hít vô đã đầy, ngưng một chút đoạn bắt đầu từ từ thở ra dẫn không khí ngược
lên theo bụng, ngang qua gần dưới rốn cách bề ngang ba ngón tay khép lại, ngược
lên ngang tim ở ngực và hơi thở ra vừa hết. Có ai thắc mắc chi không?
- Dạ thưa không.
- Bây giờ chúng ta thực tập;
khép mắt lại, từ từ hít hơi vô dẫn không khí theo đồ hình nơi thân thể. 1, 2,
3, 4,5, thở ra, 1…, 2…, 3…, có ai hỏi chi không?
- Dạ thưa không.
- Khi thực hành một mình,
càng hít thở chậm bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Các em có thể thực hành vận khí
bất cứ lúc nào, đứng cũng được, ngồi cũng được, và nằm cũng được, càng nhiều
càng tốt; làm luôn luôn lại càng tốt hơn. Sự thực hành vận chuyển khí qua cách
trung tâm kinh mạch này gọi là vận khí. Tôi nhắc lại một lần nữa, đeo lục lạc
vào cổ tay để luôn luôn nhớ vận khí. Mỗi tuần chúng ta gặp nhau hai ngày, tối
thứ hai và tối thứ sáu. Tối thứ hai tuần tới, tôi hy vọng không còn ai phải đeo
lục lạc nơi cổ tay để nhắc nhở vận khí nữa vì đã quen luôn luôn vận khí bất cứ
lúc nào. Ai không thực hiện được như thế, yêu cầu đừng tham gia luyện võ nữa.
Chúng ta có thể thực hành vận khí ngay từ lúc này.
- Bây giờ chúng ta dẹp
bàn ghế vô một góc phòng, trãi nệm ra và ngồi theo vòng cung vận khí. Chân bắt
chéo lên nhau để ngồi cho vững, khỏi té lăn đùng nếu ngủ gật; thế ngồi này gọi
là ngồi kiết già. Hôm nay, chúng ta ngồi vận khí mười lăm phút.
Sau khi bàn ghế đã được
thu vào góc phòng xong và nệm được trãi ra, tôi ngồi xuống khoanh chân theo thế
kiết già bắt đầu vận khí. Bẩy em ngồi theo hình vòng cung hướng về phía tôi bắt
đầu thực tập.
KỶ LUẬT VÕ ĐƯỜNG
Mười lăm phút vụt qua rất
nhanh trong khi đầu óc tôi bận rộn suy tính nên bắt đầu hướng dẫn các em theo
phương thức thực dụng nào. Ý niệm, “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm,” yếu chỉ của
kinh Kim Cang hiện về nơi tâm trí. Không lệ thuộc, không dựa vào, không để cho
bất cứ quan niệm, lý thuyết, sự vật, sự việc, tâm tình nào ảnh hưởng, hay làm
điểm tựa để suy nghĩ, mà đối diện với thực tại hầu nhận định, nhận ra điều gì,
sự việc nào cần được thực hiện. Cuộc đời một người, ai cũng phải đối diện với
“sinh, bệnh, lão, tử.” Thế nên, sức khỏe là điều kiện ắt có và đủ cho mọi sinh
hoạt chẳng những nơi thể chất mà còn ảnh hưởng sự phát triển tâm linh, nhận thức.
Sức khỏe không có nghĩa sức vóc phải cao to, có sức mạnh rời núi lấp sông mà là
không bệnh tật, có năng lực chịu đựng bền bì, đối diện với mọi hoàn cảnh trong
cuộc đời, nghịch với loại “Ăn no, vác nặng.” Thân xác một người đâu phải cứ cao
to, phốp pháp là có sức khỏe đâu; mang vác được trăm ký lô thì đó là sức mạnh,
nhưng sức khỏe tùy thuộc năng lực của một người. Một con kiến có thể nâng vật nặng
gấp 50 lần trọng lượng cơ thể của nó, thì nếu so sánh sức khỏe với năng lực;
năng lực mới đáng được dùng làm bàn cân, mẫu mực cho sự thể sinh động. Như vậy,
sự việc đầu tiên là sự thực hành nào giúp các em bảo vệ, phát triển năng lực,
tránh ốm đau không cần thiết, hầu có sức khỏe dẻo dai, bền vững. Người xưa thường
nói, “Một tinh thần minh mẫn, trong một thân thể tráng kiện.”
Thời gian gia nhập quân
trường, mới bắt đầu, kỷ luật sắt được áp dụng khiến ai nấy bất mãn, nhưng chỉ một
tuần lễ sau đã có được thói quen quân ngũ, tâm tình bình thản hơn, để rồi khi
ra trường có được lối sống nghiêm chỉnh, khuôn khổ hơn. Thế nên, dẫu khuyến
khích các em, “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm” hầu phát huy sáng kiến, thăng tiến
trong sự thực hành võ học nhưng cũng cần được đào luyện nơi tinh thần thượng võ
và kỷ luật sống của một võ sinh.
Có đòi hỏi quá nhiều nơi
các em không, tôi tự hỏi. Những kỷ luật sống có ngăn cản sáng kiến, phát triển
tâm trí của các em không? Có đóng khung suy nghĩ, có giới hạn tưởng tượng
không? Bổ túc hay triệt hạ, làm hao mòn nhận thức, “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ
tâm?” Tôi không muốn khuôn mẫu các em, mà muốn các em tự nhiên, sinh động phát
triển; sao cho các em phát huy tối đa sáng kiến, dám cố gắng toàn lực thử bất cứ
gì trong nhận thức giới hạn nơi mình; không thế, chỉ thuộc thành phần học theo,
chẳng mong gì đạt đến cực hạn. Tôi không muốn áp đặt lầm lỗi, thiếu sót của
mình trên bất cứ ai. Phát triển, phát triển từ tinh thần tới thể xác không giới
hạn mới có thể đạt tới cực hạn. Một người có thể theo đuổi để thực hiện giấc mộng
của mình, đó chính là một việc vô cùng hạnh phúc. Tôi không thể đem hạnh phúc tới
bất cứ ai vì hạnh phúc là trạng thái nơi tâm tư của một người trong hành trình,
diễn tiến thực hiện mơ ước của mình. Không thể và không nên bơm lý tưởng, quan
niệm, nhận thức cho bất cứ ai; bởi đó là lừa đảo, gian dối, ăn cướp cơ hội phát
huy nhận thức của họ. Không có gì phải cả, nếu đã có một tinh thần minh mẫn
trong một thân xác cường tráng, tất nhiên, người đó nhận thức được nên hay
không nên thế nào khi đối diện với cuộc đời đầy biến động nơi xã hội con người.
- Tôi không muốn áp đặt bất
cứ chuyện gì hay vấn đề nào nơi các em. Ngược lại, tôi muốn thấy các em tự
nhiên phát triển đến mức tối đa nếu mỗi người có thể. Sự phát triển này bao gồm
hai phần, thể xác và tinh thần. Đối với thể xác, không phải bất cứ gì mình
thích, hoặc ăn ngon miệng là có thể giúp ích và đem lại đầy đủ bổ dưỡng hay sức
khỏe; cũng như không phải thân xác cao to, mập mạp là con người khỏe mạnh. Sự
khỏe mạnh tùy thuộc năng lực của một người, không lệ thuộc hình tượng hoặc sức
mạnh của người đó. Một người cao to, mập mạp, cân nặng một trăm ký lô, nâng vác
được một vật nặng một trăm ký, năng lực không thể so sánh với một người khác chỉ
cân nặng 50 ký mà có thể nâng vác được 75 ký lô. Thêm vào đó, một tinh thần
minh mẫn chỉ có thể có được nơi một thân thể tráng kiện, đầy năng lực.
- Chương trình luyện võ,
nói cho đúng, sự thực hành, luyện tập võ nghệ chỉ giới hạn trong mười bài quyền
thuật, nhưng thăng tiến, phát triển thế nào đều tùy thuộc sáng kiến và sự luyện
tập của mỗi người. Một điều rất rõ ràng, nội trong hai năm, các em cần đạt được
đệ nhất đẳng huyền đai. Sự thể này chỉ có thể đạt được trong sự tuân giữ một kỷ
luật sắt hầu thăng tiến chẳng những võ thuật mà còn tinh thần. Thế nên, trước hết,
tôi muốn nói rõ, nội trong 20 tuần, nếu em nào không thể đạt được cấp một đai,
sẽ bị loại không thương tiếc.
- Sự thăng tiến nơi võ
thuật lệ thuộc trên căn bản nội công, nội lực. Đánh võ không có nội lực chẳng
khác gì múa may cho đẹp mắt; mà người thực sự mang võ nghệ, chỉ một cử động giơ
tay, giơ chân là có thể hại đến người khác; do đó, tuân giữ kỷ luật trong tinh
thần thượng võ cần được tuyệt đối tuân theo. Phạm kỷ luật này cũng sẽ bị loại
ngay lập tức bất kỳ thời điểm nào. Xét như vậy, chúng ta cần để ý và phải tuân
giữ hai điều kiện, sức khỏe và tâm trí.
- Để bảo vệ và thăng tiến
sức khỏe, chúng ta cần thực hành Dịch Cân Kinh mỗi ngày trước khi luyện võ. Để
phát huy khả năng võ thuật, chúng ta sử dụng sáng kiến đến mức tối đa và nguyên
tắc căn bản phát sinh sáng kiến lại là, “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm.” Ưng
vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm nghĩa là gì, nghĩa là không lệ thuộc bất cứ gì, chỉ
tùy thuộc điều kiện thực tại nơi mình mà biến hóa, thực hiện. Tuy nhiên, sức khỏe
và tinh thần phát triển được hay không đều tùy thuộc sự vận hành, ý dẫn khí;
khí dẫn huyết; huyết đến đả thông kinh mạch. Bởi vậy, kết quả hiển nhiên để
minh chứng một người có tiến bộ trong võ thuật hay không đều tùy thuộc người đó
có luôn luôn thực hành vận khí hay không.
- Xét về kỷ luật sống một
võ sinh cần tuân giữ, chúng ta sẽ tử từ phân định nơi những sự kiện và sự việc
diễn tiến. Từ nay, thái độ đầu tiên mọi người phải tuân giữ là khi gặp võ sư,
hay bước vô võ đường, hoặc đối diện với người thi đấu phải nghiêm chỉnh bái.
Bái không phải là bái quỳ, mà nghiêm chỉnh cúi người với tâm tình tôn trọng,
không lơ là, không thực hiện cho qua. Tuy nhiên, khi bái đối thủ, cũng không
nên đứng quá gần mà luôn luôn cảnh giác, lỡ khi mình đang bái, đối thủ vung
chân đá sao có thể phản ứng kịp.
Tôi không muốn nói tất cả
những gì các em nên theo, nên giữ, được gọi là kỷ luật võ sinh e khiến các em bối
rối, nên chỉ nêu lên thái độ cách cư xử đầu tiên một võ sinh cần có. Và tiếp
theo, dạy các em những thế luyện tập Dịch Cân Kinh cho thông máu huyết để giữ
gìn sức khỏe. Điều quan trọng nhất tôi muốn biết, lại chính là thực hành vận
khí luôn luôn, cũng đành chờ thứ hai tuần tới. Tiếng rưỡi đồng hồ rảo qua 12 động
thái của Dịch Cân Kinh để các em thực tập theo kể là cũng quá ép đối với lần đầu
tiên luyện võ trong sự cố gắng của các em, nhưng tôi phải làm thế nơi bước đầu
hầu tạo tinh thần cố gắng hết sức lấy đà cho những lớp thực luyện sau này. Điều
mà tôi luôn luôn nhắc nhở các em khi thực luyện đó là luôn luôn áp dụng vận khí
trong mọi trường hợp, mọi cử động. Hai lần, nơi động thái số 10 và12, tôi suýt
bật cười thành tiếng nhưng đã cố kìm hãm lại được, khiến đau cả bụng, đồng thời
máu dồn lên mặt khá khó chịu. Ai thử sẽ biết, thuở ban sơ, khi đầu óc đang chú
tâm dẫn khí chạy theo dương mạch mà khom người xuống đoạn đưa một chân lên giống
như con chó vãy đuôi trong cử điệu, “Ngạ hổ phác thực,” thế là một em lăn quay,
té cái hụych, không tức cười chết sao được, thế mà tôi phải cắn răng nín thở cố
gắng giữ nghiêm trang thì có khổ không. Nơi dạng “Điệu vĩ,” có lẽ vì hăng hái
quá, một em khi khom người xuống cho hai bàn tay đặt trên hai mu bàn chân trong
khi hai chân cố giữ trong thế thẳng, em đã cúi hơi quá về phía trước, cắm cái đầu
xuống, may mà vội đưa hai tay đỡ được khiến em lộn luôn một vòng chẳng khác chi
làm xiệc. Chỉ một thời gian ngắn mà phải chịu hai lần nín thở, cắn răng, máu dồn
lên mặt, quả là phiền.
Về tới nhà, ông Tầm vẫn
đang ngồi ở bàn ăn hình như có ý đợi tôi. Chưa kịp lên tiếng nói, ông đã hỏi,
- Hôm nay thế nào? Coi chừng
ông khá chú ý tới lớp luyện võ, dầu chỉ mới là lớp học thứ hai.
- Hy vọng các em hăng hái
đủ để kiên nhẫn tiếp tục và cố gắng tập luyện. Có điều, cháu phải suy nghĩ, sắp
xếp lại mầu đai; thay vì sáu màu đai, cháu định chia thành tám.
- Tại sao phải chia thành
tám?
- Trước tiên, hôm nay
cháu dạy các em thực tập vận khí theo dương mạch; mà vận khí theo dương mạch sẽ
phát triển năng lực tính dục coi chừng bất lợi cho các em. Có lẽ cháu sẽ thử vận
khí theo nhâm mạch nội tuần này xem sao. Thêm vào đó, bác thử nghĩ coi, cháu muốn
rốt ráo chỉ nội trong hai năm, nhờ vận khí theo “Hành thiền,” các em phải đạt
được đệ nhất đẳng huyền đai thay vì bốn năm. Tất nhiên cần tuyệt đối cố gắng và
kiên trì, như vậy, lại cần năng lực khuyến khích bằng những thành quả có thể nắm
bắt được. Thử tính, hai năm vị chi có 100 tuần. Nếu chia thông thường sáu đai,
trắng, vàng, xanh, tím, đỏ, đen, thì 16 tuần lên một đai, nghĩa là 4 tháng. Nếu
chia thành 4 thăng cấp và lại chia mỗi cấp thành hai lần đấu luyện để có 8 lần
đổi mầu đai, có thể thêm phần kích thích cố gắng tập luyện hơn.
- Tại sao không chia
thành 12 lần lên đai mà chỉ có 8 lần. 12 lần khuyến khích hơn chứ? Nếu tính 2
năm, gồm có 100 tuần, chia cho sáu đai, mỗi đai 16 tuần, đem 16 tuần chia hai tức
là cứ hai tháng có cuộc thi sẽ kích thích hơn. Mỗi cuộc thi sẽ lên nửa cấp,
thêm nửa mầu, có lẽ trẻ sẽ phấn chấn hơn, lại ít phải tính toán nhiều. Đàng
khác, lịch trình luyện tập đã được chia sẵn trong sách, nếu chia theo thăng nửa
cấp thì dễ nhớ và dễ thuần thành hơn là thăng từng cấp. Như vậy, vấn đề còn lại
chỉ là pha mầu dây đai.
- Sao bác rành về
Taekwondo quá vậy?
- Không rành mà mới chỉ
ba thế anh đã phải ngưng à? Tôi chỉ hơi ngạc nhiên, không ngờ anh ngộ được sự
áp dụng “Hành thiền” nơi việc vận khí quá nhanh, đồng thời có ý định ứng dụng
thử vận khí theo đường nhâm mạch, nghịch chuyển pháp luân, lại dám xâm mình thực
hiện miên tục. Chỉ có điều, anh có biết triệu chứng tẩu hỏa nhập ma, và cách giải
nếu lỡ vô tình vận khí trục trặc chưa?
- Dạ cháu biết. Nơi bản
thảo có nói rõ.
- Có người ủng hộ cho các
em đồng phục luyện võ nhưng muốn giấu tên, lần tới sẽ có thợ may đến đo quần
áo. Tôi sẽ nói họ may luôn cho mỗi em một bộ mười hai dây đai thăng cấp. Anh muốn
họ tới đầu giờ hay cuối giờ tập luyện và vào ngày nào?
- Cháu nghĩ vào 5 giờ chiều
thứ hai, vì mỗi tuần sẽ có hai lớp tập luyện vào tối thứ hai và tối thứ sáu.
- Được rồi, cứ tính như
thế. Có điều, anh có nghĩ đến cách diễn xuất chưa?
- Bác muốn nói đến trạng
thái diễn giảng?
- Và trình diễn quảng cáo
nữa.
- Cháu chưa hề nghĩ tới
quảng cáo, quảng chồn. Tuy nhiên, qua lần dạy về 12 tập thế của Dịch Cân Kinh,
cháu thấy cần giải thích trong lúc trình tập thật chậm để các em làm theo, đồng
thời cũng phải nhắc nhở coi chừng những động thái quá lố. Tuy nhiên, cháu đang
suy nghĩ phải thế nào để khuyến khích các em phát huy sáng kiến khi luyện tập
trong giới hạn cơ thể trong lúc vận khí.
- Thế anh đã cho các em
biết cách nhận ra triệu chứng vận khí lệch lạc và cách giải chưa?
- Cháu định nói lần tới
vì e nói quá nhiều, coi chừng các em khó thâu nhận.
- Anh có nghĩ đến lệ phí
chưa?
- Cháu nghĩ, hãy chừng lại
ít nhất ba tuần, khi các em đã phần nào cảm nhận được chút thành quả mới nên đặt
vấn đề.
- Tại sao không để bốn tuần
sau khi thăng nửa cấp. Đàng khác, chỉ có 7 em, tôi nghĩ nếu tính lệ phí thì
cũng chẳng được bao nhiêu. Tôi đã dò hỏi ý kiến của các phụ huynh từng em, nói
chung, họ không đặt thành vấn đề lệ phí. Tôi nghĩ, cứ để họ tự nguyện, có lẽ
khá hơn. Về sự việc này, anh cứ để tôi giải quyết; miễn sao anh khuyến khích được
các em cố gắng tập luyện đến mức tối đa là được. Tôi nghĩ, theo phương thức áp
dụng thực hành vận khí liên tục trong khi luyện võ, kết quả thành tựu sẽ không
thể ngờ.
- Kể từ lúc có ý định thử
vận khí nghịch hành theo âm mạch, cháu thấy hình như lối vận khí này không nên
chia thành hai phần hít vô nửa mạch, thở ra nửa mạch mà hít vô nghịch hành toàn
mạch rồi thở ra mới thuận chu kỳ.
- Tôi không nói trước bất
cứ điều gì e chận đứng nghiệm chứng của anh. Anh nói đúng, vận khí nghịch chiều
pháp luân chỉ có một đường từ từ hít vô, dẫn khí thông suốt kinh mạch chứ không
phân chia rồi từ từ thở ra. Thăng tiến mau hay chậm cũng tùy thuộc hơi thở chậm
hay mau. Vận khí nghịch hành đúng là nghịch, thở chậm, thì tăng mau, mà thở mau
thì tăng chậm, đúng là nghịch.
LUẬN BÀN NHẬN ĐỊNH - 1 -
-Anh có định thực tập cho
các em “Kiến tính” không?
- Cháu đã đôi lần tự hỏi
có nên không. Tuy nhiên, nhiều nghịch lý, lắm phản biện nổi lên nên chưa có ý
nghĩ gì. Trước hết, thiển nghĩ, chúng ta đang đối diện với một thực tại trầm
luân; dân chúng khổ cực chạy ăn từng bữa, muôn nhu cầu cấp thiết căn bản nhân
sinh dồn ép mà lại khuyến khích “Kiến tính,” sẽ phát sinh nhận thức sai lầm về
“Huyền đồng” theo quan điểm hữu vi, có lẽ chỉ mang tai hại cho người ta. Bác thử
xét coi, “Huyền đồng” thuộc về nhận thức, tâm linh, nhưng với quan điểm hữu vi,
tất nhiên sẽ bị hiểu là sống hòa hợp với tự nhiên, trở về cảnh ăn lông ở lỗ,
thiếu hay bỏ quên ý chí tiến thủ, chẳng khác gì những tuyên truyền, khuyến
khích hãy tự lo, hãy chỉ biết đến mình, ích kỷ, ai chết mặc ai, ta no đủ đã, với
bất cứ thủ đoạn nào. Thêm nữa, qua nhãn quan hữu vi, “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ
tâm,” cũng trở thành nguyên nhân hoặc lối khuyến khích chụp giựt cơ hội, sẽ tàn
phá tâm đức. Đọc qua những hồi ký, nhận định về thực trạng xã hội nơi các quốc
gia Cộng Sản, hoặc theo chủ thuyết Chủ Nghĩa Xã Hội, bác thấy các nền luân lý,
đạo đức của các nước chẳng hạn, Trung Hoa, Iran, Bắc Hàn, Venezuela, Cuba, kinh
tế càng ngày càng suy sụp, dân chúng lâm vào cảnh lầm than, đói rách, vô luân,
vô đạo đức. Con người chẳng khác gì những con thú, chỉ biết lần mò kiếm gì bỏ bụng
cho yên cái dạ dày luôn luôn thiếu thốn, đói khát. Dân chúng trở thành những đối
tượng cho các quan chức moi tiền; thế nên, quan chức thì càng ngày càng đông tiền
lắm bạc, mà dân chúng, ngược lại càng ngày càng tiến dần tới khố rách áo ôm.
Không nhớ cháu đọc đâu đó, dân Venezuela phải vác cả bao bố tiền mới mua được ổ
bánh mì trong khi ngày trước, Venezuela là một nước dầy đặc dầu khí, giầu có,
nay thì sao. Thế nên, đối với hiện trạng này nơi đây, nếu trình bày, hoặc khuyến
khích “Kiến tính,” lỡ bị hiểu theo nghĩa hữu vi, nhân sinh, cháu cảm thấy coi
chừng đó chính là gieo rắc mối họa hại người, hại nước, chỉ vô tình tiếp tay
cho quan chức làm nhụt nhuệ khí dân tộc, biến dân tộc thành nô lệ cho miếng
cơm, manh áo theo thành ngữ đang được cổ võ, Cơm Áo Gạo Tiền.
- Những điều anh vừa nói
chỉ là nhận thức về sự hiểu biết sai lầm, thay vì suy nghĩ nơi hiện trạng tâm
linh lại hiểu biết theo đường hướng hữu vi, nhân sinh mà thôi.
- Bác nói đúng; thực tế
minh chứng, biết bao người viết sách, đọc sách, rồi nào học giả này, tác giả
kia đa số, nếu cháu không lầm, đều diễn giải, trình bày theo quan điểm hữu vi,
thế tục, không thoát ra được. Quan điểm của họ, nhận định, suy diễn đều lệ thuộc
lối nhìn nhân sinh chưa vượt lên được; họ vẫn còn bị nặng nề ảnh hưởng của những
cặp kiếng mắt thịt, may ra chỉ một đôi câu, nếu không lầm, mới chạm tới tâm
linh.
- Diễn giải, suy luận là
hành động hữu vi, đó là điều ắt có và đủ, không thế sao có sách vì sách vở thuộc
vật chất. Anh không nhớ câu, “Một con khỉ nhìn vào cuốn sách không thể thấy vị
thánh hiện lên” sao? Tất nhiên, sách vở phải dùng sự việc, sự kiện hữu vi để kiến
tạo, nhưng nhận thức tùy thuộc độc giả. Nói cho đúng, tác giả cũng không thể
nào biết được nhận thức của bất cứ độc giả nào sẽ phát sinh khi đọc sách của
mình. Biết bao cuốn sách anh đọc; nếu tôi không lầm, bởi anh theo ban C nơi
trung học, lại cố gắng cải thiện ngôn ngữ bằng cách đọc sách ngoại ngữ; nếu chỉ
tính mỗi năm anh đọc cỡ trên dưới 20 cuốn sách thì ít nhất sáu năm tính từ đệ tứ
cho hết hai năm đại học, vị chi 120 cuốn. Thử hỏi, nơi phương diện nhận thức,
anh đã đạt được gì? Thế tại sao mấy cuốn Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh, Kinh Kim
Cang, Kinh Đại Niết Bàn, Kinh Viên Giác, Pháp Bảo Đàn Kinh, Kinh Thánh, Kinh
Koran, Bhagavad Gìta, kiếm đâu chẳng có mà vẫn được coi là kinh điển. Tất
nhiên, nhận thức không thể học, không thể dạy, không thể cầu, mà chỉ có thể ngộ.
Nhưng thức ngộ hay không tùy tâm trí độc giả. Cứ suy từ kinh nghiệm đọc sách của
anh sẽ thấy, nhận thức phát sinh từ suy nghĩ nếu đọc mà không suy nghĩ sẽ chỉ
có thể hiểu chứ không thể nào nhận thức. Thực tế minh chứng, con người tự bẩm
sinh đã mang khả năng suy nghĩ; bởi vậy, cuộc sống mới thăng tiến. Tuy nhiên, bởi
phải liên miên đối diện nhu cầu vật chất nhân sinh, người ta đã không để tâm đến
hiện trạng tâm linh, nên không suy nghĩ, không để ý đến diễn tiến tâm trạng của
mình nơi những trường hợp của sự việc, sự thể được ghi lại một cách ám định thế
nào, do đó không nhận thức được. Như vậy, vấn đề lại là cách nào và thế nào
khuyến khích, đánh động được tâm trí người ta lọt vào suy nghĩ tâm linh. Đó là
lý do tại sao tôi nói thực tập cho các em “Kiến tính.” Tôi nói thực tập chứ
không phải diễn giải, hoặc trình bày lý thuyết, giải thích, giải buồn, hoặc mua
vui.
- Tôi nghĩ, đến lúc này,
anh cũng thừa nhận ra rất rõ ràng; đó là hiểu không phải nhận thức. Sự thể được
gọi “hiểu biết” thuộc về hữu vi, nhân sinh, thế tục. Nhận thức thuộc về tâm
tình, cảm nhận, cảm nghiệm; nhận thức thuộc về trạng thái nơi phương diện nào
đó của tâm hồn. Chẳng hạn câu, “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng,” là câu nói hữu
vi chỉ về tính cách, trạng thái ăn ở, đối xử, lại mang ám định về tâm tình,
tính cách, tâm linh. Như vậy, các kinh sách chứa đựng những câu nói như thành
quả, kết quả về sự thể diễn tiến nơi tâm hồn, tâm cảm, cảm nhận, cảm nghiệm, và
muốn biết sự thể diễn tiến ra sao cần nghiệm chứng, nghiệm xét. Điều hiển
nhiên, đó là cho dù kinh sách hoặc các loại sách vở, tất cả đều là sản phẩm của
con người. Kinh sách là kết quả, thành quả của nghiệm chứng, giúp độc giả thăng
tiến nhận thức. Nhận thức lại là kết quả của suy nghĩ tâm linh, nên muốn nhận
thức được những câu nói nơi kinh sách cần phải suy nghĩ, đặt mình vô các vị thế
của câu nói, phân tích từng phần trạng thái hay phương diện nơi câu nói để cảm
nhận; được gọi là nghiệm chứng hay nghiệm xét. Tuy nhiên, một thực thể hiển
nhiên nơi mọi người, đã trãi qua bao thời đại, nhưng ít ai để ý. Thử hỏi, ai ngủ
cũng mơ không nhiều thì ít. Khi mơ, đẫu đôi mắt thịt đang nhắm lại, không biết
gì đến những chuyện gì đang xảy ra bên ngoài, ngay cả thân mình; thế mà thấy rõ
ràng mọi sự trong giấc mơ. Vậy con mắt nào nhìn trong giấc mơ. Ai cũng có,
nhưng được mấy ai để tâm tìm hiểu con mắt nhìn trong giấc mơ nơi mình không.
Anh đã nhận ra con mắt nhìn trong giấc mơ là gì chưa; nó liên hệ đến anh hoặc
cuộc đời của anh thế nào? Điều tôi muốn nói là phương cách nào, phải đặt vấn đề
nơi phương diện chi, để nhận biết hoặc giải đáp hiện trạng con mắt nhìn trong
giấc mơ. Các nhà khoa học chỉ có thể phân tích và giải đáp những hợp chất, sự vật,
sự việc hữu vi; nếu xét về thực thể hoặc tâm linh, coi chừng họ cũng chỉ giống
như các thày bói mù rờ voi mà thôi; bởi họ đã quá quen, quá lệ thuộc suy nghĩ hữu
vi như mọi người. Thử hỏi, đã có vị khoa học gia nào chứng minh được 1+1=1,
trong khi thực thể liên hệ hồn và xác của một người ai dám nói là hai? Lý luận
rằng hồn và xác là hai thực thể riêng biệt thì có tách hồn và xác của một người
riêng ra mà người đó còn có thể sống được không? Tuy nhiên, có câu nói, tôi
không nhớ được châm ngôn của nước hay dân tộc nào, “Khi con vật ăn no, chúng ngủ,
nhưng khi con người có đủ cơm ăn, áo mặc thì họ suy nghĩ,” nhưng suy nghĩ nơi
phương diện, trạng thái nào lại là một vấn đề. Điều này có thể chứng thực được
nơi trạng thái đọc sách của anh đã bao lâu nay và mấy ngày vừa qua.
- Nhưng…
- Tôi hiểu anh muốn nói
nhưng về điểm gì khi dân chúng đang phải đối diện với thực trạng nhân sinh khó
khăn, khốn khổ. Có lẽ anh chưa có cơ hội đọc được mấy câu thơ, tôi không nhớ được
của tác giả nào,
“Em nhớ giữ tính tình con
gái Bắc
Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ
ngoan hiền
Nhớ khiêm nhường nhưng
thâm ý khoe khoang
Nhớ duyên dáng ngây thơ
mà xảo quyệt.”
- Dù tác giả là người miền
Nam, cay đắng viết lên đặc tính con gái Bắc, nhưng nhìn vào lịch sử dân tộc Việt,
cả ngàn năm qua mấy lần bị bắc thuộc và thử hỏi những thời điểm xa xưa ấy, dân
tộc mình đâu có súng ống, xe hơi không; sao 13, 14 lần chiến đấu chống phương bắc
vẫn thắng. Những thời hai bà Trưng, Quan Trung, Lê Lợi, bộ dân chúng có gan hùm
ăn thay cơm hay sao mà vẫn xua đuổi được bắc phương. Thử nhớ lại coi, lần bắc
thuộc lâu dài nhất là 700 năm, tụi Tàu có đồng hóa được người Việt mình chăng
hay bị đồng hóa ngược lại; những con dân bắc thuộc có muốn trở về quê hương
sinh quán của họ không, hay chôn chân, chôn cuộc đời nơi đất Việt? Người Việt
coi bộ yếu hèn đấy, nhưng phía sau nét ngoan hiền, khiêm nhường, ngây thơ là cả
một sự bất khuất, kiên cường nếu không muốn nói là cao ngạo. Có câu nói, “Cầu
mong không bằng vận may; vận may không bằng tốt số; tốt số cũng thua ý trời.”
Tôi không hiểu được “Đất có tuần; dân có vận” ra sao; do đó càng không hiểu được
thân phận con dân Việt sẽ thế nào, nhưng phải làm gì để nâng cao nhận thức của
con người thì đó là điều ắt có và đủ cho dân tộc vươn lên.
- Bởi thế, làm sao áp dụng,
“Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm” nơi hiện tình thực tại mới là điều thiết yếu.
Mình chưa thức ngộ mà e ngại người khác hiểu lầm là thế nào? Tôi cảm nhận được
nỗi thống khổ dằn vặt nơi tâm tư anh. Bộ anh tưởng tôi là cục đá hay sao mà
không biết. Thử hỏi, vì cớ gì, cô Lan, em gái người bạn, thắm thiết đợi chờ anh
ngỏ lời mà anh lại bỏ đi. Bố mẹ cô cũng đã giáo toa chia cho cô hai mẫu tây rãy
chuối, thế mà anh cũng trốn lánh. Mấy hôm trước, hai nàng con gái mới gặp đã chấm
điểm anh, mà ngay tên của các nàng anh cũng không cần biết. Có phải vì anh sợ bị
chui vào cái lồng hôn nhân, rồi rơi vào tròng bán mặt cho đất, bán lưng cho trời
kiếm miếng cơm manh áo chỉ biết lo cho vợ con? Người ta đầy đầy chan chan ra đấy,
bộ chỉ mình anh là đàn ông nơi đất nước này sao? Suy nghĩ, suy nghĩ, “Ưng vô sở
trụ, nhi sinh kỳ tâm.” Anh biết, “Kiến tính” đòi hỏi định tâm và “Gặp phật giết
phật, gặp tổ giết tổ,” không tin ai hết, không để ai lừa dụ, là thế nào chăng?
Nơi Kinh Thánh của anh thì nào, “Nếu mắt các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm
thì móc mà quăng chúng đi; nếu tay các ngươi làm cớ cho ngươi vấp phạm thì chặt
mà quăng chúng đi.” Và rồi, “Kẻ nào yêu cha mẹ hơn Ta, không xứng với Ta.” Anh
có nghiệm được các câu này nói gì và áp dụng vào thực tại theo ước mộng của
mình thế nào không? Tôi nghĩ, anh cần suy tư thâm trầm với câu nơi Đạo Đức
Kinh, “Không làm gì nhưng không việc gì không làm.” Riêng tôi, tôi nghĩ, nên đổi
lại câu nói thành, “Không làm gì là làm tất cả.” Anh hiểu sao thì hiểu.
- Nhưng thưa bác, có lẽ
bác còn nhớ câu bác nói, “Một người có thể theo đuổi để thực hiện giấc mộng của
mình, đó chính là một việc vô cùng hạnh phúc;” dẫu biết rằng hạnh phúc chỉ là
trạng thái đuổi bắt ước vọng của mình nơi tiến trình theo đuổi, thì đâu có gì
ngoại tại đáng được để ý tới. Theo cháu thấy, đôi khi niềm hạnh phúc của người
này có thể là sự khổ ải, gò bó cho người khác, hoặc niềm mơ năm nào lại trở
thành cay đắng hôm nay. Cái kiếp người này, mục đích còn chưa biết, đành chấp
nhận sống cho qua thì sao có thể nhẫn tâm kéo người khác vô vòng đày đọa. Cuộc
đời thiếu gì cảnh, “Cá trong lờ đỏ hoe con mắt; cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn
vô.” Càng yêu ai chỉ càng làm cho người ấy đớn đau, càng gây khốn khó cho mình.
Ai không thích hay không muốn mình có số đào hoa, nhưng kẻ nào được sinh ra với
số đào hoa mới thực sự cảm nhận được khốn khổ vì nó, như vậy, thì đành gồng
mình chấp nhận mà thôi; bởi nghiệp, vận, hay duyên thì nào khác gì cá đã ở
trong lờ. Thời gian cũng chỉ là giai đoạn đợi chờ lên thớt. Đức Phật, đức Chúa
nào có cứu được ai nếu người đó không muốn được cứu, mà được cứu khỏi điều gì
phỏng có biết chăng. Nhìn lại cuộc đời mình, “Tam thập như lập,” nhưng cuối
cùng thì “vào đời tay trắng, ra đi cũng trắng tay,” nên, thiển nghĩ, sống cho
vui vẻ, an định, an hưởng niềm hạnh phúc đuổi bắt ước mơ còn đòi gì hơn. Dẫu
nhà Phật cho rằng, ước mơ hay ý định cũng chỉ là dục; vậy diệt dục thì là gì?
Phỏng diệt dục là nhắm mắt đưa chân học theo loài khỉ cho giống mọi người dẫu
lòng mình khác hẳn (Trang Tử)? Trái ớt chín đỏ đầy vẻ ngon ngọt, hấp dẫn, nhưng
ngon với ai chứ đối với cháu, nó cay lắm không dám đụng đến; cho dù nó được
phơi bày đầy vẻ mời gọi trên bàn. Đâu phải cứ “Yêu ai, thì yêu cả đường đi;
ghét ai, ghét cả tông chi, họ hàng.” Cuộc đời này, ai thì cháu không biết,
nhưng nếu sống mà như chết thì đâu còn sinh thú gì để tiếp tục. Chẳng lẽ ra
ngoài trời nắng không đội mũ, nón, rồi cứ kêu than sao không có mây mà hết nóng
nực được chăng. Cháu nghĩ, coi chừng xỉu chết giữa đường, nên thà kiếm mũ hay
nón mà đội, lỡ vận chết ập đến thì cũng không phải ăn năn vì đã không ai giúp
mình.
- Nói chung, những gì anh
vừa nêu lên chính là nhận thức đối diện với thực thể biến chuyển của cuộc đời.
Xét thế, lại cần phân định cho rõ ràng đâu là giá trị của một người, tạisao được
sinh ra, có cuộc sống; mục đích cuộc đời của một người là gì. Chưa nhận ra giá
trị của cuộc sống thì sao có thể đặt vấn đề nhận biết mục đích cuộc đời của
mình. Đồng ý rằng, mỗi người đều có cuộc đời, nhưng được sinh ra không ai giống
ai, và cuộc sống không có mục đích chẳng khác gì tiêu hao công sức một cách vô
ích như mũi tên được bắn đi vô định hướng, và như vậy, cuộc đời không mục đích,
nếu chỉ chấp nhận được sinh ra để sống thì cứ sống, để rồi miệt mài, tốn công sức,
chạy theo những ý thích nhất thời, chắc chắn chết khó nhắm mắt; và trong những
ngày gần cuối kiếp nhân sinh phải đối diện với muôn nỗi ăn năn, khắc khoải nuối
tiếc vì đã vô tình lãng phí những cơ hội nhận ra giá trị cuộc sống của mình.
Tâm tình này đay nghiến không biết bao người nơi cõi nhân sinh; do đó, chỉ đành
chấp nhận sống để dạ, chết mang theo, quả là đáng thương cho kiếp người, bởi vì
thiếu nhận thức. Thực tại này quả hợp với câu, “Tội lỗi bởi sự ngu dốt mà ra.”
Ngu dốt vì đã thiếu suy nghĩ; nói cho đúng, không dám đối diện với niềm khát
khao bẩm sinh nơi mình.
- Có điều, anh còn trẻ; sở
dĩ tôi nói hơi nhiều vì một sự thể đắng cay cho kiếp người, dẫu muốn cũng không
thể được; đó là cuộc đời này không có loại thuốc nào chữa để chữa lành sự hối hận.
Dĩ nhiên, thuở ban đầu, người ta chỉ mơ ước điều mình chưa có và càng không có
cái gì thì lại càng khát vọng nó. Nhưng như anh đã biết, đôi khi ước mơ thời
non trẻ ngày xưa, đang trở thành gánh nặng nếu không muốn nói là án phạt cho
ngày hôm nay. Tôi không muốn chúng ta phải ăn năn bởi đã thiếu suy nghĩ; vì ăn
năn, hối hận là vết thương sát phạt tâm tưởng luôn đè nặng gây áp lực ưu tư
không thể lành lặn do sai lầm; mà sai lầm nào đã không đi vào quá khứ. Tất
nhiên, quá khứ thì đã chết, không thể sửa chữa hay đụng tới, nhưng vết thương lại
luôn sống động, luôn dằn vặt tâm tư. Nói cho đúng, sự thể này chỉ xảy đến với
những tâm hồn ngay chính, chân thành. Anh đã dám thực sự chân thành đối diện
chính mình để nhận ra thiếu sót nơi cách đọc sách hơn mười năm trước tất nhiên
cảm nhận được những gì tôi nói. Đồng ý rằng, không ai tránh thoát được lầm lỗi;
vì “Ai nên khôn không khốn một lần;” thế nên, để ngăn ngừa hoặc tránh phần nào
sự tiêu phí cuộc đời kiến tạo nỗi ăn năn, hối hận sau này, chúng ta cần suy
nghĩ chín chắn, thâm trầm hơn để nhận ra mục đích cuộc đời của mình là gì, cần
phải thực hiện thế nào hầu biết giá trị cuộc sống thay vì lây lất tiêu hao
tháng ngày một cách vô ý thức.
- Bởi vậy, thay vì đắm
chìm trong đám mây thực tại đang miên tục biến chuyển, thay đổi muôn chiều khiến
tâm trí rối rắm như rợ vào rừng khó bề cân nhắc, chọn lựa, chúng ta cần phân
tích, nhận định sự thể cuộc sống hầu tìm ra điểm khởi đầu cho suy tư. Dĩ nhiên,
hành trình suy tư này khó thì không khó nhưng dễ thì cũng chẳng dễ dàng chi,
như anh đã trình bày; bất quá, chúng ta chỉ cần kiên nhẫn, bình tâm xét lại mà
thôi. Thử đặt vấn đề một cách thực tiễn, lý do gì hoặc nguyên nhân nào đã khiến
anh cảm thấy hối tiếc thời gian hơn mười năm đọc sách? Có phải đã vì anh không
suy nghĩ nên đọc sách với tâm trạng thế nào, hoặc phương cách thực nghiệm nào
khi đọc sách hầu nâng cao nhận thức chăng? Bình thường, ai cũng thế, chỉ đọc
mong kiếm tìm kiến thức để rồi cứ nghĩ biết nhiều kiến thức là cách nâng cao
giá trị đời người; vì kiến thức là những kinh nghiệm, sự hiểu biết không phải tốn
công sức trả giá, đồng thời giúp con người có thái độ đối diện với cuộc đời
chính xác hơn để đạt được chủ ý hay mưu đồ nào đó của mình. Sự thể này hoàn
toàn đúng và hữu ích, nhưng chỉ hữu ích một phần trong giới hạn nhân sinh, nơi
cuộc sống thế tục. Thử hỏi, giá trị một đời người phỏng chỉ là sự hơn thua danh
giá, tiếng tăm, bằng cấp nọ kia, vị thế, chức vụ, nhà cao cửa rộng, quần áo lụa
là hợp thời, hợp cảnh, hay xe sang mắc mỏ, hoặc đông tiền, nhiều của để rồi cuối
cùng, ai cũng như ai, vào đời đơn độc, ra đi lạnh lùng, tay trắng trở lại trắng
tay; trong khi lòng ôm theo nỗi hối hận, ăn năn, luôn đè nặng tâm tư chẳng thể
dứt bỏ? Như vậy, giá trị đời người lại chính nơi nỗi lòng, tâm tư, chứ không phải
bất cứ gì thuộc thế giới nhân sinh này; dẫu những sự kiện, sự việc, hoạt động,
một người đã thực hiện ghi lại những dấu ấn khó thể tàn phai nơi tâm trí.
- Thế cái nỗi lòng, cái
tâm tư từ đâu phát sinh. Nỗi lòng, tâm tư là gì nơi một người? Muốn biết nó,
chúng ta phải đối diện với chính mình, với con người thực của mình. Mình thực sự
là gì? Chỉ là vẻ bên ngoài? Thế tại sao có câu nói, “Hơn nhau tấm áo, manh quần;
nếu đem lột trần, ai cũng như ai?” Tôi không nghĩ ai cũng như ai nếu đem lột trần;
vì đó chỉ là cái nhìn phiến diện; cái mà không ai có thể biết ngoại trừ chính
người đó mới được gọi là giá trị của đời người. Chính cái giá trị này được gọi
là nỗi lòng, được gọi là tâm tư. Người ta chỉ có thể nhận biết giá trị của một
người khác qua lối sống, tư cách dưới nhãn quan luân lý, đạo đức nhân sinh tùy
thời, tùy nơi, nhưng giá trị đích thực của người đó lại tùy thuộc nhận thức.
Chính sự nhận thức của một người kiến tạo nên nỗi lòng, tâm tư người đó. Điều
này có nghĩa, nhận thức của một người phân định giá trị làm người của họ, chứ
không phải tấm áo, manh quần, hoặc ngoại hình thân xác, hay tiền của, hoặc vị
thế nơi xã hội. Bởi vậy, muốn nhận ra giá trị đời người, lại cần biết mình thực
sự thế nào, là ai, thực thể sự sống nơi mình là gì?
- Nói cho đúng, không
sách vở nào, không một ai có thể nói lên, hay dạy cho mình nhận biết mình thực
sự thế nào, ra sao, là ai, lý do, “Nước nóng lạnh, người uống tự biết,” như nhà
Phật đã nói. Cho dù người thân nhất, ngay như chính mình, vẫn thực ra luôn luôn
“Đồng sàng dị mộng.” Con người thường mộng tưởng về chính mình, cho rằng, nghĩ
rằng mình thế nọ thế kia, nhưng, tất cả đều là thiên vị, đều là thăng hoa, đều
là tự lừa đảo, hầu an tâm theo đuổi ước vọng hay mưu đồ nào đó. Đâu phải đơn giản
mà câu nói của Blaise Pascal, “Người ta đâu phải là thánh, chẳng phải là thú,
nhưng đáng thương thay, kẻ muốn làm thánh lại biến thành thú,” lại có thể đứng
vững qua bao nhiêu năm giữa bao biến chuyển, thăng tiến của cuộc đời. Khi anh
nói về phương pháp đối diện chính mình bằng cách thực sự chân thành viết xuống
tất cả những gì xảy đến và phản ứng cũng như nhận biết nơi mình trên giấy trắng
mực đen, tôi nghĩ anh đã nghiệm được câu, “Cái bóng của Thượng Đế là quỷ
vương.” Đồng ý rằng, những câu nói, kinh sách, hoặc lý thuyết, quan điểm đều là
sản phẩm của con người, không có bất cứ gì tự trời rơi xuống dẫu được gán cho
là thần này, thánh kia dạy bảo thế nọ, khuyên răn thế khác. Thực ra, không có
con người, sẽ chẳng có thần, chẳng có phật gì ráo trọi; bởi không có con người
thì có gì mà nói, có gì mà suy, và vì thế sao có thể nhận biết.
- Bởi vậy, căn bản, gốc
gác, điểm khởi đầu cho bất cứ suy tư, suy nghĩ nào, đều bắt nguồn từ sự nhận biết
chính mình, và phải tự nơi mình. Tất cả những gì cho dù khôn ngoan, thông thái
bên ngoài, đều chỉ là phương tiện hay cơ hội. Và tất nhiên, nhận biết sự thể
này hay không đều tùy thuộc tâm hồn mình có đủ can đảm đối diện với chính mình
hay không.
- Bác nói can đảm đối diện
với chính mình là sao?
- Có gì mà quan trọng hóa
thế. Anh đã thực hiện nhưng có lẽ không để ý. Thử hỏi, được mấy người nơi cuộc
đời này, nói cho đúng, được mấy người từ ngàn xưa tới nay dám đặt bút, thực
lòng chân thành viết xuống tất cả những gì mình cảm nhận về chính mình, tốt
cũng như xấu, hay ho, tốt lành cũng như chẳng ra gì. Dám thực sự nhận biết mình
thế nào bằng cách trực diện, dĩ nhiên cần sự can đảm cùng cực. Dân tộc Nga có
câu chuyện huyền thoại, “Số là có một con rồng lần đầu tiên nhìn bóng của nó phản
chiếu trên mặt nước, thấy xấu xí quá, nó kinh hoảng chết ngay lập tức” (Chấp Nhận
Cuộc Đời; Luise Rinser; NH Lê dịch; Tr.102). Tác giả dùng hình ảnh con rồng
trong truyện huyền thoại mà còn phải kinh hoàng chết ngay lập tức thì phỏng có
ai đọc mà đủ can đảm dám thử; nếu ai dám thử không phải là họ can đảm tuyệt vời
ư? Nói cho đúng, đối diện với sự việc, sự thể cuộc đời, cùng lắm thì bị hoảng hốt
rồi cũng qua, nhưng đối diện chính mình cần năng lực can đảm, hay được gọi là
dũng cảm. Thử duyệt qua tâm trạng của anh thì biết, nếu anh chưa nhận ra con
người mình thực sự đốn mạt, ma mãnh, đểu cáng thế nào, sao có thể nhận biết
lòng độ lượng, tha thứ, và tuyệt đối thương xót của Thiên Chúa, nếu nói theo
quan niệm Công giáo nơi anh. Thử đặt anh nơi vị thế của Thiên Chúa xem sẽ có phản
ứng thế nào đối với sự thể được gọi là anh, có phải là muốn vật chết chính mình
ngay lập tức không? Thế sao anh vẫn còn đang sống. Vậy Thiên Chúa của anh là
gì, thế nào, liên hệ với cuộc đời, thân xác anh ra sao?
- Anh cũng như mọi người
đều tin rằng mình có linh hồn vậy linh hồn anh thế nào dẫu đã nghiệm được mọi
phần tử cơ thể của anh, cũng như con người, thân xác, và cuộc đời của anh chỉ
là phương tiện cho cái hồn hoạt động. Có phải vì cần trả lời những câu hỏi như
thế này, anh lại cần đọc sách, cần suy nghĩ, để tìm câu giải đáp không. Nhưng đọc
sách nào nếu không phải là những kinh sách đạo học. Chắc chắn rằng anh sẽ không
thể có được câu trả lời nào cho thỏa đáng nơi sách vở tôn giáo; bởi tôn giáo chỉ
là tổ chức nhân sinh, con đẻ của nhận thức đạo học, và vì tôn giáo giải thích,
giải nghĩa đạo học dưới nhãn quan luân lý, đạo đức hữu vi, với mục đích quảng
bá, chiêu dụ tín đồ, dựa trên cảm nhận e ngại trả giá cho những lầm lỗi, thiếu
sót của con người dưới nhãn quan luân lý, đạo đức. Nói cho đúng, sở dĩ anh
không thể tìm thấy những câu trả lời nơi sách vở tôn giáo bởi chúng là sản phẩm
của những tác giả thiếu nghiệm chứng; nói theo thánh Phao lô nơi Kytô giáo của
anh, đó là thiếu nghiệm xét. Thử đặt câu hỏi đơn giản, phỏng những bậc rao giảng
nơi Kytô giáo có biết nghiệm xét là gì, có biết áp dụng nghiệm xét vào suy
nghĩ, suy tư lời Kinh Thánh ra sao không? Thí dụ, làm sao áp dụng câu, “Kẻ yêu
cha mẹ hơn Ta, không xứng với Ta” trong cuộc đời một người? Phỏng đức Giêsu đến,
hay được sai đến để dạy người ta bất hiếu sao? Phỏng đã có vị nào trong Kytô
giáo trình luận án về câu Kinh Thánh này hợp lý, hợp tình để có thể áp dụng,
hay chân thành thực hiện trong cuộc đời một người mà có thể kiến tạo nên nỗi an
bình như đã được hứa ban chăng? Suy nghĩ, suy nghĩ cách nào chắc anh đã rõ,
nhưng làm sao có thể giãi bày lý do tiếc nuối mười mấy năm uổng công sức và tiền
bạc đọc sách? Phỏng nguyên nhân có phải chỉ là phương cách đọc sách, phương
cách suy nghĩ, suy tư? Dĩ nhiên, mọi sự nơi cuộc sống đều chỉ là phương tiện
cho con người thăng tiến nhận thức; nói cách khác, tất cả đều là cơ hội để con
người nhận biết thực thể hiện hữu của mình là gì, nhưng sao đã bao ngàn năm con
người vẫn còn lận đận, vẫn còn ngụp lặn trong vòng vô minh, nếu nói theo nhà Phật,
vẫn chưa nhận biết thực thể mình thế nào.
- Bởi thế, tôi đề nghị
anh bỏ thêm thời giờ suy nghĩ và so sánh những câu phát biểu nơi mấy cuốn sách
đạo học với nhau, may ra sẽ rất ích lợi cho sự vận khí phát triển nội lực. Thực
ra, nói về thăng tiến nội lực thì còn tùy thuộc thực hiện vận hành khí huyết;
tuy nhiên, nếu để tâm suy nghĩ, áp dụng câu nói, “Được chim quên ná, được cá
quên nơm, được ý quên lời,” anh sẽ thấy lắm điều ngạc nhiên. Thí dụ, anh thấy
được những câu nào nơi các đạo học tương đương với câu, “Gặp phật, giết phật; gặp
tổ, giết tổ?”
- Sao bác nghĩ ra lắm
phép, nhiều trò thế?
- Không thế mà tôi dám rủ
anh về đây à? Có lẽ anh hơn tôi về khả năng ứng phó và chấp nhận cuộc đời, cũng
như phân biệt lợi ích, đồng thời dám thử bất cứ gì, ngay cả thái độ thách đố cuộc
sống hầu tìm ra giá trị con người trong lẽ sinh tồn. Những tính chất này đòi hỏi
cũng như chứng tỏ một năng lực tiềm ẩn khá cao. Tuy nhiên, gần hai năm trời, dẫu
vô tình, nhưng cứ phảng phất gặp anh, tôi cảm thấy hình như chúng ta có duyên
phận gì đó; nhất là khi hỏi anh có muốn đi với tôi, anh dám nhận lời không đắn
đo khiến tôi vô cùng ngạc nhiên, dẫu được anh cho biết ý định thử sáu tháng hay
một năm. Thế rồi, nội trong ba tuần, qua những trang sách đạo học, anh đã nhận
ra vận khí, điều kiện căn gốc thăng tiến của võ học. Anh biết tôi phải mất bao
lâu không? Hơn kém 30 mươi năm. Đâu phải đơn giản mà tôi thừa giờ nói chuyện
phân tích cơ cấu của âm nhạc với anh đâu. Đối với tôi, như anh thấy, tôi không
sử dụng bất cứ nhạc khí nào, ngoại trừ cây guitar. Dẫu có ít lần tôi thử tự tập
đánh trống, thổi sáo, thổi harmonica, hay piano nhưng chỉ thử cho biết mà thôi.
Sở dĩ không chơi nhạc nhưng có thể đào sâu vào âm nhạc chỉ vì tôi thường đặt
câu hỏi tại sao để tự tìm hiểu và trả lời, đồng thời nếu có cơ hội thử, thử bất
cứ điều gì hầu kiếm cho ra nguyên tắc. Tuy nhiên, cũng chính vì hiếu kỳ, muốn
thỏa mãn hiểu biết bất cứ thắc mắc nào nên đã mấy lần gần tẩu hỏa nhập ma; cũng
may mà gặp được mấy trang bản thảo.
- Nói cho đúng, bảo là
duyên, tôi không chịu; cho rằng phận số, tôi thấy chỉ phần nào; bởi hình như, nếu
tôi không lầm thì tâm ý, thao thức, khát vọng muốn nhận biết, cộng thêm bản
tính thách đố cuộc đời, không chịu chấp nhận bó tay trong mọi hoàn cảnh, đã
giúp tôi vượt qua hầu hết khó khăn trắc trở nơi cuộc sống. Ai nói chi thì nói,
lý thuyết nào dù được ca tụng đến đâu tôi cũng đặt vấn đề xét lại, dùng nhận thức,
lý luận để nghiệm chứng đồng thời thử, thực chứng nơi bản thân xem có hợp lý, hợp
tình trong trường hợp hoặc trạng thái nào chăng. Có điều, nếu nói về nhẫn nhịn
hoặc chấp nhận để chỉnh đốn, thay đổi nơi hành trình thăng tiến nhận thức, có lẽ
anh hơn tôi. Đừng vội phản bác, hãy để tôi chứng minh. Anh đã không có bất cứ ý
định trả thù năm người hùng nhau đánh anh một trận thừa sống, thiếu chết, phải
bóp thuốc, dưỡng thương suốt hai tuần mới bước được ra khỏi cửa nhà người chị,
nhưng lại cảm thấy biết ơn những kẻ đã đánh anh vì cho rằng, nhờ cơ hội đó học
được bài học lễ độ cuộc đời. Thái độ này đáng được kính phục chứ? Hình như anh
coi thường, mà chấp nhận nó như một bản tính, nhưng đối với tôi, không dễ chi
chấp nhận và quên được. Tôi còn đang chờ xem cảm ứng hay kết quả ứng dụng vận
khí nghịch pháp luân của anh thế nào. Tôi chưa bao giờ thử nên không muốn bình
luận chi. Thế nên đề nghị anh suy nghĩ để so sánh kiếm ra điểm chung của mấy đạo
học Đông phương hầu thăng tiến nơi nhận thức đạo học và may ra có thể áp dụng
nơi võ học.
- Bác nói sao, nếu…
- Có gì mà lo, nếu thất bại
hoặc cảm thấy không hợp lý, thuận chiều, hay cùng lắm thì đã biết phương pháp
giải. Có lẽ anh chưa để ý phân tích tính chất của những câu nói nơi kinh sách;
bởi chúng được ráp nối như được viết thành sự việc, hay sự kiện nào đó, bất chợt,
câu kết khiến tâm trí độc giả chẳng ngờ, đôi khi cảm thấy tá hỏa đâu khác chi bị
viên đá ném vào đầu. Thí dụ, tôi thử lấy một câu nơi Phúc Âm cho anh dễ nhận
ra. Câu truyện người gieo giống, có hạt rơi bên vệ đường bị chim ăn mất, có hạt
rơi trên sỏi đá, đâm mầm và vì thiếu nước chết queo, lại có những hạt rớt vào bụi
gai, mọc lên bị chèn ép, chẳng sinh lợi lộc gì, còn đa số được rãi trên đất tốt
sinh sôi nảy nở. Và câu kết thế nào? “Ai có tai thì nghe.” Thử phân tích câu
truyện này anh thấy lắm điều coi bộ hợp lý nhưng khá nghịch luận không. Thử xét
việc đem hạt giống ra đồng, sao có thể rơi bên vệ đường, trên sỏi đá, nơi bụi
gai. Có ai đựng hạt giống nơi chiếc bị hoặc chiếc thúng lủng không? Bộ người ấy
đường không đi lại vượt lối tắt hay sao mà hạt giống có thể rơi nơi bụi gai; vả
lại có ai dốt đến nỗi cứ xông vào bụi gai mà đi thay vì đi trên đường; hơn nữa,
sao có thể đi qua bụi gai cho dù có giầy, dép như ngày nay, phương chi với đôi
chân trần của thời xa xưa? Và câu kết thì sao, “Ai có tai thì nghe.” Quả là vớ
vẩn, vừa giải thích tùm lum tà la, lại nói “có tai thì nghe,” thế thì giải
thích làm gì? Thử hỏi, câu truyện có hợp lý, hợp tình không? Điều phi lý hơn lại
là, nó đã và đang đứng vững cả hai ngàn năm, chịu đựng, thách đố biết bao biến
chuyển rồi đó.
- Có phải chính điều nghịch
thường thách đố, kích thích, hoặc khuyến khích tâm trí suy nghĩ, đặt vấn đề hay
không? Thế nên, đọc sách mà không để tâm ngưng lại, suy nghĩ, đặt câu hỏi nghịch
luận để giải đáp chẳng khác gì tự giết cuộc đời của mình, giết thời gian, một lối
từ từ tự tử trong vui vẻ, kiêu hãnh với sự hiểu biết hữu vi, uổng phí bao cơ hội
thăng tiến nhận thức và tuyệt vô bổ. Tôi nghĩ, anh cũng đã nhận biết, những câu
nghịch thường nơi kinh sách đạo học là kết quả hay thành quả của diễn tiến suy
nghĩ, suy tư nơi tâm trí trong phương diện hay trạng thái nào đó. Nếu độc giả
không nhảy vào câu truyện đóng những vai trò, vị thế của những nhân vật hay sự
kiện để nhận định biến chuyển nơi tâm tư thì quả là coi thường công sức chẳng
những tác giả mà còn chứng tỏ khinh chê, tác phẩm. Thiệt thòi, uổng phí thời
gian do không biết phương cách đọc sách mà ra. Nơi trường hợp, giả sử kết quả
nghiệm xét cá nhân của tác giả không hợp với mình thì sao? Xin thưa, thì mình
có nhận thức chỉnh chu hơn, đàng nào thì cũng mang lại lợi ích; mà nếu nhận thức
của tác giả nghịch với mình, lại càng có lợi hơn; vì mình đã có cơ hội suy nghĩ
thâm trầm hơn. Có câu nói, “Đường ngắn nhất để tiến tới chân lý lại là con đường
nghịch luận.”
- 2 -
Tôi nghe nhưng trong lòng
cứ thắc mắc về đề nghị so sánh điểm chung của mấy đạo học Đông phương. Lẽ đương
nhiên, nếu để tâm nhận định sơ sơ cũng có thể nhận ra các câu nói nơi những
sách vở đạo học đều thuộc loại ý tại, ngôn ngoại; thế thì điểm chung lại ở nơi
ý chứ không phải nơi ngôn từ hay lời phát biểu, câu nói. Phương cách nào để tìm
điểm chung, tôi tự hỏi, phải làm sao, mặc dầu, mờ mờ nơi tâm trí thấy có gì đó
tương đồng, nhưng tại sao ông Tầm lại khuyến khích nên so sánh; so sánh để làm
gì, do đó lên tiếng,
- Bác nói so sánh những
điểm chung nơi sách đạo học; tuy nhiên, so sánh điểm chung nơi phương diện nào,
thực nghiệm hay ý niệm, lý thuyết, quan điểm, hoặc nơi phương diện quảng bá, lề
luật, hay thực hành, áp dụng?
- Không ngờ anh thông
minh và có cái nhìn sâu rộng hơn tôi nghĩ. Tôi chỉ đơn giản nêu lên đề nghị so
sánh ít điểm chung nơi một vài đạo học trong khi phân tích đặc tính của những lời
phát biểu nghịch thường ở kinh sách; mà anh đã phân tích vấn đề thành một số
phương diện của những câu nói. Có lẽ anh đã nhận thấy, đặc tính chung của những
câu nói đạo học là gây ngạc nhiên, bất thường nơi tâm trí độc giả; đang nói
đàng nọ, xọ sang đàng kia dường như chẳng ăn nhập chi với chủ đề đang được nêu
lên và thường có vẻ nghịch thường với diễn trình lý luận cũng như luân lý và đạo
đức nhân sinh tạo nên sự ngỡ ngàng chẳng khác gì tác giả vô tình nói sai lệch.
Đôi khi có những câu nói quá thường tình đến nỗi khiến tâm trí độc giả coi rẻ
mà bỏ qua, không thèm để ý; chẳng hạn, “Lời ta nói như chiếc bè,” hoặc, “Ngón
tay ta chỉ mặt trăng, nhưng ngón tay ta không phải mặt trăng.” Anh là người
Công giáo nên có lẽ chẳng lạ gì với mấy câu, “Ai có tai thì nghe,” hoặc, “Tin mừng
nước trời,” hay, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” hay những câu chuyện dụ ngôn,
“Mười nàng trinh nữ, ba người làm công.” Có điều chúng ta thường ít để tâm nghiệm
chứng về những câu này bởi chúng được viết thành câu kết luận của một vài sự kiện
đang diễn tiến dưới dạng hữu vi. Có lẽ anh cũng đã nhận ra được, những câu nói
bất thường hay quá thường tình này là thành quả, kết quả của nghiệm chứng;
nghĩa là chúng nói về tâm linh, chúng nói lên diễn tiến, trạng thái tâm tư đang
xảy ra nơi người đọc. Thế nên, nếu so sánh, chỉ có thể so sánh ý niệm, thực
nghiệm về diễn trình tâm tưởng. Nói cho đúng, dẫu những câu đó nói về sự việc,
sự kiện hữu vi, nhưng câu kết luận lại nói về sự gì đang biến chuyển nơi tâm tưởng
độc giả mà thường thì đang nơi tiến trình đọc sách, người đọc thường chỉ để ý sự
kiện, sự việc được nêu lên. Tác giả của kinh sách đạo học nói về diễn tiến trạng
thái tâm tư, tâm linh; dùng sự kiện, sự việc nhân sinh để khuyến khích, kích
thích, thách đố độc giả nhận ra chuyện gì, điều gì đang xảy đến nơi tâm tư người
đọc, nhưng người đọc đã không để ý. Thử hỏi, mắc mớ chi phải nói, “nhưng ngón
tay ta không phải mặt trăng;” phỏng có phải điều này muốn nói lên điều gì không
đúng nơi lối nhìn của độc giả. Anh theo đạo Công giáo cả đời, được nghe nhắc đi
nhắc lại phải tin vào Thiên Chúa, phải tin vào đức Giêsu; thế anh có biết tin
vào Thiên Chúa là thế nào không; tin vào đức Giêsu là tin làm sao. Tin vào ai
là tin vào, cho rằng, những gì người ấy nói hay thực hiện là điều có thật hay sẽ
xảy ra; nhưng nếu không biết Thiên Chúa là gì thì tin vào Thiên Chúa là tin thế
nào; không biết tin mừng đức Giêsu rao giảng thì tin gì, hay chỉ lặp lại thành
ngữ, sáo ngữ, tin vào, tin ra, hoặc cùng lắm chỉ tin vào danh hiệu; mà danh hiệu
đâu phải là thực thể. Có những người ăn uống không có ớt sẽ cảm thấy mất thi vị
để rồi ca tụng, bày tỏ, giải thích lợi ích của ớt thế này, thế nọ, nhưng anh có
tin theo và ăn theo họ không, phương chi nói tin vào Thiên Chúa?
- Nhưng, bác có biết
phương cách nào để có thể so sánh nhanh nhất?
- Càng nói chuyện với
anh, tôi càng cảm thấy thú vị; sao anh học ban C mà lại có lối đặt vấn đề kiểu
này?
- Có lẽ tại lười chăng,
bác thử nghĩ, không nói chi nhiều, chỉ đọc lại một vài cuốn kinh, suy nghĩ từng
câu để kiếm ra điểm tương đồng nào đó nơi kinh khác, thì đến bao giờ; ấy là
chưa nói đến cuốn Kinh Thánh Tân Ước cháu chưa kịp đọc lại. Dĩ nhiên, khi đọc mấy
cuốn kinh nơi đạo học Đông Phương, cháu đã cảm thấy lờ mờ vài điểm tương đồng
nào đó mặc dầu ngôn từ phát biểu kể như hoàn toàn khác biệt. Thế mà bây giờ phải
đọc lại, ghi chép rồi phân tích, so sánh để nhận ra những điểm tương đồng thì
nào có khác chi đội đá vá trời?
- Nói hay, lý luận, và
phân tích hay, nhưng tôi nghĩ, nếu để anh tự nhận định thì cũng chỉ tối đa một
hoặc hai ngày là anh có thể kiếm ra phương cách xử lý sự việc. Thôi thì nói ra
cũng không ảnh hưởng chi tới nhận thức của anh. Tôi đề nghị thế này, anh đã
theo học nơi chủng viện, nên đọc và nghe nhiều về Kinh Thánh, do đó hãy dùng
Kinh Thánh Tân Ước làm tiêu chuẩn so sánh là thuận lợi nhất. Vấn đề chỉ tùy thuộc
sự thể khả năng áp dụng nhận thức câu, “Được ý quên lời” của Trang Tử thế nào
thì tùy. Bởi vậy, trước hết đọc lại cuốn Kinh Thánh Tân Ước, rồi dùng nhận thức
về Tân Ước làm gốc để so sánh thì nhanh hơn. Tôi nghĩ, có lẽ chúng ta nên ngừng
đàm luận nơi đây, sau khi anh đọc lại Tân Ước rồi sẽ nói chuyện. Hơn nữa, giờ
này cũng đã muộn, nên đi ngủ thôi.
Dĩ nhiên, là người Công
giáo, lại được trưởng thành từ nền giáo dục tiểu chủng viện, thế nên, cũng như
mọi tín đồ, tôi rất tôn trọng Phúc Âm. Ai không biết Phúc Âm là tin mừng, là lời
Chúa, nhưng tại sao ông Tầm lại nói, tin mừng đức Giêsu rao giảng. Nguyên nghĩa
của danh hiệu Phúc Âm đã là tin mừng, sao lại phân biệt tin mừng đức Giêsu rao
giảng; chẳng lẽ tin mừng đức Giêsu được sai đến khác với Phúc Âm. Ông Tầm chủ ý
nói vậy hay vô tình; ông đâu theo đạo Công giáo.
Cho tới thời điểm này, do
có thời giờ để tâm hơn khi đọc kinh sách, tôi đã, một cách nào đó, nhận thực được
mọi sự, mọi việc, dẫu được coi là vô tình hay hữu ý, đồng thuận hay đối nghịch
với quan điểm, hay ưa thích của mình, đều là cơ hội hay phương tiện cho mình
thăng tiến nhận thức. Chính ngay nơi những giấc mơ cũng cần được để tâm tìm hiểu,
để tâm đặt vấn đề. Sự hiển nhiên như mọi người nghĩ đã xảy đến với tôi và đã
bao lâu nay đã không hề đánh động được tâm tư; chẳng hạn, con mắt nào nhìn
trong giấc mơ. Tôi đã chứng thực sự kiện đã nhìn thấy trước trong một giấc mơ.
Mấy cuốn kinh sách đạo học phân tích, trình bày những sự kiện, sự việc rất thường
nơi ngay mọi người, ai cũng nhận thấy và được chấp nhận là sự bình thường. Tuy
nhiên, khi để tâm suy nghĩ, đặt vấn đề, chúng lại trở thành gốc gác cho suy diễn
vấn đề cần được để tâm tới. Hèn chi, mọi sự trong cuộc đời đều là cơ hội hay
phương tiện cho một người suy tư, nghiệm xét để tăng thêm nhận thức, nhưng được
mấy ai để ý!
Tuy nhiên, nói gì thì
nói, tuyên xưng, tuyên dương, quảng bá gì thì cứ việc, miễn sao ít nhất phải hợp
lý, hợp tình, có thể chấp nhận được. Tôi không hiểu sao, dẫu theo học ban C nơi
trung học, lại thêm hai năm học văn chương ở đại học Văn khoa, được dạy dỗ, được
nghe giảng giải về tin tưởng, cậy trông, tín thác vào Thiên Chúa, vào đức Kitô
nhưng hình như mối nghi ngờ to lớn nào đó cứ trầm trầm đè nặng nơi tâm trí. Tôi
theo đạo, đọc kinh, cầu nguyện hằng ngày nhưng cứ cảm thấy mình cầu như không,
chẳng được bổ ích, lợi lộc gì. Hình như Chúa chẳng tử tế gì với tôi; Ngài làm
theo ý của Ngài, không theo ý tôi cầu; bởi thiên hạ tuyên dương phép lạ này,
thành quả kia, mà tôi chẳng hề nhận được gì theo lời cầu, hầu chứng thực niềm
tin, đức tin, và mãnh lực tin tưởng của tôi.
Nói đúng sự thật, tôi
chưa bao giờ đọc hết cuốn Kinh Thánh; hay rõ hơn nữa, cũng chưa bao giờ đọc hết
mọi phần trong Tân Ước, nhất là các thư. Hình như chỉ phúc âm Mác Cô là tôi đã
đọc hết được một lần vì nó ngắn. Lần này có thời gian, tôi sẽ đọc hết cuốn Tân
Ước. Có điều, xem chừng những lời giới thiệu, “Hội thánh không loan báo, không
giảng dạy điều gì khác ngoài lời Chúa;” thêm vào đó, khẳng định, “Người tín hữu
chúa Kitô là người luôn khao khát được nghe, được đọc lời Chúa và có nhiệm vụ
rao giảng lời Chúa;” khiến đầu óc tôi lùng bùng tự hỏi, bao năm tôi chỉ được
nghe giảng giải về lời Chúa dưới nhãn quan luân lý và đạo đức nhân sinh; đồng
thời nếu nói rằng người tín hữu chúa Kitô là người luôn khao khát được nghe, được
đọc lời Chúa, thì thử hỏi, được mấy người đọc Tân Ước chứ chưa nói đến toàn bộ
Kinh Thánh. Sự thể này tự phát từ dân Chúa, từ người tín hữu, hay đó chỉ là sự
tưởng tượng, một mơ tưởng. Chính tôi là người được theo học nơi tiểu chủng viện,
lại dùng sự siêng năng học hành như nghĩa vụ báo đáp công ơn sinh thành, nuôi
dưỡng, của bố mẹ mà còn mới đọc hết phúc âm Mác cô được chỉ một lần, thì tuyên
bố rằng khao khát được đọc được nghe là thế nào, có đúng sự thực không? Sở dĩ
tôi đặt vấn đề như thế bởi mới đọc được 6 chương nơi phúc âm Matthêu, tôi giật
mình ngỡ ngàng với câu, “Hãy tìm kiếm Nước trước đã, và sự công chính của Người,
và các điều ấy sẽ được ban thêm cho các ngươi. 34 Vậy chớ lo đến ngày mai: Mai
sẽ lo cho mai. Khổ ngày nào, đủ cho ngày ấy.” Bao lâu nay, tôi cố gắng tìm hiểu
mục đích cuộc đời của mình là gì, mình được sinh ra để làm gì. Trời, câu trả lời
đã hơn kém 2.000 năm được in rành rành ra đấy mà không biết. Tìm kiếm nước trời,
tin mừng nước trời; muốn biết nước trời, cần biết tin mừng đức Giêsu rao giảng.
Đức Giêsu rao giảng gì? Theo phúc âm Matthêu, đức Giêsu rao giảng giống Gioan,
“Trong những ngày ấy Yoan Tẩy giả xuất thân rao giảng trong sa mạc xứ Yuđê, rằng:
"Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần bên” (Mt. 3:1-2; 4:17). Vậy nước trời là
gì, đã gần bên, sao cần tìm kiếm?
Hình như nơi bản dịch
khác, câu Mt. 6:33 được viết, “Tiên vàn, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa, và sự
công chính của Ngài;” tôi thích lối dùng ngôn từ nơi câu này hơn vì cảm thấy nó
trang trọng hơn, nhưng lòng lại bối rối vì hai ý nghĩ nhập nhằng giằng co chưa
biết quyết định thế nào, hoặc là nên từ từ đọc cho hết cuốn Tân Ước rồi tính
sau, hoặc tìm cho ra Nước Trời là gì và tin mừng đức Giêsu rao giảng như thế
nào; bởi đây là mục đích cuộc đời khiến tôi thao thức nhận biết bao lâu nay,
“Tiên vàn hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa.” Hơn nữa, “Hãy hối cải, vì Nước Trời đã
gần bên” (Mt. 3:1-2; 4:17) là thế nào? Hối cải là thế nào, hối cải điều chi?
Ngôn từ hối cải được dịch từ đâu ra? Nếu nước trời đã gần bên thì cách nào để
nhận biết, tại sao không nhận biết mà cần hối cải; hối cải nơi phương diện, trạng
thái nào; nước trời là gì, tin mừng nước trời là gì.
Phần Phật học của bản thảo
có ghi lại nơi kinh Tăng Nhất Tập lời kệ, “Đừng tin điều gì do kinh sách. Đừng
tin điều gì do tập quán lưu truyền. Đừng tin điều gì vì được người ta nhắc đi
nhắc lại. Đừng tin điều gì do bút tích của thánh nhân. Đừng tin điều gì do người
ta tưởng tượng ra rồi gán cho thần phật nói. Đừng tin điều gì vì uy tín của
thày dạy. Nhưng hãy tin vào điều các con đã từng trãi, đã kinh qua và suy xét
cho là đúng, có lợi cho các con và kẻ khác. Lòng tin ấy sẽ thăng hoa đời con,
và các con hãy lấy đó làm tiêu chuẩn.” Và nơi kinh nào đó của nhà Phật cũng ghi
lại lời Thích Ca, “Đừng vội tin những gì ta nói mà hãy nghiệm chứng. Tin vào những
lời ta nói mà không nghiệm chứng tức là khinh ta.”
Quái, nhà Phật thì đừng
tin bất cứ gì; Gioan và đức Giêsu thì hối cải. Hối hận, hối thúc, hối lỗi, ăn
năn; lại còn “cải,” mang nghĩa thay đổi, cải thiện, chỉnh đốn. Chỉnh đốn gì, cải
thiện gì, thay đổi điều chi. Huệ Năng chỉ cần “Kiến tính,” nhưng ngồi nhiều
sinh bệnh nên hành thiền. Kiến tính là mình ên suy nghĩ, suy tư, không lệ thuộc,
không dựa vào bất cứ gì. Ah, kiến tính, suy tư nói về tâm trí. Như vậy, hối cải
cũng thuộc về tâm trí. “Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần bên” (Mt. 3:1-2;
4:17). Bí cứng vì không hiểu hối cải thế nào, nơi phương diện chi và nước trời
là gì. Không muốn ngưng đọc thì cũng đã ngưng để suy nghĩ, tìm hiểu. Không tin
bất cứ gì để tự mình ên “Ưng vô sở trụ,” lại càng mù tịt. Chủ đích của tôi là
gì lúc này? Tôi muốn nhận biết những điểm chung của mấy đạo học, nhưng vừa đọc
được mấy câu, thì đã chẳng khác gì như rợ vào rừng.
Nơi đạo học Đông Phương,
linh hồn, tính, là Thượng Đế, Thiên Chúa nội tại, và tất cả các đạo học đều dồn
về một điểm, và đó là có một quyền lực tối thượng, được mệnh danh khác nhau,
đang hiện diện và hoạt động mọi nơi, mọi loài. Kiến tính là nhận biết, nhận thực
sự thể này, nhận biết linh hồn. Vậy linh hồn, tính, liên hệ đến nước trời, đến
tin mừng ra sao. Nước trời là gì, tin mừng nước trời là gì. Tại sao lại nói,
“Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần bên” (Mt. 3:1-2; 4:17). Gần bên là thế nào?
Thôi đành tiếp tục đọc Kinh Thánh Tân Ước để xem “Nước trời,” và “Tin mừng nước
trời” là gì. Tôi quyết định.
Quyết định đọc là một
chuyện; đọc để phân định cho rõ ràng những gì, lại cần được sắp xếp phân chia
thành từng mục để có được nhận định đúng đắn thì cần được xếp loại từng phần
cho khỏi bị lộn xộn đầu óc khi suy nghĩ cũng là điều cần thiết. Nếu áp dụng,
“Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm,” thì lấy gì làm căn bản cho lý luận khi suy
tư. Có lẽ nên cảm ơn tác giả tập bản thảo vì đã phân tích phương pháp nơi hành
trình tìm hiểu, nhận biết, chứ nếu cứ “Ưng vô sở trụ” thì cho đến bao giờ mới
có thể “Nhi sinh kỳ tâm!” “Có ba con đường đồng hành nơi hành trình nhận thức
thực thể chính mình tùy căn cơ mỗi người. Ai được sinh ra với lòng khát vọng mạnh
mẽ, cuộc đời họ sẽ đi vào con đường chiêm nghiệm dù hoàn cảnh sống thế nào. Con
đường khác, nhà Phật mệnh danh là minh triết, con đường thức ngộ nhanh nhất là
dùng kiến thức, khả năng suy lý một cách ý thức để thức ngộ. Và hành trình còn
lại đối vớiđại đa số quần chúng là tôn giáo.” Theo đường chiêm nghiệm thì hãy
dành cho các tu sĩ đội đèn nhà Phật; tôi cảm thấy vui vui, nực cười, khi mường
tưởng vị sư nào đó ngồi chăm chú quán tưởng rồi “vô thức đồng ý, gật một cái,”
thế là đèn đổ ào xuống khiến dầu loang ra tấm áo cà sa dẫn lửa bốc lên và sư “hốt
ngộ,” không phải, nhà sư hoảng hốt giật mình để rồi bị phỏng, hay may mắn lắm cởi
phăng cà sa đang cháy lộ rõ thân mình trần trùng trục, cuống cuồng dập lửa. Ôi,
vị thầy chùa nào phát minh ra phương cách “đội đèn quán tưởng,” quả là tuyệt vời
minh mẫn. Nếu theo hành trình của đại đa số quần chúng thì đã bao lâu nay tôi
chấp nhận tin tưởng, cầu nguyện mà vẫn chưa biết nước trời, tin mừng đức Giêsu
rao giảng là gì, ấy là đã được học hành nơi tiểu chủng viện. Minh triết cần kiến
thức, cần sự suy lý thì phải đọc, phải suy nghĩ, phải phân định cho rõ ràng, ngủ
thôi, tôi tự nhủ.
Mà nào có ngủ được, tại
sao lời rao giảng đầu tiên của đức Giêsu lại cũng giống như Gioan công bố, “Hãy
hối cải, vì Nước Trời đã gần bên” (Mt. 3:1-2; 4:17)? Có phải dân chúng Do Thái
thời đó khát khao nhận biết sự thể “Nước trời” hay sao mà Gioan khuyến dụ cần hối
cải để nhận ra được nước trời đã gần bên. Hối cải là thế nào? Dân chúng đổ dồn
về nghe Gioan rao giảng bao gồm đủ mọi hạng người chứ đâu phải tất cả đều thuộc
loại đầu trộm, đuôi cướp thì sự hối cải phải là điều cần thiết và nên có nơi hết
mọi người. Hối cải là thế nào? Tại sao nơi chương 1 của phúc âm Matthêu lại được
viết, “Sự đã xảy ra tất cả là để được nên trọn điều Chúa đã phán nhờ vị tiên
tri nói rằng: Này, nữ trinh sẽ thụ thai và sinh con và người ta sẽ gọi tên Ngài
là Emmanuel, dịch được là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi” (Mt. 1:22-23)? Tên Ngài
là Giêsu, tại sao lại viết, “Và người ta sẽ gọi tên Ngài là Emmanuel?” Hình như
có điều gì trục trặc; nhớ lại ngày xưa, nơi bản tiếng Anh nào đó được viết,
“And they shall call him Emmanuel.” Tên là do cha mẹ đặt cho. Người ta gọi ai
đó là gì thì đó là danh hiệu. Như vậy hình như mấy ông bà học giả, học thiệt,
soạn thảo phúc âm Matthêu đã dịch theo nghĩa từ chương lại thiếu tính chất văn
chương, nếu không muốn nói là thiếu suy nghiệm, suy nghĩ. Nếu đức Giêsu có tên
là Emmanuel thì sao lại cứ gọi ngài là Giêsu? Hơn nữa, danh hiệu của một người
nói lên thành quả công việc, hay chức vụ, hoặc vị thế của người đó. Gọi thánh
Gioan làm phép rửa là Gioan Tẩy Giả thì “Tẩy giả” là danh hiệu của ngài vì tên
của ngài là Gioan. Danh hiệu của đức Giêsu là Emmanuel, có nghĩa là “Thiên Chúa
ở cùng chúng tôi,” chẳng lẽ ngài được coi là Thiên Chúa ở với loài người? Thiên
Chúa được gọi là ông Trời, ông Xanh, Thượng Đế, Brahma, Chân Như, Tào, Quyền Lực
Hiện Hữu, Thực Tại Siêu Việt. Không ai gọi đức Giêsu là Quyền Lực Hiện Hữu bao
giờ, cũng không tác giả nào ghi nơi sách vở kiểu này. Như vậy Emmanuel chỉ về sự
việc, công việc, nhiệm vụ của đức Giêsu. Nhiệm vụ, sự việc này liên hệ đến,
“Thiên Chúa ở cùng chúng tôi.” Nói cách khác, Ngài rao giảng, Thiên Chúa ở cùng
chúng tôi; Thiên Chúa ở cùng chúng ta; thế nên Emmanuel là danh hiệu. Phỏng như
vậy, công việc mà đức Giêsu thực hiện là rao giảng, “Thiên Chúa ở cùng chúng
tôi?” Thế sao lại viết, ngài rao giảng “Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần bên,”
giống như Gioan khuyến dụ? Nói rằng Gioan rao giảng, “Hãy hối cải, vì Nước Trời
đã gần bên,” điều này chứng tỏ dân chúng khao khát nhận biết nước trời và theo
Gioan, muốn nhận biết nước trời cần phải hối cải. Đức Giêsu cũng rao giảng như
thế thì nước trời có liên hệ chi đối với danh hiệu của ngài? Danh hiệu cũng như
giá trị của một người do chính người đó tạo ra. Chợt nhận ra tâm tư luẩn quẩn với
khúc mắc nhận định lung tung, tôi tự giục mình phải ngưng, ngủ là cần thiết,
ngày mai, đọc Tân Ước xem sao. Sự lý luận kiểu “Ưng vô sở trụ” này chỉ rối tung
lên thôi.
Sáng hôm sau, đi chợ, tôi
mua một cuốn vở, một cây bút bi, rồi về nhà viết nơi mỗi trang một đề tài, chẳng
hạn, nước trời, hối cải, gần bên, tin mừng nước trời, đức tin,…, rồi cặm cụi đọc
đọc, ghi ghi, chép chép, từng câu phúc âm có liên hệ vào trang mang đề mục được
ấn định. Kể ra tôi cũng thông minh, nhưng khi làm việc này, mới thấy, quả thật,
xưa nay, nhiều vấn đềtôi đã tưởng mình nhận biết nhưng thực ra không biết gì.
Thí dụ, nghĩ rằng, cho rằng mình tin vào Thiên Chúa nhưng chẳng biết Thiên Chúa
là gì thì tin vào điều chi, hay chỉ tin vào danh hiệu. Nói rằng tin vào Thiên
Chúa nhưng coi chừng thực ra vô thần, chỉ lặp đi lặp lại những thuật ngữ, sáo
ngữ chẳng khác gì chiếc máy thâu băng. Có lẽ tệ hơn vô thần vì vô thần có nghĩa
không nhận ra thực thể chính mình là gì, là ai; còn tôi, cũng như bao người,
tuyên dương, tuyên xưng rằng tin thế nọ, tin thế kia nhưng cũng chẳng khác chi
con vẹt, chỉ biết luẩn quẩn với điều mình không biết, với những danh xưng một
cách ngu ngơ, rỗng tuếch.
Cho rằng mình thông minh
cũng không sai, nhưng dốt, thông minh dốt, tôi tự diễu. Cuối cùng tôi cũng nhận
ra được vài điểm tương đồng nơi các đạo học; chẳng hạn,
- Nơi Lâm Tế Lục có câu,
“Gặp phật giết phật, gặp tổ giết tổ” thì phúc âm nhắc đi nhắc lại với nhiều kiểu
cách khác nhau. Nào là, “Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy
móc mà ném đi; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả
ngục. Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; vì
thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục” (Mt.
5:29-30), hoặc “Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa người ta với cha mình, giữa
con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà.
Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai hay
con gái mình hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà
theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn
ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt. 10:35-39).
"Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại
Thiên Chúa". Một người khác nữa lại nói: "Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy,
nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã". Đức Giê-su bảo:
"Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với
Nước Thiên Chúa" (Lc. 9:60-62).
- Nhà Phật nói “Kiến
tính,” Tân Ước dùng, “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính
của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng
về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt.
6:33-34); thánh Phao lô khuyên, “Đừng dập tắt Thần Khí! Đừng khi thị các ơn
tiên tri! Nhưng hãy nghiệm xét mọi sự; điều gì lành hãy giữ lấy! Hãy kị điều dữ
bất cứ dưới hình thức nào” (1Thes. 5:19-22).
Nhà Phật khuyên nơi Tăng
Nhất Tập qua lời kệ 10 điều không tin, và lời Thích Ca nhắn nhủ, “Đừng vội tin
những gì ta nói mà hãy nghiệm chứng. Tin vào những lời ta nói mà không nghiệm
chứng tức là khinh ta.” Nơi Tân Ước, Phao lô dạy, “Hãy coi chừng đừng để ai lấy
cách vật trí tri làm mồi rỗng tuếch đánh bã anh em, thể theo truyền thống người
phàm, thể theo nhân tố trần gian chứ không theo Đức Kitô” (Col. 2:8). Hoặc, “Chẳng
ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng
rách thêm. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị
nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế là giữ
được cả hai” (Mt. 9:16-17). “Mọi kẻ đến trước Ta đều là trộm cướp, nhưng chiên
đã không nghe họ” (Gioan 10:8).
Phương pháp kiến tính bên
Đông phương là định tâm, hành thiền; nơi Tân Ước cầu nguyện, suy tư, “Còn anh,
khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng
hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả
công cho anh.” (Mt. 6:6). Bên đạo học Đông Phương, Tào của Lão, Brahma của Ấn,
Chân Như của nhà Phật, hiện diện, hoạt động nơi mọi sự. Thế nên, chẳng có ta,
không gì là tôi, không chi là mình, tất cả chỉ là biến chuyển của năng lực, quyền
lực uyên nguyên. Phúc Âm nói về mọi kiểu cách, khía cạnh của Nước Trời, Nước
Thiên Chúa, "Ở trong các ông" (Lc. 17:21), "Ở trên các ông"
(Mt. 12:28; Lc. 11:20), "Ở giữa các ông" (Lc. 15:21), "Đã đến gần"
(Mt. 3:2), "Như hạt cải" (Mc.4:26; Lc. 13:19), "Như men trộn bột"
(Lc.13:21), bởi vậy Phúc Âm khuyến khích suy nghĩ, suy tư để nhận biết,
"Hãy tìm kiếm Nước trước đã, và sự công chính của Người" (Mt. 6:33)
(Bản dịch Nguyễn Thế Thuấn).
Nhà Lão nói, “Kẻ trước hết
sẽ trở nên sau hết” (Tao of Leadership; Tr. 4), Phúc âm ghi, “Thế là những kẻ đứng
chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót. Vì kẻ
được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít" (Mt. 20:16). Đây là câu kết
của dụ ngôn, “Thợ làm vườn nho” (Mt. 20:1-15). Riêng đối với câu đính kèm, “Vì
kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít,” gây áp lực phản cảm nặng nề
trên tâm trí của tôi. Nơi bản tiếng Anh cũng được viết, “So the last shall be
first, and the first last; for many be called, and few chosen” (Holy Bible;
National Public Co.; PA, USA). Một số người được nhận cho làm vườn nơi những thời
điểm khác nhau trong ngày. Cuối cùng vào lúc hết giờ làm việc, ai cũng chỉ nhận
được một đồng. Như thế, công sức làm việc tuy khác biệt, nhưng lương trả như
nhau; thế mà chẳng hiểu các học giả, học thiệt thế nào lại lấy “Râu ông cắm cằm
bà,” ghép câu nhận định, “Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít,”
chẳng khác gì cố tình biến độc giả thành những con khỉ, “nhìn vô sách sẽ không
thấy vị thánh hiện lên.” Có ai bị loại đâu mà đặt vấn đề chọn lựa. Không hiểu
các vị học giả Kinh Thánh có biết gì về nghiệm chứng, thực chứng hay chăng, nên
thay vì soạn, dịch, lại biến thành diệt lời Chúa. Tuy nhiên, cũng nên cảm ơn
các vị ấy, dẫu vô tình hay hữu ý, hoặc cho dù thế nào chăng nữa, cống hiến độc
giả cơ hội động não. Thiển nghĩ, hình như các vị ấy không biết gì về lời khuyên
của thánh Phao lô, “Đừng để ai lấy cách vật trí tri làm mồi đánh bã anh em theo
thể thống người phàm, theo nhân tố trần gian, chứ không theo đức Kitô” (2Thes,
2:3); thành ra, mãi cho tới ngày nay, lời Chúa vẫn còn cứ bị cho là huyền nhiệm.
Thử tự vấn lương tâm, nếu đã không nghiệm nên thiếu nhận thức, tại sao không
dám nói thẳng thừng là không hiểu, mà lại cứ rao giảng lời Chúa dưới nhãn quan
luân lý thị dục, đạo đức nhân sinh, hằng luôn thay đổi tùy thời, tùy nơi? Có
câu nói, “Không thể bổ đầu bò mà nhét óc chó vô được, và cho dù cố tình làm như
thế, thì con bò cũng không thể sủa gâu gâu.” Phúc âm cực lực lên án những kẻ
rao giảng lời Chúa dưới quan điểm luân lý, đạo đức thế tục, “Khốn thay cho các
ngươi, Ký lục và Biệt phái giả hình, vì các ngươi khóa Nước Trời chận người ta
lại! Các ngươi sẽ chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng
để cho vào” (Mt. 23:13), có lẽ, cũng bởi vì thiếu suy nghĩ, nghiệm xét, nên
luôn nặng nề mang tội phạm đến Thánh Thần. Đồng ý rằng, phúc âm cũng có câu, “Của
thánh đừng cho chó, châu ngọc chớ quăng trước miệng heo; kẻo chúng dày đạp dưới
chân, và quay lại cắn xé các ngươi” (Mt. 7:6), nhưng dẫu sao thì đó cũng chỉ do
lòng sốt sắng thiếu nhận thức, giá phải trả cho hợp với câu, “Tội lỗi bởi sự
ngu dốt mà ra.”
Vào một buổi tối sau mấy
ngày nghiền ngẫm cuốn Tân Ước, tôi chia sẻ một vài nhận định tương đồng của mấy
đạo học Đông Phương với ông Tầm. Ông điềm tĩnh và nhẹ nhàng nói,
- Có như vậy, tôn giáo mới
còn đất tiếp tục sống. Thử hỏi, nếu ai cũng để tâm nghiệm chứng kinh sách, tôi
muốn nói, chỉ cần tự nghiệm được một câu, bất cứ câu nào, thì xã hội đã có bộ mặt
khác, tươi sáng và thăng tiến hơn. Anh có nhớ câu nói của Tristan Bernar, “Thượng
Đế đã tạo ra thế gian, nhưng chính quỷ vương mới làm cho thế gian sống,” và câu
khác của Jules Renard, “Đâu phải vì đóa hoa hường mà con chim đậu trên cây hường;
chính vì những con sâu bọ trên cây ấy.” Con người rất thông minh, nhưng vì áp lực
nhu cầu và tham vọng nhân sinh, người ta đã không để ý tới khát vọng bẩm sinh
là nhận biết, nhận thức thực thể hiện hữu của họ là gì. Nhìn lại chính mình, đã
bao năm anh thao thức kiếm tìm mục đích cuộc đời của mình, trong khi câu trả lời
đã hai ngàn năm nằm chình ình trong sách, và đó là, “Tiên vàn hãy tìm kiếm nước
Thiên Chúa và sự công chính của Ngài.” Dĩ nhiên, muốn biết nước Thiên Chúa là
gì, cần biết Thiên Chúa là gì, lại cần biết mình là ai, linh hồn mình là gì, thế
nào, liên hệ với thân xác và cuộc đời mình ra sao. Tất cả chỉ là suy nghĩ, suy
tư hay nghiệm chứng, nghiệm xét. Thử hỏi, có ai dám đối diện với chính họ;
trong khi họ đang lo chạy ăn từng bữa, thì biết nói sao. Nhất là thời buổi này,
nhu cầu thiết thực nhân sinh, nói cách khác, cơm áo gạo tiền, không cho phép họ
dầu chỉ nghĩ đến hai chữ “Tương lai.” Người ta đang ra sức biến con người thành
những con thú, ngày ngày chỉ biết lo sao cho yên cái dạ dày. Đoạn ông hỏi,
- Qua những gì anh nói, nếu
tôi không lầm, anh đã đọc hết cuốn Tân Ước?
- Cháu mới đọc được một lần
nhưng vì để tâm kiếm mấy điểm tương đồng; nên có lẽ cần từ từ đọc lại.
- Không ai có thể tự hào
là đã hoàn toàn nghiệm chứng được bất cứ đạo học nào; bởi những câu nói nơi
kinh sách đạo học là thành quả của nghiệm chứng, và cũng không ai biết rõ ai là
tác giả của câu nói nào. Anh học Văn khoa, nhưng chắc chưa có cơ hội biên khảo
văn chương bình dân Việt Nam. Sở dĩ tôi nhắc đến văn chương bình dân vì nó cũng
giống như kinh sách đạo học, nói một đàng, hiểu một nẻo, và không biết tác giả
nào sáng tác câu nào.Thí dụ, đâu ai biết tác giả của mấy câu, “Con gà cục tác
lá chanh; con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi; con chó khóc đứng khóc ngồi; mẹ ơi, mẹ
hỡi mua tôi đồng riềng.” Có điều, trong khi nói chuyện, người Việt mình thường
dùng văn chương bình dân mà không để ý; bởi nó chính là ngôn ngữ dân Việt. Tuy
nhiên, đối với kinh sách đạo học, đó là những công án, không biết do ai đề xướng,
được ráp nối thành câu truyện cho người đọc dễ nhớ. Nhưng có một điều, muốn
nghiệm chứng mỗi câu, phải nhảy vào, phải đặt mình vào từng vai trò, vị thế của
những sự vật, sự việc, hoặc nhân vật trong câu nói, và tự nghiệm tâm tình của
mình nơi phương diện hay tâm trạng vị thế đó xem diễn tiến thế nào. Lý do cần
phải như thế bởi công án, hay câu nói do chính tác giả nghiệm ra. Như vậy, khi
đọc, tưởng tác giả nói về chuyện gì đó, nhưng thực ra, tác giả đang nói về
chính tâm tư bản thân, cũng tương tự nói về tâm tư người đọc. Nói qua, nói lại
cũng chẳng đi tới đâu. Bây giờ, anh thử nghiệm chứng câu, “Mọi kẻ đến trước Ta
đều là trộm cướp; nhưng chiên đã không nghe họ.” Tôi không nhớ rõ câu này thuộc
đoạn mấy câu mấy nhưng chỉ biết nó ở nơi phúc âm Gioan, có lẽ anh còn nhớ.
- Bác nói đúng. Khi đọc
câu này, cháu giật mình. Giật mình không phải vì nó nghịch thường hay bất thường
bởi cháu chẳng lạ gì kiểu cách diễn xuất đòi hỏi “Được ý quên lời,” nơi ba phúc
âm Matthêu, Mác cô, và Luca. Cháu giật mình vì lối nói quá đa quá độ, không
kiêng nể bất cứ thần thánh nào; có thể nói, tuyệt đối cao ngạo, tuyệt đối ngang
ngược, “Vuốt mặt không nể mũi.” Nhưng đến khi đóng vai những vị thế trong câu
nói, cháu lại bị chưng hửng. Nó cũng đồng ý nghĩa với câu nơi Lâm Tế Lục, “Gặp
phật giết phật; gặp tổ giết tổ,” hay nơi lời khuyên của Phao lô, “Đừng để ai lấy
cách vật trí tri làm mồi đánh bã anh em theo thể thống người phàm, theo nhân tố
trần gian, chứ không theo đức Kitô” (2Thes, 2:3), hay mười lời khuyên không nên
tin nơi Tăng Nhất Tập. Nói cho đúng, nếu đọc phúc âm mà không suy nghĩ, nghiệm
xét, luôn luôn bị “Bé cái lầm.”
- Anh có biết, phải mất
bao lâu, câu này làm phiền trí óc, tôi mới có thể hiểu được nó nói gì không?
- Không dự đoán được vì sự
nhận thức không thể cầu; hơn nữa, cũng còn tùy thuộc cơ hội; bởi xưa nay, cháu
cứ bị luẩn quẩn với những câu phúc âm coi bộ khó chấp nhận, nhưng nhờ mấy cuốn
sách bác đưa và đặc biệt bản thảo, nên khi đọc Phúc âm, cháu cảm thấy khác hẳn.
- Những sách này tôi đã đọc
nó cỡ 15 năm trước đây, nhưng tập bản thảo mới có được nó cỡ 7 năm. Câu phúc âm
cao ngạo đó làm phiền tâm trí tôi hơn kém gần chục năm trời, nhưng cũng nhờ nó
mà tôi hiểu được tại sao người ta vẫn an vui chịu đựng những khổ ải cuộc đời.
Nói đúng ra, họ đã không suy nghĩ, không dám đặt vấn đề vì e sợ.
- Bác nói e sợ gì? Cháu…
- E sợ sai lầm; e sợ vì tự
kỷ ám thị rằng mình dốt nát, không đủ hay không có khả năng suy nghĩ, suy tư, e
sợ vì lười suy nghĩ, vì bị hay được nghe những sự giải thích đầy suy luận hữu
vi, nhân sinh, thế tục, từ các vị chân thành, hăng hái rao giảng, nhưng thiếu
nghiệm chứng. Anh thử để tâm một chút nhận định những bình chú, nhận thức, giải
nghĩa, của cụ Thanh Giang Nguyễn Duy Cần, của cụ Nguyễn Hiến Lê, cụ Hạo Nhiên
Nghiêm Toản; các cụ được gán cho danh hiệu học giả, nhưng có lẽ chỉ trong giới
hạn từ chương, hữu vi, nhân sinh. Nói cho đúng, cũng phải thậm phục mà cảm ơn
các vị ấy bởi đã dầy công sức suy luận viết sách. Ít nhất, chúng đã kích động độc
giả động não. Tuy nhiên, tôi nghĩ, phải vậy mới viết được, coi chừng nếu đã ngộ,
lại không viết được chi hết; bởi anh có nhớ câu nói, “Biết không nói, nói không
biết,” cụ Nguyễn Duy Cần ghi lại ngay nơi trang đầu của cuốn Lão Tử Tinh Hoa
chăng? Cụ chép lại câu Hán ngữ, “Tri giả bất ngôn; ngôn giả bất tri.” Tôi nghĩ,
nên dịch là, “Người biết không nói, kẻ nói không biết” mới sát nghĩa.
- Cháu vẫn còn bị luẩn quẩn
với câu này; bởi nếu đã không biết thì sao mà nói!
- Có phải nơi câu nói, “Mọi
kẻ đến trước Ta đều là trộm cướp” (Gioan 10:8), ngay khi anh đặt mình vào vị thế
“Ta” nơi diễn tiến suy tư, nên đã nhận ra câu đó muốn nói gì phải không. Vậy
nơi vị thế nào, hoặc ở phương diện nào, người nói không biết điều mình nói, hoặc
bị cho là không biết điều mình nói?
Tôi thầm tự hỏi, ủa, sao
mình không nghĩ tới điểm này nên vẫn im lặng. Ông Tầm lại nói tiếp,
- Trong suy tư, tất cả những
tư tưởng, ý nghĩ đều không đúng, không sai, chúng hiện hữu. Được phân định đúng
sai thuộc về hữu vi, nhân sinh; khi suy nghĩ, chỉ có hợp lý, hợp tình, và có thể
chấp nhận được hay không mà thôi. Nếu không hợp lý, không thể chấp nhận được
thì vất ngay, không phải là “Gặp phật giết phật, gặp tổ giết tổ,” thì nghĩa là
gì. Nhà Phật thì nói như thế; thánh Phao lô nhà anh nói, “Đừng để ai lấy cách vật
trí tri làm mồi đánh bã anh em theo thể thống người phàm, theo nhân tố trần
gian” (2Thes, 2:3) nào có khác chi, có lẽ chỉ khác ngôn từ. Nói như thế, anh thừa
hiểu phúc âm nhà anh nói, “Nếu mắt làm cớ vấp phạm thì móc quăng đi,” mang ý
nghĩa gì.
- 3 -
Tôi hơi ngỡ ngàng nhưng
hoàn toàn đồng ý, và chợt nhận ra phúc âm viết về diễn trình nơi diễn biến suy
tư, nghiệm xét, chứ không tùy thuộc luân lý, đạo đức nhân sinh, thế tục; hèn
chi có những câu phản luân lý, đạo đức; chẳng hạn, “Kẻ yêu cha mẹ hơn Ta không
đáng là môn đệ Ta; kẻ yêu con trai, con gái hơn Ta không đáng là môn đệ Ta.”
Không ngờ cái nhà ông ngoại đạo này thấu hiểu phúc âm hơn cả mấy nhà học giả
Kinh Thánh; có lẽ bởi thế, nơi phúc âm có câu, “Và Ðức Yêsu nói: ‘Chính để phán
xét mà Ta đã đến trong thế gian, ngõ hầu kẻ không thấy thì được thấy, và kẻ thấy
được lại hóa đui mù’" (Gioan 9:39). Hừ, tôi thầm nghĩ, phỏng tâm trí tôi
đã bị đầu độc bởi những vị học giả, những vị rao giảng lời Chúa thiếu nghiệm chứng?
Tại tôi đã không dám suy nghĩ, hay tại cái tham vọng mở mang nước Chúa một cách
dốt nát, hoặc cố ý ngu dân để trị?
Ba tuần lễ êm đềm trôi
qua, tôi âm thầm thử vận khí nghịch chiều theo âm mạch. Mới thoạt đầu, người cứ
như say say; sau hai ngày, đường khí vận chuyển đã quen, tôi cố tập vận khí nghịch
hành trở thành như hơi thở. Thì nó đúng là hơi thở, chỉ thở chậm hơn và thay vì
hít hơi vô tự nhiên, tôi tưởng tượng dòng hơi hít vô từ mũi chạy xuống huyệt đản
trung, thần khuyết, đan điền, vĩ lư, hội âm, ngược lên mạng môn, giáp tích, ngọc
chẩm, bách hội, trở xuống ấn đường, đoạn thở ra đường mũi. Mỗi tối tôi ngồi vận
khí tới nửa đêm, đoạn nằm xuống, vẫn tiếp tục vận khí đi vào giấc ngủ; không hiểu
trong lúc ngủ đường khí vận hành có liên tục vận chuyển hay không. Lý do phải
ngồi vì tôi muốn dồn hết tâm trí, định tâm quán tưởng, trong khi vận khí dẫn
qua các huyệt đạo. Ai thử thì biết biến chuyển sẽ xảy ra thế nào, nhưng nhớ
dùm, nếu thấy mỏi cổ sau gáy hoặc nhức ngang thắt lưng, coi chừng cần làm những
cử điệu giải huyệt cho các huyết tích tụ nơi các huyệt đạo được giải tỏa tránh
tẩu hỏa nhập ma.
Mỗi ngày, sau thời gian
luyện võ và dùng sáng, tôi tiếp tục chạy ra chợ mua thực phẩm về nấu cơm trưa. Ở
tỉnh lẻ này, chợ quê thường chỉ họp từ sáu giờ sáng tới mười giờ là những hàng
thịt cá tươi và rau rợ, bánh trái dọn dẹp về chuẩn bị cho buổi chợ ngày mai,
ngoại trừ những cửa tiệm, những sạp đồ khô, hoặc quần áo, hay những đồ hàng
không thể hư thối.
Dĩ nhiên, ngồi, định tâm
dẫn khí thì dễ dàng, nhưng cũng dễ rơi vào cơn ngủ. Tôi bị như thế mấy lần,
nhưng áp dụng hành thiền vào vận khí lúc luyện võ, hoặc chạy, hay làm việc gì
khác quả không dễ chút nào; có lẽ con người luôn muốn thuận vô vi theo nghĩa hữu
vi. Tôi muốn thực hành vận khí như một thói quen tự nhiên hay bản năng, thầm
nghĩ, tích tiểu thành đại, mỗi vòng vận khí dù chỉ tạo được một phần ngàn hạt bụi
năng lực thì một phút, bình thường hít thở 12 lần, một ngày 17 ngàn 200 bẩy
mươi lần tích tụ lại cũng đâu phải là ít. Có điều, nơi bản thảo nhắc nhở, “Tuy
nhiên, những quyền năng như kết quả phát triển năng lực nội tại theo phương
pháp Yoga sẽ là những cạm bẫy ngăn cản bước đường tu chứng vì càng có quyền
năng bao nhiêu, con người càng dễ rơi vào vọng chấp bấy nhiêu và phát sinh lòng
kiêu căng, tự mãn. Bậc thức giả phải biết vượt lên trên nữa để đi tới thiền định
hầu đạt tới địa hạt huyền diệu tuyệt đối, hòa nhập làm một cùng quyền lực vũ trụ
tức Thượng Đế (Biện Chứng Giải Thoát trong Tư Tưởng Ấn Độ; Nghiêm Xuân Hồng;
Tr. 256). Nói cho đúng, tôi không sợ trật đường rầy nhưng lại e ngại chính
mình. Trật đường vận khí thì đã có phép giải, nhưng tham vọng phát sinh lòng
kiêu căng, tự mãn nơi con người thì không có phép tắc nào hoặc thuốc chữa ăn
năn, hối hận; bởi dẫu sao thì tôi vẫn chỉ là con người.
Và rồi chuyện đến vẫn phải
đến; vận khí nghịch chuyển theo chiều âm mạch cũng trở thành hầu như bản năng
kiến tạo năng lực, nội lực thăng tiến chẳng ngờ; khiến tôi phải dặn lòng luôn
luôn tự nhắc nhở “mình chỉ là con người.” Đó là chuyện sau này. Hiện tại, qua
năm tuần luyện võ, sự tiến triển của các em có thể trông thấy, nhưng tôi vẫn
chưa dám dạy các em vận khí nghịch chuyển mà nhấn mạnh về tinh thần thượng võ
cùng tuân giữ luật lệ một võ sinh cần tuyệt đối tuân theo, cũng như tập luyện bất
cứ lúc nào có thể. Nội trong hai tuần, với bốn buổi tối thực tập, bài quyền nhập
môn các em đã thuần thục. Tuần thứ tám tới vội như trong chớp mắt. Tôi mời ông
Tầm và chủ tiệm thuốc bắc tham dự cuộc thi đấu lên “nửa đai” trắng vàng của các
em với mục đích khuyến khích tinh thần. Ai nấy hồ hởi với thành quả các em đạt
được; tôi mời ông Tầm và chủ tiệm, mỗi người thay đai cho ba em, tôi chỉ thay
đai cho em nhỏ tuổi nhất. Ông Tầm hỏi tôi có gì đặc biệt trong việc khuyến
khích các em luyện tập để đạt được thành quả như thế mới chỉ hai tháng, tôi kể
chuyện khuyến khích các em tự luyện theo cách thường xuyên khảo hạch mỗi lần tập
luyên nơi võ đường như đã thực hành khi lập đoàn hướng đạo ở Vũng Tàu.
Tôi đã được học võ từ khi
học lớp tư (bốn) và từ khi theo học tại tiểu chủng viện, tôi lại tham gia đoàn
hướng đạo Lâm Đồng, Bảo Lộc. Khi gia nhập nghĩa quân ở Vũng Tàu thay vì đi
lính, và nhờ có khả năng sinh ngữ, được đặc phái phiên dịch công văn hoặc mật
báo từ quân đội, tôi có nhiều giờ rảnh nên muốn lập đoàn thiếu sinh. Có điều,
tôi không muốn làm thiếu trưởng mà chỉ muốn làm ủy viên điều hành. Suốt sáu
tháng trời mò mẫm tìm kiếm được thiếu trưởng và bốn người phụ tá cùng với nhà
chùa làm nơi hội họp. Thuở ban đầu, có được 12 em gia nhập và có thêm 7 sinh
viên tham gia. Tất nhiên, tôi phải gửi 7 sinh viên tham dự một khóa huấn luyện
tráng sinh. Thế rồi bày ra 5 cửa khảo hạch đối với 12 em nhỏ. Lần đầu tiên nhóm
họp, ông thiếu trưởng nói sơ qua tinh thần hướng đạo, để bốn người khác nói về
nguyệt liễm, sinh hoạt, v.v…, đồng thời tôi giải thích ý nghĩa đồng phục và
cũng nêu lên cuộc khảo nghiệm cho lần tới đại khái với tiêu chí muốn xứng đáng
được mang y phục hướng đạo cần phải qua được khóa khảo hạch.
Thực ra, đâu có đoàn thể
nào đòi hỏi bất cứ điều kiện gì cho mang mặc đồng phục bao giờ; tuy nhiên,
nguyên tắc căn bản của hướng đạo là thi đua thực nghiệm; đồng thời, nơi Ca Dao
có câu, “Già được bát canh, trẻ được manh áo mới,” bởi vậy, bày ra sự khảo hạch
giúp các em phần nào ý thức hơn khi mang đồng phục. Tôi bàn với 5 ủy viên của
đoàn chia thành 5 cửa khảo hạch, mỗi cửa chỉ hỏi một câu, chẳng hạn, khăn quàng
mang ý nghĩa gì, có thể sử dụng làm gì, hoặc huy hiệu nói lên điều chi, hay tại
sao hướng đạo bắt tay trái, hay ý nghĩa cách chào của hướng đạo sinh, v.v… Năm
cửa, năm câu hỏi và mỗi cửa có một tráng sinh giải thích ngắn gọn cho mỗi em
câu hỏi ngay trước khi em vô cửa khảo hạch. Và kết quả thật tuyệt vời; tuyệt vời
bởi các em có được cảm nghĩ bộ đồ hướng đạo, khăn quàng, huy hiệu, dẫu do bố mẹ
các em bỏ tiền mua, nhưng do công sức các em đạt được. Cảm nghĩ này khuyến
khích các em trân trọng và hãnh diện với đồng phục mang trên người. Áp dụng vô
võ đường, khảo hạch trước khi luyện võ khuyến khích các em ra sức tự luyện ở
nhà.
Mười sáu tuần trôi qua, bẩy
em mang 7 đai vàng trông thật phấn khởi, nhưng niềm vui mới chớm nở đã dẫn theo
phiền hà ập tới. Mấy người mang băng đỏ nơi cánh tay trái của đám “Giải phóng
miền nam” xuất hiện ngay tối thứ nhất của tuần 17, đòi hỏi giấp phép mở võ đường.
Tôi chỉ ỡm ờ nói luyện tập thể dục cho khỏe người, nhưng cái ông xã trưởng nói
quanh nói quẩn vòi vĩnh tiền trà nước cho anh em giữ an ninh. Cuối cùng, ông chủ
tiệm thuốc bắc cũng đành phải xì ra 5 đồng trà nước bồi dưỡng cách mạng. Cũng
nên biết rằng, công một người làm thuê thời ấy chỉ có 2 đồng một ngày vì mới đổi
tiền. Tôi bực muốn điên lên nhưng cố nín nhịn, thầm nghĩ, có lẽ từ nay phải đem
ra chợ luyện võ; vì tôi không thâu tiền từ các em nên không có tiền bồi dưỡng
cho bất cứ ai. Coi chừng đó cũng là một lối quảng cáo đồng thời cũng là cơ hội
giải trí miễn phí cho đám dân khốn khổ miền tỉnh lẻ này.
Với năng lực của tôi lúc
hiện giờ, cho dù chúng mang súng ống mà đứng gần nhau như thế, chỉ trong chớp mắt
là đã bị hạ gục. Mười hai tuần vận khí nghịch hành, tôi cảm thấy sự thăng tiến
công lực và cử động của thân xác nhẹ nhàng, uyển chuyển. Có điều hơi lạ, khi
cho các em quần thảo lên đai, tôi thấy hành động của các em quá chậm chạp trong
khi ông Tầm không hết lời khen ngợi sự thăng tiến nơi các em. Theo định giá của
ông, khả năng luyện võ của các em dẫu trong bài quyền giới hạn, nhưng sự thuần
thục và khả năng ứng biến vượt trội võ sinh nơi các võ đường lấy bốn năm làm
chuẩn cho đệ nhất đẳng huyền đai. Ông vui vẻ nói, khi nghe tôi muốn rút ngắn thời
gian thành hai năm cho đệ nhất đẳng huyền đai, ông không trả lời gì nhưng trong
lòng nghĩ coi chừng tôi quá vội và sẽ mang đến hậu quả không đúng mức. Nhưng, nếu
giữ được mức thăng tiến luyện tập này, nội trong hai năm, các em có thể đạt tới
đệ nhị đẳng huyền đai. Tôi thầm tính toán, nếu có thể áp dụng vận khí nghịch
hành vô hành thiền, đệ nhị đẳng huyền đai là chuyện nhỏ, nhưng lại e tạo thành
tham vọng và kiêu căng nơi các em thì lợi không bỏ hại. Nghĩ như thế, tôi mới cảm
nhận được tại sao nơi Yoga Ấn Độ lại có Védanta và Jnana Yoga trước khi tập luyện
Hattha Yoga.
Ông Tầm im lặng, trầm
ngâm khi nghe tôi nói về xã trưởng và mấy anh cách mạng băng đỏ đến nhà hàng
thuốc bắc vòi tiền bồi dưỡng. Cuối cùng, tôi nhẹ nhàng đặt vấn đề, không biết vận
số dân tộc Việt Nam sẽ đi về đâu!
- Còn đi về đâu nữa, ông
nói, đoạn thở dài. Cứ nhìn vào các nước có chính quyền Cộng Sản hay Chủ Nghĩa
Xã Hội thì biết. Một Venezuela, ngày xưa giầu có, thịnh vượng thế nào mà bây giờ
ra sao. Nước Tầu giáp Bắc Việt đó, dân chúng thế nào. Một Cuba, một Bắc Hàn, thử
hỏi cuộc sống dân chúng ở những nơi đó ra sao. Quan chức thì càng ngày càng giầu
có; trong khi dân chúng càng ngày càng khốn khổ, đói nghèo, không đủ thực phẩm
cho no bụng. Luân lý suy đồi, đạo đức xuống cấp. Người dân chẳng khác gì những
con thú chỉ luôn chạy theo tham vọng lợi ích bất kể giới hạn nào. Cổ nhân ngàn
xưa đã nói, “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan,” thời nào cũng chẳng sai.
- Mình có thể giúp dân
chúng được điều gì không?
- Giúp làm sao, ếch còn
chưa lo nổi phận ếch sao có thể lo đến chuyện ểnh ương. Cứ tìm hiểu đời sống
dân chúng nơi các nước Cộng Sản, anh sẽ biết ngay con dân Việt sẽ có kết quả thế
nào, đâu cần phải hỏi. Không nói chi chuyện đâu xa; hôm nay nó đòi bồi dưỡng 5
đồng; mai mốt nó lại đòi bồi dưỡng 5 đồng thì anh lấy tiền đâu bồi dưỡng cho
chúng. Có lẽ hoặc là đưa các em về đây hay nhờ nơi một nhà chùa nào đó; mà về
đây thì cũng thế thôi.
- Cháu thấy như bác nói,
đưa mấy em về đây không được bởi chẳng những hơi xa, nhiều khi mưa nắng cản trở.
Hỏi nhờ nhà chùa lại càng xa hơn. Có lẽ làm đương đường tại đình chợ dưới dạng
mua vui, trình diễn võ thuật, tất sẽ có đông người xem, không ai dám vòi tiền bồi
dưỡng giữa dân chúng đâu.
- Anh không sợ người ta học
lóm à?
- Thì cùng lắm cũng như
cháu đã học lóm hay học theo hơn kém mười năm trời rồi. Nói cho đúng, những khẩu
truyền, mật truyền lại là căn gốc phát triển. Nói đến chuyện này, cháu nghĩ, cần
có thêm ít nhất một buổi tối một tháng, thay đổi nơi họp nhau, còn luyện võ tại
đình chợ thì cứ coi như biểu diễn. Nhân tiện, cháu có hai sáng kiến may ra có
thể giúp dân chúng có thêm lợi nhuận. Đó là làm xà phòng và làm đường mía. Hai
thứ thật khan hiếm vào thời điểm này. Kiếm giống mía làm đường cho dân chúng trồng
quanh nhà, nơi bờ bụi nương rẫy thay vì để cỏ mọc, rồi mình thu mua làm đường.
Riêng việc kiếm mối mua mỡ động vật hơi khó và dầu thực vật cũng không dễ chi.
- Sáng kiến hay và thiết
thực, nhưng cần thời gian và ngân quỹ. Nội trong hai năm, sau khi các em đạt nhất
đẳng huyền đai, anh chuẩn bị vượt biên sang Mỹ. Tôi có mấy người quen thừa điều
kiện giúp anh kiếm tiền thực hiện dự tính. Tuy nhiên, sống để dạ, chết đem
theo, không tin ai hết, không để ai lừa dụ, dứt khoát không nói cho ai biết, và
chúng ta chỉ biết thế, không bao giờ nhắc lại nữa. Phỏng anh có chấp nhận được
không?
- “Heo chết nào sợ nước
sôi;” đã chịu chơi thì đành chịu chết, đâu có chi mới lạ dưới ánh mặt trời. Cuộc
đời nào không phải trả giá, chỉ e ân hận vì ước mơ hôm nay trở thành cay đắng
ngày mai mà thôi.
- Những người ân hận
chính là kẻ đã không làm gì hoặc không dám làm gì vì không có hoặc không dám thực
hiện bất cứ ước mơ nào. Cái mối ân hận cay đắng nhất lại là đã bỏ lỡ những gì
nên làm. Riêng vấn đề kiếm giống mía làm đường, tôi bảo đảm với anh, nội trong
sáu tháng, mía sẽ mọc tràn ngập vùng này. Vốn liếng mua máy ép mía cũng không
là bao; quả là sáng kiến hay và thực dụng. Cũng cảm ơn anh, người xưa có nói,
“Trí giả khác người thường ở chỗ suy nghĩ của họ luôn luôn đi trước!” Nhưng vấn
đề lại là “Phải ngu hơn người ngu mới trị được kẻ ngu.” Tuy nhiên, hành động bất
bạo động được sinh ra từ nhận thức về đau khổ, được nuôi dưỡng bởi tình thương,
và chính là cách hiệu quả nhất để đối đầu với nghịch cảnh. Đó là lý do tại sao
từ xưa tới nay, người làm nên việc lớn không những có tài hoa hơn người mà còn
cần có ý chí. Hơn nữa, dũng khí thứ nhất của người mưu cầu chuyện lớn lại là biết
chấp nhận mình sai; nhận ra điều sai nơi mình. Thế nên cần học cách ôn nhu. Những
người có chí khí hơn người thì nhu hòa như nước.
- Tuy nhiên, thưa bác,
“Nhân từ với kẻ tà ác là bất nhân với chính mình.”
- Đọc lại lịch sử, trêи đời
này chỉ có thế gia ngàn năm chứ không có triều đại ngàn năm. Chỉ cần thế gia lớn
mạnh thì bọn họ sẽ giống như con chuột, không ngừng gặm nhấm lãnh thổ, khiến đất
nước vốn tốt đẹp cũng xuất hiện đầy lỗ hổng. Hơn nữa những thế gia này vì tham
vọng lợi ích sẽ không từ thủ đoạn nào. Bởi vậy, vấn đề giải quyết phải đặt tâm
điểm là các con chuột nhỏ vì nếu không, trước sau gì chúng sẽ thành những con
chuột cống; cho dù có tức giận cũng chẳng có tác dụng gì. Thử bình tâm nghĩ lại,
cuộc đời chẳng khác gì hành trình luyện võ. Trên con đường võ đạo, “kiên trì” vốn
là đức tính quan trọng nhất. Võ giả có thể kiên trì, hẳn là nhân vật có nghị lực
lớn. Thế nhưng “kiên trì” thì cũng phải tìm hướng đúng, nếu kiên trì sai hướng,
thì rất có thể càng lúc càng cách xa mục tiêu. Đồng ý với anh, phải biết e ngại
chính mình bởi kẻ thù độc hại nhất của mình lại là chính mình. Đâu phải phi lý
mà phúc âm có câu, “Gia tài của ngươi ở đâu thì lòng dạ ngươi cũng ở đó” (Mt.
6:21). Tham vọng tiền tài, quyền lực áp đặt trên một người kinh khủng hơn bất cứ
gì. Chẳng thế mà đã biết bao tình thân, nghĩa trọng đã bị tan nát.
- Thế sao lúc nãy bác
nói, “Phải ngu hơn người ngu mới trị được kẻ ngu?”
- Anh là người Công giáo
mà vẫn chưa nghiệm được câu, “Hãy để người chết chôn kẻ chết của chúng” (Lc.
9:60) sao? Người ngu hay bị cho là ngu cũng thế mà thôi. Có lẽ anh còn nhớ câu,
“Thường nghị luận khuyết điểm của người khác, chính là kẻ dưới đáy chuẩn mực đạo
đức, nhưng nhận ra và nghị luận khuyết điểm của nhân loại lại chính là tư tưởng
gia.” Cuộc đời này, “Đắc thời đắc thế thì khôn; sa cơ rồng cũng như giun khác
nào;” đâu có gì mà nói. Thế anh còn phép tắc nào nữa không?
- Dạ thưa, còn thì còn
nhưng không biết có thực dụng chăng. Đó là trồng Đông Trùng Hạ Thảo; thứ này chỉ
dành cho những người dư ăn, dư mặc, lại cần được quảng cáo. Cái khác nữa là trồng
sâm đất. Sâm đất đối với đất Việt mình thì giống như cỏ, dễ ăn hơn mùng tơi.
Tuy nhiên, mình lại chuộng sâm Cao Ly, sâm Nam Hàn. Nó không phải là rễ sâm đất
được ướp tẩm thì là gì?
- Tôi nghe nói cây sâm đất
chỉ là một thứ rau ít người dùng. Cũng có người thích ăn canh sâm đất hơn rau
mùng tơi bởi nó không có vị hăng. Nó mọc đầy rẫy, mọi nơi mọi xó trên đất Việt
mà.
- Bác có nhớ dịch trứng
cút không? Thế mà cũng nhiều người bị tán gia bại sản đó. Hơn nữa, đã từ bao đời,
lời khuyên đừng cho thỏ uống nước lan truyền trong dân gian; bởi uống nước thỏ
sẽ bị đau bụng. Và thế rồi dân ta đã bao người tuân theo “lời khôn ngoan độc hại”
ấy khiến biết bao thỏ mẹ vừa đẻ xong đã vội ăn thịt con của nó. Có điều, khoảnh
đồi phía sau nhà mình thuộc về của ai, cháu nghĩ, phá hết cây cỏ rồi trồng mía
làm đường kể cũng bộn đó. Nếu có thể được, dùng công việc phá rừng để huấn luyện
các em vận khí nghịch kinh mạch ít nhất trong vài tuần, có lẽ đem lại lợi ích
không nhỏ cho các em. Bác nghĩ sao? Hơn nữa, luyện võ trên đất bằng không cần
nhiều cố gắng quan sát; coi chừng, nơi mảnh đồi lồi lõm bất thường đó lại là cơ
hội tốt; vì các em phải để ý nhiều hơn khiến phát triển khả năng nhận xét toàn
diện hiện trạng linh hoạt hơn.
- Làm đường mía chỉ là mở
cơ hội cho người ta trồng mía hầu có thêm thâu nhập đôi chút. Sự việc này mang
tính chất khuyến khích người người tham gia. Đất trên đồi thuộc về nhà mình
cũng cỡ hơn hai sào. Dùng hai sào này cho các em thực tập cho quen và khuyến
khích các em năng động giúp gia đình trồng mía, tôi nghĩ hợp tình, hợp lý hơn.
Tôi dự đoán không lầm, thì chỉ nội sáu tháng sau khi hai sào mía mọc lên, cái đồi
ấy sẽ chẳng còn cây để mà chặt. Người ta sẽ phá cây trồng mía và lấy củi đun bếp.
Nếu tôi không lầm, vùng đồng bằng sông Cửu Long trồng rất nhiều mía đường. Có
thể sau đôi tuần, tôi sẽ làm một chuyến đi Mỹ Tho, và xuống tới Trà Vinh kiếm
ít ngọn mía về trồng chung quanh nhà làm giống. Chung quanh ao, và chung quanh
đất có thể trồng cả mấy trăm bụi. Nếu được, tôi sẽ trồng thành hai hàng. Nội
trong hai tuần mà anh có thể dọn sạch hai sào trên đồi, không chừng chỉ bốn
tháng sau đã ngập mía. Tôi sẽ chỉ cho anh hai góc đất trên đồi. Anh nghĩ coi,
khi nào anh có thể bắt đầu?
- Cháu nghĩ, sớm nhất
cũng phải hai tuần nữa. Mấy ngày này bác có cách nào loan truyền chương trình
trồng mía đường kiếm thêm thu nhập; đặc biệt khuyến khích và giải thích cho cha
mẹ các em hiểu mục đích phá cây trên đồi. Cháu không muốn bị hiểu lầm là lạm dụng
các em. Thực ra, luyện võ mà không biết vận hành khí lực thì chỉ được coi như
múa võ Sơn Đông bán thuốc dạo. Biết vận hành khí lực nhưng không có nội công
cũng chẳng hơn gì, cũng bị đo ván khi bị bề hội đồng như cháu đã lãnh thất bại.
Bốn tháng qua cháu đã thử vận khí nghịch hành, thấy chỉ có tiến chứ không gì
nguy hiểm nên cháu nghĩ, đã đến lúc giúp các em thực hành theo nguyên tắc hành
thiền vận khí. Nói đúng ra, vận khí hành thiền chưa trở thành bản năng nhưng
cháu nghĩ, một năm sau hy vọng cháu sẽ đạt được thói quen hành thiền. Điều khó
khăn nhất đối với cháu bây giờ chính là ăn nói, giải thích thế nào để các em ý
thức giá trị làm người, và luyện võ chỉ là phương tiện nâng cao nhân phẩm chứ
không phải để hơn người khác. Bác nhắc đến nhận định về dân chúng nơi các nước
Trung Hoa, Bắc Hàn, Venezuela, Cuba, khiến cháu liên tưởng dự đoán đến dân Việt
mình, 10 năm, 20 năm sau sẽ ra sao, nghĩ mà đau lòng.
- “Đất có tuần, dân có vận,”
mỗi việc đều do thiên định, thế nhân không đủ phép nhiệm mầu đổi thay thế sự được.
Trời trao trách nhiệm cho người nào thì sẽ hành hạ người đó trước. Người Nhật
có thành ngữ, “Đừng sợ đi chậm. Chỉ sợ đứng yên.” Nếu coi danh lợi là điều lớn
nhất của cuộc đời thì hết sức ngu xuẩn. Nói cho đúng, quyền lực kéo theo tham vọng,
giống như thuốc độc, một khi dính phải thì rất khó thoát thân. Cuộc đời như một
giấc chiêm bao, có giấc mộng đẹp, có ác mộng đen tối, chúng ta phải biết tỉnh giấc
để biết mình là ai, sống vì mục đích gì.
- Nhưng thưa bác, còn nỗi
nhục nào hơn khi thấy người dân mình quằn quại trong nỗi nhọc nhằn, khổ ải,
trong khi mình không thể làm được gì để giúp họ.
- Anh nên nhớ, cơ hội
vĩnh viễn chỉ tới với những ai có chuẩn bị, và cơ hội cũng chỉ đến với những
người xứng đáng nhận nó mà thôi. Ngựa thường dễ bị khuỵu chân trên những con đường
đất mềm; con người dễ ngã gục, mất chí tiến thủ trong những lời êm ái, đường mật.
Tuy nhiên, đã là người đi chân đất sao còn sợ mang giày. Thế nên, chỉ cần có hy
vọng, liền có động lực cố gắng.
VẬN KHÍ NGHỊCH HÀNH
-Bắt đầu từ từ hít vô, dẫn
hơi xuống huyệt đản trung, thần khuyết, đan điền, vĩ lư, hội âm, ngược lên mạng
môn, giáp tích, ngọc chẩm, bách hội, trở xuống ấn đường, đoạn thở ra đường mũi.
Tiếp tục, từ từ hít vô, dẫn hơi xuống…
Bảy em ngồi kiết già theo
hình vòng cung chặn cửa ra vào đối diện với tôi, nơi chân đầu bàn phòng khách tại
nhà ông Tầm. Sáng sớm nay, ông đã dùng xe Honda đi Mỹ Tho kiếm ngọn mía. Đây là
buổi chiều thứ năm ôn lại cách vận khí nghịch hành trước khi tiếp tục dọn hai
sào đất trên đồi chuẩn bị trồng mía. Nhìn các em, kẻ mặc áo rách cùi chỏ, người
đeo chiếc quần bạc thếch đắp vài miếng vá mà lòng tôi quặn thắt. Tương lai con
dân đất nước tôi đó. Chỉ mới mấy năm mà nhiều nơi, chiếc lều để tránh mưa, che
nắng, trông chẳng khác gì chiếc váy đụp mọc lên như nấm, quả là đối nghịch với
cảnh thời 54 khi tôi còn nhỏ, gia đình di cư từ Bắc vào Nam. Mỗi lần đi ngang
qua những căn lều xiêu vẹo, đắp vá bằng những miếng bạt nhựa xanh xanh, đỏ đỏ,
khá hơn thì mái lá cỏ bái hay lá dừa, vách phên nứa, lại có nhà đắp vách đất, lời
hát nào của Phạm Duy trước 75, “Trên một cành cây, có một tổ kiến; có con đi ra
lại có con đi vào; trời hôm nay nắng, yêu em biết bao…” lại quanh quẩn vang lên
nơi tâm trí, khi thấy kẻ đi ra, người chui vô những chiếc váy đụp ấy, thúc dục
tôi tự hỏi phải làm gì. Phải làm gì, biết gì có thể làm hầu cải thiện mức sống
người dân?
- Các em đã rõ thế nào là
hành thiền, tôi nhắc lại, hành thiền tức là luôn luôn nghĩ về sự việc hay tính
toán công chuyện nào đó bất cứ lúc nào hoặc khi đang làm việc gì. Áp dụng vận
khí theo chiều âm mạch vào hành thiền sẽ phát triển khí lực hay còn gọi là nội
công nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, phát triển hay không lại tùy thuộc thực hành vận
khí. Chẳng hạn, khi đi bộ bình thường, cứ năm bước thì vận khí được một vòng,
hoặc chạy, mười bước được một vòng. Càng hít hơi vô chậm thì càng tốt. Khi vận
hành khí, để ý tới không khí lọt qua mũi, dẫn nó theo đường âm mạch sao cho khi
đã đầy hơi thì không khí đã đi vừa đủ một vòng. Vận khí nghịch hành chỉ điều
khiển luồng hơi hít vô, thở ra không cần phải nhanh chậm chi hết. Vận khí lúc
chạy hay đi bộ hoặc làm việc gì lợi ích hơn ngồi đả tọa. Nếu trước khi ngủ có
thể đả tọa thì nhớ đếm mỗi khi thở ra để tập trung chú ý vào việc dẫn khí. Nằm
xuống trong khi chờ ngủ cũng tiếp tục vận khí. Như vậy, luôn luôn vận khí được
gọi là hành thiền vận khí hay vận khí hành thiền. Tôi sẽ kiểm chứng các em hằng
ngày trong suốt hai tuần dọn đất. Các em cũng biết, công việc dọn đất chỉ là
phương tiện thực tập vận khí trong lúc làm việc. Tối muốn thấy sự vận khí trở
thành bản năng, nói cách khác, vận khí phải là thói quen thực hành luôn luôn
theo nhịp thở của mình bất cứ lúc nào đến nỗi, khi ngủ cũng tiếp tục vận khí.
Em nào không thể thực hiện vận khí được, không nên học võ. Những lần tới, khi
khảo hạch lên đai, mỗi em phải đấu với một võ sinh sẽ có cấp bậc cao hơn một
đai được mời về từ võ đường khác. Các em để tâm tiếp tục thực hành vận khí hay
không sẽ được chứng thực. Nếu em nào không thắng, sẽ bị loại không lý do. Bởi
chính vận khí sẽ tạo nên nội công hay năng lực nơi một người, đồng thời giúp cử
điệu của người đó linh hoạt hơn. Đánh võ nếu không có nội công, thiếu năng lực,
thì chẳng khác gì múa tay, múa chân, biểu diễn cho vui mắt. Tôi không muốn thấy
các em là những vũ công mà là võ sinh đầy năng lực. Tôi chỉ có thể nói thế, tiến
triển ra sao đều tùy thuộc công phu thao luyện và thực hành vận khi nơi mỗi người.
Mấy ngày đầu, nhìn các em
chậm chạp dọn cỏ, chặt cây, tôi thầm hỏi, mình có ép các em quá không. Vừa vận
khí, vừa làm việc, tâm trí bị chia hai mà lại mới thực tập sao có thể làm
nhanh. Nhưng chỉ sau năm ngày, mỗi ngày chừng hai tiếng vào buổi chiều vì các
em tới trường vào buổi sáng, kết quả đã thấy rõ. Cử động cẩn trọng hơn, ít nhất
là được như thế, tôi thầm cảm thấy vui vui.
Những lớp luyện võ nơi
công cộng tại đình chợ chỉ là những trận đấu áp dụng các miếng đánh được tách rời
từ bài quyền. Sau khi học xong bài quyền thứ hai, để các em tự luyện một tuần
cho nhuyễn các thế đánh, tôi khuyến khích các em đánh ngược thứ tự của bài quyền,
quyền cuối thành quyền đầu và quyền đầu thành quyền cuối. Sau đó, tôi khuyến
khích tách rời các thế quyền thành những thế đánh riêng biệt hầu giúp các em
luyện tập, phát triển thành những phản ứng tự nhiên; đồng thời khuyến khích các
em suy nghĩ bằng cách tưởng tượng đánh thế nào cho thuận với cơ thể của mình nhất,
hầu kiến tạo công phu riêng. Tôi lập đi lập lại cho các em in trí, công phu của
bản thân chính là đạo lý của chính mình; chỉ có mình hiểu rõ mà người khác
không ai biết được. Vì thế, vận dụng ảo diệu thế nào đều do phản ứng nơi lòng
mình, không bị bó buộc mà trở nên thuận tay, biến hóa không hạn chế. Đây là
nguyên lý của võ đạo. Võ kỹ có hạn nhưng võ đạo thì vô hạn.
Dĩ nhiên, các bài quyền của
Taekwondo thì võ đường nào không luyện tập giống nhau; bởi vậy nơi trận đấu, đối
thủ vừa giơ tay, hoặc cử động chân thì mình đã biết họ xuất miếng nào. Vấn đề
chỉ là nhanh hay chậm. Điều hơi lạ đó là sau năm tháng cố thực hiện vận hành
nghịch khí, tôi thấy động tác của các em sao quá chậm. Có thể nói, tôi có thể vẽ
cử điệu của các em trên bút giấy. Chợt nhớ lại lần đầu ông Tầm muốn thử năng lực
của tôi và tôi đã ngưng sau hai cú đấm và một cú đá trật, tôi nhận ra có lẽ
năng lực của ông khá cao. Hèn chi đã có lần ông nhắc đến đệ thất đẳng huyền đai
với phần thăng tiến nội công. Tôi thầm nghĩ, có bao giờ nên thử lại với ông lần
nữa. Hỏi thì hỏi thế nhưng tôi đã vội nghĩ ngược lại, có nên không?
Nhìn các em từng cặp quần
thảo trên tấm thảm dầy được kết bằng “xơ dừa” trãi giữa chợ, đám đông bu quanh
reo hò cổ võ. Có những người say mê, hò hét, vung chân múa tay như chính mình
đang tham dự cuộc đấu. Tôi đã căn dặn các em, đấu với nhau tối ngày thứ sáu mỗi
tuần chỉ là thực tập duyệt những thế đánh của bài quyền đang tập luyện tại nhà.
Đánh không theo thứ tự những thế võ của bài quyền, tự do xuất chiêu, chỉ vừa tới
và chú ý huy động phát triển phản ứng lanh lẹ, đúng mức. Tuy nhiên, cho dù cố gắng
kiềm hãm chiêu thức thế nào, thì sai sẩy cũng không sao thoát khỏi. Hai lần đầu,
bốn em sẩy tay khiến bạn đấu phải nhăn mặt, và kẻ sẩy tay phải rối rít giải
thích, xin lỗi. Tôi phải mua loại nệm mút mỏng cắt thành áo giáp đơn giản nhất
mặc bên trong bảo vệ các em trong trường hợp lỡ sẩy tay. Tôi biết lý do lỡ sẩy
tay; chính là tại tôi ép các em thực hiện hành thiền khi luyện võ, và luôn
luôn, bất cứ lúc nào. Chẳng những thế, lại phải để ý nhận định thế đánh cho
thêm phần sáng tạo. Nếu chỉ luyện tập ở nhà các em có thể luyện chậm lại một
cách ý thức, nhưng khi có bạn đấu, phản ứng sao cho chuẩn và lanh lẹ, thì sẩy
tay là chuyện thường tình. Thêm vào đó, phân tích bài quyền thành những thế võ
riêng biệt, sử dụng tự do phát chiêu thì sao đối thủ có thể dự đoán trước.
Từng đôi một, hai em như
hai con gà chọi, bái võ sư, bái nhau, xáp vô và quần thảo túi bụi tạo hưng phấn
cho đám khán giả bình dân. Có em đang đánh thế này, chợt đổi sang thế khác khiến
đối thủ ngỡ ngàng luống cuống đỡ. Danh ký các em được đặt theo số từ 1 đến 7 và
được chia đấu theo từng cặp. Như vậy, để cho các em có cơ hội song đấu với nhau
một cách công bình, nghĩa là mỗi em sẽ có sáu lần đấu với 6 em khác, vị chi cứ
42 lần đấu mới hết lượt. Tôi theo ban C nơi trung học, lại tiếp tục hai năm văn
khoa nên suy tới nghĩ lui cũng không biết cách nào dàn xếp cho hợp lý hợp tình.
Các em, mới qua bốn tháng luyện võ nên em nào em nấy háo hức, năng động có lẽ
còn hơn gà chọi khiến tôi đau đầu chưa biết tính sao.
Dĩ nhiên, trong 42 lần đấu
thì mỗi em cần đấu 6 trận, và như vậy, hai năm sẽ có 100 tuần, trừ đi 16 tuần
đã qua, còn lại 84 lần trình diễn. Mỗi lần trình diễn một tiếng và cứ 5 phút
cho một cặp. Thế là đầu óc tôi bối rối chẳng khác gì tâm trạng của “Bố vợ bị đấm.”
Tính làm sao, phân chia cách nào cho đồng đều. Thôi thì thử nghiên cứu toán học
xem sao. Suốt cả một buổi tối, cặm cụi viết tới viết lui phân chia từng cặp,
1-2, 3-4, 5-6, 7-1, 2-4, 3-5, 4-6, 5-7… ráp nối đối thủ chẳng biết bao nhiêu lần,
cứ rối tung lên. Tôi đành xoay kiểu khác, vẽ thành những ô, bề ngang 7 em, chiều
dọc 6 lần đấu và đánh viết chữ x cho những giao điểm.
Suốt một buổi tối, sắp xếp
lại những trận đấu sao cho tránh trùng hợp, tôi có được 21 cặp không bị trùng hợp
1-2, 1-3, 1-4, 1-5, 1-6,
1-7
2-3, 2-4, 2-5, 2-6, 2-7
3-4, 3-5, 3-6, 3-7
4-5, 4-6, 4-7
5-6, 5-7
6-7
Như thế, không thể nào
phân đều mỗi tối 12 cặp đấu cho chẵn một cách hợp lý hợp tình và thuận tiện,
nên đành phải chia thành 7 cặp trình diễn một buổi tối, và như vậy, cứ ba lần
trình diễn em nào cũng chỉ ra trận mỗi tối hai lần. Xét thế 7 trận, mỗi trận đấu
5 phút, cộng thêm đôi phút giới thiệu và khuyến khích cho mỗi cặp. Giả sử có
cách nào kiếm được quảng cáo, có lẽ cũng bộn tiền. Và như thế, để cho hợp lý, hợp
tình, lịch trình đấu võ trình diễn được sắp xết theo lập số sẽ là 7 em, mỗi em
mang số từ 1 đến 7 và được chia cặp đấu theo ba tuần như sau.
12 34 56 71 23 45 67, cho
tuần thứ nhất,
13 24 57 61 72 35 46, cho
tuần thứ hai, và
14 25 36 47 15 26 37, cho
tuần thứ ba để rồi hết lượt bắt lượt. Thời trước, Trần Tế Xương ca thán, “Biết
thế, ngày xưa đi làm quách,” giờ đây, tôi đành chấp nhận, bởi dốt toán, nên nay
phải mò. Tôi tự hỏi, không biết có nên nói với ông Tầm kiếm người bảo trợ cho
các trận đấu hàng tuần hay không; nếu được các cửa tiệm bảo trợ thì đó cũng là
lối quảng cáo.
Ông Tầm vui vẻ theo dõi
các em “trình diễn” trong một buổi tối của ngày thứ sáu tuần 30 tính từ thuở
ban đầu. Chỉ còn hai tuần nữa là đến hạn lên đai xanh cho các em, nhưng tôi
không an tâm bởi thấy các em ra đòn quá chậm mặc dầu thiên hạ vây chung quanh
la ó rùm trời, tỏ vẻ rất hào hứng. Có một số em cả trai lẫn gái sau những buổi
trính diễn gặp tôi xin được theo học võ, nhưng tôi chỉ trả lời để khóa tới hãy
ghi tên. Chia sẻ nỗi thiếu tin tưởng vì thấy các em ra đòn quá chậm, ông Tầm mỉm
cười nói nhẹ,
- Đôi khi cũng không nên
tin vào mắt mình.
- Bác nói sao?
- “Trước khi ngộ, thấy ngọn
núi là ngọn núi; nơi hành trình thức ngộ, thấy ngọn núi không phải là ngọn núi,
và khi đã ngộ, thấy ngọn núi lại là ngọn núi.” Mừng cho anh. Có võ đường tôi
quen, nghe tiếng võ đường biểu diễn ở đây nên mời chúng ta đấu giao hữu, hay là
chọn vào tối thứ hai sau tuần tới đưa các em đi đấu giao hữu một chuyến; tiện
thể cho các em lên đai, anh nhận thấy thế nào?
- Theo nhận định của bác
thì sao?
- Tôi nghĩ, anh sẽ có ngạc
nhiên rất lớn.
Tôi im lặng, trầm tư suy
nghĩ. Chỉ mới hai lần nói chuyện với ông Tầm, tôi nhận thấy ông ẩn dấu một kiến
thức rất lớn; đồng thời, những lời ông phát biểu đầy vẻ ám định; do đó, tôi
không muốn vội trả lời mà nén lòng suy tư, nhận định cho rõ ràng hơn. Tôi đã
nói với các em cần chăm chỉ luyện tập, dạy và khuyên các em luôn luôn thực hành
vận khí theo đường âm mạch mới chỉ có tám tuần nên chưa biết được kết quả ra
sao; đồng thời lại thấy các em ra đòn chậm nên e ngại “Đem chuông đi đánh xứ
người,” bởi, “Những trận đại thắng đều là những trận đại bại,” được lợi gì chưa
biết, nhưng chắc chắn sẽ tổn ải, hao quân. Nhớ có lần đọc một bài nhận định về
Gia Cát Lượng, tác giả cho rằng người người đọc Tam Quốc Chí đều thán phục Gia
Cát Lượng, nhưng nếu so sánh thành quả với Bàng Thống, Gia Cát Lượng nắm quân
tiêu hao quá nhiều.
Mặc dầu chưa tin tưởng
nơi các em nhưng nghe thấy lời đề nghị đưa các em đi đấu giao hữu, tôi thầm
nghĩ, có lẽ ông Tầm đã có ý định gì chăng, nêu sau chút suy nghĩ, tôi nói,
- Nếu bác thấy nên thì
đi, tùy bác.
- Anh ngại vì e các em
thiếu năng lực hay vì gì?
- Nếu nắm chắc được phần
thắng, cháu thấy nên đi hầu giúp các em thêm hăng hái. Tuy nhiên, bởi đàng nào
thì những trận đại thắng cũng đều là những trận đại bại; chấp nhận phí tổn thì
được, nhưng lỡ làm tiêu hao nhuệ khí các em thì cháu không biết phải tính sao.
- Không ngờ mấy cuốn sách
mang lại cho anh khá nhiều lợi ích. Biết nghi ngờ chính mình nên cần chứng nghiệm
là điều ắt có và đủ để thăng tiến nhận thức. Anh thấy trẻ ra đòn chậm bởi anh
đã vượt qua được đệ ngũ huyền đai, đặc biệt nội công do vận khí nghịch hành dẫu
anh chưa thi giám định. Tôi nghĩ, danh hiệu không cần thiết. Điều cần thiết lại
chính là thực lực, năng lực và võ đạo nơi bản thân mình. Đừng e ngại gì, dẫu
các em đang nơi tiến trình luyện tập bài quyền đai xanh, nhưng theo nhận định của
tôi, chưa chắc đai xanh nơi các võ đường đã có thể đụng chạm tới, nói cách
khác, coi chừng bị đo ván nếu thực sự chiến đấu. Tôi có thể đoan chắc bởi chính
giới hạn anh đã đặt ra, và sự khuyến khích sáng kiến thăng tiến võ đạo nơi mỗi
em. Mục đích của anh không phải vì tiền và lại cũng dám liều thử áp dụng hành
thiền vào vận khí. Hơn nữa, nơi các võ đường khác, người ta dạy võ vì lợi ích
cuộc sống; anh giúp các em vì đam mê cũng như vì muốn thử chính mình. Yên chí
đi, một chuyến xe lam cũng không bao nhiêu; chúng ta tham dự đấu giao hữu chỉ
có lợi chứ không thua thiệt gì. Tôi sẽ cho họ biết chúng ta sẽ tới Gò Vấp chiều
thứ hai, cỡ bốn giờ vì 5 giờ cuộc đấu bắt đầu. Tối đa nửa tiếng sau, mình có thể
ra về và tới nhà hơn kém 9 giờ đêm. Như vậy, chúng ta sẽ khởi hành tại chợ lúc
1 giờ chiều.
THI ĐẤU LÊN ĐAI
Bẩy em cùng với
tôi và ông Tầm chiếm trọn hai băng ghế chiếc xe lam. Vì không muốn bị chậm trễ
nên ông Tầm bao luôn cả chuyến xe; do đó, tương đối xe chở nhẹ và cũng rộng rãi
cho chín người. Các em lộ rõ tràn đầy hưng phấn qua nét mặt và thái độ cũng như
cử điệu. Tôi bàn với ông Tầm hãy để về nhà, và sẽ cho các em lên đai xanh tối
thứ sáu như một khích lệ và tiện thể quảng bá tinh thần thượng võ cho dân
chúng. Các em thuộc dân tỉnh lẻ, lại đã phải trình diễn đấu luyện mười mấy lần
trước công chúng nên thái độ rất điềm tĩnh. Võ đường Gò Vấp có hơn kém 50 người,
và lớp đai vàng gần hai chục. Sau khi sắp xếp những cặp đối thủ, võ sư trưởng
có đôi lời chào đón khách và ra lệnh cho 7 cặp song đấu cùng một lúc; thời gian
tỷ đấu là 5 phút, thay vì đấu từng đôi mất nhiều thời giờ. Chưa hết 5 phút thì
đội bẩy người của võ đường đã bị quật ngã. Võ sư trưởng của võ đường không tiếc
lời ca ngợi các em đội khách. Dẫu thế, có lẽ vì quá quen với đấm đá biểu diễn,
các em đội khách nét mặt vẫn thản nhiên trở về đứng hàng ngang cạnh tôi. Ông Tầm
nói đôi lời cảm ơn và chúng tôi leo lên xe lam trở về. Trên đường trở lại, tôi
hỏi mấy em cảm thấy thế nào với trận đấu thì được các em cho biết đối thủ ra
đòn quá chậm và thiếu ứng biến. Tôi hiểu lý do nhưng không giải thích, để khi
nào về nhà phân tích cho các em rành rẽ hơn. Các em còn quá trẻ để có thể phân
biệt võ kỹ và võ đạo. Võ đạo không lệ thuộc phương pháp, thế đánh nào, mà chính
là phản ứng tự nhiên hợp thế không cần suy nghĩ bởi đã thành thói quen. Có lẽ
tôi cần nhấn mạnh về sự trầm tĩnh, khiêm nhu, vì coi chừng vô tình giơ chân, động
tay của người mang năng lực cao rất có thể hại người. Sự việc này không khác
chi con trâu cui bước vô cửa hàng với những tủ kiếng. Cái vẫy đuôi nhẹ nhàng của
nó đụng phải những tấm kiếng nơi quầy hàng thì phỏng còn chi.
Xe chưa ra khỏi Gò
Vấp, ông Tầm nói bác tài xế ghé vô một quán cơm bên đường, đoạn gọi cho mỗi người
một tô phở tính luôn cả bác tài xế. Bác tài ngồi riêng một bàn, 7 em, tôi, và
ông Tầm ngồi chung quanh hai chiếc bàn kê liền nhau, ông Tầm một đầu, tôi một đầu,
và bẩy em chia thành hai, một bên bốn, bên kia ba ngồi dọc theo chiều dài của
hai bàn kê lại. Bẩy em đều là dân nhà quê nên không biết chọn loại phở nào, ông
Tầm kêu cho các em cùng một loại, tái, gầu, gân, sách, nạm. Trong lúc chờ đợi,
tôi lên tiếng,
- Các em hôm nay
đáng được khen ngợi về tư cách của một võ sinh, thái độ điềm đạm, kiên nhẫn và ổn
định. Đấu thắng rồi mà không tỏ vẻ huênh hoang, chỉ bình thường trở về sắp hàng
như đợi chỉ thị. Điều đáng khen nhất là biết ngừng tay ngay khi đối thủ đã rơi
vào thế hạ phong mà không tấn công tiếp. Đó là biểu hiệu của con người độ lượng,
biết tôn trọng đối thủ, giữ thể diện cho họ. Chính thái độ này đã khiến võ sư
trưởng vô cùng khen ngợi các em. Giả sử các em không dừng tay khi các đối thủ
đã rơi vào thế hạ phong mà cố đánh cho đối phương gục tại chỗ, chắc chắn chúng
ta sẽ trở thành kẻ thù của họ. Thế nên, từ nay các em nhớ, không những khi đấu
giao hữu hoặc nơi trường hợp nào khác, và ngay cả lối ăn nói cũng như thái độ,
cho dù nơi hoàn cảnh nào chăng nữa, nên giữ chẳng những cho mình mà còn cho đối
thủ một lối lui và cố tránh để không trở thành kẻ thù của bất cứ ai.
- Các em có biết tại
sao các em thấy đối thủ ra chiêu chậm chạp không? Thứ nhất, các em đã luyện vận
nghịch hành khí huyết gần chín tuần; sự vận khí nghịch hành kiến tạo nội công
căn bản cho võ nghệ. Sở dĩ tôi khuyến khích các em vận khí liên miên ngay cả
khi ngủ vì nếu đánh võ mà không có nội lực thì chẳng khác gì múa võ vườn hoang,
múa cho đẹp mắt người xem mà thôi. Thêm nữa, sự luyện tập không theo bất cứ
khuôn khổ nào sẽ tạo nên cho các em những phản ứng tùy theo hoàn cảnh được gọi
là võ đạo. Có phải khi luyện bài quyền ngược lại từ cuối lên khởi đầu rất ngượng
và khó không; thế rồi lại phân chia bài quyền thành từng thế võ riêng biệt sẽ
khiến các em tạo nên những phản ứng tự do, bất chợt, cộng thêm sáng kiến sao
cho thuận phản ứng giúp các em không lệ thuộc bài quyền bất cứ phương diện nào.
Thế nên, từ nay, tất cả sự thăng tiến đều tùy thuộc sự vận khí và thao luyện tại
nhà của các em. Các em cũng nên biết rõ, lớp đai vàng của võ đường đã được
thăng đai từ năm tháng trước và vì ít tập luyện tại nhà, chỉ tập luyện nơi võ
đường nên năng lực chỉ được như thế. Lần này, chúng ta sẽ đấu lên đai vào ngày
thứ sáu. Tuy nhiên, bốn tháng nữa, nếu em nào không thắng được đai đỏ của võ đường,
sẽ không được lên đai mà còn bị loại. Tôi sẽ thẳng tay loại. Tất cả đều tùy thuộc
vào sự cố gắng luyện tập và sự vận khí luyện công của các em.
Phở được bưng ra,
mỗi em một tô, em nào cũng như em nấy lóng ngóng không biết giải quyết ra sao.
Tôi biết ý, lau muỗm và đũa, đoạn múc tương ớt, giá, rau thơm cho vô bát phở của
mình để các em học theo. Thì nào tôi có hơn gì cho cam, từ nhỏ cho tới hết năm
tú tài 1, tôi có bao giờ được ra phố vô tiệm phở, nên lần đầu đi theo bố vô
quán ăn, tôi cũng lóng ngóng như thế,và đó cũng là lý do tại sao tôi phải vội
làm trước.
Cỡ 9 giờ đêm, xe
lam dừng tại chợ cho các em xuống; ông Tầm nói muốn cùng tôi đi bộ về nhà hưởng
không khí mát mẻ ban đêm cho giãn gân cốt. Làng xóm ngủ yên như âm thầm chịu đựng
bầu khí lắng đọng do áp lực khó khăn cuộc đời luôn đè nặng trên đám dân cần cù
chất phác. Thỉnh thoảng có ánh đèn nhỏ nhoi nào đó le lói chiếu qua cặp mắt như
khắc khoải gióng lên nỗi thống hận khó được cảm thông chẳng khác chi ánh mắt
van lơn của người tử tù trước giờ bị hành quyết. Con dân tôi đó, một tương lai
bi thảm đang dần ập xuống chẳng khác gì dân chúng nơi Bắc Hàn, Venezuela, Cuba.
Đi được chừng hơn nửa cây số, ông Tầm bỗng hỏi,
- Anh có thấy nội
trong hai năm ép các em tập luyện hầu đạt tới đệ nhất đẳng huyền đai là quá sức
chịu đựng không?
- Cháu đã suy tính
nhiều về điểm này. Mục đích chính là giúp các em nhận thức được năng lực bẩm
sinh nơi bản thân sẽ không có giới hạn nếu thực sự bền chí theo đuổi. Hơn nữa,
nơi thời điểm cơ thể đang phát triển chính là cơ hội uốn nắn chẳng những thể
xác mà cả tâm trí. Thời nhỏ cháu được cưng chiều trong gia đình, thân xác ốm yếu,
nhưng vì áp lực bất công của những bạn học bất chính và cả từ anh em họ nơi trường
học, nên vì quyết chí chống lại bằng cách luyện võ do đó mọi sự thay đổi. Đàng
khác, phương pháp vận khi nghịch hành tương đối mang lại kết quả khả quan. Theo
như các em nhận thấy võ sinh nơi võ đường phản ứng chậm chạp, cũng như cháu thấy
các em ra đòn chậm, mà bác nói đôi khi không nên tin vào những gì mình thấy,
cháu nhận ra sự tiến bộ do luyện tập đều bị ảnh hưởng của vận hành khí huyết.
Thêm vào đó, cháu cố gây áp lực để các em luôn thực hành vận khí bất cứ lúc nào
hầu trở thành thói quen liên tục, tất nhiên không gì có thể trở nên quá sức.
- Thực ra, cháu nhận
thấy muốn cuộc sống dân chúng vươn lên, cần cải thiện kinh tế. Mà muốn cải thiện
kinh tế lại cần kiến tạo cơ hội, hay phương tiện, công việc, một cách bền vững
cho người ta. Ý chí, cố gắng, là một chuyện, nhưng không có cơ hội, phương tiện
thì tất cả cũng chỉ là viễn vông mơ ước; mà mơ ước suông chẳng thể nào khiến
người ta ăn củ khoai có thể ngon hơn miếng thịt. Bác cảm thấy thế nào với câu
nói, “Ăn cơm thì phải ăn rau, chớ ăn thịt cá mà đau dạ dày?” Quả đúng là bôi
bác, lừa đảo, nhưng biết nói sao lúc này. Cháu muốn ép để các em cố gắng đến mức
tối đa hầu nhận ra mình có thể thực hiện những gì bình thường bị mọi người coi
là không thể. Chính sự nhận biết này sẽ thúc đẩy các em nhận ra những phương
cách mới may ra thay đổi cuộc sống. Từ sự quan sát, nhận định, rồi thử mới có
thể phát sinh điều mới. Bác không thấy sao, bởi lười đi bộ người ta mới nghĩ ra
xe đạp, rồi xe máy, rồi xe hơi, và đến ngay cả phi cơ. Nếu không lầm, ngày xưa,
người nghĩ ra chiếc xe cho bò kéo để chở nông phẩm bị những người cùng thời cho
là rách việc, và những bao năm sau mới được chấp nhận.
- Cháu rất tức giận
khi thấy tên xã trưởng và mấy đứa băng đỏ đến vòi tiền bồi dưỡng. Nếu không sợ
liên quan đến chủ tiệm thuốc bắc, cháu đã cho chúng đo ván rồi đến đâu thì đến.
- Thế rồi sao? Ông
Tầm nhẹ hỏi. Rồi anh định cao bay xa chạy ư? Và rồi dân chúng sẽ bị lãnh những
hậu quả gì phỏng anh có thể dự đoán được không?
Mấy lời nhẹ nhàng
của ông Tầm khiến tôi giật mình nên chợt nghĩ lại. Mình náo động lúc này không
nên, cần phải có những người khác tiếp tay, tôi thầm dự tính. Cứ đào tạo 7 em
cho tới đệ nhất đẳng huyền đai, trong khi các em tự luyện cho tiến triển hơn, mỗi
em mở một võ đường quanh vùng phụ cận, sẽ có ít nhất 70 người nội trong 4 năm nữa,
và thêm 4 năm nữa sẽ được bao nhiêu người. Nếu tụi xã trưởng và băng đỏ làm
quá, sẽ có người trị chúng. Chỉ một vài lần xem còn đứa nào dám ho he chăng.
Nghĩ như thế, nhưng tôi chỉ im lặng không nói chi. Dục tốc bất đạt, tôi âm thầm
tự nhủ. “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sư cẩu,” câu nói nơi Lão học nhắc
tâm trí tôi liên tưởng đến câu, “Đất có tuần, dân có vận,” nên lại tự lý luận,
không làm gì thì sao có thể nói tuần với vận?
Tôi thở dài, thầm
nhớ mấy câu vè dân gian ngâm nga nơi những quán cà phê hè phố. Mới chỉ mấy năm
mà đã lắm lời than ngậm ngùi,
Ai về qua tỉnh Nam
Hà
Xem lũ đầy tớ xây
nhà bê tông;
Tớ ơi mày có biết
không,
Chúng ông là chủ
mà không bằng mày.
Nơi văn học lớp đệ
nhị, ai cũng nực cười khi đọc thơ Nguyễn Công Trứ viết nơi bài “Hàn Nho Phong Vị
Phú,” “Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch; người quân tử ăn chẳng cầu no.” Ngày
nay, tiểu nhân mang danh đầy tớ khiến ngàn dân nhắc nhở,
Ai sinh ra củ
khoai mì?
Hỏi: Để làm gì?
Đáp: Để mà ăn!
Nước nhà còn mãi
khó khăn
Dân mình còn phải
chịu ăn củ mì
Làm việc hợp tác
xã nào khác chi cảnh “Cha chung không ai khóc” phát sinh lắm mối nực cười,
Thi đua làm việc bằng
hai
Để cho cán bộ mua
đài, mua xe
Thi đua làm việc bằng
ba
Để cho cán bộ xây
nhà lát sân
Công nhân, vợ ốm,
con côi
Lãnh đạo nhà gác,
xe hơi bộn bề
Bao giờ cho hết
trò hề?
Để rồi biết sao mà
nói nơi cảnh cá chậu chim lồng.
Mang danh Dân Chủ
Cộng Hòa
Đi ra khỏi tỉnh phải
qua cửa quyền
Xuất trình giấy
phép liên miên
Chứng từ thị thực ở
miền nào qua
Trăm năm trong cõi
người ta
Ở đâu cũng được đi
ra đi vào
Xa xôi như xứ Bồ
Đào
Người ta cũng được
đi vào đi ra
Đen đủi như Ăng Gô
La
Người ta cũng được
đi ra đi vào
Chậm tiến như ở nước
Lào
Người ta cũng được
đi vào đi ra
Chỉ riêng có ở nước
ta
Người ta không được
đi ra đi vào
Dẫu chỉ nhớ thoáng
qua, tôi muốn ứa nước mắt. Dân chúng nước tôi, vận nào khiến con dân Việt phải
đối diện với muôn nỗi khó khăn chẳng kể xiết. Ôi dân Việt, ôi con người. Nỗi
đau nào âm thầm đay nghiến lòng tôi mỗi khi nghĩ đến những con người lầm than vất
vả ngày ngày bán mặt cho đất, bán lưng cho trời vẫn trầm luân trong thiếu thốn,
làm lụng cực khổ mà vẫn không đủ ăn, phương chi nói tới tương lai, ngày mai. Nồi
cơm nở hoa với khoai khô, sắn trấp, thấp thoáng vài con cá lẹp nơi tô canh, hoặc
cá khô nướng lỏng chỏng trên đĩa. Thịt mỡ giá mắc ngang bằng với thịt nạc, thịt
thăn, ít khi được bày nơi bữa ăn ngoại trừ những ngày tết, lễ.
Về tới nhà, ông Tầm
lấy đồ tắm rửa, tôi lặng ngồi gậm nhấm nỗi ưu tư, cảm thấy bất lực vì cánh tay
quá ngắn. Cảnh vòi tiền bồi dưỡng trở lại khuấy động tâm tư như muốn thúc đẩy
tôi phải làm gì. Hình ảnh những làn mía vươn cao gần đầu người xào xạc trong
gió chiều báo hiệu ít nhiều hy vọng. Ông Tầm nói định thiết lập máy ép mía làm
đường nơi nhà chùa nào đó; vì mục đích để giúp người ta có thêm công ăn, việc
làm chứ không phải kiếm tiền riêng cho mình. Nhớ lại trên đường đi, tôi đã hỏi,
- Vậy tiền đâu bác
trang trải cuộc sống.
- Không sao, hiện
giờ chưa cần, có chăng, nếu có được chương trình gì giúp người ta kiếm thêm được
chút ít cho cuộc sống dễ thở hơn thì đó mới là điều quan trọng. Riêng anh, nếu
chương trình dạy võ được thực hiện đúng theo dự tính, anh bắt đầu chuẩn bị học
tiếng Anh là vừa. Tuy nhiên, cũng chưa cần học nói lúc này, mà chỉ cần đọc sách
trau dồi thêm từ ngữ, và nếu có thể được, đọc loại sách liên hệ về hệ thống điện
thoại sẽ ích lợi hơn. Tôi nghĩ, những ngôn từ đàm thoại thông thường có lẽ anh
đã quá quen thuộc vì anh đã theo học ban C.
- Tôi có người em
rể, là người Mỹ, làm giám đốc một chi nhánh của hãng điện thoại AT&T. Khi
anh vượt biên ra khỏi Việt Nam, tôi sẽ liên lạc để chú ấy bảo lãnh anh sang Hoa
Kỳ và đi làm trong hãng điện thoại. Nhưng nói chuyện bây giờ chỉ mong anh để ý
chuẩn bị. Tôi cũng đã liên hệ được với một chi nhánh của hãng lọc dầu Mobileđể
mua nguyên liệu làm xà phòng, nhưng cần phải nghiên cứu thêm sao có thể điều chế
với giá thấp nhất. Anh cũng biết, người dân Việt quá nghèo không có tiền mua đồ
chất lượng và cao cấp, nên nếu biến chế theo công thức chất lượng cao sẽ không
thể tiêu thụ nơi đất nước này. Có điều, rất nhiều sản phẩm cần thiết có thể chế
tạo nơi đây chẳng hạn gầu múc nước, thùng đựng nước bằng nylon thay vì bằng
nhôm. Hoặc rổ rá bằng nhựa, giá bán chỉ bằng một nửa loại đan bằng tre; tuy
nhiên, vì không có luật lệ bảo vệ chủ quyền phát minh nên coi chừng chưa lấy lại
được vốn, sản phẩm nhái, giá rẻ hơn đã tràn lan thì quả là tai hại.
- Tôi đang suy
nghĩ có nên kết hợp với chủ doanh thương nào đó, nhưng lại chán ghét liên hệ với
chính quyền, nên chưa có quyết định. Tóm lại, anh không cần phải suy nghĩ gì về
vấn đề sinh sống, mà nên lo chuẩn bị trau dồi khả năng kỹ thuật nơi hệ thống điện
thoại cho thời gian sắp tới. Tôi muốn nhấn mạnh, anh nên tự học về ngành kỹ sư
viễn thông dẫu cũng cần biết phần nào về kỹ năng của chuyên viên kỹ thuật. Xét
về bằng cấp, ở Mỹ, chỉ cần vượt qua được những bài thi là có chứng chỉ chứ
không lệ thuộc thời gian đến trường lớp. Nếu đã có đủ năng lực, cùng lắm là
theo học một hoặc hai năm về toán, điện toán, và vật lý nơi những lớp tối để nhận
văn bằng. Hệ thống trường lớp ở Mỹ khác xa ở đây; bởi người ta giám định theo
khả năng và năng lực chứ không đặt nặng vấn đề bằng cấp. Bằng cấp chỉ nói lên
khả năng đã được huấn luyện mà thôi.
- Có điều, anh
cũng thừa hiểu được, mọi sự đều có giá phải trả. Trên đời này làm gì có miếng
bánh nào tự trên trời rơi xuống. Hơn nữa, cẩn thận tính toán cả đời không thừa,
mà sai lầm thì coi chừng một lần cũng quá đủ. Dẫu cuộc đời bao gồm những cơ hội
nhưng sự học hỏi, quan sát, và nhận định thực tại phần nào tránh khỏi phải trả
giá quá mắc mỏ. Tôi tin rằng, với nhận thức rộng mở của anh mang đầy sáng kiến,
đôi khi có vẻ liều lĩnh và dám thực chứng sẽ đem lại kết quả chẳng ngờ. Và tôi
đã liên lạc với nhóm xuất ngoại của người Hoa chuẩn bị cho những chuyến đi Hồng
Kông ở Minh Hải để lo giấy tờ cho anh thay vì vượt biên.
- Thưa bác, sách vở
viết về ngành viễn thông hiện đại đâu có thể tìm được ở Việt Nam. Sao…
- Cỡ chừng một
tháng nữa sẽ có sách bằng tiếng Anh được gửi về cho anh. Bởi anh theo ban C nên
cũng cần thêm sách toán và điện toán căn bản cho ngành kỹ sư. Vấn đề chính yếu
tùy thuộc khả năng hấp thụ nơi anh. Tôi nghĩ, khi sang tới Mỹ, vừa đi làm, vừa
ghi học thêm, và nếu có được kiến thức lý thuyết về ngành viễn thông, nội trong
hai năm, hoặc tối đa ba năm anh sẽ lấy xong bằng kỹ sư.
- Sao bác biết
rành rẽ về hệ thống học hành ở Mỹ thế?
- Tôi không tiện
trả lời anh về câu anh hỏi lúc này. Hiện giờ, tôi chỉ có thể nói khái quát những
gì anh cần biết để chuẩn bị cho những gì sắp tới giúp anh an tâm, bớt phần nào
lo lắng, ưu tư; vì cơ hội chỉ đến với những ai đã chuẩn bị và chủ động và sẵn
sàng chờ đợi nó. Có điều, những người ngu thường tự cho mình thông minh nên dù
cơ hội ngay trước mắt vẫn không thể nắm bắt.
0 – 0 – 0
Hơn một năm sau,
tôi đã sang tới Hồng Kông ngay khi bẩy em võ sinh đã hoàn thành cấp bậc võ sư đệ
nhất đẳng huyền đai được một tháng. Phải mất ba tháng chờ đợi tôi mới sang tới
Mỹ theo diện bảo lãnh của giám đốc hãng điện thoại AT&T, người em rể của
ông Tầm tại tiểu bang Oklahoma. Bởi theo học ban C, khả năng đọc sách, học hỏi
của tôi cũng không đến nỗi tệ. Hơn nữa, tuổi cũng đã lớn, cộng thêm khả năng luận
lý, cũng như sắp xếp, dàn trãi định luật, định đề, định lý thành hệ thống cho dễ
nhớ, các môn toán học, điện toán, vật lý dành cho ngành viễn thông đã không làm
khó dễ được tôi; và chỉ hai năm rưỡi, vừa đi làm nơi hãng điện thoại, vừa ghi học
những lớp tối, tôi đã hoàn thành chương trình kỹ sư viễn thông. Người Mỹ, em rể
của ông Tầm khuyên tôi nên lấy thêm mấy tín chỉ về tâm lý cũng như điều hành và
lãnh đạo. Ông không giải thích gì nhưng khi hãng điện thoại mở thêm chi nhánh,
tôi đã được chọn làm giám đốc hai năm sau. Và qua mười năm làm việc, khi hệ thống
“Electronic micro systems phone” phát triển sau khi máy vi tính (computer) được
sử dụng rộng rãi thời tổng thống Bill Clinton, hãng AT&T đóng cửa chi nhánh
tôi đang làm việc. Tôi được chọn một trong hai chương trình, tiếp tục học thêm
một năm để làm giám đốc nơi một cơ sở với hệ thống viễn thông mới, hoặc nghỉ với
lương hưu bao gồm tiền an sinh xã hội và chương trình 401k của hãng bởi đã có đủ
40 tín chỉ làm việc. Tôi chọn nghỉ hưu và trở lại Việt Nam cuối năm 1993.
Mười hai năm hòa mình theo sự thăng trầm cuộc sống, nhàm tai với những tuyên truyền đổi mới theo đà triền dốc giật lùi về vực thẳm dân sinh, tôi âm thầm tự hỏi phỏng chồi sinh mới nào đã và đang được chuẩn bị với đống đổ nát như thành quả của sự tàn phá luân lý, đạo đức con người của chế độ xã hội này. Nhìn vào lịch sử dân tộc, những bao lần dân ta bị chìm đắm trong vòng nô lệ ngoại bang vẫn có thể vượt qua để bùng lên sức sống mới. Có lẽ với nhận thức của một người đang ở thời điểm đối diện với mùa thu cuộc đời, tôi không thể tưởng tượng được sự biến chuyển của dân tộc sẽ thế nào; chẳng khác gì trí tưởng tượng của điều mộng tưởng thời trẻ về thần giao cách cảm; nay, kỹ thuật viễn thông đã minh chứng điều không thể đã trở thành hiện thực. “Đất có tuần, dân có vận,” đất nước Việt sẽ thế nào; dân Việt sẽ ra sao; điều mơ ước đơn giản của tôi chỉ là sao cho người người có được những bữa ăn đầy đủ hằng ngày, phỏng chỉ là mộng tưởng!.
1/9/2023
Lã Mộng Thường
Theo https://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét